Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện làng toàn cầu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện làng toàn cầu. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019

Hoa Kỳ: Tương lai của Kitô Giáo


02/02/19
Tại Hoa Kỳ, phân tách về niềm tin tôn giáo, nhiều người nhận thấy có 2 mẫu tín hữu tương phản nhau: một bên là danh ca Lady Gaga và nữ dân biểu thuộc Đảng Dân Chủ Alexandria Ocasio-Cortez và một bên là Phó tổng thống Mike Pence và phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Sarah Sanders.
Với cuốn phim A Star is Born, danh tiếng của nữ ca sĩ Lady Gaga nổi như cồn. Với cuốn phim này, cô đã được đề cử cho Giải Oscar. Mới đây cô ca sĩ này đã trực tiếp đối đầu với Phó tổng thống Mike Pence. Số là bà Karen, vợ ông Pence, đã xuất hiện tại một trường “đạo” vốn có chủ trương không nhận những học sinh đồng tính hoặc có cha mẹ đồng tính. Lady Gaga là người luôn công khai tuyên xưng niềm tôn giáo của mình và bày tỏ sự ủng hộ đối với cộng đồng đồng tính.
Nhân sự kiện bà Karen xuất hiện tại trường đạo có chủ trương loại trừ người đồng tính, Lady Gaga liền nêu đích danh Phó tống thống Pence để tra hỏi. Tại một buổi trình diễn ở Las Vegas mới đây, cô nói thẳng với ông: “Ông nói rằng chúng ta không nên kỳ thị chống lại Kitô Giáo. Ông là người đại diện tồi tệ nhất của thế nào là một tín hữu Kitô. Tôi là một nữ tín hữu Kitô và điều mà tôi biết về Kitô Giáo là chúng ta không nên có thành kiến và mỗi người đều được tôn trọng”.
Rồi mới đây, trên Đài Fox News, khi người dẫn chương trình là ông Sean Hannity muốn biết cái nhìn của bà về nữ dân biểu Alexandria Ocasio-Ortez liên quan đến vấn đề khí hậu thay đổi, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Sarah Sanders trả lời: “Tôi không nghĩ rằng chúng ta sẽ lắng nghe cô ta (Ocasio-Cortez) về nhiều vấn đề, nhất là những vấn đề mà chúng ta nên để cho một thẩm quyền cao hơn giải quyết”. Nữ phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc nói tiếp: “Và chắc chắn là chúng ta sẽ không lắng nghe vị nữ dân biểu mới tập tễnh này nói về ngày tận cùng thế giới”.
Bà Sarah Sanders ngụ ý sự kiện mới đây khi lên tiếng tại Nhà thờ Riverside Church ở New York trong một buổi lễ vinh danh cố mục sư Martin Luther King Jr, nữ dân biểu Ocasio-Ortex đã không ngừng tuyên xưng niềm tin tôn giáo của mình. Sau đó, trên trang mạng Twitter, cô đã trích dẫn một số đoạn trong Kinh Thánh như sau: Sáng Thế Ký chương Một: “Thiên Chúa nhìn vào thế giới và nói “thật là tốt đẹp” không phải một hai lần, mà đến 7 lần”. Sáng Thế Ký Chương 2: “Thiên Chúa truyền lệnh cho mọi người phải “phục vụ và bảo tồn vạn vật”. Sách Levi: “Thiên Chúa phán bảo rằng không những con người, mà đất đai cần cho sự sống còn của con người, cần phải được tôn trọng”.
Nữ dân biểu Ocasio-Cortez, Lady Gaga, Phó tổng thống Mike Pence và nữ phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Sarah Sanders chắc chắn không có cùng một quan điểm về bất cứ vấn đề nào. Tuy nhiên, cả bốn người đều tự nhận là tín hữu KtTô. Vậy thì tại sao họ lại bất đồng quan điểm với nhau?
Có thể xem 4 người như đại diện của nhiều loại tín hữu Kitô tại Hoa Kỳ ngày nay. Nhưng nhìn chung, có thể xếp họ thành 2 loại: bảo thủ và cấp tiến.
Vào khoảng cuối thập niên 1980, các tín hữu Kitô bảo thủ đã cho mình có quyền định nghĩa thế nào là một tín hữu Kitô. Họ nói rằng Kitô Giáo chỉ có một thứ luân lý duy nhất cần phải xiển dương và bảo vệ là phải chống lại những người đồng tính và kiểm soát quyền được chọn lựa của người phụ nữ trong việc sinh sản.
Ngày nay 2 vấn đề nổi cộm phân chia biên giới rõ ràng giữa Kitô Giáo bảo thủ và Kitô Giáo cấp tiến tại Hoa Kỳ là quyền của người đồng tính và khí hậu thay đổi. Các tín hữu cấp tiến tranh đấu và ủng hộ quyền của người đồng tính cũng như kêu gọi có những biện pháp để chống lại hiện tượng khí hậu thay đổi do con người tạo ra. Trong khi đó, các tín hữu Kitô bảo thủ chủ trương loại trừ người đồng tính và bác bỏ những bằng chứng của khoa học về hiện tượng khí hậu thay đổi.
Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy 2 vấn đề trên đây đã tạo ra một hố ngăn cách lớn giữa những người Mỹ. Theo một cuộc thăm dò do Viện Nghiên Cứu Về Tôn Giáo thực hiện năm 2017, có khoảng 2 phần 3 người công giáo (như trường hợp nữ dân biểu Ocasio-Cortez và nữ danh ca Lady Gaga), các tín hữu Chính Thống và Tin Lành tán thành hôn nhân đồng tính. Ngay cả trong số những người da trắng theo Tin Lành (như bà Sanders), cũng bắt đầu thay đổi não trạng: con số giới trẻ Tin lành ủng hộ hôn nhân đồng tính đã nhiều gấp 2 lần so với những người trên 65 tuổi. Trong khi đó, theo một cuộc thăm dò được Trung tâm Nghiên cứu Pew Research Center thực hiện hồi năm 2015, có đến 40 phần trăm tín hữu Tin Lành và 45 phần trăm người Công giáo tin rằng khí hậu thay đổi là do hoạt động của con người.
Ngoài quyền của người đồng tính và khí hậu thay đổi, các tín hữu Kitô Mỹ cũng đối chọi nhau về một số vấn đề khác như di dân và sinh sản. Nữ dân biểu Ocasio-Cortez và nữ danh ca Lady Gaga ủng hộ Tổ chức Kế hoạch hóa Gia đình (Planned Parenthood) có chủ trương cho phép phá thai. Phó tổng thống Mike Pence và phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Sanders có lập trường hoàn ngược lại.
Trong một tuýt nhân dịp Giáng Sinh vừa qua, nữ dân biểu Ocasio-Cortez đã cầu chúc: “Chúc mọi người Giáng Sinh vui, với những ngày nghỉ tràn đầy hạnh phúc bên gia đình và mọi người được yêu thương (kể cả những em bé tỵ nạn nằm trong các máng cỏ + cha mẹ các em). Trong khi đó thì nguyên Bộ trưởng Tư Pháp Jeff Sessions, một tín hữu Kitô bảo thủ, cũng nhân danh Kitô Giáo để biện minh cho chính sách chia cách trẻ em của Tổng thống Donald Trump. Nhiều đồng đạo của ông này đã phản đối lập trường của ông. Đã có trên 600 nhà lãnh đạo thuộc Giáo hội Methodist Thống nhất tại Hoa Kỳ đã đồng ký tên vào một tuyên ngôn chung để lên án lập trường của ông Sessions khi ông nhân danh Kitô Giáo để bênh vực cho lập trường chia cách trẻ em với cha mẹ của chúng khi họ di dân bất hợp pháp vào Mỹ. Các nhà lãnh đạo tôn giáo này nói rằng ông Sessions đã vi phạm luật của Giáo hội Methodist về chính sách di dân, lạm dụng trẻ em và kỳ thị chủng tộc. Giáo hội Methodist Thống nhất mà ông Sessions là thành viên hiện có khoảng 7 triệu thành viên. Trong Giáo hội này đã từng có những chia rẽ về những vấn đề liên quan đến việc nhìn nhận người đồng tính và vai trò của họ trong Giáo hội. Một số đã ủng hộ ông Sessions. Nhưng sự kiện trên 600 nhà lãnh đạo trong Giáo hội lên tiếng phản đối ông Sessions về lập trường của ông liên quan đến vấn đề di dân và người đồng tính cho thấy hiện đang có nhiều rạn nứt giữa những thành phần bảo thủ và cấp tiến trong Giáo hội.
Không riêng Giáo hội Methodist Thống nhất mới bị phân rẽ giữa hai khuynh hướng bảo thủ và cấp tiến. Giáo hội Baptist cũng đang rơi vào một tình trạng tương tự. Ngày nay, nội bộ của hai Giáo hội Tin Lành lớn nhất tại Mỹ này hiện đang lủng củng vì nhiều vấn đề. Cả hai Giáo hội đều bị xâu xé bởi những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề: liệu phụ nữ, người da màu, di dân và người đồng tính, vì phẩm giá của họ, có được đầy đủ quyền lợi, trách nhiệm và sự tôn trọng đúng đắn trong các cộng đồng của Giáo hội không.
Riêng Phó tổng thống Pence được nhiều người tuyên dương như một anh hùng trong việc “bảo vệ đức tin”. Ông đã từng kêu gọi phải chấm dứt việc phê bình chỉ trích nền giáo dục Kitô Giáo. Dĩ nhiên khi nói đến giáo dục Kitô Giáo, ông ám chỉ đến nền giáo dục Kitô Giáo bảo thủ.
Lady Gaga không chấp nhận một thứ Kitô Giáo như thế. Cô cũng nhân danh niềm tin tôn giáo của mình để chống lại thứ Kitô Giáo của Phó tổng thống Pence. Ông Pence đã rất được lòng một lãnh tụ nổi tiếng của Tin Lành bảo thủ là mục sư Franklin Graham. Vị mục sư này đã lên Faccebook đả kích thậm tệ Lady Gaga và vinh danh vợ chồng Pence như là “hạng tín hữu Kitô tốt nhất”. Trên Facebook, nhà lãnh đạo của Tin Lành Bảo Thủ tại Hoa Kỳ đã khuyên dạy: “Là tín hữu Kitô, đi theo Đức Kitô có nghĩa là đi theo giáo huấn của Lời Chúa. Kinh Thánh đã khẳng định rất rõ ràng rằng đồng tính là một tội, đó là chưa kể những tội khác và tất cả những người đồng tính đều phải trả một giá đắt. Chúng ta cần phải sống sao cho phù hợp với Lời Chúa. Chính Ngài là Đấng ban bố luật lệ, chứ không phải chúng ta. Ngài mới là Đấng định nghĩa thế nào là tội và Ngài làm điều đó vì yêu thương và thương xót. Xuyên qua sám hối và tin tưởng nơi Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô, Ngài đã mang lại một liều thuốc cho tội lỗi. Tôi biết Phó tổng thống Mike Pence và bà Pence và đối với tôi, cách sống của họ và cách biểu lộ niềm tin của họ cho thấy họ là hạng tín hữu Kitô tốt nhất. Đối với đất nước chúng ta, họ là một phúc lành lớn lao biết chừng nào!”
Thật ra, đây không chỉ là vấn đề riêng của các Giáo hội Tin Lành  mà là vấn đề chung của mọi tín hữu Kitô tại Hoa Kỳ. Họ phải tự nêu lên câu hỏi: liệu niềm tin tôn giáo có buộc họ phải đi theo khuynh hướng cấp tiến hay bảo thủ không? Đây là câu hỏi đã từng được đặt ra cho họ từ bao nhiêu năm qua. Trong quá khứ, chống hay ủng hộ chế độ nô lệ, bên nào cũng nhân danh Kitô Giáo để bảo vệ lập trường của mình. Giáo huấn Kitô Giáo đã từng được nại đến để kêu gọi xây dựng hòa bình mà cũng để biện minh cho chiến tranh.
Muốn biết ai đúng, ai sai có lẽ các tín hữu Kitô Mỹ nên trở lại với  cuộc đời và Giáo huấn của chính Chúa Giêsu được ghi lại trong Sách Tin Mừng theo thánh Luca. Thật vậy, Chúa Giêsu đã trích dẫn một câu trong sách Tiên tri Isaiah để nói về sứ mệnh của Ngài: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Người đã xức dầu cho tôi để sai tôi mang Tin mừng đến cho người nghèo. Ngài đã sai tôi đi công bố sự giải thoát cho người bị giam cầm, làm cho người mù được thấy, người bị áp bức được tự do và công bố một năm hồng ân”. Chúa Giêsu cũng chưa bao giờ trực tiếp hay gián tiếp lên án những người đồng tính. Ngài cũng nêu rõ “tiêu chuẩn” cần có để trở thành công dân nước Trời: Nước Trời là nơi dành cho những người đã cho người đói được ăn, người khát được uống, người khách lạ được tiếp rước, người trần truồng được áo mặc, người đau yếu được thăm viếng, người tù được hỏi han (Mt 25, 31-45).
Trong một ca khúc, Lady Gaga đã dùng từ “Little Monsters” (những con quái vật nhỏ) để chỉ những thành phần bị đẩy ra bên lề xã hội, những người dễ bị thương tích mà cô đang phục vụ. Nhiều người cho rằng nữ dân biểu Ocasio-Cortez là một kẻ nổi loạn. Cô muốn đạp đổ một thứ trật tự cũ do những người giàu có và quyền thế dựng lên và trả lại quyền bình đẳng và công lý cho những thành phần thấp cổ bé miệng trong xã hội. Có lẽ người nữ dân biểu công giáo 29 tuổi này nghĩ đến cử chỉ nổi loạn của Chúa Giêsu trong đền thờ Gierusalem chăng, khi Ngài nổi cơn tam bành để đánh đuổi những “con buôn” ra khỏi đền thờ.
Con số tín hữu Kitô Mỹ ủng hộ những người như Lady Gaga hay Ocasio-Cortez ngày càng đông. Nhiều người tin tưởng rằng tương lai của Kitô Giáo tại Mỹ sẽ giống nữ ca sĩ Lady Gaga hơn là Phó tổng thống Mike Pence.

(Theo: https://edition.cnn.com/2019/01/24/opinions/christianitys-future-looks-more-like-lady-gaga-than-mike-pence-graves-fitzsimmons/index.html)

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2019

Ấn Độ: Phụ nữ Vùng lên!



25/01/19
Vào lúc 3 giờ sáng ngày 2 tháng Giêng vừa qua, bà Bindu Ammini, một giáo sư luật 40 tuổi và bà Kanakadurga Koylandi, một nhân viên chính phủ 39 tuổi, đã bước chân vào bên trong đền thờ Ấn giáo thờ thần Ayyappa tại Sabarimala, Tiểu bang Kerala, miền Nam Ấn Độ. Hai người đàn bà này đã trở thành những người phụ nữ đầu tiên chính thức bước chân vào một đền thờ Ấn Giáo sau khi Tối cao Pháp viện đã đảo ngược luật cấm đàn bà trong tuổi kinh nguyệt, nghĩa là từ 10 đến 50 tuổi, vào trong đền thờ.
Được xây cất vào Thế kỷ 12, với mỗi năm có trên 5 triệu người kính viếng, đền thờ Ayyappa là một trong những trung tâm hành hương lớn nhất thế giới. Trước khi đi chân không vào trong đền thờ, khách hành hương bị buộc phải kiêng cữ việc giao hợp, tránh ăn thịt và da để tôn kính vị thần độc thân Ayyappa.
Kể từ khi Tối cao Pháp viện đưa ra phán quyết, chính quyền của Tiểu bang Kerala cho biết đã có khoảng 4.200 phụ nữ ghi danh đến kính viếng đền thờ Ayyappa. Theo tin chưa được kiểm chứng, kể từ ngày đầu năm đến nay, đã có tất cả 8 người phụ nữ đã đặt chân vào trong đền thờ.
Dĩ nhiên, nhiều nam tín đồ Ấn Giáo đã phẫn nộ. Họ xem cử chỉ của các phụ nữ trên đây như một hành động thách thức. Họ đe dọa sẽ đánh đập các phụ nữ và đuổi họ ra khỏi đền thờ. Sau khi hai bà Bindu và Kanakadurga vào đền thờ, vị giáo sĩ trưởng đã cho đóng lại các cánh cửa của đền thờ như một nghi thức thanh tẩy.
Trên khắp Tiểu bang Kerala, các tín đồ tự cho là bị xúc phạm bởi hành động của các phụ nữ đã xuống đường, đập phá các chiếc xe buýt, đốt các tượng ảnh, ném đá và ngay cả đánh bom vào các ngã đường. Các cuộc bạo động đã làm cho một người chết và hàng trăm người bị thương. Cảnh sát đã bắt giữ gần 6000 người.
Nhiều người Ấn Giáo xem phụ nữ đang có kinh nguyệt như những người dơ bẩn. Tuy nhiên hầu hết mọi đền thờ Ấn Giáo đều cho phép họ vào trong đền thờ với điều kiện họ không ở trong thời kỳ kinh nguyệt. Đền thờ Ayyappa tại Sabarimala là một trong số ít đền thờ tuyệt đối không cho phép phụ nữ còn trong tuổi kinh nguyệt được vào bên trong.
Năm 2006, đáp lại thỉnh nguyện thư của các nữ luật sư, Tối cao Pháp viện Ấn Độ đã tuyên bố rằng đền thời Ayyappa tại Sabarimala đã vi phạm quyền bình đẳng như đã được ghi trong Hiến pháp. Nhưng nhiều nam tín đồ cho rằng 2 bà Bindu và Kanakadurga đã làm hoen ố đền thờ. Trong khi đó chính quyền Tiểu bang Kerala, vốn đang được Đảng Cộng Sản lãnh đạo, thì lại xem 2 bà như những anh hùng.
Tại Ấn Độ, cuộc chiến cho quyền bình đẳng của người phụ nữ diễn ra trên nhiều mặt trận. Năm 2012, sau khi một nữ sinh viên y khoa bị hãm hiếp và tàn sát một cách dã man tại Thủ đô Delhi, rất nhiều người đã tham gia một cuộc biểu tình để yêu cầu chính phủ bảo vệ an toàn cho phụ nữ cũng như ban hành những luật khắt khe hơn về tội hãm hiếp. Năm ngoái, phong trào #MeToo đã lan đến Ấn Độ: các phụ nữ làm việc trong ngành truyền thông, giải trí và học đường yêu cầu chính phủ phải bảo đảm an toàn cho phụ nữ tại nơi làm việc. Nhận ra tầm quan trọng của vấn đề, Thủ tướng Ấn, ông Narendra Modi đã tung ra các chương trình quảng cáo để cam kết nâng cao giáo dục cho phụ nữ và đẩy mạnh việc chăm sóc y tế cho phụ nữ có kinh nguyệt. Tuy nhiên, sau khi một nữ tu tại Kerala lên tiếng tố cáo hành động hãm hiếp của một linh mục công giáo và nhất là sau những biến cố xảy ra tại đền thờ Ayyappa, những người tranh đấu cho quyền của người phụ nữ hiện đang lâm vào trận chiến diễn ra trên một trong những mặt trận cam go nhất là tôn giáo.
Tổng tuyển cử tại Ấn Độ sẽ diễn ra vào tháng Tư và tháng Năm tới đây. Đảng đang cầm quyền hiện nay là Đảng Quốc gia Ấn Giáo Bharatiya Janata gọi tắt là BJP. Trong lịch sử, Đảng này ít có ảnh hưởng tại Tiểu bang Kerala, vốn được xem là một trong những vùng có dân số biết đọc biết viết cao nhất Ấn Độ. Tại tiểu bang này từ lâu nay ba tôn giáo lớn là Ấn Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo đều “đề huề” với nhau. Nhưng cho rằng việc các phụ nữ đi vào đền thờ Ayyappa là một hành động vi phạm truyền thống Ấn Giáo, những người ủng hộ Đảng BJP đã tìm cách chính trị hóa biến cố này và tìm cách gây ảnh hưởng trong tiểu bang.
Tình hình tại Tiểu bang Kerala có thể sẽ căng thẳng trong những ngày sắp tới. Đảng Cộng sản hiện đang cầm quyền tại tiểu bang. Thống đốc tiểu bang, ông Pinarayi cam kết sẽ triệt để thi hành phán quyết của Tối cao Pháp viện và ra lệnh cho cảnh sát phải bảo vệ các nữ tín đồ đến kính viếng đền thờ Ayyappa. Các đảng liên minh với chính quyền cộng sản, vốn đã từng bị tố cáo là pháo đài của nam tín đồ Ấn Giáo, nay cũng ra mặt ủng hộ phong trào tranh đấu cho quyền của phụ nữ. Ngày mùng Một tháng Giêng vừa qua, chính quyền cộng sản và các đảng trong liên hiệp đã tổ chức một cuộc biểu tình rộng lớn quy tụ khoảng 5 triệu phụ nữ để làm thành một “bức tường phụ nữ”. Đoàn người biểu tình cũng dự trù sẽ tổ chức 2 ngày để khẳng định rằng kinh nguyệt không phải là một điều “dơ bẩn mà là trong sạch”.
Bị cuốn xoáy vào cơn lốc chính trị trong Tiểu bang Kerala, 2 người phụ nữ đã bước chân vào đền thờ Ayyappa bị buộc phải đi lẩn tránh. Sau hai ngày chạy trốn, bà Bindu mới dám gọi điện thoại về thăm chồng và con gái. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tạp chí Time, chồng bà Bindu nói rằng ông rất hãnh diện về vợ mình. Ông nói rằng vợ ông và bà Kanakadurga đã mở đường cho nhiều người phụ nữ khác để họ bày tỏ niềm tin của mình. Tuy nhiên, về phần mình, bà Kanakadurga lại không được gia đình ủng hộ. Họ đã không nói chuyện với bà kể từ ngày 24 tháng Mười Hai vừa qua khi bà toan bước chân vào đền thờ. Một cảnh sát viên có phận sự canh gác nhà của bà Kanakadurga cho biết gia đình của bà đã nhận được nhiều lời đe dọa giết chết. Họ đã phải đến trú ẩn tại nhà của một người thân. Nhưng cũng như bà Bindu, người nữ viên chức chính phủ này không hề hối hận vì hành động của mình.
Những người chống lại việc người phụ nữ trong tuổi kinh nguyệt được vào đền thờ cũng tìm đủ mọi lý lẽ để biện minh. Sandeep Wachaspati, người điều hành các phương tiện truyền thông của Đảng BJP tại Tiểu bang Kerala, cho rằng phong trào đòi cho phụ nữ trong tuổi kinh nguyệt được vào đền thờ muốn đạp đổ đền thờ và những giá trị của Ấn Giáo mà đền thờ là một biểu tượng.
Dĩ nhiên, không chỉ có những người theo Đảng BJP mới chống lại việc cho phụ nữ trong tuổi kinh nguyệt được vào đền thờ. Nhiều phụ nữ tại Tiểu bang Kerala cũng muốn giữ nguyên trạng, nghĩa là tuân thủ luật cũ trước khi Tối cao Pháp viện đưa ra phán quyết phủ quyết luật này. Chẳng hạn như tổ chức phụ nữ có tên là “Sẵn sàng Chờ đợi (Ready to Wait). Nhóm phụ nữ này chủ trương chờ đợi cho lúc hết thời kỳ kinh nguyệt để được đặt chân vào đền thờ. Họ nói rằng các tòa án không nên can thiệp vào các vấn đề tôn giáo, bởi vì theo họ, “không được đặt chân vào đền thờ chẳng tạo ra bất cứ thiệt hại nào cho thân xác, tinh thần hay ngay cả những mục đích thiêng liêng của người phụ nữ”. Bên cạnh “Sẵn sàng Chờ đợi”, còn có nhiều nhóm phụ nữ khác có chủ trương chống lại việc cho phụ nữ đang trong thời kỳ kinh nguyệt được vào đền thờ. Một nhóm có tên là “Vì Dharma” đã gởi thỉnh nguyện thư lên Tối cao Pháp viện đề yêu cầu duyệt xét lại phán quyết.
Cuộc tranh luận về việc nên hay không nên cho phụ nữ trong tuổi kinh nguyệt được vào đền thờ không chỉ diễn ra trên truyền hình và Quốc hội mà còn trên các phương tiện di chuyển công cộng cũng như trong phòng khách của các gia đình trong Tiểu bang Kerala. Nhiều người phụ nữ không ngừng lập lại rằng rồi đây hình phạt mà bà Kanakadurga phải gánh chịu là bị chồng bỏ. Nhiều người đã chất vấn bà Bindu và Kanakadurga tại sao họ đã liều mạng sống vì quyền của người phụ nữ và tại sao 2 bà đã không dám ngang nhiên sánh bước cùng với các tín đồ khác và nhất là những người chống đối mình để đi vào đền thờ.
Cũng không thiếu người cho rằng 2 người phụ nữ này là công cụ của chính quyền cộng sản trong Tiểu bang Kerala. Người ta đặt vấn đề về động lực hành động của họ. Người ta nghi ngờ về tình trạng sức khỏe tinh thần của họ.
Thật ra, tranh đấu cho người phụ nữ đang trong tuổi kinh nguyệt được quyền đi vào đền thờ không chỉ là đòi sự bình đẳng trong vấn đề tôn giáo. Cuộc tranh đấu chỉ là một trong những khía cạnh của một phong trào rộng lớn hơn nhằm thúc đẩy sự cải tổ xã hội tại Ấn Độ. Trước kia người ta thấy có phong trào tranh đấu cho quyền bình đẳng của những người thuộc giai cấp cùng đinh Dalit. Trong những năm gần đây, người ta bắt đầu đòi hỏi quyền bình đẳng cho người phụ nữ nói chung. Việc tranh đấu cho người phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc đi vào đền thờ tại tại Sabarimala không chỉ mới diễn ra vào đầu năm nay. Năm 2016, tức cách đây 3 năm, đáp trả thỉnh nguyện thư của một nhà tranh đấu cho nữ quyền, Tòa án Tối cao tại Bombay đã chấm dứt một lệnh cấm đã có từ 400 năm qua để cho phép phụ nữ được đi vào đền thờ Shani Shingnapur. Cũng trong năm đó, sau khi các nhà tranh đấu và phụ nữ Hồi Giáo mở một chiến dịch toàn quốc lấy tên là “Quyền Được Cầu Nguyện”, tòa án đã chấm dứt một lệnh cấm đã có từ lâu để cho phép phụ nữ được vào cung thánh của đền thờ Haji Ali Dargah tại thành phố Mumbai. Trên khắp Ấn Độ, phụ nữ đang đẩy lùi các biên giới xuyên qua các phong trào xã hội và nhất là các cuộc tranh đấu về mặt pháp lý.
Hai bà Bindu và Kanakadurga đã đi lẩn tránh vì hành động tiên phong của họ trong việc đòi hỏi bình đẳng trong việc thực hành đạo. Họ không mong gì hơn là được về nhà, trở lại làm việc và chờ đợi nhiều phụ nữ khác cũng sẽ đi theo bước chân của họ. Bà Kanakadurga nói: “Trong một quốc gia dân chủ như Ấn Độ, ý tưởng cho rằng đàn ông và đàn bà không bình đẳng, cho dù chỉ trong một thời gian nào đó, ở những nơi nào đó hay trong tình huống nào đó, là một điều rất nguy hiểm. Các con trai của tôi - tất cả mọi con cái của chúng ta - đang theo dõi sự việc. Tôi cần phải được về nhà. Chúng cần được lắng nghe câu chuyện của tôi”

(theo:Rohini Mohan, Sacred Mission, tạp chí Time, January 21,2019)

Thứ Hai, 21 tháng 1, 2019

2019: lịch sử đang trở lại!



18/01/19
Nhà văn Mỹ đã từng đoạt giải Nobel Văn Chương là ông Eugene Gladstone O’Neill (1888-1953) có để lại một câu nói nổi tiếng: “There is no present or future, only the past happening over and over again” (không có hiện tại hay tương lai, mà chỉ có quá khứ cứ lập đi lập lại không ngừng).
Nếu nhìn vào những gì đang diễn ra trên thế giới trong năm 2019 này, người ta sẽ thấy lời tiên tri của nhà văn O’Neill đang trở thành hiện thực.
Bóng ma của những cuộc chiến tranh khủng khiếp trong quá khứ như đang nhập thể trở lại. Hãy nhìn vào mối đe dọa của Bắc Hàn. Quốc gia Cộng sản này hiện đang có trong tay một kho vũ khí hạt nhân đủ để nhận chìm một phần thế giới vào biển lửa. Hỏa tiễn của nước này có đủ khả năng để bay tới Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi. Sau cuộc họp thượng đỉnh giữa Chủ tịch Bắc Hàn Kim Jong-un và Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, một cuộc gặp gỡ vốn được 2 bên rêu rao như một biến cố lịch sử chưa từng có, Bắc Hàn không những giữ nguyên kho vũ khí hạt nhân của mình, mà còn tiếp tục phát triển những vũ khí mới kèm theo những lời đe dọa đáng sợ hơn.
Nhưng có lẽ mối đe dọa của quốc gia cộng sản côn đồ Bắc Hàn vẫn không đáng sợ cho bằng cuộc chạy đua vũ trang hiện nay của hai siêu cường nguyên tử là Nga và Hoa Kỳ: một cuộc chiến tranh lạnh mới đã thực sự bắt đầu!
Thế giới đang bị đe dọa không chỉ vì cuộc chiến tranh lạnh mới giữa Nga và Mỹ hay kho vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn. Tình hình thế giới cũng bấp bênh không kém vì mối căng thẳng giữa một số nước đang có vũ khí hạt nhân ở Á Châu. Năm 2017 vừa qua, hai nước cựu thù là Ấn Độ và Trung Cộng, 2 quốc gia có đông dân số nhất thế giới, đã từng lăm le tấn công nhau vì xích mích tại một biên giới ở Bhutan. Không riêng với Trung Cộng, mối quan hệ của Ấn Độ và Pakistan, một quốc gia láng giềng hiện cũng đang có trong tay vũ khí hạt nhân, cũng căng thẳng không kém.
Tại Trung Đông, cuộc chiến ở Syria vẫn đang tiếp diễn. Viễn ảnh hòa bình xem ra ngày càng mờ mịt. Các trại tỵ nạn đã không còn chỗ để chứa người di tản. Cũng như người Việt Nam đã trốn chạy chế độ cộng sản sau năm 1975, người dân Syria cũng liều mạng trèo lên những chiếc thuyền mong manh để vượt biển khơi với hy vọng tìm được an toàn ở bất cứ bến bờ nào họ trôi dạt tới.
Cuộc xung đột tại Syria ngày càng tồi tệ, nhưng cuộc chiến tại Yemen lại càng thê thảm hơn. Bị xâu xé giữa hai cường quốc Hồi giáo là Iran và Á Rập Saudi, Yemen đã biến thành một bãi chiến trường dẫn đến một cuộc khủng hoảng nhân đạo chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, trong 3 năm vừa qua, đã có khoảng 85.000 trẻ em dưới 5 tuổi bị chết đói! Hình ảnh của những đứa trẻ chỉ còn da bọc xương không thể không gợi lại nạn đói khủng khiếp tại Ethiopia hồi thập niên 1980. Ngày đó, cả thế giới đã rúng động trước những hình ảnh khủng khiếp của nạn đói. Các ca sĩ thượng thặng của thế giới đã góp giọng để kêu gào và đánh động trái tim của nhân loại. Các chính phủ đã bắt tay nhau và quyết tâm không để cho một thảm kịch như thế tiếp diễn.
Nhưng lịch sử cứ lập lại một cách tàn nhẫn. Ngay lúc này đây, Liên Hiệp Quốc khẳng định rằng Yemen hiện đang phải đối diện với thảm họa nhân đạo lớn nhất của Thế kỷ 21: 14 triệu người đang có nguy cơ chết đói!
Bên cạnh nạn đói do chiến tranh tạo ra, thế giới lại còn phải đương đầu với một cuộc chiến khác dường như không bao giờ kết thúc là cuộc chiến chống khủng bố. Đã hơn 18 năm kể từ cuộc khủng bố tại Hoa Kỳ ngày 11 tháng Chín năm 2001, nay cuộc chiến chống khủng bố như chỉ mới bắt đầu. Chẳng còn nơi nào trên thế giới này được xem là an toàn. Từ London, Brussels, Paris...đến Nairobi ở Phi Châu, Jakarta ở Nam Dương và Sydney ở Úc Đại Lợi,  nơi nào cũng đều có thể là điểm nhắm của các tổ chức khủng bố.
Không bị khủng bố trực tiếp đe dọa, nhưng Ukraine cũng không ở yên trước sự đe dọa trắng trợn của Nga. Thế giới tự do đã tỏ ra hoàn toàn bất lực trước những hành động ngang tàng và bạo ngược của Nga.
Đệ nhứt Thế chiến đã chấm dứt cách đây vừa đúng 100 năm và Đệ nhị Thế chiến cũng đã kết thúc hơn 70 năm qua. Nếu tính từ Đệ nhị Thế chiến đến nay, mặc dù có chiến tranh lạnh và cuộc chiến đẫm máu có diễn ra tại một vài nơi trên thế giới,  nhưng có lẽ chưa bao giờ nhân loại hưởng được một nền hòa bình lâu dài như thế. Nhưng nay dường như lịch sử đang trở lại. Bóng dáng của chiến tranh đang lấp ló ở đâu đó.
Với cuộc chạy đua vũ trang hiện nay, Hoa Kỳ và Nga đang đi vào một cuộc chiến tranh lạnh mới. Nhưng nỗi lo sợ lớn nhất hiện nay vẫn là một cuộc chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào giữa hai siêu cường kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ và Trung Cộng. Bất cứ một cuộc đụng độ nào giữa 2 siêu cường này cũng đều là một đại họa cho toàn thế giới. Mặc dù hai bên đều tuyên bố sẽ bằng mọi cách tránh chiến tranh, nhưng trong thực tế hiện nay cả hai bên đều chuẩn bị tư thế sẵn sàng ứng chiến.
Hồi năm 2015, tổ chức phi lợi nhuận “The Rand Corporation”, chuyên nghiên cứu về chiến lược toàn cầu, đã gởi cho Quân đội Mỹ một bản phúc trình có tựa đề “War with China. Thinking Through the Unthinkable” (Chiến tranh với Trung Cộng. Suy nghĩ về điều không thể ngờ được). Bản phúc trình kết luận rằng nếu chiến tranh xảy ra chắc chắn Trung Cộng sẽ chịu nhiều thiệt hại hơn Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bản phúc trình lại cảnh cáo rằng với sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng và cải tiến, Trung Cộng có thể tạo ra một cuộc chiến hủy hoại lâu dài.
Ngày nay, ai cũng nhận thấy rằng nếu chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng có xảy ra thì bãi chiến trường chính chỉ có thể là Biển Đông.
Kể từ năm 1974 đến nay, sau khi đã ngang nhiên chiếm lấy Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Cộng áp đặt chủ quyền của mình lên toàn bộ Biển Đông và xem đây như ao nhà của mình. Nhiều đảo trong vùng biển này, vốn trước đây đã từng là vùng tranh chấp giữa nhiều nước Đông Nam Á, nay đã bị Trung Cộng quân sự hóa. Nhiều phi đạo dành cho Không lực của Trung Cộng đã được thiết lập. Các loa phóng thanh được bắt dày đặc trên các đảo này lúc nào cũng phóng ra những lời cảnh cáo đối với các tàu bè nước ngoài nào đi gần những hòn đảo đã được quân sự hóa ấy.
Trong năm 2018 vừa qua, đã có lúc thế giới gần như đứng tim khi tàu chiến của Hoa Kỳ và Trung Cộng tiến đến tư thế gần như muốn đụng độ nhau trên Biển Đông.
Trung Cộng hiện đang củng cố sức mạnh quân sự của họ. Ngân sách dành cho quốc phòng của Trung Cộng đứng hàng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Hoa Kỳ. Hiện quốc gia cộng sản khổng lồ này đang phát triển phi cơ chiến đấu có khả năng tấn công các tiềm thủy đĩnh và  hỏa tiễn liên lục địa. Trung Cộng cũng đang cho thiết lập điều mà họ gọi là “Vạn lý Trường thành dưới biển”.
Chuyên gia phân tách lão thành của Học viên Chính sách Chiến lược của Úc là ông Malcolm Davis khẳng định rằng với những tiến bộ khoa học và kỹ thuật hiện nay, Trung Cộng “khiến cho quân lực của Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn mỗi khi muốn can thiệp vào một cuộc khủng hoảng trong Biển Đông”.
Chuyên gia này cảnh cáo rằng về khả năng quân sự, Trung Cộng có thể “cỡi lên lưng Hoa Kỳ”. Hoa Kỳ đã nhận ra mối đe dọa ấy. Năm ngoái, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã cập nhật chiến lược quốc phòng và nêu đích danh Trung Cộng và Nga là hai mối đe dọa lớn nhất cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Bộ Quốc Phòng Mỹ khẳng định: “Ngày càng có nhiều dấu hiệu rõ ràng cho thấy Trung Cộng và Nga muốn hình thành một thế giới phù hợp với mô hình độc tài của họ”. Với chiến lược mới, Bộ Quốc Phòng Mỹ kêu gọi thay vì chú tâm vào cuộc chiến chống khủng bố, hãy dồn mọi nỗ lực vào việc đối đầu với mối đe dọa của Trung Cộng và Nga. Tướng Jim Mattis, người vừa đệ đơn từ chức Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, đã từng kêu gọi phải “cấp tốc thay đổi” chiến lược để sẵn sàng ứng chiến.
Chủ tịch Tập Cận Bình đang cai trị Trung Cộng chẳng khác nào một hoàng đế. Sau Mao Trạch Đông, họ Tập được xem là người quyền thế nhất tại Trung Cộng. Thật ra, Tập Cận Bình còn tỏ ra nhiều quyền lực hơn cả Mao Trạch Đông, bởi vì ông hiện đang lãnh đạo một quốc gia, theo một số thước đo nào đó, có thể là nền kinh tế mạnh nhất thế giới.
Là con của một đảng viên Cộng sản, họ Tập luôn đặt Đảng lên trên mọi sự. Ông đàn áp mọi nhà bất đồng chính kiến, giam tù các đối thủ chính trị, bịt miệng mọi cơ quan truyền thông và các nhà tranh đấu cũng như tìm cách tiêu diệt sắc tộc Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương.
Năm vừa qua, với lời hứa hẹn sẽ hoàn thành “Giấc mơ Trung hoa”,  ông đã tự phong cho mình làm chủ tịch mãn đời. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ chưa có nhà độc tài nào đáng sợ cho bằng Tập Cận Bình.
Nhìn vào các diễn tiến trên thế giới hiện nay, có lẽ cũng như nhà văn Eugene O’Neill, các sử gia đều cho rằng quá khứ đang trở lại.
Vào năm 1914, có ai nghĩ rằng Đệ nhứt Thế chiến sẽ xảy ra. Đức và Anh đang là những đối tác thương mại quan trọng. Quốc vương Anh và Thủ tướng Đức là anh em cô cậu hay chú bác với nhau. Có ai ngờ rằng chiến tranh sẽ xảy ra. Nhìn lại Đệ nhứt Thế chiến, sử gia Úc Sir Christopher Clarke đã gọi các lãnh tụ của thời đó là “Những Kẻ Mộng Du”. Chỉ vì cái chết của một hoàng tử kế vị trên ngai vàng Áo-Hung mà “cuộc chiến để chấm dứt mọi cuộc chiến” đã bùng nổ, sát hại cả 50 triệu người trên thế giới.
Ngày nay, với tham vọng không đáy của một Tập Cận Bình, với sự hung hãn của một Putin, với thái độ côn đồ của một Kim Jong-un và dĩ nhiên với sự bốc đồng và không lường trước được của một Donald Trump, chuyện gì cũng có thể xảy ra cho thế giới. Biển Đông hiện đang là nơi dậy sóng với một bên là Trung Cộng và bên kia là Hoa Kỳ, các nước còn lại bị buộc phải theo bên này hay bên kia.
Kịch bản cho cục diện thế giới có lẽ đã được kịch tác gia Hy Lạp Thucydides viết ra năm 400  trước Công nguyên. Đây là thời điểm xảy ra cuộc chiến giữa Athens và Sparta. Ngày nay rất nhiều nhà chiến lược quân sự cảnh cáo về điều mà họ gọi là “Chiếc Bẫy sập của Thucydides”: một cường quốc đang lên muốn đối đầu với sức mạnh của một cường quốc đang đi xuống và sẵn sàng gây chiến để làm bá chủ. Sự vươn lên của một Athens đã tạo ra nỗi lo sợ cho Sparta. Và đó chính là điều khiến cho chiến tranh không thể tránh được.
Năm 1989, tức cách đây 30 năm, khi chứng kiến sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại Đông Âu và kế đó là sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại cái nôi của nó là Nga, một nhà chính trị học Mỹ nổi tiếng là ông Francis Fukuyama đã viết một cuốn sách với tựa đề “The End of History and the Last Man” (Lịch sử đã kết thúc và Người cuối cùng). Trong tác phẩm, ông Fukuyama biện luận rằng các chế độ độc tài đã bị đánh bại, nền dân chủ tự do, chủ nghĩa tự bản và kinh tế thị trường là điểm đến tất yếu trong sự tiến hóa văn hóa xã hội của nhân loại. Theo ông, “Lịch sử đã kết thúc”, “chiến tranh” sẽ chỉ còn là một phạm trù của quá khứ.
Nhưng liệu những gì đang diễn ra trong năm 2019 có cho phép thế giới chia sẻ niềm lạc quan của ông Fukuyama không? Phải chăng lịch sử đã không kết thúc, mà đang trở lại với bộ mặt còn đẫm máu hơn?

(Theo:https://www.abc.net.au/news/2019-01-01/stan-grant-2019-the-end-of-history/10675572)




Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

Giáng Sinh và cuộc chiến chống Giáng Sinh


21/12/18
Tổng thống Mỹ Donald Trump lúc nào cũng tự hào rằng ông là người “tái lập” Lễ Giáng Sinh. Trong suốt tháng Mười Hai năm vừa qua, ông đã lợi dụng mọi cơ hội để xuất hiện trước một Cây Giáng Sinh. Lúc nào ông cũng hứa với những người ủng hộ ông rằng Hoa Kỳ sẽ lập lại câu chào chúc “Merry Christmas” (Chúc mừng Giáng Sinh) thay vì câu vô nghĩa “ happy holidays” (chúc những ngày vui) mà nhiều người dùng để chống lại Lễ Giáng Sinh.
Đàng sau những lời tuyên bố và hứa hẹn trên đây, Tổng thống Trump có ý chỉ trích người tiền nhiệm của ông là ông Barack Obama, người mà ông cho là không mấy mặn mà với truyền thống Giáng Sinh của dân tộc Mỹ. Thật ra, dưới thời Tổng thống Obama, năm nào mà Tòa Bạch Ốc không trưng bày cảnh Giáng Sinh và tổ chức một bữa tiệc mừng Giáng Sinh.
Năm nào cũng vậy, cứ tới tháng Mười Hai thì người ta lại nói đến “cuộc chiến” về Giáng Sinh tại Mỹ. Nói cho cùng, có khác biệt trong lời chào chúc hay cách mừng lễ, nhưng truyền thống Giáng Sinh thì lúc nào cũng cắm rễ sâu trong văn hòa Mỹ. “Cuộc chiến” chống Giáng Sinh thật sự chỉ diễn ra ở những nước chính thức tuyên bố nghiêm cấm mọi cử hành trong ngày lễ này mà thôi. Hiện nay trên thế giới vẫn còn có một số quốc gia trong đó mừng lễ Giáng Sinh có thể bị xem là một hành động liều lĩnh.
Vương quốc Á rập Saudi là một trong những nước nghiêm cấm việc cử hành lễ Giáng Sinh. Là một quốc gia theo thần quyền Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni, Á rập Saudi nghiêm cấm việc cử hành lễ Giáng Sinh. Vương quốc này cũng cấm cả việc mừng sinh nhật của Tiên tri Mahomet. Chính phủ nước này cho rằng những cuộc cử hành như thế là một phát minh hoàn toàn đi ngược lại với tôn giáo. Riêng với lễ Giáng sinh, Chính phủ Á rập Saudi cấm cử hành Giáng Sinh trong trường học, bệnh viện, ngay cả những nơi có các tín hữu Kitô.
Mecca và Medina là hai địa danh linh thiêng nhất của Hồi Giáo. Cả hai đều nằm trong lãnh thổ của Á Rập Saudi. Là những người quản thủ 2 linh địa này, Hoàng gia Á rập Saudi đã ra lệnh không cho bất cứ một tổ chức tôn giáo nào ngoài Hồi giáo được xây cất nơi thờ phượng trên lãnh thổ của vương quốc.
Dĩ nhiên, không phải ai sống ở Á rập Saudi cũng đều là người Hồi giáo. Hiện đang có hàng trăm ngàn người ngoại quốc đang sinh sống trong vương quốc này. Họ là những người đang dạy học trong các đại học, làm việc trong các công ty hoặc kỹ nghệ dầu hỏa. Ngoài ra còn có các ngoại giao đoàn của các nước và hàng ngàn người công giáo Phi Luật Tân  đang làm nhân viên, công nhân hoặc người giúp việc trong các gia đình người Á rập. Đó là chưa kể đến các quân nhân Mỹ đang trú đóng trong các căn cứ quân sự tại Á Rập Saudi. Tuy nhiên, ngay cả trong các căn cứ quân sự, các tuyên úy quân đội cũng không được phép dành riêng một phòng hay dựng lên một túp lều để làm một nơi thờ phượng.
Không những cấm xây cất nơi thờ phượng, cấm cử hành lễ Giáng Sinh, Vương quốc Á rập Saudi còn cấm cả việc chúc mừng Giáng Sinh. Trong một thông cáo được cho phổ biến trên  cơ quan ngôn luận của chính phủ là tờ Arab News (Tin tức Á Rập), chính phủ nước này lập lại khuyến cáo theo đó người Hồi giáo không được phép chúc mừng lễ Giáng Sinh, bởi vì chúc mừng Giáng Sinh, tức mừng sinh nhật của Con Thiên Chúa...có nghĩa là chấp nhận và quảng bá cho niềm tin Kitô Giáo.
Bên cạnh Á rập Saudi, Bắc Hàn cũng được kể vào danh sách những nước rất thù nghịch với Kitô Giáo và cách riêng với lễ Giáng Sinh. Bắc Hàn thù nghịch với lễ Giáng Sinh đến độ đã có lần đe dọa tấn công Nam Hàn bằng vũ khí nguyên tử vì Cây Giáng Sinh. Số là năm 2014, chính phủ Nam Hàn cho phép một tổ chức Kitô Giáo được dựng lên một Cây Giáng Sinh gần biên giới 2 nước. Bắc Hàn gọi đây là một thứ vũ khí chiến tranh tâm lý và đe dọa sẽ cho pháo kích vào biểu tượng này. Theo các cơ quan truyền thông của nhà nước Bắc Hàn, Cây Giáng Sinh cao như một ngọn tháp cháy sáng này không phải là một biểu tượng tôn giáo mà là một chỉ dấu qua đó Nam Hàn muốn gia tăng các mối căng thẳng giữa 2 nước.
Cuối cùng, Nam Hàn đành nhượng bộ và cho tháo gỡ Cây Giáng Sinh xuống.
Sau Á rập Saudi và Bắc Hàn, Vương quốc Hồi giáo Brunei tại Đông Nam Á cũng là nước nghiêm cấm các cuộc cử hành lễ Giáng Sinh. Quốc vương Hassanal Bolkiah của Brunei đã cảnh cáo thần dân của ông rằng bất cứ ai cử hành lễ Giáng Sinh cũng đều có thể bị phạt 5 năm tù.
Những người ngoài Hồi giáo tại Brunei được phép cử hành lễ Giáng Sinh, nhưng chỉ trong các cộng đồng của họ mà thôi. Họ không đươc phép chia sẻ chương trình cử hành của mình với những người dân Hồi giáo vốn chiếm 65 phần trăm dân số chưa đầy 500 ngàn người.
Bộ Tôn Giáo của Brunei giải thích rằng sở dĩ có những biện pháp hạn chế việc công khai cử hành lễ Giáng Sinh là vì lễ này có thể gây xáo trộn và thiệt hại cho niềm tin của người Hồi giáo.
Ngoài Á Rập Saudi, Bắc Hàn và Brunei, hiện cũng có một số nước không cho phép cử hành lễ Giáng Sinh. Tại Somalia chẳng hạn, chính phủ cho rằng các cuộc lễ như thế có thể đe dọa cho niềm tin Hồi giáo của dân tộc. Một viên chức của Bộ Tôn Giáo nói rằng mừng lễ Giáng Sinh là điều không phù hợp với Hồi giáo. Các lực lượng an ninh được chỉ thị phải túc trực để chận đứng mọi cuộc tập trung để cử hành lễ Giáng Sinh. Chính phủ Somalia cho phép người ngoại quốc được mừng lễ trong nhà riêng của họ, nhưng trong các khách sạn và những nơi công cộng, mọi cử hành đều bị nghiêm cấm. Các cuộc cử hành chỉ được phép tổ chức trong các cơ quan của Liên Hiệp Quốc và các căn cứ của Liên minh Phi Châu gìn giữ hòa bình. Đây là những lực lượng yểm trợ chính phủ Somalia trong cuộc chiến chống lại các chi nhánh của tổ chức khủng bố Al-Qaeda tại Somalia. Chính phủ Somalia giải thích rằng sở dĩ có biện pháp cấm cử hành lễ Giáng Sinh là để tránh cho các tổ chức khủng bố có cớ để tấn công.
Cùng với Somalia, Cộng hòa Tajistan cũng là một trong nước cấm mừng lễ Giáng Sinh. Cách đây vài năm, chính phủ nước này cấm không cho trưng bày biểu tượng của lễ Giáng Sinh là Ông già Noel. Gần đây, đi thêm một bước nữa, nước này cũng cấm luôn cả việc dựng Cây Giáng Sinh và trao quà trong các trường học. Ngoài ra, Bộ giáo dục nước này cũng ra thông cáo không cho phép đốt pháo, tổ chức các bữa tiệc mừng, trao quà và quyên tiền trong dịp Tết Dương Lịch.
Trong quá khứ, hầu như chế độ cộng sản nào, nếu không cấm thì cũng tìm cách hạn chế việc mừng lễ Giáng Sinh. Tại Trung Cộng, kể từ khi Đảng Cộng Sản cướp chính quyền vào năm 1949, việc cử hành lễ Giáng Sinh luôn bị hạn chế. Lễ Giáng Sinh vẫn tiếp tục là một vấn đề gây tranh cãi tại quốc gia cộng sản khổng lồ này.
Người dân Trung Hoa tại Trung Cộng mừng lễ Giáng Sinh bằng nhiều cách, nhưng rõ nét hơn cả vẫn là xuyên qua các quảng cáo thương mại. Không ở đâu Giáng Sinh được cử hành tưng bừng cho bằng trong các trung tâm thương mại và các tiệm ăn trong những thành phố lớn.
Tuy nhiên, gần đây chính phủ cộng sản đã tỏ dấu muốn hạn chế việc cử hành lễ này trong các trường học. Một viên chức giáo dục của tỉnh Chiết Giang nói với Hoàn cầu Thời báo rằng đây là một biện pháp để giảm bớt ảnh hưởng của văn hóa Tây Phương tại Trung Cộng. Viên chức này giải thích rằng Chính phủ Trung Cộng không bãi bỏ các cuộc lễ của Tây Phương, nhưng muốn cho các trường học giữ được sự quân bình: sinh viên học sinh có thể học biết các cuộc lễ của Tây Phương như không nên chạy theo các cuộc lễ ấy.
Trong quá khứ, có lẽ không có quốc gia cộng sản nào tỏ ra triệt để trong việc chống lại Kitô Giáo cho bằng Albania. Albania đã từng là quốc gia đầu tiên lấy chủ nghĩa vô thần làm quốc giáo. Do đó trong Hiến pháp năm 1967, nước này đã tuyên bố loại trừ Kitô Giáo và như vậy cũng nghiêm cấm việc cử hành lễ Giáng Sinh. Hiến Pháp của quốc gia cộng sản này qui định rằng bất cứ ai “tuyên truyền, sản xuất, phát tán hay tồn trữ văn chương tôn giáo (Kitô Giáo)” sẽ bị phạt tù từ 3 đến 10 năm.
Chỉ kể từ năm 1990, khi chế độ cộng sản tại Albania sụp đổ, người dân mới được phép tham dự và cử hành lễ Giáng Sinh.
Tại Cuba, kể từ khi Chủ tịch Fidel Castro thực hiện cuộc cách mạng vô sản và lên cầm quyền từ năm 1959, bất cứ một hình thức cử hành Giáng Sinh nào cũng bị nghiêm cấm. Trong một đất nước mà tuyệt đại đa số theo Kitô Giáo, Giáng Sinh không còn là một ngày nghỉ lễ nghỉ, người dân bị buộc phải ra đồng làm việc. Nhưng kể từ ngày 20 tháng Mười Hai năm 1998, sau chuyến viếng thăm lịch sử của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, Chủ tịch Castro mới chịu bãi bỏ lệnh cấm mừng lễ Giáng Sinh.
Cũng giống như đàn anh Trung Cộng, Việt Nam cũng đã từng tìm cách hạn chế việc mừng lễ Giáng Sinh, nhất là trước khi mở cửa để chạy theo kinh tế thị trường. Thời đó, Giáng Sinh không những không phải là ngày lễ nghỉ, mà học sinh thường phải đến trường để thi học kỳ. Dù vậy, chế độ cộng sản cũng không ngăn cản được người dân mừng lễ. Dù không phải là tín hữu Kitô, nhiều người vẫn thích đến các nhà thờ để tham dự thánh lễ trong Đêm Giáng Sinh hoặc tuốn ra các ngã đường để ăn mừng theo cách thế của họ. Ngoài ra, trong quốc gia cộng sản này, thương mại cũng đã góp phần không ít trong việc quảng bá các biểu tượng của lễ Giáng Sinh.
Nhật Bản là một trường hợp lạ thường. Việc mừng lễ Giáng Sinh không bị ngăn cấm tại Nhật Bản. Kitô Giáo chiếm không tới một phần trăm dân số nước này do đó người Nhật không thực sự cảm thấy có nhu cầu phải mừng lễ Giáng Sinh và chính phủ cũng không màng đến chuyện có nên tuyên bố Giáng Sinh là một ngày lễ nghỉ hay không. Phải đi làm trong ngày Giáng Sinh là điều mà có lẽ chẳng có người Nhật nào phải tỏ ra ngạc nhiên cả.
Đức Quốc là một nước có đông dân số theo Kitô Giáo. Mừng lễ Giáng Sinh phải là điều xem ra đương nhiên đối với người dân Đức. Tuy nhiên tại một số thành phố, như Solingen và Bá Linh chẳng hạn, người dân xem ra thờ ơ với ngày lễ này. Tại những thành phố này, bởi vì Giáng Sinh là một lễ tôn giáo và bởi vì đảng đang cầm quyền tại những thành phố này là Đảng Xanh, một đảng tự nhận là thế tục, cho nên người dân cho rằng không nên mừng lễ Giáng Sinh ở những nơi công cộng.
Điều đáng suy nghĩ là trong quá khứ một số nước Kitô Giáo lại cấm mừng Giáng Sinh. Như trường hợp của Anh Quốc vào giữa thập niên 1600. Thủ tướng Anh lúc bấy giờ là Oliver Cromwell, một tín đồ của giáo phái Thanh Giáo. Giáo phái này có chủ trương thanh luyện Giáo hội Anh khỏi những thực hành của Giáo hội Công Giáo. Ông thủ tướng này không ngăn cấm việc cử hành Lễ Giáng Sinh xét như là việc kỷ niệm sinh nhật của Chúa Giêsu. Ông chỉ chống lại việc dân chúng Anh tiệc tùng, ăn uống quá độ trong ngày lễ mà thôi.
Tại Hoa Kỳ, do ảnh hưởng của Thanh Giáo, cũng vào giữa thập niên 1600, một số tiểu bang ban hành lệnh phạt những ai bị bắt quả tang mừng Lễ Giáng Sinh. Dĩ nhiên, chỉ một thời gian ngắn sau đó, lệnh này đã bị bãi bỏ. Nhưng riêng tại Tiểu bang Massachusetts, phải gần 200 năm sau, nghĩa là năm 1869, người dân mới thực sự được tự do ăn mừng và tiệc tùng trong lễ Giáng Sinh.
Thực ra, “Merry Christmas” hay “Happy Holidays” cũng đều nói lên cốt lõi của lễ Giáng Sinh: đây là thời gian mà người ta nghĩ đến nhau và mong muốn chia sẻ và mang những điều tốt đẹp đến cho nhau.




Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018

Khí hậu Thay đổi: chuẩn bị đối phó với Đại nạn Hồng thủy!




14/12/18
Cách đây vài tuần, Ioane Teitiota, một cư dân của đảo quốc Kiribati, một quốc gia nhỏ bé trong Thái Bình Dương, đã cùng với 6 người đàn ông khác leo lên một chiếc thuyền đánh cá để đi thăm bà con của họ tại 3 ngôi làng có tên là “London”, “Paris” và “Ba Lan”. Phải mất 8 ngày nhóm ngư phủ này mới đến nơi. Nhưng khi đến nơi, họ mới biết 3 ngôi làng này đã hoàn toàn trống vắng.
Nằm trong rặng san hô ở phía đông Kiribati, 3 ngôi làng được nhà thám hiểm James Cook đặt tên theo 2 thành phố và một quốc gia nổi tiếng ở Âu Châu hiện đã ngập nước đến một nửa. Mặc dù đã cố gắng trồng cây đước cũng như dùng đá và xi măng để dựng lên một bức tường ngăn nước, nhưng cả 3 ngôi làng trên đây vẫn không tránh khỏi tình trạng ngập lụt ngày càng thêm trầm trọng. Dân làng đành bỏ mặc nhà cửa, đất đai và ruộng vườn của họ cho đại dương.
Kiribati là một đảo quốc nhỏ với dân số chỉ có vỏn vẹn 110.000 người sống rải rác trên các rặng san hô và một hòn đảo chính. Nhìn trên bản đồ, Kiribati chỉ là những chấm nhỏ li ti trong một đại dương rộng lớn bằng diện tích của cả nước Ấn Độ. Đây là một đất nước không có núi: độ cao trung bình cách mặt nước biển không quá 2 thước!
Cách chiếc thuyền đánh cá của ông Teitiota 14.000 cây số, ở bên kia thế giới là London, Paris và Ba Lan. Hai thành phố lớn và quốc gia Âu Châu này đều tọa lạc ở một độ cao cách mặt nước biển tương đối an toàn. Đây là một thế giới hoàn toàn khác biệt. Tuy nhiên, dù ở Kiribati, London, Paris hay Ba Lan...ở đâu con người cũng được nối kết với nhau bằng biển. Biển là một và nước biển ở đâu cũng giống nhau. Giống nhau hơn nữa là bởi vì khắp nơi trên mặt địa cầu, hiện mức nước biển đang dâng lên. Không ai biết được mức nước biển sẽ dâng lên bao nhiêu. Nhưng có một điều chắc chắn là: dù ở đâu, ai cũng biết rằng mực nước biển đang dâng lên và sẽ từ từ dâng lên cao hơn!
Hôm thứ Hai mùng Ba tháng Mười Hai vừa qua, đại diện của hầu hết các nước trên thế giới đã tụ họp về Katowice, Ba Lan, để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh về Khí hậu Thay đổi do Liên Hiệp Quốc tổ chức. Mục đích của Hội nghị là để duyệt xét việc thi hành Thỏa Hiệp Paris mà các nước đã ký kết cách đây 3 năm. Điều đáng chú ý là Hội nghị đã diễn ra sau một mùa hè bị nhận chìm trong hỏa hoạn và bão lụt chưa từng thấy.
Cách đây 3 năm, tại Paris, cộng đồng thế giới đã thỏa thuận sẽ làm cho nhiệt độ trái đất giảm bớt 2 độ C như đã từng có trước cuộc cách mạng kỹ nghệ. Quả thật, hiện tượng trái đất ngày càng hâm nóng khiến cho các tảng băng tan rã và làm cho mực nước biển dâng lên là một thực tế không thể chối cãi được.
Dĩ nhiên có lẽ phải mất cả ngàn năm các tảng băng trên mặt đất mới hoàn toàn tan rã hoặc cũng có thể chúng sẽ không bao giờ biến mất khỏi mặt đất. Nhưng không thể phủ nhận sự kiện trái đất ngày càng hâm nóng và các tảng băng ngày càng tan rã.
Hiện tượng này diễn ra theo đúng các định luật vật lý: nước giãn nở khi nó bị hâm nóng. Kể từ cuộc cách mạng kỹ nghệ, trái đất đã nóng thêm khoảng một độ C. Trong những thập niên vừa qua, mức độ hâm nóng ngày càng gia tăng. Theo các tính toán của Cơ quan Không gian NASA của Hoa Kỳ, nếu cộng đồng thế giới có biện pháp tức khắc để giảm bớt khí thải nhà kính, trái đất sẽ hâm nóng thêm 1.5 độ C vào giữa thế kỷ 21 này. Nếu  nhiệt độ trái đất tăng thêm 3 độ C nữa thì mực nước biển có thể sẽ dâng lên đến 5 thước. Lúc đó, không riêng gì đảo quốc Kiribati nhỏ bé, mà tất cả mọi thành phố nằm dọc theo duyên hải các nước sẽ rơi vào nguy cơ bị ngập lụt. Nói cho cùng, trái đất là một, biển là một và tất cả mọi người đều đồng hội đồng thuyền theo đúng nghĩa!
Đảo quốc Kiribati đã từng là một thiên đàng. Nhưng ông Teitota vừa hì hục khiêng đá và cát để đấp tường xung quanh nhà, vừa trách biển như thể biển đang nổi giận. Ông nói: “Biển bắt chúng tôi phải nhịn ăn, nhịn khát và cuối cùng thì phải chết đuối”.
Ông cho biết vườn tược của ông đã bị nhiễm mặn. Nguồn nước uống cũng bị ô nhiễm và dĩ nhiên bao nhiêu bệnh tật vì truyền nhiễm cũng ùa tới. Ông chỉ tay về cái giếng phía sau nhà. Từ nhiều năm nay, giếng chỉ còn toàn là nước mặn. Rừng dừa được trồng dọc theo bờ biển, trước kia là nguồn lợi chính của gia đình, nay chỉ còn lại những tàu lá xơ xác và khô đét. Có lẽ cũng như nhiều người dân Karibati, ông Teitota không biết tại sao mực nước biển ngày càng lên cao và đe dọa nhà cửa, ruộng vườn và mạng sống của ông.
Nhưng các nhà khoa học thì biêt rõ nguyên nhân. Viện Nghiên cứu về Ảnh hưởng của Khí hậu ở Potsdam của Đức quốc (The Potsdam Institute for Climate Impact Research viết tắt PIK) là một trong những trung tâm nghiên cứu về Khí hậu Thay đổi hàng đầu của thế giới. Kể từ năm 1992, các nhà nghiên cứu tại Viện Potsdam đã từng cảnh cáo về những hậu quả của hiện tượng trái đất hâm nóng. Họ đã cảnh cáo Chính phủ Đức và gởi đến Ủy Ban Âu Châu và nhiều chính phủ khác những kết quả nghiên cứu của họ.
Tiếng nói của các nhà nghiên cứu của Viện Potsdam và nhiều nhà nghiên cứu khác trên khắp thế giới nay đã được lắng nghe. Hiện nay mỗi buổi sáng có khoảng 200 nhà nghiên cứu về khí hậu của Đức, hầu hết đều sử dụng xe đạp như phương tiện di chuyển, đến các trung tâm nghiên cứu của họ để làm việc hầu không những đưa ra những lời cảnh báo, mà còn gợi lên các giải pháp.
Những nước giàu có như Đức hay Hòa Lan có lẽ không gặp nhiều khó khăn trong việc đối phó với mực nước biển đang lên cao. Nhưng đối với những nước nghèo thì đây là cả một đại nạn. Bangladesh là một trong những nước nghèo ấy. Đây là đất nước mà diện tích không bằng một nửa của Đức, nhưng dân số lại đông gấp hai lần. Hai phần ba lãnh thổ của Bangladesh lại chỉ nằm cách mặt nước biển vài thước và phần lớn dân số lại sống dọc theo các vùng duyên hải.
Tại Thủ đô Dhaka, nhiều vùng không những không có hệ thống thoát nước mà các ống cống cũng nghẹt vì rác rưởi và các bao nhựa. Thành phố ngày càng bị lún sâu.
Mỗi năm, khi mùa mưa trở lại, một phần tư Bangladesh chìm ngập trong nước. Nếu ở một nơi nào đó có vỡ đê thì các làng mạc bị nhận chìm trong nước có khi vài năm. Đội sách vở trên đầu, lội nước sâu đến ngực để đến trường  là chuyện bình thường đối với học sinh Bangladesh.
Lũ lụt có thể mang cá về cho dân đánh cá. Lũ lụt cũng kéo phù sa về làm cho đất đai thêm mầu mỡ. Tuy nhiên bên cạnh đó lũ lụt lại làm sập cầu cống và nhà cửa cũng như nhận chìm trong nước bao nhiêu con người và thú vật. Chu kỳ và cường độ của lũ lụt tại Bangladesh lại ngày càng gia tăng. Hồi năm ngoái, đã có khoảng 150 người bị thiệt mạng vì mưa bão, hàng triệu người phải chịu bao nhiêu hệ quả của lũ lụt.
Khi mặt nước biển dâng cao, nhiều vùng có thể bị nhận chìm trong nước trong hàng 30 năm. Nông nghiệp thất thu, thực phẩm ngày càng khan hiếm khiến hàng triệu triệu người phải rời bỏ quê hương của họ.
Tại Thủ đô Dhaka hiện có Trung tâm Quốc tế về Khí hậu Thay đổi và Phát triển. Cơ quan này đã bắt đầu cố vấn cho các nông dân Bangladesh nuôi vịt thay vì nuôi gà, nuôi cá thay vì trồng lúa và trữ nước mưa bởi vì nguồn nước ngọt ngày càng trở nên quý hiếm. Cách đây vài năm, các nhà nghiên cứu cũng đã bắt đầu phát triển một loại lúa có thể sống trong nước mặn.
Trong vài năm vừa qua, Bangladesh đã xây cất được hơn 2000 trung tâm tạm trú dọc theo hàng ngàn cây số bờ đê. Người ta cũng đã thiết kế được những ngôi vườn nổi, bệnh viện nổi và nhà sàn. Tại nhiều vùng, người dân Bangladesh đã bắt đầu tập sống với lũ và dĩ nhiên với mực nước biển ngày càng cao.
Mực nước biển ngày càng dâng cao là bởi vì các tảng băng ở hai đầu trái đất hiện đang tan rã. Đây là hiện tượng thấy rõ nhất tại Nam Cực. Tính đến năm 2012, mỗi năm  Nam Cực có lẽ đã mất đi khoảng 76 tỷ tấn nước đá. Kể từ đó, theo một bản phúc trình mới đây được phổ biến trên tạp chí Nature, tiến trình này tăng tốc lên đến 219 tỷ tấn mỗi năm. Điều này có nghĩa là một khi đã tan chảy các tảng băng của Nam Cực góp phần làm cho mực nước biển trên toàn trái đất tăng thêm một phần tư. Nếu toàn bộ các tảng băng của Nam Cực đều tan chảy thành nước, mực nước biển sẽ dâng cao thêm hơn 3 thước.
Đây là một hiện tượng mà vào hai thập niên 1950 và 1960, các nhà nghiên cứu về các tảng băng không bao giờ nghĩ tới.
Mặt nước biển dâng cao không chỉ tác hại đến cuộc sống của người dân ở những nước nghèo. Thiên tai cũng không tha người dân của những nước giàu. Trong 30 năm vừa qua, nhà địa vật lý học Ernst Rauch chuyên theo dõi các thiên tai để cố vấn cho công ty bảo hiểm Munich Re của Đức. Một trong những thiên tai khiến ông phải bù đầu bứt tóc là trận bão Sandy. Khi trận bão Sandy rời khỏi Thành phố New York vào buổi chiều ngày 30 tháng Mười năm 2012 vừa qua thì mọi sự đều thay đổi. Phần lớn khu phố thương mại và kinh doanh nổi tiếng Manhattan đều bị ngập lụt, các đường hầm đều chìm trong nước và ngay cả viện bảo tàng tại khu tưởng niệm cuộc khủng bố ngày 11 tháng Chín năm 2001 cũng không tránh khỏi ngập lụt. Điện bị cắt, các chuyến xe lửa bị đình chỉ và Trung tâm tài chính Wall Street cũng ngưng hoạt động. Chỉ riêng tại New York, trận bão Sandy đã làm cho 43 người thiệt mạng, 90.000 nhà cửa bị ngập lụt; tổng số thiệt hại về vật chất lên đến 20 tỷ Mỹ kim.
Dĩ nhiên có nhiều yếu tố gia tăng cường độ hủy hoại của trận bão. Nhưng tai họa chỉ đạt được những kích thước khủng khiếp như thế là bởi vì mực nước biển đã dâng lên từ nhiều thập niên qua. Tại Công viên Battery Park ở phía nam Manhattan chẳng hạn, mực nước biển đã dâng lên 35 centimet trong vòng 93 năm qua và hiện mỗi năm vẫn còn tiếp tục cao hơn.
Giàu có và hùng mạnh như nước Mỹ mà vẫn không tránh khỏi thiên tai. Một bài học mà nhân loại có thể học được từ vô số thiên tai đang xảy ra trên thế giới hiện nay là: con người không thể bảo vệ được tất cả mọi sự! Nhưng bởi vì thiên tai lại cũng là nhân họa, nghĩa là do chính con người ít hay nhiều đã góp phần tạo ra, thì đã đến lúc con người cần phải ý thức hơn về trách nhiệm của mình.
Ioane Teitiota, người công dân của đảo quốc nhỏ bé Karibati, hoàn toàn bất lực trước hiện tượng mực nước biển ngày càng dâng cao. Có lẽ chỉ có một điều mà ông cảm thấy mình có thể làm được: đó là xin tầm trú tại Tân Tây Lan và tuyên bố trước thế giới rằng ông là người đầu tiên được nhìn nhận là tỵ nạn vì Khí hậu Thay đổi. Với hành động này, ông muốn cho thế giới biết rằng không chỉ ngôi nhà tồi tàn của ông, quốc gia nhỏ bé của ông, mà toàn thế giới đang có nguy cơ bị Đại nạn Hồng thủy hủy diệt, nếu không ý thức về trách nhiệm làm cho trái đất bị hâm nóng khiến cho mực nước biển ngày càng dâng cao.

(nguồn: http://www.spiegel.de/international/world/addressing-the-inevitable-how-to-prepare-for-the-climate-change-flood-a-1241890-2.html)


Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

Những bộ lạc bán khai: cần khai hóa hay bảo vệ?



30/11/18
Mới đây, một nhà truyền giáo người Mỹ tên là John Allen Chau, đã bị một bộ lạc bán khai trong vùng Vịnh Bengal giết chết khi ông tìm cách xâm nhập vào lãnh thổ của họ để cải đạo họ. Cái chết đáng thương của nhà truyền giáo này nêu lên vấn đề: liệu có nên khai hóa các bộ lạc còn bán khai hay tìm cách bảo vệ họ?
Bước vào Thế kỷ 21, tiến trình toàn cầu hóa đã làm cho các dân tộc và văn hóa khác nhau xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều nơi và nhiều bộ lạc chưa được thế giới bên ngoài biết đến.
Sentinelese là một trong những bộ lạc đó. Sống cô lập trên một hòn đảo mất hút trong Ấn Độ Dương, bộ lạc này không muốn tiếp xúc với ánh sáng văn minh của thế giới bên ngoài. Có lẽ đây là lý do khiến họ đã giết nhà truyền giáo John Allen Chau. Theo chính quyền địa phương tại Ấn Độ, vì mọi tiếp xúc với bộ lạc này đều bị nhà cầm quyền Ấn Độ ngăn cấm, cho nên những người đã giết nhà truyền giáo Mỹ sẽ không bị truy tố trước pháp luật. Tuy nhiên, 7 người đánh cá đã bị bắt giữ vì đưa nhà truyền giáo vào vùng đất cấm này.
Bộ lạc Sintinelese sống trong một tình trạng cô lập gần như tuyệt đối khiến thế giới bên ngoài biết rất ít về họ. Hòn đảo nhỏ mà bộ lạc này chiếm cứ chỉ rộng khoảng 60 cây số vuông và cách lục địa Ấn Độ chừng 1200 cây số. Hòn đảo này thuộc về Ấn Độ kể từ năm 1947, sau khi quốc gia này giành được độc lập khỏi sự đô hộ của Anh Quốc. Theo ước tính, dân số hiện nay của bộ lạc Sentinelese chỉ có khoảng từ 50 đến 150 người. Họ vẫn tiếp tục sống bằng săn bắn và hái nhặt. Họ cũng có một ngôn ngữ riêng, hoàn toàn không thể hiểu được đối với thế giới bên ngoài.
Các chuyên gia cho rằng người Sentinelese đã từ Phi Châu di cư đến hòn đảo này cách đây khoảng 50.000 năm, nhưng cho tới nay cuộc sống của họ hoàn toàn bí ẩn đối với bên ngoài. Những không ảnh chụp được từ máy bay và vệ tinh không cho thấy có bất cứ dấu hiệu nào về nông nghiệp. Người Sentinelese cũng biết sử dụng kim khí, nhưng đó là thứ kim khí họ nhặt được từ những chiếc tàu bị đắm và trôi dạt vào bờ biển của họ.
Như cái chết đáng thương của nhà truyền giáo Mỹ chứng minh, người Sentinelese không thích người của thế giới bên ngoài xâm nhập vào lãnh thổ của họ. Năm 1996, Chính phủ Ấn Độ đã tìm cách tiếp xúc với họ, nhưng mọi cố gắng đều thất bại. Kể từ đó, mỗi khi thấy có ghe thuyền lạ tấp vào bờ, họ đều dùng cung tên bắn ra.
Năm 2006, có 2 ngư phủ đã đánh cá một cách bất hợp pháp xung quanh đảo của bộ lạc Sentinelese. Hai người này đã bị họ giết chết. Vì tôn trọng ý muốn của người Sentinelese là không muốn tiếp xúc với thế giới bên ngoài cho nên Chính phủ Ấn Độ đã ban hành luật theo đó bất cứ thuyền bè nào đến gần hòn đảo của họ khoảng 5 cây số đều bị xem là một hành động bất hợp pháp.
Sentinelese không phải là bộ lạc duy nhất trên trái đất không muốn tiếp xúc với ánh sáng văn minh của thế giới ngày nay. Hiện vẫn còn có cả trăm bộ lạc như thế rải rác trên khắp năm châu.
Vào năm 2016, đang khi bay lượn trên khu rừng già Amazon của Ba Tây, Châu Mỹ La Tinh, một chiếc máy bay thám thính đã chụp được một số tấm ảnh về bộ lạc Moxinhatetema. Bộ lạc này vẫn cương quyết chiến đấu để chống lại bất cứ một sự xâm nhập nào từ thế giới bên ngoài. Bên cạnh họ, cũng còn có nhiều bộ lạc khác muốn tiếp tục một cuộc sống cô lập như thế. Theo ước tính, trong khắp khu rừng già Amazon có khoảng từ 200 đến 250 ngôi làng với dân số tổng cộng lên đến 35.000 người.
Mặc dù bị bao vây bởi những nhóm khai thác mỏ bất hợp pháp, những bộ lạc này vẫn tiếp tục duy trì nếp sống truyền thống của họ. Họ tẩy chay mọi thứ tiện nghi mà thế giới kỹ nghệ hóa có thể mang lại cho họ.
Theo bà Fiona Watson, cựu giám đốc của Tổ chức Quốc tế  có tên là “Survival International” chuyên mở chiến dịch tranh đấu để bảo vệ quyền của các bộ lạc bán khai, hiện trên toàn thế giới vẫn còn khoảng 100 bộ lạc chưa hề tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Phần lớn đều sống trong khu rừng già Amazon. Ngoài ra, tại một số nơi khác tại Nam Mỹ cũng như ở Á Châu, cũng có một số bộ lạc như thế. Bà Watson nói rằng bao lâu vùng đất của họ được bảo vệ thì các bộ lạc này vẫn có thể tiếp tục sống còn. Nhưng hiện nay các hoạt động khai thác mỏ và đốn gỗ lậu là một trong những mối đe dọa lớn đối với các bộ lạc này.
Dạo tháng Tám vừa qua, Cơ quan FUNAI ( Fundacão National do Indio : Sáng hội bảo vệ người thổ dân) của Chính phủ Ba Tây chuyên bảo vệ quyền lợi và văn hóa của người thổ dân, đã chia sẻ một số không ảnh chụp được từ những chiếc máy bay không người lái. Những không ảnh này vén mở được phần nào cuộc sống cô lập của một bộ lạc đang sống trong thung lũng Javari, nằm sát biên giới Ba Tây và Peru. Những bức ảnh cho thấy một túp lều, những chiếc thuyền nhỏ và một số dụng cụ của các bộ lạc thổ dân. Nằm dọc theo sông Javari, thung lũng Javari là nơi cụ ngụ của 8 bộ lạc được biết đã có tiếp xúc với thế giới bên ngoài và 11 bộ lạc khác hiện vẫn còn trong tình trạng hoàn toàn bị hay tự cô lập.
FUNAI  là một cơ quan được Chính phủ Ba Tây cho thành lập vào năm 1910. Từ đó đến nay, mỗi khi có dịp tiếp xúc với các bộ lạc thổ dân, những người làm việc cho cơ quan này luôn hành động theo tôn chỉ: “Nếu cần thì chết chứ đừng bao giờ sát hại”.
Lý do khiến một số bộ lạc tỏ ra bài ngoại và bạo động là vì họ đã từng bị bóc lột và hành hung.
Cũng có một số bộ lạc tự ý tìm đến với thế giới bên ngoài. Đó là trường hợp của bộ lạc Xinane, hiện đang sống trong thung lũng Javari, trong phần đất thuộc về Peru. Những thước phim do cơ quan FUNAI thu được cho thấy những người đàn ông thuộc bộ lạc này đã tìm đến những làng lân cận để xin chuối. Trong những thước phim này, người ta nghe được một người thanh niên ngỏ ý đi tìm phụ nữ và một thanh niên khác cầm một khẩu súng trên tay. Có thể đây là khí giới mà họ đã tịch thu được từ một nhóm người đã xâm nhập vào lãnh thổ của họ.
Nhìn chung, hầu như bộ lạc nào cũng muốn bảo vệ lối sống và truyền thống riêng của họ. Năm 1987, có một giám mục công giáo và một nữ tu muốn đi truyền đạo cho bộ lạc Waorani tại Ecuador. Theo tường thuật của báo The Washington Post, cả hai nhà truyền giáo này đã bị người Waorani bắt giữ và mang đi sát tế theo một nghi thức rất dã man.
Sau vụ này, nhiều người trong bộ lạc đã bị cưỡng bách phải rời khỏi nơi cư ngụ của họ để nhượng đất cho việc khai thác dầu.
Theo Tổ chức “Survival International”, tại Paraguay, Ayoreo là một bộ lạc tương đối có đông dân số. Bộ lạc này đã được tiếp xúc và đồng hóa với xã hội bên ngoài. Tuy nhiên, vẫn còn một số trong họ cương quyết không chịu rời bỏ lãnh thổ của họ. Vào thập niên 1970, một tổ chức truyền giáo cực đoan của Mỹ đã xâm nhập vào cứ địa này. Cuộc gặp gỡ giữa những nhà truyền giáo cực đoan và người Ayoreo đã khiến cho nhiều người chết và sau đó một số người Ayoreo chết vì dịch bệnh do người Tây Phương mang đến.
Cho đến nay, người ta biết rất ít về những bộ lạc cô lập trong vùng Javari và người ta cũng bỏ cuộc trong những cố gắng tiếp xúc và tìm hiểu họ. Những chiếc máy bay thám thính cho thấy các bộ lạc này sống bằng săn bắn và trồng trọt. Họ cũng biết dùng những dụng cụ được làm bằng kim khí.
Số phận của bộ lạc Matis, một trong những bộ lạc sống trong thung lũng Javari, đã khiến chính phủ Ba Tây thay đổi chính sách về việc cưỡng bách họ phải tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chỉ trong vài tuần lễ sau khi các viên chức chính phủ viếng thăm họ lần đầu tiên, dịch bệnh đã sát hại toàn bộ 3 ngôi làng. Đứng trước một tai họa như thế, Chính phủ Ba Tây đã ra lệnh chấm dứt mọi cố gắng tiếp tục với họ.
Ngoài  dịch bệnh từ thế giới bên ngoài, người thổ dân còn bị đe dọa nhiều hơn bởi những hoạt động khai thác hầm mỏ và đốn gỗ.
Ngoài Ấn Độ và Châu Mỹ La Tinh, một nơi khác vẫn còn nhiều bộ lạc bán khai là New Guinea. West Guinea là một vùng được biết hiện có khoảng 312 bộ lạc. Một số bộ lạc đã có tiếp xúc với thế giới bên ngoài cho biết vẫn còn nhiều bộ lạc khác đang sống hoàn toàn cô lập trên các vùng cao nguyên.
Tiếp xúc với những bộ này không phải là dễ dàng. Michael Rockefeller, người con trai của Phó tổng thống Mỹ Nelson Rockefeller, đã mất tích khi quay phim về bộ lạc Asmat tại New Guinea.
Với 25.000 người,  Dani được xem là bộ lạc lớn nhất trong vùng cao nguyên của Papua. Trong khi cố gắng gia tăng tiếp xúc với thế giới bên ngoài, bộ lạc này vẫn muốn duy trì văn hóa và truyền thống của họ. Bộ lạc này sống bằng trồng trọt và chăn nuôi. Bên cạnh đó, họ vẫn tiếp tục giữ một số tập tục như che đầu dương vật, ướp xác người già bằng khói và chặt ngón tay để tưởng nhớ những người đã bị giết trong chiến tranh.
Rất tự hào về truyền thống của mình, họ xem các dụng cụ bằng kim khí của thế giới bên ngoài thua kém dụng cụ bằng đá của họ, được sử dụng để biểu diễn cũng như mưu cầu cuộc sống.
Về việc liệu có nên khai hóa hay bảo vệ các bộ lạc, hiện đang có 2 ý kiến khác nhau. Có người cho rằng về lâu về dài các bộ lạc không thể tồn tại trong tình trạng cô lập. Những người có chủ trương này cho rằng giúp các bộ lạc hội nhập vào xã hội văn minh của thế giới ngày nay là một hành động nhân đạo và đạo đức: chỉ nhờ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, các bộ lạc này mới có thể tồn tại và sinh sôi nẩy nở cũng như chống chọi với nạn khai thác mỏ và đốn gỗ bất hợp pháp.
Tuy nhiên, đối lại với chủ trương này, một số người khác cho rằng không nên lập lại những sai lầm trong quá khứ khi các nhà truyền giáo và các nhân viên chính phủ được khuyến khích gặp gỡ các bộ lạc một cách ôn hòa. Họ đã mang đến cho người thổ dân kim khí, thuốc than, gương soi mặt và Kinh Thánh, nhưng đồng thời cũng mang theo vô số vi khuẩn là nguyên nhân giết hại chính những người mà họ muốn “cứu thoát”.
Đây chính là lý do tại sao cùng với Ấn Độ và Nam Dương, Chính phủ Ba Tây đã đề ra chính sách bảo vệ đất đai của những bộ lạc bán khai và cho phép họ được tiếp tục sống trong tình trạng cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

(nguồn:
https://www.news.com.au/technology/environment/conservation/the-mysterious-tribes-clinging-to-their-ancient-ways/news-story.
https://edition.cnn.com/2018/11/22/asia/most-isolated-tribes-missionary-scli-intl/index.html)