Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2026

Giải Túc Cầu Thế Giới Muôn Năm!

 

                               

 

                             


                                                                

                               

                                                                                              

Xem hầu hết các trận đấu của Giải Túc Cầu Thế Giới 2026, tôi thấy mình đã không thể nào làm khách bàng quang được. Tôi đã vui buồn, phấn khích hay thất vọng với những trận đấu của những đội tuyển tôi “bắt” hay ủng hộ. Là một công dân Úc, dẫu biết đội  tuyển gà nhà của mình “dưới cơ” so với rất nhiều đội khác, tôi vẫn thấy buồn vô hạn khi đội này bị loại khỏi vòng 32 và phải cuốn gói về sớm. Pháp quốc là trạm dừng đầu tiên trong bước đường tỵ nạn của tôi cho nên tôi vẫn luôn xem nước này như một quê hương thứ hai của mình. Chính vì thế mà tôi đã cảm thấy đau lòng khi đội tuyển Pháp bị đội tuyển Anh hạ gục trong trận đấu tranh hạng ba. Riêng về đội tuyển Argentina, tuy đã đoán trước thế nào đội tuyển Tây Ban Nha  cũng ôm lấy chiếc cúp vô địch, vậy mà tôi vẫn thấy buồn khi đội tuyển Nam Mỹ này không bảo vệ được chức vô địch hồi bốn năm trước. Tôi buồn chỉ vì tôi “mê” danh thủ Lionel Messi! Nhưng phải thú thật, trong suốt một tháng của mùa Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay, có một lần tôi thấy mình đã không làm chủ được cảm xúc của mình. Đó là lần đội tuyển Bỉ cho đội tuyển Mỹ đo ván với tỷ số 4-1. Tôi thấy thật tội nghiệp cho đội tuyển Mỹ, nhưng chưa bao giờ tôi lại cảm thấy hả hê như lần đó. Tất cả cũng chỉ vì sự can thiệp thô bỉ của ông tổng thống Mỹ Donald Trump để ngang nhiên xé bỏ cái thẻ đỏ mà trọng tài vốn là “cha mẹ” đã áp đặt lên một cầu thủ Mỹ.

Nay thì mùa Giải Túc Cầu Thế Giới cũng đã kết thúc. Ngày vui nào cũng qua mau. Nỗi buồn nào rồi cũng vơi đi. Nhưng nhìn lại một tháng vui buồn với Giải Túc Cầu Thế Giới, tôi vẫn thấy cần phải đưa tay lên để tung hô “Giải Túc Cầu Thế Giới muôn năm!” Thật vậy, sau khi mọi cảm xúc đã lắng đọng, tôi vẫn còn nghe thấy được thông điệp của Giải này vang vọng: tình liên đới nhân loại vẫn sống mãi, thế giới vẫn mãi mãi là một ngôi làng nhỏ trong đó mọi người đều có thể xích lại gần nhau! Đó là lý do tại sao bao lâu còn sống, tôi vẫn còn say mê Giải Túc Cầu Thế Giới.

Tôi mê đá banh ngay từ lúc mới cắp sách đến trường. Nói là “cắp sách” chớ thật ra, tôi vẫn nhớ mãi một buổi sáng năm tôi lên 6 hoặc 7 gì đó, mẹ tôi mua cho tôi đúng một cuốn vần và dắt tôi đến trường mẫu giáo của cô giáo làng tên là Cô Sáu Thay. Cuốn vần dày độ  5 trang, vừa gọn đủ để xếp lại và nhét vào trước bụng hay sau lưng. Cô Sáu chỉ mới độ chừng 40, nhưng trông chẳng khác nào một bà già trầu: cái miệng móm vì sún răng của cô lúc nào cũng nhai trầu và phì phà điếu thuốc vấn. “Trường mẫu giáo” do cô điều khiến là một tấm phản bằng tre đặt ở hàng hiên phía trước nhà cô. Lũ trẻ độ chừng 15 đứa ngồi xếp bằng trên tấm phản. Mở đầu lớp học, cô giáo xướng “a, ă, â, bê, xê, dê, đê...”. Sau khi lũ trẻ chúng tôi “tụng” tiếp theo cho đến hết 24 chữ cái, cô Sáu bắt chúng tôi lập lại một hai lần, rồi bỏ ra ngoài để nấu cháo heo hay đuổi gà. “Tụng” đã cũng mệt cho nên lũ trẻ chúng tôi bắt đầu trêu chọc nhau hoặc cười nói huyên thuyên. Cô Sáu lại trở vô và dùng chiếc roi tre gõ lên chiếc bàn bên cạnh. Chúng tôi lại “tụng” “a, ă, â, bê, xê, dê, đê...” trở lại.

Tại trường mẫu giáo của cô Sáu Thay, tôi đã có được một số bạn đủ để rủ nhau sau mỗi buổi chiều tan học, kéo nhau ra những đám ruộng vừa mới gặt xong vào mùa khô để đá banh. Banh là bất cứ thứ gì có thể lăn được. Khi thì một bó rạ cuộn tròn lại, lúc thì một trái bưởi non. Chúng tôi chỉ chân không, đá loạn cào cào, chả có theo luật nào cả.

Sau một năm theo học ở trường mẫu giáo của cô Sáu Thay và sau khi tôi xé đâu chừng năm cuốn vần, không rõ do một phép mầu nào đó, “chữ nghĩa” đã chui vào đầu tôi lúc nào không hay biết. Biết đọc, biết viết cho nên tôi mới được thực sự “cắp sách vở” để nhập vào trường tiểu học do các nữ tu điều khiển. Tại đây, tôi đã từ giã những trái banh rạ hay banh bưởi và cũng bắt đầu làm quen với một số luật đá banh căn bản như “manh” (main) hay “ọr rơ” (hors jeu). Và dĩ nhiên, cũng trong sân trường tiểu học, tôi cũng bắt đầu làm quen với lúc đầu là những trái banh nhựa và kế đó là những trái banh bằng da được bơm cứng nhờ chiếc ruột cao su bên trong; những lúc banh bị gai tre hay thép gai đâm thủng, chúng tôi phải đi cạo mủ cao su để vá lại.

Vậy đó. Tôi lớn lên với bóng tròn. Lên trung học và đại học, lúc nào tôi cũng được chọn vào đội tuyển của trường. Sau năm 1975, do lời kêu gọi sống “khỏe” của chế độ mới, tôi lại gia nhập vào đội banh của phường khóm. Thật ra, phải “thành thật khai báo”, sở dĩ tôi tiếp tục ra sân là bởi vì mỗi tháng, các cầu thủ được phát cho 21 ký gạo. Mỗi lần thắng một trận đấu, các cầu thủ được mấy ông bầu đưa vào một tiệm ăn tương đối “sang” còn sót lại trong thành phố để tưởng thưởng cho một bữa ăn “thịnh soạn” mà phần chính của thực đơn là 2 con tôm lăn bột được gọi là “tôm hỏa tiễn”. Quả thật vào thời đó, sang lắm mới được thưởng thức đến hai con tôm còn nguyên vẹn như thế, bởi vì dân thành phố của tôi cứ đồn rằng tôm Việt Nam nổi tiếng dài nhứt thế giới, vì đầu thì ở Việt Nam còn mình ở tận bên...Liên Xô.

Lần cuối cùng tôi còn vác giày ra sân là lần đội banh của tôi tranh giải vô địch cấp phường khóm. Lần đó, mặc dù do thiếu ăn, banh chạy theo tôi nhiều hơn là tôi chạy theo banh, đội của tôi thắng giải. Với tư cách là thủ quân, tôi được trao cho giải thưởng là một bức chân dung của ông Hồ Chí Minh. Có người bảo tôi mang về “lộng kiếng”! Kể từ đó tôi chính thức giải nghệ để “tìm đường cứu nước”, chớ không phải đi “phượt” như tác giả Nguyễn Thành Nam đã viết về “Bác”. Giải nghệ, nhưng niềm say mê túc cầu trong tôi vẫn không bao giờ phai nhạt.

Nay, sau hơn nửa đời người sống ở nước ngoài và cũng đã gần đất xa trời, tôi vẫn tiếp tục say mê túc cầu hay còn gọi là bóng tròn hay bóng đá. Hầu như tôi không bỏ sót một giải túc cầu nào, từ giải các câu lạc bộ ở Âu Châu, Mỹ Châu đến giải Âu Châu và nhứt giải Túc cầu Thế giới. Niềm say mê và thưởng thức cũng khác với tuổi tác. Bên cạnh cái đẹp và gay cấn của túc cầu là những suy nghĩ về ý nghĩa của nó. Với tôi, túc cầu là phát minh vĩ đại nhứt của nhân loại. Chưa từng có môn thể thao nào mà già trẻ lớn bé hay nam phụ lão ấu ở bất cứ một góc trời nào trên trái đất này cũng đều thích. Chưa từng có môn thể thao nào có thể tập trung đông đủ mọi màu da, sắc tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo lại với nhau.

Nhân loại đã từng bước đạt được những tiến bộ vượt bực nhờ những phát minh không ngừng nghỉ. Ngày nay thế giới đã làm một bước nhảy vọt khủng khiếp nhờ trí khôn nhân tạo. Trí khôn nhân tạo là thượng đế mới trên thế giới. Trí khôn nhân tạo có thể làm được mọi sự. Trí khôn nhân tạo đã có thể biến một lão già như ông Donald Trump thành một hoàng đế, một võ sĩ vô địch, một phi công lái máy bay rải phân lên đầu đám đông, một giáo hoàng và ngay cả một Chúa Giêsu. Xem ra không gì có thể kiểm soát được trí khôn nhân tạo. Và điều đáng sợ nhứt chính là đám mây đen tối của sự dối trá và lừa lọc đang bao trùm lên toàn thế giới do trí khôn nhân tạo đã tạo ra. Nếu có ai hỏi một lão già như tôi điều đáng sợ nhứt hiện nay là gì, tôi sẽ không ngần ngại trả lời rằng điều đó chính là trí khôn nhân tạo!

Tôi tin ở túc cầu hơn tin ở trí khôn nhân tạo. Tôi tin ở túc cầu bởi vì túc cầu luôn cổ võ tính đại đồng và tình liên đới nhân loại. Kể từ giải túc cầu thế giới 2022 được tổ chức tại Qatar, Liên đoàn Túc cầu Thế giới (FIFA) đã đề ra khẩu hiệu: “Túc cầu liên kết thế giới” (Football unites the World). Một cách kín đáo, nhưng xen vào các bảng quảng báo xung quanh các vận động trường, hàng chữ “Túc cầu liên kết thế giới” luôn hiện diện để nhắc nhở thế giới về ý nghĩa và mục đích đích thực của túc cầu. Cùng với khẩu hiệu ấy, màu cờ, sắc áo của rừng người trên khán đài và nhứt là màu da của các tuyển thủ trên sân cỏ cũng không ngừng phát đi cùng một thông điệp: thế giới là một, thế giới là một gia đình!

Trong Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay, ngoài những pha đấu gay cấn và ngoạn mục, tôi đặc biệt chú ý đến màn trình diễn ca nhạc ở giữa hai hiệp đấu của trận chung kết giữa Tây Ban Nha và Argentina. Và trong màn trình diễn ấy, gây ấn tượng mạnh nhứt với tôi đó là ca khúc có tựa đề “We Dance” (chúng tôi nhảy múa) của ban nhạc Coldplay. Dễ thương nhứt là sự góp giọng và cử điệu của ca đoàn The PS22 Chorus, gồm các em  học sinh thuộc đủ mọi sắc tộc của một trường tiểu học tại Graniteville, Staten Island, thành phố New York. Vào giữa lúc đang diễn ra nhiều cuộc xung đột và chiến tranh do những bạo chúa mới của thời đại đang gây ra, có lẽ không gì cảm động cho bằng nghe lại những lời nhắn nhủ như: “Hỡi anh chị em, chúng ta là ai? Hỡi những vì sao làm nên giải ngân hà, tôi là bạn và bạn là tôi. Tất cả chúng ta là một gia đình...Tình yêu, chúng tôi tin ở tình yêu” (Brothers, sisters, who ara we? Stars that make a galaxy, I am you and you are me. All of us are family...Love, we believe in love...) (2).

Trong cùng một gia đình, anh chị em luôn yêu thương, đùm bọc và chăm sóc nhau. Không biết có phải vì nghĩ như thế về túc cầu không mà khán giả người Nhựt luôn làm một cử chỉ cũng thật dễ  thương sau khi tham dự một trận đấu: họ đi nhặt rác rưởi do người khác thải ra!(2) Với cử chỉ ấy, người Nhựt muốn nói: hãy nghĩ đến những người sẽ đến sau ta!

Hãy nghĩ đến những người sẽ đến sau ta, bởi vì, như đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói, “chúng ta là những người khách (vãng lai) trên hành tinh này. Chúng ta có mặt ở đây cùng lắm là một trăm năm. Trong suốt giai đoạn này, chúng ta hãy cố gắng làm một điều gì đó tốt đẹp, hữu ích với cuộc sống của chúng ta. Nếu bạn góp phần làm cho người khác hạnh phúc, bạn sẽ tìm thấy ý nghĩa đích thực của cuộc sống”(3).

Đó là sứ điệp mà một người già như tôi thường nghiền ngẫm và lấy đó để tự vấn lương tâm mỗi lần theo dõi một trận đấu của Giải Túc Cầu Thế Giới.

Chu Văn

 

Chú thích

1. Genius.com, Coldplay we dance lyrics

2. ESPN June 30.2026, Why do Japan fans clean up the stadium?

3. goodreads.com Dalai Lama XIV quotes

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ!

                                        

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Giáo hoàng có bao nhiêu sư đoàn?

 

                                     

 


                          


                                                                                       

 

Ở tuổi già, tôi lú lẫn và hay quên. Bộ nhớ của tôi có lẽ đã teo tóp đi rất nhiều. Vậy mà không hiểu sao, kể từ ngày thành phố Nha Trang của tôi mở ngõ vào ngày mùng Một tháng Tư năm 1975 và ngày mùng Hai, quân đội Bắc Việt ngơ ngác tràn vào thành phố, hình như tôi không quên bất cứ điều gì. Mỗi năm cứ đến thời điểm mà người Việt tỵ nạn gọi là “Tháng Tư Đen”,  “nỗi buồn chiến tranh” trong tôi lại cứ khiến tôi ray rứt trong lòng. Cho đến nay, “Bên Thắng Cuộc” vẫn cứ huênh hoang gọi cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc là một “cuộc chiến tranh thần thánh”. “Thần thánh” ở đâu thì tôi không thấy, mà chỉ thấy dối trá và độc ác hiện nguyên hình như một bầy quỷ dữ. Nhân danh một ý thức hệ ngu xuẩn và độc ác để sát hại hàng triệu người đồng bào ruột thịt, người ta bảo để tiến tới một xã hội “bình đẳng, không còn cảnh người bóc lột người”. Nhưng 50 năm qua, nói theo nhà văn Anh George Orwell trong quyển tiểu thuyết nổi tiếng “Trại Súc Vật”, trong xã hội mà chế độ cộng sản đã thiết lập tại Việt Nam, “tất cả mọi thú vật đều bình đẳng, nhưng có một số thú vật bình đẳng hơn những con khác” (1). Chính vì “được bình đẳng hơn”, cho nên giai cấp thống trị tại Việt Nam hiện nay tự cho mình quyền được thu tóm tất cả mọi quyền trong tay: từ quyền chiếm đoạt tài sản của quốc gia làm của riêng đến quyền sinh sát trong tay!

Mới đây tôi được một người Việt Nam có chồng Úc mời đến nhà dùng bữa cùng với một số người bạn. Người chồng Úc đã từng sống và làm việc tại nhiều nơi ở Việt Nam trong nhiều năm cho nên xem ra rất am hiểu về tình hình Việt Nam. Vốn là một người ít nói, nhưng trong bữa ăn, cứ mỗi lần mở miệng ông đều nói rằng ở Việt Nam, cái gì cũng “Tiền”, nghĩa là không thể sống mà không tham nhũng. Quả đúng như dân gian hiện nay thường nói: “tiền là tiên là phật, tiền là sức bật lò xo, tiền là thước đo lòng người, tiền là nụ cười của tuổi trẻ, tiền là sức khỏe của tuổi già, tiền là cái đà danh vọng, tiền là cái lọng che thân, tiền là cán cân công lý...”  Trong xã hội, một khi đồng tiền đã ngự trị trên “đỉnh cao chói lọi” thì đương nhiên mọi giá trị đạo đức đều bị xuống cấp, chối bỏ và chà đạp. Từ 50 năm qua, ai cũng bảo: Việt Nam đang rơi dần vào một lỗ hổng đạo đức không đáy!  Một ý thức hệ đồi bại lấy dối trá và độc ác làm kim chỉ nam, lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện thì đương nhiên chỉ có thể dẫn đến  một xã hội đồi bại mà thôi. Càng lúc tôi càng xác tín rằng chính trị “là đạo đức trên qui mô quốc gia”. Chính trị theo đúng nghĩa không thể là chính trị vô đạo.

Là một người tỵ nạn, tôi không quên và bao lâu còn sống còn cố gắng nhớ về tháng Tư Đen. Nhưng với tư cách là một con người,  cũng trong tháng Tư Đen, với ký ức tập thể của nhân loại, tôi cũng không ngừng cố gắng để không bao giờ quên một biến cố khủng khiếp đã từng xảy ra trong lịch sử nhân loại. Đó là cuộc sát tế sáu triệu người Do Thái do Đức quốc xã chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế chiến. Mặc dù không hề là một nhân chứng lịch sử về biến cố, hàng năm cứ vào tháng Tư, đặc biệt năm nay, vào ngày 14 tháng Tư vừa qua, tôi cũng đã hòa nhập cùng với toàn thế giới và cách riêng người Do Thái trên khắp thế giới để tưởng niệm các nạn nhân Do Thái đã bị Đức Quốc Xã sát hại trong các trại tập trung và nhứt là trong các lò hơi ngạt. Là một con người, đứng trước cái chết, nhứt là cái chết thảm thương của một người đồng loại, dù không hề quen biết, tôi không thể không thốt lên như thi sĩ Anh John Donne (1572-1631), “cái chết của mỗi người đều làm tôi bị mất mát đi, bởi lẽ tôi gắn liền với Nhân Loại. Và bởi thế, xin đừng bao giờ hỏi rằng chuông gọi hồn ai. Chuông gọi hồn bạn đó!”

Đồng cảm với nỗi khổ đau do chính người đồng loại gây ra, tôi không thể không cảm thấy bị ray rứt và cố gắng không ngừng để hiểu tại sao con người lại gây ra khổ đau cho người đồng loại của mình. Thời mới bước vào ngưỡng cửa triết học, tôi được một vị giáo sư giao cho trách nhiệm thuyết trình trước cả lớp về câu nói nổi tiếng của nhà văn Pháp Ernest Renan (1823-1892), “Chính những tư tưởng dẫn dắt thế giới” (ce sont les idées qui mènent le monde). Có những tư tưởng thanh cao mang lại niềm cảm hứng để con người đi tìm chân thiện mỹ và sống một cuộc sống thực sự hạnh phúc. Nhưng cũng có vô số những tư tưởng đồi bại không những làm hỏng cả một đời người mà còn dẫn dắt cả một thế hệ hay nguyên một quốc gia xuống hố sâu của diệt vong. Tôi đã dẫn chứng hai trường hợp cụ thể: một là chủ nghĩa cộng sản, hai là đức quốc xã.

Chủ nghĩa cộng sản, ý thức hệ đã gây ra cái chết của cả trăm triệu sinh linh trên khắp thế giới, nay đã bị quăng vào sọt rác của lịch sử. Riêng cơn ác mộng mà Đức quốc xã đã gây ra cho cả thế giới và cách riêng người Do Thái, nó khủng khiếp đến độ không bao giờ có thể  phai mờ trong ký ức tập thể của nhân loại.

Tưởng niệm cuộc sát tế người Do Thái do Đức quốc xã chủ xướng, tôi luôn ghi khắc bài học để đời của nhà văn Mỹ gốc Do Thái Elie Wiesel (1828-2016), người đã từng sống sót từ các trại tập trung trở về và năm 1986, được trao Giải Nobel Hòa Bình. Trong bài diễn văn đọc khi đón nhận Giải thưởng cao quý này, ông tuyên bố: “Chúng ta phải luôn luôn chọn phía. Trung lập giúp kẻ áp bức, chứ không bao giờ giúp nạn nhân. Im lặng chỉ cổ võ kẻ hành hạ, chứ không bao giờ giúp người bị hành hạ”(2).

Hitler và Đức quốc xã đã không có đủ ba đầu sáu tay để thực hiện chủ nghĩa đồi bại “chủng tộc Aryan thượng đẳng” và tiêu diệt người Do Thái trên khắp Âu Châu. Rất nhiều người Đức đã ủng hộ chủ trương này. Trong số những thành phần này cũng phải kể đến vai trò của chính các tín hữu Kitô, những người gọi người Do Thái là “những kẻ giết Chúa” đáng bị nguyền rủa và tiêu diệt. Bên cạnh đó là vô số những người giữ thái độ “trung lập” bằng sự thinh lặng đồng lõa trước tội ác. Vị giáo hoàng thời đó là Piô XII đã đóng một vai trò gây nhiều tranh cãi trong cuộc diệt chủng đối với người Do Thái. Mặc dù tại Roma, vị giáo hoàng này đã âm thầm giúp đỡ nhiều người Do Thái thoát khỏi nanh vuốt của Đức quốc xã, nhưng về mặt chính thức, với tư cách là biểu tượng của một sức mạnh tinh thần và đạo đức uy thế nhứt thế giới, ngài đã không hề đưa ra bất cứ một lời tuyên bố nào về tội ác của Hitler và Đức quốc xã.

Đạo đức đích thực không cho phép con người “trung lập” khi đứng trước tội ác. Không biết đương kim Giáo hoàng Leo có lắng nghe lời nhắn nhủ của nhà văn Elie Wiesel hay rút ra bài học cay đắng từ Giáo hoàng Piô XII không, nhưng ngài đã không giữ thinh lặng trước tội ác, nhứt là tội ác nhân danh niềm tin tôn giáo.

Tổng thống Donald Trump và “bộ sậu” của ông, khi tung ra “Chiến dịch Cơn thịnh nộ Sử thi” (operation epic fury) để tấn công Cộng hòa Hồi giáo Iran, đã không ngừng trích dẫn Kinh Thánh để biện minh cho cuộc chiến mà hầu như cả thế giới đều lên án. Thế giới chưa từng ủng hộ những tội ác của chế độ thần quyền Iran đối với chính người dân của mình. Nhưng dù cho Donald Trump có gào thét kêu gọi, thế giới, do những tính toán hơn thiệt, đã không đứng về phía những kẻ đang gây ra một trong những cuộc chiến đồi bại nhứt. Riêng Giáo hoàng Leo đã thẳng thừng lên án điều mà người ta chỉ có thể gọi là một cuộc “thánh chiến” của thời đại. Lên án cuộc chiến nhân danh Thiên Chúa, ngài cũng không im lặng trước chủ trương dùng sức mạnh quân sự để hiếp đáp kẻ yếu thế. Với ngài, đó là một chủ trương vô đạo. Ngài đã mạnh mẽ lên án “ảo tưởng về quyền năng tuyệt đối” đang thúc đẩy cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Iran. Trong một buổi lễ cầu nguyện cho hòa bình hôm 11 tháng Tư vừa qua, ngài nói: “Đủ rồi cái kiểu tôn thờ bản thân và tiền bạc. Đủ rồi cái kiểu phô trương quyền lực! Đủ rồi chiến tranh”(3). Sở dĩ nhà lãnh đạo tinh thần của hơn một tỷ người công giáo trên thế giới đã có những lẽ mạnh bạo như thế là bởi vì trước đó đại diện của ngài tại Hoa Kỳ là sứ thần Christophe Pierre đã được triệu tập tới Bộ Chiến Tranh để nghe một lời khiển trách gay gắt về diễn từ của ngài. Thứ trưởng quốc phòng Mỹ là ông Elbridge Colby đã nói như đe dọa với vị sứ thần: “Hoa Kỳ có sức mạnh quân sự để làm bất cứ điều gì chúng tôi muốn làm trên khắp thế giới. Giáo hội Công giáo tốt hơn nên đứng về phía chúng tôi” (4).

Lời đe dọa trên đây không thể không khiến tôi liên tưởng đến một câu nói được gán cho đồ tể Stalin khi nói về uy thế của một vị giáo hoàng trong thời Đệ nhị Thế chiến. Theo câu chuyện được truyền tụng, trong một cuộc trao đổi với Thủ tướng Anh Winston Churchill, khi được đề nghị mời nhà lãnh đạo tôn giáo đứng ra làm trung gian để giải quyết chiến tranh, Stalin đã tuyên bố: “Đi hỏi xem giáo hoàng có bao nhiêu sư đoàn?” Hư thực thế nào không biết, chỉ có điều chắc chắn là Stalin là người chỉ tin ở sức mạnh quân sự.

Lịch sử cho thấy đôi khi cũng cần có sức mạnh quân sự để giải quyết chiến tranh và mang lại hòa bình. Nhưng cũng trong rất nhiều trường hợp, sức mạnh tinh thần và đạo đức cũng có sức đạp đổ những bức tường của độc tài và áp bức tưởng như không gì có thể lay chuyển. Một Mahatma Gandhi không cần một tấc sắc trong tay đã có thể đánh đuổi được một đế quốc hùng mạnh ra khỏi đất nước của mình. Một Nelson Mandela cũng chẳng cần một khẩu súng nào mà cũng có thể đánh đổ được một chế độ phân biệt chủng tộc để đứng lên lãnh đạo quốc gia. Về sức mạnh tinh thần và đạo đức của một nhà lãnh đạo tôn giáo, khó có thể quên hình ảnh của một Giáo hoàng Gioan Phaolô II đứng giữa một quảng trường của một thủ đô Balan cộng sản để kêu gọi đám đông: “Đừng sợ hãi!” Ít hay nhiều lời kêu gọi ấy cũng đã góp phần vào sự cáo chung của chế độ cộng sản tại Balan và ảnh hưởng đến sự sụp đổ của cả khối Đông Âu cộng sản hồi cuối thập niên 1980. Có lẽ cũng tin tưởng ở sức mạnh tinh thần và đạo đức ấy cho nên sau khi bị Tổng thống Trump tấn công và chính phủ của ông đe dọa, Giáo hoàng Leo đã khẳng khái đáp trả: “Tôi không sợ Trump”(5).

Lời tuyên bố này không thể không khơi dậy trong tôi niềm hy vọng và tin tưởng rằng cuối cùng sức mạnh tinh thần và đạo đức sẽ chiến thắng.

Chu Văn, cuối tháng Tư

 

 

 Chú thích

1. George Orwell, Animal Farm, Penguin Books, 2003, trg 97

2. Elie Wiesel’ s acceptance speech, on the occasion of the award of the Nobel Peace Prize in Oslo,Dec.10,1986

3. Pope Leo XIV denounces the “delusion of omnipotence”, he says fuels the Us-Israel war in Iran, Politico 4/11/2026

4. Pentagon threatened the pope after he criticized Trump, Yahoo.news 9/4/2026.

5.I do not fear Trump, says pope Leo after US president calls him “weak” , the Guardian 14/4/2026

                                                                                                  

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

Chúc mừng Phục Sinh hạnh phúc!

 

                         

 

                                                                                        


Hằng năm, cứ đến dịp Lễ Phục Sinh của Kitô giáo, tôi lại nhớ về Phi Luật tân là nơi tôi đã sống và làm việc trong nhiều năm.

Ở quốc gia có trên 80 phần trăm dân số theo Công giáo này, tôn giáo đã trở thành một yếu tố văn hóa ăn sâu vào cuộc sống của người dân cũng như có một tầm ảnh hưởng mạnh trong sinh hoạt chính trị.  Mỗi khi ký ức khơi dậy những kỷ niệm khó quên trong những năm tháng sống tại Phi Luật Tân, tôi không thể không nhớ đến hai biến cố quan trọng mà tôi đã chứng kiến.

Trước kết là cuộc cách mạng thường được mệnh danh là “Sức mạnh của quần chúng” (People Power Revolution). Tôi vẫn nhớ mãi những ngày từ 22 đến 25 tháng Hai năm 1986. Hưởng ứng lời kêu gọi của nhà lãnh đạo tôn giáo có thế giá nhứt tại Manila là hồng y Jaime Sin, theo ước tính có đến hai triệu người đã đổ xô về đại lộ lớn nhứt ở thủ đô. Ngoài tràng chuỗi mà người ta có thể thấy trên tay các nữ tu và nhiều người, không một người nào tham gia cuộc xuống đường mang theo bất kỳ một khí giới nào. Cuộc biểu tình ôn hòa cuối cùng đã buộc Tổng thống Ferdinand Marcos, người mà rất nhiều người dân Phi vào thời điểm đó xem như một nhà độc tài, phải ra đi lưu vong.

Biến cố thứ hai luôn được tôi ghi nhớ để không ngừng tri ân Giáo hội Công giáo Phi và người dân Phi đó là cuộc tranh đấu không ngừng nghỉ của Giáo hội này để những người tỵ nạn Việt Nam đến Phi Luật Tân sau năm 1990 được phép ở lại đất nước này và nhứt là được tự do sinh sống và làm ăn trước khi được đi định cư tại một nước thứ ba. Kể từ đầu thập niên 1990, các chính phủ tại các nước Đông Nam Á ra lệnh đóng cửa các trại tỵ nạn và cưỡng bách người tỵ nạn phải hồi hương. Riêng tại Phi Luật Tân và chỉ riêng tại Phi Luật Tân, nhờ sự can thiệp và tranh đấu quyết liệt của các vị giám mục Phi cũng như của chính người dân Phi, những người tỵ nạn Việt Nam “rớt” thanh lọc, nghĩa là không được cấp quy chế tỵ nạn, đã được chính phủ Phi cho phép ở lại. Như bầy ong vỡ tổ, những người tỵ nạn Việt Nam đã bung ra khắp miền đất nước Phi để tự lực cánh sinh và bất cứ nơi nào họ đến, họ cũng đều được người dân Phi đón tiếp và giúp đỡ.

Hồi tưởng lại những năm tháng sống tại Phi Luật Tân, lúc nào trong đầu tôi cũng hiện ra những khuôn mặt lương thiện, hiếu hòa và tử tế. Với tôi đó là khuôn mặt đích thực của Kitô giáo như được Chúa Giêsu rao giảng. Nhưng dĩ nhiên, ở đâu và thời nào, khuôn mặt đích thực  đó cũng đều có thể bị bóp méo đến độ dị dạng. Tôi thường có ý nghĩ ấy mỗi khi nhớ lại những ngày trước lễ Phục Sinh tại Phi Luật Tân, cách riêng ngày mà Kitô giáo gọi là Thứ Sáu Tuần Thánh. Trong ngày tưởng niệm Chúa chết, hình như cả nước Phi đều “chết” theo. Ra đường hầu như không thấy bóng của một chiếc xe nào qua lại. Lác đác trên những con đường nhựa giữa buổi trưa nắng gắt của mùa hè nhiệt đới, có những người đàn ông mình trần, đầu bịt khăn, đi chân không, dùng một chiếc roi tua tủa bằng thép để quất vào lưng đến độ máu chảy đầm đìa. Nhưng cảnh tượng ấy có lẽ không khủng khiếp bằng cuộc đóng đinh thật diễn ra tại một làng quê có tên Cutud, nằm cách Thủ đô Manila về hướng Tây Bắc khoảng hơn một giờ lái xe. Cứ mỗi ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngôi làng quê nghèo hẻo lánh này bỗng trở thành một điểm du lịch thu hút không ít người trong nước cũng như từ nước ngoài. Nếu tại thị trấn Oberammergau, Đức, cứ mỗi mười năm, người dân tham gia diễn lại tuồng “Thương Khó”, tức cuộc tử nạn của Chúa Giêsu thì tại làng Cutud, năm nào cũng đều có ba người tự nguyện chịu đóng đinh vào thập giá và được treo lên. Tất cả diễn ra chỉ trong vài phút ngắn ngủi, nhưng cuộc đóng đinh chỉ có thể bị xem như một biểu lộ niềm tin hoàn toàn “ngoài luồng”, nghĩa là không phù hợp với giáo lý Kitô giáo. Các nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo tại Phi Luật Tân đã không ngừng lên án một cuộc diễn tuồng như thế. Bởi lẽ ý nghĩa đích thực của cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá đã bị bóp méo để biến thành một màn trình diễn không phải của tình thương mà là sự độc ác.

Vốn là biểu tượng cốt lõi của Kitô giáo, Thập giá cũng là hình tượng bị lạm dụng, bôi bác và xúc phạm nhiều nhứt. Đọc lại lịch sử của Kitô giáo qua mọi thời kỳ, tôi cho rằng hành động bôi bác Thập giá đã diễn ra ngay từ Thế kỷ thứ Tư khi hoàng đế La Mã là Constantinus biến Kitô giáo thành một công cụ để thống nhứt và bành trướng đế quốc. Biến cố quan trọng nhứt đã làm biến dạng Kitô giáo và cách riêng biểu tượng Thập giá chính là cuộc chiến thắng của Constantinus trên một đối thủ sừng sỏ nhứt thời bấy giờ là hoàng đế Licinius. Ông giải thích rằng trong một giấc mơ hay một thị kiến giữa ban này, ông đã nhìn thấy hiện ra bóng Thập giá với hàng chữ bằng tiếng La tinh “Cứ dấu này mà ngươi chiến thắng” (In hoc signo vinces). Kể từ đó, Thập giá và lưỡi gươm luôn song hành trong tay ông. Để đánh bại các đối thủ và cũng như để tàn sát chính những người thân của mình. Năm 326, nghĩa là chỉ ba năm sau khi giương cao Thập giá để triệt hạ đối thủ Licinius, Constantinus đã ra tay sát hại hoàng hậu Fausta và ngay cả đứa con đầu lòng của mình (1).

Điều trớ trêu là chỉ một năm trước đó, mặc dù chưa hề là một tín hữu Kitô, ông đã ra lệnh triệu tập tất cả các giám mục trong đế quốc về một dinh thự sang trọng của ông tại thành phố Nicaea, nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Vào thời điểm đó, Kitô giáo chưa được tổ chức thành một Giáo hội thống nhứt; rải rác trong đế quốc, mỗi vị giám mục cai quản một cộng đồng riêng rẽ, với kinh kệ và “tín điều” riêng của mỗi địa phương. Chẳng hạn, có nơi người tín hữu tin rằng Chúa Giêsu là người được Thiên Chúa sai đến, nhưng Ngài không phải là Thiên Chúa. Có nơi, người tín hữu phải tin rằng Chúa Giêsu có hai bản tính: là người thực sự bằng xương bằng thịt, nhưng lại là Thiên Chúa. Chính vì muốn giải quyết những dị biệt này mà vị hoàng đế, vốn vẫn còn là một kẻ ngoại đạo, đã triệu tập khoảng 220 vị giám mục trên toàn đế quốc về Nicaea và buộc các vị phải đưa ra một bản “tín điều” chung, dĩ nhiên, do chính những nhà “thần học” của riêng ông đề ra. Bản “tín điều” đó ngày nay thường được gọi là “Kinh Tin Kính” mà người Công giáo phải tuyên xưng trong thánh lễ ngày Chúa nhựt (2).

Kể từ công nghị đầu tiên do Hoàng đế Constantinus triệu tập tại Nicaea hay còn được gọi là công đồng chung Nicaea, Kitô giáo không những không còn bị bách hại mà còn trở thành quốc giáo trong toàn Đế quốc La Mã. Trao cho Kitô giáo “Kinh Tin Kính” Hoàng đế Constantinus cũng trao cho Kitô giáo một thanh gươm để toàn quyền “chặt chém” tất cả những tín hữu nào không tuyên xưng Kinh này. Thật vậy, kể từ đó trong Kitô giáo đã có sự phân chia rạch ròi giữa các tín hữu chính thống và những kẻ bị xem là lạc giáo. Bị tuyên án là lạc giáo có nghĩa là bị loại ra khỏi cộng đồng và ngay cả có thể bị sát hại. Những trang sử đen tối nhứt của Kitô giáo đã được viết bằng chính thanh gươm ấy: từ những cuộc Thập tự chinh suốt thời Trung Cổ qua các Tòa Điều Tra, các giàn hỏa thiêu và sau đó là những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa các Giáo hội tại Âu Châu kể từ sau cuộc Cải Cách của Martin Luther vào Thế kỷ 16.

Lịch sử đã chứng minh: nơi nào có sự nhập nhằng giữa tôn giáo và nhà nước, nơi nào Thập giá và lưỡi gươm song hành với nhau, nơi đó có chiến tranh. Cuộc chiến giữa liên minh Hoa Kỳ-Israel và Iran hiện nay, ngoài các quyền lợi chính trị và kinh tế, còn cho thấy những tác hại của sự nhập nhằng giữa tôn giáo và nhà nước. Về phía chế độ thần quyền của Iran, điều đó đã quá hiển nhiên. Còn về phía liên minh Hoa Kỳ-Israel thì sao? Bên kia vô số những động lực thúc đẩy cuộc chiến được Tổng thống Donald Trump đưa ra, người ta vẫn ngửi được mùi của trầm hương trong khói súng.

Ngày 5 tháng Ba vừa qua, một nhóm mục sư Tin Lành từ khắp nước Mỹ đã tề tựu về Tòa Bạch Ốc để “đặt tay” lên người của ông Trump và cầu nguyện xin Chúa đổ tràn ân sủng xuống ông, bảo vệ ông và ban cho ông sự khôn ngoan để tiếp tục cuộc chiến với Iran. Riêng một vị mục sư có thế giá là Tom Mullins thì xin Chúa gìn giữ ông Trump, các binh sĩ Mỹ và giúp đất nước  “trở về” với vị trí “một quốc gia dưới sự cai trị của Chúa”.

Riêng Bộ trưởng Quốc phòng, nay được Trump tự ý đổi tên thành bộ chiến tranh, là ông Pete Hegseth thì cứ mỗi tháng đều đặn tổ chức một buổi cầu nguyện trong  Ngũ Giác Đài. Trong một buổi cầu nguyện mới đây, ông xin Chúa ban cho “sức mạnh tàn bạo vũ bão chống lại những kẻ không đáng xót thương”. Tại một cuộc họp báo mới đây, ông Hegseth đã trích đọc một câu trong một bài Thánh Vịnh trong Cựu Ước: “Chúc tụng Chúa là Đá Tảng của con, Đấng rèn luyện hai bàn tay con để gây chiến và những ngón tay con để chiến đấu”(3).

Những lời “cầu nguyện” trên đây nghe như vọng lại giọng điệu của nhà lãnh đạo của Giáo hội Chính thống Nga là thượng phụ Kirill. Thật vậy, trong một tài liệu được cho công bố sau khi Nga xâm lăng Ukraine, thượng phụ Kirill gọi hành động xâm lăng này là một “Cuộc Thánh Chiến” (4).

Rồi đây, như thường lệ, trong sứ điệp Phục Sinh mà ông Trump sẽ gởi đến toàn dân Mỹ, có lẽ ông cũng sẽ lập lại cùng một giọng điệu chửi bới, hằn học, đầy hận thù nhắm đến những đối thủ của ông để rồi cầu chúc “Happy Easter” (chúc mừng Phục Sinh hạnh phúc).

Tôi vẫn hay thắc mắc: tại sao  Lễ Giáng Sinh, người Mỹ chúc “vui” (Merry Christmas), còn Lễ Phục Sinh, họ lại chúc” hạnh phúc” (Happy Easter).

Với tôi “hạnh phúc” là một trong những ý niệm hàm hồ nhứt trong ngôn ngữ của nhân loại. Mỗi người đều có một quan niệm và trải nghiệm riêng về hạnh phúc. Và có lẽ mỗi tôn giáo cũng đề ra một “hiến chương” riêng về hạnh phúc. Riêng Kitô giáo, qua cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá, có lẽ cũng muốn nhắn gởi một bí quyết của hạnh phúc: con người chỉ có thể thật sự hạnh phúc khi họ biết sống vị tha, quảng đại, trao ban, nhân ái, cảm thông, tha thứ và tha thứ cho đến cùng như Đấng, khi bị treo trên Thập Giá, vẫn còn cầu nguyện: “Xin Cha tha cho chúng vì chúng lầm không hiểu việc chúng làm”(Luc 22,34).

Với ý nghĩ ấy, xin được “Chúc mừng Phục Sinh Hạnh Phúc” (Happy Easter) đến tất cả mọi người nhất là những người đang sống trong phập phồng lo sợ không biết bom rơi đạn lạc khi nào trong lúc này.

Chu Văn

 

 Chú thích

 

1. Constantine the Great: the Emperor who killed his family yet venerated as a saint, Greek Reporter, December 9, 2025.

2.The Future of Faith, Harvey Cox, Harper Collins Publisher, New York, 2009, trg 99-111.

3. Evangelical prayed over Trump for the War...Yahoo news 30 March 2026.

4. Russian Orthodox Church declares “ Holy War” against Ukraine and West, Atlantic Council, April 9, 2024.

 

 

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Lỗi tại tôi mọi đàng!

 

                                          


                                                                                        Chu Văn

Mẹ tôi qua đời cuối năm âm lịch 1975. Tôi khóc mẹ nhưng cũng cảm thấy nhẹ nhõm. Bà bị tiểu đường nặng. Dù chỉ mới vài tháng sau “giải phóng”, thuốc men cạn kiệt, gia đình nào cũng trắng tay. Viễn ảnh của đói khổ và bệnh tật khiến tôi nhìn vào sự ra đi của mẹ tôi như một gánh nặng vừa được trút khỏi cho bà cũng như cho cả gia đình.

Khóc mẹ nhưng tôi tại cảm thấy thương cha nhiều hơn. Ông bỗng trở nên trầm ngâm, ít nói và “hiền như cục đất”. Đây quả là một cuộc “đổi đời” quan trọng của cha tôi. Thật vậy, lúc còn trẻ cha tôi là một lực điền với trình độ học vấn của một người chỉ mới “tốt nghiệp bình dân học vụ”, tính tình cộc cằn, thô lỗ và ngay cả vũ phu. Lúc nhỏ, tôi đã từng một vài lần chứng kiến cảnh cha tôi hành hung mẹ tôi. Với những đứa con trai trong nhà, ngoài việc cha tôi không rượu chè, cờ bạc “trai gái” lại chăm chỉ cày sâu cuốc bẫm để gia đình được đủ ăn đủ mặc, cha tôi hẳn không phải là một người cha gương mẫu để chúng tôi noi theo. Vậy mà, khi bước vào tuổi già, nhứt là kể từ sau năm 1975, cha tôi đã hoàn toàn lột xác: ông trở nên hiền lành một cách khác thường và nhứt là luôn tỏ ra cảm thông với mọi người.

Là một người công giáo thuần thành, sớm tối kinh kệ ở nhà và rất thường đi lễ mỗi ngày, có lẽ năm nào cha tôi cũng đều nghe đoạn Tin Mừng thuật lại việc Chúa Giêsu chủ tọa phiên tòa xử một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Theo luật của ông Môi sen, người đã lãnh đạo cuộc xuất hành của người Do Thái thoát khỏi ách nô lệ bên Ai Cập, những người đàn bà như thế phải bị ném đá cho đến chết. Các biệt phái, tức “đặc vụ tôn giáo”, đã lôi người đàn bà đến trước mặt Chúa Giêsu và buộc Ngài phải xét xử: có nên ném đá người đàn bà này không? Thật ra, những người biệt phái cố tình gài Chúa Giêsu vào một cái bẫy: tha người đàn bà là chống lại luật của Môi sen, mà chuẩn thuận việc ném đá chị ta là đi ngược lại giáo lý về sự cảm thông và tha thứ mà Ngài không ngừng rao giảng. Câu chuyện kết thúc bằng phán quyết của Chúa: ai trong các ngươi là người không có tội hãy là người trước tiên ném đá chị ta! Tất cả mọi người trong đám đông đều từ từ bỏ ra về. Tôi đặc biệt chú ý đến chi tiết: những người nhiều tuổi nhứt là những người rút lui  trước tiên!

Tôi tin rằng khi bắt đầu bước vào tuổi già, cha tôi hẳn đã phải suy nghĩ về chi tiết ấy. Người Việt Nam thường nói: “đa thọ đa nhục. “Nhục” không hẳn là vì con cái làm “bể cái sĩ diện” của mình hay gia đình, cho bằng là vì những lầm lỗi của chính mình. Cha tôi hẳn đã “đấm ngực” và hối hận vì những lầm lỗi của mình.

Khi cha tôi bắt đầu thực sự “đổi đời” thì ông đã bước vào tuổi thất thập cổ lai hy, còn tôi thì cũng đã đến tuổi tam thập như lập. Cha tôi biết ông chẳng có gì để dạy dỗ tôi nữa. Ông chỉ muốn nhắc nhở tôi một điều: càng thêm tuổi, con người càng phải biết ý thức hơn về thân phận “nhân vô thập toàn” của kiếp người, để luôn tự vấn lương tâm và hối cải hầu tỏ ra biết cảm thông với người khác hơn.

Tết năm nay, tôi chuẩn bị bước vào tuổi bát tuần. Già rồi, ít hoạt động cho nên có lúc tôi ngồi thừ người ra để suy nghĩ vẩn vơ. Một trong những ý nghĩ khiến tôi cứ phải cười một mình là: già đầu mà có khi cũng còn “con nít”!  Mà thật vậy, theo dõi tin tức mỗi ngày hay nhìn xung quanh, tôi thấy có khối người già mà không chịu “lớn”.

Bước vào tuổi già, tôi không ngờ mình lại mắc  một “hội chứng” mà người ta gọi là “điên vì Trump” (Trump derangement syndrome). Ngày nào cũng như ngày nào, theo dõi tin tức, tôi cứ phải nghe “Trump, Trump, Trump”. Và hình ảnh của ông ám ảnh tôi đến độ có đêm tôi mơ về ông như một ác mộng. Trên báo chí và các trang mạng xã hội, ông xuất hiện dưới rất nhiều khuôn mặt. Nhưng riêng tôi, cứ mỗi lần nghĩ về ông, tôi chỉ thấy có mỗi hình ảnh của một em bé bong bóng còn mặc tã, tay cầm điện thoại di động được người dân Anh cho bay lơ lửng trên bầu trời của thủ đô London lần đầu tiên khi Tổng thống Trump chính thức viếng thăm Anh Quốc hồi năm 2018 (1). Và dĩ nhiên, em bé bong bóng đó cũng được cho bay lượn trong rất nhiều cuộc biểu tình của chính người dân Mỹ.

Tôi cho rằng hình ảnh của em bé bong bóng Trump là biểu tượng thể hiện chính xác nhứt tư cách của đương kim tổng thống Mỹ. Có lúc tôi cũng cố gắng làm “trạng sư của quỷ” để biện minh cho lời nói, hành động và các chính sách của ông. Cũng như nhiều người Việt Nam ở Úc ủng hộ ông hết mình, tôi cũng nói: chống ông làm chi, cứ chờ bốn năm nữa sẽ thấy; hoặc như một số bạn bè và người thân của tôi ở Mỹ cho tới giờ phút này vẫn tiếp tục tôn thờ ông, tôi cũng nghĩ rằng ông có những “độc chiêu” mà những người không biết nhìn xa thấy rộng như tôi không thể nào hiểu thấu; cứ xem phim chưởng của Tàu thì sẽ hiểu ngay: ai đánh bại được mấy ông thày võ say rượu (drunken master). Ông Trump có “tư cách của một người say rượu” không phải là chuyện do ai đó ghét ông mà bịa ra đâu. Chính bà Chánh văn phòng của ông là bà Susie Wiles trong nhiều cuộc phỏng vấn dành cho tạp chí Vanity Fair đã nói như thế (2).

Tuy nhiên, dù có cố gắng uốn năm tấc lưỡi để biện minh cho ông, cuối cùng tôi cũng vẫn không chạy thoát khỏi hình ảnh của em bé bong bóng Trump. Tôi tin ở khẳng định của người cháu gái của ông là bà Mary Trump, một chuyên gia tâm lý trị liệu rất có uy tín. Trong cuốn sách viết về ông chú của mình (3) cũng như qua nhiều cuộc phỏng vấn, bà nói rằng ông ta vẫn mãi mãi là “một đứa bé ba tuổi không chịu lớn” (4).

Ông Trump quả thật là “một đứa bé ba tuổi không chịu lớn”. Rất nhiều hành vi và lời nói của ông mà chỉ cần một chút suy nghĩ bình thường với lẽ thường (common sens), khó mà không bảo đó là những hành vi và lời nói ấu trĩ. Nhưng có lẽ chân dung rõ nét nhứt của một “đứa bé ba tuổi không chịu lớn” của ông được hiển lộ qua lá thư ông gởi cho thủ tướng Na Uy khi đề cập đến việc muốn chiếm đảo Greenland của Đan Mạch: “Xét thấy đất nước của các vị đã quyết định không trao cho tôi giải Nobel Hòa Bình dù (tôi) đã ngăn chặn hơn 9 cuộc chiến, tôi không còn cảm thấy có nghĩa vụ phải chỉ nghĩ đến hòa bình nữa, mặc dù hòa bình sẽ luôn là ưu tiên hàng đầu, giờ đây tôi có thể nghĩ đến những điều tốt đẹp và phù hợp cho Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ” (5).

Giọng điệu của lá thư trên đây khiến nhiều người so sánh ông Trump với nhân vật Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Chí Phèo đã từng than thở: “Tôi muốn làm người lương thiện...Ai cho tôi lương thiện? Làm thế nào cho mất hết những mảnh chai trên mặt này? Tôi không thể là người lương thiện nữa...” Xuất thân là một đứa con hoang bị bỏ rơi trong một lò gạch, lớn lên trong không biết bao nhiêu nghịch cảnh, nếu Chí Phèo không còn muốn sống lương thiện nữa...có lẽ cũng là điều có thể hiểu và cảm thông được. Trong khi đó Donald Trump được sinh ra và lớn lên trong nhung lụa, suốt cả đời chỉ được bao bọc trong cái kén của giàu sang và chiều chuộng. Nhiều người cũng có cùng hoàn cảnh như ông, nhưng họ đã thoát ra khỏi cái kén để thành người. Còn ông chỉ muốn cuộn mình trong cái kén ấy!

Có lẽ không cần phải là một chuyên gia tâm lý hay một nhà giáo để hiểu tâm lý của một “đứa bé ba tuổi”. Trong gia đình, “đứa bé ba tuổi” nào cũng là một ông trời con. Nó muốn gì được nấy. Và nhứt là trong thế giới tâm linh và vốn liếng tự vựng của nó, làm gì có những ý niệm như trách nhiệm hay hai tiếng “xin lỗi”.

Donald Trump cho tới giờ phút này vẫn mãi mãi là một đứa bé như thế. Suốt trong nhiệm kỳ thứ nhứt và nay sau hơn một năm trong nhiệm kỳ thứ hai, có ai nghe được một lần Trump nhìn nhận những thất bại do chính mình tự tạo ra không. Tất cả những vấn đề của nước Mỹ hiện nay và vô số những thất bại của cá nhân ông, tất cả đều do lỗi của người khác, nhứt là của người tiền nhiệm của ông là Tổng thống Joe Biden và Đảng Dân Chủ (6). Mới đây thôi, chính ông là người đã tung lên trang mạng Truth Social của ông một băng hình mô tả hai vợ chồng cựu tổng thống Barack Obama như những con khỉ đột. Băng hình xuất hiện trên trang mạng đến cả 12 tiếng đồng hồ. Bị dư luận lên án, ông cho rút băng hình xuống, nhưng không chịu lên tiếng xin lỗi, vì không do lỗi của ông mà của một nhân viên Tòa Bạch Ốc “nào đó” (7).

“Đứa bé ba tuổi không chịu lớn” Donald Trump đúng là một ông trời con. Ông hành xử như thế, bởi vì rất nhiều người Mỹ đã tin như thế. 80 phần trăm tín hữu Tin Lành và 60 phần trăm người công giáo Mỹ đã “tuyên xưng” rằng ông là thiên sứ. Có người còn gọi ông là Chúa Giêsu (8). Dĩ nhiên, đã là thiên sứ hay là Chúa Giêsu thì làm sao có thể sai lầm được. Chính vậy mà tất cả những người tôn thờ ông, ngay cả một người thông minh đĩnh đạt như người giàu nhứt thế giới là Elon Musk, cũng đều “tuyên xưng tín điều”: “Trump đúng về mọi sự” và dĩ nhiên, ngay cả chính ông cũng nhìn nhận điều đó (9).

Không thiếu người khi suy nghĩ về tư cách “đứa bé ba tuổi không chịu lớn” Donald Trump và tình hình chính trị của Hoa Kỳ hiện nay đều cho rằng đất nước “vĩ đại” này đang trượt dài về phía độc tài.

Thật vậy, một nền dân chủ đích thực được xây dựng trên một nguyên tắc nền tảng nhứt: sai lầm là thuộc tính của con người! Chính vì vậy mà bất cứ nền dân chủ đích thực nào cũng đều có ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp để kiểm soát và cân bằng quyền lực. Trong khi đó trong bất cứ chế độ độc tài nào, nhứt là độc tài đảng trị như Việt Nam, Đảng nắm vững chân lý, Đảng không bao giờ sai lầm!

Tôi lo sợ cho nước Mỹ và dĩ nhiên cho cả thế giới trong đó có Úc Đại Lợi đáng yêu của tôi. Tôi lo sợ cho Hoa Kỳ là bởi vì không chỉ có đám đông dân chúng, mà ngay cả cơ quan cầm cân nẩy mực tối cao của Hoa kỳ là Tối cao Pháp viện đã “xức dầu tấn phong” cho một “đứa bé ba tuổi không chịu lớn” lên làm vua, bởi vì “đứa bé” đó được quyền ngồi xổm trên Hiến Pháp, Luật Pháp và những chuẩn mực đạo đức nền tảng nhứt để có quyền làm những điều phi pháp và vô luân mà vẫn được miễn tố!

Đó thật là một điều đáng sợ bởi chuyện một“Bé Trump” không chịu lớn không phải là một ngoại lệ, mà là cả nước Mỹ đã để cho một đứa bé hư hỏng xỏ mũi và im lặng ngay cả hỗ trợ và ủng hộ trước những việc làm tồi tệ, tùy hứng, vô nhân và khốn nạn của nó.

Đầu năm mới, nghĩ về “ông trời con” Donald Trump, tôi cũng nhìn lại chính bản thân mình. Tôi và ông ta sinh cùng năm, cùng cầm tinh con chó và cùng muốn được lên thiên đàng. Có lẽ chỉ khác một điều: trong khi ông Trump “can đảm” tìm mọi cách xóa đi quá khứ kể cả bằng cách chạy trốn. Phần tôi, khi nhìn lại cuộc đời mình, nhớ cha, tôi chỉ biết đấm ngực “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!”.

Chu Văn 

 


1. Donald Trump baby balloon, Wikepedia.

2. Trump chief of staff Susie Wiles say president “has an alcoolic” personality”....CNN Dec 17,2025.

3. Too much and never enough: how my family created the world most dangerous man.

4. Niece says Trump remains  much as he was at three years old”: “unable to regulate his emotions”, Alex Hendeson, Salon July 6, 2020.

5.Trump: không có giải thưởng, không có hòa bình, Nguyễn Quốc Khải, Tiếng Dân 21-1-2026.

6. Trump blames others, but never himself, for America’s prolems,

The Hill, 01/01/26.

7. Trump declines to Apologise for racist video of Obamas, The New York Times, 05/20/06.

8. Marjorie Taylor Green compares Trump to Jesus.The Guardian, 10/June/2024.

9. Trump says he’s “been right about everything”, NBC NEWS 23 Sept 2025.

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

Thời ông Ba Bị!

 

                                             

                                                


                                              

 

Từ ngày trốn khỏi Việt Nam đến nay, tính ra tôi cũng đã sống ở nước ngoài trên 40 năm. Phần lớn tại những nước nói tiếng Anh. Vậy mà cho tới nay, tiếng Anh của tôi vẫn còn ở tình trạng “ăn đong”. Mỗi lần đọc sách báo bằng Anh ngữ, tôi vẫn cứ kè kè quyển tự điển bên hông hoặc cầu cứu ông Google.

Tuy có mất giờ, nhưng tôi vẫn xem việc tra tự điển liên miên như thế là một thao tác hữu ích cho một người già lú lẫn như tôi. Tôi “phục lăn” tổng thống Mỹ Donald Trump. Cùng một tuổi với tôi, vậy mà mới đây, khi nói về trí lực, mặc dù thường ngủ gục trong những lần họp nội các, ông  khẳng định rằng ông minh mẫn, sắc bén” hơn cách đây 25 năm (1). Không những “phục lăn” ông, tôi cũng “thích” cách nói chuyện của ông. Nó đơn giản, dễ hiểu vì chỉ quanh quẩn với một số từ quen thuộc. Tự đề cao mình hay các chính sách của mình thì chỉ cần năm ba chữ như “to” (big), “đẹp” (beautiful), “tuyệt vời” (wonderful)...Còn như để phê bình, chê bai hay ngay cả rủa sả các đối thủ hay những ai dám thách thức ông thì lúc nào ông cũng tuôn ra mấy chữ như: “ngu” (stupid), “chỉ số thông minh thấp” (low I.Q), “kẻ thua cuộc” (loser), “hạng hai” (second grade), “ác” (nasty), “đồ mất trí” (lunatic). Còn để miệt thị một dân tộc nào đó, ông gọi họ là “đồ rác rưởi” (garbage) hay “hố xí” (shithole country) ...Dù sao cũng có những từ hoặc cụm từ thường được ông dùng, đối với riêng tôi, không đơn giản chút nào. Một trong những cụm từ đó là “săn phù thủy” (witch hunt). Tôi bắt đầu nghe cụm từ này kể từ khi có cuộc điều tra về việc Nga can thiệp vào cuộc bầu cử ở Mỹ hồi năm 2015. Kể từ đó, cứ mỗi lần có cuộc điều tra nào dính tới ông thì đó là một cuộc “săn phù thủy”.

Vốn theo truyền thống “chữ nghĩa” của Việt Nam ngày xưa, cho nên hễ gặp một từ mới thì tôi luôn cố gắng “lần” ra ngọn nguồn và “nghĩa” của từ đó.

Tuy ít được nhắc tới nhiều như các cuộc thập tự viễn chinh, các tòa điều tra, các cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Công giáo và Tin Lành, nhưng các cuộc săn phù thủy từ thời Trung cổ cho đến Thế kỷ thứ 17 cũng là một trong những trang sử đen tối của Kitô giáo tại Âu Châu.

Điều đáng chú ý là tuyệt đại đa số các “phù thủy” bị săn lùng đều thuộc nữ giới. Ngay cả ngày nay, hầu như tất cả các nhân vật phù thủy trong sách báo hay phim ảnh cũng vẫn là phụ nữ. Theo sử gia Yuval Noah Harari, các cuộc săn lùng phù thủy tại Âu Châu có lẽ bắt nguồn từ một “lời dạy” của thánh Phaolô trong lá thư thứ nhứt của ngài gởi cho người môn đệ tên là Timôtêô. Thật vậy, trong một đoạn thư, vị thánh được cho là nhà thần học đầu tiên của Kitô giáo viết rằng: “Tôi không cho phép đàn bà giảng dạy hay thống trị đàn ông, trái lại họ phải thinh lặng, vì Adam được tạo dựng trước rồi mới đến Eva. Cũng không phải Adam đã bị dụ dỗ, nhưng người đàn bà đã phạm tội, khi bị dụ dỗ” (1 Tim2, 12-14).

Dựa trên đoạn văn trên đây, các “nhà thần học” thời Trung Cổ suy ra rằng vì dễ bị dụ dỗ cho nên phụ nữ được Satan (Ma Quỉ) dùng để chống lại Kitô giáo, hủy hoại trật tự xã hội và tiêu diệt nhân loại. Theo các "nhà thần học" này, cứ đêm đến các phù thủy thường tập trung lại để thờ lạy Satan, giết hại trẻ con, ăn thịt người cũng như đọc thần chú để tạo ra sấm sét, dịch bệnh và những tai họa khác.

Những cuộc săn lùng phù thủy đầu tiên đã diễn ra tại những vùng hẻo lánh ở phía đông dãy núi Alpes từ giữa năm 1428 đến năm 1436. Đã có khoảng hơn 200 người bị kết án hay nghi ngờ là phù thủy bị giết chết. Nhưng đó chỉ là những cuộc săn lùng và hành quyết lẻ tẻ diễn ra tại một số địa phương. Các nhà lãnh đạo tôn giáo vẫn còn tỏ ra nghi ngờ về sự hiện diện và tác động của các phù thủy trong các cộng đồng tôn giáo. Tuy nhiên vào năm 1485, một tu sĩ dòng Đa Minh người Áo tên là Heinrich Kramer, người đã từng là một phán quan trong các cuộc điều tra và trừng phạt những người bị xem là “lạc giáo”, đã tung ra một cuốn sách có tựa đề “Chiếc búa của các phù thủy” (The hammer of the witches). Đây là một cuốn cẩm nang hướng dẫn việc săn lùng, tố cáo và hạ sát các phù thủy. Với sự ra đời của máy in do Gutenberg phát minh, cuốn cẩm nang của Kramer đã được phổ biến rộng rãi trong dân chúng. Người ta bắt đầu nghe nói tới những cuộc hoang dâm, sát hại trẻ con và những âm mưu độc ác của Satan. Nỗi sợ hãi bao trùm xã hội và dĩ nhiên cũng làm phát sinh những cơn cuồng nộ dẫn đến cả một chiến dịch rộng rãi trong việc săn lùng và tàn sát phù thủy. Với chiến dịch do cuốn cẩm nang của Kramer phát động, người ta đã “phát hiện” trên khắp Âu Châu khoảng một triệu tám trăm ngàn phù thủy. Riêng tại Pháp, con số phù thủy cũng ước tính lên đến 300.000 người. Trong hai thế kỷ 16 và 17, con số phù thủy bị tra tấn và hành quyết không dưới 50 ngàn người. Dĩ nhiên, tất cả đều là những nạn nhân vô tội thuộc mọi thành phần trong xã hội. Có cả những trẻ em mới 5 tuổi cũng bị khép vào tội hành nghề phù thủy!

Một trong những cuộc săn lùng phù thủy dã man nhứt đã diễn ra tại hai thành phố ở miền nam nước Đức vào cuối Thế kỷ 17 là Bamberg và Wurzburg. Tại Bamberg, một thành phố chỉ có 12 ngàn dân, vậy mà có đến 900 người vô tội bị tố cáo làm phù thủy đã bị hành quyết. Tại Wurzburg, với dân số khoảng trên 11 ngàn người, vậy mà cũng đã có 1.200 người bị tra tấn và giết chết.

Sau không biết bao nhiêu chết chóc như thế, giáo quyền mới cho mở cuộc điều tra và cuối cùng đã tuyên bố rằng “đã không tìm thấy bất cứ một bằng chứng nào cho thấy có hoạt động phù thủy” và cũng “chẳng có phù thủy nào hay người nào bị phù thủy ám hại ngoại trừ chỉ nghe nói đến và được viết ra”(2).

Nói theo ngôn ngữ quen thuộc của ông Trump, các cuộc săn lùng phù thủy tại Âu Châu từ thời Trung Cổ cho đến Thế kỷ 17 chỉ là một “cú lừa bịp” (hoax). Người ta dựng lên một câu chuyện và chọn một thành phần xã hội dễ bị tổn thương nhứt để trút lên đầu họ mọi tội ác trong xã hội để có cớ tẩy chay, truy lùng và sát hại họ.

Theo sử gia Harari, có lẽ cuốn cẩm nang săn lùng phù thủy của ông thày dòng Kramer cũng đã trở thành cẩm nang của những người cộng sản Nga trong chiến dịch săn lùng thành phần “địa chủ” (Kulak). Trong thập niên 1930, dưới thời Stalin, chiến dịch tập thể hóa nông nghiệp đã gặp thất bại nặng nề, dẫn đến sự phản kháng của nông dân và một sự thất bại kinh tế chưa từng có. Trăm dâu đổ đầu tằm. Chính quyền cộng sản tung ra một thuyết âm mưu và trút lên đầu những người bị gán cho nhãn hiệu “địa chủ” mọi thứ tai họa ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước. Stalin tuyên bố “địa chủ” là một giai cấp cần phải bị xóa bỏ. Theo lời hiệu triệu của Stalin, toàn đảng, toàn lực lượng an ninh đã bắt tay vào cuộc truy lùng và tiêu diệt giai cấp “địa chủ”. Dĩ nhiên, như người dân Việt Nam đã từng chứng kiến, sao chép lại bản sao từ Trung Cộng dưới thời Mao Trạch Đông, Đảng cộng sản Việt Nam dưới thời Hồ Chí Minh cũng đã áp dụng chính sách truy lùng và tiêu diệt thành phần địa chủ của Stalin trong cuộc đấu tố hồi thập niên 1950. Tính chung, trong cuộc truy lùng địa chủ Nga dưới thời Stalin, đã có khoảng 5 triệu người bị đuổi ra khỏi nhà của họ và không dưới 30 ngàn chủ hộ bị mang ra hành quyết (3).

Nhìn chung, cuộc săn lùng phù thủy ở Âu Châu và cuộc truy lùng và tiêu diệt thành phần địa chủ dưới thời Stalin có chung một mẫu số: tìm cho được một thành phần xã hội để trút lên đầu họ mọi thứ tai họa trong xã hội và truy lùng, sát hại họ để tạo ra hoang mang và sợ hãi. Ngày xưa, người Do Thái trong sách Cựu Ước cũng đã từng làm như thế, nhưng họ chỉ trút mọi tội lỗi của họ lên đầu những con dê. Trong cuộc săn lùng phù thủy và trong chiến dịch tiêu diệt giai cấp địa chủ của Stalin, những “con dê tế thần” lại chính là những con người bằng xương bằng thịt!

Cuộc săn lùng phù thủy tại Âu Châu và chiến dịch tiêu diệt giai cấp địa chủ tại Nga dưới thời Stalin chỉ là 2 trường hợp điển hình. Lịch sử thế giới hẳn không thiếu những cuộc săn lùng như thế. Và dĩ nhiên, có lẽ ông Trump, dù bị cho là không thông minh, nhưng có lẽ cũng đã hiểu rõ hơn ai hết thế nào là “săn lùng phù thủy” và áp dụng thuật ngữ này một cách rạch ròi và thành công hơn ai hết. Như cả thế giới đều đã và đang chứng kiến, chiến dịch “hấp dẫn” và có sức thuyết phục nhứt của ông đối với người dân Mỹ nói chung chính là chính sách di trú. Trong chiến dịch tranh cử trong nhiệm kỳ thứ nhứt, chiến dịch thu hút nhứt của ông là “Xây Bức Tường” (Build the Wall) ở biên giới phía nam để ngăn chặn làn sóng di dân lậu từ Mễ Tây Cơ và các nước Nam Mỹ nói chung. Cùng với khẩu hiệu “Xây Bức Tường”, ông đã trút lên đầu người di dân mọi thứ tội lỗi như ăn cướp công ăn việc làm của người dân Mỹ, buôn lậu ma túy vào Mỹ, hãm hiếp phụ nữ Mỹ, trở thành gánh nặng cho Mỹ, gây xáo trộn và bất ổn cho xã hội Mỹ hoặc có khi còn tệ hơn, “di dân là đồ súc vật”(4)...Đang bất mãn vì tình trạng chính trị, kinh tế, xã hội và cuộc sống của mình, người dân Mỹ rất “khoái tai” khi nghe những cáo buộc dành cho người di dân như thế. Chính vì thế mà họ đã dồn phiếu cho ông và ngay cả khi ông đã hoàn toàn thất bại trong nhiệm kỳ đầu, người dân Mỹ vẫn muốn đưa ông trở lại Tòa Bạch Ốc một lần nữa. Tất cả hay có thể nói phần lớn là nhờ chính sách di dân của ông. Được nước làm tới, trong nhiệm kỳ thứ hai này, chính sách di dân của ông đã được đẩy mạnh tới mức mà người ta chỉ có thể gọi là tội ác đối với người di dân.

Người dân Mỹ, nói chung, vẫn tiếp tục “sợ” người di dân. Ông Trump vẫn tiếp tục thành công trong chiến dịch “hù dọa” họ với những con ngáo ộp di dân. Chính vì sợ một điều không tưởng mà người ta đã không những ủng hộ mà còn sùng bái một con người mà một cựu luật sư của Tòa Bạch Ốc trong nhiệm kỳ đầu của ông Trump là ông Ty Cobb đã gọi là con người “tồi tệ hơn bất kỳ người nào trong lịch sử” của nước Mỹ(4).

Sợ và sợ những điều tưởng tượng vốn là đặc tính của trẻ con. Có đứa trẻ Việt Nam nào mà không sợ mỗi khi người lớn đưa “ông Ba Bị” ra hù dọa. Mỗi lần nhớ tới “ông Ba Bị” của tuổi thơ, tôi lại nhớ đến hai câu thơ của cụ Tản Đà: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn. Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”.

Bốn ngàn năm văn hiến mà vẫn còn là trẻ con, thì 250 năm lịch sử có lẽ cũng chưa hẳn đã đủ dài để thật sự gọi là lớn đủ nếu vẫn còn cuộn mình trong vỏ ốc của ích kỷ và hận thù.

Mùa Giáng Sinh năm nay, thay cho “ông Ba Bị” với những lo sợ láo lếu của một người chuyên “tuôn” phù thủy vào đầu người dân, tôi cầu mong ông già Noel mang chiếc bị đầy những cái nhìn thân thiện, yêu thương và cảm thông đến tặng mọi người, để mỗi khi chúng ta nhìn nhau, chúng ta thấy được sự đẹp đẽ, chân tình và ngay cả khổ đau trong tâm hồn và thân xác của những người quanh ta.

Bình an dưới thế cho người thiện tâm!

Chu Văn

 

 

 

 

 

 

 

Chú thích

1.Trump said he was ‘sharper than I was 25 years ago’...Aaron Blake, CNN 5/12/2025.

2.Yuval Noah Harari, Nexus, a brief history of information networks from Stone Age to AI, Random House, New York, 2024, trg 91-101.

3.Sđd trg 167-171.

4.”Aliens” and “animals”- language of hte used by Trump...The Conversation, January 30, 2025

5. Fact Check: former White House lawyer Ty Cobb on Trump: “ worse than anyone in our history, Yahoo news September 8,2025.