Hiển thị các bài đăng có nhãn Phiếm Tết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phiếm Tết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Lỗi tại tôi mọi đàng!

 

                                          


                                                                                        Chu Văn

Mẹ tôi qua đời cuối năm âm lịch 1975. Tôi khóc mẹ nhưng cũng cảm thấy nhẹ nhõm. Bà bị tiểu đường nặng. Dù chỉ mới vài tháng sau “giải phóng”, thuốc men cạn kiệt, gia đình nào cũng trắng tay. Viễn ảnh của đói khổ và bệnh tật khiến tôi nhìn vào sự ra đi của mẹ tôi như một gánh nặng vừa được trút khỏi cho bà cũng như cho cả gia đình.

Khóc mẹ nhưng tôi tại cảm thấy thương cha nhiều hơn. Ông bỗng trở nên trầm ngâm, ít nói và “hiền như cục đất”. Đây quả là một cuộc “đổi đời” quan trọng của cha tôi. Thật vậy, lúc còn trẻ cha tôi là một lực điền với trình độ học vấn của một người chỉ mới “tốt nghiệp bình dân học vụ”, tính tình cộc cằn, thô lỗ và ngay cả vũ phu. Lúc nhỏ, tôi đã từng một vài lần chứng kiến cảnh cha tôi hành hung mẹ tôi. Với những đứa con trai trong nhà, ngoài việc cha tôi không rượu chè, cờ bạc “trai gái” lại chăm chỉ cày sâu cuốc bẫm để gia đình được đủ ăn đủ mặc, cha tôi hẳn không phải là một người cha gương mẫu để chúng tôi noi theo. Vậy mà, khi bước vào tuổi già, nhứt là kể từ sau năm 1975, cha tôi đã hoàn toàn lột xác: ông trở nên hiền lành một cách khác thường và nhứt là luôn tỏ ra cảm thông với mọi người.

Là một người công giáo thuần thành, sớm tối kinh kệ ở nhà và rất thường đi lễ mỗi ngày, có lẽ năm nào cha tôi cũng đều nghe đoạn Tin Mừng thuật lại việc Chúa Giêsu chủ tọa phiên tòa xử một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Theo luật của ông Môi sen, người đã lãnh đạo cuộc xuất hành của người Do Thái thoát khỏi ách nô lệ bên Ai Cập, những người đàn bà như thế phải bị ném đá cho đến chết. Các biệt phái, tức “đặc vụ tôn giáo”, đã lôi người đàn bà đến trước mặt Chúa Giêsu và buộc Ngài phải xét xử: có nên ném đá người đàn bà này không? Thật ra, những người biệt phái cố tình gài Chúa Giêsu vào một cái bẫy: tha người đàn bà là chống lại luật của Môi sen, mà chuẩn thuận việc ném đá chị ta là đi ngược lại giáo lý về sự cảm thông và tha thứ mà Ngài không ngừng rao giảng. Câu chuyện kết thúc bằng phán quyết của Chúa: ai trong các ngươi là người không có tội hãy là người trước tiên ném đá chị ta! Tất cả mọi người trong đám đông đều từ từ bỏ ra về. Tôi đặc biệt chú ý đến chi tiết: những người nhiều tuổi nhứt là những người rút lui  trước tiên!

Tôi tin rằng khi bắt đầu bước vào tuổi già, cha tôi hẳn đã phải suy nghĩ về chi tiết ấy. Người Việt Nam thường nói: “đa thọ đa nhục. “Nhục” không hẳn là vì con cái làm “bể cái sĩ diện” của mình hay gia đình, cho bằng là vì những lầm lỗi của chính mình. Cha tôi hẳn đã “đấm ngực” và hối hận vì những lầm lỗi của mình.

Khi cha tôi bắt đầu thực sự “đổi đời” thì ông đã bước vào tuổi thất thập cổ lai hy, còn tôi thì cũng đã đến tuổi tam thập như lập. Cha tôi biết ông chẳng có gì để dạy dỗ tôi nữa. Ông chỉ muốn nhắc nhở tôi một điều: càng thêm tuổi, con người càng phải biết ý thức hơn về thân phận “nhân vô thập toàn” của kiếp người, để luôn tự vấn lương tâm và hối cải hầu tỏ ra biết cảm thông với người khác hơn.

Tết năm nay, tôi chuẩn bị bước vào tuổi bát tuần. Già rồi, ít hoạt động cho nên có lúc tôi ngồi thừ người ra để suy nghĩ vẩn vơ. Một trong những ý nghĩ khiến tôi cứ phải cười một mình là: già đầu mà có khi cũng còn “con nít”!  Mà thật vậy, theo dõi tin tức mỗi ngày hay nhìn xung quanh, tôi thấy có khối người già mà không chịu “lớn”.

Bước vào tuổi già, tôi không ngờ mình lại mắc  một “hội chứng” mà người ta gọi là “điên vì Trump” (Trump derangement syndrome). Ngày nào cũng như ngày nào, theo dõi tin tức, tôi cứ phải nghe “Trump, Trump, Trump”. Và hình ảnh của ông ám ảnh tôi đến độ có đêm tôi mơ về ông như một ác mộng. Trên báo chí và các trang mạng xã hội, ông xuất hiện dưới rất nhiều khuôn mặt. Nhưng riêng tôi, cứ mỗi lần nghĩ về ông, tôi chỉ thấy có mỗi hình ảnh của một em bé bong bóng còn mặc tã, tay cầm điện thoại di động được người dân Anh cho bay lơ lửng trên bầu trời của thủ đô London lần đầu tiên khi Tổng thống Trump chính thức viếng thăm Anh Quốc hồi năm 2018 (1). Và dĩ nhiên, em bé bong bóng đó cũng được cho bay lượn trong rất nhiều cuộc biểu tình của chính người dân Mỹ.

Tôi cho rằng hình ảnh của em bé bong bóng Trump là biểu tượng thể hiện chính xác nhứt tư cách của đương kim tổng thống Mỹ. Có lúc tôi cũng cố gắng làm “trạng sư của quỷ” để biện minh cho lời nói, hành động và các chính sách của ông. Cũng như nhiều người Việt Nam ở Úc ủng hộ ông hết mình, tôi cũng nói: chống ông làm chi, cứ chờ bốn năm nữa sẽ thấy; hoặc như một số bạn bè và người thân của tôi ở Mỹ cho tới giờ phút này vẫn tiếp tục tôn thờ ông, tôi cũng nghĩ rằng ông có những “độc chiêu” mà những người không biết nhìn xa thấy rộng như tôi không thể nào hiểu thấu; cứ xem phim chưởng của Tàu thì sẽ hiểu ngay: ai đánh bại được mấy ông thày võ say rượu (drunken master). Ông Trump có “tư cách của một người say rượu” không phải là chuyện do ai đó ghét ông mà bịa ra đâu. Chính bà Chánh văn phòng của ông là bà Susie Wiles trong nhiều cuộc phỏng vấn dành cho tạp chí Vanity Fair đã nói như thế (2).

Tuy nhiên, dù có cố gắng uốn năm tấc lưỡi để biện minh cho ông, cuối cùng tôi cũng vẫn không chạy thoát khỏi hình ảnh của em bé bong bóng Trump. Tôi tin ở khẳng định của người cháu gái của ông là bà Mary Trump, một chuyên gia tâm lý trị liệu rất có uy tín. Trong cuốn sách viết về ông chú của mình (3) cũng như qua nhiều cuộc phỏng vấn, bà nói rằng ông ta vẫn mãi mãi là “một đứa bé ba tuổi không chịu lớn” (4).

Ông Trump quả thật là “một đứa bé ba tuổi không chịu lớn”. Rất nhiều hành vi và lời nói của ông mà chỉ cần một chút suy nghĩ bình thường với lẽ thường (common sens), khó mà không bảo đó là những hành vi và lời nói ấu trĩ. Nhưng có lẽ chân dung rõ nét nhứt của một “đứa bé ba tuổi không chịu lớn” của ông được hiển lộ qua lá thư ông gởi cho thủ tướng Na Uy khi đề cập đến việc muốn chiếm đảo Greenland của Đan Mạch: “Xét thấy đất nước của các vị đã quyết định không trao cho tôi giải Nobel Hòa Bình dù (tôi) đã ngăn chặn hơn 9 cuộc chiến, tôi không còn cảm thấy có nghĩa vụ phải chỉ nghĩ đến hòa bình nữa, mặc dù hòa bình sẽ luôn là ưu tiên hàng đầu, giờ đây tôi có thể nghĩ đến những điều tốt đẹp và phù hợp cho Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ” (5).

Giọng điệu của lá thư trên đây khiến nhiều người so sánh ông Trump với nhân vật Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Chí Phèo đã từng than thở: “Tôi muốn làm người lương thiện...Ai cho tôi lương thiện? Làm thế nào cho mất hết những mảnh chai trên mặt này? Tôi không thể là người lương thiện nữa...” Xuất thân là một đứa con hoang bị bỏ rơi trong một lò gạch, lớn lên trong không biết bao nhiêu nghịch cảnh, nếu Chí Phèo không còn muốn sống lương thiện nữa...có lẽ cũng là điều có thể hiểu và cảm thông được. Trong khi đó Donald Trump được sinh ra và lớn lên trong nhung lụa, suốt cả đời chỉ được bao bọc trong cái kén của giàu sang và chiều chuộng. Nhiều người cũng có cùng hoàn cảnh như ông, nhưng họ đã thoát ra khỏi cái kén để thành người. Còn ông chỉ muốn cuộn mình trong cái kén ấy!

Có lẽ không cần phải là một chuyên gia tâm lý hay một nhà giáo để hiểu tâm lý của một “đứa bé ba tuổi”. Trong gia đình, “đứa bé ba tuổi” nào cũng là một ông trời con. Nó muốn gì được nấy. Và nhứt là trong thế giới tâm linh và vốn liếng tự vựng của nó, làm gì có những ý niệm như trách nhiệm hay hai tiếng “xin lỗi”.

Donald Trump cho tới giờ phút này vẫn mãi mãi là một đứa bé như thế. Suốt trong nhiệm kỳ thứ nhứt và nay sau hơn một năm trong nhiệm kỳ thứ hai, có ai nghe được một lần Trump nhìn nhận những thất bại do chính mình tự tạo ra không. Tất cả những vấn đề của nước Mỹ hiện nay và vô số những thất bại của cá nhân ông, tất cả đều do lỗi của người khác, nhứt là của người tiền nhiệm của ông là Tổng thống Joe Biden và Đảng Dân Chủ (6). Mới đây thôi, chính ông là người đã tung lên trang mạng Truth Social của ông một băng hình mô tả hai vợ chồng cựu tổng thống Barack Obama như những con khỉ đột. Băng hình xuất hiện trên trang mạng đến cả 12 tiếng đồng hồ. Bị dư luận lên án, ông cho rút băng hình xuống, nhưng không chịu lên tiếng xin lỗi, vì không do lỗi của ông mà của một nhân viên Tòa Bạch Ốc “nào đó” (7).

“Đứa bé ba tuổi không chịu lớn” Donald Trump đúng là một ông trời con. Ông hành xử như thế, bởi vì rất nhiều người Mỹ đã tin như thế. 80 phần trăm tín hữu Tin Lành và 60 phần trăm người công giáo Mỹ đã “tuyên xưng” rằng ông là thiên sứ. Có người còn gọi ông là Chúa Giêsu (8). Dĩ nhiên, đã là thiên sứ hay là Chúa Giêsu thì làm sao có thể sai lầm được. Chính vậy mà tất cả những người tôn thờ ông, ngay cả một người thông minh đĩnh đạt như người giàu nhứt thế giới là Elon Musk, cũng đều “tuyên xưng tín điều”: “Trump đúng về mọi sự” và dĩ nhiên, ngay cả chính ông cũng nhìn nhận điều đó (9).

Không thiếu người khi suy nghĩ về tư cách “đứa bé ba tuổi không chịu lớn” Donald Trump và tình hình chính trị của Hoa Kỳ hiện nay đều cho rằng đất nước “vĩ đại” này đang trượt dài về phía độc tài.

Thật vậy, một nền dân chủ đích thực được xây dựng trên một nguyên tắc nền tảng nhứt: sai lầm là thuộc tính của con người! Chính vì vậy mà bất cứ nền dân chủ đích thực nào cũng đều có ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp để kiểm soát và cân bằng quyền lực. Trong khi đó trong bất cứ chế độ độc tài nào, nhứt là độc tài đảng trị như Việt Nam, Đảng nắm vững chân lý, Đảng không bao giờ sai lầm!

Tôi lo sợ cho nước Mỹ và dĩ nhiên cho cả thế giới trong đó có Úc Đại Lợi đáng yêu của tôi. Tôi lo sợ cho Hoa Kỳ là bởi vì không chỉ có đám đông dân chúng, mà ngay cả cơ quan cầm cân nẩy mực tối cao của Hoa kỳ là Tối cao Pháp viện đã “xức dầu tấn phong” cho một “đứa bé ba tuổi không chịu lớn” lên làm vua, bởi vì “đứa bé” đó được quyền ngồi xổm trên Hiến Pháp, Luật Pháp và những chuẩn mực đạo đức nền tảng nhứt để có quyền làm những điều phi pháp và vô luân mà vẫn được miễn tố!

Đó thật là một điều đáng sợ bởi chuyện một“Bé Trump” không chịu lớn không phải là một ngoại lệ, mà là cả nước Mỹ đã để cho một đứa bé hư hỏng xỏ mũi và im lặng ngay cả hỗ trợ và ủng hộ trước những việc làm tồi tệ, tùy hứng, vô nhân và khốn nạn của nó.

Đầu năm mới, nghĩ về “ông trời con” Donald Trump, tôi cũng nhìn lại chính bản thân mình. Tôi và ông ta sinh cùng năm, cùng cầm tinh con chó và cùng muốn được lên thiên đàng. Có lẽ chỉ khác một điều: trong khi ông Trump “can đảm” tìm mọi cách xóa đi quá khứ kể cả bằng cách chạy trốn. Phần tôi, khi nhìn lại cuộc đời mình, nhớ cha, tôi chỉ biết đấm ngực “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!”.

Chu Văn 

 


1. Donald Trump baby balloon, Wikepedia.

2. Trump chief of staff Susie Wiles say president “has an alcoolic” personality”....CNN Dec 17,2025.

3. Too much and never enough: how my family created the world most dangerous man.

4. Niece says Trump remains  much as he was at three years old”: “unable to regulate his emotions”, Alex Hendeson, Salon July 6, 2020.

5.Trump: không có giải thưởng, không có hòa bình, Nguyễn Quốc Khải, Tiếng Dân 21-1-2026.

6. Trump blames others, but never himself, for America’s prolems,

The Hill, 01/01/26.

7. Trump declines to Apologise for racist video of Obamas, The New York Times, 05/20/06.

8. Marjorie Taylor Green compares Trump to Jesus.The Guardian, 10/June/2024.

9. Trump says he’s “been right about everything”, NBC NEWS 23 Sept 2025.

Thứ Tư, 19 tháng 1, 2022

Lớn lên trong sự thật




Chu Văn

Đầu năm Tây, cuối năm Ta tôi thường suy nghĩ về tuổi già. Nhưng chưa bao giờ tôi ý thức về tuổi già của mình cho bằng năm nay. Năm vừa qua tôi mất đi hai bậc đàn anh và cũng là hai người bạn thân nhứt. Cả hai đều ra đi ở tuổi vừa bước vào 80. Tôi xem đó như hồi chuông báo tử của chính mình. Và dĩ nhiên, cũng như mọi chúng sinh, tôi ham sống và sợ chết. Thành ra năm nào cũng vậy, khởi đầu một năm mới, tôi luôn lập lại một quyết tâm: sống khỏe để sống thọ!

Tạp chí Time, trong một số kép ra dạo tháng Hai năm 2015, đã dành hầu hết những trang chính cho chủ đề tuổi thọ của con người thời đại. Thật ra những lời khuyên được đưa ra trong tạp chí Time cũng chẳng có gì mới mẻ. Muốn sống khỏe và sống thọ, cần phải tập thể dục, bớt ăn, giảm chất béo cũng như đường và muối.

Lần theo dấu chân của các “đạo sĩ” về bí quyết sống thọ, tôi khám phá được một điều lý thú: những người có gia đình thường có tuổi thọ cao hơn người độc thân. Bước vào tuổi trung niên mà có một người bạn đời bên cạnh sẽ giúp phòng ngừa và chữa trị được nhiều bệnh tật. Theo tạp chí Time, một cuộc nghiên cứu do một nhóm giáo sư tại trường Đại học Iowa, Hoa Kỳ thực hiện hồi năm 2013 cho thấy những người không bao giờ lập gia đình có nguy cơ chết sớm cao gấp hai lần so với những người có cuộc sống hôn nhân và gia đình ổn định. Các chuyên gia về tuổi thọ nhận thấy có mối liên hệ sâu xa giữa cuộc sống lành mạnh và sự nâng đỡ của người bạn đời. Bạn đời là “thiên thần hộ mệnh” luôn có mặt bên cạnh để nhắc nhở ta đi gặp bác sĩ, uống thuốc đàng hoàng hoặc vận động cơ thể và ăn uống có kỷ luật. Nếu ta chẳng may lỡ té thì cũng có người bên cạnh để giúp đỡ kịp thời. Những người có gia đình cũng sẽ dễ dàng có cuộc sống lành mạnh hơn như tập thể dục và bỏ thuốc lá nếu người bạn đời của mình cũng làm như thế. Nhưng dĩ nhiên, không phải cuộc sống hôn nhân nào cũng đều giúp cho con người khỏe mạnh và sống thọ. Vợ chồng mà sống với nhau như kẻ thù, gấu ó, cãi cọ và ngay cả bạo hành nhau như cơm bữa hoặc đối xử với nhau như người dưng nước lã...chắc chắc sẽ có nhiều kích thích xấu gây căng thẳng trong máu, làm suy yếu hệ thống miễn nhiễm cũng như khả năng tiêu hóa. Nói chung, cách con người đối xử với nhau hàng ngày không thể không ảnh hưởng đến sức khỏe thể lý. Một cuộc sống hôn nhân lành mạnh có thể là chìa khóa của sống khỏe và sống thọ.

Khi bàn về tuổi họ, tạp chí Time cũng nêu lên một trường hợp khá lý thú: hầu hết các tổng thống Mỹ đều sống thọ, mặc dù trên thế giới có lẽ chẳng có công việc nào tạo căng thẳng cho bằng làm tổng thống của cường quốc số một này. Ngoại trừ cựu Tổng thống Barack Obama là người tương đối còn quá trẻ, tạp chí Time nhắc đến quyết tâm sống thọ và sống khỏe của hầu hết các tổng thống khác. Tổng thống Ford có thói quen đi bơi và trượt tuyết. Tổng thống Carter chạy bộ hầu như mỗi ngày. Riêng Tổng thống Reagan thích chặt cây và cử tạ. Tổng thống Bush cha còn đi xa hơn trong việc vận động cơ thể: mỗi ngày ông chơi đến 3 hoặc 4 môn thể thao khác nhau. Ở vào tuổi 90, ông còn thử sức khi nhảy dù và nhào lộn trên không. Riêng Tổng thống Bush con, người cùng tuổi với tôi, thì lại đi xe đạp mỗi ngày. Riêng một ông tổng thống khác cũng cùng tuổi với tôi là Clinton thì lại khép mình vào việc thiền niệm và một cách dinh dưỡng rất nghiêm nhặt.

Những bài nghiên cứu của tạp chí Time về tuổi thọ được viết hồi năm 2015 cho nên không nêu lên trường hợp của đương kim Tổng thống Biden, người được biết dù ở tuổi xấp xỉ 80 vẫn tập thể dục mỗi ngày.

Bên cạnh cuộc sống có kỷ luật như tập thể dục mỗi ngày, tạp chí Time còn nhấn mạnh rằng dấn thân vào một công việc có ý nghĩa cũng có thể giúp kéo dài tuổi thọ. Không biết có phải vì ý thức về bí quyết trường thọ này không mà hầu hết các cựu tổng thống Mỹ đều lăn xả vào hoạt động từ thiên. Như trường hợp cựu Tổng thống Clinton mở chiến dịch có tên “Global Initiative” (Sáng kiến toàn cầu), nhằm thúc đẩy các nhà lãnh đạo thế giới tìm kiếm những giải pháp thiết thực cho những thách đố khẩn thiết nhứt của thế giới. Riêng cựu Tổng thống Bush con thì lại dành trọn thì giờ để chăm sóc cho các cựu chiến binh.

Một công việc có ý nghĩa có thể kéo dài tuổi thọ của con người. Nhưng thế nào là một công việc có ý nghĩa?  Nghĩ đến mối liên hệ giữa một công việc có ý nghĩa và tuổi thọ của con người, tôi lại liên tưởng đến sự trường thọ của một số lãnh tụ cộng sản. Điển hình là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sống đến 103 tuổi như ông, đối với một người Việt Nam, quả là đại thọ. Những người cộng sản ca tụng đủ mọi “nhân đức” của ông. Nhưng riêng ông, khi bước vào tuổi già, liệu ông có bao giờ hồi tâm nghĩ đến vai trò của mình trong cuộc chiến do cộng sản gây ra khiến cho bao nhiêu mạng người vô tội bị sát tế trên bàn thờ của một thứ chủ nghĩa vô nhân đạo không? Đó có phải là một cuộc sống thực sự có ý nghĩa không?

Một cây đại thụ cộng sản khác là Đặng Tiểu Bình (1904-1997), người đã ra lệnh sát hại không chút xót thương đoàn người biểu tình ôn hòa tại Quảng Trường Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu năm 1989, có bao giờ hồi tâm để nghĩ rằng hành động sát nhân của mình là một hành động có ý nghĩa không?

Ra đi ở tuổi 90 như trường hợp của một đồ tể cộng sản khác là Fidel Castro (1926-2016) cũng phải kể là trường thọ. Thu tóm quyền lực trong bàn tay sắt của mình trong suốt 50 năm trời, mặc cho đất nước có suy vong, dân chúng có khốn khổ, có bao giờ ông nghĩ rằng đó là một hành động có ý nghĩa không?

Nghĩ đến tuổi thọ của một số lãnh tụ cộng sản, tôi không thể không nhớ đến những câu kết trong truyện “Ông Bình Vôi” của nhà văn Phan Khôi (1887-1959) được đăng trong “Giai Phẩm Mùa Thu”, tập I: “Những kiếp người sống lâu trăm tuổi. Y như một cái bình vôi. Càng sống càng tồi. Càng sống càng bé lại”.

Nhà văn Phan Khôi và các văn hữu của ông trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, nếu có bị trù dập cho đến chết, cùng vì đã có cái nhìn như thế về tuổi thọ.

Cũng như bao nhiêu người trong cõi nhân sinh này, tôi ham sống và sợ chết. Thành ra ở khởi đầu một năm, tôi thường lập lại một số quyết tâm và một trong những quyết tâm đó là cố gắng sống khỏe, sống có kỷ luật để phòng ngừa bệnh tật. Và dĩ nhiên, để sống thọ, như tạp chí Time đã chỉ ra, quan trọng hơn cả chính là  cần phải có một cuộc sống có ý nghĩa.

Hoa Kỳ vừa cử hành Ngày Mục sư Luther King (1929-1968) hôm thứ Hai 17 tháng Giêng vừa qua. Bị sát hại khi chưa tròn 40 tuổi, phải nói là yểu mệnh. Nhưng trong cuộc đời ngắn ngủi ấy, vị mục sư này đã thực hiện được cuộc cách mạng vĩ đại nhứt trong lịch sử của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ :  với cái chết của ông, quyền bình đẳng, mà cụ thể là quyền được đi bầu của người d
a đen đã được nhìn nhận!

Có lẽ đã đoán trước cái chết của mình, mục sư King đã từng nói: “Điều quan trọng không phải là tuổi thọ mà là phẩm chất của cuộc sống”. Trái với hình ảnh của những người “càng sống càng tồi, càng sống càng teo”, cố Mục sư Martin Luther King đã thể hiện một nhân cách lớn, vượt lên trên số tuổi đời ngắn ngủi của ông. Với cuộc tranh đấu và nhứt là cái chết của mình, cố Mục sư King đã cho thấy thế nào là một cuộc sống có ý nghĩa. Đó là cuộc sống  cho sự thật và sự thật mà ông đã sống chết cho chính là quyền bình đẳng của người Mỹ gốc Phi Châu!

Phải công tâm nhìn nhận rằng dù có “vĩ đại” đến đâu, Hoa Kỳ là quốc gia đã chìm ngập trong dối trá kể từ khi công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 4 tháng Bảy năm 1776 đến nay. “Những chân lý hiển nhiên” mà bản tuyên ngôn khẳng định là “mọi người sinh ra đều bình đẳng, họ được Tạo Hóa ban cho một số quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Nhà văn Anh George Orwell (1903-1950) đã mỉa mai về điều được gọi là bình đẳng trong các chế độ cộng sản khi ông viết trong tác phẩm “Trại súc vật” (Animal Farm): “Tất cả mọi con vật đều bình đẳng, nhưng có những con vật bình đẳng hơn”. Nếu áp dụng vào xã hội Mỹ kể từ lúc công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập cho đến thời của cố Mục sư King và ngay cả đến ngày nay, câu nói của Orwell xem ra vẫn có giá trị: mọi người sinh ra đều bình đẳng, nhưng người da trắng bình đẳng hơn người da đen! Mãi cho đến nay, sau gần 2 thế kỷ rưỡi bản Tuyên Ngôn Độc Lập được công bố, người Mỹ gốc Phi Châu vẫn còn phải rên xiết kêu gào: “Sự sống của người da đen (cũng) là (điều) quan trọng” (Black life matters)!

Sự dối trá, tưởng đã lùi bước trước cái chết vì sự thật của cố mục sư King hồi năm 1968, nay dường như đã phủ lên xã hội Mỹ một bức màn xem ra còn đen tối hơn. Một tên gian manh dối trá, với một tư cách tồi tệ như Donald Trump, đã được bầu làm nguyên thủ quốc gia và mặc dù đã bị đánh bại trong một cuộc bầu cử tự do và công bằng, vẫn tiếp tục được suy tôn như một vị cứu tinh!  Sự thật dường như đã lùi bước trước dối trá!

Đầu năm, nghĩ về tuổi thọ và tưởng nhớ cố Mục sư King, tôi lại được cụ Phan Khôi cảnh cáo: dù có thọ cỡ nào mà cứ dối trá thì  chẳng khác nào cái bình vôi: “Càng sống càng tồi. Càng sống càng bé lại”.

 

Chu Văn

 

 

 

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2021

Tôi ăn Tết

 



                                                                        

 

Từ ngày bỏ nước ra đi, do không được sống gần các cộng đồng người Việt hải ngoại, tôi ít có dịp “mừng” những ngày Tết truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, mỗi dịp đầu năm Âm lịch, tôi cũng “ăn Tết” theo cách thế riêng của tôi.

Ngôn ngữ Việt nam thật độc đáo: chúng ta không “cử hành” hay “mừng” ngày đầu năm, mà lại nói “ăn tết”.

Ai cũng có quyền tự hào về ngôn ngữ của dân tộc mình. Mỗi ngôn ngữ đều có cái “hồn” và nét độc đáo riêng mà không một ngôn ngữ nào có thể thay thế được.

Một trong những nét độc đáo của tiếng Việt hẳn phải là “âm điệu” của nó. Với tai người ngoại quốc, thì người Việt nam nói nghe như “hát”. Lần đầu tiên ra chợ, nghe hai bà bán cá cãi nhau, người ngoại quốc tưởng họ đang hát là chuyện có thật! Ngay cả khóc lóc ở nghĩa trang mà cũng còn có vần có điệu nữa là!

Một tác giả (không rõ là ngoại quốc hay Việt nam) ký tên là Rene Pazzi đã viết một cuốn sách có tựa đề “Người Việt đáng yêu”, trong đó ông nói đến tinh thần uyển chuyển và tế nhị của ngôn ngữ Việt như sau: “Ngôn ngữ Việt nam là ngôn ngữ duy nhất trên thế giới có nhiều giọng điệu cung bậc…

Phải nghe người dân mỗi miền, người Bắc, hay Trung, hay Nam hát những dân ca quen thuộc với tiếng nói thuần túy và giọng thuần túy của họ, chúng ta mới thấy ý vị của giọng nói ấy đậm đà chừng nào.

Sự phong phú trong âm thanh lại được thay đổi qua nhiều miền đất của quê hương họ…

Nếu phải tô mầu các giọng nói ấy, người ta có thể vẽ một bản đồ Việt nam thật đẹp. Có miền mầu xanh, có miền mầu hồng, có miền mầu trắng, có miền mầu vàng, đấy là chưa nói mức độ đậm lợt khác nhau…” (1).

Sau năm 75, nhiều người đã có lý để nói rằng tiếng Việt đã bị “hãm hiếp” vì bị o ép đến độ mất đi âm điệu của nó. Trước kia, người Việt đâu có nói cộc lốc như “ăn tốt”, “làm tốt”, “học tốt”…mà luôn đệm vào đàng sau chữ “tốt” cái âm thanh “lành” “đẹp” cho nó êm tai. Trước kia, người ta cũng chả nói “học sinh trai”, “học sinh gái”, “bộ đội gái”… “Nam sinh, nữ sinh, nữ quân nhân” nghe nó chẳng êm tai và tôn trọng hơn sao?

Về những từ hay âm điệu được ghép vào chữ “ăn”, thì quả thật chẳng có ngôn ngữ nào phong phú cho bằng tiếng Việt. Giở bất cứ quyển tự điển tiếng Việt nào, tôi cũng đếm được gần 60 từ kép có chữ ăn: từ “ăn chay, ăn chận, ăn chẹt, ăn chơi, ăn gian, ăn hại” đến “ăn mặc, ăn nằm, ăn sương, ăn nắng…”

Người Việt nam quả có óc sáng tạo trong ngôn ngữ. Ngày nay ở Việt nam, ở đâu cũng thấy có hai chữ “văn hóa”, từ khu phố văn hóa, làng văn hóa, nhà văn hóa đến văn hóa ứng xử, văn hóa ăn uống, văn hóa chửi…Ngay cả như chữ “ôm” cũng được cho “ôm” vào bất cứ những gì có thể “ôm” được. Trước năm 75, người Việt nam chỉ nghe nói đến “xe ôm” hay cùng lắm là “bia ôm”, nay lại có cả “thịt chó ôm”, “hớt tóc ôm”, “ngủ trưa ôm”…đủ thứ “ôm”.

Nhưng đó là những “sáng tạo” mới trong ngôn ngữ Việt nam. Riêng động từ “ăn” thì ngay từ ngàn xưa, ông bà tổ tiên chúng ta đã biết chế biến để nó có thể đi với bất cứ từ nào.

Trong bài viết có tựa đề “Miếng ăn trong văn hóa Việt nam” (2), nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc nói rằng “hình như” “dân tộc Việt nam chỉ có một ám ảnh lớn: Ăn”. Theo tác giả, bảo rằng văn hóa Việt nam quá coi trọng miếng ăn thì có vẻ hơi kỳ nhưng không chừng đó lại là sự thật. Và tác giả đưa ra một số bằng chứng cho luận đề của ông như: muốn truyền ngôi cho con, vua Hùng đã cho tổ chức thi nấu ăn để xem người nào làm được món ăn ngon nhứt; ông Thánh Gióng nhờ ăn mà lớn như thổi để, từ một đứa bé, biến thành một trang thanh niên khôi ngô, dũng cảm; trong tín ngưỡng dân gian Việt nam, cúng, tức dọn món ăn cho người chết, là chuyện rất phổ biến; ông thần được chú ý tới nhiều nhứt là Vua Bếp, tức ông Táo…

Người Việt nam quả “coi trọng” miếng ăn.

Hình ảnh tôi vẫn giữ mãi trong ký ức của tuổi thơ đó là cảnh hàng hàng lớp lớp những bà mẹ quê ngay từ sáng sớm đã gánh gồng đi qua hằng bao nhiêu cây số đến chợ, trao đổi, mua bán để rồi mãi đến gần trưa mới trở về nhà lo miếng cơm cho chồng con. Suốt một ngày sinh hoạt, người mẹ quê chỉ quanh quẩn trong xó bếp. Miếng ăn quả đã chiếm hầu hết thời giờ của người dân quê. Người dân quê làm để có cái ăn và ăn để có đủ sức làm. Lẩn quẩn trong cái vòng “làm ăn” ấy cho nên có bảo rằng người Việt nam “xem trọng” cái ăn cũng chẳng phải là “cường điệu” chút nào.

Tuy nhiên, lo toan cho cái ăn, xem trọng cái ăn, nhưng người Việt nam vẫn luôn đề cao cảnh giác bởi vì “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Xung quanh bàn ăn, ông bà tổ tiên chúng ta đã phát huy được một thứ minh triết thật sâu sắc: chính xuyên qua cái ăn mà con người thể hiện tư cách làm người của mình. Cái ăn, như tác giả Nguyễn Hưng Quốc ghi nhận, chỉ “cách xử thế”. Chính vì thế mà chúng ta mới nói đến chuyện “ăn trên ngồi trốc, ăn cháo đá bát, ăn xổi ở thì hay cố đấm ăn xôi”. Vì tư cách con người và cách đối nhân xử thế được thể hiện qua cái ăn và cách ăn, mà ông bà tổ tiên chúng ta mới coi “học ăn” là bài học vỡ lòng quan trọng nhứt trong các thứ học: học ăn rồi mới tới học nói, học gói, học mở…Lớn lên thì cũng phải giữ ý tứ để biết “ăn coi nồi ngồi coi hướng”.

Vì cái ăn thể hiện tư cách con người cho nên đối với ông bà tổ tiên chúng ta, bàn ăn, chỗ ăn, lúc ăn đều được xem là “thánh thiêng”. Trời đánh mà cũng phải tránh bữa ăn thì đủ biết cái ăn của người Việt nam đáng trân trọng như thế nào. Ngồi xếp bằng trên bộ ván gỗ, trên chõng tre, quanh bàn ăn hay ngồi chồm hổm dưới đất, người Việt nam qui tụ trong bữa ăn là để “chia sẻ” cho nhau. Một nhà thừa sai ngoại quốc nọ nói rằng hình ảnh đẹp nhứt trong bữa ăn của người Việt nam chính là cái cảnh mọi người cùng chấm chung một chén nước mắm, cùng xẻ chung một con cá trong một dĩa, cùng chan chung một bát canh…Ăn thiết yếu là “ăn cùng”, “ăn với” người khác cho nên ăn cũng là chia sẻ. Như một phép lạ, thức ăn của người Việt nam xem ra chẳng bao giờ thiếu: một người khách lỡ độ đường ghé tạt vào nhà nhằm đúng bữa ăn ư? Chỉ cần dọn thêm một cái chén, một đôi đũa là giải quyết được vấn đề!

Ăn không chỉ là chia sẻ thức ăn, mà là chia sẻ niềm vui với nhau. Cơm không lành canh không ngọt là điều chẳng ai muốn. Người Việt nam thích vui vì được chia sẻ. Đi ruộng bắt được một con cá lóc, một con ếch, một con rắn hay một con chuột cũng đủ để làm một món nhậu và mời ông bạn láng giềng sang chung vui sau một ngày làm lụng vất vả. Kẹt lắm, một trái khế hay trái xoài xanh cũng đủ để lai rai vài xị.

Quả thật, người Việt nam thích sống vui. Cố linh mục Gildo Dominici, người Ý có tên Việt nam là “Đỗ Minh Trí”,đã từng làm việc tại Việt nam trước 75 và sau đó phục vụ trong các trại tỵ nạn Galang, Nam Dương và Bataan, Phi luật tân. Trong tác phẩm có tựa đề “Việt nam quê hương tôi”, vị linh mục này đã viết về Ngày Tết của người Việt nam như sau: “Ngày Tết, không một người nào có vẻ nghèo cả! Mọi người đều có một chút gì để mà “ăn Tết”. Người ta chấp nhận mang công mắc nợ để rồi sau đó sẽ vất vả làm lụng để trả nợ, nhưng vào Ngày Tết người ta cần phải tận hưởng. Mọi người đều có quyền ăn Tết”, mọi người đều cảm thấy có bổn phận vui hưởng Tết.

Bị vây hãm bởi chiến tranh, nghèo nàn và đau khổ, người ta mong chờ ngày Tết để được sống thật sự vài ngày! Tết chính là cái khoảng thời gian kỳ diệu, chính là một thời kỳ mà tất cả mọi người có thể thưởng thức được một chút gì hấp dẫn của kiếp sống con người”.

Nêu lên câu hỏi: “Vậy, sự quyến rũ của Ngày Tết bắt nguồn từ đâu?” linh mục Dominici trả lời: “Câu trả lời rất dễ dàng. Vẻ duyên dáng quyến rũ của ngày Tết đã do chính người ta tạo ra! Ngày Tết rất dễ thương chính là vì người Việt nam rất dễ thương...Người Việt nam đã tạo ra một ngày lễ để diễn tả hình ảnh của chính con người họ. Không một điều gì khác hơn có thể diễn đạt được tinh thần của người Việt nam bằng ngày Tết cả!

Tất cả những người ngoại quốc đã từng sống ở Việt nam đều nhận thấy nơi con người Việt nam có một cái gì lôi cuốn họ: tốt bụng, lịch thiệp, nhã nhặn, lễ phép, dễ thương!” (sđd).

Đọc những dòng trên đây, tôi cảm thấy hãnh diện, ấm lòng và nhứt là “vui như ba ngày Tết”. Thật vậy, chẳng có lúc nào vui cho bằng “ba ngày Tết”, nhứt là đối với trẻ con. Trong những kỷ niệm của tuổi thơ, tôi vẫn nhớ mãi những ngày Tết trước khi diễn ra cuộc đảo chánh sát hại cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Trước thập niên 60 và ngay cả những năm đầu của thập niên này, khi các hàng rào ấp chiến lược chưa bị phá vỡ, các làng quê đã thực sự hưởng cảnh thái bình: đêm đến không có giới nghiêm, người dân có thể vui chơi cả đêm. Người dân quê vẫn còn lấy cả tháng Giêng để “ăn chơi”. Cả tháng, cứ đêm đến, trẻ con chúng tôi đạp xe đạp đi từ làng này sang thôn khác để xem hát bài chòi. Có cả một tháng vui chơi như thế là để nhắc nhở con người Việt nam lam lũ quanh năm vì cái ăn rằng “con người được tạo dựng để thụ hưởng niềm vui và hạnh phúc, chứ không phải để đau khổ và bất hạnh. Cuộc sống của một dân tộc sẽ trở nên phong phú và nhân bản hơn nếu cái dáng dấp bi thảm của khổ đau được quân bình với hân hoan và hạnh phúc” (sđd)

Quân bình giữa công việc và giải trí: đó là nét nổi bật trong cuộc sống của người Việt nam, mà Tết là một biểu trưng. Chính nhờ thế quân bình giữa cuộc sống vất vả và việc vui hưởng cuộc sống mà người Việt nam xem ra có được một giây thần kinh rất vững chắc. Bất cứ người ngoại quốc nào phục vụ trong các trại tỵ nạn Việt nam tại các nước đông nam Á từ cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 90 cũng đều kinh ngạc về số lượng rất thấp những người bị rối loạn tâm trí giữa một số lượng đông đảo người tỵ nạn đang sống trong một tình cảnh bi đát.

Năm nay, cũng như rất nhiều năm trong cuộc sống ly hương, tôi không biết thế nào là bánh chưng, bánh tét, hay kẹo mứt. Trong nhà tôi cũng không có mâm quả “cầu dừa đủ xài”. Tôi cũng chưa bao giờ một lần thưởng thức món “thịt mỡ dưa hành câu đối Tết”. Còn cảnh “ngoài hiên đêm trước một cành mai” thì chắc phải đến Tết Congo hay Maroc tôi mới có được ở nơi đất khách quê người này. Nhưng cũng như mọi năm, năm nay tôi cũng “ăn Tết” theo cách thế của tôi: tôi sẽ cố gắng tận hưởng từng khoảnh khắc hiện tại như một ân lộc Trời ban; tôi sẽ sống mỗi ngày như một ngày Tết… Tôi nghĩ đó là bí quyết hạnh phúc mà ông bà tổ tiên muốn để lại cho con cháu khi “bày ra Tết Nhứt”.

 

1.  Doãn Quốc Sỹ,  Người Việt đáng yêu

2.  Việt luận 20/10/09

 

 

 

 

 

 

 

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019

Con Heo Đất của Mẹ Tôi



Chu Thập
Xuân Kỷ Hợi 2019
Mẹ tôi qua đời vào áp ngày cuối năm Âm lịch 1975, cho nên những ngày cuối năm là những ngày tôi nhớ mẹ nhiều nhứt. Nhớ công lao tảo tần, chắt chiu và vun vén của mẹ để lo cho gia đình đủ ăn đủ mặc. Chuẩn bị bước vào Năm Con Heo, nhớ mẹ, tôi thường liên tưởng đến con heo đất của mẹ.
Nhà tôi bị phá sản trong những năm đầu của thập niên 1950. Nhiều mất mát lớn lao đã xảy ra cho gia đình. Trí nhớ của tôi vừa đủ bén nhậy để ghi lại một số biến cố. Tôi vẫn nhớ như in một buổi sáng nọ, sau một đêm nghe có nhiều tiếng súng nổ gần nhà, cả gia đình đã thức giấc trong sự bàng hoàng khi chứng kiến nguyên một đàn trâu bò được cột giữ trong vườn trước nhà đã ngã gục. Mãi sau này tôi mới được giải thích rằng những viên đạn hạ sát đàn súc vật của gia đình tôi đã được bắn ra từ một đồn lính Tây gần nhà thờ, chỉ cách nhà tôi khoảng một trăm thước.
Rồi một buổi chiều khác, tôi vẫn nhớ mãi gương mặt hớt ha hớt hãi của cha tôi khi ông từ ngoài ruộng chạy về báo tin cho cả nhà biết rằng ruộng mía đường trên đồng Tây Cối cách nhà chừng 2 cây số cũng đã bị lính Tây nổi lửa thiêu rụi. Công cuộc kinh doanh của cha tôi coi như “tiêu tán đường”. Cha tôi chỉ còn giữ lại được vài miếng ruộng đủ để kiếm gạo cho cả nhà. Thời đó, lúa Thần Nông do Viện IRRI của Liên Hiệp Quốc (International Rice Research Institute, chuyên nghiên cứu về lúa có trụ sở đặt tại Phi Luật Tân) tìm ra chưa được du nhập vào Việt Nam. Cũng như các nông dân khác ở vùng quê tôi, cha tôi chỉ biết cậy dựa vào các giống lúa đặc sản của địa phương như Mắt Cu, Ba Thắc, Đồng Nai...Mỗi năm chỉ trồng được 2 mùa, nhưng những giống lúa địa phương này có sức kháng cự với rầy và sâu bọ cao cho nên thường cung cấp đủ lúa gạo cho người dân quê. Dĩ nhiên, cũng có những năm, do hạn hán hay vì một nguyên nhân nào đó, trắng tay hay phải “bán lúa giống” là chuyện thường xảy ra cho nhiều người trong đó có cha tôi.
Ngoài chuyện trâu bò và ruộng mía bị lính Tây xóa sạch, gia đình tôi còn phải trải qua một chuyện buồn khác mà một đứa trẻ  4, 5 tuổi như tôi vẫn còn ghi tạc trong ký ức. Ông cố tôi để lại gia tài cho ông nội tôi vốn là con trai một trong gia đình. Gia tài này lại được ông nội tôi truyền lại cho cha tôi là con trưởng nam trong gia đình. Không phải là một cơ ngơi đồ sộ, nhưng gia tài ông cố tôi để lại gồm có một mảnh vườn đủ lớn để trồng đủ các loại cây ăn trái và 2 gian nhà, cả hai đều được lợp bằng ngói âm dương. Riêng gian nhà dưới lại được cất toàn bằng gỗ: cửa chính, cửa sổ bằng gỗ, tường bằng gỗ và 2 phòng ngủ cũng bằng gỗ. Do bị phá sản và nợ nần chăng, cha tôi đành phải bán gian nhà dưới. Tôi vẫn nhớ mãi một ngày nọ nhiều người đã kéo tới nhà tôi. Họ dùng đủ mọi dụng cụ để tháo gỡ ngôi nhà. Tôi đứng nhìn người ta đang đập phá nhà mình mà không hiểu sự gì đang xảy ra cho gia đình.
Mới đây tôi có đọc được chuyện xảy ra ở Lộc Hưng như được tác giả Từ Thức bên Pháp và nhà báo Ngô Nhân Dụng của báo Người Việt ghi lại. Riêng tác giả Từ Thức viết rằng mỗi lần nghĩ đến chuyện đang xảy ra ở Lộc Hưng, ông không thể không nhớ lại hai hình ảnh: “Thứ nhất, video quay cảnh một người cha trèo lên đống nhà sập, té lên té xuống, đi tìm những mảnh đồ chơi của con. Thứ hai, hình một cháu gái áo đỏ buồn bã ngồi nhìn nhà mình bị kéo sập”.
Tác giả Từ Thức tự hỏi: “Cái gì diễn ra trong đầu một đứa bé nhìn cả thế giới của mình sụp đổ. Trong một xã hội bất nhân, tình cảm là một xa xí phẩm, còn ai bận tâm tới cái gì diễn ra trong đầu một đứa nhỏ?”
Tôi ngắm kỹ hình của cô bé được truyền thông của người Việt hải ngoại gọi là “cô bé áo đỏ” ở Lộc Hưng. Nhìn em ngồi chống tay lên cằm, ra chiều suy nghĩ như một người lớn, tôi biết em đã tới tuổi “biết buồn”, biết đau với những mất mát của gia đình và của riêng em. Còn tôi, khi người ta đến tháo gỡ gian nhà dưới của gia đình, tôi còn quá nhỏ để biết đau, biết buồn với nỗi mất mát của gia đình và dĩ nhiên cũng chẳng hiểu tại sao gia đình phải lâm vào một hoàn cảnh bi đát như thế.
Mãi sau này, khi lớn khôn một chút, tôi mới được cha tôi giải thích về nguyên nhân phá sản của gia đình. Cha tôi nói rằng ông có “lên núi” đi kháng chiến chống Tây một thời gian. Tôi chỉ nhớ mầy mậy là có những đêm khuya, trong nhà xuất hiện nhiều người mặc áo đen. Cha tôi theo Việt Minh mấy năm tôi không rõ và ông “dinh tê” về làng lúc nào tôi cũng chẳng biết. Sau này khi tôi có dịp nói chuyện với một số linh mục người Pháp đã từng điều khiển một trung tâm đào tạo linh mục, bí mật về cha tôi mới được vén mở. Số là ông anh thứ Sáu của tôi đã từng tu học tại trung tâm này. Đang học lớp Quatrième (tương đương với lớp đệ ngũ của chương trình Việt), anh tôi bị nhà trường đuổi về mà không đưa ra một lý do nào. Chuyện của anh tôi chỉ được làm sáng tỏ khi một linh mục người Pháp đã phá vỡ sự thinh lặng để cho tôi biết rằng sở dĩ anh tôi bị đuổi về là vì lúc đó đã có người tố cáo rằng cha tôi treo cờ Việt Minh trên nóc nhà thờ. Cha tôi hoàn toàn bác bỏ lời tố cáo này. Nhưng muốn hay không, cái giá mà ông phải trả vì những năm đi theo Việt Minh là sự phá sản ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình và con cái.  Và hơn ai hết, mẹ tôi là người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhứt.
Cũng như cha tôi, về học vấn, mẹ tôi chỉ “tốt nghiệp bình dân học vụ”. Vậy mà tiếng Tây (bồi), bà cũng “ba xí ba tú” như gió. Sách nào rơi vào tầm tay bà cũng đọc ráo. Riêng về chuyện buôn bán làm ăn thì có lẽ mẹ tôi “lanh” không ai bằng. Thời đó mà bà đã đi ra vào Sài Gòn như cơm bữa, trong khi đó đối với rất nhiều người dân làng tôi, “Hòn ngọc Viễn Đông” này là một thế giới hoàn toàn xa lạ.
Ngoài chuyện buôn bán, nguồn thu nhập chính của gia đình tôi, sau khi công việc làm ăn của cha tôi phá sản, là mấy con “heo đất” của mẹ tôi. “Heo đất” của mẹ tôi không phải là những cái “bủng bỉnh” bằng đất được nắn theo hình tượng con heo thường được người lớn mua cho trẻ con để tập chúng biết để dành tiền. “Heo đất” của mẹ tôi là heo bằng xương bằng thịt, nhưng vào những năm đầu của thập niên 1950, chưa có chuồng heo bằng xi măng cho nên quanh năm ngày tháng bị nhốt trong những cái chuồng được lợp bằng mái tranh và suốt ngày ủn ỉn bì bõm trên một nền đất lầy lội.
Heo đất của mẹ tôi gồm có 3 chị nái thuần chủng địa phương. Thời đó các giống heo ngoại quốc như Yorkshire chưa xuất hiện ở Việt Nam, người dân quê tôi chỉ biết nuôi giống heo bụng trắng, lưng đen, nhỏ con nhưng được cái mắn đẻ và đẻ sai. Đi đứng thì lúc nào vú mớm cũng lòng thòng chấm đất.
3 chị heo nái là 3 cái bủng bỉnh của mẹ tôi. Những đồng tiền cắc kiếm được từ đủ thứ công việc được mẹ tôi dồn vào việc mua cám, mua rau muống cho mấy chị heo. Một ít đất khô cằn được dùng để sản xuất khoai mì. Mì xắt lát phơi khô có lẽ là những món “cơm độn” khoái khẩu của heo. Cứ thế, heo lúc nào cũng “đủ ăn” và cứ đúng mùa theo sự tính toán của mẹ tôi để sinh con đẻ cái. Có lứa ra đời vào dịp Tết. Có lứa xuất hiện  vào lúc con cái trong nhà tựu trường. Mỗi lứa heo con bán ra là món tiền bỏ ống của mẹ tôi, đủ để đắp đổi chi tiêu trong gia đình và cũng đủ để cho anh em chúng tôi được ăn và học. Heo đực được rước về nhà đúng lúc để làm nghĩa vụ truyền giống. Tôi được may mắn chứng kiến chu kỳ sinh đẻ của mấy chị heo nái. Có những đêm, mẹ tôi chong đèn để làm bà mụ cho mấy  chị heo. Anh chị em chúng tôi quây quần xung quanh mẹ để hồi hộp theo dõi từng con heo con lọt lòng mẹ. Trẻ con nhà quê như tôi đâu cần phải học giáo dục sinh lý. Tắm sông thì ai cũng đều Adam và Eva như nhau. Thế nào là truyền giống và sinh sản thì đã có chú heo đực và mấy chị heo nái mách bảo.
Mẹ tôi đã âm thầm dạy cho chúng tôi nhiều bài học. Nhưng bài học quan trọng hơn cả là xuyên qua mấy con “heo đất”, mẹ tôi đã cho thấy rằng biết dành dụm và tích lũy ai cũng có thể vượt qua được những nguồn cơn khốn khó.
Thật ra, lúc nhỏ tôi cũng có nhiều lần được tặng cho một con heo đất. Nhưng heo đất của tôi là để ngắm cho đỡ ghiền hơn là để bỏ vào đó những đồng xu nhỏ. Lũ trẻ con nhà quê nghèo như tôi ít khi có tiền túi. Có chút đỉnh thì đem mua giây thun để làm ná bắn chim hay cước và lưỡi câu để câu cá, còn đâu mà bỏ ống. Một lần duy nhứt trong đời tôi có tiền rủng rỉnh trong túi là năm tôi lên 6,7 tuổi. Năm đó, không rõ từ đâu một con gà con lạc mẹ chạy vào vườn nhà tôi. Tôi xí được của trời cho. Con gà con được cho nhập bày với đám gà trong nhà.  6 tháng sau, nó trổ mã biến thành một chị gà mái. Nó cho tôi một bày gà con. Ba tháng sau, gần đến Tết, tôi nhờ bà chị cả bán bày gà giò lẫn gà mẹ. Tết năm đó, tôi trở thành “đại gia” giữa đám trẻ con nghèo.
Tết đến tôi nhớ mẹ tôi. Năm con heo, hình ảnh những con “heo đất” của mẹ tôi lại trở về. Tôi không có thói quen bỏ ống nuôi “heo đất”. Nhưng càng thêm tuổi, tôi càng nghiệm ra rằng trong cuộc sống những tích lũy trong tinh thần như giá trị  nhân bản và đạo đức quan trọng và cần thiết hơn tiền bạc. Chỉ có những giá trị này mới thực sự mang lại an bình và hạnh phúc đích thực cho con người. Người ta có thể thừa hưởng của cải vật chất do gia đình để lại. Nhưng phải “tu thân tích đức”, phải tập tành từng ngày con người mới thực sự giàu có nhờ sống theo những giá trị nhân bản, tinh thần và đạo đức.
Cả đời có lẽ tôi chỉ mới lập được 2 thành tích đáng kể  là bỏ thuốc lá và chạy bộ mỗi ngày. Năm 1975, tôi rước vào người đủ mọi tật xấu, trong đó ghiền thuốc lá là điều tệ hại nhứt. Năm 1990, khi nhận ra thuốc lá đã cướp đi nhiều cái răng, đục khoét bao tử và làm cho tim lúc nào cũng đập loạn xà ngầu...tôi quyết tâm bỏ thuốc lá. Nhưng chỉ sau 3 tháng tôi đã “sa ngã” lại. Tôi lại đứng lên và lần này tôi đã cầm cự được 6 tháng. Nhưng cũng như dân ghiền thuốc lào, “chôn điều xuống lại đào điếu lên”, tôi lại càng hút bạo hơn...Phải trày vi tróc vẩy năm lần bảy lượt, sau đúng một năm kiêng khem, tôi mới thực sự giã từ khói thuốc. Tôi xem đây như một cuộc giải phóng vĩ đại nhứt trong cuộc đời. Không gì sung sướng bằng khi thấy mình không còn làm nô lệ cho khói thuốc nữa! Bởi một khi thoát ách nô lệ khói thuốc, tôi thấy chẳng có tật xấu nào có thể cám dỗ tôi được nữa.
Tôi cũng có được một cảm nhận như thế khi tập được thói quen chạy bộ mỗi ngày. Cách đây 10 năm, bác sĩ tuyên án: tôi bị tiểu đường loại 2. Ý thức rằng đây là hậu quả của một cuộc sống thiếu kỷ luật, tôi thấy cần phải thay đổi cách sống. Tôi liền bắt tay vào việc chạy bộ mỗi ngày. Chỉ sau vài tháng, tôi đã tập được thói quen. Mặc dù không uống thuốc, kết quả lần thử máu nào cũng cho thấy bệnh tiểu đường đã được kiểm soát một cách tốt đẹp!
Với 2 thành tích trên đây, tôi nghiệm ra rằng muốn bỏ một thói quen xấu và tập một thói quen tốt, cần phải tập luyện và tu luyện mỗi ngày. Chẳng có ai trong một sớm một chiều trở thành một người xấu và cũng chẳng có ai trong một ngày biến thành một người tốt. Một nhân cách lớn luôn là thành quả của những cử chỉ tử tế âm thầm và nhỏ bé được lập đi lập lại mỗi ngày.
Mẹ tôi đã không trực tiếp giảng dạy cho tôi điều đó. Nhưng những con “heo đất” được mẹ tôi nuôi bằng những chắt chiu và hy sinh từng ngày lúc nào cũng gợi lên cho tôi bài học đó, nhứt là trong năm Con Heo này.







Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018

Nhà tôi có nuôi một con chó!






Chu Thập 
Xuân 2018

Tôi sinh năm Bính Tuất 1946. Trong gia đình chỉ có cha tôi và tôi cầm tinh con chó. Tôi thừa hưởng một số tính tốt và vô số tật xấu của cha tôi. Còn chuyện vì “tuổi con chó” mà rước vào người những  đặc tính của chó thì tôi chẳng tin chút nào. Có lẽ một phần vì quan hệ giữa tôi và chó không được tốt đẹp lắm.
Tôi đã sống với chó ngay từ thuở nhỏ. Ở nhà quê có nhà nào mà không nuôi chó. Nhà giàu thì nuôi chó “bẹt rê” (berger). Nhà tôi nghèo chỉ nuôi toàn chó cỏ và nuôi chó không phải để “cưng” mà chỉ để chó lo việc nhà. Sành điệu hơn, có nhà nuôi giống chó có “đeo” (móng thừa) ở chân. Đây là giống chó có biệt tài săn chuột.
Nhà tôi chỉ nuôi chó để lo việc nhà. Việc nhà đầu tiên được giao cho chó dĩ nhiên là giữ nhà. Nhà trống trước hở sau phải có chó để canh nhà là chuyện đương nhiên thôi. Kể từ thập niên 1960, khi mấy ông Việt Cộng đêm đêm mò về làng để kiếm ăn, bắt người dẫn lên núi hoặc khủng bố, chó luôn là hệ thống báo động chính xác nhứt.  Việc thứ hai mà giống chó cỏ ở nhà quê tôi lúc nào cũng tỏ ra đắc lực để làm là vệ sinh. Mấy bà chị của tôi, dù đã có chồng, vẫn tiếp tục sống với cha mẹ và hầu như ông chồng nào của các bà chị  của tôi cũng đều phải ở rể một thời gian. Trong nhà lúc nào cũng có con nít. Con nít nhà quê như mấy đứa cháu nhỏ của tôi được chó tận tình chăm sóc. Bất cứ lúc nào, nhứt là buổi sáng, khi mấy bà chị tôi ẵm con ra sân “xi xi” là mấy chú chó bu lại để làm công tác vệ sinh.
Đâu chỉ có canh nhà và làm công tác vệ sinh, chó cỏ còn phải làm một hành động cao cả là “hy sinh mạng sống” để mang lại chút thịt thà cho bữa ăn vốn thường thiếu chất đạm ở nhà quê hoặc giúp cho lễ lạc được thêm phần long trọng. Không biết có phải do một thứ mặc cảm nào đó không, ở quê tôi người ta không ăn thịt chó khi còn mùi thịt chó. Người ta phải tìm cách khử cho hết mùi của nó. Tôi vẫn nhớ mãi cái món “chó đùm”: thịt chó được bằm cho nát, trộn với bún tàu, đậu xanh, đậu phọng và nấm mèo rồi gói trong lá chuối và chưng cách thủy.  Mấy ông tây bà đầm có bị lừa để thưởng thức món “chó đùm” này cũng không thể nào ngửi ra tông tích của chó! Nhưng dù có báng mùi cỡ nào, một khi đã đi vào máu thịt của con người thì nó vẫn ám vào người suốt đời. Tôi tin như thế bởi vì bất cứ ai đã từng nhúng tay vào máu chó hoặc đã ăn thịt chó thì ra đường gặp chó thế nào cũng bị nó sủa. Chó quả đánh hơi rất giỏi. Tôi không ngạc nhiên tại sao người ta dùng chó để ngửi ma túy hoặc ngay cả bệnh ung thư.
Năm 1954, với làn sóng người Bắc di cư vào Nam, chó lại càng sủa bạo hơn. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh mấy ông Bắc Kỳ di cư, mặc quần áo màu chàm, tay cầm một sợi giây thòng lọng, cỡi chiếc xe đạp phía sau có gắn một chiếc cũi. Mấy ông rảo qua các làng quê để truy lùng đám chó cỏ. Quê tôi đua nhau nuôi chó để bán. Các quán nhậu với những bảng hiệu nghe rất “Bắc Kỳ” như “Nó đây rồi”, “Sống trên đời”, “Mộc tồn” hay “Nai đồng quê”...cũng mọc lên như nấm. Cùng với người Bắc di cư, chó đã góp phần làm thay đổi bộ mặt ẩm thực của Miền Nam.
Sau năm 1975, chó lại càng gắn liền với vận mệnh đất nước hơn. Chó được dùng để làm làn ranh phân chia rõ rệt hai thời kỳ trước và sau khi cộng sản xâm chiếm Miền Nam. “Thời chó đẻ” đã nhường chỗ cho “thời chó chết”. Hiểu theo nghĩa bóng hay nghĩa đen đều đúng cả. Cũng như bao nhiêu người Việt Nam khác, chán cái “thời chó chết”, tôi cũng đã bỏ nước ra đi.
Năm 1982, tưởng đã chôn chặt vào ký ức hình ảnh của chó, sang Pháp tỵ nạn, tôi lại phải “đấu tranh tư tưởng” vì chó. Sở dĩ có cuộc “đấu tranh” như thế là vì ở Paris, thủ đô ánh sáng của “mẫu quốc”, đi đâu tôi cũng thấy chó. Đến Pháp vào giữa mùa thu, mưa lất phất, đường sá ướt nhẹp, tôi lại càng bực tức hơn nữa vì cứ phải đạp cứt chó. Không biết ngày nay thủ đô ngàn năm văn vật của của Pháp có sáng sủa và sạch sẽ hơn không, chớ thời tôi chọn “mẫu quốc” làm quê hương thứ hai, nếu có ai hỏi tôi “Paris có gì lạ không em?”, hình ảnh đầu tiên tôi có về thành phố này vẫn là chó và cứt chó. Hơn 30 năm cuộc đời ở trong nước, tôi xem chó...là chó không hơn không kém, nghĩa là giống thú vật nuôi để giữ nhà, làm công tác vệ sinh và để “thịt”. Đến Paris, trong tôi bỗng nhiên nẩy sinh tâm tình thù hận đối với chó. Tôi ghét chó bởi vì cứ phải đạp cứt chó. Nhưng tôi ghét chó hơn nữa vì nó được cưng chìu và yêu thương còn hơn cả người đồng bào ruột thịt của tôi đang sống dưới “thời chó chết” ở Việt Nam. Trong khi bao nhiêu người Việt Nam không có đủ vải để che thân thì mấy cô cậu chó được mặc quần áo hẳn hoi và nhởn nhơ giữa phố phường Paris. Trong khi ở quê tôi dưới “thời chó chết”, nhiều người vẫn còn đi ngủ với cái bụng trống rỗng thì tại “mẫu quốc”, ngày nào tôi cũng phải nhìn trên màn ảnh truyền hình những màn quảng cáo thực phẩm cho chó. Chó nhà giàu lên ngôi, còn người Việt Nam chúng tôi xuống hàng chó, bảo tôi không bực tức sao được!
Đã vậy, chó ở các nước giàu dường như cũng biết kỳ thị nữa. Tôi nhớ trong một lần chạy bộ, một chú chó “bẹt rê” to tổ chảng của một người chạy đối diện chận đường tôi. Nó không tấn công, mà chỉ gầm gừ không chịu tránh đường. Tôi nói với người chủ rằng tôi có làm gì nó đâu mà nó lại có thái độ thù nghịch như vậy. Người chủ, một anh chàng Úc rặc, tỉnh bơ đùa: “nó kỳ thị đó!”.
Đã gần 40 năm rồi, tôi không còn đụng đến miếng thịt chó và dĩ nhiên, tôi cũng không thể tưởng tượng nổi một ngày nào đó, ngay cả ở Việt Nam, tôi sẽ vào một quán nhậu nào đó để ngửi lại mùi thịt chó. Nhưng có lẽ cái mùi thịt chó đã ăn vào da thịt tôi tự thuở nào cho nên chó tây đã ngửi được và tỏ thái độ kỳ thị.
Có lẽ cũng như nhiều người tỵ nạn Việt Nam khác, tôi đã bị kỳ thị cách này hay cách khác. Nhưng tôi luôn xem kỳ thị như một thách đố trong tiến trình hội nhập vào xã hội Tây phương. Nhập gia tùy tục. Sống ở xứ người, không đánh mất bản sắc của mình, nhưng cũng phải cố gắng thích nghi với văn hóa của họ và bước đầu của thích nghi là phải chấp nhận và tôn trọng văn hóa của người ta. Tôi luôn tự nhủ như thế. Lúc chân ướt chân ráo mới đến xứ người, tôi cảm thấy khó chịu vì một số  thói tục của họ. Ngày đầu tiên đặt chân xuống các trạm Metro (xe lửa ngầm) ở Paris, thấy người ta ôm nhau hôn hít trước mặt mình, tôi thấy kỳ cục quá. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, tôi thấy chẳng có gì phải khó chịu và thắc mắc nữa. Chuyện người ta cưng chó cũng vậy thôi. Thoạt tiên tôi thấy “ngứa gan” trước cái cảnh người ta ôm hôn và nựng con chó. Bây giờ tôi xem đó là chuyện thường tình.
Càng lúc tôi càng hiểu và cảm thông được tình cảm người tây phương dành cho thú cưng, nhứt là chó. Tôi thích xem chương trình “The Supervet” của bác sĩ thú y Noel Fitzpatrick được chiếu trên đài SBS. Tôi vẫn nhớ mãi cảnh một cặp vợ chồng già đưa con chó cưng của mình đến trung tâm giải phẫu của Bác sĩ Fitzpatrick. Hai chân trước của con chó bị cong đến độ không thể cử động được. Bác sĩ Fitzpatrick hỏi ông bà có phải đây là con chó mồ côi (rescue) được ông bà đem về nuôi không. Người vợ gật đầu giải thích: không phải chúng tôi “cứu vớt” nó mà chính nó “cứu vớt” chúng tôi! Sau khi chẩn đoán và chụp hình, viên bác sĩ thú y cho biết cuộc giải phẫu rất tốn kém. Bà nhìn ông cầu cứu và ông trả lời không do dự: bao nhiêu chúng tôi cũng sẵn sàng chịu! Không rõ bao nhiêu, nhưng chắc chắn phí tổn của  cuộc giải phẫu có khi còn cao hơn cả số tiền phải bỏ ra để chữa bệnh cho một người.
Tôi hiểu được tại sao người ta cưng và thương chó như thế. Tôi cũng hiểu được tại sao có khi người ta yêu thương và chăm lo cho chó còn hơn cả con người. Kết quả của một cuộc thăm dò tại Hoa Kỳ khiến tôi phải sửng sốt. Những người được thăm dò ý kiến bị đặt trước một câu hỏi: nếu xảy ra trường hợp  con chó cưng của bạn và một người khác cùng bị xe đụng sắp chết, bạn sẽ cứu ai? Kết quả cuộc thăm dò cho thấy có đến một phần ba những người được hỏi ý kiến đều đặt ưu tiên vào việc cứu con chó cưng của mình (x.https://www.psychologytoday.com/blog/canine-corner/201711/why-people-sometimes-care-more-about-dogs-humans).
Theo các chuyên gia tâm lý, hầu như mọi gia đình Tây phương  có nuôi chó cưng  đều xem nó như một thành phần thân thiết của gia đình. Giáo sư John Archer, thuộc trường Đại học Central Lancashire, Anh quốc, đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về mối quan hệ giữa chó và người theo quan điểm tiến hóa. Cuộc nghiên cứu của Giáo sư Archer cho thấy khoảng 40 phần trăm những người nuôi chó cưng xem chó như một phần tử của gia đình.
Chó là loài thú rất nhạy cảm. Nó có khả năng dự đoán điều mà chủ nó sẽ làm, dù là chuẩn bị thức ăn cho nó hay đưa nó đi chơi. Các cuộc thí nghiệm cho thấy chó rất bén nhạy trong việc đọc được ngôn ngữ thân xác của con người. Chó có thể hiểu được ý chủ xuyên qua ánh mắt hay một cử chỉ nhỏ của họ. Không những đọc được cảm xúc của chủ, chó còn biết bày tỏ sự “hối hận” nếu người chủ tỏ ra bực bội, khó chịu.
Sở dĩ giữa chó và người có một mối quan hệ đặc biệt như thế là vì cho là giống thú vật đầu tiên đã được con người thuần hóa từ hơn một trăm ngàn năm qua. Chó là bạn đồng hành trong sinh hoạt săn bắn của chủ. Chó luôn có mặt bên cạnh con người như một hệ thống báo động nhờ đó con người có thể tránh được hiểm nguy. Chó canh chừng trẻ con và cũng là bạn chơi của chúng. Đối lại, con người cung cấp thức ăn cho chó và bảo đảm an toàn cho chúng. Tóm lại, con người đã thuần hóa chó, nhưng chính chó cũng đã thuần hóa con người, nghĩa là cảm hóa con người để biết đối xử “nhân đạo” hơn với chó và với súc vật nói chung.
Đó là kinh nghiệm của chính tôi. Một cách nào đó, tôi đã được chó thuần hóa và cảm hóa.  Lúc còn ở trong nước và ngay cả một năm trước đây, tôi xem  chó như một loài thú chỉ để được sở hữu và nuôi vì một mục đích hoàn toàn vụ lợi. Nhưng cách đây vài tháng, chó đã làm thay đổi cách suy nghĩ của tôi và quan hệ giữa tôi và chó cũng thay đổi. Tất cả diễn ra một cách bất ngờ. Cách đây vài tháng, một người cháu nuôi của tôi mua lại một con chó của một người Đại Hàn. Ông này sợ con chó lẻ loi cho nên tặng thêm cho người cháu của tôi một con khác. Dư một con, người cháu nuôi mới nhường lại cho tôi một con. Lúc đầu tôi lưỡng lự và nghĩ bụng: đã không thích chó thì rước của nợ về nhà để làm gì? Nhưng trời xui đất khiến, tôi muốn thử thời vận một lần xem sao. Kể từ đó, sự hiện diện của chó và tiếng chó sủa làm thay đổi hẳn bộ mặt của ngôi nhà. Bài ca trẻ thơ cách đây hơn 60 năm vọng lại: “nhà em có nuôi một con chó. Trông nó to như con bò. Sáng nó kêu gấu gấu gấu. Trưa nó kêu gâu gâu gâu. Tối nó kêu gầu gầu gầu...”
Cũng may, con Trumpy nhà tôi không phải là loại sủa nhiều và sủa sảng. Nó chỉ sủa khi có đám gà lôi rừng (bush turkey) xâm nhập gia cư bất hợp pháp hoặc có cô cậu mèo hàng xóm nào đó léng phéng trước cửa nhà. Thông thường, nó chỉ ứ ứ bằng thứ ngôn ngữ mà chỉ sau một vài tuần lễ tôi và nhà tôi hiểu được một cách dễ dàng. Nó muốn chơi, nó muốn được ăn, nó muốn được dẫn đi dạo mỗi buổi chiều hay được vuốt ve...lúc nào chúng tôi cũng hiểu được ngôn ngữ của nó. Và dĩ nhiên, nó cũng hiểu được tiếng nói, ánh mắt và cử chỉ của chúng tôi. Nó thuộc thời khóa biểu của chúng tôi chỉ trong vòng vài ngày. Không được vào trong nhà nhưng chỉ cần lắng nghe và nhớ thói quen của chúng tôi, nó có thể biết được chúng tôi đang ở đâu và làm gì. Tựu trung, giữa nó và chúng tôi đã có một sự giao cảm lạ lùng. Tôi hiểu được tại sao người ta thương con chó như vậy: có thể nói chó lắm khi còn nhớ mọi thói quen và sinh hoạt của chủ hơn người ở chung nhà.
Nhưng với riêng tôi, con chó đã dạy tôi nhiều bài học. Chó luôn tỏ ra biết ơn và trung thành. Tuổi con chó như tôi không đương nhiên là người luôn biết ơn và trọng chữ tín. Năm 2018 không là năm “đáo tuế” và nhưng cứ mỗi khi Năm Chó trở lại, tôi luôn được gợi nhớ để học và trau dồi 2 đức tính căn bản trong nhân cách là lòng biết ơn và sự trung tín. Thiếu 2 điều đó, con người khó có thể sống cho ra người tử tế được. Con Trumpy nhà tôi luôn nhắc nhở tôi điều đó.
Bên cạnh 2 đức tính ấy, sự thính tai và thính mũi của con chó nhà tôi cũng gợi lên cho tôi một cách cư xử mà tôi cho là rất quan trọng trong cuộc sống: đó là sự nhạy cảm. Nhạy cảm để không tỏ ra dửng dưng trước nỗi khổ của người khác. Nhạy cảm để biết cảm thông với người khác.
Tựu trung, dù là chó nhưng con Trumpy nhà tôi lại dạy cho tôi nhiều bài học làm người.
Ở mỗi dịp đầu năm, tôi có thói quen làm một số quyết tâm. Thôi thì đầu năm nay, năm con chó, xin được quyết tâm trau dồi lòng biết ơn, chữ tín và sự cảm thông vậy.