Hiển thị các bài đăng có nhãn Mùa Chay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mùa Chay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Nước mắt trong tuần chay

Chu Thập
23/02/18
Thảm sát lại xảy ra trong một trường trung học ở Parkland, Tiểu bang Florida, Hoa Kỳ. Chỉ từ đầu năm đến nay, nghĩa là chưa quá 2 tháng, đã xảy ra 18 vụ nổ súng và bắn giết trong các trường học ở Hoa Kỳ. Chẳng có nơi nào trên thế giới có chuyện kỳ quặc và dã man như thế. Đã là thảm sát thì đương nhiên hậu quả phải là bi thảm. Lẽ ra chỉ phải có nước mắt của đau xót và tiếc thương từ tận đáy tâm hồn con người. Nhưng tại quốc gia muốn mãi mãi là “vĩ đại” này, bắn giết và thảm sát, nhứt là trong các cơ sở giáo dục, đã trở thành một thứ thông lệ nhàm chán. Và dĩ nhiên những lời chia buồn, nhứt là từ cửa miệng của những nhà lãnh đạo quốc gia cũng trở thành một mớ sáo ngữ vô nghĩa và đương nhiên trở thành nhàm chán. Thật vậy, cũng như sau những vụ bắn giết khác, liền sau cuộc thảm sát tại trường trung học Marjory Stoneman Douglas ở Parkland, Tiểu bang Florida, trong buổi sáng ngày Valentine 14 tháng Hai vừa qua khiến cho 17 người bị thiệt mạng, trong đó phần lớn là học sinh, đương kim Tổng thống Mỹ Donald Trump đã gởi đến gia đình các nạn nhân và những người sống sót “những lời cầu nguyện và tưởng nhớ” (prayers and thoughts). Lâu nay tôi vẫn nghi ngờ về khả năng “cảm thông” của một ông tổng thống luôn tỏ ra hung hãn, tấn công, mạt sát và mạ lỵ không trừ một người nào, trừ nước Nga và tổng thống Vladimir Putin! Tôi cũng không biết ông có thực sự cầu nguyện không. Nhưng những người còn sống sót trong vụ thảm sát tại Parkland vừa qua đã không tin ở những “lời cầu nguyện và tưởng nhớ” của ông Trump.
Trước hết, hãy lắng nghe tâm sự của cô nữ sinh Carly Novell, 17 tuổi, một trong những học sinh còn sống sót trong vụ thảm sát, nhờ núp trong một chiếc tủ của phòng báo chí của trường cùng với 18 bạn học khác. Trong một “tuýt” được chia sẻ liền sau cuộc thảm sát, Carly cho biết cách đây 70 năm, ông ngoại của cô, ông Charles Cohen, lúc chỉ mới 12 tuổi, cũng đã từng trốn trong một tủ quần áo khi toàn bộ gia đình của ông bị sát hại trong một trong những vụ tàn sát  tập thể đầu tiên tại Hoa Kỳ xảy ra hồi năm 1949.
Thông điệp mà cô nữ sinh Carly muốn nhắn gởi đến tổng thống Trump và các nhà lập pháp Mỹ là: “Súng đạn mang lại cho  những người xấu cái khả năng bắn giết người khác. Đây là chuyện súng đạn và đây là chuyện của tất cả những người mà cuộc sống bị bất thần cướp đi vì súng đạn”. Cô nữ sinh này đã không xem trọng những “lời cầu nguyện và tưởng nhớ” của Tổng thống Trump. Cô muốn thấy có sự thay đổi và sự thay đổi trong luật kiểm sống súng đạn cá nhân.
Phẫn nộ, mạnh dạn, thẳng thắn và công khai hơn, một nữ sinh khác, cũng sống sót từ cuộc thảm sát, tên là Emma Gonzalez đã lên tiếng trong một cuộc biểu tình kêu gọi chính phủ ban hành luật kiểm soát súng đạn cá nhân. Sau khi kêu gọi dành một phút mặc niệm (điều mà Emma cho là chưa thấy có trong Quốc hội Liên bang) để tưởng nhớ và cầu nguyện cho các nạn nhân, Emma nói: “Lẽ ra tất cả những người này phải ở nhà để than khóc. Nhưng thay vào đó chúng tôi cùng nhau đến đây để đứng bên nhau bởi vì nếu tất cả những gì mà chính phủ của chúng ta và tổng thống của chúng ta làm được chỉ là gởi đi sự tưởng nhớ và những lời cầu nguyện thôi, thì đã đến lúc chính các nạn nhân phải làm một cuộc thay đổi”. Emma trích dẫn lời mà một giáo viên đã nói với em: “Khi những người lớn nói với tôi rằng tôi có quyền mang súng thì tất cả những gì mà tôi có thể nghe được là quyền mang súng được xem trọng hơn quyền sống của học sinh”. Theo Emma, nếu tên sát nhân chỉ có trong tay một con dao, hắn đã không thể giết hại được nhiều người như thế.
Trong bài diễn văn đọc tại cuộc biểu tình yêu cầu ban hành luật kiểm soát súng đạn cá nhân, Emma đã so sánh những gì đã diễn ra tại Hoa Kỳ với những nước như Úc Đại Lợi, Gia Nã Đại và Anh Quốc là những quốc gia đã ban hành luật để kiểm soát gắt gao súng ống cá nhân. Theo cô, tình trạng bạo động vì súng đạn tại Hoa Kỳ có liên hệ chặt chẽ với kỹ nghệ súng đạn, nhứt là tổ chức NRA (National Rifle Association: hiệp hội cổ võ mang súng) là nhóm đã ủng hộ cho ứng cử viên Trump 30 triệu Mỹ kim trong cuộc bầu cử hồi năm 2016.
Ngỏ lời với các nhà lập pháp, chính phủ và cá nhân Tổng thống Trump, Emma Gonzalez nói thẳng: “Hỡi  tất cả các chính trị gia đã nhận tiền của tổ chức NRA, thật là nhục nhã cho quý vị (shame on you)!” Đám đông tham gia cuộc biểu tình đã hô lớn khẩu hiệu “nhục cho quý vị” nhắm vào các nhà lập pháp và cá nhân Tổng thống Trump.
Nhưng hãy nghe tiếp “bản án” mà Emma muốn dành cho các chính trị gia ủng hộ việc cho cá nhân được tự do sở hữu súng đạn: “Họ (các chính trị gia) nói rằng luật kiểm soát chặt chẽ súng đạn sẽ không giảm bớt nạn bạo động vì súng đạn. Chúng tôi gọi đó là chuyện ruồi bu (we call in BS (bullshit). Họ nói rằng một người tốt có súng đạn trong tay sẽ chận đứng được một người xấu có súng trong tay. Chúng tôi gọi đó là chuyện ruồi bu. Họ nói rằng súng đạn cũng chỉ là phương tiện như dao kéo và cũng nguy hiểm như xe hơi. Chúng tôi gọi đó là chuyện ruồi bu. Họ nói rằng không có luật nào có thể ngăn ngừa được hàng trăm thảm trạng điên rồ đã xảy ra. Chúng tôi gọi đó là chuyện ruồi bu. Họ nói rằng trẻ con không biết gì về việc người lớn đang nói, rằng chúng tôi còn quá trẻ để hiểu được chính phủ hoạt động như thế nào. Chúng tôi gọi đó là chuyện ruồi bu”.
Để chứng tỏ không phải là “con nít” hoàn toàn không biết gì về hoạt động của chính phủ hay vô tư với chính mạng sống của mình, các học sinh còn sống sót trong cuộc thảm sát vừa qua tại Parkland đã loan báo sẽ tổ chức một cuộc biểu tình ngay tại Thủ đô Washington vào ngày 24 tháng Ba tới đây. Giới trẻ ngày nay muốn hành động và muốn thấy hành động chớ không phải những lời nói suông. Tại cuộc biểu tình do những người sống sót từ cuộc thảm sát tại Parkland tổ chức, người ta đọc được những biểu ngữ có nội dung đầy thách thức với chính phủ Trump: “Cầu nguyện và chia buồn chưa đủ! Các viên chức chính phủ của chúng ta cần phải hành động hoặc là từ chức”.
Cho tới nay, Tổng thống Trump vẫn chưa cho thấy ông có quyết tâm tìm kiếm một biện pháp cụ thể nào để chận đứng nạn bạo động vì súng đạn tại Hoa Kỳ. Với ông, vấn đề chính trong vụ thảm sát tại Parkland cũng như trong bất cứ một vụ bắn giết nào bằng súng đạn cá nhân, là bệnh tâm thần. Hung thủ là một người mắc bệnh tâm thần. Với thói quen đổ vạ và đánh bùn sang ao người khác, ông quy trách cho cơ quan điều tra trung ương FBI về vụ thảm sát, vì theo ông cơ quan này đã được báo cáo đầy đủ về hồ sơ của hung thủ nhưng không chịu ra tay mà lại phí giờ để điều tra việc Nga can thiệp vào cuộc bầu cử hồi năm 2016. Ngoài ra, cùng với “những lời cầu nguyện và tưởng nhớ”, Tổng thống Trump cũng khuyên nhủ mọi người hãy “lấy sự tử tế để đáp lại sự hung ác”. Riêng với các học sinh, ông dạy hãy xây dựng những quan hệ tốt đẹp để “biến bạn học thành bạn hữu và láng giềng” (www.newyorker.com/news/our-columnists/president-trumps-victim-blaming-response-to-the-mass-shooting-in-florida). Tuyệt nhiên, Tổng thống Trump không đá động gì đến chuyện súng ống trong tay của những người mắc bệnh tâm thần hay những thành phần bất hảo trong xã hội hoặc ngay cả trong tay những người bình thường đi nữa.
Chuyện đáng suy nghĩ nhứt mà những người sống sót từ cuộc thảm sát ở Parkland, dù có bị xem là “con nít” đi nữa, vẫn có thể nhận ra và như em Emmanuel Gongalez đã nhận xét một cách chí lý là: “Nếu tên sát nhân chỉ có trong tay một con dao, hắn đã không thể giết được nhiều người như thế!” Tổng thống Trump và các nhà lập pháp Mỹ đã không nhận ra hay không muốn nhận ra điều đó.
Hoa Kỳ, mặc dù dân số không chiếm tới 5 phần trăm dân số thế giới, nhưng sở hữu từ 35 đến 50 phần trăm số súng đạn cá nhân của toàn thế giới: trung bình cứ 100 người Mỹ thì có đến 88 khẩu súng! Chỉ cần sự hiện diện của một khẩu súng trong tay ai đó cũng đủ để một ai đó trở thành nạn nhân của bạo động vì súng đạn! Trong tay của một ai đó mắc bệnh tâm thần hay một người  bình thường nhưng có thể hành động bất thường trong một lúc bốc đồng nào đó, một khẩu súng cũng đủ để tạo ra một thảm kịch đau buồn cho cả nước.
Gởi lời chia buồn, tưởng nhớ và cầu nguyện đến gia đình các nạn nhân của vụ thảm sát là một cử chỉ cao đẹp đáng được đề cao. Trong cơn hoạn nạn, ai mà không cần được người khác, nhứt là các nhà lãnh đạo đất nước, ưu ái nâng đỡ. Vị tổng thống Mỹ nào cũng đều cư xử như thế cả. Nhưng trong bối cảnh của vụ thảm sát vừa qua và vô số những thảm trạng có liên quan đến súng đạn cá nhân xảy ra như một thông lệ nhàm chán, như các học sinh ở Parkland đã nhận xét, “cầu nguyện và tưởng nhớ” thôi sẽ không bao giờ chấm dứt được nạn bạo động vì súng đạn tại Hoa Kỳ, nếu không muốn nói đó chỉ là những sáo ngữ trên môi mép.
Vụ thảm sát tại Parkland xảy ra vào ngày Valentine và cũng là ngày mà Kitô Giáo trên toàn thế giới gọi là Ngày Thứ Tư Lễ Tro, khởi đầu mùa Chay để chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh. Tổng thống Trump đã được 80 phần các tín hữu tin lành bảo thủ dồn phiếu cho trong cuộc bầu cử năm 2016 vì họ tin rằng ông là một tín đồ tốt biết bảo vệ những giá trị truyền thống của Kitô Giáo. Tôi không biết hôm đó Tổng thống Trump có đến nhà thờ để được xức tro trên đầu hầu tỏ dấu ăn chay, sám hối, cầu nguyện trong mùa chay  và nói lên quyết tâm cải thiện như các Giáo hội Kitô kêu gọi không.
Tôi biết rằng đối với các tín hữu Kitô, mùa chay là mùa của cầu nguyện, chay tịnh và nhứt là thay đổi cuộc sống bằng những hành động cụ thể. Lời kêu gọi của các nhà lãnh đạo Kitô Giáo trong mùa chay mà tôi thường nghe được mỗi năm là: cùng với lời cầu nguyện, chay tịnh và kiêng khem, hãy mở rộng trái tim và đôi tay để chia sớt  với mọi người, nhứt là những người cần được giúp đỡ. Tựu trung, như Phật Giáo thường dạy, “dù xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người”. Tuần chay nào cũng có nước mắt, nhưng nếu nước mắt không đi kèm với những hành động cụ thể của quảng đại, yêu thương, bác ái, chia sẻ, cảm thông, tha thứ...thì nước mắt của tuần chay cũng chỉ là nước mắt cá sấu.






Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

Để được sống có tự do và trách nhiệm...



Chu Thập
20.3.12



Mỗi năm, cứ đến mùa chay của Kitô giáo thì tôi lại nghiệm ra một điều: càng kiêng cữ thì càng thèm! Cuộc sống không chỉ đơn giản chỉ có “ba cái lăng nhăng nó quấy ta” như cụ Tú  Xương đã phải “xưng thú” với bà tú. Như sóng biển khơi trùng trùng điệp điệp, trừ được cái này thì cái khác lại trồi lên.
Đa số những kiêng cữ của tôi đều gắn liền với sức khỏe. Vì muốn sống khỏe, sống lâu và nhứt là để khỏi phải trở thành gánh nặng cho người thân và xã hội, tôi thấy mình thành công một cách dễ dàng trong việc đối đầu với những cái “lăng nhăng”. Cũng may, nhờ tiến bộ của khoa học, tôi được giải tỏa khỏi nhiều sự thèm khát mà lâu nay tôi cứ phải kìm hãm. Chẳng hạn như trứng gà. Trước đây tôi cứ phải “đấu tranh tư tưởng” mỗi khi nhìn thấy trứng. Nay những khám phá mới lại bảo rằng tôi có quyền ăn “thả giàn” mà chẳng phải sợ “mỡ máu” (cholesterol xấu) gia tăng dẫn đến các bệnh về tim mạch. Khi biết có “quyền” thì tự dưng không cần ăn “phụ trội” tôi vẫn thấy bớt thèm.
Mới đây, trên báo mạng “Calitoday”, tôi lại được giải thoát thêm khỏi một mặc cảm khác khi đọc được một bài viết về ích lợi của rượu bia. Từ hơn 20 năm nay, cũng vì lý do sức khỏe, tôi đã thề thốt bỏ rượu bia và tôi đã thành công. Nhưng ý chí của tôi đã không thể đè bẹp được sự thèm khát trong tôi. Thấy bạn bè chén chú chén anh mà tôi thấy nóng ran cả người. Nhấp vài giọt vẫn thấy ngon và có khi còn ngon hơn cả cái thời còn sung sức. Nhưng nghĩ đến những tác hại của rượu chè, tôi lại đành nhìn bạn bè để cười trừ và xin được “tha” cho.
Bài báo mà tôi đọc được trên Calitoday viết rằng nếu uống chừng mực thì rượu bia mới có ích lợi cho sức khỏe. Theo bài báo, những nghiên cứu mới cho thấy cường độ đặc của xương cao hơn ở những người uống từ một đến 2 lon bia mỗi ngày, nhứt là bia làm bằng lúa mạch. Kết quả nghiên cứu cũng chứng minh rằng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim giảm đi 31 phần trăm nơi những người uống bia chừng mực, trong khi nguy cơ này lại tăng cao ở những người uống quá nhiều.
Cũng theo kết quả nghiên cứu, bia ngăn ngừa và làm giảm việc cấu thành sạn thận đến 40 phần trăm, bởi vì calcium trong bia sẽ giúp cho xương được cứng hơn và không gây sạn trong thận.
Điều đáng chú ý là bài báo khẳng định rằng bia có tác dụng chống lão hóa. Dựa vào một thống kê so sánh 11 ngàn phụ nữ lớn tuổi thì những vị uống một lon bia mỗi ngày có trí óc trẻ hơn đến 18 tháng tuổi so với những người không uống bia.
Ngoài ra, lại càng là một tin mừng hơn khi bài báo viết rằng bia giúp giảm nguy cơ bị ung thư, tiểu đường, tăng trưởng chất bổ trong cơ thể, giúp chống liệt não, giảm bệnh cao huyết áp và nhứt là gia tăng tuổi thọ...
Theo bài báo, kết quả trên đây dựa vào sự tổng hợp của hơn 50 nghiên cứu tại Hoa kỳ cũng như nhiều nước Âu châu. (x. Calitoday 23/3/2012)
Thời buổi khoa học này, người ta luôn “nói có sách mách có chứng”. Tôi tin tưởng ở những kết quả nghiên cứu khoa học. Nhưng tôi cũng thú nhận rằng gần đây, tôi bắt đầu ngờ vực về tính thuyết phục của khoa học. Chỉ riêng về bệnh tật và thuốc chữa trị, hôm nay người ta bảo thế này, ngày mai người ta lại nói ngược lại.  Những lý thuyết khoa học đã từng ngự trị cả thế kỷ nay lại bị lung lay. Đừng nói gì đến thuyết tiến hóa mà cho tới nay nhiều nhà khoa học tên tuổi vẫn chưa chịu chấp nhận (x. John Ashton, in six days, why scientists choose to believe in creation), ngay cả thuyết tương đối của người được bầu là nhà khoa học vĩ đại nhứt của thế kỷ 20 là Albert Einstein nay cũng bị đặt lại vấn đề (x. Lê Tất Điều, Ngày tàn của một ảo ảnh, Việt luận, 24/2/2012). Tưởng vững như bàn thạch và sẽ vĩnh viễn ngự trị trong không gian khoa học và cách suy nghĩ của con người, nay thuyết này xem ra đang bị đào thải. Sở dĩ có chuyện “động trời” này là vì mới đây Tổ chức Nghiên Cứu Hạt Nhân Âu Châu gọi tắt là CERN (European Organization for Nuclear Research)  có trụ sở gần Geneve, Thụy sĩ, đã chứng minh được rằng những hạt vi mô “Neutrinos” đã có thể vượt qua tốc độ ánh sáng. Như vậy “lệnh cấm tuyệt đối” của Einstein không cho bất cứ vật thể nào trong vũ trụ được phép vượt qua tốc độ của ánh sáng đã bị đánh đổ và do đó thuyết tương đối được xây dựng trên “lệnh cấm” này cũng bị lung lay.
Các lý thuyết khoa học xem ra cũng giống như sóng biển. Lý thuyết này xuất hiện, chi phối cách suy nghĩ và nghiên cứu khoa học một thời gian rồi...chết. Lý thuyết kia lại trồi lên và đảo lộn những lý thuyết đến trước. Vũ trụ vật chất vẫn mãi mãi là một bí ẩn mà trí khôn con người xem ra không thể nào múc cạn.
Cái thế giới thuần vật chất là vũ trụ vẫn mãi là một bí ẩn đã đành, mà cái tiểu vũ trụ vừa là vật chất vừa là tinh thần là con người lại càng phức tạp và không ngừng vượt khỏi tầm tay với của chính trí khôn con người hơn. Khoa học càng tiến bộ thì châm ngôn “dủ học dủ ngu” lại càng đúng. Thành ra, tự cho mình có thể chọc thủng được bức màn bí ẩn của con người và giản lược mọi sinh hoạt của con người vào chiều kích khoa học là một thái độ ngạo mạn, nếu không muốn nói là ngu xuẩn.
Tôi có ý nghĩ ấy khi đọc được bài tiểu luận của chuyên gia tâm thần học Tanveer Ahmed được đăng trên báo The Sydney Morning Herald số gần đây. Theo tác giả, ngày nay, những nỗ lực tìm kiếm những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đều đặt nền tảng trên ý niệm cho rằng kinh tế học cũng là một bộ môn khoa học giống như vật lý và sinh hóa học, nghĩa là cũng có thể cân lường, đong đếm...Cái nhìn này cũng lại xuất phát từ quan niệm cho rằng mọi sinh hoạt của con người cuối cùng đều giản lược vào hoạt động trong não bộ. Người ta cho rằng từ  tình yêu, ý thức, đến ý thơ, niềm tin tôn giáo, cuộc sống xã hội... xét cho cùng cũng chỉ là một chuỗi những hoạt động của “gen” và các tế bào não. Giản lược những cảm xúc và tâm tình cao quý nhứt trong con người thành những bản năng hoàn toàn như nơi thú vật tưởng là chuyện “cường điệu” nhưng lại là cái nhìn trổi vượt về con người trong đầu thế kỷ 21 này. Phim ảnh, báo chí không ngừng cổ võ cho quan niệm xem mọi sinh hoạt của con người đều được quyết định từ trong bào thai. Không thiếu cái giọng điệu cho rằng “cứ 4 đứa trẻ sinh ra thì có một đứa mang sẵn trong người cái “gen” không chung thủy”; có những người “bẩm sinh” là kẻ giết người (natural born killer)...Có sống đạo đức được cũng là do “gen” di truyền. Mà có phạm tội ác thì cũng chỉ là do bẩm sinh. Phân tách cho đến cùng, trong con người chẳng có tự do và trách nhiệm gì cả!
Sở dĩ có cái nhìn giản lược như thế là vì một phần do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa, do những khám phá về hệ “gen” di truyền trong con người. Trong 2 hoặc 3 thập niên vừa qua, cuộc nghiên cứu về não bộ và tác động của não bộ đối với cách hành xử của con người đã trở thành một trong những ngành nghiên cứu hàng đầu. Chúng ta biết rằng trong não bộ có trên 100 tỷ tế bào thần kinh và mỗi một tế bào lại liên kết với hàng ngàn tế bào bên cạnh. Chúng ta cũng biết đến nhiều trung tâm chức năng khác nhau trong não bộ, mỗi trung tâm có trách nhiệm và bổn phận khác nhau.Thần kinh học là ngành có nhiều khám phá kỳ thú nhứt. Không có một tuần lễ qua đi mà các nhà khoa học không loan báo một khám phá mới liên quan đến thần kinh hệ.  Chính vì vậy mà hiện nay nhiều sinh hoạt khác của con người cũng bắt đầu gắn liền với hai chữ “thần kinh”. Muốn làm những quyết định kinh tế tốt thì cần phải quan tâm đến hoạt động của não bộ. Ngay cả một số triết gia cũng liên kết hai chữ “đạo đức” với thần kinh hệ.
Tưởng hai chữ “thần kinh” chỉ giới hạn trong giới hàn lâm và nghiên cứu. Nay người ta cũng áp dụng nó vào việc soạn thảo các chính sách chính trị, kinh tế và xã hội. Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới đã thành lập nguyên một bộ chuyên áp dụng những hiểu biết của khoa thần kinh học vào việc soạn thảo các chính sách. Tại Anh quốc, một trong những việc đầu tiên mà thủ tướng David Cameron thực hiện khi lên cầm quyền là thiết lập Đơn vị nhận thức về hành xử (Behavioural Insight Unit), tức một nhóm chuyên gia đặc trách về việc soạn thảo chính sách dựa trên những khám phá của môn thần kinh học. Tại Hoa kỳ, tổng thống Barack Obama dường như cũng chạy theo khuynh hướng ấy để đề ra các chính sách về xã hội.
Theo ông Ahmed, nỗ lực không ngừng để tìm hiểu và đào sâu bản chất con người là điều đáng ca ngợi. Nhưng sẽ là điều nông nổi khi xử dụng khoa thần kinh học và thuyết tiến hóa để tìm hiểu sự sống con người hay đề ra chính sách xã hội.
Tác giả viết rằng những ai muốn xử dụng khoa học để giải quyết những vấn đề thực sự của con người thường phải giản lược chúng thành những vấn đề “kỹ thuật”, nghĩa là như một bài toán mà giải đáp đều có thể tìm thấy nếu theo đúng một quy trình.
Tác giả kết luận: “Khi tiến trình này được áp dụng cho con người, dù là trong kinh tế, sức khỏe tâm thần hay những ứng dụng thời thượng của khoa thần kinh học, thì kết quả không thể tránh khỏi là con người bị xem như đi thụt lùi.” (x. The Sydney Morning Herald, 10-11/3/2012)
Dĩ nhiên, “thụt lùi” từ con người xuống hàng súc vật. Sau năm 75, người Việt nam chứng kiến cái bước “thụt lùi” ấy rõ rệt và đau đớn hơn ai hết. Câu nói đầy mỉa mai “người xuống làm súc vật để cho súc vật lên làm người” hẳn đã diễn tả được cái thực trạng ấy một cách bi thảm. Những kẻ tự cho mình có sứ mệnh “giải phóng” đã dựa vào thuyết tiến hóa được tiếp thu một cách ngu xuẩn và chủ nghĩa vô thần được tuyên xưng một cách cuồng tín để tước đoạt nhân phẩm của người đồng bào ruột thịt của mình. Kết quả của bước “thụt lùi” ấy là gì nếu không phải là điều mà tác giả Hà sĩ Phu gọi là “cuộc tổng khủng hoảng về nhân cách”, luân thường đạo lý bị bứng khỏi lòng người, ý thức về thiện ác hoàn toàn bị xóa bỏ, tính tham lam và độc ác được khuyến khích đến mức tối đa...Những người trong nước còn có chút ý thức về thiện ác cứ phải gào lên đến khàn cổ để báo động về tình trạng “tụt hậu nhân cách”, “xuống cấp đạo đức”...Quả thực, cái phần “người” trong “con người” hầu như đã bị xóa sạch để nhường chỗ cho phần “con”, tức thú tính.
Ở những ngày trước kỷ niệm ngày 30 Tháng Tư “Đen”, làm sao mà tôi không nghĩ đến cái “lỗ hổng đạo đức” ấy trong xã hội Việt nam hiện nay. Bởi vì nó không chỉ là cái “lỗ” nữa nó đã trở thành một “vực sâu không đáy” nuốt trôi đi không biết bao nhiêu tư cách con người.
Riêng tôi, sống những ngày “chay tịnh” để chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh, tôi cảm thấy phải ý thức hơn về “nhân phẩm”, tức tư cách con người của mình. Tôi tin như Kinh Tin Kính rằng con người vẫn mãi mãi là một “huyền nhiệm” mà chẳng có “thước đo” nào có thể vừa và cũng chẳng có bộ môn khoa học nào có thể khám phá và hiểu cho đến cùng. Với tôi, cũng chẳng có khám phá khoa học nào quan trọng cho bằng sự kiện nhân cách, địa vị và phẩm giá con người được tôn trọng và ghi chép trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Nhân cách hay phẩm giá cao cả của tôi mang lại cho tôi tự do và đồng thời cũng đòi hỏi tôi phải có trách nhiệm. Với tôi, mục đích của chay tịnh, tức tiết độ trong cách ăn uống, phục sức và nhứt là suy nghĩ và đối nhân xử thế, là để giúp tôi quý trọng chính mình, được sống có tự do và trách nhiệm hơn, bởi vì sống là tiến tới chứ không phải “thụt lùi” trong nhân cách.
Đến tuổi này, liệu có “muộn màng” để thấy rằng được làm Người là một Ân sủng?






Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Tôi ăn chay…



                                                                Chu Thập
Mùa Chay 2010


Mới “ăn Tết” đó, mà nay tôi lại phải “ăn chay”. Tôi nói “phải” ăn chay bởi vì theo bản tính tự nhiên, tôi thích ăn hơn là nhịn. Thật ra, trong “Mùa Chay” kéo dài 40 ngày mà hơn một tỷ người Công giáo trong đó có tôi, bắt đầu bước vào kể từ Thứ Tư Lễ Tro ngày 17 tháng 2 này, chỉ có đúng hai ngày “ăn chay” theo đúng nghĩa. Một lần ở khởi đầu Mùa Chay, khi người Công giáo được xức lên đầu một ít tro để được nhắc nhở về thân phận “bụi tro” yếu đuối của mình và được mời gọi ăn năn hối cải; một lần vào Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu.
Tôn giáo nào cũng có chay tịnh. Phật giáo có “chay trường” và đương nhiên xem “ăn chay” như một thực hành quan trọng trong cách thực hành  đạo. Hồi giáo có cả một tháng Ramadan, trong đó người tín đồ nhịn ăn từ lúc bình minh cho đến khi mặt trời lặn. Mục đích của chay tịnh trong tôn giáo nào cũng đều là để kêu gọi con người sám hối và, nói theo ngôn ngữ của Kitô giáo, để quay “trở về”. Dĩ nhiên, với những người tôn thờ Thiên Chúa, thì trở về chỉ có nghĩa là trở về với Thiên Chúa. Như một con chiên lạc đàn, người tín hữu trở về với đàn chiên. Như người con hoang đàng, người tín hữu trở về trong vòng tay chờ đợi và tha thứ của người Cha.
Nhưng theo tôi nghĩ, trở về  với bản thân mới là điều cần làm trước tiên. Ngày nay, trong triết học hiện sinh, người ta thường nói đến hai chữ “vong thân”. Hiểu một cách đơn giản nhứt, vong thân là đánh mất chính mình.
Kitô giáo có giới răn quan trọng nhứt là “hãy yêu mến Chúa trên hết mọi sự, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực”. Giới răn thứ hai vốn được xem như giống giới răn thứ nhứt là “hãy yêu tha nhân như chính mình”. Không nhứt thiết phải là một tín hữu Kitô, người Việt nam cũng biết một “giới răn” tương tự: “thương người như thể thương thân”. Điều xem ra nghịch lý hay thừa thãi trong “giới răn” này là vế thứ hai, “như thể thương thân”. Chúng ta thường nghĩ rằng theo lẽ tự nhiên, ai cũng yêu thương chính mình. Kỳ thực, chúng ta rất thường có thái độ thiếu “tôn trọng”, nếu không muốn nói là miệt thị hay thù nghịch đối với bản thân, nhứt là thân xác của mình.
Trong bài viết có tựa đề “Biết Ơn Mình” đăng trong tuyển tập “Cành Mai Sân Trước”, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, người đang sống trong nước, viết như sau: “Ngay từ thuở nhỏ, ta đã được dạy nói cám ơn khi ai đó giúp đỡ mình. Lời cám ơn không phải để xã giao mà thật sự biểu lộ lòng biết ơn chân thành của mình đối với người nào đó.Thế nhưng có lẽ chưa bao giờ ta được dạy nói cám ơn ta vì nhiều khi ta coi chuyện cám ơn mình là một điều gì đó lố bịch, kỳ cục, không cần thiết! Trái lại nhiều khi ta còn có khuynh hướng nói xấu mình, bất mãn với mình, thậm chí …nguyền rủa mình. Trên mười năm giữ mục Phòng Mạch trên báo Mực Tím, tôi nhận được rất nhiều thư của các em ở tuổi mới lớn kêu ca về hình thể, về nhan sắc mình và sỉ vả mình một cách không thương tiếc! Nhiều em viết “muốn tự tử”, “muốn chết đi cho rồi”, “không còn muốn sống nữa”…chỉ vì một vài vết mụn trứng cá hoặc tàng nhang trên gương mặt, một vài vết sẹo ở chân hoặc thấy mình không đẹp trai bằng Kim Soo Jong, không có số đo như các hoa hậu.” (Đỗ Hồng Ngọc, Cành Mai Sân Trước)
Theo ông bác sĩ này, thân xác con người cũng giống như một bộ máy. Cần phải biết ơn nó, bởi vì trong khi một cái máy tốt cách mấy cũng chỉ có tuổi thọ tối đa là 5,10 năm, thì cái máy là thân xác con người thì lại chạy hoài, có khi chạy mà không được bảo quản và tu sửa cho đàng hoàng, lại còn bị xài phí nữa. Hãy thử nhìn xem bộ xương. Cơ thể ta có trên hai trăm cái xương lớn nhỏ được ráp nối với nhau để thành một khung xương, hoạt động được là nhờ các khớp, cũng “xài” được hằng mấy chục năm trời mà chẳng cần phải bơm dầu trét mỡ gì cả…Hãy thử xem bộ máy tuần hoàn của ta. Nếu biết rằng mỗi ngày trái tim ta đã phải co bóp cả trăm ngàn lần để đẩy một khối lượng máu khoảng 8000 kg không ngừng nghỉ, kể cả lúc ta ngủ, vào một hệ thống mạch máu giăng mắc mà, chỉ riêng hệ thống vi mạch nếu nối lại đã dài hằng trăm ngàn cây số, để nuôi cơ thể…ta mới thấy sức hoạt động của bộ máy tuần hoàn tuyệt vời đến thế nào! Vậy mà chẳng những ta không nhớ, không biết ơn nó, nhiều khi ta còn hành hạ nó, đầu độc nó, buộc nó nhảy tưng lên với những chất rượu, trà, cà phê, thuốc lá…Chất nicotin trong thuốc lá chẳng hạn, chẳng những buộc nó phải làm việc nhanh lên mà còn làm co thắt các mạch máu nuôi dưỡng nó, làm cho nó bị thiếu dưỡng khí. Ta lại còn đầu độc tinh thần nó bằng cách luôn rên rỉ “một trái tim khô, một trái tim mùa đông” hay hất hủi nó “Ngày rời Paris, anh đã để quên con tim.” (Đỗ Hồng Ngọc, sách đã dẫn)
Đó là số phận của trái tim. Nói chi đến các cơ phận khác như buồng phổi, bao tử, ruột, gan…chúng lại càng bị “hành hạ” và “lạm dụng” biết chừng nào! Quả thật, con người không những tỏ ra “vô ơn”, mà còn đối xử tàn tệ với các cơ phận trong thân thể mình. Thân xác tôi làm thân trâu ngựa cho tôi mà chẳng hề nhận được một lời cám ơn. Đã đến lúc nếu không “ca tụng thân xác” như giáo sư Nguyễn văn Trung, thì ít ra cũng phải nhìn nhận những thiệt hại mà tôi đã tự gây ra cho thân xác mình.
Ý nghĩ “biết ơn” hay “thương thân” trên đây của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc khiến tôi phải nhìn lại cách tôi đối xử với thân xác mình và nhận ra giá trị đích thực của việc chay tịnh. Chay tịnh hay sống có kỷ luật trong dinh dưỡng và thể thao là trả lại “công lý” cho thân xác của mình.
Không những phải trả lại công lý cho thân xác mình, tôi cũng phải nhận ra quan hệ của thân xác tôi với người khác. Tôi có  thể quan hệ với người khác nhờ qua thân xác của tôi đã đành, mà sức khỏe hay sự yếu đuối của thân xác tôi cũng ảnh hưởng đến người khác, nhứt là những người thân trong gia đình. Ngày nay, trong những xã hội văn minh như Úc đại lợi này, tôi lại càng thấy rõ tình liên đới ấy. Tôi thường nghĩ đến mối quan hệ ấy mỗi khi cầm thẻ Medicare đưa cho bác sĩ gia đình “cà”. Tôi không phải tốn một đồng xu nào cả. Tiền trả cho bác sĩ là tiền do người khác đóng thuế. Người khác lo cho sức khỏe của tôi. Tôi càng nhiều bệnh thì càng tốn tiền của người khác. Cứ thử nghĩ đến một trong những chứng bệnh dễ thấy nhứt của thời đại là bệnh béo phì: bệnh này có thể do di truyền, nhưng phần lớn là do cái miệng của tôi. Từ ngàn xưa, triết gia Seneca đã có lý để nói: “con người tự đào mộ chôn mình bằng chính những cái răng của mình”. Căn bệnh do cái miệng ấy kéo theo cả một cái đuôi dài của những chứng bệnh khác như tim mạch, tiểu đường, gan, thận v.v…Tôi ăn cho sướng cái miệng, nhưng người khác lại phải chi trả để tôi được chữa bệnh.
Nghĩ đến đó, tôi thấy toát mồ hôi hột như Thi sĩ Sully Prudhomme của Pháp vào thế kỷ thứ 19. Ông mơ thấy người nông dân bảo ông phải  tự đi cày cuốc để có cơm gạo mà ăn, người thợ nề bảo ông phải tự xây nhà để ở, người thợ dệt bảo ông phải tự tay dệt lấy vải để có áo quần mà mặc, người thày thuốc bảo ông phải tự chữa lấy mình…Sống mà không cần và không có tình liên đới của người khác hẳn phải là một cuộc sống khốn khổ.
Thực hành chay tịnh, trân quý sự sống của tôi bao nhiêu, tôi lại càng cảm thấy cần có tình liên đới của người đồng loại bấy nhiêu. Trở về với bản thân, tôi cũng được mời gọi trở về với tha nhân.
Tôi cần có tha nhân để sống với, bởi vì tha nhân chắc chắn không phải là “hỏa ngục” như triết gia hiện sinh Jean Paul Sartre đã từng khẳng định. Trong vở kịch có tựa đề “Huis clos” (không có lối thóat), ông triết gia đã từng nhắm mắt bịt tai trước nỗi khổ của bao nhiêu nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản để ca tụng đế quốc Liên xô, tưởng tượng ra cảnh ba người đang ngồi chờ trong một phòng đợi của hỏa ngục. Khán giả được phép giả định đây là ba con người đã có cuộc sống bất lương, gian ác và hiện đang đứng trước ngưỡng cửa hỏa ngục để chờ đợi được quyết định về số phận. Như trong mọi phòng đợi, người ta thường trao đổi với nhau cho qua giờ. Nhưng không mấy chốc, câu chuyện giữa ba người chỉ còn là những cuộc cãi vã hung hãn. Cuối cùng, một trong ba nhân vật tuyên bố: hỏa ngục chẳng phải là một nơi có lò thiêu sống hay tra tấn gì cả. Hỏa ngục chính là tha nhân.
Có người nhìn đâu cũng thấy kẻ thù.Tha nhân quả là hỏa ngục đối với họ. Một thế giới trong đó mọi người là kẻ thù quả là một nơi không có lối thoát.
May cho tôi biết bao, bởi vì tôi vẫn còn nhận ra xung quanh tôi bao nhiêu người đang tỏ tình liên đới với tôi và bao nhiêu người đang cần tôi tỏ tình liên đới. Tôi không thể sống như một Lỗ Bình Sơn trong hoang đảo. Tôi không thể sống một cách ích kỷ và hoang phí mọi thứ tiện nghi mà xã hội cung cấp cho, như thể không có người khác. Nhứt là tôi không thể sống mà không nghĩ đến trên cả nửa tỷ người trên thế giới ngày nay mỗi tối đi ngủ với cái bụng còn trống trơn.
Thế giới không ngừng kêu gọi tôi rộng tay đóng góp để xoa dịu nỗi đau khổ trong thể xác và tinh thần của các nạn nhân động đất tại Haiti. Cách riêng Giáo hội công giáo, trong Mùa Chay này, lại càng thôi thúc tôi mở rộng trái tim và đôi tay để quảng đại chia sớt cho những người kém may mắn hơn tôi. Mùa Chay chỉ thật sự có ý nghĩa khi tôi biết quay trở về với tha nhân. Mùa Chay như thế cũng nhắc nhở tôi về hướng đi của cuộc sống và niềm hạnh phúc đích thực trong cuộc sống.
Mới đây trên mạng, tôi tình cờ đọc được tin một nhà triệu phú người Áo là ông Karl Rabeder, 47 tuổi, quyết định tặng hết tài sản của mình, lui về sống ẩn dật trong một góc núi để được “hạnh phúc”. Xuất thân từ một gia đình lam lũ, ông đã tích lũy được một tài sản trị giá gần 5 triệu mỹ kim. Nhưng năm 2004, nhân một chuyến đi nghỉ hè tại Hawai, ông ngụ trong một khách sạn năm sao. Mới đây, ông tâm sự với báo The Daily Telegraph phát hành tại Anh Quốc như sau: “Chưa bao giờ trong đời tôi bị một cú “shock” lớn như thế: tôi thấy cuộc sống trong khách sạn 5 sao thật khủng khiếp, vô hồn và vô cảm”. Ông nói rằng ông đã tiêu tiền như nước, nhưng lại không gặp được một con người thật nào.
Trở về sau chuyến đi đó, ông mới nhận thấy rằng ông đang “chết trong chủ nghĩa tiêu thụ” và cảm thấy không cần tiền bạc của cải nữa.
Ông Rabeder dự định tặng tất cả tài sản của ông cho các tổ chức từ thiện và lui về sống trong một cái chòi nhỏ ở miền núi với thu nhập hàng tháng không quá 1500 mỹ kim. Quả thực, ông đang thực sự bắt đầu “sống” chay tịnh một cách triệt để.
Dù không thể nào “ganh đua” với ông Rabeder, trên “mặt trận” chay tịnh, nhưng tôi cũng có thể lập một “kế hoạch nhỏ” cho mình: tôi sẽ “dụ” vợ tôi giảm bớt một ít tiền chợ mỗi tuần để cho người nghèo. Riêng tôi, tôi tự hứa rằng, tôi sẽ cho bớt một chút thức ăn đầy “gợi cảm” như các món thịt chiên vào chén và sẽ vui vẻ ăn những món ăn tốt nhưng “dở ẹc” như …rau luộc chẳng hạn. Chỉ cần nhờ đó mà có thêm một gia đình nghèo có thức ăn và bớt đi một ít gia súc không bị làm thịt trong Mùa Chay này là tôi đủ vui rồi.














Thứ Năm, 11 tháng 2, 2016

Ăn ít ngon nhiều



Chu Thập
13.3.12



Hưởng được nhiều lợi ích nhứt của thời đại thông tin toàn cầu này có lẽ là tuổi già. Tôi biết có các cụ Việt nam ở đây tuổi quá “thất thập cổ lai hy”, không những có riêng cho mình một trang Facebook mà còn “rủ rê” bạn bè, con cháu chia sẻ hình ảnh rất sôi nổi. Riêng tôi nhận thấy ích lợi của Internet qua kinh nghiệm của các “bạn già” của tôi. Sau mấy chục năm lưu lạc, nhứt là sau biến cố tan đàn xẻ nghé năm 75, mỗi người một nẻo, tưởng chỉ còn hy vọng gặp nhau “trên nước thiên đàng”. Vậy mà đùng một cái, nhờ Internet, những người học trò dưới mái trường xưa “hồi nẳm” khắp thế giới lại bắt liên lạc được với nhau. Đêm ngày rảnh rỗi, chẳng biết làm gì cho hết giờ cho nên vào “meo đàn” để tán gẫu về đủ thứ chuyện, từ kỷ niệm xưa, văn chương, chính trị, tôn giáo, bù khú đến y tế, sức khỏe và tiếu lâm. Văn chương, chính trị, tôn giáo...thì đầy dẫy trên các trang mạng. Tôi chỉ đơn giản bấm vào “delete” cho khỏi mất giờ. Nhưng chuyện y tế, sức khỏe và nhứt là tiếu lâm thì tôi không bao giờ bỏ qua. Xét cho cùng cười vẫn là liều thuốc bổ tốt nhứt.
Mới đây, một ông bạn già của tôi đưa lên “meo đàn” một bài viết về giá trị của trứng gà. Tôi không rõ bài viết xuất xứ từ đâu; không thấy tên tác giả mà cũng chẳng tìm được tạp chí đăng bài viết. Nhưng cách trình bày, lập luận và dẫn chứng cũng khá thuyết phục. Trong vài hàng giới thiệu bài viết, ông bạn già của tôi viết rằng ổng thấy “quá đã” khi đọc bài. Tôi cũng thấy “quá đã” sau khi đọc biết về lợi ích của trứng gà.
Tôi có nuôi năm bảy con gà mái đẻ, loại gà suốt đời “đồng trinh sạch sẽ” chỉ biết đẻ mà không bao giờ biết đến gà trống. Gà mái của tôi không những “chạy bộ” mà còn “leo rừng” nữa. Giáp giới với vườn nhà tôi là lâm viên quốc gia. Năm nay, gặp thời “La Nĩna” kéo dài, mưa liên tu bất tận, cho nên giun dế lúc nhúc, các chị gà của tôi tha hồ đánh chén. Tôi không nhớ rõ đã đọc được ở đâu đó, giống vật nào được nuôi một cách lành mạnh thì thịt của chúng cũng lành mạnh. Gà mái của tôi có một cuộc sống “tốt” cho nên không chỉ thịt mà trứng cũng “tốt”. Nhìn cái lòng đỏ “đỏ au” thì đủ biết trứng gà của tôi lành biết chừng nào. Chỉ có điều, dù cho trứng có ngon đến đâu, từ lâu nay, kể từ khi thế giới bị “ám ảnh” bởi mấy chữ “Cholesterol” (mỡ trong máu) và tôi bắt đầu ý thức về sức khỏe, thì tôi nhìn trứng chẳng khác nào mèo thấy mỡ. Thèm lắm, nhưng thèm mà lại không được và cũng không dám ăn thả cửa.  
Thuở nhỏ, cái món trong nhà thường bị tôi ăn cắp nhứt là trứng gà. Nhiều chị gà đẻ một lúc cho nên thỉnh thoảng tôi có chôm một vài cái trứng, mẹ tôi cũng chẳng hay biết. Tôi thèm trứng không chỉ vì thiếu dinh dưỡng, mà vì thấy hễ cứ có trứng gà so thì mẹ tôi lại dành để biếu ông cha sở. Với bà, hễ của ngon vật lạ thì phải dành cho nhà lãnh đạo tinh thần. Trứng gà quả là của ngon vật lạ thật, bởi vì, với tôi, ăn trứng theo dạng nào cũng thấy ngon. Ăn cắp một cái trứng, dùng một cây kim chích vào trứng, bất kể vỏ trứng có được sạch hay không, đưa miệng hút ra cái lòng đỏ thì phải nói như nhà văn Duyên Anh là “sướng rên mé đìu hiu” thôi. Lúc mới đến trại tỵ nạn, chưa nghe người ta đe dọa về cholesterol trong trứng, tôi thích mua trứng, đập vỡ ra, gạn lòng trắng sang một bên, cho lòng đỏ vào một ly “bảy úp” (7 Up), quậy đều rồi thưởng thức. Vừa thấy ngon miệng lại vừa tin rằng đây là thức uống bổ dưỡng nhứt.
Cho tới nay, món ăn vật lạ nào tôi cũng có nếm qua và sẵn sàng từ bỏ vì lý do sức khỏe. Nhưng riêng trứng gà thì phải nói là lúc nào tôi cũng thèm “nhỏ rãi”. Đặc biệt, cái món trứng gà luộc, dầm mắm nêm và chấm với các thứ đọt rau luộc thì chẳng có sơn hào hải vị nào bằng. Vậy mà nhà tôi lúc nào cũng đóng vai “thiên thần hộ thủ” để canh giữ kẻo tôi bị “sa chước cám dỗ” với trứng gà. Mỗi tuần nhà tôi chỉ cho tôi ăn đúng 3 cái trứng mà thôi! Có gân cổ cãi đến đâu cũng không bao giờ được phép vượt qua giới hạn đó!
Tôi thấy “quá đã” khi đọc bài viết về lợi ích của trứng gà mà ông bạn già vừa chia sẻ trên meo đàn. Đọc xong, tôi “mời” nhà tôi lại bên máy vi tính, khoe bài viết và thấy như mình vừa làm được một khám phá mới trong y học.
Tất cả những dữ kiện được đưa ra trong bài viết đều phủ nhận cái mớ kiến thức mà tôi đã tiếp thu được về trứng gà. Chẳng hạn, bài viết khẳng định rằng trứng gà không phải là loại thực phẩm giàu cholesterol. Cholesterol tập trung ở lòng đỏ trứng gà, nhưng là loại cholesterol tốt, rất cần thiết cho cơ thể, nhứt là trong việc sinh sản tế bào. Vậy mà lâu nay tôi cứ tưởng trứng gà là thủ phạm chính tạo ra “máu trong mỡ” dẫn đến các bệnh về tim mạch.
Điểm nhấn trong bài viết mà tôi muốn nhà tôi phải chú ý là số lượng trứng được phép tiêu thụ mỗi ngày. Tác giả bài viết cho biết: theo thống kê hàng năm, trung bình mỗi người Mỹ tiêu thụ 300 quả trứng trong một năm...Cholesterol trong lòng đỏ trứng gà kết hợp với một số yếu tố khác như glycerol, cholin, phosphor và các thứ acid béo để tạo ra lecithin. Lecithin có đặc tính “nhũ tương hóa” rất mạnh, nghĩa là có sức giúp chất béo hòa tan được trong máu cho nên cholesterol hòa vào máu để đi đến những chỗ tế bào bị hư hại và sửa chữa lại, nhờ vậy mà cơ thể không bị tổn thương. Còn lượng cholesterol dư thừa thì lại được đưa về gan để giúp tạo ra muối mật và các nội tiết tố điều hành cơ thể. Như vậy, mỗi ngày ta nên ăn một cái trứng là vừa. Nhưng các chuyên gia dinh dưỡng khuyên mỗi tuần chỉ nên dùng 5 trứng.
Còn một chi tiết khác trong bài viết mà tôi lấy làm đắc ý nhứt đó là: trứng không có hại cho gan. Ngày xưa, khi khoa học còn sơ khai, người ta thí nghiệm bằng cách lấy lòng trắng trứng tiêm vào da thỏ thì thấy da thỏ bị phù, nổi mẩn ngứa cho nên bảo rằng trứng gây dị ứng. Và vì thời đó người ta nghĩ rằng dị ứng là do yếu gan nên qui cho trứng là thủ phạm tác hại đến gan. Gần đây, ở thập niên 1960 trở về trước, các hiểu biết về cholesterol chưa rõ ràng cho nên thấy lòng đỏ trứng có chứa cholesterol thì cho rằng trứng không tốt. Thật ra, từ đầu thập niên 1980 đến nay, người ta đã chứng minh rằng cholesterol của trứng là cholesterol tốt và trứng chẳng những không hại, mà còn có lợi cho gan nữa vì trứng có chứa chất cholin giúp bảo vệ gan.
Cuối cùng, tôi cũng rất lấy làm tâm đắc khi tác giả bài viết   khẳng định rằng trứng không làm cho nóng và khó tiêu. Tự nó, trứng không tạo ra cảm giác nóng. Có “nóng” chăng là bởi vì trứng được chiên với nhiều dầu mỡ và nhứt là thức ăn thiếu rau quả và không đa dạng mà thôi.
Bài viết đã hầu như đánh tan được cái mặc cảm “thèm trứng” của tôi. Tôi nghĩ bụng: từ nay tha hồ ăn trứng mà chẳng sợ bất cứ di hại nào! Tôi nhìn nhà tôi với ánh mắt “van lơn”: xin nâng số lượng trứng được phép ăn mỗi tuần cho tôi! Nhưng lạ quá, tôi thấy bài viết chả lay động được nhà tôi một ly ông cụ nào. Trước sau như một, nhà tôi vẫn giữ nguyên cái liều lượng trứng dành cho tôi: mỗi tuần không được quá 3 trứng!
Trong quan hệ vợ chồng, để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi, mấy ông bạn già của tôi luôn ứng xử theo hai nguyên tắc: nguyên tắc một, vợ luôn luôn đúng; nguyên tắc hai: nếu vợ sai, hãy trở về nguyên tắc một. Nghe như đùa, nhưng về chuyện vệ sinh, ăn uống và giữ gìn sức khỏe, tôi thấy hai cái nguyên tắc “quái gở” trên đây lại đúng phóc!
Thật ra, bài viết về giá trị của trứng gà trên đây có giải tỏa được nơi tôi một vài “ẩn ức”, nhưng vẫn không có đủ sức thuyết phục tôi từ bỏ cái khuôn vàng thước ngọc của cha ông chúng ta là “liệu cơm mà gắp mắm”. Về sức khỏe và ăn uống thì chẳng có thước đo hay liều lượng chung nào cả. Mỗi cơ thể mỗi khác. Sức chịu đựng và đòi hỏi của cơ thể ông tây bà đầm có khi cũng khác với người Á đông da vàng. Họ ăn bơ sữa và uống rượu “từ trong bụng mẹ” chẳng sao cả. Mình chạy theo là ngất ngư luôn!
Có người uống rượu như hũ chìm. Có người đụng vào là thấy 36 ông sao ngay. Có người uống cà phê thế nước. Có người uống một hớp vào là thấy nóng bụng và trằn trọc suốt đêm. Có người mỗi tháng rước vào cơ thể vài ký lô đường chẳng sao cả. Nhưng có người, chỉ cần mỗi ngày một hai muỗng cà phê đường là thấy có chuyện. Cũng có người cuối tuần nào cũng đình đám hội hè mà người cứ còm nhom. Nhưng có người sau một tiệc cưới là tăng nửa ký lô ngay vòng số 2 ngay lập tức...Nói chung, về sở thích thì không nên tranh luận và cũng chẳng nên thúc ép người ta phải như mình. Về sức khỏe cũng vậy, mỗi người tự “đi guốc” trong bụng dạ mình mà lo kiêng cữ hay tự đặt ra một ranh giới phải tuân giữ.
Thời nào và ở đâu cũng thế, điều độ vẫn được xem là một nhân đức. Minh triết Đông Tây đều dạy rằng “nhân đức nằm ở bậc trung dung” (virtus in medio stat). Có lẽ triết gia Pháp Blaise Pascal cũng nghĩ đến cái mức “trung dung” này chăng khi ông bảo rằng người ở giữa thú vật và thiên thần: “Con người không phải là thiên thần, mà cũng chẳng là thú vật. Ai muốn làm thiên thần đều trở thành thú vật”. Nhân loại bao phen khốn đốn có lẽ cũng vì những người muốn chối bỏ nhân tính để làm thiên thần và cưỡng bách mọi người cũng phải lột xác như thế. Những thiên đường mù hay những quần đảo Gulag là điểm đến tất yếu của những “thiện ý” muốn cải tạo con người như thế.
Là một tín hữu Kitô, tôi thường được khuyên bảo hãy sống tiết độ. Tôi cho rằng tiết độ hoàn toàn khác với khổ chế. Khổ chế là từ bỏ và trốn chạy khỏi cái thế giới vật chất này để đi tìm tự do và niềm vui tinh thần. Tiết độ không hề có nghĩa là từ bỏ hưởng thụ hay là tìm cách hưởng thụ càng ít càng tốt.  Người biết sống tiết độ là người vẫn yêu mến cái thế giới vật chất mà Thượng Đế đã xem là “tốt đẹp” khi tạo dựng ra nó. Người biết sống tiết độ là người vui hưởng cuộc sống mà vẫn cố gắng đi tìm sự tự do tinh thần. Với người tiết độ thì như người Việt nam chúng ta vẫn nói “ăn ít ngon nhiều”.
Ba cái trứng mà nhà tôi quy định cho tôi được phép “hưởng dùng” mỗi tuần quả là thước đo của sự tiết độ mà tôi thấy cần phải tuân giữ. Có tiết độ mới thấy được vẻ đẹp và giá trị của cuộc sống. Cuộc sống còn đáng sống là bởi ta còn muốn thèm sống.
Trong Mùa Chay của Kitô giáo, tôi cũng nhận thấy rằng tiết độ trong việc ăn uống không phải là điểm đích mà chỉ là một “thử thách” nhỏ để tập “sống đạo” hay đúng hơn là phương thế, là “bài học vỡ lòng” để đạt được những giá trị khác cao cả hơn. Có những điều cần tập tiết độ hơn như tiết độ trong suy nghĩ, lời nói và nhứt là cái nhìn, nhận thức về người khác. Về mặt này, tiết độ quả là rất khó nhưng thật cần thiết để tạo một bầu khí trong lành cho chính mình và với người khác. Chỉ cần một chút quá đà trong suy nghĩ, người ta dễ rơi vào thành kiến và chủ quan. Mà đã thành kiến và chủ quan thì người khác là zê-rô còn “tui” phải là con số một. Và đó cũng là con đường ngắn nhứt để dẫn đến quá khích, cuồng tín và cực đoan. Cuồng tín và cực đoan trong chính trị và nhứt là trong tôn giáo, xét cho cùng, cũng là một thái độ thiếu tiết độ. Thiếu tiết độ trong suy nghĩ và ứng xử cho nên mới thiếu khoan nhượng, cảm thông, dung hòa và tha thứ.
Tôi vẫn nghĩ: đi hết con đường Mùa Chay mà vẫn không thấy mình suy nghĩ và sống trong tinh thần khoan nhượng, cảm thông và tha thứ hơn thì dù có kiêng khem, dù có luôn ngoan ngoãn “tuân thủ” quy định “ba cái trứng mỗi tuần” cho đến chết đi nữa cũng chẳng “có đạo” hơn!



Thứ Hai, 30 tháng 3, 2015

Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng



          
                                                                                Chu Thập,
Mùa Chay 2010


Là người Công giáo, mỗi lần tham dự thánh lễ, tôi thường cùng với những người đồng đạo đấm ngực và công khai xưng thú “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Phải thú nhận là nhiều lúc tôi làm động tác này như một cái máy. Đôi khi tôi cười thầm và nghĩ đến mấy con khỉ cũng biết nổi hứng “đấm ngực” ào ào hay như ai đó  “vỗ ngực”  để bày tỏ sự tự hào của mình.
Công khai thú nhận tội lỗi xem ra không phải là chuyện bình thường của con người. Tôi nhớ năm lên lớp ba trường làng, sau hai tuần lễ trốn học, tôi bị bà xơ giáo viên bắt ra trình diện trước lớp học và công khai nói lời “xin lỗi” với mọi người. Tôi uất ức lắm. Tại sao tôi lại phải “xin lỗi” mọi người? Trốn học là chuyện riêng của tôi, tại sao lại bắt tôi phải đi xin lỗi người khác?
Trong gia đình, cha mẹ tôi cũng cố gắng dạy tôi những điều căn bản của phép lịch sự như chào hỏi, thưa kính, cám ơn người lớn. Trẻ con Tây Phương tiếp thu một cách rất tự nhiên những công thức như “xin vui lòng, xin lỗi, cám ơn”. Từ lâu, những công thức đó đã trở thành câu nói đầu môi của mọi người Tây Phương. Trong khi đó nhiều người Việt hải ngoại sau một lần về thăm quê hương đều nhận xét rằng ngày nay, những công thức ấy đã hoàn toàn bị xóa bỏ trong xã hội Việt nam.
Lúc nhỏ, tôi có thể khoanh tay, cúi đầu trước người lớn. Nhưng tuyệt nhiên, hai tiếng “xin lỗi” dường như khó chui vào tự điển hay bộ nhớ của tôi.
Phải nói, với tôi, bài học đầu tiên về xin lỗi và nhứt là công khai xin lỗi chỉ có trong Đạo của tôi. Nhưng dĩ nhiên, đó cũng là một điều xem ra đi ngược lại với bản tính ngổ ngáo của tôi. Mỗi lần đi lễ, nếu các “cảnh sát tôn giáo” là các bà xơ và mấy “ông trùm” trong ban hành giáo lơ là một chút là lũ trẻ chúng tôi đấm ngực loạn xà ngầu: thay vì đấm ngực mình, chúng tôi quay sang đấm ngực thằng bên cạnh. Nghi thức lẽ ra phải trang nghiêm, lại trở thành trò chơi của chúng tôi.
Nghĩ lại cái thời thơ dại ấy, tôi thấy “xin lỗi” và nhứt là công khai xin lỗi, nghĩa là nhìn nhận lỗi lầm của mình, xem ra không phải là điều tự nhiên đối với con người.
Ngay từ chương đầu tiên trong cuốn sách nổi tiếng “Đắc nhân tâm”,  ông Dale Carnegie đã kể lại trường hợp của một tên cướp khét tiếng tại thành phố New York tên là Crowley vào thập niên 30. Cảnh sát trưởng tại thành phố này tuyên bố rằng Crowley là một tội phạm nguy hiểm nhứt. Hắn muốn giết ai là giết, không vì một lý do nào cả. Nhưng sau khi bị bắt và bị kết án tử hình, Crowley đã viết thư để lại với những lời lẽ như sau: “Dưới lớp áo này, trái tim ta đập, chán ngán nhưng thương người và không muốn làm hại một người nào”. Không làm hại ai cả, vậy mà trước đó vài ngày, khi một viên cảnh sát tiến lại gần để hỏi bằng lái xe, Crowley đã nã một loạt đạn, bắn gục viên cảnh sát tức khắc. Trước khi lên ngồi ghế điện, Crowley còn than: “Tôi chỉ tự vệ mà người ta xử tôi như vậy đó”.
Tác giả cũng kể đến một trường hợp khác cho thấy rằng nhìn nhận tội lỗi của mình không phải là chuyện bình thường. Đó là trường hợp Al Capone, lãnh tụ Mafia khét tiếng tại thành phố Chicago. Bị bắt, lãnh tụ tội phạm này cũng tuyên bố: “Ta đã dùng những năm tươi đẹp nhứt trong đời để mua vui cho thiên hạ, vậy mà phần thưởng chỉ là bị chửi bới và bị săn bắt như một con thú dữ”. Theo ông Lawes, người đã từng làm giám đốc nhà tù nổi tiếng Sing Sing tại Hoa kỳ, các tội phạm nói rằng họ cũng là những người bình thường như mọi người. Họ có đủ lý do để biện minh tại sao họ cạy tủ sắt hay bóp cò súng giết người. Họ nói rằng giam giữ họ là một điều bất công. (Dale Carnegie, Đắc nhân tâm, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê)
Trong những ngày vừa qua, theo dõi phiên xử ông Karadzic, một người đã từng phạm tội ác chống lại nhân loại trong cuộc chiến tại Cựu Nam Tư hồi thập niên 90, tôi cũng nhận thấy một hiện tượng tương tự. Trước tòa án quốc tế, ông Karadzic vẫn khăng khăng nói rằng ông không hề phạm tội diệt chủng, mà chỉ mở ra một cuộc thánh chiến chống lại những người Hồi giáo tại Bosnia Herzegovina mà thôi.Trước ông, tại tòa án quốc tế, lãnh tụ Mlobodan Milosevic cũng có một thái độ tương tự, nghĩa là hoàn toàn chối bỏ trách nhiệm của mình trong vụ diệt chủng tại Kosovo.
Trong vụ án diệt chủng tại Cambodia cũng thế, ngoại trừ ông Kaing Guek Eav, bí danh “Duch”, giám đốc nhà tù khét tiếng Tuol Sleng, sau khi trở lại Kitô giáo, đã hoàn toàn nhìn nhận trách nhiệm trong việc tra tấn và sát hại đồng bào ruột thịt của mình, những tay đầu sỏ trong tập đoàn Khmer Đỏ dưới quyền lãnh đạo của Pol Pot đều tuyên bố rằng họ không hề chủ mưu trong cuộc sát tế 1 triệu 7 trăm ngàn đồng bào của mình trong những “cánh đồng giết người”.
Thật ra cũng không trách được mấy ông Cộng sản Khmer Đỏ. Cho tới nay, đã có một đảng Cộng sản nào trên thế giới này lên tiếng “xin lỗi” vì đã sát tế trên 100 triệu đồng bào cốt nhục của mình trên “thiên đàng cộng sản” đâu. Mới đây, tác giả Nguyễn Hưng Quốc, trong bài viết có tựa đề “Đảng Cộng sản Việt nam còn nợ đất nước một lời xin lỗi”, đã nhắc lại “vô số sai lầm” của Đảng cộng sản. “Nhiều sai lầm đã trở thành tội ác”, vậy mà những người cộng sản Việt nam chưa một lần mở miệng “xin lỗi”. Theo tác giả, “trước hết phải kể đến tội giết chết hàng chục ngàn người và đày đọa hàng trăm ngàn người khác một cách thảm khốc và oan ức trong vụ cải cách ruộng đất trong nửa đầu thập niên 1950. Sau đó là tội trấn áp văn nghệ và trí thức trong vụ Nhân văn Giai Phẩm trong nửa sau thập niên 1950. Rồi đến tội tước đoạt tài  sản của dân chúng Miền Nam trong cái gọi là chiến dịch đánh tư sản mại bản, bắt bở cả hàng trăm ngàn cựu quân nhân và công chức Miền Nam đày vào các trại học tập cải tạo có khi kéo dài cả chục năm, ban bố các chính sách bao cấp độc đoán làm kiệt quệ nền kinh tế vốn đã què quặt sau chiến tranh. Cuối cùng, như là hậu quả của tất cả các tội ác vừa kể, Đảng cộng sản đã đẩy hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, trong đó có cả hàng trăm ngàn người phải bỏ xác trên đường vượt biển” (Nguyễn Hưng Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam còn Nợ Đất Nước một Lời Xin Lỗi]
Tác giả Nguyễn Hưng Quốc không nhắc đến, nhưng đáng tội hơn cả phải kể đến cuộc chiến phi nhân, vô nhân đạo mà Đảng cộng sản Việt nam đã gây ra khiến cho trên cả triệu người Việt nam của cả hai miền Nam Bắc phải thiệt mạng. Dã man nhứt hẳn phải là cuộc thảm sát trên 5 ngàn người tại Huế trong biến cố Mậu Thân năm 1968.
Chính vì  Đảng cộng sản Việt nam không biết nhìn nhận sai lầm của mình và thiếu một lời “xin lỗi” cho nên đất nước vẫn cứ trì trệ lạc hậu. Đây là điều mà một vị giám mục Việt nam mới đây muốn ám chỉ tới. Trong một thánh lễ tại nhà thờ Thái Hà, Hà nội hồi đầu tháng 3 vừa qua, nhân nói đến giá trị và ý nghĩa của hành động sám hối trong Kitô giáo, Đức cha Nguyễn Chí Linh, giám mục Thanh Hóa,  phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt nam đã tuyên bố : “Một chế độ chính trị không biết nhìn nhận sai lầm của mình thì không thể đưa đất nước lên bước thăng tiến cao hơn” (x. Nguyễn Hữu Vinh, Vietcatholic  2/3/10)
Nhìn đến đất nước người ta mà thấy thèm. Chẳng hạn tại Úc đại lợi, ngày 13 tháng 2 năm 2008, vừa nhận chức không bao lâu, thủ tướng Kevin Rudd đã đại diện chính phủ công khai xin lỗi các thổ dân Úc về những chính sách sai lầm của quốc gia trong quá khứ như cách ly trẻ em thổ dân khỏi gia đình bằng cách bắt các em ở riêng hoặc làm con nuôi trong các gia đình người da trắng. Tác giả Nguyễn Hưng Quốc viết: “Nghe lời xin lỗi ấy, nhiều người thổ dân và không phải thổ dân, ràn rụa nước mắt vì mừng.Với thổ dân, nỗi đau nhiều thế hệ của họ được khuây khỏa; với người da trắng, sự xấu hổ âm thầm được lắng dịu.” (bài đã dẫn)
Cảm động không kém là lời xin lỗi mới đây của thủ tướng Anh, ông Gordon Brown, đối với các trẻ em mồ côi hay từ những gia đình đổ vỡ mà cách đây 50 năm, chính phủ Anh đã bắt đưa sang Úc đại lợi hay Tân Tây Lan.
Riêng tôi, tôi thật sự xúc động trước lời xin lỗi cũng mới đây của Tiger Woods, danh thủ đánh Golf số một thế giới. Từ trước đến nay, ai cũng nhìn anh như một thần tượng về  tài ba lẫn đức độ.Thế rồi, nhân một tai nạn giao thông, người ta mới thấy anh hiện nguyên hình một con người “trăng hoa” phản bội vợ con. Thật ra trong giới chính trị, điện ảnh, thể thao, những chuyện như thế chẳng có gì đáng làm cho chúng ta ngạc nhiên. Đáng ngạc nhiên chăng là trong số rất ít những người tài danh và quyền thế, Tiger Woods đã công khai lên tiếng xin lỗi vì hành động “ngoại tình” của anh.
Dưới mắt tôi, danh thủ này bỗng sáng giá hơn bất cứ lúc nào. Tôi tin rằng một lời xin lỗi không làm cho con người thua thiệt mất mát mà trái lại chỉ gia tăng sự tôn trọng nơi người khác mà thôi. Nghe nói cựu tổng thống Hoa Kỳ, Bill Clinton đã liên lạc với Tiger Woods để nâng đỡ tinh thần anh. Là người “đồng hội, đồng thuyền”, hơn ai hết, ông Clinton cảm thông với anh trước những thử thách mà anh đang trải qua. Hồi thập niên 90, tôi cũng đã có lần ngưỡng mộ ông Clinton như thế. Tôi ngưỡng mộ ông không phải vì tài năng “kinh bang tế thế” của ông, mà vì sau khi phải ra trước công chúng để bị công khai “hạch hỏi” về những hành vi thầm kín nhứt của ông, cuối cùng ông đã công khai lên tiếng xin lỗi vì mối quan hệ bất chính của ông với cô Monica Lewinski.
Tôi cũng đã có lần thán phục cử chỉ “xin lỗi” của các cựu tổng thống Nam Hàn dưới thời quân phiệt. Chẳng gì cảm động bằng sau hai tiếng xin lỗi, họ đã xin vào chùa để sám hối trong những ngày cuối đời.
Và dĩ nhiên, những câu nói “tôi đã sai lầm” của những Nguyễn Hộ, Nguyễn văn Trấn hay mới đây của người tự xưng là “Thằng Hèn” Tô Hải, không thể không gợi lên trong tôi cảm xúc trân trọng và quý mến.
Với tư cách là một người Công giáo, tôi lại càng cảm thấy hãnh diện và phấn khởi hơn khi hồi năm 2000, Đức giáo hoàng Gioan Phaolo II đã đại diện toàn thể Giáo hội Công giáo lên tiếng xin lỗi vì những lỗi phạm của người Công giáo trong suốt dòng lịch sử của Giáo hội. Tôi cũng rất sung sướng khi đó đây có một Hội đồng Giám mục Công giáo nào đó đã lên tiếng xin lỗi vì đã “im lặng” dưới một chế độ độc tài.
Thái độ khiêm tốn của các nhà lãnh đạo tinh thần trên khiến tôi mạnh dạn và thành tâm hơn mỗi khi nhận lỗi và xin lỗi. Tôi thấy mình có “giá trị” hơn vì:
“Thú vật có thể có cảm giác vui mừng, như khi một con chó được chủ cho một cục xương.
Thú vật có thể có cảm giác buồn bã, như khi một con chó bị nhốt suốt ngày trong chuồng.
Thú vật có thể có cảm giác đau đớn, như khi một con chó bị đánh.
Thú vật có thể có cảm giác sợ sệt, như khi một con chó nhìn thấy cây roi thường đánh nó.
Thú vật có thể có “cảm giác yêu thương”, như khi những con chó “âu yếm” liếm mặt chủ nhân.
Nhưng loài thú không bao giờ có cảm giác tội lỗi như một con người được.
Bởi chỉ có con người mới nhận thức được lẽ phải điều sai” (Tân Châu, Cảm giác Tội lỗi, trên trang mạng Báo Tổ Quốc 28/2/10)
Khi đấm ngực xưng thú “lỗi tại tôi mọi đàng” tôi thực sự cảm nghiệm giá trị của một “Con Người”. Bởi, giá trị của một con người không chỉ nằm ở những thành tựu hay nhân đức của người đó mà còn hiện diện đầy đủ trong thái độ nhận thức được những sai sót của mình. Và với tôi, ước vọng suốt đời của tôi cũng không cao xa hơn là làm sao mỗi ngày được sống cho ra Người hơn.



Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015

Bụi Tro Trở Về Tro Bụi



                                                                               Chu Thập
Mùa Chay 2011


Thể thao cũng giống như ẩm thực. Trong ăn uống, mình thích món này, nhưng lại không ưa món khác. Về thể thao, mình có thể say mê môn này nhưng lại chê môn khác. Sở thích cũng như văn hóa ảnh hưởng đến khẩu vị và chọn lựa của mỗi người. Người dân cựu thuộc địa của Pháp thích bóng đá và chuộng bánh mì Tây. Người dân trong khối Thịnh Vượng Chung của Anh thì dĩ nhiên chỉ  ưa cricket và quen với bánh sandwich.
Tôi có thể thích nghi với mọi món ăn. Nhưng trong thể thao, có những môn tôi không thể “nuốt” được. Tôi có một kinh nghiệm “bi đát” về môn Golf. Đó là năm cuối của bậc trung học khi tôi theo học tại Đà lạt, thành phố mộng mơ mà trước năm 75 ai cũng mong được một lần đến thăm viếng. Với khí hậu ôn đới và với núi rừng trùng điệp, chỗ nào của thành phố này cũng là “danh lam thắng cảnh” đối với đôi mắt  nai vàng  ngơ ngác của một cậu học sinh nhà quê như tôi. Nhưng nơi mà những ngày nghỉ tôi thường đến nhứt là “Đồi Cù” nằm bên cạnh bờ hồ Xuân Hương. Được gọi là “đồi cù” vì đây là sân Golf, môn thể thao mà tôi chỉ biết được khi lên Đà Lạt. Lần đầu tiên khi thấy cái cảnh những người nhà giàu cầm gậy đánh banh, bên cạnh họ có cả một đoàn người “hầu hạ” mang bị chuyên đi lượm banh, máu “cách mạng” liền sôi sục khiến tôi nổi giận thốt lên với các bạn: “Đã chơi thể thao mà còn có người hầu hạ thì còn gì là thể thao nữa.” Để gọi là “trả thù”, bọn thanh niên chúng tôi chẳng biết làm gì hơn là bắt chước các đôi tình nhân, ngồi nép dưới mấy gốc thông, chờ cho trái banh cù rơi xuống là lượm cho vào túi hoặc ném đi một nơi khác cho bõ ghét. Chỉ tội cho mấy người đi theo hầu những tay thể thao “trưởng giả”, tìm mãi mà chẳng thấy trái banh cù đâu cả!
Tôi không những không ưa mà còn “ghét” cái môn thể thao ấy. Tôi còn nhớ: khi nhà độc tài quân phiệt Than Shwe của Miến điện sang thăm Phi luật tân và được nước chủ nhà “đãi” cho một chầu chơi Golf,  một ký giả nào đó đã viết rằng “không có một nhà độc tài nào có  thể chơi Golf với một lương tâm yên ổn”. Điều này thì chắc chắn đúng cho giới lãnh đạo và các nhà tư bản đỏ hiện nay tại Việt nam. Cách đây không lâu, tôi lại nhìn thấy cái cảnh bất công ấy trong một chương trình du lịch ẩm thực của Luke Nguyễn được chiếu trên đài SBS: vẫn cái cảnh bao nhiêu đất đai canh tác của người dân nghèo biến thành sân Golf và những nhà thể thao “trưởng giả” ăn mặc bảnh bao được một đám người nghèo hầu hạ đi theo bên cạnh để nhặt banh cho.
Cũng may, ở các nước Tây phương, tôi không còn thấy cái cảnh chơi thể thao trưởng giả ấy nữa: ai chơi thì chịu khó mà đi lượm banh chứ chẳng có ai đi hầu hạ mình cả. Dù vậy, cho dẫu cả thế giới có ngưỡng mộ tài nghệ của Tiger Woods đến đâu đi nữa, thì  cái ác cảm ban đầu của tôi đối với môn thể thao này cũng vẫn còn đó.
Ý thức về công bình khiến tôi “ghét” cái môn “banh cù” đã đành, mà sự thiếu hiểu biết về thể thao cũng làm cho tôi có thành kiến về một số môn khác. Một cách đặc biệt tôi không thể nào “thích” được cái môn Cricket mà người Úc đang say mê như điếu đổ. Ngày nào, tôi cũng theo dõi tin tức về thể thao trên truyền hình. Nhưng hễ đến cái mục “Cricket” là tôi muốn đóng máy lại. Đúng là “vô tri bất mộ”. Để tỏ ra “thức thời” và sành điệu như mọi người Úc, tôi cũng đã bỏ ra không biết bao nhiêu giờ để xem các trận đấu. Tôi cũng đã nhờ bao nhiêu người giảng giải tường tận cho tôi về cách chơi và luật chơi của bộ môn này. Nhưng với cái đầu có sạn của tôi thì nhà chuyên môn nào của cricket cũng đành chịu thua. Cho tới giờ phút này, tôi cũng vẫn mãi mãi là một tên “ngoại đạo” đối với bộ môn này. Không những tôi thấy cái môn thể thao này “boring”, nó còn làm cho tôi “bực mình” là khác. Nhứt là cuối năm vừa qua khi diễn ra cái giải “Ashes” giữa Anh và Úc nghe chẳng giống ai cả. Ngày nào tôi cũng bị bắt buộc phải theo dõi và chẳng hiểu gì về các trận đấu. Lại thêm cái tiếng Anh khập khiễng của tôi nữa. Đúng hơn, cái tiếng Anh của người Úc cũng chẳng giống ai. Ngoài cái giọng “oi oi” lại còn có những tiếng chẳng có trong tự điển. Hồi mới đến trại tỵ nạn, tôi nghe người ta gọi một số phụ nữ Úc “cao lớn” làm việc trong các bệnh xá là “sister”. Tôi cứ nghĩ đây là một từ tương đương với hai tiếng “ma xơ” dễ thương của người Việt nam để chỉ các nữ tu công giáo. Thì ra, cách đây 30 năm về trước, người dân Úc vẫn còn gọi các nữ y tá là “sister”. Cũng về y tế, người Úc gọi phòng mổ là “theatre” khiến cho báo chí ở Việt nam bé cái lầm, cứ đụng tới chuyện giải phẫu ở Úc là  nói đến “hí viện trong nhà thương”. Còn có một từ khác mà lúc mới đến Úc, tôi chẳng hiểu ra làm sao cả: ngày 26 tháng 12 được gọi là ngày “Boxing Day”. Với cái đầu thường bị “điều kiện hóa” bởi thể thao, tôi liền liên tưởng đến cái môn quyền Anh mà tôi cũng chẳng ưa thích được vì nó dã man còn hơn cả môn đá gà của người Việt nam, người Phi luật tân hay người Châu mỹ Latinh. Cũng may, tôi chưa từng dịch từ “boxing day” cho ai nghe cả chứ báo chí ở trong nước thì đã nhanh nhẩu rồi. Thiệt là quê độ!
Bây giờ đến cái chữ “Ashes” trong các trận thi đấu Cricket kéo dài hàng tháng giữa Anh và Úc. Cũng may, thời buổi “a còng” này, chuyện gì cũng có thể hỏi ông “Google” được. Sợ người ta cười vì sự dốt nát của mình, cho nên tôi đã âm thầm gõ chữ “Ashes” vào Google.  
Ông thày Google giải thích cho tôi như thế này: “Ashes” là tên của một loạt trận thi đấu Cricket giữa Anh và Úc. Đây là trận thi đấu quốc tế Cricket  nổi tiếng nhứt có từ năm 1882. Hiện nay, các trận thi đấu này diễn ra hai năm một lần, hoặc tại Vương quốc Anh hoặc tại xứ Úc miệt dưới.
Sở dĩ các trận đấu được gọi là “Ashes” tức “tro bụi” là do một bản cáo phó đầy châm biếm được đăng trên báo “The Sporting Times” xuất bản tại Anh quốc năm 1882. Sau một trận đấu tại sân “The Oval” trong đó lần đầu tiên Úc đánh bại Anh ngay trên sân nhà của Anh, Báo “The Sporting Times”  cho đăng một bản cáo phó với nội dung như sau:  “môn Cricket của Anh đã chết và thi hài sẽ được hỏa táng và tro cốt sẽ được mang về Úc”. Sau đó, báo chí Anh gọi chuyến thi đấu của Anh tại Úc là chuyến đi giành lại tro cốt. Nhân dịp này, một nhóm phụ nữ tại Melbourne đã trao cho thủ quân Ivo Bligh của Anh một bình đất nung trong đó có chứa đựng “tro” của một mảnh gỗ Cricket bị đốt. Kể từ đó, các trận thi đấu giữa hai nước đều gọi là “Ashes”.
Thật ra, cái bình đựng tro này không phải là một chiếc “cup” mà chỉ tượng trưng cho sự chiến thắng. Đội nào thắng sẽ giữ cái bình tro này và đội kia cố gắng giành lại cái bình ấy. Nhưng dù có giải thích như thế nào đi nữa, “Ashes” (tro bụi) vẫn là cái thứ mà hai đội tuyển Criclet Anh và Úc cố tranh cho bằng được trong các trận thi đấu 2 năm một lần này. Tự nhiên, tôi lại nghĩ đến cách suy nghĩ rất dễ thương của mấy cụ bà nhà quê khi nhìn một trận đấu bóng đá: tại sao không phát cho mỗi người một trái banh để họ khỏi nhọc công tranh giành một trái như thế?
Nghe thì buồn cười, nhưng ngẫm nghĩ thấy cũng có cái lý thâm sâu của nó. Phải chăng trong cuộc đời ô trọc này, lắm khi người ta lại chẳng tranh nhau “từ chết đến bị thương” vì những thứ phù phiếm?
Ý nghĩ này thường đến với tôi mỗi khi tham dự một nghi lễ an táng trong đó vị linh mục hay mục sư của Kitô giáo thường đọc cái công thức quen thuộc “Ashes to ashes” (Bụi tro trở về tro bụi) khi cho hạ quan tài xuống lòng đất. Cứ nghe văng vẳng bên tai câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi”.  Năm nay, vào ngày 9 tháng 3, ngày mà Giáo hội công giáo gọi là Thứ Tư Lễ Tro bắt đầu Mùa Chay kéo dài 5 tuần lễ, ý nghĩ ấy cũng trở về với tôi, khi tôi đón nhận một chút tro được rắc trên đầu. Câu hát quen thuộc “người ơi, hãy nhớ mình là tro bụi, một mai người sẽ trở về bụi tro” nghe não nuột, nhưng lại nhắc nhở tôi cái chân lý sâu xa về kiếp người.
Là một tín hữu Kitô, tôi được học biết rằng tro bụi, trong các tôn giáo cổ xưa như Do thái giáo chẳng hạn, tượng trưng cho tội lỗi và kiếp sống mong manh của con người. Theo truyền thống Do thái giáo, trái tim của người tội lỗi cũng giống như tro bụi. Kẻ gian ác sẽ bị người công chính chà đạp dưới chân như tro bụi. Do đó, thời xa xưa, khi ngồi trên tro bụi hay trét tro bụi vào người, người Do thái muốn công khai xưng thú rằng mình là một người tội lỗi. Theo truyền thống ấy, Kitô giáo cũng nhìn nhận tro bụi như biểu trưng của tội lỗi và tính cách mong manh của kiếp người.
Nhưng dù hiểu như thế nào đi nữa, tro bụi cũng đều gợi lên sự mong manh, chóng qua và mỏng dòn của cuộc sống con người. Mọi sự đều qua đi như tro bụi. Của cải, quyền lực, tiền bạc, danh vọng, thành đạt, thất bại…tất cả đều đến rồi đi. Mọi sự đều có một khởi đầu và một kết thúc. Mỗi một kinh nghiệm tôi có rồi cũng qua đi. Mỗi ý nghĩ tôi có đều khởi sự và cũng biến mất. Mỗi sự nghiệp tôi đổ mồ hôi, xót con mắt để có rồi cũng có ngày chấm dứt. Mỗi cảm xúc tôi trải nghiệm cũng đều như lớp sóng vỗ vào bờ. Vui tươi, phấn khởi, hạnh phúc, buồn khổ, ganh tỵ, thất vọng, trầm cảm, giận dữ, yêu thương, tủi hổ, hãnh diện…tất cả những cảm xúc ấy cũng đến, ở lại trong tôi một thời gian rồi cũng tan thành mây khói. Khi tôi trở thành tro bụi thì tất cả những gì thuộc về tôi cũng thành tro bụi. Tiền tỷ tôi có trong ngân hàng cũng chỉ là tro bụi, bởi lẽ một khi tôi trở thành tro bụi nó cũng chẳng còn bám được vào tôi  một mẩy may nào. Ngay cả những bất động sản tôi chiếm hữu được xét cho cùng cũng chỉ là tro bụi đối với một kẻ trắng tay nằm trơ trơ trong ba tấc đất.
Không cần phải đợi một trăm năm sau để tự hỏi như cụ Nguyễn Du: liệu có ai còn khóc mình không? Mỗi một tiếng gõ của đồng hồ phải chăng không là hồi chuông báo tử cho từng giây phút, từng cảm nghiệm, từng tình huống của cuộc sống chóng qua này?
Thật ra, ý tưởng này không đến nỗi làm cho tôi bi quan và phó mặc cho dòng đời đưa đẩy. Đến từ tro bụi rồi lại trở về với bụi tro. Nhưng cái khoảng cách thời gian giữa hai lằn mức đó lại là một cái gì đáng nói. Nó có thể thoáng qua như một cơn gió thoảng hay lưu lại dấu ấn muôn đời. Khoảng cách từ tro bụi đến bụi tro của một bậc thánh hiền khác xa với một người gian ác. Mahatma Gandhi cũng đã từng xem cuộc đời này là tro bụi: ông sống tiết dục, ăn uống đạm bạc và ngay cả chay tịnh, phục sức một cách đơn giản hết sức có thể. Ông cũng ngã gục và trở về cát bụi như mọi người. Nhưng tên tuổi của ông vẫn sống mãi trong lòng dân tộc Ấn độ và trong ký ức của nhân loại như một bậc thánh hiền. Bông hoa của tình thương, sự tha thứ vẫn mãi mãi trổ sinh trên cát bụi cuộc đời của ông. Từ “tro bụi trở về bụi tro” của Gandhi là một nước Ấn độ độc lập và ngày càng tiến bộ.
Những tay tổ Cộng sản như Lênin, Stalin, Mao trạch Đông, Hồ Chí Minh…cũng “từ tro bụi” mà đến, dù xác họ có được ướp và bảo quản một cách tốn kém hay được đặt vào lăng tẩm để kính viếng, thì cũng có khác gì “trở về bụi tro”. Nhưng giữa “Ashes to ashes” họ đã để lại những gì nếu không phải là tang tóc cho hàng trăm triệu con người và hơn hai tỷ người đau khổ gần suốt thế kỷ 20 và những cuộc chiến tranh tàn khốc liên lụy đến cả thế giới?
“Tro bụi trở về bụi tro”. Nhưng nếu được nhớ đến như là hình ảnh của tình thương, của an bình, của nhân ái…thì khi đó con người sinh ra không phải chỉ để chết nhưng để trở thành bất tử.