Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

Của Đồng Lần Thiên Hạ Tiêu Chung


Chu Thập
1.7.11



Năm nào cũng vậy, cứ vào tháng 6, mùa “đại hạ giá” giữa năm, thấy người ta nô nức đi sắm sửa, tôi cũng chen chân đi cho vui. Nhưng lần nào tôi cũng xách xe không về nhà. Hôm rồi, thấy nhà tôi và tôi đang đứng “ngẩn ngơ” trước những món hàng “xịn” trong một cửa hàng Myer, một bà Úc tốt bụng xáp lại gợi chuyện và khuyên chúng tôi nên đến cửa hàng Colorado bên cạnh, vì ở đó đang hạ giá tới 70 phần trăm. Tưởng bở, chúng tôi chạy vội đến đó. Trời mùa đông lạnh vậy mà vào đó cũng nghẹt thở vì đông người. Nhưng đến khi sờ được những món mình thích, tôi mới tá hỏa tam tinh: đã bớt đến 5, 7 chục phần trăm mà tôi vẫn thấy cái giá ấy chỉ dành cho những dân chơi hàng hiệu mà thôi.  Không thuộc giai cấp mà chính phủ Lao động  xếp vào hạng “giàu có”, chúng tôi cũng đành sờ qua ngắm lại cho ra vẻ dân sành điệu rồi lặng lẽ chuồn đi cho khỏi mất mặt. Rốt cục, đi hết cửa hàng này sang cửa hàng khác cho giãn gân giãn cốt, nhìn ngắm thiên hạ náo nhiệt, rồi về. Xét ra chẳng mất mát gì mà còn được một bữa đi dạo, nhìn đời, nhìn người cũng vui!
Thực ra, tôi không mua được món nào không phải vì tôi nghèo kiết đến độ chỉ biết mua “hàm thụ” bằng mắt , mà vì đi phố mà lòng tôi lúc nào cũng ngoái lại cái tủ quần áo ở nhà. Khai ra thì chắc thế nào cũng bị chê cười, nhưng quần áo tôi đang mặc hầu như chẳng có cái nào dưới 10 tuổi. Tôi có bà con với “kẹo kéo” một phần, còn phần lớn tại quần áo của bọn “đế quốc” nó không chịu rách. Có những chiếc áo sơ mi tôi mua nhân chuyến đi Mỹ cách đây hơn 20 năm vẫn còn lành lặn và xem ra cũng chẳng lỗi thời chút nào. Vài bộ đồ vía để mỗi năm “tròng” vô một lần thì làm sao “sứt chỉ đường tà” để mà sắm cái mới. Cũng may là “vòng giữa” của tôi không thay đổi mấy cho nên tứ thời bát tiết lúc nào tôi cũng “diện” vào được.
Thành ra mỗi lần đi phố về, không mua sắm được gì, tôi hơi có cái “mặc cảm” của một người không đóng góp tích cực cho kinh tế nước nhà. Vào lúc kinh tế suy trầm, phải có người mua kẻ sắm, thì đồng tiền mới lưu chuyển, cửa hàng mới có kẻ ra người vào và bộ mặt kinh tế mới sáng sủa ra. Chớ cứ khư khư ôm cái hầu bao và hà tiện hà tặn như tôi thì làm gì kinh tế lên được. Thời ông Kevin Rudd còn làm thủ tướng, chính phủ Úc đã chẳng tháo khoán ngân quĩ quốc gia lì xì cho các cụ cao niên để các cụ có “cơ hội” giúp cho kinh tế “lên” đó sao?
Nhưng thôi, tôi chẳng phải là một kinh tế gia để mà bàn tính hơn thiệt về chuyện mua sắm. Lý do khiến tôi phải đắn đo và chi li trong việc mua sắm quần áo là vì tôi cứ nghĩ đến những người thiếu ăn thiếu mặc tại các nước nghèo, trong đó có không biết bao nhiêu bà con ruột thịt của tôi. Hồi mới bỏ thuốc lá, tôi không những thấy sức khỏe của mình được phục hồi mà còn vui gấp bội vì mỗi tháng tôi để dành được không dưới ba trăm Úc kim để giúp cho một hai gia đình người thân ở quê nhà có thể sống được cả tháng.
Bớt một chút tiêu xài để cảm thấy được “tự do thanh thoát” hơn đã đành, mà cũng để cảm thông hơn với những người đang thiếu thốn: đó là lý do khiến tôi cứ “đi không rồi lại về không”!
Tuần vừa qua, nhân Tuần lễ Tỵ nạn do Liên hiệp quốc tổ chức, đài truyền hình SBS cho chiếu phóng sự có tựa đề “Go back to where you came from” (trở về nơi bạn đã ra đi). Hình ảnh sinh hoạt trong một số trại tỵ nạn và cuộc sống khốn khổ tại một số quốc gia được ghi lại trong phóng sự xem ra chẳng nhằm nhò so với kiếp đọa đày trong các chế độ cộng sản, cuộc vượt biên đi tìm tự do trong cái chết và những ngày vất vưởng trong một số trại cấm của nhiều người Việt nam chúng ta. Nhưng đối với 6 người tiêu biểu cho dân Úc được tuyển chọn để đi ngược lại cuộc hành trình tìm tự do của người tỵ nạn “thời nay”, thì quả thực đây hẳn phải là một kinh nghiệm để đời. Những phát biểu ở cuối bài phóng sự đã nói lên sự “đổi đời” của những người này. Ít ra, giờ đây, họ biết cảm thông hơn và hiểu được lý do tại sao có những người dám bỏ lại tất cả, hơn nữa, liều mạng sống của mình để mua lấy hai chữ tự do. Hình ảnh chiếc thuyền tỵ nạn bị đánh vào ghềnh đá của Christmas Island, vỡ tan tành và kéo theo bao nhiêu người xuống lòng biển dạo tháng 12 năm ngoái, không còn là một vấn đề “tầm trú” để mang ra tranh luận và đấu đá nhau nữa, mà là mũi dao chọc thẳng vào những lương tâm còn biết động lòng trắc ẩn và cảm thông. Hẳn phải nếm trải những cơ cực và thiếu thốn, con người mới có thể cảm nhận được phần nào những khổ đau của người đồng loại. Tôi tin chắc rằng 6 người Úc được may mắn đi ngược lại cuộc hành trình của những người tầm trú và tất cả những ai theo dõi cuộc hành trình của họ trong tuần qua trên màn ảnh, giờ đây hẳn thấy “cảm thông” hơn với những người kém may mắn hơn mình.
Cuộc sống dư dật về vật chất, an toàn về xã hội dễ khiến cho con người bị cuốn xoáy trong dòng nước của chủ nghĩa tiêu thụ. Ông Karl Rabeder, một triệu phú người Áo đã dùng tất cả tài sản của mình để giúp cho một số dự án phát triển tại Châu Mỹ Latinh và lui về sống ẩn dật tại một nơi hẻo lánh, đã nhận định về thế giới kinh doanh và xã hội tiêu thụ như sau: “Họ bảo chúng ta phải sắm sửa để được hạnh phúc. Nhưng vì những thứ ấy không làm cho chúng ta hạnh phúc cho nên chúng ta cứ mua sắm mãi…Chúng ta giống như những con cừu: ở bên trái, chúng ta nghe một con chó sủa khiến chúng ta lo lắng về cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu và về việc chúng ta có thể mất công ăn việc làm; ở bên phải lại có một con chó khác cũng sủa để cảnh cáo chúng ta về sự cần thiết phải mua bảo hiểm thật đắt để phòng ngừa trường hợp đau yếu. Do đó, chúng ta cật lực làm việc cho tương lai đến độ không thể sống cho ngày hôm nay…Tôi đã trải nghiệm điều đó, vì tôi đã bỏ cả cuộc đời để trở nên giàu thêm nhưng lại cảm thấy khốn khổ hơn.” (Reader’ Digest, ấn bản Úc châu, số ra tháng 7/2011)
Thực ra, không phải tất cả mọi người giàu có đều chỉ biết làm giàu và bất hạnh. Noi gương hai tỷ phú Bill Gates và Warren Buffet, ngày càng có nhiều cự phú và tài tử giai nhân giàu có trên thế giới biết đóng góp vào các công cuộc từ thiện và phát triển. Nếu có hưởng nếm được một chút niềm vui hay hạnh phúc đích thực, thì hẳn không phải vì họ đang ngồi ngất ngưỡng trên núi tiền của mình, mà chỉ vì họ đã biết “san bằng” núi tiền đó cho những người bất hạnh cùng khổ.
Xuất thân từ một gia đình nghèo, ngay từ thuở nhỏ, ông Rabeder đã biết giá trị của đồng tiền. Ở tuổi thiếu niên, ông đã biết làm việc để dành dụm tiền bạc và tự trang trải học phí của mình. Ra đời, nhờ tài trí và siêng năng, ông kiếm tiền một cách dễ dàng. Nhưng rồi đến một lúc, ông tự hỏi: “Phải chăng kiếm tiền, sản xuất ra những thứ mà không ai thực sự cần đến là mục đích của cuộc đời?”  Câu hỏi này dầy vò ông đến cực độ trong chuyến đi nghỉ hè với vợ tại Hawaii năm 1998. Suốt hơn ba tuần lễ sống trong một khách sạn sang trọng, ông ghi nhận một điều lý thú: “Ở đây không có những con người sống thực, mà chỉ có những diễn viên. Các nhân viên (khách sạn) diễn vai của những người thân thiện và hữu ích, trong khi đó những người khách trọ thì lại đóng vai của những người muốn nói: “Nhìn đây, tôi là người quan trọng”.
Theo ông Rabeder, bộ mặt thật của những người giàu có thường là bất hạnh, buồn bã, bất an. Trong những chuyến đi Châu Mỹ Latinh, ông thường quan sát thấy nhiều người ở những nước kém phát triển xem ra sống hạnh phúc hơn người dân của các nước phát triển. Ông nói: “Mỗi lần từ El Salvador bay về Frankfurt, tôi thường nhìn những gương mặt của những người xung quanh và tự hỏi: “Phải chăng vừa mới có một cuộc tấn công khủng bố?” Tôi chợt nhận ra rằng những bộ mặt đầy âu lo là tiêu biểu của thế giới phát triển. Nói về hạnh phúc thì Âu châu, Nhựt bản và Hoa kỳ là những nước kém phát triển. Ở thế giới thứ ba, tôi đã gặp nhiều người chẳng có mấy chọn lựa trong cuộc sống nhưng lại là những người có thể sống giây phút hiện tại. Tôi bắt đầu ý thức rằng tôi không cần có ngôi nhà tôi đang có tại Provence, những chiếc xe đẹp, những bữa ăn đắt tiền. Bước kế tiếp là phải đi vào quan hệ với người khác.” (sđd trang 99)
Được “giác ngộ” như thế cho nên ông Rabeder đã quyết định xử dụng toàn bộ tài sản của mình để tài trợ cho các dự án phát triển và giáo dục tại Châu Mỹ Latinh và lui về ở ẩn tại một vùng núi bên Áo với thu nhập vừa đủ cho mọi chi dụng cần thiết mỗi ngày. Ông thường trích dẫn câu ngạn ngữ của người Đức “muốn sống hạnh phúc hãy sống đơn giản”. Trước tuổi 40, ông luôn luôn tự hỏi: “Tôi có thể làm điều gì?” Nhưng sau đó, ông chỉ còn biết tự nhắc nhở chính mình: “Đâu là điều quan trọng đối với tôi?”
Có thể đó chưa phải là câu tâm niệm thường ngày của tôi. Nhưng cứ mỗi lần đi phố để   mua sắm, nhứt là quần áo, tôi cứ phải tự hỏi “Tôi có cần mua không?” Kinh nghiệm cho thấy, ham rẻ tôi mua thật nhiều về bỏ đó, mà không bao giờ đụng tới. Điều này đúng không những đối với quần áo mà còn cả đối với các thứ gia dụng khác. Con người đói con mắt hơn cái bụng. 
“Chủ nghĩa tiêu thụ tạo ra và nuôi dưỡng lòng khao khát của con người đối với những của nay còn mai mất. Chúng tạo ra và nuôi dưỡng cái cảm thức cho rằng hạnh phúc hệ tại ở sự chiếm hữu được món này món nọ. Chúng ta bị điều kiện hóa để không bao giờ thỏa mãn với mức mình đạt được, trái lại muốn có “nhiều hơn nhiều hơn mãi” qua việc không ngừng tăng cường hiệu xuất làm việc của mình.” (Timothy Vaverek, Houston Catholic Worker, Vol 21, No.1, January 2001, bản dịch trong Vietcatholic). Theo tác giả, nỗi thèm khát về một cuộc sống đầy đủ hơn làm xáo trộn đời sống cá nhân và kinh tế của con người. Vì không hài lòng với những gì mình có và vì không bao giờ cho phép mình an phận, con người cứ tìm kiếm và chiếm hữu nhiều hơn. Và dĩ nhiên để có nhiều hơn thì phải làm việc nhiều hơn. Rốt cục con người trở thành nô lệ cho lòng tham không đáy, nô lệ cho tiền bạc, nô lệ cho những áp lực của công việc vốn “ngốn” hết thời gian cần cho những sinh hoạt tinh thần và gia đình. “Các đôi vợ chồng và các gia đình không còn thời gian dành cho nhau vì ai cũng quá bận rộn theo đuổi trăm ngàn công việc của mình. Họ hối hả từ sáng sớm cho đến chiều tối. Kết quả là họ thường phải xén bớt một hay hai tiếng của giấc ngủ mỗi buổi tối. Họ thường xuyên mệt mỏi và thỉnh thoảng, nếu có được chút thời gian rỗi rảnh, thì họ lại sà tới trước màn ảnh Truyền Hình, VCR hay Computer.” (bài đã dẫn). Đã không có thời giờ dành cho gia đình, người thân thì nói gì đến những người xa lạ, những người khốn khổ ngoài đường, những người cần được giúp đỡ, những người kém may mắn hơn mình.  Và đây cũng chính là cái vòng lẩn quẩn của xã hội tiêu thụ. Người ta đi tìm kiếm hạnh phúc ở những thứ chỉ mang lại bất hạnh, bất an mà thôi. Trong khi đó, chính cuộc sống đơn giản và nhứt là sự cảm thông, chia sẻ, phục vụ mới mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.  Đây là câu trả lời cho câu hỏi mà ông Rabeder thường nêu lên: “Đâu là điều quan trọng đối với tôi?”
Chắc phải trúng số thì may ra tôi mới được xếp vào giai cấp “giàu có” , tức có số thu nhập từ 150 ngàn Úc kim trở lên, như được chính phủ Lao động qui định. Nhưng tôi xác tín rằng với một ít đồng xu nhỏ mà tôi cắc củm dành dụm từng ngày nhờ những cắt xén chi tiêu không cần thiết để chia sẻ cho những người túng thiếu, tôi nghiễm nhiên thấy mình “giàu có” hơn. Tiêu xài, mua sắm, rượt theo hàng “sale” thấy cũng mệt, bỏ vào cái phong bì “Winter Appeal” để mua áo ấm cho trẻ em nghèo có vẻ dễ hơn. Ai xài thì cũng tốt cho nền kinh tế thôi. “Của đồng lần thiên hạ tiêu chung.”








Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

Sống thọ


Chu Thập
26.2.15

Tôi sinh cuối năm Bính Tuất. Tính theo “tuổi Tây”, tôi chỉ mới 68 tuổi. Ở tuổi này, nhiều người vẫn thấy mình còn trẻ chán!  Nhưng mấy thày tử vi Đông Phương lại quá quảng đại cho nên đã tặng thêm cho tôi tới 2 tuổi và xếp tôi vào hạng “thất thập cổ lai hy”. Dù sao, cứ mỗi lần được hưởng thêm một cái Tết, tôi thầm cám ơn trời vì đã cho tôi tiến thêm một bước trong tuổi thọ. Thành ra cứ mỗi dịp đầu năm Âm lịch, tôi lại ngẫm nghĩ về tuổi thọ của tôi.

Tạp chí Time, số kép ra ngày 23 tháng 2 và mùng 2 tháng 3 này, trùng vào dịp Tết Âm lịch, đã dành hầu hết những trang chính cho chủ đề tuổi thọ của con người thời đại. Nhân dịp “ăn chay” theo tinh thần Kitô giáo, tôi đã được các “đạo sĩ” về tuổi thọ hướng dẫn để không chỉ sống thọ mà sống một cuộc sống có giá trị và ý nghĩa hơn.
Ăn uống như thế nào để kéo dài tuổi thọ? Con người của những xã hội thừa mứa đồ ăn thức uống thường chỉ nghĩ đến kỷ luật trong việc dinh dưỡng như một phương cách ngắn hạn để giảm cân. Trong khi đó ăn uống như thế nào để được sống lâu và lành mạnh lại nhấn mạnh đến việc phòng ngừa bệnh tật. Ngày nay, tại hầu hết các nước văn minh, bệnh tim mạch hiện đang là tên sát nhân âm thầm số một đối với nhiều người. Nhiều chuyên gia tin rằng cách dinh dưỡng tốt nhứt để đề phòng các thứ bệnh về tim mạch phải bao gồm nhiều rau quả, hạt và một ít chất béo. Đây là cách dinh dưỡng của phần lớn người Âu Châu, cách riêng tại vùng Địa Trung Hải. Dân cư tại vùng này ăn nhiều cá, trái cây, rau tươi và dầu Oliu (nhứt là loại có ghi thêm “Extra Virgin”, tức loại dầu có được chỉ bằng cà nát trái Oliu để lấy nước mà không cần thêm bất cứ hóa chất nào).
Theo tạp chí Time, năm 2009, các nhà nghiên cứu  tại Hoa Kỳ đã tập trung được khoảng trên 7 ngàn người có nguy cơ cao bị bệnh tim. Những người này được đề nghị ăn uống theo cách dinh dưỡng của người Địa Trung Hải. Sau một thời gian theo dõi, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng những người ăn uống theo cách dinh dưỡng này đã giảm bớt được nguy cơ bị đột quỵ hay tai biến mạch máu não đến 30 phần trăm.
Song song với cuộc nghiên cứu trên đây, vào năm 2014, kết quả của một cuộc nghiên cứu khác tại Hoa Kỳ cũng cho thấy rằng những người Mỹ ở tuổi trung niên nào ăn nhiều thịt thường dễ chết vì bệnh ung thư và nhiều chứng bệnh khác. Giáo sư Valter Longo, giám đốc Viện Sống Thọ thuộc trường đại học Nam California, Hoa Kỳ khuyên người ta nên giảm bớt chất đạm, nhứt là từ thịt, nếu muốn sống lâu.
Điều khiến tôi tâm đắc nhứt là bên cạnh việc giảm bớt chất đạm, các nhà khoa học khuyên chúng ta nên ăn ít hơn và thỉnh thoảng nên “ăn chay”, nghĩa là không ăn gì cả trong một thời gian ngắn. Điều này đúng quá đi thôi, bởi vì con người ta xem ra chết vì no nhiều hơn là vì đói.
Còn có một điều khác nữa mà các “đạo sĩ” về dinh dưỡng đều đồng ý với nhau là: nên bớt ăn đường, nhứt là đường trong các thức ăn chế biến sẵn. Đường và muối là hai thứ gia vị làm cho thức ăn ngon. Mà khổ nỗi, trong ăn uống, hễ cái gì ngon miệng thì thường lại hại nhiều hơn lợi.
Nhưng các nhà dinh dưỡng học xem ra cũng nói chuyện huề trớt khi bảo rằng có dinh dưỡng tốt cách mấy mà thiếu vận động cơ thể thì cũng như không. Thành ra, phải xem việc tập thể dục như một “thành phần” không thể thiếu trong dinh dưỡng.
Lần bước theo các “đạo sĩ” về bí quyết sống thọ, tôi mới biết thêm rằng những người có gia đình thường có tuổi thọ cao hơn người độc thân. Vào tuổi trung niên mà có một người bạn đời bên cạnh sẽ giúp chữa trị và phòng ngừa được nhiều bệnh tật. Một cuộc nghiên cứu do một nhóm giáo sư tại trường đại học Iowa, Hoa Kỳ thực hiện năm 2013 cho thấy những người không bao giờ lập gia đình có nguy cơ chết sớm cao gấp hai lần so với những người có cuộc sống hôn nhân ổn định. Các chuyên gia về tuổi thọ nhận thấy có mối liên hệ sâu xa giữa cuộc sống lành mạnh và sự nâng đỡ của người bạn đời. Khi ta luôn có một người bên cạnh, ta được nhắc nhở để đi khám bác sĩ, để uống thuốc hoặc để vận động cơ thể và ăn uống có kỷ luật. Nếu ta chẳng may lỡ té thì cũng có người bên cạnh để giúp đỡ kịp thời. Những người có gia đình cũng sẽ dễ dàng có cuộc sống lành mạnh hơn như tập thể dục và bỏ hút thuốc nếu người bạn đời của mình cũng làm như thế. Nhưng dĩ nhiên, không phải cuộc sống hôn nhân nào cũng đều giúp cho con người sống khỏe và sống thọ. Vợ chồng mà sống với nhau như kẻ thù, gấu ó, cãi cọ và ngay cả đánh nhau như cơm bữa hoặc sống chung dưới một mái nhà như người dưng nước lã...sẽ có nhiều kích thích tố gây căng thẳng trong máu, hệ thống miễn nhiễm yếu cũng như khả năng tiêu hóa chậm lại. Nói chung, cách con người đối xử với nhau hàng ngày không thể không ảnh hưởng đến sức khỏe thể lý. Thành ra muốn sống thọ hay khỏe mạnh, hãy xây dựng một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc.
Khi bàn về tuổi thọ, tạp chi Time cũng nêu lên một trường hợp khá lý thú: hầu hết các tổng thống Mỹ đều sống thọ, mặc dù trên thế giới này có lẽ chẳng có công việc nào tạo căng thẳng cho bằng làm tổng thống của cường quốc số một này. Lý do thật đơn giản: các tổng thống Mỹ được chăm sóc sức khỏe rất kỹ lưỡng, ngay cả sau khi rời khỏi chức vụ. Ngoài ra, lúc tại vị cũng như khi về hưu, ông tổng thống Mỹ nào cũng tập cho mình thói quen tập thể dục. Ít nhứt kể từ giữa thập niên 1970, hầu như vị tổng thống Mỹ nào cũng đều có chương trình tập thể dục đều đặn. Tổng thống Ford có thói quen đi bơi và trượt tuyết. Tổng thống Carter chạy bộ hầu như mỗi ngày. Riêng Tổng thống Reagan thích chặt cây và cử tạ. Còn Tổng thống Bush con thì đi xe đạp. Cha ông là Tổng thống Bush Sr còn đi xa hơn trong việc vận động cơ thể: mỗi ngày ông chơi đến 3 hoặc 4 môn thể thao khác nhau. Ở vào tuổi 90, ông còn thử sức khi nhảy dù và nhào lộn trên không.
Nhưng có một việc làm có ý nghĩa mà hầu như tổng thống Mỹ nào khi về hưu cũng đều lăn xả vào là hoạt động từ thiện. Tổng thống Bill Clinton mở chiến dịch “Global Initiative” (Sáng kiến toàn cầu chuyên thúc đẩy các nhà lãnh đạo thế giới tìm kiếm những giải pháp thiết thực cho những thách đố khẩn cấp nhứt của thế giới). Còn Tổng thống George W. Bush thì lại dành trọn thì giờ để chăm sóc các cựu chiến binh. Bên cạnh những hoạt động từ thiện đầy ý nghĩa ấy, hầu hết các cựu tổng thống Mỹ đều nghĩ đến “di sản” mà họ muốn để lại cho hậu thế. Tổng thống Clinton muốn kéo dài sự nghiệp của mình qua việc tiếp sức cho bà vợ Hillary Clinton trong cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc vào năm tới. Tổng thống Bush thì dĩ nhiên cũng hy vọng gỡ gạc danh tiếng qua cuộc tranh cử của ông em Jeb Bush. Tựu trung, theo tạp chí Time, dấn thân vào một công việc có ý nghĩa có thể giúp kéo dài tuổi thọ của con người.
Nhưng thế nào là một việc làm có ý nghĩa? Nhiều người cộng sản Việt Nam đã nhắc đến gương của ông Võ Nguyên Giáp. Sống đến 103 tuổi như ông, đối với một người Việt Nam, quả là đại thọ. Người ta ca tụng đủ mọi “nhân đức” của ông. Nhưng có bao giờ ông nghĩ đến vai trò của ông trong cuộc chiến do cộng sản gây ra khiến cho bao nhiêu mạng người vô tội phải bị tế sát trên bàn thờ của một thứ chủ nghĩa vô luân không? Đó có phải là một cuộc sống thực sự có ý nghĩa không? Tôi tin chắc là giờ này, ông tướng “đại thọ” này hẳn đã nhận ra được đâu là cuộc sống có ý nghĩa và cuộc sống không có ý nghĩa.
Trên bia mộ của nhà văn Mai Thảo ở nghĩa trang Peek Family giữa thủ đô người Việt tỵ nạn tại California, Hoa Kỳ, người ta đã khắc bốn câu thơ của ông:
“Thế giới có triệu điều không thể hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao, khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi”.
Tôi tin chắc rằng một cây đại thụ cộng sản khác là Đặng Tiểu Bình (1904-1997), người đã ra lệnh sát hại không chút xót thương đoàn người biểu tình đòi dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989, giờ này chắc chắn sẽ lắng nghe lời kêu gọi của nhà văn Mai Thảo để “đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi” và nhận ra được thế nào là một cuộc sống thật sự có ý nghĩa.
Tôi không biết giờ này, cây đại thụ cộng sản gộc khác là Fidel Castro (năm nay đã 89 tuổi) đã nhận ra được đâu là một cuộc sống có ý nghĩa chưa, nhứt là sau 50 năm độc quyền cai trị đất nước bằng bàn tay sắt để chỉ mang lại lạc hậu, khổ đau cho cả dân tộc.
Nghĩ về tuổi thọ của những người cộng sản, tôi không thể không liên tưởng đến câu kết trong truyện “Ông Bình Vôi” của nhà văn Phan Khôi (1887-1959) được đăng trong  “Giai Phẩm Mùa Thu”, tập I: “Những kiếp người sống lâu trăm tuổi. Y như một cái bình vôi. Càng sống càng tồi. Càng sống càng bé lại”.
Nhà văn Phan Khôi và các văn hữu của ông trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, nếu có bị trù dập cho đến chết, cũng vì đã có cái nhìn như thế về tuổi thọ.
Cũng như bao nhiêu người trong cõi nhân sinh này, tôi sợ chết và ham sống. Cũng như lão tiều phu của thi sĩ Pháp Jean de la Fontaine, dù có vất vả khổ đau cách mấy, tôi vẫn muốn sống và càng sống lâu được bao nhiêu càng tốt. Khoa học ngày càng có khả năng kéo dài tuổi thọ của con người. Tạp chí Time cho đăng ở trang bìa hình của một cậu bé một tuổi kèm với chú thích “đứa bé này có thể sống đến 145 tuổi”.  Tôi tin rằng khoa học có thể đẩy lùi biên giới của sự chết. Nhưng tôi lại không nắm chắc được rằng tôi sẽ sống được bao lâu nữa. Thật ra, không hẳn cuộc sống có ý nghĩa có thể kéo dài tuổi thọ của con người. Những “ông bình vôi” cộng sản “thọ” có thua gì mấy ông tổng thống Mỹ đâu. Nghĩ cho cùng, như nhiều nhà hiền triết và bậc thức giả không ngừng nhắn nhủ, điều quan trọng không phải là tuổi thọ mà là phẩm chất của cuộc sống. Hay đúng hơn, “tuổi thọ” đích thực của con người không được đo lường bằng chiều dài của năm tháng cho bằng một cuộc sống có ý nghĩa. Và một cuộc sống có ý nghĩa và có giá trị, như sự chấp nhận thông thường của loài người, là cuộc sống yêu thương và phục vụ.
Ở khởi đầu năm mới, tôi thường lập lại một số quyết tâm và một trong những quyết tâm đó là cố gắng sống khỏe, sống có kỷ luật để phòng ngừa bệnh tật. Dĩ nhiên để được sống lâu, nhưng quan trọng hơn để có một cuộc sống có ý nghĩa và giá trị hơn như cố mục sư Martin Luther King,Jr (1929-1968) đã khuyên: “Điều quan trọng không phải là tuổi thọ mà là phẩm chất của cuộc sống”.



Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Những giấc Nam Kha


Chu Thập
30.06.11


Như mọi người, tôi thường nằm chiêm bao. Và cũng như mọi người, tôi thường quên béng sau khi thức dậy. Theo các nhà khoa học, người ta thường nằm mơ từ 4 đến 7 tiếng đồng hồ mỗi đêm. Như vậy, “sinh hoạt” trong những giấc chiêm bao cũng chiếm không dưới một phần sáu cuộc đời của tôi. Thế nhưng, điều ấy cũng chẳng làm cho tôi quan tâm đến chuyện “mơ mộng”. Đơn giản bởi vì tôi nghĩ rằng điều gì nằm ngoài sự điều khiển của ý thức thì quan tâm đến để làm gì, chỉ tổ ôm thêm một đống âu lo không đi tới đâu mà thôi. Tôi sợ nhứt là cứ phải đêm đến mơ thấy có kẻ thù định giết mình, sáng ra cứ ngồi trước ngõ mà chờ hắn, nhưng chờ hoài không thấy kẻ thù mà chính mình cứ phải chết dần chết mòn trong thù hận.
Khi còn là một nhóc con, tôi nổi tiếng trong nhà vì vừa chiêm bao lia chia vừa chạy chơi lung tung khắp chốn. Tôi nghĩ giấc mơ tuổi thơ của tôi thời thập niên 1950 chắc cũng không khác gì giấc mơ của hầu hết trẻ em Việt Nam hôm nay: mơ thấy đói lả, thấy được ăn những món ăn ngon, được mặc quần áo đẹp, và nhứt là thấy mình được chơi đùa thỏa thích mà không phải đi học. Đến thời thanh niên trai trẻ, đặt lưng xuống là đi ngay, tôi chẳng nhớ gì cả, ngoại trừ những cơn ác mộng thấy bị...công an xét giấy, đi vượt biên bị “bể” phải chạy thục mạng hay khi đã định cư tại Đệ Tam quốc gia mà vẫn mơ thấy mình còn đang kẹt tại quê nhà. Những lúc đó tỉnh dậy, toát mồ hôi trán, mừng hết lớn! Còn bây giờ, ở tuổi “ngang tầm thời đại” với các bác cao niên, tôi có thể nhớ những giấc chiêm bao một cách rõ ràng hơn. Đôi khi cũng có tình tiết “đàng hoàng” để tôi có thể làm cho nhà tôi cười mệt nghỉ trong buổi ăn sáng. Mà thực vậy, trong giấc mơ, câu chuyện hợp lý, nhiều tình tiết và hấp dẫn bao nhiêu thì khi kể lại, chúng buồn cười, vô lý và chẳng ra đầu đuôi tai nheo gì cả. Nhưng dù sao, tôi thấy mình cũng vẫn may mắn hơn các em bé ở Việt nam ngày nay. Tôi tin chắc như đinh đóng cột rằng mình chưa bao giờ bị “hôm qua em mơ gặp Bác Hồ”. Nếu một đêm nào mà tôi rủi mơ trúng chuyện này thì chắc tôi sẽ...trốn chui trốn nhủi ngay trong giấc chiêm bao của mình chứ dứt khoát không còn mặt mũi nào để thức dậy nhìn đời được nữa.
Có lúc tôi tự hỏi mình có mắc chứng dementia (lú lẫn) không. Bởi vì có những chuyện từ cái thuở hồi nẳm, có những người tôi còn không nhớ nổi tên tuổi, có những khung cảnh, nơi chốn, những sinh hoạt thời mới có trí khôn...bỗng dưng thỉnh thoảng “trồi” lên một cách sống động trong những giấc chiêm bao của tôi. Không lẽ bộ não của tôi đã mòn hết bên ngoài để lộ ra tới lớp trong cùng rồi hay sao? Nhưng thôi, cũng không hề chi. Bởi vì chuyện chiêm bao không hề làm cho cuộc sống của tôi sứt mẻ đi chút nào mà trái lại, tôi thấy mình hằng đêm được đi chu du khắp chốn, thăm người này một chút, ghé chỗ kia một chút. Sướng nhứt là vừa không tốn tiền, tốn thì giờ, cũng không phải ngồi máy bay ê lưng vừa có những cuộc hội ngộ hết sức bất ngờ, cảm động ở khắp mọi nơi trên thế giới. Buồn cười nhứt là có bữa tôi chiêm bao thấy mình đang tham dự như là một thành viên của Quốc hội Hoa kỳ!! Cũng may, trong giấc mơ, dù thấy mình tự dưng “cũng ngang hàng như người ta” tôi khoái chí lắm nhưng chỉ dám ngồi yên chứ không đủ can đảm để tính tới chuyện “phân hóa nội bộ” nước Mỹ như chủ tịch Nguyễn Minh Triết. Kể cũng thật lý thú.
Giấc chiêm bao tự nó không mang đến một hệ quả nào cả nếu như không có một lời giải thích mà dựa theo đó người ta tạo thành hiện thực. Một trong những câu chuyện chiêm bao nổi tiếng được ghi vào lịch sử xa xưa nhứt của nhân loại có lẽ là chuyện ông Giuse giải thích những giấc chiêm bao của  vua Pharaon bên Ai Cập. Kinh Thánh Do Thái Giáo ghi lại rằng, ông Giuse là một người có tài giải nghĩa chiêm bao. Cũng vì chuyện này mà ông bị các anh em ghét bỏ đến độ định giết bằng cách quăng vào một cái giếng sâu. Cuối cũng họ quyết định bán ông cho lái buôn cho khuất mắt. Lưu lạc đến Ai cập, ông phải phục vụ trong nhà một quan thái giám của vua Pharaon. Ông được tin cẩn và khen thưởng vì sự khôn ngoan và siêng năng. Ông cũng được biết đến vì những lời giải mộng. Một lần trong tù, ông được yêu cầu giải thích về giấc mơ của hai người bạn tù là hai ông quan trong triều đình của Pharaon. Lời giải thích của ông hoàn toàn chính xác để sau đó một ông được phục chức trong khi ông kia lại bị bay đầu.
Thế nhưng phải đợi đến khi cả nước Ai cập bị “bí” trước những giấc mơ của Pharaon, ông Giuse mới thực sự trở nên nổi tiếng và trở thành ân nhân cho không những toàn cõi Ai cập mà còn cho cả gia đình của ông bao gồm cả mấy ông anh “trời đánh” đã nhẫn tâm tìm cách làm hại ông. Pharaon nằm chiêm bao thấy bảy bông lúa lép và xấu nuốt chửng bảy bông lúa mẩy và chắc. Một giấc chiêm bao khác thì bảy con bò gầy guộc xấu xí nuốt chửng bảy con bò đẹp đẽ béo tốt. Không ai giải thích được kể cả các thày phù thủy Ai cập. Cuối cùng, anh chàng Hipri nô lệ Giuse được gọi đến. Lần này lời giải thích của ông không gây đổ máu, cũng không liên quan gì đến một nhóm “thất nhân bang” nào trong triều đình. Ông đã giải thích giấc chiêm bao của Pharaon như ngày nay khoa học giải thích về hiện tượng La Nina và El Nino: Ai cập sẽ có bảy năm mưa thuận gió hòa và nối tiếp bằng bảy năm khô hạn mất mùa. Ông cũng đưa ra những lời khuyên thiết thực để có thể đối phó với hoàn cảnh.
Nhờ lời giải mộng này, Giuse trở thành tể tướng Ai cập. Ông cũng giúp đỡ và đưa gia đình cha mẹ anh em sang Ai cập tránh nạn đói và định cư, sinh sôi nảy nở thành một cộng đồng Do thái lớn mạnh sau này.
Thời nay, tìm được một ông Giuse trong Kinh Thánh không phải là dễ, nhưng những ông tiên tri “nói thánh nói tướng” thì ở đâu và thời nào cũng vô số kể. Tôi không tin ở lời giải mộng của các tiên tri ấy. Cùng lắm tôi chỉ tìm đến các đệ tử của Sigmund Freud để nhờ giúp “đào sâu” trong tiềm thức của tôi để xem tại sao tôi thường mơ về chuyện này mà không về chuyện khác. Với tôi, những giấc chiêm bao cũng chỉ là những sinh hoạt thường ngày trong đời sống chứ không như một điều cần phải “giải mã”. Hơn nữa, là một kẻ vô danh tiểu tốt, tôi tin rằng dù cho tôi có mơ một giấc mơ vĩ đại đến đâu thì cũng không thể trở thành một một mục sư Martin Luther King để giúp người da đen với bài diễn văn nổi tiếng “I Have a Dream” (tôi mơ một giấc mơ) hay làm thay đổi được bất cứ điều gì kể cả làm cho một cọng cỏ biến mất. Bởi vì ngay cả khi tỉnh thức “đàng hoàng”, nếu như muốn cho cọng cỏ biến mất, tôi có vận dụng toàn bộ sức mạnh ý chí cũng không thể làm được ngoại trừ...cho nổ máy cắt cỏ.
Thế nhưng khi nghiệm lại những giấc chiêm bao, tôi thấy rằng ngay cả trong khi mơ, tôi cũng không thoát khỏi “bàn tay sắt” của ý chí. Cái gì tôi biết là xấu, bị cấm hay phạm pháp, tôi không thể làm được trong chiêm bao dù tôi thấy mình rất muốn thử. Chẳng hạn, trong thời gian tôi cữ ngọt theo lời khuyên của bác sĩ, thì trong lúc chiêm bao, tôi thấy mình được mời ăn những món khoái khẩu như bánh bò, bánh trôi, chè đậu ván, chè đậu đỏ...Thế nhưng dù mơ đi mơ lại, dù thấy đủ món ngon, của ngọt, cứ hễ sắp ăn thì y như rằng có những chuyện gì đó xảy ra để rồi không ăn được. Khi còn phì phèo, trong mơ tôi hút thuốc liên chi. Vậy mà sau khi bỏ thuốc, hễ được mời thì tôi cũng không sao tìm ra hột quẹt, cứ cầm điếu thuốc vân vê. Cũng vậy, thời “ra đi không có ngày về”, hễ nằm chiêm bao thấy hè đến chuẩn bị về thăm nhà là thế nào cũng có “sự cố” xảy ra. Tìm được chỗ trên xe đò thì rồi cũng phải xuống xe vì mấy “ổng” đắp mô. Dùng đường hàng không thì nếu không đến phi trường trễ thì cũng làm mất vé máy bay. Lên được máy bay thì lại bị đình hoãn...
Một đêm, tôi chiêm bao thấy mình được chứng kiến một mẩu đối thoại giữa Chúa Cha và Chúa Giêsu. Tôi thấy Chúa Giêsu vừa từ trần gian quay trở về Thiên đàng sau khi hoàn tất sứ mạng Cứu Chuộc loài người. Chúa Cha giang tay ra đón Chúa Con và hỏi:
“Này con, trong thời gian sống nơi trần thế, cái gì con thấy là khó làm nhứt?”
Tôi chờ đợi và đoán câu trả lời sẽ là “sứ mạng Cứu Chuộc”. Thế nhưng, bé cái lầm.
Chúa Con đắn đo một lúc rồi từ tốn trả lời:
“Thưa Cha, con thấy cái khó nhứt là làm NGƯỜI!!...”
Đến đó thì tôi tỉnh giấc. Thấy chưng hửng ngạc nhiên và tức cười. Nhưng cũng thấy có cái gì quen quen. Giấc chiêm bao đang “vạch” chính “áo” của tôi lên để tôi được “xem lưng” chính mình.
Thực vậy, có rất nhiều định nghĩa về Thiên Chúa như Chúa các Đạo binh, Đấng Toàn Năng, Thẩm Phán tối cao...Thiên Chúa trong tôi luôn chỉ là hình ảnh một người Cha bình dị nhưng có một tình thương, sự quan tâm, gần gũi, độ lượng vô bờ bến với tất cả chúng sinh.
Có điều tôi đã mang cả nỗi thao thức của chính mình vào giấc chiêm bao: Cho đến bây giờ, cho dẫu đã bước vào giai đoạn cuối của một “kiếp người”, tôi phải thú nhận rằng, trong cuộc đời này, chuyện khó nhứt mà tôi chưa làm được vẫn là chuyện LÀM NGƯỜI.
Mới đây, tôi đã say mê đọc hồi ký “Ngàn Giọt Lệ Rơi” của bà Yung Krall- Đặng Mỹ Dung, vừa mới được phát hành tại Úc đại lợi. Tác phẩm không chỉ ghi lại thảm kịch đau thương của một gia đình ly tán vì ý thức hệ hay một câu chuyện trinh thám hồi hộp. Đối với tôi, hồi ký của bà Đặng Mỹ Dung còn là một cuốn sách “học làm người”. Xuyên suốt cuốn sách của bà là những trang ghi lại những cuộc chiến đấu giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và gian tà, giữa lương tâm và vô đạo, giữa nhân tính và thú tính. Tác giả cho biết ngay từ tiểu học, “những gì trường dạy hay, tôi biên vô cuốn tập riêng để thực hành. Không có ba thì có trường, có cô giáo; tôi nghĩ như vậy.
Tôi gò từng chữ trong cuốn tập “học làm người”.
Không phá của công;
Không xả rác ngoài đường;
Phái nhường ghế cho người già, đàn bà có thai trên xe đò;
Dắt em bé hay cụ già qua đường;
Không gian lận.” (trang 119)
Đặc biệt tác giả thường nhớ lại lời “vàng ngọc” của ông ngoại mình: “Làm người khó làm chó dễ”. Mặc dù con và rể trong nhà theo kháng chiến chống Pháp và sau đó chạy theo lý tưởng cộng sản, ông vẫn thề không đội trời chung với cộng sản. Mỗi lần nhắc đến Hồ Chí Minh, ông đều gọi “thằng chó đẻ”. Có lẽ vì hay nghĩ đến “thằng chó đẻ” này mà ông cứ tâm niệm câu “làm người khó làm chó dễ”.
Ngay từ thuở bé, tác giả Đặng Mỹ Dung đã nhận thấy rằng thực hành được lời dạy của ông ngoại không phải là chuyện dễ. Tác giả kể lại: “Vậy mà cũng có lần, vì làm biếng, sợ khó khăn, tôi đã liều nói với ông tôi: “Thôi bữa nay ông cho cháu làm chó đi”. Ông nhìn tôi một lúc, tỏ vẻ thất vọng, rồi dịu dàng nói: “Hễ muốn làm chó, cháu phải đi bốn chưn, rồi được ăn, được ngủ, được vui chơi, khỏi học bài, khỏi làm việc trong nhà, được chị em và cả ông bà hầu hạ suốt ngày”. Tôi mắc cỡ không đòi làm chó nữa.” (sđd trang 219)
Quả thực, “làm người khó làm chó dễ”. Làm chó dễ bởi vì thú vật không có ý thức, không có suy nghĩ, không phải đắn đo, không phải chọn lựa giữa thiện và ác, không phải bị lương tâm dày vò cắn rứt khi làm điều ác.
Chợt nhớ lại lời của triết gia Pháp Blaise Pascal “con người không phải là thiên thần cũng không phải là thú vật. Ai muốn làm thiên thần đều làm thú vật”.Tôi chưa từng mơ ước được làm thiên thần, bởi lẽ lịch sử đã chứng minh, biết bao nhiêu kẻ muốn làm thiên thần đều cuối cùng trở thành “quái vật” chỉ biết cắn xé người đồng loại của mình. Tôi sẽ xấu hổ biết chừng nào khi bị người khác gọi là “thằng chó đẻ”.
“Làm người khó”, nhưng tôi vẫn cương quyết được “làm người” và cố học “làm người”. Nếu có một kiếp sau, thì khác với cụ Nguyễn công Trứ, tôi vẫn muốn làm người, chứ không chỉ “làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.




Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015

Bụi Tro Trở Về Tro Bụi



                                                                               Chu Thập
Mùa Chay 2011


Thể thao cũng giống như ẩm thực. Trong ăn uống, mình thích món này, nhưng lại không ưa món khác. Về thể thao, mình có thể say mê môn này nhưng lại chê môn khác. Sở thích cũng như văn hóa ảnh hưởng đến khẩu vị và chọn lựa của mỗi người. Người dân cựu thuộc địa của Pháp thích bóng đá và chuộng bánh mì Tây. Người dân trong khối Thịnh Vượng Chung của Anh thì dĩ nhiên chỉ  ưa cricket và quen với bánh sandwich.
Tôi có thể thích nghi với mọi món ăn. Nhưng trong thể thao, có những môn tôi không thể “nuốt” được. Tôi có một kinh nghiệm “bi đát” về môn Golf. Đó là năm cuối của bậc trung học khi tôi theo học tại Đà lạt, thành phố mộng mơ mà trước năm 75 ai cũng mong được một lần đến thăm viếng. Với khí hậu ôn đới và với núi rừng trùng điệp, chỗ nào của thành phố này cũng là “danh lam thắng cảnh” đối với đôi mắt  nai vàng  ngơ ngác của một cậu học sinh nhà quê như tôi. Nhưng nơi mà những ngày nghỉ tôi thường đến nhứt là “Đồi Cù” nằm bên cạnh bờ hồ Xuân Hương. Được gọi là “đồi cù” vì đây là sân Golf, môn thể thao mà tôi chỉ biết được khi lên Đà Lạt. Lần đầu tiên khi thấy cái cảnh những người nhà giàu cầm gậy đánh banh, bên cạnh họ có cả một đoàn người “hầu hạ” mang bị chuyên đi lượm banh, máu “cách mạng” liền sôi sục khiến tôi nổi giận thốt lên với các bạn: “Đã chơi thể thao mà còn có người hầu hạ thì còn gì là thể thao nữa.” Để gọi là “trả thù”, bọn thanh niên chúng tôi chẳng biết làm gì hơn là bắt chước các đôi tình nhân, ngồi nép dưới mấy gốc thông, chờ cho trái banh cù rơi xuống là lượm cho vào túi hoặc ném đi một nơi khác cho bõ ghét. Chỉ tội cho mấy người đi theo hầu những tay thể thao “trưởng giả”, tìm mãi mà chẳng thấy trái banh cù đâu cả!
Tôi không những không ưa mà còn “ghét” cái môn thể thao ấy. Tôi còn nhớ: khi nhà độc tài quân phiệt Than Shwe của Miến điện sang thăm Phi luật tân và được nước chủ nhà “đãi” cho một chầu chơi Golf,  một ký giả nào đó đã viết rằng “không có một nhà độc tài nào có  thể chơi Golf với một lương tâm yên ổn”. Điều này thì chắc chắn đúng cho giới lãnh đạo và các nhà tư bản đỏ hiện nay tại Việt nam. Cách đây không lâu, tôi lại nhìn thấy cái cảnh bất công ấy trong một chương trình du lịch ẩm thực của Luke Nguyễn được chiếu trên đài SBS: vẫn cái cảnh bao nhiêu đất đai canh tác của người dân nghèo biến thành sân Golf và những nhà thể thao “trưởng giả” ăn mặc bảnh bao được một đám người nghèo hầu hạ đi theo bên cạnh để nhặt banh cho.
Cũng may, ở các nước Tây phương, tôi không còn thấy cái cảnh chơi thể thao trưởng giả ấy nữa: ai chơi thì chịu khó mà đi lượm banh chứ chẳng có ai đi hầu hạ mình cả. Dù vậy, cho dẫu cả thế giới có ngưỡng mộ tài nghệ của Tiger Woods đến đâu đi nữa, thì  cái ác cảm ban đầu của tôi đối với môn thể thao này cũng vẫn còn đó.
Ý thức về công bình khiến tôi “ghét” cái môn “banh cù” đã đành, mà sự thiếu hiểu biết về thể thao cũng làm cho tôi có thành kiến về một số môn khác. Một cách đặc biệt tôi không thể nào “thích” được cái môn Cricket mà người Úc đang say mê như điếu đổ. Ngày nào, tôi cũng theo dõi tin tức về thể thao trên truyền hình. Nhưng hễ đến cái mục “Cricket” là tôi muốn đóng máy lại. Đúng là “vô tri bất mộ”. Để tỏ ra “thức thời” và sành điệu như mọi người Úc, tôi cũng đã bỏ ra không biết bao nhiêu giờ để xem các trận đấu. Tôi cũng đã nhờ bao nhiêu người giảng giải tường tận cho tôi về cách chơi và luật chơi của bộ môn này. Nhưng với cái đầu có sạn của tôi thì nhà chuyên môn nào của cricket cũng đành chịu thua. Cho tới giờ phút này, tôi cũng vẫn mãi mãi là một tên “ngoại đạo” đối với bộ môn này. Không những tôi thấy cái môn thể thao này “boring”, nó còn làm cho tôi “bực mình” là khác. Nhứt là cuối năm vừa qua khi diễn ra cái giải “Ashes” giữa Anh và Úc nghe chẳng giống ai cả. Ngày nào tôi cũng bị bắt buộc phải theo dõi và chẳng hiểu gì về các trận đấu. Lại thêm cái tiếng Anh khập khiễng của tôi nữa. Đúng hơn, cái tiếng Anh của người Úc cũng chẳng giống ai. Ngoài cái giọng “oi oi” lại còn có những tiếng chẳng có trong tự điển. Hồi mới đến trại tỵ nạn, tôi nghe người ta gọi một số phụ nữ Úc “cao lớn” làm việc trong các bệnh xá là “sister”. Tôi cứ nghĩ đây là một từ tương đương với hai tiếng “ma xơ” dễ thương của người Việt nam để chỉ các nữ tu công giáo. Thì ra, cách đây 30 năm về trước, người dân Úc vẫn còn gọi các nữ y tá là “sister”. Cũng về y tế, người Úc gọi phòng mổ là “theatre” khiến cho báo chí ở Việt nam bé cái lầm, cứ đụng tới chuyện giải phẫu ở Úc là  nói đến “hí viện trong nhà thương”. Còn có một từ khác mà lúc mới đến Úc, tôi chẳng hiểu ra làm sao cả: ngày 26 tháng 12 được gọi là ngày “Boxing Day”. Với cái đầu thường bị “điều kiện hóa” bởi thể thao, tôi liền liên tưởng đến cái môn quyền Anh mà tôi cũng chẳng ưa thích được vì nó dã man còn hơn cả môn đá gà của người Việt nam, người Phi luật tân hay người Châu mỹ Latinh. Cũng may, tôi chưa từng dịch từ “boxing day” cho ai nghe cả chứ báo chí ở trong nước thì đã nhanh nhẩu rồi. Thiệt là quê độ!
Bây giờ đến cái chữ “Ashes” trong các trận thi đấu Cricket kéo dài hàng tháng giữa Anh và Úc. Cũng may, thời buổi “a còng” này, chuyện gì cũng có thể hỏi ông “Google” được. Sợ người ta cười vì sự dốt nát của mình, cho nên tôi đã âm thầm gõ chữ “Ashes” vào Google.  
Ông thày Google giải thích cho tôi như thế này: “Ashes” là tên của một loạt trận thi đấu Cricket giữa Anh và Úc. Đây là trận thi đấu quốc tế Cricket  nổi tiếng nhứt có từ năm 1882. Hiện nay, các trận thi đấu này diễn ra hai năm một lần, hoặc tại Vương quốc Anh hoặc tại xứ Úc miệt dưới.
Sở dĩ các trận đấu được gọi là “Ashes” tức “tro bụi” là do một bản cáo phó đầy châm biếm được đăng trên báo “The Sporting Times” xuất bản tại Anh quốc năm 1882. Sau một trận đấu tại sân “The Oval” trong đó lần đầu tiên Úc đánh bại Anh ngay trên sân nhà của Anh, Báo “The Sporting Times”  cho đăng một bản cáo phó với nội dung như sau:  “môn Cricket của Anh đã chết và thi hài sẽ được hỏa táng và tro cốt sẽ được mang về Úc”. Sau đó, báo chí Anh gọi chuyến thi đấu của Anh tại Úc là chuyến đi giành lại tro cốt. Nhân dịp này, một nhóm phụ nữ tại Melbourne đã trao cho thủ quân Ivo Bligh của Anh một bình đất nung trong đó có chứa đựng “tro” của một mảnh gỗ Cricket bị đốt. Kể từ đó, các trận thi đấu giữa hai nước đều gọi là “Ashes”.
Thật ra, cái bình đựng tro này không phải là một chiếc “cup” mà chỉ tượng trưng cho sự chiến thắng. Đội nào thắng sẽ giữ cái bình tro này và đội kia cố gắng giành lại cái bình ấy. Nhưng dù có giải thích như thế nào đi nữa, “Ashes” (tro bụi) vẫn là cái thứ mà hai đội tuyển Criclet Anh và Úc cố tranh cho bằng được trong các trận thi đấu 2 năm một lần này. Tự nhiên, tôi lại nghĩ đến cách suy nghĩ rất dễ thương của mấy cụ bà nhà quê khi nhìn một trận đấu bóng đá: tại sao không phát cho mỗi người một trái banh để họ khỏi nhọc công tranh giành một trái như thế?
Nghe thì buồn cười, nhưng ngẫm nghĩ thấy cũng có cái lý thâm sâu của nó. Phải chăng trong cuộc đời ô trọc này, lắm khi người ta lại chẳng tranh nhau “từ chết đến bị thương” vì những thứ phù phiếm?
Ý nghĩ này thường đến với tôi mỗi khi tham dự một nghi lễ an táng trong đó vị linh mục hay mục sư của Kitô giáo thường đọc cái công thức quen thuộc “Ashes to ashes” (Bụi tro trở về tro bụi) khi cho hạ quan tài xuống lòng đất. Cứ nghe văng vẳng bên tai câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi”.  Năm nay, vào ngày 9 tháng 3, ngày mà Giáo hội công giáo gọi là Thứ Tư Lễ Tro bắt đầu Mùa Chay kéo dài 5 tuần lễ, ý nghĩ ấy cũng trở về với tôi, khi tôi đón nhận một chút tro được rắc trên đầu. Câu hát quen thuộc “người ơi, hãy nhớ mình là tro bụi, một mai người sẽ trở về bụi tro” nghe não nuột, nhưng lại nhắc nhở tôi cái chân lý sâu xa về kiếp người.
Là một tín hữu Kitô, tôi được học biết rằng tro bụi, trong các tôn giáo cổ xưa như Do thái giáo chẳng hạn, tượng trưng cho tội lỗi và kiếp sống mong manh của con người. Theo truyền thống Do thái giáo, trái tim của người tội lỗi cũng giống như tro bụi. Kẻ gian ác sẽ bị người công chính chà đạp dưới chân như tro bụi. Do đó, thời xa xưa, khi ngồi trên tro bụi hay trét tro bụi vào người, người Do thái muốn công khai xưng thú rằng mình là một người tội lỗi. Theo truyền thống ấy, Kitô giáo cũng nhìn nhận tro bụi như biểu trưng của tội lỗi và tính cách mong manh của kiếp người.
Nhưng dù hiểu như thế nào đi nữa, tro bụi cũng đều gợi lên sự mong manh, chóng qua và mỏng dòn của cuộc sống con người. Mọi sự đều qua đi như tro bụi. Của cải, quyền lực, tiền bạc, danh vọng, thành đạt, thất bại…tất cả đều đến rồi đi. Mọi sự đều có một khởi đầu và một kết thúc. Mỗi một kinh nghiệm tôi có rồi cũng qua đi. Mỗi ý nghĩ tôi có đều khởi sự và cũng biến mất. Mỗi sự nghiệp tôi đổ mồ hôi, xót con mắt để có rồi cũng có ngày chấm dứt. Mỗi cảm xúc tôi trải nghiệm cũng đều như lớp sóng vỗ vào bờ. Vui tươi, phấn khởi, hạnh phúc, buồn khổ, ganh tỵ, thất vọng, trầm cảm, giận dữ, yêu thương, tủi hổ, hãnh diện…tất cả những cảm xúc ấy cũng đến, ở lại trong tôi một thời gian rồi cũng tan thành mây khói. Khi tôi trở thành tro bụi thì tất cả những gì thuộc về tôi cũng thành tro bụi. Tiền tỷ tôi có trong ngân hàng cũng chỉ là tro bụi, bởi lẽ một khi tôi trở thành tro bụi nó cũng chẳng còn bám được vào tôi  một mẩy may nào. Ngay cả những bất động sản tôi chiếm hữu được xét cho cùng cũng chỉ là tro bụi đối với một kẻ trắng tay nằm trơ trơ trong ba tấc đất.
Không cần phải đợi một trăm năm sau để tự hỏi như cụ Nguyễn Du: liệu có ai còn khóc mình không? Mỗi một tiếng gõ của đồng hồ phải chăng không là hồi chuông báo tử cho từng giây phút, từng cảm nghiệm, từng tình huống của cuộc sống chóng qua này?
Thật ra, ý tưởng này không đến nỗi làm cho tôi bi quan và phó mặc cho dòng đời đưa đẩy. Đến từ tro bụi rồi lại trở về với bụi tro. Nhưng cái khoảng cách thời gian giữa hai lằn mức đó lại là một cái gì đáng nói. Nó có thể thoáng qua như một cơn gió thoảng hay lưu lại dấu ấn muôn đời. Khoảng cách từ tro bụi đến bụi tro của một bậc thánh hiền khác xa với một người gian ác. Mahatma Gandhi cũng đã từng xem cuộc đời này là tro bụi: ông sống tiết dục, ăn uống đạm bạc và ngay cả chay tịnh, phục sức một cách đơn giản hết sức có thể. Ông cũng ngã gục và trở về cát bụi như mọi người. Nhưng tên tuổi của ông vẫn sống mãi trong lòng dân tộc Ấn độ và trong ký ức của nhân loại như một bậc thánh hiền. Bông hoa của tình thương, sự tha thứ vẫn mãi mãi trổ sinh trên cát bụi cuộc đời của ông. Từ “tro bụi trở về bụi tro” của Gandhi là một nước Ấn độ độc lập và ngày càng tiến bộ.
Những tay tổ Cộng sản như Lênin, Stalin, Mao trạch Đông, Hồ Chí Minh…cũng “từ tro bụi” mà đến, dù xác họ có được ướp và bảo quản một cách tốn kém hay được đặt vào lăng tẩm để kính viếng, thì cũng có khác gì “trở về bụi tro”. Nhưng giữa “Ashes to ashes” họ đã để lại những gì nếu không phải là tang tóc cho hàng trăm triệu con người và hơn hai tỷ người đau khổ gần suốt thế kỷ 20 và những cuộc chiến tranh tàn khốc liên lụy đến cả thế giới?
“Tro bụi trở về bụi tro”. Nhưng nếu được nhớ đến như là hình ảnh của tình thương, của an bình, của nhân ái…thì khi đó con người sinh ra không phải chỉ để chết nhưng để trở thành bất tử.





Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2015

Trừ tịch


Chu Thập
Tết Ất Mùi 2015

Ngày 27 tháng Giêng vừa qua, thế giới kỷ niệm đúng 70 năm ngày trại tập trung Đức quốc xã Auschwitz tại Ba Lan được giải phóng. Từ lúc có trí khôn cho đến nay, ít nhất tôi cũng đã được nhìn thấy một số hình ảnh hoặc nghe những người còn sống sót từ trại Auschwitz trở về kể lại cuộc diệt chủng dã man mà Đức quốc xã đã thực hiện từ đầu năm 1942 đến năm 1944. Đã có ít nhứt 1.1 triệu người bị tàn sát, nhứt là trong các lò hơi ngạt và 90 phần trăm nạn nhân là người Do Thái. Trong trên dưới 6 triệu người Do Thái bị Đức quốc xã tế sát, đã có khoảng một triệu người bị giết tại Auschwitz.
Tôi tin đây là một sự thật lịch sử cũng như tin có những hành động độc ác trong suốt lịch sử con người. Tôi tin có tội ác của một bạo chúa Tần Thủy Hoàng (259-210 trước Công nguyên), nhứt là việc ông ra lệnh đốt sách và chôn sống các học giả Trung Hoa. Là một tín hữu Kitô, tôi lại càng tin hơn về việc bạo chúa Nero (37-68 sau Công nguyên) ra lệnh đốt thành La Mã và đổ lỗi cho các tín hữu Kitô tiên khởi để có cớ bách hại họ và sát tế họ bằng những “phát minh” mà có lẽ óc tưởng tượng của loài người không dám nghĩ tới. Sử sách và chứng cớ vẫn còn rành rành ra đó để cho thấy bộ mặt độc ác khó tưởng được của bạo chúa này.
Sử sách và những người còn sống sót từ những cuộc diệt chủng là những chứng từ không thể chối cãi được về sự độc ác của con người. Nếu chính mình được chứng kiến sự độc ác để kể lại cho người khác nghe, tôi nghĩ đó là một sự may mắn. Tôi cho rằng mình là một trong rất nhiều người tỵ nạn Việt Nam có được sự may mắn như thế. Tôi đã chứng kiến tận mắt sự độc ác của người cộng sản. Tôi đã nhìn thấy bộ mặt người của chủ nghĩa đồi bại có tên là cộng sản. Không cần phải đọc văn hào Nga Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008) để biết được tận đáy địa ngục cộng sản trong các quần đảo Gulag. Cũng chẳng cần phải có trong tay cuốn “Hắc thư của chủ nghĩa cộng sản” (Le Livre Noir du Commnisme) do một số cựu đảng viên cộng sản Pháp biên soạn, để hình dung ra những tội ác, sự đàn áp và khủng bố dã man mà các chế độ cộng sản trên khắp thế giới đã thực hiện kể từ năm 1917 cho đến nay. Một người Việt Nam như tôi, đã từng sinh ra và lớn lên trong giai đoạn kể từ khi cộng sản cướp chính quyền, đã từng trải qua chiến tranh do người cộng sản chủ xướng và nhứt là đã sống trong chế độ cộng sản, dù chỉ trong một thời gian tương đối ngắn so với rất nhiều người, vẫn dám vỗ ngực tự hào để nói với thế giới và giới trẻ ngày nay rằng tôi đã “sờ sẫm” được bộ mặt độc ác và dã man của con người được thể hiện trong người cộng sản.
Nhưng về sự tiếp cận với sự độc ác, tôi nghĩ con người thời đại xem ra lại may mắn hơn cha ông của mình nhiều. Với hệ thống thông tin toàn cầu ngày càng tinh vi, với những phương tiện truyền thông và các trang mạng xã hội có trong tầm tay của bất cứ ai đang sống ở bất cứ hang cùng ngõ hẻm nào trên trái đất này, chỉ trong tích tắc đồng hồ, bất cứ biến cố nào xảy ra trên thế giới, nhứt là những hành vi tội ác, cũng đều được phổ biến. Có cố tình bưng bít như chế độ cộng sản Bắc Hàn, hầu như chuyện thâm cung bí sử và hành động gian ác nào của chế độ cha truyền con nối này cũng đều được phơi bày. Thời buổi này, câu châm ngôn “không có tin tức là tin tốt” (no news good news) xem ra có  giá trị hơn bao giờ hết. Tin tức thường đồng nghĩa với tin xấu, nhứt là khi những kẻ chủ trương gieo rắc khủng bố cố tình sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để phổ biến những hành động tàn ác dã man đến tận cùng của họ.
Thế giới đã một phen rúng động trước cuộc khủng bố mà tổ chức khủng bố Al Qaeda đã thực hiện tại Hoa Kỳ ngày 11 tháng 9 năm 2001. Nhưng nếu so với những hình ảnh về chặt đầu và thiêu sống mà tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” đã tung lên các trang mạng xã hội, thì có lẽ cuộc khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 chỉ là một góc tối. Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” muốn đẩy mạnh cho đến tận cùng của sự độc ác khi cho toàn thế giới nhìn thấy việc họ hành quyết những người vô tội. Không có ngôn ngữ, không có hình dung từ và cũng chẳng có thước nào để đo lường mức độ độc ác của con người nữa. Nếu thực sự có một Hỏa ngục và Hỏa ngục có một tận đáy thì có lẽ không hình ảnh nào rõ nét  cho bằng cảnh chặt đầu và thiêu sống do tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” thực hiện.
Dĩ nhiên, xã hội tục hóa ngày nay không còn muốn sử dụng các ngôn ngữ và hình ảnh của tôn giáo, đặc biệt của Kitô giáo. Hỏa ngục, được các tín hữu Kitô và hầu hết những người có tôn giáo tin như nơi giam giữ ma quỉ và những người làm điều ác, có lẽ chỉ còn có trong các bức tranh thời Trung Cổ hoặc trong óc tưởng tượng của những người thất học. Nhiều tâm lý gia của thời đại còn đi đến chỗ phủ nhận sự hiện hữu khách quan của điều Ác. Một chuyên gia tâm lý nổi tiếng hiện nay là ông William Shakespeare cho rằng “chẳng có gì là thiện và ác cả. Nó chỉ có trong suy nghĩ của con người mà thôi”.
Kỳ thực, thực tế của điều Ác xem ra là điều không thể phủ nhận được. Chúng ta đối đầu với bộ mặt người của điều Ác trong cuộc sống hàng ngày. Giải đáp của một số chuyên gia tâm lý hiện đại vẫn không xoa dịu được nỗi khắc khoải triền miên của con người trước vấn đề sự Dữ, điều Ác.  Sự Dữ, điều Ác từ đâu mà đến? Đó vẫn mãi mãi là một trong những câu hỏi của nhân loại kể từ khi xuất hiện trên trái đất này. Từ thời xa xưa, triết gia Hy Lạp Plato ở thế kỷ thứ 5 hoặc thứ 4 trước công nguyên, cho rằng sự Dữ, điều Ác được hiểu như sự vắng bóng của điều Thiện. Nhưng thực tế lại cho chúng ta thấy rằng sự Dữ, điều Ác không chỉ đồng nghĩa với vắng bóng của điều Thiện, mà còn là sự hiện diện của sự tàn phá và hủy diệt nữa.
Vào thế kỷ thứ ba sau công nguyên, một nhà tiên tri người Iran tên là Mani đã khởi xướng  chủ thuyết “nhị nguyên” theo đó thế giới này được đặt dưới sự cai trị của hai vị thần: thần thiện và thần ác. Con người luôn bị đặt vào tư thế bị xâu xé giữa hai vị thần ấy. Một số tôn giáo, khi giải thích về nguồn gốc và ý nghĩa của điều Ác, có lẽ cũng ít hay nhiều chịu ảnh hưởng của chủ thuyết nhị nguyên này.
Tôi không phải là một phật tử thuần thành để nói đến giáo lý của Phật Giáo về nguồn gốc của điều Ác. Là một tín hữu Kitô, tôi được dạy rằng ở khởi thủy, ông bà nguyên tổ loài người đã bị ma quỉ cám dỗ, đã sa ngã. Từ đó, tội lỗi và sự Dữ đã đi vào lịch sử con người đến độ nhà tư tưởng lỗi lạc nhất trong lịch sử Kitô giáo là thánh Phaolô, khi  nhìn vào nỗi bất lực ê chề của bản thân, đã phải thốt lên: “Điều Thiện tôi muốn làm, tôi không làm. Còn điều Ác tôi không muốn làm, tôi lại làm”(Rm 7,19).
Dù không muốn chấp nhận một số ý niệm của Kitô giáo như “tội lỗi” hay Ác thần, không ai mà không nhìn nhận rằng sự Dữ, điều Ác là một hiện tượng đang hiện hữu cũng như đã từng hiện hữu trong lịch sử con người và chỉ có trong lịch sử con người. Con người thường xem “thú tính” đồng nghĩa với những gì là thấp hèn nhứt trong con người. Nhưng nơi thú vật, chẳng có gì là đồi bại, thấp hèn hay xấu xa, ác độc cả. Thú vật cắn xé nhau, nhưng đây lại không phải là một hành vi độc ác vì chúng chỉ thực hiện như một bản năng sống còn. Sự Dữ, điều Ác chỉ có trong thế giới loài người. Nó hiển nhiên và phổ cập đến độ không có bất cứ hình thức tôn giáo, đạo đức hoặc cộng đồng nào mà không xem đó như một thực tế quan trọng. Và dĩ nhiên, khi sự Dữ, điều Ác trở thành một ý thức hệ làm nền tảng cho chủ trương tiêu diệt người đồng loại một cách có hệ thống, nó trở thành một thứ đế quốc của điều Ác. Cố tổng thống Mỹ Ronald Reagan (1911-2004) đã gọi đích danh Liên Xô là Đế Quốc của sự Dữ (Evil Empire). Còn tổng thống George W.Bush, sau khi xảy ra cuộc khủng bố 11/9/2001,  thì gọi ba nước Iran, Iraq và Bắc Hàn là “Trục của sự Dữ” (Axis of Evil). Ông tổng thống xuất thân từ tiểu bang “cao bồi” Texas này tưởng mình được Thượng Đế ủy thác cho sứ mệnh phải bằng mọi giá tiêu diệt cái “Trục của sự Dữ” này. Hai năm sau cuộc khủng bố, Hoa Kỳ đã hạ bệ được tổng thống Saddam Hussein của Iraq và 10 năm sau cuộc khủng bố, Osama Bin Laden, biểu tượng đương thời của sự Dữ, cũng đã bị giết chết. Nhưng qua tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”, bộ mặt của sự Dữ lại càng tỏ ra hung tợn hơn và hầu như không thể tiêu diệt được.
Bên cạnh câu hỏi nghìn đời “Sự Dữ từ đâu đến?” con người cũng không ngừng đi tìm một giải pháp để tiêu diệt hay chống lại sự Dữ. Sau khi tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” thiêu sống một viên phi công bị họ bắt làm con tin, vương quốc Jordan đã thề thốt sẽ trả đũa một cách “long trời lở đất”. Luật “mắt đền mắt răng thế răng” của Do Thái giáo và Hồi giáo, vẫn được nhiều quốc gia và cá nhân xem như biện pháp hữu hiệu nhứt để đối phó với sự Dữ. Nhưng kinh nghiệm luôn cho thấy, lấy sự Dữ để đáp trả lại sự Dữ có khi giúp giải quyết được vấn đề, nhưng cũng thường dẫn đến những hậu quả khó lường trước được bởi vì bạo động lúc nào cũng làm phát sinh bạo động. Có phải vì vậy mà mới đây, sau khi đã hội kiến với Tổng thống Nga Vladimir Putin về tình hình tại Ukraine, Tổng thống Pháp Francois Hollande và Thủ tướng Đức Angela Merkel đã tìm cách thuyết phục Hoa Kỳ không nên châm thêm dầu vào lò lửa chiến tranh tại nước này chăng?
Chỉ còn một tuần nữa là đến Tết cổ truyền của dân tộc. Suy nghĩ về thực tế của sự Dữ, điều Ác trên thế giới và trong cuộc sống con người, tôi liên tưởng đến đêm giao thừa, “trừ tịch” (trừ: đã qua; tịch: đêm). Đã từ lâu tôi không còn thói quen đi dự lễ giao thừa ở bất cứ nhà thờ nào. Thật ra, với tôi ngày Tết cũng chỉ còn là một ngày như mọi ngày mà thôi. Có khác chăng là ít nhứt tôi vẫn còn cố gắng sống cho bằng được ý nghĩa đích thực của thời khắc “giao thừa”, tức giây phút “bàn giao” giữa năm cũ và năm mới. Trong giây phút linh thiêng ấy, tiếng pháo nổ đì đùng một thời nhắc nhở tôi rằng cần phải xua đuổi bóng tối của sự Dữ và khử trừ Ác thần ra khỏi bản thân của tôi. Tết Nguyên Đán chỉ thực sự có ý nghĩa và thời gian trước mặt chỉ có giá trị nếu tôi biết cố gắng chiến đấu chống lại sự Dữ trong chính con người của tôi. Sự Dữ không chỉ hiện hữu ở đâu đó ở Trung Đông, trong bộ mặt độc ác của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”, ở Ukraine hay ở bất cứ nơi nào đang có chiến tranh. Nó đang thực sự ẩn hiện trong chính con người của tôi. Tôi chưa làm gì được để xây dựng hòa bình thế giới. Nhưng ít nhứt, tôi tin rằng mỗi lần tôi cố gắng chống lại sức mạnh của sự Dữ mà cụ thể là ích kỷ và hận thù trong tôi,  tôi luôn có được cái tâm an bình và như vậy cũng mang lại bình an cho người khác.





Thứ Năm, 19 tháng 2, 2015

Mùa Xuân Đầu Tiên




Chu Thập
Xuân 2015

Mỗi dạo cuối năm, tôi thường ngồi xuống tính sổ...đời. Chưa một lần kinh doanh, lại thuộc loại trùm sò có hạng, cho nên tôi thấy “nợ tốt”, “nợ xấu” đều không có trong tự điển của tôi. Ngay cả cái thẻ tín dụng (credit card), từ nhiều năm nay, tôi cũng không còn biết mặt mũi nó ra sao, chớ đừng nói tới chuyện đụng đâu “cà” đó. Thành ra, về chuyện tiền bạc, tôi thấy mình chẳng cần phải bù đầu nhức óc hay động não cho mệt.
Không bận tâm về tiền bạc, của cải vật chất, nhưng tôi thấy mình không thể ăn ngon ngủ yên vì nợ ân tình. Thêm một ngày sống là thêm một nợ ân tình. Tuổi đời càng nhiều, nợ ân tình càng chồng chất. Sau khi đã kết toán, chiết tính và nhìn lại “cân bằng chi thu”, tôi không thể không tự hỏi: cái vốn hạnh phúc của mình hiện đang ở mức nào?
Mỗi lần nghĩ đến cái “vốn” hạnh phúc, tôi không thể không liên tưởng đến vương quốc Bhutan nằm ở giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Trong khi sức mạnh kinh tế của một quốc gia thường được lượng giá dựa trên tổng sản lượng quốc gia, thì tại đây một vị quốc vương đã đưa ra ý niệm “tổng sản lượng hạnh phúc”. Bhutan hẳn không phải là một quốc gia không màng đến tổng sản lượng kinh tế. Nhờ một trong những tài nguyên chính là thủy điện, tổng sản lượng quốc gia của nước này cũng gia tăng nhanh không kém những nước có nền kinh tế đang đi lên khác. Nhưng sở dĩ quốc gia này đặt ý niệm “tổng sản lượng hạnh phúc” lên trên tổng sản lượng quốc gia là bởi vì người dân ở đây biết xem trọng những giá trị tinh thần. Họ không chạy theo những tiện nghi mới, nhứt là trong lãnh vực truyền thông xã hội. Thiên nhiên ở đây lại được tôn trọng và bảo tồn tối đa. Nằm trên dãy Hi Mã Lạp Sơn và với 60 phần trăm diện tích đất nước là những nơi hoang dã chưa có người đặt chân đến, Bhutan hẳn phải có nhiều cảnh thơ mộng khiến cho người dân luôn cảm thấy thoải mái, thư giãn. Theo một cuộc khảo sát, có đến 2 phần 3 người dân Bhutan ngủ đủ 8 tiếng đồng hồ mỗi đêm. Ngủ nghỉ đầy đủ cho nên người Bhutan cảm thấy khỏe khoắn và hạnh phúc là chuyện đương nhiên. Nhưng theo tôi nghĩ, một trong những yếu tố góp phần gia tăng “tổng sản lượng hạnh phúc” của đất nước Bhutan chính là ảnh hưởng của Phật Giáo. Vốn chấp nhận Phật Giáo như quốc giáo, người dân Bhutan luôn biết sống tiết chế và từ bi. Luật nhân quả, cốt lõi của Phật Giáo, luôn thúc đẩy con người sống nhân ái, vị tha và làm việc thiện cho người khác.
Từ quốc gia Nam Á này, tôi đi lần xuống tới Việt Nam, quốc gia duy nhứt trên thế giới đưa hai chữ “hạnh phúc” vào trong tên gọi của đất nước. “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  Độc lập -Tự do - Hạnh phúc” này có mang lại “hạnh phúc” đích thực cho người dân hay không thì đã rõ. Nhưng tôi không hề ngạc nhiên tại sao hiện nay người Việt Nam tự nhận là những người hạnh phúc nhứt nhì thế giới. Theo một cuộc khảo sát do một Trung tâm nghiên cứu của Mỹ có tên là “Pew Research Center” tiến hành từ ngày 17 tháng 3 đến ngày 5 tháng 6 vừa qua, người Việt Nam được cho là những người lạc quan và tự nhận là hạnh phúc nhứt thế giới. Theo tôi, lý do thật đơn giản: cả đất nước tự xưng là “hạnh phúc” này chẳng khác nào một thứ nhà tù vĩ đại; có được ra khỏi nhà tù nhỏ là chỉ để bị giam vào trong nhà tù lớn. Những người đang ở trong nhà tù lớn hẳn phải cảm thấy hạnh phúc hơn những người đang bị nhốt trong nhà tù nhỏ. Nhưng cái nồi áp xuất cao có lẽ là hình ảnh chính xác hơn để nói về đất nước tự xưng là “hạnh phúc” này. Bị đè ở tận đáy nồi, nay được ngoi lên trên mặt để thở, dù phải đạp lên đầu lên cổ người khác, ai mà chẳng cảm thấy được thoải mái và hạnh phúc hơn. Mấy chục năm bị kìm kẹp, nay được một chút tự do để “làm ăn”, để đi đây đi đó, để mở miệng nói lên đôi điều mà trước kia mình phải giữ riêng trong lòng, người Việt Nam nào mà chẳng cảm thấy “hạnh phúc” hơn.
Niềm hạnh phúc hiện nay của người Việt xã hội chủ nghĩa giúp tôi xác tín rằng hạnh phúc chỉ là một ý niệm tương đối. Theo ý nghĩa ấy, có thể hiện nay tôi hạnh phúc hơn trước kia hay ngược lại. Và cũng theo ý nghĩa ấy, tôi hạnh phúc là bởi thấy mình được “hơn” người khác. Tôi cảm thấy hạnh phúc vì được sinh ra trong một đất nước giàu mạnh hơn người khác, không có chiến tranh lại không bị cai trị bởi một chế độ độc tài như người khác. Tôi cảm thấy hạnh phúc vì giàu có hơn người khác, vì có ngôi nhà đẹp hơn người khác, vì có chiếc xe đắt tiền hơn người khác, vì có vợ đẹp con khôn hơn người khác, vì có thân hình tráng kiện hay bốc lửa hơn người khác, vì có học vị và địa vị cao hơn người khác...Cứ có dịp so sánh và thấy mình hơn người khác là tôi thấy hạnh phúc. Ngay cả một thứ sinh hoạt giải trí rất lành mạnh là câu cá cũng khiến cho tôi cảm thấy hạnh phúc hơn mỗi khi tôi kéo được nhiều cá hơn người khác. Nói cho cùng, tôi cảm thấy hạnh phúc chỉ vì cảm thấy “hơn” người ở bất cứ một khía cạnh nào đó. Đây là thứ hạnh phúc mà tôi thường cảm nhận được mỗi khi nhìn ngang liếc dọc. Nhìn lên thì chẳng bằng ai, nhưng nhìn xuống thì hơn cả khối người. Đó là thứ hạnh phúc của “thằng chột được làm vua giữa xứ mù”. Đây có thể là quan niệm rất thịnh hành của con người thời đại. Xem ra càng văn minh tiến bộ, con người càng ganh đua và loại trừ người khác. “Nổi tiếng”, tức được nhiều người biết đến, là tên gọi khác của một thứ hạnh phúc khiến cho nhiều người cứ phải miệt mài chạy đua để được hơn người. Nhưng đó cũng là thứ hạnh phúc khiến cho con người thời đại bị căng thẳng, trầm cảm đến độ có khi  phải đi tìm cái chết.
Đây có thể là thứ hạnh phúc mà mỗi lần tính sổ đời vào dịp cuối năm, tôi thấy mình cũng đã từng chạy theo đến bở hơi tai. Nhưng càng chạy theo thì hạnh phúc vì hơn người chẳng khác nào một cái bóng luôn vượt khỏi tầm tay của tôi. Nhìn lại một năm săn đuổi thứ hạnh phúc ấy, tôi mới thấy mình trắng tay và dại khờ.
Bí quyết để được hạnh phúc, như các “đạo sĩ” trong tâm lý học chỉ ra, thường lại rất đơn giản. Một số “đạo sĩ” mách bảo tôi rằng chỉ cần “cố gắng” tưởng nghĩ mình đang hạnh phúc, thì dù có thua kém người khác bao nhiêu, tôi cũng có thể thực sự cảm thấy hạnh phúc. Đây là kết quả của những cuộc nghiên cứu được phổ biến mới đây trên báo “The Journal of Positive Psychology” (Tập san Tâm lý Tích cực).
Giáo sư Yuna L. Ferguson thuộc trường Knox College và giáo sư Kennon M.Sheldon thuộc trường đại học Missouri, Hoa Kỳ, đã thực hiện hai cuộc thí nghiệm mà kết quả đã khẳng định lời khuyên trên đây. Trong cuộc thí nghiệm đầu tiên, người ta mời 167 sinh viên lắng nghe ca khúc có tựa đề “Rodeo” của nhạc sĩ Aaron Copland. Đây là một ca khúc có lời lẽ kêu gọi sống “hạnh phúc”. Sau đó các sinh viên được chia thành 2 nhóm: một nhóm được hướng dẫn để cố gắng cảm thấy thực sự hạnh phúc hơn; nhóm khác được yêu cầu tránh bất cứ cố gắng nào để thư giãn, nhưng ngược lại chỉ ngồi thụ động để lắng nghe những phản ứng tự nhiên của mình.
Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra rằng nhóm sinh viên được chỉ dẫn phải cố gắng cảm thấy như mình thực sự đang hạnh phúc, cảm thấy hưng phấn hơn sau khi lắng nghe bản nhạc. Theo các nhà nghiên cứu, điều này chứng tỏ rằng hạnh phúc nằm trong trái tim của mỗi người. Để được hạnh phúc, con người phải cố gắng cảm nhận mình đang thực sự hạnh phúc.
Cuộc nghiên cứu thứ hai của hai giáo sư Ferguson và Sheldon được thực hiện với sự tham gia của 68 sinh viên và kéo dài trong 2 tuần lễ. Cũng giống như trong cuộc nghiên cứu thứ nhứt, các sinh viên cũng được chia thành hai nhóm: một nhóm được khuyến khích cố gắng cảm thấy mình đang hạnh phúc, một nhóm chỉ ngồi nghe nhạc một cách thụ động. Cuộc thí nghiệm cũng mang đến một kết quả tương tự: những người cố gắng tập trung vào việc cảm thấy hạnh phúc đều tỏ ra hưng phấn hơn những người khác.
Hai cuộc thí nghiệm trên đây làm cho tôi nhớ lại bài ca sinh hoạt của các hội đoàn thiếu nhi khi tôi còn nhỏ. Bài ca đơn sơ không ngừng nhắc nhở trẻ con: “Con chim vàng bay trên cành, đời mà vui sướng là do chúng ta”. Bí quyết của hạnh phúc thật đơn giản: một đầu óc tích cực, một trái tim vui tươi lúc nào cũng mang lại hạnh phúc cho con người.
Mới đây, giáo sư Antony Grant, giám đốc trung tâm “Coaching Psychology” (tâm lý hướng dẫn) thuộc trường đại học Sydney, cũng đã tìm hiểu điều gì mang lại hạnh phúc cho con người trong loạt chương trình có tựa đề “Making Australia Happy” (Làm cho Úc Đại Lợi được hạnh phúc) được chiếu trên đài ABC. Những nhà làm phim đưa 8 người vào một khu phố trong nội thành Sydney. Tại đây, trong 8 ngày liền, họ được hướng dẫn thực hành điều được gọi là “tâm lý tích cực”. Chẳng hạn, họ được yêu cầu làm một số việc như: viết tiểu sử để được đọc trong đám tang của chính mình, bày tỏ lòng biết ơn với những người đã giúp đỡ mình và chữa trị những vết thương bằng cách viết thư nói lên quyết tâm tha thứ với những người đã từng làm cho mình bị tổn thương. Họ cũng được hướng dẫn ăn uống một cách lành mạnh.
Những nhà nghiên cứu đã đo não bộ của những người tham gia cuộc nghiên cứu và những thay đổi sinh lý của họ. Kết quả cho thấy các sinh hoạt trong 8 ngày đã ảnh hưởng tích cực đến não bộ và hoạt động của các kích thích tố.
Giáo sư Grant giải thích rằng một khi con người tập suy nghĩ một cách tích cực và xây dựng, các kỹ năng của họ được phát triển.
Bà Dianne Vella-Brodrick, giáo sư phụ khảo tại Trung tâm “Positive Psychology” thuộc trường đại học Melbourne, cũng đồng một quan điểm như thế. Theo bà, thay vì tập trung vào những triệu chứng, rủi ro, yếu đuối và những điều đáng tiếc, hãy nhấn mạnh đến sức mạnh,  tiềm năng, các giá trị và những niềm hy vọng mang lại ý nghĩa cho cuộc sống con người.
Với phương pháp “tự kỷ ám thị” trên đây, giáo sư Grant khuyên nên làm điều mà tôi vẫn làm vào dịp cuối năm: đó là nhìn lại một năm qua và lượng giá cuộc sống của mình. Tôi có thực sự hạnh phúc không và tôi cần phải làm gì để thực sự cảm nhận được hạnh phúc?
Kế đó, ông khuyến khích gia tăng tinh thần trách nhiệm cá nhân. Không gì dễ cho bằng đổ lỗi cho người khác và xã hội về những khó khăn và tâm trạng không hạnh phúc của mình. Trái với thái độ ấy, hãy nhìn nhận những thiếu sót và khuyết điểm của mình và cố gắng thay đổi những điều đó.
Cuối cùng, theo giáo sư Grant, cần phải vạch ra những mục tiêu rõ ràng và phù hợp với những giá trị mà mình hằng trân quý và đeo đuổi những mục tiêu ấy bằng những bước nhỏ. Những bước nhỏ cụ thể mà giáo sư Grant gợi ý là: hãy làm những việc nhỏ cho người khác mà không mong được đền đáp như bày tỏ lòng biết ơn, nhường đường cho người khác khi lái xe, tỏ ra lịch sự và biết ơn với những người phục vụ trong các tiệm ăn...
Lần mò theo dấu chân của các “đạo sĩ” của tâm lý học để đi tìm một bí quyết đơn giản về hạnh phúc, tôi nhận thấy cái cốt lõi của bí quyết ấy vẫn là tấm lòng vị tha. Nghịch lý lớn nhứt của hạnh phúc vẫn là: càng đi tìm kiếm bản thân, con người càng đánh mất chính mình; trái lại, càng vì người khác mà quên mình, con người sẽ tìm gặp bản thân và niềm hạnh phúc đích thực.
Vị tha, nghĩa là luôn biết tưởng nghĩ đến người khác và đặt quyền lợi của người khác lên trên quyền lợi của mình, chính là bí quyết và bước quyết liệt đầu tiên trong việc đi tìm kiếm hạnh phúc. Tôi tin chắc rằng tất cả những ai biết sống vị tha đều cảm nhận được thế nào là hạnh phúc thực sự.
Tôi đã đọc được bí quyết trên đây qua câu chuyện của một người Hong Kong rất tích cực trong cuộc tranh đấu cho tự do và dân chủ vừa qua. Bên cạnh các lãnh tụ sinh viên, thế giới cũng nghe nói đến tên tuổi của ông Benny Tsang, 42 tuổi, một trong những người lãnh đạo phong trào “Chiếm Trung Tâm” ở Hong Kong. Nhà thiết kế nội thất giàu có này cũng là một người làm từ thiện nổi tiếng. Kể từ năm 2011, ông đã tổ chức rất nhiều đợt đi thăm và tặng quà cho người nghèo, người già neo đơn và người vô gia cư tại cựu thuốc địa Anh này. Điều nổi bật trong phong cách làm từ thiện của ông là không bao giờ sử dụng những từ như “làm phước, từ thiện” và nhứt là “bố thí”. Theo ông, những thuật ngữ “nhà đạo” này có thể tạo ra hố ngăn cách giữa người với người và gợi lên sự phân chia giai cấp. Ông giải thích: “Chúng tôi có những “người bạn” và chúng tôi đi thăm họ. Chỉ  đơn giản thế thôi”.
Theo đề nghị của ông, những ai muốn gia nhập tổ chức của ông để đi mua sắm quà cáp cho những “người bạn” nói trên nên tránh các siêu thị lớn, mà hãy vào các tiệm tạp hóa hoặc sạp tiểu thương, bởi vì đây là những cơ sở buôn bán thường bị bắt chẹt nhứt. Nhưng quan trọng hơn, khi vào các sạp tiểu thương này, nên tránh kỳ kèo trả giá, mà hãy tận dụng cơ hội để hỏi thăm, trò chuyện với các chủ nhân. Đây cũng là thái độ phải có đối với những “người bạn” nghèo.
Theo nhận xét của ông Tsang, xã hội ngày nay ngày càng xem trọng đồng tiền và coi thường các giá trị nhân bản. Chính vì thế mà con người thời đại ngày càng tỏ ra vô cảm. Họ chỉ biết chà đạp lên nhau để sống. Ông thú nhận rằng mình cũng đã từng sống vô cảm như thế.
Theo kinh nghiệm được ông kể lại, cách đây 4 năm, nhân sinh nhựt của ông, vợ chồng ông đi xem xi nê. Vào đến trung tâm thành phố, ông thấy hàng ngàn sinh viên đang biểu tình. Họ biểu tình để phản đối dự án xây đường cao tốc từ Quảng Châu đến Hong Kong. Mặc dù ngốn đến 65 tỷ tiền thuế của người dân Hong Kong, nhưng dự án này không mang lại lợi ích nào cho người dân ở đây, mà chỉ giúp người dân đại lục sang Hong Kong dễ dàng hơn mà thôi.
Nhìn thấy hàng ngàn người trẻ tham gia biểu tình trong trật tự và thinh lặng, cứ mỗi 26 bước lại quỳ rạp xuống theo kiểu “tam bộ nhứt bái” (cứ ba bước bái một cái), ông đã vỡ òa xúc động. Ông tự hỏi: “Tại sao còn trẻ mà họ đã biết suy nghĩ một cách sâu sắc như thế?”  Kể từ hôm đó, tỷ phú Benny Tsang đã hoàn toàn thay đổi cách sống của mình. Ông nghĩ đến mọi người xung quanh nhiều hơn cũng như quan tâm đến các vấn đề xã hội nhiều hơn. Và đây chính là động lực thúc đẩy ông lăn xả vào công cuộc từ thiện.
Tỷ phú đã từng là một người “vô cảm” nói một câu đáng suy nghĩ: “Thời buổi này, suy nghĩ như tôi là thiểu số. Nhưng bản thân tôi, tôi yêu thích những gì tôi đang làm và cuộc sống của tôi hiện giờ rất đẹp”.
Sống “cuộc sống đẹp” và có ý nghĩa như ông Tsang hiện nay chắc chắn phải là bí quyết mang lại hạnh phúc cho ông.
Ở cuối năm, khi ngồi xuống lượng giá cái “vốn” hạnh phúc của mình, tôi cũng nghe văng vẳng bên tai ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của cố nhạc sĩ Văn Cao mà cụ Trần Đĩnh có nhắc đến trong hồi ký Đèn Cù. Ca khúc này đã được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác vào một ngày giáp Tết Bính Thìn (1976), tức một năm sau điều được gọi là “thống nhất đất nước”. Nhưng chỉ vì có những câu như: “Từ đây người biết quê người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết yêu người”, mà ca khúc đã bị những kẻ xem “quê hương và dân tộc” như kẻ thù để đày đọa và chém giết trong suốt mấy chục năm chiến tranh, đã bị dìm mãi cho đến đầu thập niên 1990.
Tôi đọc được ý nghĩ thâm sâu của cố nhạc sĩ Văn Cao: chỉ có Mùa Xuân thật sự khi con người biết yêu thương nhau. Phải chăng niềm hạnh phúc và khang an mà người người chúc nhau mỗi độ Xuân về không gắn liền với tấm lòng vị tha, yêu người?