Hằng năm, cứ đến dịp Lễ Phục Sinh của Kitô giáo, tôi lại
nhớ về Phi Luật tân là nơi tôi đã sống và làm việc trong nhiều năm.
Ở quốc gia có trên 80 phần trăm dân số theo Công giáo
này, tôn giáo đã trở thành một yếu tố văn hóa ăn sâu vào cuộc sống của người
dân cũng như có một tầm ảnh hưởng mạnh trong sinh hoạt chính trị. Mỗi khi ký ức khơi dậy những kỷ niệm khó quên
trong những năm tháng sống tại Phi Luật Tân, tôi không thể không nhớ đến hai biến
cố quan trọng mà tôi đã chứng kiến.
Trước kết là cuộc cách mạng thường được mệnh danh là “Sức
mạnh của quần chúng” (People Power Revolution). Tôi vẫn nhớ mãi những ngày từ
22 đến 25 tháng Hai năm 1986. Hưởng ứng lời kêu gọi của nhà lãnh đạo tôn giáo
có thế giá nhứt tại Manila là hồng y Jaime Sin, theo ước tính có đến hai triệu
người đã đổ xô về đại lộ lớn nhứt ở thủ đô. Ngoài tràng chuỗi mà người ta có thể
thấy trên tay các nữ tu và nhiều người, không một người nào tham gia cuộc xuống
đường mang theo bất kỳ một khí giới nào. Cuộc biểu tình ôn hòa cuối cùng đã buộc
Tổng thống Ferdinand Marcos, người mà rất nhiều người dân Phi vào thời điểm đó
xem như một nhà độc tài, phải ra đi lưu vong.
Biến cố thứ hai luôn được tôi ghi nhớ để không ngừng tri
ân Giáo hội Công giáo Phi và người dân Phi đó là cuộc tranh đấu không ngừng nghỉ
của Giáo hội này để những người tỵ nạn Việt Nam đến Phi Luật Tân sau năm 1990
được phép ở lại đất nước này và nhứt là được tự do sinh sống và làm ăn trước
khi được đi định cư tại một nước thứ ba. Kể từ đầu thập niên 1990, các chính phủ
tại các nước Đông Nam Á ra lệnh đóng cửa các trại tỵ nạn và cưỡng bách người tỵ
nạn phải hồi hương. Riêng tại Phi Luật Tân và chỉ riêng tại Phi Luật Tân, nhờ sự
can thiệp và tranh đấu quyết liệt của các vị giám mục Phi cũng như của chính
người dân Phi, những người tỵ nạn Việt Nam “rớt” thanh lọc, nghĩa là không được
cấp quy chế tỵ nạn, đã được chính phủ Phi cho phép ở lại. Như bầy ong vỡ tổ, những
người tỵ nạn Việt Nam đã bung ra khắp miền đất nước Phi để tự lực cánh sinh và
bất cứ nơi nào họ đến, họ cũng đều được người dân Phi đón tiếp và giúp đỡ.
Hồi tưởng lại những năm tháng sống tại Phi Luật Tân, lúc
nào trong đầu tôi cũng hiện ra những khuôn mặt lương thiện, hiếu hòa và tử tế.
Với tôi đó là khuôn mặt đích thực của Kitô giáo như được Chúa Giêsu rao giảng. Nhưng
dĩ nhiên, ở đâu và thời nào, khuôn mặt đích thực đó cũng đều có thể bị bóp méo đến độ dị dạng.
Tôi thường có ý nghĩ ấy mỗi khi nhớ lại những ngày trước lễ Phục Sinh tại Phi
Luật Tân, cách riêng ngày mà Kitô giáo gọi là Thứ Sáu Tuần Thánh. Trong ngày tưởng
niệm Chúa chết, hình như cả nước Phi đều “chết” theo. Ra đường hầu như không thấy
bóng của một chiếc xe nào qua lại. Lác đác trên những con đường nhựa giữa buổi
trưa nắng gắt của mùa hè nhiệt đới, có những người đàn ông mình trần, đầu bịt
khăn, đi chân không, dùng một chiếc roi tua tủa bằng thép để quất vào lưng đến
độ máu chảy đầm đìa. Nhưng cảnh tượng ấy có lẽ không khủng khiếp bằng cuộc đóng
đinh thật diễn ra tại một làng quê có tên Cutud, nằm cách Thủ đô Manila về hướng
Tây Bắc khoảng hơn một giờ lái xe. Cứ mỗi ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngôi làng
quê nghèo hẻo lánh này bỗng trở thành một điểm du lịch thu hút không ít người
trong nước cũng như từ nước ngoài. Nếu tại thị trấn Oberammergau, Đức, cứ mỗi
mười năm, người dân tham gia diễn lại tuồng “Thương Khó”, tức cuộc tử nạn của
Chúa Giêsu thì tại làng Cutud, năm nào cũng đều có ba người tự nguyện chịu đóng
đinh vào thập giá và được treo lên. Tất cả diễn ra chỉ trong vài phút ngắn ngủi,
nhưng cuộc đóng đinh chỉ có thể bị xem như một biểu lộ niềm tin hoàn toàn “ngoài
luồng”, nghĩa là không phù hợp với giáo lý Kitô giáo. Các nhà lãnh đạo của Giáo
hội Công giáo tại Phi Luật Tân đã không ngừng lên án một cuộc diễn tuồng như thế.
Bởi lẽ ý nghĩa đích thực của cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá đã bị bóp
méo để biến thành một màn trình diễn không phải của tình thương mà là sự độc
ác.
Vốn là biểu tượng cốt lõi của Kitô giáo, Thập giá cũng là
hình tượng bị lạm dụng, bôi bác và xúc phạm nhiều nhứt. Đọc lại lịch sử của
Kitô giáo qua mọi thời kỳ, tôi cho rằng hành động bôi bác Thập giá đã diễn ra
ngay từ Thế kỷ thứ Tư khi hoàng đế La Mã là Constantinus biến Kitô giáo thành một
công cụ để thống nhứt và bành trướng đế quốc. Biến cố quan trọng nhứt đã làm biến
dạng Kitô giáo và cách riêng biểu tượng Thập giá chính là cuộc chiến thắng của
Constantinus trên một đối thủ sừng sỏ nhứt thời bấy giờ là hoàng đế Licinius.
Ông giải thích rằng trong một giấc mơ hay một thị kiến giữa ban này, ông đã
nhìn thấy hiện ra bóng Thập giá với hàng chữ bằng tiếng La tinh “Cứ dấu này mà
ngươi chiến thắng” (In hoc signo vinces). Kể từ đó, Thập giá và lưỡi gươm luôn
song hành trong tay ông. Để đánh bại các đối thủ và cũng như để tàn sát chính
những người thân của mình. Năm 326, nghĩa là chỉ ba năm sau khi giương cao Thập
giá để triệt hạ đối thủ Licinius, Constantinus đã ra tay sát hại hoàng hậu Fausta
và ngay cả đứa con đầu lòng của mình (1).
Điều trớ trêu là chỉ một năm trước đó, mặc dù chưa hề là
một tín hữu Kitô, ông đã ra lệnh triệu tập tất cả các giám mục trong đế quốc về
một dinh thự sang trọng của ông tại thành phố Nicaea, nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Vào
thời điểm đó, Kitô giáo chưa được tổ chức thành một Giáo hội thống nhứt; rải
rác trong đế quốc, mỗi vị giám mục cai quản một cộng đồng riêng rẽ, với kinh kệ
và “tín điều” riêng của mỗi địa phương. Chẳng hạn, có nơi người tín hữu tin rằng
Chúa Giêsu là người được Thiên Chúa sai đến, nhưng Ngài không phải là Thiên
Chúa. Có nơi, người tín hữu phải tin rằng Chúa Giêsu có hai bản tính: là người
thực sự bằng xương bằng thịt, nhưng lại là Thiên Chúa. Chính vì muốn giải quyết
những dị biệt này mà vị hoàng đế, vốn vẫn còn là một kẻ ngoại đạo, đã triệu tập
khoảng 220 vị giám mục trên toàn đế quốc về Nicaea và buộc các vị phải đưa ra một
bản “tín điều” chung, dĩ nhiên, do chính những nhà “thần học” của riêng ông đề
ra. Bản “tín điều” đó ngày nay thường được gọi là “Kinh Tin Kính” mà người Công
giáo phải tuyên xưng trong thánh lễ ngày Chúa nhựt (2).
Kể từ công nghị đầu tiên do Hoàng đế Constantinus triệu tập
tại Nicaea hay còn được gọi là công đồng chung Nicaea, Kitô giáo không những
không còn bị bách hại mà còn trở thành quốc giáo trong toàn Đế quốc La Mã. Trao
cho Kitô giáo “Kinh Tin Kính” Hoàng đế Constantinus cũng trao cho Kitô giáo một
thanh gươm để toàn quyền “chặt chém” tất cả những tín hữu nào không tuyên xưng
Kinh này. Thật vậy, kể từ đó trong Kitô giáo đã có sự phân chia rạch ròi giữa các
tín hữu chính thống và những kẻ bị xem là lạc giáo. Bị tuyên án là lạc giáo có
nghĩa là bị loại ra khỏi cộng đồng và ngay cả có thể bị sát hại. Những trang sử
đen tối nhứt của Kitô giáo đã được viết bằng chính thanh gươm ấy: từ những cuộc
Thập tự chinh suốt thời Trung Cổ qua các Tòa Điều Tra, các giàn hỏa thiêu và
sau đó là những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa các Giáo hội tại Âu
Châu kể từ sau cuộc Cải Cách của Martin Luther vào Thế kỷ 16.
Lịch sử đã chứng minh: nơi nào có sự nhập nhằng giữa tôn
giáo và nhà nước, nơi nào Thập giá và lưỡi gươm song hành với nhau, nơi đó có
chiến tranh. Cuộc chiến giữa liên minh Hoa Kỳ-Israel và Iran hiện nay, ngoài
các quyền lợi chính trị và kinh tế, còn cho thấy những tác hại của sự nhập nhằng
giữa tôn giáo và nhà nước. Về phía chế độ thần quyền của Iran, điều đó đã quá
hiển nhiên. Còn về phía liên minh Hoa Kỳ-Israel thì sao? Bên kia vô số những động
lực thúc đẩy cuộc chiến được Tổng thống Donald Trump đưa ra, người ta vẫn ngửi
được mùi của trầm hương trong khói súng.
Ngày 5 tháng Ba vừa qua, một nhóm mục sư Tin Lành từ khắp
nước Mỹ đã tề tựu về Tòa Bạch Ốc để “đặt tay” lên người của ông Trump và cầu
nguyện xin Chúa đổ tràn ân sủng xuống ông, bảo vệ ông và ban cho ông sự khôn ngoan
để tiếp tục cuộc chiến với Iran. Riêng một vị mục sư có thế giá là Tom Mullins
thì xin Chúa gìn giữ ông Trump, các binh sĩ Mỹ và giúp đất nước “trở về” với vị trí “một quốc gia dưới sự cai
trị của Chúa”.
Riêng Bộ trưởng Quốc phòng, nay được Trump tự ý đổi tên
thành bộ chiến tranh, là ông Pete Hegseth thì cứ mỗi tháng đều đặn tổ chức một
buổi cầu nguyện trong Ngũ Giác Đài.
Trong một buổi cầu nguyện mới đây, ông xin Chúa ban cho “sức mạnh tàn bạo vũ
bão chống lại những kẻ không đáng xót thương”. Tại một cuộc họp báo mới đây,
ông Hegseth đã trích đọc một câu trong một bài Thánh Vịnh trong Cựu Ước: “Chúc
tụng Chúa là Đá Tảng của con, Đấng rèn luyện hai bàn tay con để gây chiến và những
ngón tay con để chiến đấu”(3).
Những lời “cầu nguyện” trên đây nghe như vọng lại giọng
điệu của nhà lãnh đạo của Giáo hội Chính thống Nga là thượng phụ Kirill. Thật vậy,
trong một tài liệu được cho công bố sau khi Nga xâm lăng Ukraine, thượng phụ
Kirill gọi hành động xâm lăng này là một “Cuộc Thánh Chiến” (4).
Rồi đây, như thường lệ, trong sứ điệp Phục Sinh mà ông
Trump sẽ gởi đến toàn dân Mỹ, có lẽ ông cũng sẽ lập lại cùng một giọng điệu chửi
bới, hằn học, đầy hận thù nhắm đến những đối thủ của ông để rồi cầu chúc “Happy
Easter” (chúc mừng Phục Sinh hạnh phúc).
Tôi vẫn hay thắc mắc: tại sao Lễ Giáng Sinh, người Mỹ chúc “vui” (Merry
Christmas), còn Lễ Phục Sinh, họ lại chúc” hạnh phúc” (Happy Easter).
Với tôi “hạnh phúc” là một trong những ý niệm hàm hồ nhứt
trong ngôn ngữ của nhân loại. Mỗi người đều có một quan niệm và trải nghiệm
riêng về hạnh phúc. Và có lẽ mỗi tôn giáo cũng đề ra một “hiến chương” riêng về
hạnh phúc. Riêng Kitô giáo, qua cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá, có lẽ
cũng muốn nhắn gởi một bí quyết của hạnh phúc: con người chỉ có thể thật sự hạnh
phúc khi họ biết sống vị tha, quảng đại, trao ban, nhân ái, cảm thông, tha thứ
và tha thứ cho đến cùng như Đấng, khi bị treo trên Thập Giá, vẫn còn cầu nguyện:
“Xin Cha tha cho chúng vì chúng lầm không hiểu việc chúng làm”(Luc 22,34).
Với ý nghĩ ấy, xin được “Chúc mừng Phục Sinh Hạnh Phúc” (Happy
Easter) đến tất cả mọi người nhất là những người đang sống trong phập phồng lo
sợ không biết bom rơi đạn lạc khi nào trong lúc này.
Chu Văn
1. Constantine the Great: the Emperor who killed his
family yet venerated as a saint, Greek Reporter, December 9, 2025.
2.The Future of Faith, Harvey Cox, Harper Collins
Publisher, New York, 2009, trg 99-111.
3. Evangelical prayed over Trump for the War...Yahoo news
30 March 2026.
4. Russian Orthodox Church declares “ Holy War” against
Ukraine and West, Atlantic Council, April 9, 2024.




