Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

…Chim Rừng Hợp Đàn Trên Khắp Bến Xuân

                          
                                                              
         Chu Thập
Tết 2010

Tôi sinh ra và lớn lên trong một miền của quê hương quanh năm chỉ có nắng cháy, một vài tháng mưa và một ít khí lạnh vừa đủ để các bà các cô khoe “áo ấm”. Ngoài một tháng Ba có thật nhiều ếch sau mùa gặt khô và cơn mưa giông đầu mùa và một tháng Mười có nhiều  gà béo tròn nhờ côn trùng ở đầu mùa mưa, quanh năm ngày tháng ở quê tôi cảnh vật chẳng có gì thay đổi. Với lũ trẻ chúng tôi, ngày nào tháng nào trong năm cũng đều là những ngày vui chơi trong vườn tược và ruộng đồng. Cây cối lúc nào cũng có lá và trái. Chim chóc lúc nào cũng có bấy nhiêu giống và bấy nhiêu tiếng hót.
Chưa có ý thức về sinh thái và cũng chẳng được ai dạy cho bài học về bảo vệ và yêu thích thiên nhiên, tôi vẫn có thể phân biệt được đủ mọi hình dáng, biết mọi tên và nghe được tiếng hót của mọi loài chim ở quê tôi.
Thời tiểu học, tôi vốn là một học sinh “dốt văn”. Làm một bài luận văn là cả một cực hình đối với tôi. Cứ phải “làm luận” thì hoặc là tôi chép của mấy đứa bạn lớn tuổi hơn hoặc là tôi cứ phải “thì là mà và” cho xong chuyện. Đừng nói đến câu cú, chính tả thì nghe sao, nói sao tôi viết vậy. Sau năm 1954, khi bắt đầu sống chung với mấy “thằng Bắc kỳ rốn”, tôi phục lăn. Chúng nó viết chính tả chẳng sai chữ nào: dấu hỏi, dấu ngã đâu ra đó. Tôi thì lúc nào cũng trật be trật bét, lại còn lẫn lộn giữa mấy cái tên: Hoàng và Hoàn, Quân và Huân, Quang và Hoan…nên lúc nào cũng phải hỏi lại: Hoàng có “dê” (g) hay không có “dê”? Hay Quân có “cu” (q) hay không có “cu”? Hỏi tới hỏi lui rồi viết sai vẫn sai đến độ tôi phải cố thuộc lòng: thằng Quang vừa có “q” lại vừa có “g” còn thằng Hoan thì vừa không có “q” lại vừa không có “g”, thằng Quân thì có “q” nhưng lại không có “g” …
Chính vì vậy mà về tên tuổi của chim chóc ở địa phương tôi thì cho tới nay, tôi vẫn chưa biết phải tra quyển tự điển nào để tìm. Người lớn gọi làm sao thì tôi biết vậy nhưng chẳng biết viết thế nào cho đúng. Có con chim “chàng ràng” luôn canh ở cổng vườn hay một khu rừng. Có con “trẩu trẩu” với bộ lông xanh chuyên làm tổ trong đất cát ở bờ sông. Có con “dù dì dủ dỉ” to như con bồ nông chuyên đậu trên gác chuông nhà thờ và chuyên đi săn về đêm. Có con chim “dẻ” nhỏ như con chim cút thường bị lũ trẻ chúng tôi dí vào trong bụi cây để bắt sống chứ không cần phải dùng ná để bắn. Có con “cúm núm” màu xám và to như con gà nước. Có con chim “bồ cắc cu” chuyên săn bắt gà con…Ngoài những con chim với tên gọi quen thuộc mà ở đâu cũng có, hình như quê tôi còn có cả một quyển tự điển “bất thành văn” riêng cho các giống chim đặc sản của mình.
Về tiếng chim hót thì khỏi nói, người dân quê tôi cũng có cái tai rất thính và rất “sáng tạo” để nghe tiếng chim. Không nghệ sĩ như ông Lâm Ngữ Đường để nghe ra giai điệu “đồ, mi, rê…sì” của giống chim giá cô ở miền núi phương Nam Trung Quốc, cũng chẳng giỏi sinh ngữ như tác giả Nguyễn Hiến Lê hay nhà văn Phan Lạc Phúc để nghe được tiếng hát bằng tiếng Pháp của một loài chim “bồ côi” ở miền Bắc Việt nam: “père, frère, mère, tout est perdu” (cha, anh, mẹ, mất cả rồi), quê tôi nghe tiếng chim như tiếng nói của con người trong cuộc sống hàng ngày. Có con chim ở ngoài ruộng chuyên gọi “Quớ thằng chăn vịt”. Có con chim chuyên chọc ghẹo “Năm cô một cậu”. Có con thì “bắt cô trói chặt”.
Quanh năm ngày tháng, ở quê tôi, có lẽ ngày nào cũng có thể là Mùa Xuân. Chẳng cần phải thấy chim én “đưa thoi” mới biết mùa Xuân trở lại. Nơi quê tôi, hễ có mạ xanh là có chim én.
Nhưng kể từ ngày xa quê hương, tôi mới thật sự cảm nhận được sự phong phú của cảnh vật nhờ sự thay đổi thời tiết.
Sống nơi xứ Úc, với thời tiết bốn mùa thay đổi, tôi có cái thú “rình” xem khi nào thì một mùa chấm dứt và mùa khác bắt đầu. Thú vị nhất là “rình” xem mùa Thu đến và mùa Đông ra đi. Sự chuyển mình thay đổi này có thể nhìn thấy khắp nơi trong vạn vật chứ không cần vào những thương xá theo dõi các mốt thời trang. Nhiều khi không cần “nhìn” tôi vẫn có thể cảm nhận được qua những giác quan khác. Từ những tiếng lá rơi xào xạc trên sân vườn cho đến hơi sương nhè nhẹ trong nắng mai. Từ ông mặt trời lười biếng ngủ vùi cho tới cảnh tám giờ đêm chưa thấy hoàng hôn. Từ những cơn gió ghê hồn rung rinh cửa nhà đến những cơn mưa phùn mong manh đến độ không ướt áo. Từ mùi phấn hoa làm hắt xì chảy mũi liên tục đến mùi khói cháy rừng cay mắt ngộp thở. Từ tiếng chim hót theo mùa cho đến tiếng ve kêu inh ỏi... “Mùa nào thức đó”, không sao lầm lẫn được.
Cái thú này không hề có khi tôi còn ở Việt Nam. Tôi quan sát và cảm nhận thời tiết như được khám phá một sự kỳ diệu của thiên nhiên. Trong những sự kỳ diệu đó, tiếng chim hót vào dịp Xuân về gây nhiều hưng phấn cho tôi nhất. Có loài chim chỉ mới hai ba giờ sáng đã bắt đầu cất tiếng hót. Cũng may, tiếng hót của nó lanh lảnh, dịu dàng chứ không hùng dũng như chàng gà trống mà tôi lỡ dại nuôi hồi năm ngoái. Nhiều khi tôi cũng lấy làm bất bình cho chú gà trống ở xứ Úc. Cũng là loài có cánh, cũng biết bay, biết “phát biểu ý kiến” như bao nhiêu giống chim khác. Vậy mà khi chú nổi hứng làm công việc của cái đồng hồ báo thức là không khéo khổ chủ phải “đối mặt” với mấy ông bà trong hội đồng địa phương. Tôi thật không hiểu nổi, trong khi người Úc tỏ ra “nhân đạo” quá đáng đối với súc vật mà lại bất công với chú. Một con chó bẹc-giê có thể ồm ồm sủa cả đêm mà chẳng ai “còm len”, hay người ta có thể vội vã mang xe chữa lửa đi để cứu một con mèo bị mắc kẹt giữa hai bức tường nhà...mà lại chẳng “nhân hậu” với chú gà trống. Có lẽ tại vì người Úc không mấy khi “tiếp cận” với gà còn sống mà chỉ biết gà BBQ, gà KFC, Red Rooster hay gà nướng than nổi tiếng của người Trung Đông.
Trở lại với tiếng hót của chim. Mùa Xuân là mùa chim chóc chộn rộn lo đủ mọi “công việc”. Có lẽ “công việc” quan trọng nhất của chúng là kết đôi và làm tổ. Cứ đúng ngày đầu Xuân là có một cặp chim én bay về làm ổ trong vườn nhà. Năm nào cũng vậy, sự trở lại của chúng khiến tôi tự hỏi: chỉ có một cặp hay là con cháu của chúng. Nếu là con cháu thì sao chúng cũng có bản năng đặc biệt như giống cá hồi. Loài chim “nối đuôi” cặp én là những con két đủ màu rực rỡ đặc biệt của Úc. Chúng nhiều không thể tả và hót vang trời. Hễ có một tiếng hót bên sườn núi này thì thế nào cũng có một tiếng đáp lại y hệt như vậy ở sườn núi bên kia. Chỉ sau vài ngày “hò hét” như vậy là bắt đầu xuất hiện từng cặp đi tìm chỗ xây tổ “uyên ương”. Cái lỗ hổng bên hông mái nhà của tôi thường là nơi các cặp vợ chồng két thích ngắm nghía. Bao giờ cũng vậy, một con chui vào quan sát một vòng rồi chui ra, không nói rằng, con kia cũng vào làm một vòng rồi chui ra. Không cần bàn bạc ồn ào, lôi thôi. Cũng không cần đến nhà băng hỏi mượn tiền mua nhà. Nếu thích, chúng sẽ bay đi và tha rơm về lót ổ ngay lập tức. Không thì chúng lại đi tìm chỗ khác.
Tiếng Việt của tôi đã tồi mà tiếng Anh cũng thuộc loại “ăn đong” nên tôi thường thích đặt tên cho các giống chim theo tiếng hót của chúng. Hình như tai tôi “có vấn đề” nên tiếng chim nào tôi cũng nghe như chúng đang dùng ngôn ngữ...loài người. Ngoại trừ Kookaburra có tiếng cười sang sảng của mấy tay lãng tử ra thì có khá nhiều giống chim hót ra câu ra “nghĩa”. Trước hết phải nói đến con chim “thợ hồ” mỗi sáng sớm khi những tia nắng Xuân vừa chạm đến rừng cây đã vội vàng thúc dục muôn loài bằng câu hót: “một xây hai cất, một xây hai cất”. Khi giống chim này dứt tiếng thì cũng là lúc bắt đầu bản hợp tấu của muôn ngàn tiếng chim khác. Đến khoảng tám giờ sáng thì “tình thế hỗn loạn” về âm thanh mới tạm êm dịu xuống để tôi có thể nghe được con chim “đa nghi” lên tiếng. Con chim này lúc nào cũng như một kẻ cả để “phán” những câu chắc nịch: “unbelievable, unbelievable!” Bao giờ cũng vậy, trong khi con “đa nghi” còn đang lải nhải thì bầy quạ đã cùng nhau chuẩn bị “đi học”. Thực vậy, quạ ở Úc không kêu “quạ, quạ, quạ...” như ở Việt nam mà “phát âm” rất rõ ràng: “A...Á...Ớ...” như trẻ em mẫu giáo tập học vần.
Nhưng giống chim làm cho tôi vui thích nhất phải là con “không lấy chồng đâu”. Ai đã nghe qua một lần đều thấy thật là thú vị. Nó luyến láy thanh âm “không lââấyyy chôôồng đâuuu...” không khác gì nữ ca sĩ Ái Vân hát dân ca quan họ. Cũng có lúc tôi nghe ra giọng Nam bộ của Như Quỳnh đầy vẻ nhõng nhẽo, ướt rượt: “Hổng lấy chồng đâu”. Câu hót của nó làm tôi liên tưởng đến cô thiếu nữ đi chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp. Miệng nói không lấy chồng nhưng ai nghe cũng phải hiểu ngược lại. Và thường thì khi nào cũng vậy, hễ một con hót thì đâu đó trong một góc rừng bao giờ cũng có tiếng đáp lại giống như một tiếng vang. Hai tiếng hót cứ đối qua lại như vậy cho tới khi im bặt là tôi biết lại có một đôi chim vừa “xứng đôi vừa lứa”. Chiều tối, tiếng chim lại cất lên một lần nữa để chúng tìm lại nhau và cùng bay về một hướng.
Thế nhưng chiều nay, con “không lấy chồng đâu” trên ngọn thông sau nhà hót đã khá lâu mà không có tiếng đáp trả. Bây giờ thì tôi hiểu nó thật sự không muốn lấy chồng. Tiếng của nó càng lúc càng thảm thiết không khác gì lời van xin của những người con gái bị ép gả. “Không lấy chồng đâu”: hình ảnh người con gái Afganistan bị cắt mũi và tai trên trang bìa tạp chí Time hôm nào...“Không lấy chồng đâu”: những cô gái Việt lấy chồng Nam Hàn, Đài Loan bị đọa đày...“Không lấy chồng đâu”: những người con gái bị lừa qua Trung Quốc làm vợ cho cả một gia đình...“Không lấy chồng đâu”: những cô dâu bị gia đình chồng hành hạ, giết chết vì không có của hồi môn...“Không lấy chồng đâu”: những cô gái là nạn nhân của những vụ “giết người vì danh dự”...
Bây giờ, con chim không còn hót nữa, nó chỉ kêu lên như bị đứt hơi: “chồng đâu, chồng đâu...” Tôi nghe mà thấy tội nghiệp cho nó. Trời đã tối hẳn, chắc chắn nó không thể bay kịp về tổ nữa rồi.
Nhưng nghĩ cũng thật là nghịch lý. Tại sao trong một khung cảnh mùa Xuân tươi đẹp thế này, tại sao giữa một thiên nhiên đầy màu sắc, mùi hương và sức sống như thế này, chỉ cần một tiếng chim kêu lạc bạn qua cái tai “thông dịch dzật” của tôi, mùa Xuân bị đẩy ra xa để bao nhiêu vấn nạn nhức nhối trong xã hội loài người lại “nhảy phóc” vào tâm tư? Như vậy chẳng lẽ tôi không cách nào có thể vui cùng thiên nhiên mà không bị vướng bận với những đau khổ của con người chăng?
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?” Nguyễn Du viết thật chí lý. Dù tôi có chễm chệ “làm vua một vùng” trong chốn núi rừng, nhưng nếu tôi vẫn còn là một “công dân’ của cộng đồng nhân loại, tôi chẳng thể nào an vui khi biết rằng vẫn có nhiều người phải trải qua chiến tranh loạn lạc mà chưa hề có một ngày an vui.
Dù tôi chẳng hề bị điều gì khuấy động trong đời sống hằng ngày, nhưng nếu tôi không biết giữ gìn và bảo tồn đời sống thiên nhiên của thú rừng, cây rừng thì một ngày tôi cũng phải đương đầu với nạn thú rừng phẫn nộ về phá vườn như đang xảy ra ở quê hương tôi.
Dù tôi có hạnh phúc cách mấy, tôi cũng không thể nào ngoảnh mặt làm ngơ trước những đau khổ, bất công mà những thành phần thấp bé trong xã hội phải gánh chịu, vì chính cái thiên nhiên đẹp đẽ là mùa Xuân trước mặt không ngừng nhắc nhở cho tôi rằng: Con người có giá trị hơn muôn chim ngàn hoa nhưng rất nhiều người đã không có được một cuộc sống xứng đáng với phẩm giá của một con người.
Mùa Xuân, hoa Xuân và những đàn chim Xuân không những mang tôi đến gần với thiên nhiên mà còn dạy cho tôi rằng con người chỉ có thể sống an vui, hạnh phúc khi biết tôn trọng, yêu mến và hài hòa với nhau và với thiên nhiên.

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2016

Burkina Faso: quê hương thứ hai của vợ chồng bác sĩ Elliott


22.1.16

Tên tuổi của một đất nước đã hầu như bị quên lãng trên bản đồ thế giới là Burkina Faso được truyền thông quốc tế nhắc đến trong những ngày vừa qua sau khi một chi nhánh của tổ chức khủng bố Al-Qaeda  tấn công vào một khách sạn tại Thủ đô Ouagadougou khiến cho  29 người bị thiệt mạng, trong đó có ít nhất 13 du khách ngoại quốc. Riêng người dân Úc có lẽ lần đầu tiên nghe nói đến quốc gia ở Miền Tây Phi Châu này là bởi vì sau vụ tấn công, những kẻ khủng bố đã bắt làm con tin một cặp vợ chồng bác sĩ người Úc đã từng tận tụy hy sinh làm việc tại nước này trong 40 năm qua.
Bác sĩ Ken Elliott và vợ ông, bà Jocelyn, xuất thân từ Perth, Tây Úc. Nhưng họ đã sống tại thành phố Djibo, gần biên giới với Mali và Niger từ năm 1972.
Hai vợ chồng bác sĩ Elliott đã có 3 người con. Hiện ông bà cũng đã trên 80 tuổi. Họ đã bị những kẻ khủng bố bắt giữ gần thành phố Baraboule. Một phát ngôn viên của gia đình ông bà Elliott cho biết hai ông bà đang điều hành một bệnh viện có tới 120 giường bệnh, nhưng ông Elliott là bác sĩ  duy nhất trong bệnh viện. Từ năm 1972 đến nay, vì lúc nào cũng tận tụy phục vụ các bệnh nhân, hai ông bà ít khi đi nghỉ hè.
Bác sĩ Richard Lugg, người bạn học của bác sĩ Elliott tại trường y khoa thuộc Đại học Tây Úc nói rằng ông là một người rất nhiệt tình và thân thiện; người dân Burkina Faso lúc nào cũng kính trọng và quý mến hai vị ân nhân của họ.
Trước khi sang phục vụ tại Burkina Faso, Bác sĩ Elliott đã từng làm việc tại Bệnh viện Fremantle, Tây Úc và sau đó gia nhập Hội “Royal Flying Doctor Service” (Các y sĩ chuyên di chuyển bằng máy bay để phục vụ tại các vùng hẻo lánh) tại Kalgoorlie.
Đầu năm 1967, bác sĩ Elliott đến Benin, một quốc gia cũng nằm ở miền Tây Phi Châu. Tại đây, ông đã mở lại một bệnh viện đã từng bị đóng cửa và làm việc ở đó 4 năm trước khi chuyển sang Burkina Faso. Đều đặn 6 ngày một tuần, bác sĩ Elliott làm việc từ 5 đến 6 giờ mỗi ngày. Có quá nhiều nhu cầu và đôi khi ông phải đối phó với những trường hợp khủng khiếp. Nhưng hầu như kết quả lúc nào cũng khả quan.
Trong một tập san kỷ niệm 50 năm tốt nghiệp y khoa, Bác sĩ Elliott viết rằng Burkina Faso được xếp hạng là một trong những ngước nghèo nhất trên thế giới.
Burkina Faso là một quốc gia nằm ở Miền Tây lục địa Phi Châu, với diện tích rộng khoảng gần 300 ngàn cây số vuông và trên 17 triệu dân. Nhìn trên bản đồ, người ta thấy Burkina Faso giáp giới với nhiều nước: phía Bắc có Mali, miền Đông có Niger, ở mạn Đông nam có Benin. Ngoài ra, ở phía nam, Burkina Faso còn giáp giới với hai nước Togo và Ghana. Ở phía Tây Nam còn có Côte d’Ivoire.
Trước kia, quốc gia Tây Phi này có tên là Republic of Upper Volta (Cộng Hòa Thượng Volta). Nhưng kể từ ngày 4 tháng 8 năm 1984, tổng thống lúc đó là ông Thomas Sankara đã cho đổi tên thành Burkina Faso, nghĩa là “đất nước của những người lương thiện”.
Từng là đất sống của nhiều bộ lạc khác nhau, vùng đất này chỉ được khai hóa từ đầu thập niên 1890. Đây là thời điểm các sĩ quan Anh, Pháp và Đức bắt đầu tranh giành và xâu xé vùng đất này. Có lúc những người thực dân hợp tác để chiến đấu chống lại người dân bản địa. Có lúc họ cũng ký thỏa ước với người địa phương. Sau một loạt những biến cố phức tạp với sự tham dự của nhiều lực lượng khác nhau, cuối cùng vào năm 1896 Burkina Faso đã trở thành một nước bảo hộ của Pháp. Nhưng chỉ một năm sau, lấy lý do có sự chống phá của một bộ lạc địa phương, Pháp đã đem quân sang chiếm toàn bộ Burkina Faso và chính thức biến vùng đất này thành một thuộc địa.
Năm 1898, Pháp và Anh ký kết với nhau một Thỏa ước để thiết lập ranh giới mới cho đất nước này. Pháp áp đặt Pháp ngữ thành ngôn ngữ chính thức của Burkina Faso và bổ nhiệm những người thực dân Pháp vào những chức vụ quan trọng trong guồng máy hành chính. Họ cũng cho mở một số trường và chọn những sinh viên ưu tú để gởi sang du học tại Pháp.
Nhưng cũng như tại nhiều thuộc địa khác trên thế giới, người dân địa phương cũng bắt đầu nổi lên chống lại chính quyền thực dân. Chính phủ Pháp đã đàn áp dã man phong trào nổi dậy của người dân Burkina Faso.
Năm 1919, sau  khi Burkina Faso đã được bình định, Pháp đã biến nước này  thành “Vùng Thượng Volta của Pháp”. Vì sợ sẽ có những cuộc nổi dậy, chính phủ Pháp một mặt cho đẩy mạnh kinh tế, mặt khác tìm cách tách Burkina Faso ra khỏi những vùng đất khác cũng do Pháp cai trị như Senegal và Niger. Sau khi đã thiết lập biên giới, chính phủ thuộc địa cho đặt tên vùng này là “Haute Volta” và đặt ông Charles Alexis Edouard Hesling làm toàn quyền đầu tiên. Ông này liền bắt tay vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở, đặc biệt là đường sá để gia tăng việc xuất cảng bông vải. Nhưng chính sách bông vải đã gặp thất bại. Vùng đất mà chính phủ thuộc địa Pháp đặt tên là “Haute Volta” đã bị chia thành Côte d’Ivoire, Sudan và Niger. Sau Đệ Nhị Thế chiến, chính phủ Pháp lại cho vẽ lại biên giới của các thuộc địa của mình và Burkina Faso lấy lại tên “Vùng Thượng Volta”.
Mãi đến năm 1958, Pháp mới cho Burkina Faso  được tự trị và đặt  tên  là “Cộng Hòa Thượng Volta”. Quốc gia mới thành lập này gia nhập Cộng Đồng Pháp - Phi như nhiều cựu thuộc địa khác của Pháp tại Phi Châu. Được đặt tên là “Thượng Volta” vì quốc gia này nằm dọc theo dòng sông Volta. Dòng sông này bắt nguồn từ ba nhánh được đặt tên là Đen, Trắng và Đỏ. Chính vì vậy mà khi mới lập quốc, Burkina Faso đã đưa ba mầu này vào quốc kỳ của mình.
Năm 1960, Burkina Faso mới chính thức tuyên bố độc lập khỏi Pháp Quốc. Người đã từng làm lãnh tụ của Liên Hiệp Dân Chủ Volta là ông Maurice Yamego lên làm tổng thống đầu tiên của Burkina Faso. Hiến Pháp năm 1960 của Burkina Faso qui định rằng tổng thống sẽ được bầu cử trong cuộc phổ thông đầu phiếu và nhiệm kỳ của Quốc hội nước này kéo dài 5 năm. Nhưng không bao lâu sau khi lên cầm quyền, ông Yamego đã dẹp mọi đảng phái chính trị khác. Chính vì vậy mà sinh viên, các nghiệp đoàn, công nhân viên chức và dân chúng đã liên tục tổ chức các cuộc biểu tình chống chính phủ. Cuối cùng quân đội đã phải can thiệp. Qua cuộc đảo chính năm 1966, quân đội đã truất phế Tổng thống Yamego, ngưng thi hành hiến pháp và giải tán Quốc hội. Người chỉ huy cuộc đảo chính là Trung tá Sangoulé Lamizana lên cầm quyền. Chính quyền quân phiệt kéo dài được 4 năm. Năm 1970, một hiến pháp mới được phê chuẩn; quân đội sẽ có 4 năm để chuẩn bị trao quyền lại cho chính phủ dân sự. Trung tá Lamizana đã khéo léo dàn xếp để tiếp tục cầm quyền trong một chính phủ hỗn hợp vừa quân phiệt vừa dân sự. Cuối cùng năm 1978, ông Lamizana mới chính thức tái cử trong một cuộc bầu cử có tổ chức.
Nhưng năm 1980, ông Lamizana đã bị lật đổ trong một cuộc đảo chính không đổ máu. Một sĩ quan khác là Trung tá Saye Zerbo lên thay. Cũng như người tiền nhiệm của ông, Trung tá Zerbo gặp nhiều chống đối từ phía các nghiệp đoàn. Cho nên chỉ sau 2 năm cầm quyền, ông Zerbo lại bị một sĩ quan khác là ông Jean Baptiste Quédraogo lật đổ. Ông này lập ra Hội đồng Nhân dân Cứu Quốc và dẹp bỏ mọi đảng phái và tổ chức chính trị. Nhưng trong nội bộ Hội đồng Nhân dân Cứu Quốc lại diễn ra nhiều tranh chấp giữa hai phe tả hữu. Lãnh tụ cánh tả là Đại úy Thomas Sankara được bổ nhiệm làm thủ tướng, nhưng chỉ một thời gian ngắn lại bị bắt giữ. Những cố gắng giải thoát ông đã dẫn đến cuộc đảo chính năm 1983. Ông Sankara đã được phục hồi và lên cầm quyền. Chính phủ của ông đã bắt đầu một loạt cải tổ đáng ca ngợi như cho cổ võ việc chích ngừa, cải thiện hạ tầng cơ sở, nới rộng quyền của nữ giới, khuyến khích tiêu thụ nông sản trong nước và đề ra những dự án chận đứng nạn sa mạc hóa. Tất cả những cuộc cải cách của ông Sankara đã được tóm gọn trong tên gọi mới của đất nước là Burkina Faso do ông đề xướng.
Được nước làm tới, Tổng thống Sankara thành lập Hội đồng Quốc gia Cách mạng do ông làm chủ tịch và các Ủy ban Bảo vệ Cách mạng để gọi là “động viên quần chúng” thực thi các chương trình cải tổ của ông. Ông cũng đề ra chương trình giáo dục trẻ con và thanh thiếu niên về lý tưởng Marxit. Và dĩ nhiên, song song với những chương trình này, ông cũng mở chiến dịch truy lùng và càn quét những người bị tình nghi phản cách mạng.
Cuộc cách mạng của Tổng thống Sankara đã diễn ra trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh. Ông thường xuyên thăm viếng Liên Xô và Cuba cũng như kêu gọi các nước Phi Châu quịt nợ của các nước Tây Phương. Không những Pháp, Hoa Kỳ mà các nước láng giềng của Burkina Faso đều tỏ ra quan ngại về con đường cách mạng được Tổng thống Sankara mở ra cho đất nước mình. Dân chúng trong nước ngày càng bất mãn về con đường cách mạng ngày càng hướng đến độc tài. Năm 1987, nại đến sự bất mãn của dân chúng và các mối quan hệ ngày càng tồi tệ với các nước láng giềng, một cộng sự viên lâu năm của Tổng thống Sankara là ông Blaise Compaoré đã thực hiện một cuộc đảo chính qua đó ông Sankara và 12 viên chức chính phủ khác bị giết chết. Nhưng cũng không hơn gì những người tiền nhiệm, ông Compaoré vẫn cứ tiếp tục đi theo con đường mòn của độc tài. Năm 2014, sau 27 năm cai trị với bàn tay sắt của ông Compaoré, dân chúng Burkina Faso đã xuống đường phản đối: họ chiếm đài truyền hình quốc gia và đốt tòa nhà quốc hội. Tổng thống Compaoré buộc phải từ chức. Tình hình chính trị tại Burkina Faso cứ thế mà rơi vào hỗn loạn. Mãi cho đến cuối năm 2015, một cuộc bầu cử mới được tổ chức và ông Roch Marc Christian Kaboré đã đắc cử tổng thống với trên 50 phần trăm số phiếu. Đây là lần thứ hai một người không xuất thân từ quân đội lên làm tổng thống của quốc gia miền Tây Phi Châu này.
Vì tình trạng chính trị luôn bất ổn cho nên kinh tế của Burkina Faso luôn èo uột, mặc dù “đất nước của những người lương thiện” ở miền Tây Phi Châu này có nhiều trữ lượng vàng.
Ngoài tình trạng chính trị bất ổn và kinh tế thấp kém, cuộc khủng bố mới xảy ra tại Thủ đô Ouagadougou cũng cho thấy những những xung đột sắc tộc và tôn giáo tại Burkina Faso. Thống kê chính thức của Burkina Faso cho biết có trên 60 phần trăm dân số nước này theo Hồi giáo mà phần đông thuộc hệ phái Sunni; một số nhỏ theo hệ phái Shiite. Cũng theo thống kê của chính phủ, khoảng 23 phần trăm dân số Burkina Faso theo Kitô giáo, phần lớn là tín hữu Công giáo.
Hệ thống  y tế tại nước này vẫn còn rất thô sơ. Tuổi thọ trung bình của người dân không quá 60. Trung bình trong 100 ngàn người dân mới có 10 bác sĩ. Không lạ gì Bác sĩ Elliott đã phải một mình phụ trách cả một bệnh viện trên 100 giường bệnh. Nhưng đã lấy phục vụ và hy sinh cho người dân nghèo làm lý tưởng, Bác sĩ Elliott và vợ ông đã chọn Burkina Faso làm quê hương thứ hai của họ từ 40 năm nay. Họ xứng đáng được chọn làm “người Úc của Năm” trong dịp Quốc Khánh này.



Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2016

Quyết tâm đầu năm của tôi: hãy là chính mình!


Chu Thập
15.1.16
Đầu năm, cũng như ai, tôi mon men vào các trang tử vi để xem thử thời vận. Nhưng nhận thấy năm nào con đường được các nhà tiên tri mở ra trước mắt cho tôi cũng đều “huề vốn” cả cho nên tôi không “mặn” với tử vi cho lắm. Tôi thiên về tướng số hơn, nếu hiểu tướng số là thuật “trông mặt mà bắt hình dong”. Nhưng kinh nghiệm của tôi trong việc nhìn người mà đoán tính tình và thời vận  xem ra cũng nhiêu khê lắm.
Vào những năm đầu thập niên 1960, không rõ tướng mạo của tôi lúc còn ở trung học có thê thảm lắm không mà một ông thày tướng số đã làm cho tôi phải mất ăn mất ngủ rất nhiều ngày. Số là năm chuẩn bị thi trung học đệ nhứt cấp, một nhóm bạn chúng tôi rủ nhau lên Tháp Bà (Nha Trang) để nhờ “các thày” xem cho biết mình có qua cầu được trong kỳ thi sắp tới không. Sau khi xem chỉ tay và nhìn kỹ diện mạo của tôi, một ông thày đã tuyên bố gần như chắc nịch rằng tôi sẽ rất vất vả, nếu không muốn nói là sẽ trượt vỏ chuối trong kỳ thi năm đó. Vào thời đó, cứ hễ thi rớt thì người ta tự an ủi hay được người xung quanh vỗ về: “học tài thi phận” mà!  Giỏi cách mấy mà có số phận hẩm hiu thì cũng rớt thôi. Tôi chuẩn bị và bước vào trường thi với câu thần chú ấy. Nhưng cuối cùng, kết quả thi của tôi năm đó đã chứng minh rằng ông thày tướng số ở Tháp Bà đúng là một ông thày bói nói mò. Kể từ đó, tôi không còn tin ở bất cứ thuật tướng số nào nữa.
Dù vậy, trong cuộc sống, cơn cám dỗ “trông mặt mà bắt hình dong” vẫn không bao giờ rời khỏi cách nhìn người của tôi, mặc dù trong đa số trường hợp, lúc nào sự suy đoán của tôi cũng đều trật lất. Lần đầu tiên khi nhìn thấy một con người có gương mặt sáng sủa và nụ cười thân thiện như ông Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng, tôi nghĩ rằng một Gorbachev đang đến với Việt Nam. Nhưng sau 2 nhiệm kỳ thủ tướng của ông, tôi mới thấy mình không có “khiếu” để theo học khoa tướng số. Tôi cũng có một kinh nghiệm tương tự khi lần đầu tiên được nhìn thấy dung nhan của đương kim chủ tịch nhà nước Trung Cộng, ông Tập Cận Bình. Cứ nhìn nụ cười không thấy răng của ông, ai dám bảo đây là một đồ tể. Tôi đã lầm và tôi cũng nghĩ rằng rất nhiều người trên thế giới này cũng đã lầm: đằng sau nụ cười thân ái, hiền hậu ấy là cả một trời toan tính độc ác mà chỉ có trời mới biết!
Tôi đã lầm khi nhìn diện mạo, cử bộ, dáng đi, giọng nói hay ngay cả nụ cười của người khác để suy đoán về tính tình hay tư cách của họ. Nhưng bởi lẽ con người là một thực thể thống nhứt gồm có thân xác và tinh thần tương thuộc nhau cho nên bộ diện bên ngoài cũng phần nào nói lên nội tâm sâu kín bên trong. Các nhà lãnh đạo, vì là người của công chúng, cho nên dễ trở thành đối tượng để áp dụng môn tướng số. Trực giác của tôi có lẽ đúng khi tôi theo dõi nhứt cử nhứt động của cựu thủ tướng Úc Tony Abbott. Khi thấy ông thích phô diễn bộ ngực nở nang đầy lông lá,  khi nhìn ông xông xáo để “góp mặt” khắp nơi, đó là chưa kể đến những lần phát ngôn thiếu cân nhắc của ông, tôi nghĩ ngay rằng sự nghiệp chính trị của ông không bền. Mà quả đúng như thế.
Có một nhân vật khác mà từ lâu tôi vẫn thắc mắc về điệu bộ khác thường . Người đó là tổng thống Nga Vladimir Putin. Ông này cũng thích biểu diễn như ông Tony Abbott. Nhưng tôi chú ý đến cách đi đứng của ông hơn: tay phải của ông hầu như bất động, chỉ có tay trái mới vung lên theo nhịp bước. May quá, mới đây, các nhà khoa học đã giải mã được dáng điệu đặc biệt ấy của ông tổng thống xem trời bằng vung này. Dịp Giáng Sinh vừa qua, Tạp chí Y khoa Anh Quốc (The British Medical Journal) có đăng tải kết quả một cuộc nghiên cứu của một nhóm bác sĩ Bồ Đào Nha, Ý và Hòa Lan. Các bác sĩ này nhận thấy rằng không riêng gì ông Putin, mà thủ tướng Nga, ông Dmitri Medvedev và một số viên chức cao cấp khác trong chính phủ Nga cũng đều có dáng đi khó hiểu ấy: chỉ có một cánh tay cử động, còn cánh tay kia gần như bất động. Thoạt tiên, các nhà nghiên cứu cho rằng việc vung tay không đều khi đi đứng là dấu hiệu của giai đoạn tiền Parkinson. Nhưng nghiên cứu kỹ lưỡng nhiều đoạn Video trên Youtube, các nhà nghiên cứu đã loại bỏ giả thuyết về bệnh Parkinson, bởi vì các nhân vật nói trên không có các triệu chứng khác như tay run rẩy hoặc tay chân không phối hợp nhịp nhàng. Riêng trong trường hợp ông Putin, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng ông này là một võ sĩ nhu đạo có tới đệ ngũ đẳng huyền đai, tay chân vẫn còn phối hợp rất nhịp nhàng khéo léo. Như vậy không thể bảo rằng dáng đi của ông là dấu hiệu của tiền Parkinson. Chỉ còn lại một giả thuyết mà các nhà nghiên cứu nghĩ là có tính thuyết phục hơn cả: dáng đi của ông Putin là kết quả của thời gian tập luyện trong ngành KGB. Dựa theo “giáo trình luyện tập” do các cựu điệp viên KGB biên soạn và cung cấp, các nhà nghiên cứu giải thích rằng khi di chuyển, đối mặt với kẻ thù, tay phải của các điệp viên KGB phải luôn được đặt ở ngực bên trái để có thể rút súng ngắn đeo ở phía dưới nách trái bất cứ lúc nào. Chính vì tay phải luôn bị đặt trong tư thế đó mà điệp viên KGB Putin đã có cánh tay phải hầu như bất động mỗi khi đi đứng (x.RFI tiếng Việt 1/1/2016). Có lẽ tính cách của ông đã được định hình qua dáng đi ấy.
Thì ra thế. “Dáng đi xạ thủ” của ông Putin phần nào nói lên tính cách của ông: luôn trong tư thế sẵn sàng ứng chiến với mọi người, bởi vì ông chẳng tin ai cả! Và có lẽ trên thế giới này cũng chẳng có nhiều người tin ông, ngay cả khi ông bày tỏ “thiện chí”.
Nhưng điều đáng nói ở đây, theo tôi, không phải là dáng đi của ông Putin, mà là của ông thủ tướng Medvedev. Ông này cũng có dáng đi y chang như ông Putin. Tính cách của ông Putin có lẽ đã được hình thành qua thời gian huấn luyện ở KGB và được củng cố trong suốt hơn mười mấy năm hết làm thủ tướng đến làm tổng thống của ông. Còn ông Medvedev, người chưa hề trải qua bất cứ năm nào trong quân đội, lại cũng chẳng có dấu hiệu nào của bệnh Parkinson, nếu cũng có “dáng đi xạ thủ” như thế là do bắt chước “thủ trưởng” của mình mà thôi. Ông Medvedev muốn được làm một “bản sao” của quan thày Putin!
Nhìn cách ông Medvedev rập khuôn theo “minh chủ” Putin, tôi cũng nghĩ đến hiện tượng chạy theo thần tượng trong xã hội ngày nay. Người ta say mê các thần tượng đến nỗi muốn sao chép cách ăn mặc, nói năng và cử chỉ của họ.
Trong xã hội tự do, con người tự do chạy theo các thần tượng. Còn trong các chế độ độc tài, như Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chẳng hạn, người ta bị bắt buộc phải chạy theo nhà độc tài. Hồ Chí Minh đã thành công trong việc tự tô vẽ cho mình thành thần tượng và bắt mọi người phải rập khuôn theo ông. Mà bởi ông đã đeo vào người đủ thứ mặt nạ mà nét vẽ chính là sự dối trá cho nên người dân sống dưới trướng của ông và hậu duệ của ông cũng đành phải đeo vào người mặt nạ của dối trá. Vì sợ hãi cho nên những kẻ dám đứng lên tháo gỡ chiếc mặt nạ của dối trá ấy không phải là nhiều. Tựu trung, trong chế độ cộng sản, con người không dám là sống cho sự thật, cho chính mình, mà phải lây lất sống với chiếc mặt nạ che khuất cả không khí của tự do.
Trong hồi ký “Đèn Cù”, nhà báo Trần Đĩnh, người đã từng được lệnh viết tiểu sử của Hồ Chí Minh, thường trích dẫn một câu nói thời danh của triết gia Đan Mạch Soren Kierkegaard (1813-1855). Trong phản ứng chống lại thứ triết học cổ điển khô khan chỉ quanh quẩn với những ý niệm trừu tượng, người được xem là cha đẻ của triết học hiện sinh thường nhắn nhủ: “Sois de tout coeur ce que tu es”. Trần Đĩnh dịch là: “Mày là thế nào thì hãy sống hết lòng như thế”. Tôi hiểu câu nói đó một cách đơn giản: hãy là chính mình!
Phải can đảm lắm con người mới dám sống thật với chính mình. Trong các đức tính của con người, can đảm là điều đáng khâm phục hơn cả. Ca nhạc sĩ Rock người Anh nổi tiếng David Bowie vừa mới qua đời. Tôi chưa từng tôn ông làm thần tượng. Nhưng tôi khâm phục sự can đảm của ông. Ngay từ năm 1972, sáu tháng sau khi có cuộc diễn hành đầu tiên của một nhóm người đồng tính tại London, Bowie đã công khai tuyên bố rằng ông là một người đồng tính. Trong một cuộc phỏng vấn, ông còn nói thêm rằng ông là một người lưỡng tính. Vào thời điểm đó, thái độ bộc bạch trên đây của ca sĩ Bowie quả là một “trái bom tấn” làm chao đảo không ít những người hâm mộ ông. Kể từ đó, thông điệp mà ông thường ký thác trong các ca khúc của mình  là lời kêu gọi “hãy là chính mình” và hãy tôn trọng sự khác biệt của người khác.
Một nhân vật khác mà tôi cũng khâm phục sự can đảm là “bà” Caitlyn Jenner, được tạp chí Time xếp vào hàng thứ 7 trong danh sách những người được chọn làm người của năm 2015 vừa qua. Là một nam lực sĩ điền kinh đã từng đoạt huy chương vàng trong Thế Vận Hội năm 1976 cũng như đã từng có vợ con,  mới đây Jenner đã xin chuyển giới. Và hiện nay “bà” được xem như  phát ngôn viên của những trẻ em chuyển giới. Tôi khâm phục những người như thế bởi vì “họ là thế nào thì họ sống hết lòng như thế”.
Mỗi dịp đầu năm, cũng như rất nhiều người, tôi cũng làm một số quyết tâm. Và năm nào tôi chỉ lập lại những quyết tâm cũ rích xoay quanh việc sống có kỷ luật hơn như ăn uống điều độ, siêng năng tập thể dục v.v. Năm nay, tôi lại nghĩ đến một quyết tâm xem ra mơ hồ hơn: đó là “hãy là chính mình”. Mơ hồ nhưng có lẽ sẽ mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của tôi hơn cũng như giúp tôi cảm thấy an bình và hạnh phúc hơn.
“Hãy là chính mình”, theo tôi, trước tiên là biết mình. Đây là bài học vỡ lòng mà tôi đã học được khi vừa bước chân vào ngôi nhà triết học. Dẫn giải về châm ngôn này, nhà hiền triết Hy Lạp Socrates (470/469-399 trước Công nguyên) nói: “Lẽ khôn ngoan đích thực là biết rằng mình chẳng biết gì”. Với tôi, biết mình là biết mình “ngu”, nghĩa là luôn ý thức về những giới hạn, khuyết điểm và lầm lỗi của mình. Có như thế mới biết cảm thông và khoan nhượng đối với người khác. Kinh nghiệm bản thân cho tôi thấy rằng đây là thái độ nền tảng nhứt luôn mang lại sự an bình cho tôi.
“Hãy là chính mình”, với tôi, cũng có nghĩa là sống thật với lòng mình để không phải che đậy hay tô son trét phấn bằng vô số những thứ phù phiếm giả tạo hay sĩ diện hão. Chiếc mặt nạ của sĩ diện tôi đeo lên mặt có thể đánh lừa người khác, nhưng không thể lừa dối lương tâm của tôi. Bộ diện giả tạo của tôi có thể qua mắt được khoa tướng số, nhưng không thể che khuất được tấm gương soi nội tâm của tôi.
“Hãy là chính mình” là một con đường ít người muốn đi. Nhưng tôi tin chắc rằng đó là con đường mang lại cho tôi niềm vui, an bình và hạnh phúc đích thực. Tôi mong được như thế trong năm mới này.





Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

Những Người Hàng Xóm của Tôi



                                                                            Chu Thập
Đầu năm 2010


Những ngày đầu năm Âm lịch, nhớ nhà, tình cờ đọc được chuyện ngắn “Xóm Nhỏ” của nhà văn Võ Phiến, tôi lại càng thấy nhớ nhà hơn.
Nhân vật xưng “tôi” trong câu chuyện mở đầu như sau: “Buổi chiều hôm đó, lúc trời đã gần tắt nắng tôi mới bắt đầu. Đây là bắt đầu chuyến đi loanh quoanh trong xóm thôi. Lần nào cũng vậy, mỗi lần về làng sau khi vắng mặt năm ba tháng tôi vẫn có thói quen dạo xóm một vòng, trông lại nhà cậu này mợ kia, xem qua bờ rào ông này vườn chuối bà nọ v.v…Thường tôi có loanh quanh như thế. Như là để sờ sẫm lại xóm làng. Và thường khi mọi cái vẫn nguyên như cũ. Những mỗi chuyến đi về vẫn cứ có việc sờ sẫm. Bất giác, vu vơ.” (Võ Phiến,Võ Phiến Toàn Tập)
Tôi nghĩ những dòng trên đây có lẽ là tâm sự của chính tác giả, vốn cũng là một người miền Trung như tôi. Và tôi cũng không hiểu tại sao tâm sự ấy lại cũng giống “y chang” tâm sự của tôi.
Hồi đó, học xa nhà, mỗi năm tôi chỉ được về nhà vào dịp Tết và 2 tháng nghỉ hè lớn. Như một nghi thức không bao giờ thiếu, cứ buổi chiều đầu tiên trong kỳ nghỉ, tôi đi rảo qua các ngôi nhà quen thuộc trong xóm rồi vòng ra ruộng cách nhà chừng 10 phút đi bộ. Ở đó, tôi chọn một bờ cao và ngồi nhìn ngắm bức tranh quen thuộc của đồng ruộng. Cũng vẫn những đám mạ xanh đó. Cũng vẫn những ruộng lúa đang trổ đòng đòng đó. Cũng vẫn mấy cái mương dẫn nước vào ruộng đó. Cũng vẫn tiếng nhái cơm nhái bầu kêu mỗi khi chiều về. Cũng vẫn bầy cò trắng đang bay về tổ ở một ngọn núi nằm sau một cái làng mà tôi ít dám đến: đó là ngôi làng nổi tiếng có nhiều người lên núi đi theo “phía bên kia”. Cứ đêm đến, từ ngôi làng ấy, vọng lại tiếng trống “cà tum tum” nghe rợn tóc gáy của “mấy ổng”. Có những buổi sáng, sau một đêm đụng trận giữa quân đội quốc gia và mấy ổng, người ta lôi xác mấy ổng ra phơi ở đầu làng tôi để cho thân nhân bà con của mấy ổng nhận diện và đem về chôn cất.
Làng tôi được cái không có người đi theo phía bên kia. Mọi người, nếu không bà con ruột thịt, thì cũng “giây mơ rễ má” với nhau đến cả 9 đời, bởi vì “chín đời không nhìn trời đánh”. Thành ra, cứ ra đường gặp nhau, không ông bà, chú bác, cô dì, cậu mợ, chú thím, dì dượng… thì cũng anh chị em với nhau. Đã vậy, chào nhau thì phải chào cho đúng thứ vị trong gia đình và nhứt là không được phạm húy. Có những ông Ba Tam, Bà Chín Tứ, Bác Năm Mạch, Dượng Tám Ca…được tôi chào hỏi cả đời mà cho tới nay vẫn chưa biết được đích danh của họ là gì. Những cái tên đi kèm theo thứ vị của họ là tên của người con cả của họ. Cho tới khi biết đọc biết viết, cầm bản “thế vì khai sinh” trong tay, tôi mới biết được tên cha mẹ tôi và kể từ đó, tôi sẵn sàng ăn thua đủ với bất cứ ai đụng đến tên của các ngài. Sau này, tôi cũng biết rằng trong đại gia đình, tên tôi cũng “bất khả xâm phạm” như thế. Có lần một đứa cháu con bà chị cả tôi gọi đích danh tôi là “Cậu Thập”. Chị cả tôi liền mắng nó “tại sao dám hỗn” như vậy và dạy nó phải gọi tôi bằng “Cậu Mười”, vì tôi vốn là con thứ 10 trong gia đình.
Cái thứ vị “đáng kính” ấy cũng theo tôi ra ngoài đường. Chỉ cần 5 phút đi bộ trong xóm, tôi sẽ được chào hỏi với đủ thứ vị như bác Mười, chú Mười, cậu Mười, anh Mười, em Mười…Tôi luôn cảm nhận được cái tình bà con hàng xóm ấy. Cũng như nhà văn Võ Phiến, mỗi lần về thăm nhà, tôi thấy cần phải đi bách bộ trong xóm làng để “sờ sẫm” cho bằng được cái tình nghĩa xóm làng ấy.
Từ ngày bỏ nước ra đi, nếu phải nói đâu là sự mất mát lớn nhứt, tôi không ngần ngại trả lời rằng đó là tình nghĩa xóm làng.
Cái “xóm nhỏ” nơi tôi ở hiện nay thật dễ thương, nhưng không thể nào thay thế được cái xóm làng mà tôi đã mất.
Con đường cụt của xóm tôi được gọi bằng tiếng Anh là “Close”. Hiểu là “đóng kín” cũng được, mà hiểu theo nghĩa “gần gũi, thân thiện” thì có lẽ hay hơn. Tôi đã đếm thật kỹ: con đường chữ L này chỉ đúng 20 ngôi nhà. Hầu hết những người ở bên số chẵn là những người về hưu. Phía bên kia là những cặp vợ chồng trẻ hoặc trung niên. Cặp vợ chồng trẻ với hai con nhỏ cạnh nhà tôi là những người thích sinh hoạt xã hội nhứt xóm: họ thường xuyên tổ chức các buổi họp mặt để qui tụ những người trong xóm lại và mới đây đã cho làm một hồ tắm phía sau nhà; trẻ con trong xóm có dịp vui đùa với nhau. Tôi biết mặt hầu hết trẻ con cũng như người lớn trong cái xóm nhỏ này. Nhưng tên tuổi thì tôi chịu thua. Gặp nhau chào hỏi mỗi ngày, nhưng bà con hàng xóm của tôi tên gì, tôi không hề biết. Tội nghiệp cho cái ông có cái chân khập khiễng. Ông là người niềm nở và dễ thương nhứt xóm. Nhưng vì không biết tên ông, cho nên vợ chồng tôi bất đắc dĩ khi đề cập đến ông phải dùng bằng một cái tên hơi bất kính:  “ông Cà Thọt”. Không biết tên tuổi đã đành, chúng tôi cũng chẳng rành đến nghề nghiệp của họ. Ngoài một người làm cho sở cứu thương, tôi không biết những người hàng xóm của tôi làm nghề gì; bà hàng xóm bên phải, cứ 5 giờ sáng rồ máy xe ra; ông chồng thì ở nhà trông coi hai đứa con. Chỉ có một người tôi biết rõ đã từng làm giáo viên dạy âm nhạc trong một trường tư, đó là cụ bà trên 84 tuổi ở bên trái. Chồng chết cách đây 3,4 năm, con cái đã lập gia đình và ở riêng; cụ bà sống một mình. Nhiều lúc tôi cảm thấy ái ngại cho bà. Một tuần đôi ba ngày, nhân viên xã hội đến chăm sóc bà. Phần lớn thời gian, bà sống một mình và tự lập trong mọi chuyện. Nhưng có những bất trắc của tuổi già làm sao có thể ngờ được. Nghĩ đến các cụ già trong xóm làng của tôi ngày xưa, tôi thấy thương bà cụ. Đêm đến, tôi cứ nhìn qua nhà bà để xem còn có ánh đèn không.Thỉnh thoảng tôi lại liếc mắt để biết chắc là bà vẫn “còn đó”. Tôi cứ nghĩ đến cảnh những người già neo đơn chết trong nhà đến cả tuần mà chẳng ai hay biết. Có lúc tôi mang mặc cảm “thiếu sót bổn phận” đối với bà. Giá ở Việt nam thì chắc chắn mỗi ngày tôi đã “tự nhiên như người Hà nội”, không cần bấm chuông gõ cửa, bước thẳng vào nhà bà để nếu không săn sóc bà, thì ít nhứt cũng tỏ cho bà thấy rằng tôi quan tâm đến bà.
Cái xóm nhỏ của tôi dễ thương thật. Chỉ có điều, cái khoảng cách vô hình giữa tôi và họ vẫn còn đó. Có lẽ do lỗi của tôi hơn là do họ tạo ra. Tôi cứ suy nghĩ mãi về câu nói của ai đó: “con người đã lên mặt trăng và dự trù sẽ thám hiểm các hành tinh khác, nhưng xem ra vẫn chưa băng qua được con đường trước mặt để đến với người hàng xóm.” Ngày nay, do sự phát triển theo tốc độ chóng mặt của hệ thống thông tin toàn cầu, thế giới đã trở thành một ngôi làng nhỏ. Chỉ trong tích tắc đồng hồ, chuyện xảy ra ở đầu thế giới bên này đã được người ở đầu bên kia thế giới biết. Vậy mà, chắc chắn có nhiều chuyện xảy ra trong 20 căn hộ trong cái xóm này mà tôi chẳng hề biết.
Càng lúc tôi càng thấy rõ những khác biệt về văn hóa giữa người với người. Văn hào Anh Rudyard Kipling đã có lý để nói: Đông là Đông và Tây là Tây. Nhưng khác biệt không hề có nghĩa là không thể gặp nhau và cảm thông với nhau.
Một linh mục dòng Tên ngoại quốc truyền giáo tại Việt nam trước năm 1975 có kể lại rằng một linh mục cùng dòng với ông làm giáo sư tại Đại Học Huế chẳng may qua đời trong một tai nạn giao thông. Vì thương mến vị giáo sư, các sinh viên Việt nam tổ chức một tang lễ thật long trọng. Họ chụp hình từng chi tiết, từ lúc vị linh mục nằm xuống, được tẩm liệm cho đến lúc tống táng. Tất cả những tấm hình được ghép lại thành một cuốn Album. Để gọi là tỏ lòng thương nhớ người quá cố và chia sẻ niềm đau của tang gia, các sinh viên Việt nam mới gởi cuốn Album đó đến cho thân mẫu của vị linh mục ở mãi bên Canada. Hành động của các sinh viên Việt nam quả là một nghĩa cử cao đẹp. Nhưng không ngờ, khi nhận được cuốn Album, thân mẫu của vị linh mục như mất con thêm một lần nữa.Trong lá thư gởi cho các sinh viên, bà trách móc tại sao họ gởi cuốn Album đầy những hình ảnh chết chóc đó để khơi gợi lại niềm đau của bà.Thì ra, trong văn hóa Tây Phương, chẳng ai muốn giữ lại những hình ảnh chết chóc và tang tóc của người thân.
Vì không hiểu được văn hóa của nhau, những cử chỉ tưởng là hay đẹp lại tạo ra hiểu lầm. Tôi cũng nhớ một câu chuyện xảy ra trong trại trại tỵ nạn Bataan, Phi luật tân. Từ cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 90, Hoa kỳ cho thành lập trại chuyển tiếp để chuẩn bị Anh ngữ và kiến thức văn hóa Mỹ cho những người được Mỹ nhận. Do đó, tất cả những thuyền nhân từ các trại tỵ nạn Đông Nam Á sẽ đi Mỹ, những người Việt nam ra đi theo chương trình trật tự gọi tắt là ODP hoặc những người con lai Mỹ cùng gia đình đều phải đến trại tỵ nạn Bataan để theo một khóa học về “định hướng văn hóa” trong vòng 6 tháng. Chủ yếu vẫn là học Anh ngữ.
Những người học vỡ lòng lớp Anh ngữ nào cũng đều phải “tụng” những câu như: How are you? What is your name? How old are you? Where are you going? What are you doing? …Gặp bất cứ người ngoại quốc nào, người tỵ nạn cũng lấy mấy câu đó ra để thực tập. Một thiện nguyện viên người Mỹ kể lại rằng, mấy ngày đầu, ông còn lịch sự để trả lời. Về sau, ông phải “nổi dóa” khi nghe đến hai câu “Where are you going? What are you doing?” Ông nói rằng ông bực mình vì người Việt nam không biết tế nhị, lúc nào cũng muốn biết chuyện riêng tư của ông, cho nên có lần ông phải quát lên: “It’s none of your business”. Đại khái ông bảo đừng “xía vô” chuyện riêng của ông. Ông đi đâu, làm gì là chuyện riêng của ông.
Ngày nay, người Việt nam nào ở hải ngoại cũng đều biết rằng đặt những câu hỏi về đời tư của người khác như bao nhiêu tuổi, làm nghề gì, lương tháng bao nhiêu…là điều tối kỵ. Ở Việt nam thì trái lại, hỏi về đời tư thường là một cách bày tỏ sự quan tâm. Ngôn ngữ Việt nam vốn có tính “quan hệ” hơn là thông tin. Người Tây Phương nói chuyện là để thông tin. Người Việt nam thì xem ra chào hỏi trước hết là để đi vào quan hệ với người khác. Gặp một ai đó, tôi xác định tức khắc vị trí của tôi để xưng hô. Người đáng tuổi ông bà tôi, tôi gọi là ông bà. Người đáng tuổi cha mẹ tôi, tôi gọi là bác chú, cô dì…Trong câu chuyện, có thể tôi sẽ hỏi thăm về tuổi tác, chuyện gia đình, chuyện làm ăn. Những câu hỏi như thế không nhằm để khai thác một thông tin, mà chỉ để nói lên mối quan tâm của tôi mà thôi.Tựu trung, qua câu chuyện, tôi muốn thiết lập một quan hệ với người khác.
Quả thật, văn hóa của tôi luôn thúc đẩy tôi cởi mở trong quan hệ với người khác. Nhưng trong cái xóm nhỏ của tôi hiện nay, tôi biết rằng tôi phải dè dặt hơn. Khác biệt văn hóa là điều không thể chối cãi được. Một cuộc sống xã hội hài hòa đòi hỏi tôi phải biết và tôn trọng văn hóa của người khác. Tựu trung, tôi thấy tôi phải  sống như thế nào để không “vô tư” làm phiền người khác.
Tôi nhớ hồi mới dọn về “xóm nhỏ” này, một hôm nhà tôi đưa về ba con gà con, với hy vọng nuôi chúng thành gà mái để đẻ lấy trứng. Không ngờ, cả ba con đều là đực rựa cả. Vừa đến tuổi dậy thì, chúng nó thi đua và tranh nhau gáy inh ỏi cả đêm lẫn ngày. Nhiều đêm tôi không ngủ được và tôi cũng biết rằng tiếng gà gáy cũng đánh thức nhiều người hàng xóm. Biết mình vô tình “làm phiền” hàng xóm, cho nên cuối cùng chúng tôi đành phải “thịt” cả ba chú gà trống. Và dĩ nhiên, khi làm thịt, chúng tôi cũng phải “ra tay” như thế nào để không “xúc phạm” đến “tình cảm” của người Tây phương đối với súc vật.
Ngẫm đi nghĩ lại về chuyện này, tôi thấy mình đã hành động theo một giới luật phổ cập mà tôi tin là có giá trị cho mọi người trên cõi đời này, bất luận thuộc một nền văn hóa nào. Giới luật đó là : “những gì ngươi không muốn người khác làm cho ngươi, thì cũng đừng làm cho họ”.Tôi nghĩ: nếu mọi người đều sống theo nguyên tắc nền tảng của nền đạo đức toàn cầu này thì chắc chắn cái “xóm nhỏ” của mình và thế giới này sẽ trở thành một nơi tốt đẹp hơn.

 Chu Thập, Đầu năm 2010





Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Thế giới sẽ đi về đâu trong năm 2016

15.1.16



Tạp chí Time, số kép ra ngày 28/12/2015 và 4/1/2016, dự đoán rằng tình hình thế giới trong năm 2016 sẽ rất sôi động do thiếu lãnh đạo trên qui mô quốc tế.
Qua cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc hiện nay, người ta thấy Hoa Kỳ đang dần dần đánh mất vai trò “cảnh sát quốc tế” của mình. Lý do là vì người dân Mỹ không còn muốn đóng thuế để đất nước họ gởi quân đi “bình thiên hạ” nữa. Trước sự hung hãn của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”, người ta có thể nghĩ rằng chỉ cần Hoa Kỳ đưa quân sang “dẹp loạn”  là xong ngay. Nhưng Tổng thống Barack Obama biết quá rõ rằng sự ủng hộ của dân chúng cho một giải pháp quân sự sẽ không kéo dài. Sau cuộc khủng bố ngày 11/9/2001, sự ủng hộ của dân chúng Mỹ về việc Hoa Kỳ đưa quân sang Iraq và Afghanistan lên cao chưa từng thấy. Nhưng sau cuộc khủng bố mới đây tại San Bernadino, Tiểu bang California, phản ứng của dân chúng Mỹ không còn đồng bộ nữa. Và ngay cả khi một cuộc khủng bố như thế có thúc đẩy Hoa Kỳ hành động đi nữa, thì có lẽ Hoa Kỳ cũng sẽ chỉ đơn phương hành động mà thôi. Hiện thế giới đang có quá nhiều siêu cường chính trị và kinh tế vốn không màng đến sự lãnh đạo của Hoa Kỳ.
Ngay cả các đồng minh của Hoa Kỳ xem ra cũng không còn tin tưởng ở vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ trên chính trường thế giới. Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là hiện nay đệ nhất siêu cường này đang đi xuống. Kinh tế Mỹ đang tiếp tục hồi phục. Khả năng sáng tạo và đổi mới của Hoa Kỳ vẫn tỏa sáng. Dù vậy, ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên chính trường quốc tế ngày càng phai nhạt. Vai trò “cảnh sát quốc tế” của nước này ngày càng lu mờ. Tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” vẫn tiếp tục làm mưa làm gió ở Trung Đông. Nga đã làm cho Ukraine hoàn toàn tê liệt và hiện cũng đang quậy phá ở Syria như chỗ không người. Trên Biển Đông, Trung Cộng đang thách thức Hoa Kỳ. Dù có diều hâu cách mấy, phần lớn các chính trị gia Mỹ đều không còn tin rằng quốc gia của họ có thể và nên tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thế giới mới nữa.
Thế giới trong năm 2016 sẽ sôi động hơn bao giờ hết bởi vì không có bất cứ một sức mạnh lãnh đạo nào có thể và muốn đứng ra để giải quyết các cuộc xung đột cũng như những thách đố lớn mà thế giới phải đương đầu.
Trước hết hãy nhìn vào tình hình tại Trung Đông. Tại Cộng hòa Hồi giáo Iran, vì sợ việc tháo gỡ cấm vận sẽ để cho ảnh hưởng của Tây Phương tràn vào và đánh thức sự khao khát muốn thay đổi của giới trẻ, các thành phần bảo thủ đang tìm cách thắt chặt móng vuốt của sự kiểm soát hơn. Tại Vương quốc Á rập Saudi, một số yếu tố như: sự vươn lên của kẻ thù không đội trời chung là Iran, thái độ lạnh nhạt của Hoa Kỳ, những cuộc tranh chấp trong hoàng gia và giá dầu ngày càng giảm sút...có thể sẽ khiến cho quốc gia này cảm thấy bị đe dọa và do đó tìm cách mở rộng các cuộc chiến tranh “ủy nhiệm” tại Trung Đông.
Tại Yemen, cuộc tắm máu đang tiếp diễn mà vẫn không được thế giới ngó ngàng tới. Tại Iraq, chính phủ gồm đa phần người Hồi giáo theo hệ phái Shiite sẽ gia tăng xuất cảng dầu, nhưng lại không làm gì để ngăn cản những người Hồi giáo theo hệ phái Sunni chạy theo tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”. Hoa Kỳ, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp và một số quốc gia khác sẽ tiếp tục dội bom xuống Syria, nhưng xem ra chẳng đạt được kết quả nào về mặt quân sự. Người tỵ nạn Syria tại Liban và Jordan vẫn tiếp tục lây lất trong cuộc sống đày đọa khốn khổ của họ.
Nhưng thách đố lớn hơn cả đối với thế giới hiện nay vẫn là tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”. Tổ chức khủng bố này có thể bị đánh bạt ra khỏi Iraq, nhưng sức mạnh của họ xem ra không suy giảm. Có trong hầu bao đến hơn cả tỷ Mỹ kim, nắm trong tay một mạng lưới thông tin toàn cầu hùng mạnh và nhất là khả năng chiêu dụ thánh chiến quân trên khắp thế giới, “Quốc gia Hồi giáo” đã có thể chứng tỏ cho các tín đồ của họ thấy rằng họ có thể xây dựng một đế chế Hồi giáo mà biên giới được vẽ ra không bởi các chính trị gia Tây Phương, mà do các “siêu nhân” Hồi giáo.
Có thể đây là lý do thế giới sẽ chứng kiến nhiều cuộc tấn công khủng bố trong năm 2016 này, nhất là kể từ khi Thổ Nhĩ Kỳ nhảy vào cuộc xung đột tại Syria: các thánh chiến quân tân binh từ các nước sẽ khó tìm đường qua Syria, bù lại họ sẽ mở những cuộc khủng bố ngay tại nơi họ đang sống. Tại Trung Đông, hơn bất cứ nơi nào khác, cuộc chiến đang gia tăng, nhưng dường như  không có nhà lãnh đạo nào sẵn sàng trả giá để vãn hồi trật tự cho vùng này.
Trong khi tình hình tại Trung Đông ngày càng sôi sục thì tại Âu Châu, các nước lại phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng khác. Cách đây 5 năm, mối  đe dọa chính mà các nhà lãnh đạo của lục địa này phải đối mặt là cuộc khủng hoảng đồng Âu kim. Nhờ sự cương quyết của cả khối và nhất là sự lãnh đạo của Đức, cuộc khủng hoảng đã được giải quyết một cách tốt đẹp.
Nhưng bước vào năm 2016, Âu Châu sẽ phải đứng trước nhiều vấn đề rộng lớn hơn. Những xáo trộn về tài chính tại Hy Lạp vẫn chưa ngã ngũ: chính phủ do đảng tả phái lãnh đạo đang cù cưa với những yêu sách của các nước chủ nợ, phe đối lập vẫn tiếp tục tấn công và cử tri vẫn tiếp tục bất mãn. Tại Tây Ban Nha, chính phủ sẽ phải thương lượng với người dân vùng Catalonia để tránh khỏi tình trạng ly khai. Riêng tại Anh Quốc, người dân sẽ tham gia cuộc trưng cầu dân ý để quyết định có nên ở lại trong khối Liên Âu không.
Bên cạnh những vấn đề trên đây, Âu Châu hiện đang phải đối phó với làn sóng người tầm trú từ Trung Đông và Phi Châu tràn ngập qua biên giới của mình. Bóng ma của “Quốc gia Hồi giáo” ẩn hiện đàng sau hơn một triệu người tầm trú này khiến cho người dân Âu Châu cứ phải thấp thỏm lo sợ bị khủng bố. Một số nước đã đề ra những biện pháp gắt gao để kiểm soát biên giới của họ. Người mà Âu Châu đã từng tin cậy có thể giải quyết được vấn đề là thủ tướng Đức Angela Markel nay cũng đành phải chùn bước trước áp lực của nhiều người xem người tầm trú như những tên khủng bố trong tương lai.
Một Âu Châu đang rối ren lại không mặn mà với Hoa Kỳ cho nên lại càng yếu thế hơn. Cũng may, bước sang năm 2016, một Putin chuyên chọc trời khuấy nước lại tỏ ra hòa hoãn hơn. Ông đã lôi kéo Pháp và một số nước Âu Châu đứng về phía mình và nghĩ rằng mình có thể giải quyết được vấn để Syria để chấm dứt các cuộc cấm vận của Tây Phương. Tuy nhiên, nền kinh tế ngày càng èo uột, nạn lạm phát phi mã và giá dầu sút giảm sẽ khiến cho dân chúng Nga bất mãn và người ta sợ rằng Putin lại sẽ giở ngón sở trường của ông là tìm cách gây rối ở nước ngoài để đánh lạc hướng dân chúng trong nước.
Từ Âu Châu và Trung Đông nhìn sang Á Châu, thế giới có thể sẽ an tâm hơn vì tình hình an ninh ở Đông Á xem ra sẽ tương đối yên tỉnh trong năm 2016 này. Các nhà lãnh đạo chính trị tại Trung Cộng, Nhật Bản và Ân Độ đang bận tâm với những chương trình cải tổ kinh tế trong nước, do đó không muốn dây dưa vào những xáo trộn có thể ảnh hưởng đến chuyện trong nước. So sánh với Âu Châu và Đông Âu, ngoại trừ vì những quậy phá bất ngờ của Bắc Hàn, Đông Á sẽ yên tĩnh.
Trung Cộng sẽ tìm những cách khác để thách thức Hoa Kỳ. Có thể họ sẽ dùng từ 3 đến 4 ngàn tỷ Mỹ kim ngoại tệ dự trữ để tài trợ cho những tổ chức tài chính khác với tham vọng hất cẳng những cơ chế tài chính do Phương Tây lãnh đạo như Quỹ Tiền Tệ Thế Giới và Ngân Hàng Thế Giới. Trung Cộng sẽ trở thành một chủ nợ mới của những  nước đang phát triển nào không muốn thỏa mãn những yêu sách của Hoa Kỳ. Một số  đồng minh của Hoa Kỳ, như Anh Quốc và Đức chẳng hạn, vì muốn đa dạng hóa các đối tác kinh tế và tận dụng sự phát triển của Trung Cộng, sẽ tiếp tục để cho quốc gia khồng lồ này lôi kéo. Cuộc chiến dành quyền áp đặt những tiêu chuẩn thương mại trên thế giới giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn sẽ bất phân thắng bại.
Với một vị thế ngày càng lớn mạnh như thế, Trung Cộng lại chẳng muốn đóng vai trò “cảnh sát quốc tế” để thay thế Hoa Kỳ. Bắc Kinh sẽ không tham gia vào cuộc chiến chống “Quốc gia Hồi giáo” hoặc giúp đỡ tái thiết Syria. Quốc gia cộng sản này cũng chẳng muốn giúp xoa dịu những căng thẳng giữa Nga và Tây Phương. Trung Cộng là chính phủ duy nhất trên thế giới có một chính sách đối ngoại toàn cầu. Tuy nhiên, chiến lược này chỉ nhắm mục đích giải quyết các vấn đề nội bộ của Trung Cộng hơn là của thế giới. Với chủ trương “thế giới loạn, Trung Quốc nhờ”, đồ tể Mao Trạch Đông đã mở ra con đường ấy và các lãnh đạo cộng sản Trung Quốc tiếp tục đi theo con đường ấy .
2016 sẽ không phải là một con đường êm ả cho thế giới. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều tín hiệu đầy hy vọng. Những cuộc cải tổ đầy hứa hẹn sẽ được đẩy mạnh tại Ấn Độ và Mễ Tây Cơ là hai trong số những thị trường đang lên và quan trọng nhất trên thế giới hiện nay. Các nước Đông Á sẽ kìm tỏa được sự tranh giành giữa các cường quốc. Việc chấn chỉnh các chính sách tại Ba Tây và Á Căn Đình cũng sẽ mang lại kết quả tốt đẹp. Các quốc gia tại vùng Hạ Sahara của Phi châu và Trung Á sẽ hưởng lợi được từ việc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ, Trung Cộng, Âu Châu và Nhật Bản trong cuộc đầu tư vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở.
Tuy nhiên, những triển vọng trên đây sẽ chẳng góp phần vào việc giải quyết cuộc khủng hoảng về lãnh đạo trên qui mô thế giới. Cuộc khủng hoảng này có thể sẽ khiến cho thế giới phải ngồi lại với nhau để tìm cho bằng được một sự hợp tác toàn cầu  dựa trên cán cân quyền lực thực sự của thế giới. Nhưng trước khi đạt được cán cân quyền lực này, thế giới có thể sẽ phải trải qua hoặc là một cuộc chiến tranh toàn diện, một cuộc khủng hoảng tài chính rộng lớn, một cuộc khủng bố khốc liệt hay một đại họa về môi sinh. Những biến cố như thế có thể sẽ không đến trong năm 2016 này. Nhưng nếu chúng xảy đến thì đây có thể là biến cố lớn nhất trong thời đại chúng ta.

(theo tạp chí Time, số ra ngày 28/12/2015 và 4/1/2016)




Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

Giai nhân và dã thú



Chu Thập
4.9.12

Một ông bạn già vừa gởi đến một câu chuyện bảo là để “nghiền ngẫm”.
Một phụ nữ trong trang phục áo bằng vải len kẻ sọc và chồng bà trong bộ com lê giản dị đã mòn xơ cả chỉ, bước ra khỏi ga xe lửa ở thành phố Boston. Trong bước đi rụt rè, họ tìm đến văn phòng của đại học nổi tiếng Harvard mà không xin hẹn trước.
Người đàn ông nhỏ nhẹ ngỏ lời với cô thư ký: “Chúng tôi muốn gặp ông viện trưởng”.
Nhìn cách phục sức và dáng điệu thô kệch của cặp vợ chồng, cô thư ký gắt lên: “Ông ấy bận rộn cả ngày”.
Với sự kiên nhẫn có sẵn, người vợ bình tĩnh nói: “Chúng tôi sẽ đợi”.
Cô thư ký nghĩ bụng: sẽ cho họ chờ đợi cho đến khi nản lòng và bỏ đi. Nhưng rốt cục, kẻ thua cuộc lại chính là cô thư ký.  Vì không chịu đựng được chính sự kiên nhẫn của hai người khách lạ, cô đành phải đến quấy rầy ông viện trưởng. Dù cô thư ký nói rằng cặp vợ chồng này chỉ xin được gặp vài phút, ông viện trưởng cũng tỏ dấu khó chịu ra mặt, nhứt là khi nhận thấy những người muốn gặp mình lại ăn mặc tuềnh toàng như thế.
Người vợ trình bày: “Thưa ông viện trưởng, chúng tôi có một đứa con trai đã từng theo học ở trường đại học Harvard một năm. Nó thực sự yêu mến ngôi trường này. Thế nhưng, cách đây một năm, nó đột ngột bị giết chết. Và vợ chồng tôi rất muốn xây dựng một tấm bia để tưởng nhớ con trai mình ở một nơi nào đó trong khuôn viên đại học”.
Nghe như chuyện đùa, ông viện trưởng liền mỉa mai: “Thưa bà, chúng tôi không thể dựng tượng cho từng người đã theo học tại đây. Làm như thế thì trường này chẳng biến thành một nghĩa trang sao?”
Người phụ nữ nhanh chóng giải thích: “Ồ, không phải vậy đâu. Chúng tôi không có ý định xây dựng một bức tượng. Chúng tôi chỉ muốn xây một tòa nhà cho viện đại học thôi”.
Ông hiệu trưởng lại tròn xoe đôi mắt. Ông liếc nhìn chiếc áo thô sơ của người vợ và bộ com lê cũ mèm của người chồng rồi thốt lên: “Một tòa nhà ư? Ông bà có tưởng tượng được một tòa nhà trị giá bao nhiêu không? Chúng tôi phải đầu tư hơn 7 triệu rưỡi Mỹ kim để xây dựng trường Harvard này đấy”. Nói xong, ông tin tưởng là có thể thoát được cái của nợ trước mắt.
Người phụ nữ im lặng. Bà quay lại phía chồng và nói nhỏ: “Bắt đầu xây một trường đại học mà chỉ tốn có ngần ấy thôi sao? Tại sao chúng ta không xây một trường đại học riêng?”
Người chồng gật đầu đồng ý. Gương mặt của ông viện trưởng bỗng dài thượt ra vì bối rối và lúng túng.
Thì ra, cặp vợ chồng “nhà quê” này chính là ông bà Leland Stanford, một kỹ nghệ gia giàu có hồi cuối thế kỷ 19. Họ đã rời Boston để đến thành phố Palo Alto, tiểu bang California và lập nên một trường đại học nổi tiếng có tên là “Stanford”.
Kèm theo câu chuyện mà ông bạn già gởi đến cho tôi là rất nhiều lời bàn. Nhưng ông bạn già của tôi, vốn là một tín hữu Kitô, lại trích lời dạy của Chúa Giêsu: “Đừng nhìn bề ngoài mà đoán xét” (Tin mừng theo thánh Gioan 7,24) để nhắc khéo tôi.
Không những chỉ “nghiền ngẫm” như ông bạn già của tôi đề nghị, tôi cũng nhìn lại cái nhìn và cách xử sự của mình đối với người khác. Tôi thường bị thu hút bởi cái vẻ hào nhoáng bên ngoài đã đành, mà cũng vội vàng dựa vào một số định kiến để đánh giá về người khác. Người giàu sang lịch thiệp dễ được tôi tôn trọng. Người có tướng nghiện ngập dễ làm tôi e dè, tránh né. Nếu ở Phi trường Úc, các viên chức quan thuế thường chú ý tới người Á châu, thì leo lên máy bay, cũng như hai bà đầm trên chiếc máy bay trong cuốn phim “The Dictator” (nhà độc tài) của danh hài Sacha Baron Cohen, hễ thấy có bóng dánh của người Trung đông và nghe có tiếng Á rập là tôi thấy hơi...run. Đời là thế. Do bị điều kiện hóa bởi những thành kiến, con người dễ có khuynh hướng “chụp mũ” hay quơ đũa cả nắm.
Thật ra, sở dĩ tôi có dựa theo “bề ngoài” mà đoán xét người khác là bởi vì chính tôi dường như cũng không muốn chấp nhận và sống theo con người thật của mình. Một cách nào đó, dù không hoàn toàn cố ý, tôi cũng có nhiều mặt nạ. Tôi không muốn người khác thấy rõ bộ mặt thật của tôi đã đành, mà đôi lúa chính tôi cũng không muốn chấp nhận “chân dung” thật của mình.
Tôi có xem được một cuốn phim tài liệu có tựa đề “Giai nhân và Dã thú: bộ mặt xấu xí của thành kiến” (Beauty and the Beast: the ugly face of Prejudice) được trình chiếu trên đài truyền hình ABC2.  Adam Pearson là một sinh viên 25 tuổi tốt nghiệp từ trường quản trị kinh doanh thuộc đại học Brighton, Anh quốc. Anh mắc một chứng bệnh mà các nhà khoa học gọi là NF1 hay Neurofibromatosis. Chứng bệnh này làm cho các tế bào gia tăng một cách bừa bãi khiến cho thân thể con người trở thành dị tướng. Trong trường hợp của Adam, kể từ năm anh lên 5, sự phát triển bừa bãi của tế bào lại tập trung vào đầu và mặt. Một con mắt của anh bị mù hoàn toàn. Con mắt còn lại chỉ mở vừa đủ để anh nhìn thấy. Tai phải của anh cũng mất đến 40 phần trăm thính lực. Những biến chứng trên khuôn mặt của anh khiến anh trông chẳng khác nào một “Dã thú” (the Beast). Ở bậc tiểu học, anh đã từng là nạn nhân của không biết bao nhiêu vụ trêu chọc. Anh đã trải qua đến 27 lần phẫu thuật, một phần để giúp cho khuôn mặt trông bớt dị dạng, nhưng phần lớn để anh không bị mù lòa, câm điếc và chết ngạt vì khó thở.
Bên cạnh anh là “Giai nhân” (Beauty) Louisa Day, 21 tuổi, một nhân viên thẩm mỹ. Cô có một sắc đẹp tự nhiên nhưng lại không tin rằng mình đẹp. Cô gái này cho biết: kể từ năm 14 tuổi, cô không bao giờ ra khỏi nhà mà không trang điểm và mỗi lần trang điểm của cô kéo dài đến 2 tiếng đồng hồ. Tính ra mỗi năm cô tốn 7 tuần lễ cho chuyện trang điểm và làm đẹp. Đó là chưa kể đến không biết bao nhiêu lần cô gái trẻ này phải đến thẩm mỹ viện để được dao kéo cắt xén, mài dũa và bơm Botox.
Adam là tác giả của một cuốn sách có tựa đề “The challenge of facial disfigurement” (thách đố của một khuôn mặt dị dạng). Ngoài kinh nghiệm cá nhân, Adam cũng thu thập được những dữ kiện để viết sách nhờ cuộc gặp gỡ kéo dài một tuần lễ sống với Louisa. Thật vậy, hai người đã đồng ý đến sống với nhau trong một khách sạn. Tại đây cũng như qua những lần tham dự các cuộc vui chung, Adam đã có cơ hội quan sát được cách sống, những phản ứng, cách cư xử và những suy nghĩ của những người hoàn toàn lệ thuộc vào “phấn son” và giải phẩu thẩm mỹ như Louisa. Cuối cùng, do thái độ tự tin của “Dã Thú” Adam, “Giai nhân” Louisa đã vượt qua được  bức tường thành kiến do chính cô tự tạo ra cho bản thân để vứt bỏ mọi thứ phấn son tạo thành chiếc mặt nạ trên gương mặt của cô và dám xuất hiện trước đám đông với khuôn mặt thật của mình. Còn Adam thì vẫn tiếp tục sống với khuôn mặt “Dã thú”. Louisa đã được giải thoát khỏi mọi thứ mặt nạ cô đắp lên mặt mình. Cô đã dám sống bằng chính con người thật của mình chứ không phải “hình tượng” của một người khác.
Đúng như tiểu đề của cuốn phim tài liệu gợi lên, không có gương mặt con người nào là xấu xí cả, mà chỉ có “gương mặt xấu xí của thành kiến” mà thôi. Xấu đẹp là do thành kiến và cái nhìn xuất phát từ thành kiến. Vượt qua được bức tường thành kiến, con người không những thay đổi cái nhìn về người khác mà cũng có thể sống với con người thật của mình một cách tự tin hơn.
Tôi nghĩ đây cũng là bài học của câu chuyện thần tiên nguyên thủy “La Belle et la Bête” (Giai nhân và Dã thú) của nữ văn sĩ Pháp Gabrielle Suzanne Barbot de Villeneuve hồi thế kỷ 18. Câu chuyện mà có lẽ trẻ con trên khắp thế giới đều biết này đã gợi hứng cho không biết bao nhiêu truyện hoạt hình, phim ảnh. Câu chuyện được trẻ con ưa thích vì kết có hậu: hoàng tử bị biến thành “Dã thú” xấu xí vì đã không cho một bà tiên trú mưa và chỉ khi nào được một Giai nhân yêu thương thật sự bất luận dáng vẻ bên ngoài xấu xí của mình thì lời nguyền mới được tháo gỡ và hoàng tử mới hiện lại nguyên hình. Người lớn nào cũng thích kể câu chuyện thần tiên này cho trẻ con nghe để lồng vào một bài học làm người: bất cứ một hành động tử tế vô vị lợi nào cũng có sức biến đổi người khác và làm cho ta được nên người hơn. Ngược lại, bất cứ hành động ích kỷ nào tự nó cũng là một hình phạt cho bản thân. Con người bớt “người” hơn khi chỉ biết sống cho riêng mình. Đàng sau một “Giai nhân” xinh đẹp có khi là cả một thế giới của mưu mô, dối trá, lừa đảo, bất lương. Nhưng bên trong một “Dã thú” có khi lại ẩn tàng một quả tim vàng mà chỉ có  ánh mắt của con tim mới nhìn thấy.
Có lẽ anh em văn sĩ thường được mệnh danh là Brothers Grimm của Đức vào thế kỷ 19 cũng muốn nhắn gởi một thông điệp như thế trong bộ sưu tập truyển cổ của hai ông, đặc biệt  qua truyện “Hoàng tử Cóc”. Nội dung của truyện cổ tích này thì có lẽ ai cũng biết. Một công chúa chơi đùa bên một dòng suối bỗng làm rớt trái banh vàng của cô xuống nước. Nước sâu, cô không thể nào tìm lại được trái banh. Cô chỉ biết ngồi bệt xuống cỏ khóc và thầm thì khấn: nếu có ai giúp cô tìm lại được trái banh, cô sẽ tặng cho tất cả những gì cô đang có. Từ dòng suối, một con cóc xuất hiệu và hỏi cô công chúa tại sao cô khóc. Nghe chuyện, nó liền đề nghị: “Nếu cô thương tôi, cho tôi được sống với cô, ăn uống cùng bàn với cô và ngủ chung giường với cô thì tôi sẽ tìm lại trái banh cho cô”. Biết chắc là con cóc không thể nào rời bỏ dòng suối để vào cung điện cho nên cô công chúa đã hứa hẹn cho xong chuyện để nó tìm lại trái banh cho cô. Cho nên sau khi được con cóc mang trái banh lên trước mặt, nàng công chúa xinh đẹp tĩnh bơ nuốt lời hứa và đi về nhà một mình, mặc cho con cóc có van lơn.
Ngày hôm sau, cô công chúa không thể tin ở mắt mình: con cóc đã bò đến trước cung điện và nhắc lại lời hứa của cô. Cô không thể tưởng tượng mình có thể rước một con vật xấu xí và gớm ghiếc như thế vào cung điện. Nhưng do lời khuyên của vua cha là phải tuân giữ lời hứa của mình, cô công chúa cũng đành để cho con cóc vào nhà và cô phải thực thi những lời cam kết của mình như cho nó được ăn uống trên bàn, để nó ngủ chung giường với cô. Sang đêm thứ ba thì cô công chúa không còn thấy con cóc nữa. Thay vào đó là một hoàng tử khôi ngô tuấn tú.
Chàng hoàng tử mới giải thích cho cô công chúa rằng chàng đã bị một bà tiên hóa thành cóc và chàng chỉ có thể trở lại người thường khi nào có một công chúa ưng thuận cho cóc được ăn cùng bàn, ngủ cùng giường trong ba đêm liền...Chuyện thần tiên thì dĩ nhiên cũng kết thúc một cách thần tiên: công chúa và hoàng tử lấy nhau và sống hạnh phúc với nhau cho đến mãn đời. Tất cả đều nhờ ở một lời hứa được tuân giữ! Và tuân giữ lời hứa ở đây đối với cô công chúa chính là “gồng” mình yêu thương và cư xử tốt với một con cóc xấu xí!  Thằng người gỗ “Pinocchio” của ông Carlo Collodi chỉ cần bỏ tật nói dối cũng đủ để được làm người, huống chi là hành động tuân giữ lời hứa của một công chúa.

Với tôi chuyện thần tiên không chỉ có trong cổ tích hay chuyện kể cho trẻ con để chúng nhắm mắt đi vào mộng mơ. Những “chuyện cổ tích của thời hiện đại” không bao giờ thiếu.  Ở đâu có “phép mầu” thì ở đó có chuyện thần tiên. Và “phép mầu” thì lúc nào cũng có thể xảy ra trong cuộc sống con người: một cử chỉ nhân ái, một hành động tử tế, một cố gắng sống thật với chính mình...đó là bao nhiêu phép mầu giúp cho con người được “thoát xác” để bớt phần “dã thú” và tăng nét “giai nhân” hơn.