Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

Con đường tiến đến tự do đích thực


Chu Thập
11/12/13
Hằng năm, cứ bước vào tháng 12 là cái xóm nhỏ trong con đường cụt nơi tôi đang ở lại sáng rực lên với đủ mọi loại đèn Giáng Sinh. Giáng Sinh là lễ được chuẩn bị nhiều nhứt và lâu nhứt. Phần lớn các thứ chuẩn bị đều tập trung vào trang hoàng, thức ăn, quà cáp và những chuyến đi chơi xa.
Riêng tôi, một tín hữu Kitô, cứ đến nhà thờ trong dịp này, tôi lại được nhắc nh về sự chuẩn bị tinh thần nhiều hơn. Hầu như năm nào tôi cũng nghe lại lời kêu gọi từ ngàn xưa của một vị tiên tri: “Hãy dọn đường cho Chúa; hãy lấp mọi hố sâu, hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo, hãy làm cho ngay thẳng; con đường gồ ghề, hãy san cho bằng. (sách Isaia 40,3-4)
Tôi sinh tháng 12 cho nên năm nào vào dịp này tôi cũng đều nhìn lại “con đường” mình đã đi qua. Vinh quang, quyền lực thế trần thì chẳng có, túi tiền thì lúc nào cũng trống rỗng, nhưng những hố sâu, những đoạn đường cong queo hay gồ ghề trong tâm hồn thì vô số kể. Đã bước vào cái tuổi không còn đủ lạc quan để nhìn xa về phía trước, tôi chỉ còn biết ngó lại đàng sau để nhận ra những do dự, vấp ngã, chùn bước, thối lui…trên con đường “làm người” của mình. Năm nào tôi cũng chuẩn bị tinh thần để cố gắng mừng lễ Giáng Sinh một cách có ý nghĩa hơn. Bởi lẽ năm nào tôi cũng nhớ lại lời cảnh cáo của thi sĩ Mỹ gốc Liban Kahlil Gibran (1883-1931): Chúa Giêsu đã sinh ra 2 ngàn năm nay. Nhưng nếu Ngài chưa sinh ra trong bạn thì kể như Ngài chưa sinh ra.
Tôi vẫn luôn ý thức rằng bao lâu  xiềng xích nô lệ vẫn còn trói chặt tâm hồn tôi thì bấy lâu Chúa Giêsu vẫn chưa sinh ra trong tôi. Tôi vẫn luôn nhận ra rằng bao lâu con đường tôi đi còn cong queo lồi lõm vì đủ mọi thứ tham sân si thì tôi chưa thực sự là một con người tự do.
Trong những ngày này, khi nhìn lại con đường mình đã đi qua, tôi thường chiêm nghiệm về di sản mà cố tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela, người vừa mới qua đời hôm 5 tháng 12 vừa qua, đã để lại cho thế giới. Con đường tù đày 27 năm của ông và cuộc tranh đấu bất bạo động theo gương vị cha già dân tộc Ấn Độ Mohamas Gandhi, đã mang lại tự do cho người dân Nam Phi. Ông đã thành công trong việc chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và mang lại tự do cho dân tộc bằng cuộc tranh đấu bất bạo động. Nhưng với tôi, di sản mà cố tổng thống Nelson Mandela đã để lại chính là con đường tự do mà ông đã đi qua. Trong quyển hồi ký có tựa đề “The long walk to freedom” (cuộc hành trình dài đến tự do), ông đã nói đến con đường đó như sau: “Tôi đã đi qua con đường dài dẫn đến tự do ấy. Tôi đã cố gắng để không vấp ngã, tôi đã có những bước sai lầm trên con đường này. Nhưng tôi đã khám phá ra bí quyết: sau khi leo được một ngọn đồi cao, người ta lại thấy còn có nhiều ngọn đồi khác để leo.
Tôi đã có lúc dừng lại để nghỉ ngơi, để nhìn ngắm vinh quang đang bao quanh tôi, để nhìn lại đoạn đường tôi đã đi qua. Nhưng tôi chỉ có thể nghỉ ngơi một lúc, bởi vì tự do nào cũng đòi hỏi trách nhiệm và tôi không dám trì hoãn, bởi vì cuộc hành trình lâu dài chưa chấm dứt”.
Quyển hồi ký nói trên đã được ông Nelson Mandela chấp bút ngay từ trong nhà tù và cho xuất bản năm 1994, tức năm ông trở thành người da đen đầu tiên lên làm tổng thống Nam Phi, 4 năm sau khi ông được trả tự do. Lẽ ra, sau khi giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của chế độ phân biệt chủng tộc, vị cha già của dân tộc Nam Phi đã có quyền tuyên bố rằng mình đã hoàn tất cuộc hành trình. Nhưng với ông, cuộc hành trình tiến về tự do là một con đường không bao giờ kết thúc. Có lẽ ông muốn nhắn gởi với thế giới rằng còn sống là còn phải không ngừng “ra đi”: ra đi khỏi cái tôi ích kỷ, nhỏ nhen, hận thù của mình. Trước khi mang lại tự do cho dân tộc, Nelson Mandela đã thực sự là một con người tự do. Ngay cả trước khi bước ra khỏi nhà tù, ông cũng đã là một con người tự do, bởi vì ông không còn nuôi dưỡng bất cứ sự thù hận nào đối với những người đã bách hại ông vì màu da của ông hoặc đã chối bỏ và chà đạp những quyền cơ bản của ông. Do đó, tự do mà ông muốn mang lại cho dân tộc Nam Phi không chỉ là tự do khỏi sự đàn áp của  chế độ phân biệt chủng tộc, mà là tự do để có thể tha thứ cho chính kẻ thù của mình. Mặc dù bị giam giữ đến 27 năm, Nelson Mandela không những tha thứ cho chế độ phân biệt chủng tộc, mà còn thuyết phục đồng bào da đen của mình cũng hãy tha thứ. Trong quyển hồi ký, ông viết: “Khi ra khỏi tù, tôi thấy mình có sứ mệnh phải giải phóng cả người bị áp bức lẫn kẻ áp bức”.
Ngày nay, sau hơn 20 năm thoát khỏi sự cai trị độc tài và tàn bạo của thiểu số người da trắng, Nam Phi, mặc dù đã là thành viên của câu lạc bộ 20 nước giàu mạnh trên thế giới, vẫn còn phải đối đầu với không biết bao nhiêu sự trì trệ. Nhưng ít ra, thế giới đã không hề chứng kiến cảnh trả thù hay nồi da xáo thịt giữa đại đa số người da đen và cộng đồng thiểu số da trắng. Sự hòa giải kỳ diệu đang diễn ra tại Nam Phi chứng minh rằng bên kia những khác biệt về màu da, chủng tộc, chính kiến hay ý thức hệ, con người vẫn có thể chung sống hòa hợp với nhau. 27 năm tù đày của cố tổng thống Nelson Mandela đã không vô ích: ông đã chứng minh được rằng sự tha thứ là sức mạnh mãnh liệt nhứt có thể cải tạo xã hội. Đó là lý do khiến người dân Nam Phi, bất luận trắng đen, đều có thể “ăn mừng” và nhảy hát theo truyền thống của họ trong những ngày này.
Suy niệm về di sản của ông, tôi không thể không tìm đọc lại giai đoạn lịch sử 27 năm bị giam giữ của Nelson Mandela tại nhà tù khét tiếng Robben Island. Ahmed Kathrada là một trong những người đồng chí hướng của Nelson Mandela và đã từng bị kết án chung thân với ông tại nhà tù Robben Island. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo Anh The Observer năm 2011, ông Kathrada đã ôn lại gương can đảm, sự quả cảm và tấm lòng hy sinh vô vị lợi của ông. Theo ông Kathrada, trong tù, Mandela vẫn được đối xử một cách đặc biệt như một lãnh tụ của Đảng ANC (African National Congress: Đảng Quốc đại Phi châu). Nhưng ông không chấp nhận có sự khác biệt trong việc đối xử giữa các tù nhân. Ông muốn được đi lao động và lãnh khẩu phần như mọi tù nhân khác.
Cũng theo lời ông Kathrada, tù nhân Nelson Mandela luôn tìm cách gây ý thức về sự bình đẳng cho các tù nhân khác. Nhờ gương bất khuất của ông mà không một tù nhân nào chịu cúi mình trước mặt các cai tù da trắng hay làm bất cứ điều gì đánh mất  phẩm giá con người. Riêng Nelson Mandela lúc nào cũng nhấn mạnh rằng ông không phải là một vị thánh, mà chỉ là một con người bình thường như mọi người và cũng đã từng phạm sai lầm như mọi người.
Một cựu tù nhân khác tại Robben Island, nay là hướng dẫn viên du lịch chuyên đưa người đi thăm nhà tù nổi tiếng này, giới thiệu với du khách: “Đây là một hòn đảo. Đây là nơi bạn sẽ chết”. Đó là những lời mà các cai tù đã dùng để ngỏ với tù nhân Nelson Mandela trong ngày đầu tiên khi ông được đưa đến đây”. Ông kể tiếp rằng kể từ lúc đặt chân lên đảo, tù nhân không còn hiện hữu như những con người nữa. Tên tuổi và căn cước của họ bị xóa bỏ. Sau khi trùm vào người bộ đồng phục tù nhân, mỗi người chỉ còn là một con số. Tù nhân Mandela mang số “46664”.
Ngoài điều kiện thời tiết khắc nghiệt tại Robben Island, tù nhân còn phải chịu đựng những đối xử tàn bạo của các cai tù da trắng. Họ không cần phải tra tấn tù nhân, mà chỉ cần giảm thiểu tối đa lượng nước uống, biệt giam một thời gian lâu thì cũng có người trở thành điên loạn.
Nhưng người hướng dẫn viên du lịch cho biết một điều thú vị: nhà tù là một đại học đối với các tù nhân. Trong tù, các tù nhân “dạy nhau”. Có người vào tù là người thất học, đến khi ra tù đã có bằng cấp đại học; người trở thành bác sĩ, kẻ làm luật sư hay giáo sư đại học.
Cũng như “người thày Mandela” và nhiều tù nhân khác, người hướng dẫn viên du lịch không để lộ bất cứ một dấu hiệu nào của cay đắng, thù hận mặc dù đã phải chịu đựng không biết bao nhiêu đau khổ và bất công. Cùng với Mandela, người hướng dẫn viên du lịch này chứng tỏ cho thế giới thấy rằng thế giới này luôn luôn là một nơi tốt đẹp hơn khi con người lấy sự tha thứ để vượt thắng sự cay đắng, lấy hòa giải để thắng sự trả thù và lấy tình thương để thắng hận thù.
Kết thúc một vòng viếng thăm nhà tù Robben Island, người hướng dẫn viên du lịch thường nói với du khách: “Xin nhớ cho rằng tự do không phải từ trời rơi xuống”. Ý ông muốn nhắn gởi rằng con đường đi đến tự do đích thực là một con đường chông gai, bởi lẽ như Đức Phật đã nói: “Thắng trăm vạn quân không bằng thắng chính mình. Chiến thắng chính mình là chiến công oanh liệt nhứt”.
Cuộc chiến với chính mình là một cuộc chiến vô cùng khó khăn và gian khổ. Kẻ thù có khi muôn mặt và ngụy trang dưới muôn vàn lớp sơn hào nhoáng. Biết mình trăm trận trăm thắng là thế.
Cuộc chiến với chính mình cũng là một cuộc chiến khủng khiếp bởi vì đó là một cuộc chiến liên lỉ và người chiến sĩ lại đơn thương độc mã. Trong một cuộc chiến bình thường, có lúc người chiến sĩ còn được nghỉ ngơi hay ngay cả từ giã vũ khí. Trong cuộc chiến với bản thân, người chiến sĩ không được phép cho mình ngưng chiến đấu: mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh, phải luôn luôn đề cao cảnh giác để nhận diện kẻ thù và chiến đấu.
Cuộc chiến với chính mình cũng khó khăn là bởi không có người chỉ huy, cũng chẳng có bạn đồng hành và nhứt là cũng chẳng bao giờ được tưởng thưởng. Chỉ có duy nhứt một quan tòa  là lương tâm lúc nào cũng nhìn ngó và theo dõi ta trong nhứt cử nhứt động! Thắng được một cuộc chiến như thế mới thực sự là oanh liệt!
Đây chính là cuộc chiến mà cố tổng thống Nelson Mandela đã trải qua. Đây chính là chiến thắng mà ông đã đạt được. Đây chính là con đường mà ông đã đi qua. Đó là con đường tự do đích thực đã giúp ông mang lại tự do cho dân tộc Nam Phi.
Cố tổng thống Nelson Mandela đã chấm dứt cuộc hành trình dương thế của ông. Giờ đây, trong giấc ngủ ngàn thu, ông có quyền nói rằng con đường tự do, cuộc chiến đấu của ông đã kết thúc và di sản mà ông muốn để lại cho dân tộc mình cũng như toàn thế giới chính là sức mạnh của sự tha thứ và hòa giải.
Tôi sẽ chuẩn bị tinh thần như thế nào để mừng lễ Giáng Sinh năm nay nếu không phải là cố gắng sống di sản của tha thứ và hòa giải mà cố tổng thống Nelson Mandela đã để lại, bởi vì Giáng Sinh vẫn mãi mãi là lễ của Hòa Bình.




Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

Palestine và những vùng đất bị Israel chiếm đóng


11.12.17
Cách đây 50 năm Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị quyết 242. Nghị quyết là một giải pháp nhằm chấm dứt cuộc xung đột giữa Palestine và Israel và tiến tới việc thành lập 2 quốc gia trong vùng. Nhưng kể từ khi được thông qua đến nay, Nghị quyết đã không ngừng bị Israel vi phạm bằng cách chiếm đóng những lãnh thổ của Palestine và đưa dân đến định cư một cách bất hợp pháp. Lãnh thổ của Palestine bị Israel chiếm đóng hồi năm 1967 bao gồm  Đông Gierusalem và Tây Ngạn. Con số người Do Thái định cư trong những lãnh thổ của Palestine đã lên đến 750.000 người, chiếm đến 11 phần trăm dân số Israel. Modi’ in Illit là khu định cư lớn nhất với trên 64.000 người. Khu định cư này có thị trưởng riêng cũng như trường học, trung tâm thương mại, bệnh viện và ngay cả đại học.
Thật ra, người Do Thái không chỉ mới chiếm đất của Palestine kể từ năm 1967 mà ngay cả trước khi Quốc gia Israel được thành lập vào năm 1948. Thập niên 1880, trên đất Palestine đã có một cộng đồng Do Thái thường được biết đến với tên là Yishuv. Cộng đồng Do Thái này không hề nghĩ đến chuyện thành lập một quốc gia Israel. Nhưng vào cuối Thế kỷ 19, phong trào “Zionist” (trở về Gierusalem) đã được thành lập tại Đông Âu. Phong trào này chủ trương phải có một quốc gia Do Thái. Những người tranh đấu trong phong trào dựa vào niềm tin trong Kinh Thánh theo đó Thiên Chúa đã hứa ban đất Palestine cho người Do Thái. Nhiều người đã bắt đầu trở về Palestine để mua đất và xây dựng các khu định cư. Ở khởi đầu, các khu định cư, thường được gọi là “Kibbutz” chỉ được thiết lập ở miền duyên hải và miền Bắc Palestine. Được hình thành đầu tiên là khu định cư Degania, do những người Do Thái ở Âu Châu trở về thành lập vào năm 1909. Thủ đô Tel Aviv cũng đã được thành lập vào đầu Thế kỷ 20.
Năm 1948, trước khi phong trào “Zionist” tiến hành cuộc thanh lọc chủng tộc tại Palestine, người Do Thái chỉ kiểm soát được không quá một phần sáu Palestine.
Là quốc gia đã chiếm đóng Palestine từ năm 1917 đến năm 1947, Anh Quốc đã tạo điều kiện cho người Do Thái từ Âu Châu trở về Palestine để thành lập quốc gia Israel.
Giữa năm 1922 và 1935, từ 9 phần trăm, dân số Do Thái tại Palestine đã tăng lên đến gần 27 phần trăm. Đất đai của người Palestine ngày càng rơi vào tay người Do Thái.
Năm 1947, Liên Hiệp Quốc phân chia lãnh thổ: người Do Thái được hưởng đến 55 phần trăm lãnh thổ bao gồm nhiều thành phố chính có đông người Palestine sinh sống và vùng duyên hải kéo dài từ Haifa đến Jaffa.
Lãnh thổ bị phân chia, người Palestine phải chịu nhiều thiệt thòi: những vùng đất nông nghiệp và các hải cảng thuộc về tay người Do Thái.
Không chấp nhận việc phân chia này, cho nên liền sau khi Liên Hiệp Quốc cho công bố Nghị quyết 181 để kêu gọi phân chia lãnh thổ, người Palestine đã nổi lên chống lại người Do Thái. Nhưng người Palestine không thể đương đầu nổi với người Do Thái, vốn đã từng có kinh nghiệm chiến trường trong thời Đệ nhị Thế chiến.
Các nhóm dân quân của người Do Thái đã bắt đầu một tiến trình thanh lọc chủng tọc rất dã man với những cuộc tấn công, tàn sát và phá hủy hàng loạt làng mạc của người Palestine. Vào khoảng cuối năm 1949, chỉ một năm sau khi Israel tuyên bố thành lập quốc gia, 78 phần trăm đất đai của người Palestine đã thuộc về họ. Những lãnh thổ còn lại của người Palestine như  Tây Ngạn và Đông Gierusalem bị đặt dưới sự kiểm soát của Jordan, trong khi đó Dải Gaza thuộc quyền Ai Cập. Quốc gia Israel được cộng đồng thế giới nhìn nhận dựa theo ranh giới đã được Liên Hiệp Quốc phân định năm 1948.
Nhưng không đầy 20 năm sau, tức năm 1967, cuộc xung đột giữa Israel và các nước Á Rập bùng nổ. Trong cuộc chiến thường được mệnh danh “Chiến tranh Sáu ngày”, quân đội Israel đã chiếm đóng thêm một phần lãnh thổ khác của Palestine. Phần đất bị chiếm đóng này gồm có  Đông Gierusalem, Tây Ngạn và Dải Gaza.  Israel cũng chiếm luôn Bán đảo Sinai của Ai Cập và Đồi Golan của Syria. Ngoại trừ Bán đảo Sinai, tất cả mọi lãnh thổ khác đều bị Israel chiếm đóng cho tới ngày nay.
Trước hành động chiếm đóng bất hợp pháp này của Israel, các quốc gia thành viên của  Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã đồng thanh bỏ phiếu thông qua Nghị quyết 242 vào ngày 22 tháng Mười Một năm 1967.
Nghị quyết yêu cầu Israel phải triệt thoái ra khỏi những lãnh thổ mà họ đã chiếm đóng trong chiến tranh. Nhưng Israel đã không tuân thủ  Nghị quyết. Từ đó đến nay, nghĩa là 50 năm sau, Nghị quyết vẫn tiếp tục bị Israel vi phạm bằng việc thành lập những khu định cư trên những lãnh thồ của người Palestine.
Liền sau “Cuộc chiến Sáu ngày”, Israel cũng ngang nhiên sát nhập Đông Gierusalem và tuyên bố: đây là một phần của thủ đô “ngàn năm văn vật” và bất khả phân ly của họ. Mặc dù chiếm đóng Tây Ngạn, nhưng Israel không tuyên bố chủ quyền trên phần đất này. Nhưng xem Đông Gierusalem như một phần lãnh thổ của mình, Israel đã áp đặt luật pháp của họ lên phần đất này. Việc sáp nhập Đông Gierusalem đã không được bất cứ quốc gia nào trên thế giới thừa nhận, bởi vì nó vi phạm Công pháp quốc tế. Theo Công pháp quốc tế, không một quốc gia nào có chủ quyền trên lãnh thổ họ chiếm đóng. Cho đến nay, cộng đồng quốc tế, kể cả Hoa Kỳ, luôn nhìn nhận Đông Gierusalem như một lãnh thổ của Palestine bị Israel cưỡng chiếm.
Mặc cho cộng đồng thế giới có lên tiếng phản đối, Israel vẫn tiếp tục cho thiết lập các khu định cư trên những vùng đất bị chiếm đóng của người Palestine. Hiện có ít nhất 160 khu định cư trên những lãnh thổ của người Palestine bị Israel chiếm đóng.
Việc thiết lập các khu định cư trên đất Palestine đã gây chia rẽ trong chính quốc gia Israel: một bên là những người luôn tin tưởng rằng Thiên Chúa đã ban cho họ quyền được định cư trên vùng đất mà Người đã ban cho họ, bên kia là những người cho rằng định cư trên vùng đất bị chiếm đóng là một án tử cho người Do Thái. Những người này chủ trương tuân thủ việc phân chia lãnh thổ do Liên Hiệp Quốc phân định năm 1948 và chống lại việc Israel bành trướng vào những vào những lãnh thổ của người Palestine.
Sau khi đặt bút ký tên vào Hiệp định Oslo vào đầu thập niên 1990, Chính phủ Israel đã chính thức cho ngưng xây dựng những khu định cư mới, nhưng lại củng cố và  phát triển những khu định cư đã có sẵn.
Năm 2017, Israel tái lập chương trình định cư. Theo dự trù chương trình này sẽ kéo dài trong 2 thập niên.
Kể từ 50 năm qua, Israel đã có trăm phương nghìn cách để chiếm đoạt đất đai của Palestine. Vì không sáp nhập vùng Tây Ngạn mà họ đã chiếm giữ cũng như không thể áp đặt luật pháp của họ lên vùng này, Israel sử dụng quân luật và lối giải thích riêng của họ về luật của đế quốc Thổ, Anh quốc và Jordan để từ từ chiếm đất của Palestine.
Riêng tại Đông Gierusalem, mặc dù bị cộng đồng thế giới lên án và mặc dù người Palestine không phải là công dân của mình, chính phủ Israel vẫn cho áp dụng luật pháp của họ.
Các khu định cư của người Do Thái rải rác trong vùng Tây Ngạn khiến cho việc thành lập quốc gia của Palestine ngày càng trở nên bất khả thi. Còn tại Gierusalem, Israel cho thành lập các khu định cư là để củng cố việc kiểm soát của họ. Bị các khu định cư của người Do Thái chặn đầu ngăn đuôi, người Palestine không thể đi lại dễ dàng trên chính quê hương của mình.
Năm 2004, tiếp theo cuộc nổi dậy của người Palestine,  Israel đã bắt đầu cho xây bức tường ngăn cách giữa Tây Ngạn và Israel. Được dựng lên để gọi là bảo vệ an ninh cho người Do Thái, trong thực tế, Israel sử dụng bức tường này để sáp nhập thêm đất đai của Palestine và thiết lập thêm các khu định cư. 85 phần trăm bức tường ngăn cách này nằm bên trong Tây Ngạn. Chính vì vậy mà người Palestine gọi đây là một “bức tường sáp nhập” đất đai. Hiện có khoảng 3.1 triệu người Palestine đang sinh sống trong vùng Tây Ngạn.
Sự hiện diện của các khu định cư của người Do Thái trên lãnh thổ Palestine đã khiến cho kinh tế và cuộc sống của người dân Palestine ngày càng khó khăn. Năm 2016, một bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc cho thấy nếu không bị Israel chiếm đóng, kinh tế của Palestine sẽ mạnh gấp 2 lần so với tình trạng hiên nay. Chính sách cưỡng chiếm đất đai và thiết lập các khu định cư mà chính phủ Israel đang đeo đuổi không có mục đích nào khác hơn là làm tê liệt sức kháng cự của người Palestine và chống lại mọi dự án thành lập quốc gia của  Palestine.
Không kể đến việc các khu định cư chiếm 90 phần trăm nguồn nước trong các vùng bị chiếm đóng, người Palestine cũng mất cả quyền tự do đi lại trên chính lãnh thổ của họ. Các trạm kiểm soát mọc lên khắp nơi. Bức tường ngăn cách cũng tách lìa các cộng đồng Palestine với nhau. Trong một số vùng, người Palestine phải qua một trạm kiểm soát để ra vào làng mạc của họ.
Do các khu định cư được thiết lập bên cạnh các khu dân cư của người Palestine cho nên xung đột và bạo động giữa hai bên là điều xảy ra như cơm bữa. Chỉ trong 6 tháng đầu của năm 2017, Liên Hiệp Quốc đã đếm được 89 vụ đụng độ qua đó những người Do Thái định cư đã giết hoặc gây thương tích cho người Palestine hoặc phá hoại  tài sản của họ.
Một trong những hình thức bạo động thường được người Do Thái định cư sử dụng là ném đá vào nhà cửa, xe cộ của người Palestine, tấn công họ, phá hủy vườn cây ô liu của họ hoặc đốt phá mùa màng của họ.
Năm 2016, trên 1500 cây ô liu của người Palestine bị bứng rễ. Tính từ năm 1967 đến nay, đã có khoảng 2.5 triệu cây bị đào phá như thế.
Phần lớn các vụ bạo động do những người Do Thái định cư gây ra, nếu có được trình báo, cũng đều được bỏ qua và những kẻ gây bạo động không hề bị trừng phạt.
Bên cạnh các vụ bạo động xảy ra hàng ngày như thế, Chính phủ Israel còn đeo đuổi chính sách phá hủy nhà cửa của người Palestine: nại lý do nhà của người Palestine được xây cất không có giấy phép, Israel cho xe ủi đến đập phá. Thật ra, nếu có làm đơn xin phép, người Palestine cũng không bao giờ được cấp giấy phép xây nhà gần các khu định cư của người Do Thái. Kể từ năm 1967 đến nay, Chính quyền Israel đã cho đập phá trên 27.000 ngôi nhà của người Palestine trong những vùng bị chiếm đóng. Giữa năm 2000 và năm 2007, Israel bác trên 94 phần trăm đơn xin cất nhà của người Palestine.
Số phận của người dân Palestine ngày càng bi đát và giải pháp 2 quốc gia tại Palestine như Liên Hiệp Quốc đã đề nghị từ 50 năm qua có lẽ sẽ khó  thành hiện thực, nhất là mới đây có nguồn tin cho biết  Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ nhìn nhận Gierusalem như thủ đô của Israel và bày tỏ ý định dời tòa đại sứ Mỹ từ Tel Aviv về Gierusalem. Lâu nay, Liên Hiệp Quốc đã không ngừng đề nghị nên dành cho Gierusalem một qui chế quốc tế và xem đây như thủ đô của ba tôn giáo độc thần là Do Thái Giáo, Ki Tô Giáo và Hồi Giáo.

(nguồn:https://interactive.aljazeera.com/aje/2017/50-years-illegal-settlements/index.html)









Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

Nhớ vườn


Chu Thập
 01/12/17
Dường như người già thường có những nỗi nhớ không giống ai. Như một ông bạn già của tôi chẳng hạn. Được tôi rủ đi chơi xa bằng xe, ổng nao nức như trẻ con. Nhưng đi được mới 2 ngày, ổng đòi về. Hỏi tại sao, bạn già của tôi trả lời với giọng thiểu não: nhớ mấy con chim cút quá!
“Trông người lại nghĩ đến ta”. Tôi cũng có một tâm trạng y chang. Trước ngày lên đường, tôi cũng nôn nao không kém ông bạn già. Vậy mà chỉ “chơi” được vài ngày, tôi lại cảm thấy nhớ nhà và cũng mong cho cuộc vui chóng tàn để về nhà. Thật ra, đối tượng chính xác của nỗi nhung nhớ của tôi không hẳn là ngôi nhà. Ngày xưa, lúc còn đi học xa, tôi mong ngóng từng ngày để được trở về nhà: nhà là không gian trong ngôi nhà của ông bà tổ tiên để lại, nhà là nơi tôi được chôn nhau cắt rún theo đúng nghĩa, nhà là nơi tôi sống với những người thân của mình. Tôi nhớ nhung từng căn phòng, từng cái giường, từng góc nhỏ trong nhà. Nhưng kể từ ngày bỏ nước ra đi, tôi không còn một ngôi nhà như thế để trông đứng trông ngồi hầu được trở về nữa. Trong hơn 30 năm sống kiếp ly hương, tôi đổi nhà không biết bao nhiêu lần. Có nơi tôi ở đến cả 15 năm. Vậy mà cuối cùng cũng đành bỏ đi và chẳng thấy lưu luyến nhớ nhung gì cả.
Đi sâu vào nỗi nhớ, tôi mới “ngộ” ra rằng điều tôi nhớ nhứt mỗi khi đi xa không phải là ngôi nhà tôi đang ở cho bằng mảnh vườn xung quanh nhà. Định mệnh đã trói buộc tôi với đất đai. Tôi sinh ra và lớn lên ở nhà quê. Cha tôi là một nông dân thứ thiệt. Trong “Biên bản thế vì khai sinh” của tôi có 2 người làm chứng hẳn hoi, cha tôi khai rõ nghề nghiệp của ông là “làm nông”. Đó là nghề cha truyền con nối. Mới 3, 4 tuổi, tôi đã biết đi ruộng. Đi học xa và được tắm biển mỗi ngày, chân tôi có được tẩy phèn, nhưng “cái cốt” nông dân của tôi vẫn còn đó. Cứ hễ có dịp về nhà, những bước chân đầu tiên của tôi đều hướng ra ruộng. Ở đó, những buổi chiều tà, tôi ngắm được mầu mạ xanh, tôi nghe được mùi lúa vừa trổ đòng đòng và dĩ nhiên tôi cũng cảm được niềm vui và nhứt là nỗi lo của cha tôi. Có những năm, thuốc trừ sâu không còn hiệu nghiệm, lũ giặc rầy phá hại toàn bộ mùa màng, tôi thấy khóe mắt của cha tôi ươn ướt. Hai cha con nhìn nhau bất lực. Coi như bồ lúa trong nhà trống trơn. Mẹ tôi phải vun vén thật khéo mới có đủ gạo ăn và dư chút đỉnh để đóng học phí cho con cái.
Nhà nông cơ cực thế đó. Nhưng không hiểu tại sao tôi vẫn mơ được làm “nông dân”. Ngày nay, không có ruộng để cày bừa, gieo trồng, nhưng dù  tạm cư ở bất cứ nơi nào, hễ thấy có đất là tôi làm vườn. Mà đã có một mảnh vườn thì xa nhà là tôi thấy nhớ. Vườn là một phần của cuộc sống của tôi. Vườn, như tác giả Michael Polland đã viết trong cuốn sách “Second Nature: A Garderner’s Education” (Bản chất thứ hai: giáo dục người làm vườn),  “là một nơi diễn ra cuộc đối thoại giữa con người và thiên nhiên”.
Vườn là nơi tôi “động não” để suy nghĩ và giúp tôi thư giãn nhiều nhứt. Cây cỏ và loài người đã chung sống với nhau từ nhiều chục ngàn năm qua. Nhưng giữa hai bên vẫn có một mối quan hệ kỳ lạ. Một mặt ai trong chúng ta cũng biết rằng cây cỏ và thiên nhiên nói chung bảo tồn sự sống của con người, mang lại niềm cảm hứng và hy vọng cho con người. Nhưng mặt khác, có lẽ con người chỉ xem cây cỏ và thiên nhiên như một phương tiện để sống còn hơn là một người bạn đồng hành. Đọc lại câu chuyện “đại  hồng thủy” trong Kinh Thánh của Do thái và Kitô giáo, tôi thấy dường như sự hiện diện của cây cỏ chỉ được đặt vào hạng thứ yếu. Tất cả mọi loài thú vật đều được đưa lên “con tàu Noe” theo từng cặp. Tôi không hiểu tại sao không có lấy một cây cỏ nào có vé lên tàu của ông Noe. Có lẽ ông Noe đã không xem cây cỏ như loài có sự sống.
Nếu như thú vật, như thú cưng chẳng hạn, có thể đi vào quan hệ thân thiết với con người thì cây cỏ cũng cần phải có được vinh dự ấy. Sở dĩ cây cỏ cần được dành cho một vinh dự như thế, bởi vì cây cỏ dạy cho loài người rất nhiều bài học quan trọng và cần thiết cho cuộc sống.
Một trong những bài học mà mỗi khi “ngồi thiền” trong mảnh vườn sau nhà tôi thường học được chính là: ai cũng phải chết! Con người thường chạy trốn sự thật. Thế giới càng văn minh tiến bộ, con người càng phát minh ra đủ mọi phương tiện kỹ thuật và mọi thú tiêu khiển để khỏi phải đối đầu với sự thật cốt lõi của cuộc sống là mình sẽ phải chết. Nhưng một khi đã ngồi giữa một ngôi vườn, tôi biết rằng mình không thể thoát khỏi sự thật ấy. Sự sống, cái chết, sự phân hủy và sự vươn lên...đó là một chu kỳ đang diễn ra trước mắt tôi mỗi khi tôi chiêm ngắm một ngôi vườn. Vườn là nơi mà những sự thật và huyền nhiệm của sự sống lúc nào cũng trải bày ra trước mắt tôi.
Mảnh vườn xung quanh nhà cũng dạy tôi biết quan sát và đánh giá sự vật. Có làm vườn, nghĩa là có tự tay gieo trồng, tưới tẩm, chăm sóc từng cây cỏ, luống rau để có cái mà ăn tôi mới hiểu được thời giờ phải bỏ ra, công lao mồ hôi nước mắt phải đổ ra và nhờ đó mới thấy được giá trị của thực phẩm mình tiêu dùng hàng ngày. Dĩ nhiên không phải giá trị theo giá thị trường hay giá cả trong siêu thị, mà là thứ giá trị mà không một đơn vị mua sắm nào có thể đo lường được. Biết như thế để trân quý, để thưởng thức với hân hoan và tri ân, chớ không phải để phung phí hay vứt bỏ một cách bừa bãi. Nhứt là biết như thế để cảm thông với nhà nông và mở rộng trái tim và đôi bàn tay để chia sớt cho không biết bao nhiêu người đang túng đói trên khắp mặt đất này.
Như vậy, mảnh vườn xung quanh nhà do tôi tự tay chăm sóc, cây cỏ và rau quả do tôi tự tay gieo trồng và tưới tẩm cũng giúp tôi nhìn thấy giá trị đích thực của mọi sự vật. Cây cỏ mở mắt tôi để tôi nhận thấy rằng những sự vật như vàng bạc, kim cương hay vô số những thứ hào nhoáng khác trong cuộc sống đều vô giá trị. Nước, cây cỏ, rau quả, ong bướm và vô số những anh hùng thầm lặng như các loài giun dế côn trùng có giá trị hơn mọi thứ vàng bạc châu báu trên thế giới này, bởi vì nếu không có chúng thì sự sống trên trái đất này không thể hiện hữu và tồn tại. Cuốn phim có tựa đề “The Martian” (người Hỏa tinh) mà tôi đã có dịp xem hồi năm 2015 đã nói lên chân lý ấy: không có nước, không có hạt giống thì đừng mong có sự sống hay bảo tồn sự sống trên Hỏa tinh.
Càng nhìn ngắm, càng chiêm ngưỡng thiên nhiên...tôi càng “ngộ”  ra rằng không có lớp học nào giúp tôi học được những sự thật căn bản trong cuộc sống cho bằng mảnh vườn do tôi tự tay chăm sóc.
Nhưng trong nhiều bài học mà cây cỏ và thiên nhiên dạy cho tôi thì bài học về niềm hy vọng là điều quan trọng hơn cả. Mới đây,  một băng hình được quay tại Thành phố Aleppo, miền Bắc Syria đã được phát tán ra ngoài. Aleppo là một địa danh chỉ gợi lên đau thương tang tóc và vô số những cảnh độc ác dã man kể từ khi tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” chiếm đóng và cuộc nội chiến tàn bạo biến đất nước Syria thành một bãi tha ma. Trong băng hình, giữa cảnh đổ nát và máu lửa, người ta thấy một người đàn ông vẫn tiếp tục bán hoa và cây non. Từ những thước phim ngắn ngủi, thế giới bên ngoài đã đọc được một thông điệp rõ ràng: người bán hoa và khách hàng của ông vẫn cảm thấy cần phải nuôi dưỡng niềm hy vọng giữa cảnh hoang tàng đổ nát. Một trong những khách hàng giải thích: “Đối với chúng tôi, làm cho những nơi chúng tôi có mặt được xinh đẹp mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Điều này giúp mọi người lên tinh thần. Do đó, chúng tôi không chỉ nhìn thấy có sự  hủy hoại mà còn nhận ra những cố gắng xây dựng. Chúng tôi tiếp tục sống và tái thiết những gì đã bị phá hủy” (x. Georgina Reid, Gardening can change the world, Diggers Festive Gardens 2017).
Tôi không thể tưởng tượng được liệu trong một nơi chỉ có hoang tàn đổ nát và chết chóc như thành phố Aleppo người ta có thể nuôi dưỡng niềm hy vọng không. Mọi sự cứ diễn ra như “dã tràng xây cát biển Đông”.  Nhưng niềm hy vọng vẫn là lá bài chủ trong canh bạc tưởng đã thua trắng. Niềm hy vọng luôn có sức mang lại sự thay đổi. Và không có một nơi nào nuôi dưỡng niềm hy vọng cho bằng một mảnh vườn. Khi gieo trồng, tôi không chỉ đặt vào lòng đất một hạt giống. Khi đặt một cây non xuống đất, tôi không chỉ làm cho đất đai được xanh tươi. Khi canh tác đất đai, tôi không chỉ trông chờ mùa thu hoạch và nghĩ tới nhu cầu trước mắt là hưởng được hoa trái của công lao mồ hôi nước mắt của mình. Với tôi, làm vườn chính là gieo trồng và nuôi dưỡng niềm hy vọng. Hy vọng, như Giám mục Desmond Tutu, khôi nguyên giải Nobel Hòa Bình, người đã từng tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen tại Nam Phi, đã nói: là vẫn có thể nhìn thấy ánh sáng mặc dù xung quanh chỉ toàn là bóng tối. Khi được gieo vào lòng đất, hạt giống cần phải thối rữa đi mới có thể nẩy mầm. Giữa bóng tối của thất bại, mất mát, khổ đau và ngay cả sự chết, niềm hy vọng vẫn có sức làm cho ánh sáng của sự sống bừng dậy. Cây cỏ trong vườn luôn gợi lên cho tôi một niềm hy vọng như thế.
Tôi không thuộc truyện Kiều của cụ Nguyễn Du cho lắm. Nhưng cứ mỗi lần nhìn sự thay đổi của vạn vật và nhứt là cây cỏ trong mảnh vườn xung quanh nhà, tôi không thể không  nghĩ đến câu thơ mà năm 2000, khi đến Việt Nam, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã trích dẫn để nói lên mối quan hệ ngày càng khởi sắc giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Tổng thống Bill Clinton đã “lẩy”: “Sen tàn cúc lại nở hoa. Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân”.
Ở vùng tôi ở không có mùa thu lá rụng hay lá bay như tại nhiều nước ôn đới khác. Nhưng ở bất cứ mùa nào, tôi cũng thấy có hiện tượng phân hủy và đâm chồi nẩy lộc. Xuân hạ thu đông, bốn mùa cứ tiếp nối nhau. Có lá rụng về cội thì cũng có hạt giống nẩy mầm. Trong cái chết vẫn tiềm ẩn sự sống. “Hạt bụi nào đã hóa kiếp thân tôi” để rồi mai kia tôi lại trở về với cát bụi thôi. Nhưng một khi đã hóa kiếp trong tôi thì một cách nào đó hạt bụi cũng sẽ trở thành bất tử. Nó sẽ tiếp tục sống nơi cây cỏ hay trong một người nào đó.
Nhìn ngắm cây cỏ trong vườn, tôi nghĩ đến không biết bao nhiêu hạt bụi đã hóa thân qua không biết bao nhiêu kiếp người, kiếp vật, kiếp cỏ cây. Một phần của ai đó đang sống trong cây cỏ và thiên nhiên. Chính vì thế mà thiên nhiên cần được tôi tôn trọng, chăm sóc, bảo tồn và yêu mến. Một quan hệ như thế giữa tôi và thiên nhiên đương nhiên sẽ mang lại cho tôi an bình và thư giãn. Tôi hiểu được tại sao mỗi khi xa nhà, tôi luôn thấy “nhớ vườn”!




Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta!


Chu Thập
03/12/13
Lễ Giáng Sinh sắp trở về. Với tôi, lễ Giáng Sinh nào cũng đẹp cả, nhưng đẹp nhứt vẫn là những lễ Giáng Sinh của tuổi thơ. Tôi chỉ thật sự vui hưởng tuổi thơ kể từ ngày “song thất” 7/7 năm 1954, khi cố tổng thống Ngô Đình Diệm về nước. Thời đó tôi bắt đầu có trí khôn và cũng bắt đầu biết nhớ những gì đáng nhớ. Tôi vẫn nhớ như in những lễ Giáng Sinh của thời thái bình ấy. Thời ấy, du kích Việt cộng chưa về quấy phá xóm làng. Người lớn, con nít có thể đi chơi suốt đêm từ làng này sang làng khác mà không sợ bị ám sát hay bắt đưa lên núi. Lễ Giáng Sinh quả là những cuộc vui hầu như thâu đêm suốt sáng của dân chúng. Riêng với tôi, lễ Giáng Sinh của tuổi thơ cũng là lễ của gia đình. Sau thánh lễ đêm ở nhà thờ, nhà nào cũng có tiệc “rê vây dong” (Réveillons). Giữa đêm khuya, tiếng dao thớt vang dậy khắp xóm làng, nghe cũng chẳng khác nào một giai điệu Giáng sinh nối dài. Dù có buồn ngủ cách mấy, lũ trẻ con chúng tôi cũng cố thức cho bằng được để thưởng thức chào gà, cháo vịt thường chỉ có trong mấy ngày Tết hay lễ lớn. Nhưng niềm vui của trẻ con không chỉ là được ăn “món ngon vật lạ” hay nhận được quà của ông già Noel mà chính là được quây quần bên nhau, cùng với ông bà, cha mẹ và anh chị em.
Gia đình tôi thuộc loại đông con. Mẹ tôi cứ “quen dạ đẻ cách năm đôi” và bà cố nặn cho đủ một tá, trong đó tôi là con áp út. Thời đó, chẳng có ông chính phủ hay ông đại tướng nào bỏ giờ để “chui” vào phòng ngủ của các gia đình để kiểm soát, cho nên nhà nào muốn sinh bao nhiêu con cũng được. Cha mẹ tôi cũng chẳng biết thế nào là kế hoạch hóa gia đình hay sinh con đẻ cái có trách nhiệm.  Hai ông bà chỉ biết tâm niệm “trời sinh voi trời sinh cỏ” và dĩ nhiên, lao tâm lao lực suốt ngày vì con cái. Nhà tôi không nghèo đến độ rớt mùng tơi, nhưng cũng chẳng giàu có dư dả. Thiếu trước hụt sau là điều cũng có lúc xảy ra. Nhưng là con trai út, dù có được cưng chiều hơn mấy ông anh bà chị, tôi vẫn cứ phải mặc quần áo “bính” mệt nghỉ. Bù lại lúc nào tôi cũng được mấy ông anh và bà chị  đùm bọc, “dẫn dắt” và che chở. Tuổi thơ của tôi đẹp là vì tôi được sinh ra và lớn lên trong một gia đình đông con. Ngày nay, ngồi đếm từng ngày từng giờ của giai đoạn trời cho “thêm” (bonus) để sống, tôi thầm cảm ơn Đấng Tạo Hóa và cha mẹ tôi vì món quà sự sống vô giá này. Tôi đã không chọn lựa để làm người. Tôi cũng chẳng chọn lựa cha mẹ để sinh ra. Nhưng giả như sau khi tôi qua đời, Thượng Đế có hỏi tôi có muốn trở lại trần gian không, dù đời có là bể khổ đi nữa, tôi cũng vẫn xin được tiếp tục làm người. Dù đời có thế nào đi nữa, tôi vẫn cố gắng lập lại lời của thi sĩ Pháp Jean de La Fontaine (1621-1695): “Thà đau khổ hơn là chết” (plutôt souffrir que mourir).
Tư tưởng ấy thường  đến với tôi mỗi khi tôi nghĩ đến những đứa trẻ không được may mắn ngước mặt nhìn đời, những thai nhi bị sát hại ngay trong lòng mẹ. Đặc biệt tôi nghĩ đến một trong những giai đoạn khủng khiếp nhứt tại Trung Quốc kể từ năm 1979, khi chính phủ cộng sản nước này chính thức ban hành điều được gọi là “chính sách mỗi gia đình một đứa con”.
Mới đây, sau khi nhà nước cộng sản Trung Quốc loan báo nới lỏng chính sách mỗi gia đình một con, tạp chí Time số ra tuần này (2/12/2013) đã dành những trang chính để đánh giá lại chính sách này. Theo tôi, đây là một chính sách vô luân, thiển cận và ngu xuẩn về kinh tế, dân số và xã hội.
Theo tạp chí Time, chính sách mỗi gia đình một đứa con đã kéo theo 3 hậu quả tai hại cho xã hội Trung hoa. Hậu quả trước hết là hiện quốc gia này đang thiếu nhân công. Sở dĩ trong vài thập niên vừa qua,  quốc gia đông dân  nhứt thế giới này đạt được điều được cả thế giới ca ngợi là “phép lạ kinh tế” là nhờ ở lực lượng lao động khổng lồ của nó. Ngày nay, lực lượng lao động rẻ mạt ấy đã già cỗi hay hầu như cạn kiệt, mức lương gia tăng nhanh, số công nhân hãng xưởng ngày càng khan hiếm. Năm ngoái, đã có 13.600 trường tiểu học phải đóng cửa vì thiếu học sinh.
Hậu quả thứ hai của chính sách mỗi gia đình một con là số người trẻ ngày càng hiếm. Vào năm 2050, trong 3 người Trung quốc, sẽ có một người trên 60 tuổi, nghĩa là khoảng 430 triệu người, hơn cả dân số Hoa Kỳ. Trong những nước phát triển như Nhựt Bản chẳng hạn, sự bùng nỏ người già là một vấn đề lớn. Nhưng Nhựt Bản lại giàu hơn Trung Quốc nhiều, do đó người già vẫn có thể được trợ cấp, hưởng các dịch vụ y tế và chăm sóc. Trung Quốc thì trái lại, chưa giàu có mà đã già nua, cho nên người già sẽ là thành phần bị thiệt thòi hơn cả. Trung bình, cứ một đứa con được sinh ra theo chính sách mỗi gia đình một đứa con sẽ phải chăm sóc cho 6 người già gồm có cha mẹ và ông bà nội ngoại. Việc chăm sóc người già, vốn đã từng cắm rễ sâu trong văn hóa Á đông, đặc biệt là Trung Hoa, nay sẽ trở nên khó khăn hơn bởi vì hàng trăm triệu người Trung Quốc vì kế sinh nhai phải rời bỏ làng mạc là nơi người già đang sống.
Nhưng có lẽ hậu quả tai hại nhứt của chính sách mỗi gia đình một con là tình trạng khan hiếm phụ nữ. Fanching là một thị trấn yên tĩnh tại tỉnh Henan, miền trung Trung Quốc. Thỉnh thoảng người ta thấy trẻ con chơi trò cút bắt trên các cánh đồng hay các lẫm lúa. Phần lớn đều là con trai. Tại trường tiểu học của thị trấn, trong một lớp học, người ta đếm được 27 nam sinh nhưng chỉ có 13 nữ sinh. Truyền thống Trung Hoa, cho đến nay, vẫn còn trọng nam khinh nữ. Vì cả chục đứa con gái không bằng một đứa con trai, cho nên qua siêu âm mà biết được thai nhi là con gái thì tiến hành phá thai là chuyện thường tình. Tỷ lệ nam nữ hiện nay tại Trung Quốc là cứ 135 con trai mới có 100 con gái. Số con trai “ế vợ” ngày càng nhiều. Có tràn qua Việt Nam để mua vợ hay lang thang mãi sang tận Phi Châu cũng không giải quyết được vấn đề. Mà đã là đàn ông con trai mà không kiếm được vợ để nối dõi tông đường thì lại mang tội bất hiếu. Thật tội nghiệp cho mấy ông hoàng con “sản phẩm” của chính sách mỗi gia đình một con này!
Nhưng chính sách này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống xã hội, mà còn đe dọa cả sự an toàn của chế độ. Mức phát triển đang chậm lại. Sự bất ổn cũng như giá sinh hoạt ngày càng gia tăng. Qua các trang mạng xã hội ngày càng mở rộng và bộ máy kiểm duyệt của nhà nước không tài nào lọt vào được, những ông hoàng con kết quả của chính sách mỗi gia đình một đứa con ngày càng nổi loạn và không sợ để lên tiếng chỉ trích chính phủ. Đa số là thành phần tốt nghiệp đại học nhưng không tìm được công việc “cổ trắng” hợp với trình độ và bao nhiêu năm miệt mài đèn sách cũng như công sức và sự hy sinh của cha mẹ họ, bởi vì Trung Quốc hiện vẫn còn “nghiện” với nền kinh tế “gia công”. Chính vì lực lương “cổ trắng” này không muốn trở về nông thôn mà vẫn bám trụ vào thành phố cho nên thị trường địa ốc ở những thành phố lớn được thổi phồng. Tìm được việc làm ở thành phố đã là trầy vi tróc vẩy, mà kiếm được vợ lại càng khó khăn hơn, cho nên một khi đã lập gia đình, dù cho chính phủ có nới lỏng chính sách, mấy ông hoàng con cũng chẳng dại gì mà đáp lời sông núi để làm nghĩa vụ gia tăng dân số.
Dù cho chính sách mỗi gia đình một đứa con có được bãi bỏ, dân số Trung Quốc cũng khó mà gia tăng nhanh chóng để bù đắp cho lỗ hổng xã hội do chính sách này tạo ra.
Theo tạp chí Time, điều đáng suy nghĩ là ở những nơi chính sách mỗi gia đình một đứa con hoặc đã từng được nới lỏng hoặc không được áp dụng, người ta thấy rõ có sự cân bằng giới tính. Chẳng hạn như tại Dingjaba, tỉnh Sichuan (Tứ Xuyên), số con gái lại nhiều hơn con trai. Tạp chí Time kết luận: “Như vậy, thiên nhiên thành công hơn trong việc điều hòa dân số hơn bất cứ bộ máy Cộng sản nào. Sau hơn 3 thập niên kế hoạch hóa gia đình một cách sai lầm, đây là bài học của Trung Quốc dành cho thế giới” (Time 2/12/2013)
Nhưng liệu thế giới có nhận ra bài học đó không? Hiện vẫn không thiếu những người biện minh cho chính sách mỗi gia đình một đứa con của chế độ công sản Trung Quốc. Người ta bảo rằng nhờ chính sách này mà Trung Quốc đã bớt đi được đến 400 triệu miệng ăn. Nhờ chính sách này mà dân số trên một tỷ người Trung Hoa mới thoát được cảnh nghèo đói. Nhờ chính sách này mà tổng sản lượng tính theo đầu người của người dân Trung Quốc từ 200 Mỹ kim năm 1980 đã tăng vọt lên 6000 Mỹ kim hồi năm ngoái.
Cho tới nay, nhiều chính phủ trên thế giới vẫn tiếp tục gởi các chuyên gia đến Trung Quốc để nghiên cứu về mô hình kế hoạch hóa gia đình của nước này. Ngay cả ngày nay, mặc dù đã nới lỏng chính sách, những người cộng sản Trung Quốc cũng vẫn cho rằng sự thành công kinh tế của họ gắn liền với chính sách mỗi gia đình một đứa con này. Chính phủ Bắc Kinh vẫn tiếp tục đóng vai “đại huynh” để đi quảng bá các chính sách của mình cho các nước nghèo ở Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ Latinh là những nước hiện đang muốn lập lại quỹ đạo kinh tế Trung Quốc. Ngay cả một số viên chức của Liên Hiệp Quốc và không thiếu những bậc “thày dùi” ở Tây Phương cũng vẫn ca ngợi Trung Quốc vì đã giúp thế giới tránh được nạn nhân mãn. Chỉ có điều, người ta quên mất những hậu quả tiêu cực mà chính sách kinh tế cũng như chủ trương mỗi gia đình một đứa con của Trung Quốc đã tạo ra. Vinh quang và quyền lực kinh tế cũng như chính trị mà Trung Quốc đã đạt được đã được trả bằng một cái giá quá đắt: môi trường sống bị hủy hoại, lỗ hổng đạo đức ngày càng bị khoét sâu, đất nước không có tương lai và nhứt là hằng triệu triệu sinh linh đã bị giết chết.
Từ ngàn xưa, các bậc thánh hiền của Trung Quốc đã từng cảnh cáo: thuận thiện giả tồn, nghịch thiên giả vong. Khi những người cộng sản Trung Quốc ý thức được lời cảnh cáo này thì đã muộn. Chống lại thiên nhiên, nghịch với lẽ trời, con người có thể thành công trong đoản kỳ, nhưng lại phải chuốc lấy vô số di hại không lường trước được. Chống lại thiên nhiên, nghịch với lẽ trời, con người không những loại trừ người đồng loại mà cũng đi vào chỗ tự hủy. Xét cho cùng, thuận thiên cũng có nghĩa là nhận biết rằng không có bất cứ một sự thành công, vinh quang hay phép lạ nào được đặt lên trên mạng sống con người. Không gì có thể đứng trên hay thay thế cho một mạng người.
Tôi nghĩ đến sứ điệp này khi suy nghĩ về lời của thiên sứ trong đêm Giáng Sinh: “Ta báo cho anh em một tin vui trọng đại: một vị Cứu Tinh đã sinh ra cho anh em ” (Lc 2,11). Có hài nhi nào sinh ra mà không là một tin vui, không những cho cha mẹ, gia đình em, mà còn cho cả thế giới. Bởi lẽ, nơi bất cứ hài nhi nào, dù là con ông hoàng bà chúa hay thứ dân, dù là con nhà giàu có hay bần cùng...cũng đều có trọn phẩm giá của toàn thể nhân loại.



Thứ Hai, 4 tháng 12, 2017

Yemen: 6 năm sau Mùa xuân Á rập


01/12/17
Trong 8 tháng năm  2017 vừa qua, dịch tả đã lan tràn khắp Yemen. Đã có khoảng 800.000 người bị lây nhiễm và trên 2000 người bị thiệt mạng. Nhưng theo Bác sĩ Mohammaed al-Qubati, Giám đốc bệnh viện của Marib, một thành phố đã từng là cứ địa của tổ chức khủng bố al-Qaeda, dịch tả chỉ là nguyên nhân thứ ba hoặc thứ tư gây ra tử vong tại Yemen, nhất là tại thành phố này. Theo viên bác sĩ này, nguyên nhân chính gây chết người nhiều nhất chính là mìn bẫy.
Nằm cách Thủ đô Sanaa về hướng đông khoảng 170 cây số, Thành phố Marib nằm trong một thung lũng. Trong nhiều tháng trời, thành phố này đã trở thành chiến địa của những cuộc giao tranh ác liệt nhất tại Yemen. Kể từ năm 2015, các chiến binh của Bộ lạc Houthi, được Iran yểm trợ, đã cài đặt hàng trăm ngàn mìn bẫy trên đường đi, trong các cánh đồng và vườn tược của dân chúng. Ngày nay các cuộc giao tranh đã lùi xa Thành phố Mabib cả trăm cây số. Nhưng mìn bẫy vẫn còn đó. Không những binh sĩ mà người thường dân cũng đều có thể là nạn nhân.
Một trong những khu đáng chú ý nhất trong trung tâm y tế của Thành phố Marib là khu chỉnh hình. Tất cả các bệnh nhân được đưa vào khu này đều là nạn nhân của mình bẫy. May mắn lắm họ mới còn được một chân lành lặn. Phần lớn là các binh sĩ. Số khác là nông dân và ngay cả các lão bà. Bác sĩ Qubati nói rằng trên đường đến bệnh viện, chỉ có một số nhỏ còn sống sót. Đa phần chết dọc đường, vì tai nạn xảy ra ở một nơi quá xa bệnh viện.
Thật ra trung tâm y tế Marib chỉ là một bệnh viện nhỏ nằm bên cạnh một vùng sa mạc. Bệnh nhân nào được đưa đến đây cũng đều lo sợ, nhưng họ vẫn giữ được niềm hy vọng.
Bệnh viện Marib phản ảnh tình trạng chung của đất nước Yemen hiện nay. Đội ngũ nhân viên y tế phục vụ tại đây đều là những người có nhiều kinh nghiệm. Hơi điện được cung cấp đầy đủ. Nước uống cũng tương đối sạch cho nên ít có trường hợp dịch tả xảy ra. Đã từng là pháo đài kiên cố của Al-Qaeda, nay Marib đã trở thành một thành phố đầy triển vọng giữa một Yemen đổ nát vì nội chiến. Cùng với làn sóng người tỵ nạn hồi hương, các công ty, ngân hàng và chuyên gia từ khắp nơi  cũng đổ xô về đây.
Trong hơn hai thập niên vừa qua, với dân số chỉ có khoảng 40.000 người, Marib đã từng là thủ phủ của Al-Qaeda. Không riêng người ngoại quốc không dám bén mảng đến thành phố này, mà người dân Yemen cũng luôn sống trong phập phồng lo sợ. Thành phố này cũng đã từng được cai trị bởi những bộ lạc sẵn sàng cho nổ tung các ống dẫn nước và phá hủy các đường giây điện để tống tiền. Đây cũng là nơi mà quân đội Mỹ thường xuyên sử dụng máy bay không người lái để ném bom xuống các sào huyệt của Al-Qaeda.
Thế rồi toàn bộ đất nước Yemen sụp đổ và Marib lại vùng lên. Năm 2011, với khí thế đang lên của Mùa Xuân Á Rập, hàng trăm ngàn người Yemen đã xuống đường chống lại chế độ độc tài của Tổng thống Ali Abdullah Saleh. Cuối năm đó, sau hơn 30 năm cầm quyền với bàn tay sắt, Tổng thống Saleh đã chấp nhận ra đi.
Sau một cuộc bầu cử tượng trưng, ứng cử viên độc nhất là phó tổng thống Abdrabbuh Mansur Hadi lên cầm quyền. Tân tổng thống cam kết sẽ tạo sự ổn định trong giai đoạn chuyển tiếp và giúp hòa giải các phe phái đang kình chống nhau. Tình hình Yemen ngày thêm rắc rối hơn bởi vì  quân đội phải đối đầu với các phiến quân thuộc Bộ lạc Houthi ở miền Bắc vốn được sự yểm trợ của Iran. Thật ra Bộ lạc Houthi đã nổi dậy ngay từ năm 2004. Trong khi đó tại miền Nam, Tỉnh bang Nam Yemen cũng đứng lên đòi lại độc lập mà họ đã mất về tay miền Bắc từ năm 1990.
Mặc dù đã từ chức, cựu Tổng thống Saleh vẫn nuôi tham vọng trở lại cầm quyền. Thừa nước đục thả câu, mặc dù trước kia ông đã từng ra lệnh ném bom xuống các lực lượng Houthi, nay ông lại tìm cách ve vãn họ. Một số các đơn vị thiện chiến của quân đội Yemen cũng ủng hộ ông. Mùa hè năm 2014, trước áp lực của Quỹ Tiền Tệ Thế Giới IMF, Tổng thống Hadi loan báo cắt giảm việc tài trợ xăng dầu cho dân chúng. Bất mãn trước biện pháp này, dân chúng ngả về phía Bộ lạc Houthi. Chính vì vậy mà tháng Giêng năm 2015, lực lượng Houthi, cùng với liên minh của cựu Tổng thống Saleh đã tiến chiếm Thủ đô Sanaa. Tổng thống Hadi phải bỏ trốn. Tình hình Yemen lại càng rối ren thêm khi Á Rập Saudi và các Vương quốc Á rập Thống nhất mở các cuộc không kích vô tội vạ xuống Thủ đô Sanaa. Các bệnh viện, khu dân cư và ngay cả các đám tang cũng đều bị oanh kích. Đáp lại các cuộc oanh kích của Á Rập Saudi và các vương quốc Á rập Thống nhất, Iran lại càng  cung cấp cho các lực lượng Houthi nhiều hỏa tiễn và mìn bẫy hơn.
Thủ đô Sanaa và các thành phố lớn của Yemen hoặc bị các lực lượng Houthi kiểm soát và bị Á rập Saudi oanh kích hoặc trở thành bãi chiến trường bất phân thắng bại giữa các phe phái. Có những nơi vừa mới thoát khỏi tay Al-Qaeda nay lại bị tàn phá bởi các cuộc giao tranh. Có những nơi, như trường hợp Aden, sau khi đẩy lui được các lực lượng Houthi lại trở thành miếng mồi để các phe phái một thời liên minh với nhau nay kình chống và xâu xé nhau.
Marib là một ngoại lệ. Nổi tiếng với nhiều đền đài cổ, Marib là vết tích của một lịch sử cổ kính đã có từ 3000 năm nay. Thành phố này đã từng là thủ đô của vương quốc cổ xưa Saba. Ngày nay, giữa một đất nước hoang tàn đổ nát, Marib vẫn đứng vững nhờ vị trí địa lý của nó. Ngay cả thời xa xưa, đập nước Marib cũng đã từng cung cấp nước cho thành phố và những vùng xunh quanh. Ngày nay, mực nước của đập vẫn còn cao. Bên cạnh đập nước là mỏ khí đốt tự nhiên có thể mỗi ngày cung cấp 1.900 tấn khí đốt, dầu diesel và dầu thô cho các nhà máy điện vốn là nguồn năng lượng duy nhất của cả nước.
Cuối năm 2015, cuộc chiến giữa các lực lượng Houhti và phe ủng hộ Tổng thống Hadi tại vùng Marib đã  kết thúc. Đã có khoảng từ 1.5 triệu đến 2 triệu người tỵ nạn từ khắp nơi trong nước đổ xô về Marib. Con số này hiện vẫn đang gia tăng. Phần lớn những người tỵ nạn kéo nhau về Marib đều thuộc thành phần nghèo khổ. Nhưng trong số này vẫn có những nhà doanh nghiệp cũng như bác sĩ, luật sư, ký giả và nghệ sĩ. Tất cả đều từng phải bỏ trốn khỏi những cuộc bắt bớ của các lực lượng Houthi tại Thủ đô Sanaa cũng như các cuộc giao tranh, các hoạt động khủng bố của Al-Qaeda và tình trạng tham nhũng.
Ngoài ra, những thành phần giàu có đã từng bỏ Marib ra đi từ nhiều thập niên trước nay cũng bắt đầu hồi hương. Trong số những người giàu hồi hương này, được nhắc đến nhiều nhất là tỷ phú trẻ Mohammed Zubaiyen, chỉ mới 26 tuổi nhưng đã làm chủ  công ty xây dựng nổi tiếng ZTCO hiện đang hoạt động mạnh tại Trung Đông. Rời khỏi Marib khi chỉ mới 9 tuổi, Zubaiyen du học tại Cambridge, Anh quốc và sau đó theo học tại Đại học Mỹ ở Dubai. Chính nhờ những nhà doanh nghiệp như Zubaiyen mà Marib ngày càng khởi sắc và phát triển. Gia đình Zubaiyen đang có dự án thiết lập tại Marib một khu doanh nghiệp lấy tên là “Đô thị Sheba”, rộng 6.5 cây số vuông, bao gồm 1.200 nhà ở cho cư dân, 3 trung tâm thương mại, văn phòng và kỹ nghệ.
Nhưng Marib không chỉ phát triển nhờ một mình các nhà doanh nghiệp. Họ không thể hoạt động nếu không được một người có thế lực đứng đàng sau là ông Sultan al-Arada, Tỉnh trưởng Marib. Ông Arada lên cầm quyền tại Marib từ năm 2012. Ông cũng là một trong những lãnh tụ bộ lạc quan trọng nhứt trong vùng. Sau lưng ông là các bộ lạc không chịu khuất phục trước sức mạnh của Bộ lạc Houthi. Những bộ lạc này cũng từng bị Hoa Kỳ dội bom chỉ vì bày tỏ thiện cảm với Al-Qaeda. Ngày nay, họ rút lui vào bóng tối nhưng chính quyền địa phương nào cũng cần được họ yểm trợ mới đứng vững.
Arada là một người khôn khéo. Đã từng là một dân biểu Quốc hội, ông luôn tỏ ra độc lập, nhất là không ngả về phe của Tổng thống Saleh.
Chính nhờ Tỉnh trưởng Arada mà Marib có được bộ mặt như ngày nay. Bộ mặt trí thức của thành phố rạng rỡ phần nào nhờ đại học mà hai phần ba giáo sư đều đến từ bên ngoài. Một nửa sinh viên của Đại học Marib là phái nữ. Phần lớn theo ngành giáo dục.
Với Tỉnh trưởng Arada, vấn đề khó khăn nhất hiện nay là thương lượng với các lực lượng Houthi hiện đang kiểm soát thủ đô của Yemen. Theo ông, việc các lực lượng Houthi chiếm đóng Thủ đô Sanaa là một đòn đánh vào các cơ chế của Yemen cũng như bản sắc của dân tộc. Bộ lạc Houthi lúc nào cũng nhấn mạnh rằng chỉ có dòng giống của Imam Hussein, người được Hệ phái Shiite xem như vị cứu tinh, mới có thể cai trị đất nước. Nhưng Tỉnh trưởng Marib khẳng định: một tham vọng như thế không thể thành sự thật!
Marib đã từng là một pháo đài của tổ chức khủng bố Al-Qaeda. Nhưng người dân Marib đã chứng minh cho thấy rằng ý thức hệ của tổ chức khủng bố này không có sức thuyết phục đối với dân chúng Marib. Theo ông Arada, nhiều chiến binh của tổ chức này đã bị bắt giữ và một số bị giết chết. Điều đáng nói là chính gia đình họ đã từ bỏ họ.
Điều đáng lo ngại cho Marib hiện nay chính là những cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ. Các hỏa tiễn được bắn đi từ các chiếc máy bay không người lái của Hoa Kỳ hiện vẫn tiếp tục trút xuống xung quanh Marib. Ông Arada cho biết: các cuộc không kích của Hoa Kỳ cũng sát hại nhiều thường dân. Đây chính là lý do khiến nhiều người ngả vào vòng tay của Al-Qaeda hơn là những cuộc tuyên truyền của họ. Ông Arada nói: “Chúng tôi mong Hoa Kỳ cho chúng tôi có cơ hội bắt giữ các nghi phạm trước khi họ tấn công”.
Dân chúng tại Marib không ngừng than phiền về sự can thiệp của các nước ngoài, nhất là Iran, rồi đến Mỹ và Tây Phương nói chung. Về phía các lực lượng Houthi cũng thế, họ lên án sự can thiệp thô bạo của Á Rập Saudi. Lý do chính để vương quốc này gây chiến là để đưa Tổng thống Hadi trở lại cầm quyền. Nhưng ông này hiện đang bị quản thúc tại Thủ đô Riyadh của Á Rập Saudi.
Yemen là bãi chiến trường của một cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa Á Rập Saudi và Iran, giữa các nước Hồi giáo theo hệ phái Sunni và các nước Hồi giáo theo hệ phái Shiite. Chẳng có nước nào quan tâm đến chuyện cứu vãn một đất nước đang bị xâu xé vì nội chiến. Và cũng chẳng có ai có đủ lạc quan để nghĩ đến một ngày sẽ hết chiến tranh.

(nguồn: http://www.spiegel.de/international/world/the-city-of-marib-is-flourishing-while-yemen-falls-apart)




Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2017

Đi tìm thinh lặng

Chu Thập
24/11/17
Thế giới ngày càng ý thức về hiểm họa của thời tiết thay đổi và hiện tượng trái đất bị hâm nóng. Cách đây 2 năm, tại Paris, Pháp Quốc, 196 quốc gia đã ký tên vào một Thỏa Ước nói lên cam kết giảm khí thải. Mới đây, dạo đầu tháng 11/2017 vừa qua, đại diện các nước cũng đã tập trung lại tại thành phố Born, Đức Quốc, để nói lên quyết tâm thực hiện những cam kết được đưa ra trong Thỏa Ước Paris. Riêng Tổng thống Pháp, Emmanuel Macron, trong một cuộc phỏng vấn dành cho Tạp chí Time hôm 7 tháng Mười Một vừa qua, đã cho biết đã mời các vị nguyên thủ quốc gia trên toàn thế giới đến Paris vào ngày 12 tháng Mười Hai tới đây để gia tăng nỗ lực trong cuộc chiến chống lại sự thay đổi thời tiết. Dĩ nhiên, Tổng thống Mỹ, Donald Trump, là người duy nhất không có tên trong danh sách khách mời đến Paris lần này, vì ông là người duy nhứt tuyên bố rút tên ra khỏi thỏa ước Paris. Nhìn chung, ngoại trừ Hoa Kỳ, ngay nay hầu như nước nào cũng tỏ ra lo ngại về hiểm họa của việc con người làm cho môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm.
Nhiệt độ trái đất gia tăng, không khí bị ô nhiễm là điều dễ thấy và dễ được cảm nhận nhứt. Nhưng bên cạnh không khí, còn có một yếu tố quan trọng khác của môi trường cũng  ngày càng bị kỹ thuật làm cho ô nhiễm. Yếu tố đó chính là sự thinh lặng! Con người cần có sự thinh lặng cho lỗ tai cũng như cần không khí trong lành cho buồng phổi.
Tôi được may mắn sống trong một nơi tương đối ít bị ô nhiễm về âm thanh. Phía sau nhà là lâm viên quốc gia. Một dãy núi đủ cao để che chắn được rất nhiều tiếng ồn từ các thị trấn bên cạnh. Nhà cũng cách xa con lộ chính cho nên cũng không phải bị tra tấn bởi làn sóng xe cộ qua lại suốt ngày. Ngoài ba tháng hè phải tập cho lỗ tai làm quen với bản hòa tấu liên tu bất tận của lũ ve sầu và thỉnh thoảng bị cưỡng bách phải thưởng thức tiếng trống xập xình của một nhạc sĩ tài tử cách nhà vài trăm thước hoặc tiếng máy cắt cỏ của những người hàng xóm...hầu như lúc nào tôi cũng có đủ sự thinh lặng để chiêm ngắm thiên nhiên và tập làm thiền sư.
Thật ra, dù có trốn chạy đi đâu, chẳng có ai có thể có được sự thinh lặng tuyệt đối. Hầu như ai cũng phải tập làm quen với những tiếng động mà mình bị bắt buộc phải nghe mỗi ngày. Tiếng nhạc inh ỏi, âm thanh từ màn ảnh truyền hình, tiếng của người khác đang nói chuyện trên  điện thoại, tiếng xe cộ và ngay cả tiếng chó sủa vào giữa đêm khuya...tất cả những âm thanh ấy đã trở thành một phần trong cuộc sống ngày càng bị đô thị hóa của con người thời đại. Và chính vì đã tập miễn nhiễm với tất cả những loại âm thanh ấy cho nên con người chẳng còn thấy bị quấy rầy nữa. Tuy nhiên, nếu âm thanh từ máy truyền hình làm cho bạn mất ngủ hay tiếng ồn của xe cộ qua lại bắt đầu làm cho bạn cảm thấy nhức đầu, thì đó không còn là tiếng ồn nữa mà đã biến thành ô nhiễm về âm thanh. Người ta thường chỉ nghĩ đến ô nhiễm của không khí hay thiên nhiên nói chung. Tuy nhiên, ô nhiễm về âm thanh cũng ảnh hưởng đến cuộc sống không kém gì ô nhiễm không khí.
Nếu không khí bị ô nhiễm vì khí thải thì kỹ thuật ngày càng tân tiến và các tiện nghi vật chất cũng làm cho âm thanh bị ô nhiễm không kém. Bên cạnh tiếng ồn của xe cộ và máy móc đủ loại, các sinh hoạt xã hội cũng làm cho âm thanh bị ô nhiễm không ít.
Âm thanh bị ô nhiễm đương nhiên ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Không kể đến một hậu quả trực tiếp của sự ô nhiễm về âm thanh là bị nặng tai, các cuộc nghiên cứu còn cho thấy ô nhiễm về âm thanh có thể khiến cho con người dễ trở nên dễ gây hấn, cáu kỉnh, giấc ngủ bị rối loạn dẫn đến những hậu quả khác như bị căng thẳng triền miên, mệt mỏi và cao huyết áp. Dĩ nhiên, càng về già thì những hậu quả này lại kéo theo nhiều chứng bệnh mãn tính trầm trọng khác.
Ô nhiễm về âm thanh cũng giảm bớt khả  năng thông tin và truyền đạt giữa người với người. Trong các sinh hoạt xã hội của người Việt Nam ở hải ngoại, tôi sợ nhứt là đám cưới. Nhạc sống chơi mà không cần biết thực khách có thưởng thức hay không. Ngồi sát bên nhau trong cùng một bàn ăn, có khi phải gào thét đến khàn cổ họng mất tiếng mà cũng chẳng nói với nhau được lời nào. Rời khỏi tiệc cưới lúc nào tôi cũng có cảm tưởng như được giải thoát!
Đối với tình trạng ô nhiễm không khí, lúc nào thế giới cũng cố gắng đi tìm giải pháp. Nhưng cho tới nay, không những thế giới ít quan tâm đến hiện tượng ô nhiễm về âm thanh, mà cũng không màng đến chuyện giải quyết vấn đề. Tôi tự mình đi tìm sự thinh lặng hơn là chờ đợi một giải pháp chung của quốc gia hay toàn thế giới. Tôi cũng biết rằng thinh lặng là một thứ xa xí phẩm mới mà rất nhiều người thời đại đang mơ ước và cố gắng đi tìm kiếm.
Erling Kagge là một người như thế. Một buổi sáng hồi tháng trước, văn sĩ và nhà thám hiểm Na Uy 54 tuổi này đang ngồi “thiền” trong một khu vườn vắng lặng bên cạnh một nhà thờ trong một khu được xem là yên tĩnh nhứt tại Manhattan, New York, Hoa Kỳ. Nhưng ông bảo: “Tôi chưa bao giờ tìm được một nơi hoàn toàn thinh lặng. Tôi đã từng đi tìm và tôi chưa bao giờ tìm thấy”.
Với ông, nơi được cho là yên tĩnh nhứt là Nam Cực. Năm 1993, ông đã trở thành người đầu tiên đi trượt tuyết ở Nam Cực mà không cần có người hướng dẫn và hộ tống bên cạnh. Trong liên tiếp 50 ngày đêm, ông sống một mình ở một nơi chỉ có tuyết. Được cảnh cáo cần phải mang theo một chiếc radio để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp, nhưng chỉ sau một ngày ông tháo bin và ném đi. Ông giải thích về hành động liều lĩnh của mình: “Một khi bạn vặn (radio), bạn sẽ nghe tất cả mọi tiếng ồn trong đầu bạn”. Ngày cuối cùng sau 50 ngày sống một mình ở Nam Cực, ông cho biết: đầu óc ông rộng hơn cả bầu trời; ông cảm thấy như được kết hợp với vũ trụ bao la. Ông khẳng định: “Được ở một mình và cảm nghiệm được sự thinh lặng, bạn sẽ có được cảm giác rất an toàn và đầy ý nghĩa”.
Kinh nghiệm về 50 ngày sống một mình ở Nam Cực và những trải nghiệm về sự thinh lặng đã được ông Kagge ghi lại trong một cuốn sách có tựa đề “Thinh lặng trong thời đại ồn ào” (Silence in the Age of Noise), được cho ra mắt vào ngày 21 tháng 11 vừa qua. Theo tác giả, thinh lặng đã trở thành một thứ “xa xí phầm mới” trong thời đại này.
Không riêng các tu sĩ của các tôn giáo, mà hầu hết các nghệ sĩ, nhạc sĩ và ngay cả ký giả nào muốn làm việc nghiêm chỉnh cũng đều tìm đến những nơi yên tĩnh, giam mình trong những căn phòng chống tiếng động. Đó là những nơi yên tĩnh đến độ họ có thể nghe được hơi thở của chính mình. Trang mạng có tên Daily Stoic (sống khắc kỷ từng ngày) ghi lại lời khuyên của nhà hiền triết Hy Lạp Epictetus (55 -135 trước Công nguyên): “Hãy thinh lặng gần như mọi lúc”.
Phần lớn những tiếng ồn của thời đại mà con người muốn  thoát khỏi đều xuất phát không phải từ những âm thanh cực mạnh hay những tiếng nói xé tai, mà từ vô số những sinh hoạt được cho là giải trí. Khi viết cuốn sách “Silence in the Age of Noise”, nhà văn Kagge giải thích rằng ông tìm được nguồn cảm hứng từ chính 3 cô con gái của ông, tuổi từ 15 đến 21. Cả ba đều đã lớn lên với một vật bất ly thân là chiếc điện thoại Iphone. Ông giải thích: “Mấy cô con gái của tôi không hề biết được thế nào là thinh lặng. Với chúng lúc nào cũng có một biến cố đang xảy ra, lúc nào cũng có cám dỗ”. Theo ông, dù sống ở đâu và thời đại nào, con người cũng cần có thinh lặng. Thinh lặng không phải là “thời trang”, mà là điều mà con người đã cần đến từ hàng ngàn năm trước.
Rời bỏ ngôi nhà ở Thủ đô Oslo, Na Uy, ông đã tìm đến New York. Với ông, tìm được sự thinh lặng ở New York cũng khó khăn như đi đến Nam Cực. Ông xem đây như một thách đố: tìm kiếm sự thinh lặng giữa nơi phố chợ ồn ào!
Trong cuốn sách, ông Kagge trích dẫn câu nói nổi tiếng của nhà khoa học kiêm triết gia Pháp Blaise Pascal (1623- 1662): “Tất cả mọi vấn đề của nhân loại đều bắt nguồn từ việc con người không thể ngồi yên một mình trong phòng”.
Về phần mình, ông Kagge gợi ý: “Tôi không khuyên mọi người phải vào một tu viện. Chúng ta là những con người có tính xã hội. Nhưng chỉ trong thinh lặng, chúng ta mới có thể tìm gặp chính mình”.
Sau một thời gian đi tìm sự thinh lặng ở những nơi được xem là yên tĩnh nhứt ở Manhattan, một buổi chiều nọ ông ra một bến tàu nhìn về hướng Nữ thần Tự Do. Tại đây, ông bắt gặp một cặp tình nhân trẻ cũng đang đi bộ dọc theo bến tàu. Họ vừa đi vừa trao cho nhau những lời thì thầm đầy âu yếm. Ông đứng lặng một thời gian dài, nhìn mặt trời từ từ khuất trên bóng nước. Ông chợt nhận ra một điều  thú vị: “Thật là dễ dàng để nghĩ rằng thinh lặng là quay lưng lại với thế giới. Nhưng với tôi thì ngược lại. Thinh lặng chính là mở lòng ra với thế giới, trân quý và yêu cuộc sống nhiều hơn” (x.https://www.nytimes.com/2017/11/11/style/in-search-of-silence),
Những trải nghiệm của Tác giả Kagge trong cuộc hành trình đi tìm sự thinh lặng cho tôi “ngộ” ra một điều: thinh lặng nội tâm là điều cần thiết hơn cả.
Hiện tôi đã có được một môi trường sống tương đối thinh lặng. Tôi không bị quá nhiều tiếng ồn quấy nhiễu. Tôi cũng có thể ngồi yên một mình trong ngôi vườn nhìn vào lâm viên bốn bề thinh lặng. Tôi lại càng ngồi yên một mình hơn nữa ít nhứt mỗi tuần đôi ba lần khi đi câu cá. Nhưng cũng vì có một không gian thinh lặng như vậy nên tôi lại nhận ra rằng tâm của tôi vẫn còn dễ bị “vọng động” bởi đủ thứ tham sân si.
Thì ra sự thinh lặng cần thiết hơn cả mà tôi cần phải không ngừng tìm kiếm chính là thinh lặng trong cõi lòng. Thinh lặng để trước hết nghe được hơi thở của tôi, nghe được tiếng nói của thân xác tôi, cảm nhận được cảm giác mệt mỏi hay vui buồn của tôi, hiểu được nhu cầu của thân xác tôi. Thân xác cần được lắng nghe, quan tâm và săn sóc.
Nhưng quan trọng hơn cả, tôi cần có thinh lặng nội tâm để lắng nghe tiếng nói của lý trí và lương tâm. Những quyết định vội vàng thiếu chín chắn, những hành động thiếu suy nghĩ và nông nổi, những lời nói thiếu trách nhiệm của tôi hầu hết đều xuất phát từ thái độ thiếu lắng nghe của tôi đối với tiếng nói của lương tri và lẽ phải.
Và cuối cùng, tôi cần có thinh lặng nội tâm để biết lắng nghe tiếng nói của những người xung quanh, nhứt là những người đang cần được tôi lắng nghe. Xét cho cùng, như Tác giả Kagge đã cảm nghiệm được, tôi chỉ thực sự có được thinh lặng khi “mở lòng ra với thế giới, trân quý và yêu cuộc sống nhiều hơn”. Một sự thinh lặng như thế, ngay cả giữa nơi đô hội hay phố chợ ồn ào, tôi vẫn có thể tìm được.