Hiển thị các bài đăng có nhãn Phiếm Giáng Sinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phiếm Giáng Sinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

Thời ông Ba Bị!

 

                                             

                                                


                                              

 

Từ ngày trốn khỏi Việt Nam đến nay, tính ra tôi cũng đã sống ở nước ngoài trên 40 năm. Phần lớn tại những nước nói tiếng Anh. Vậy mà cho tới nay, tiếng Anh của tôi vẫn còn ở tình trạng “ăn đong”. Mỗi lần đọc sách báo bằng Anh ngữ, tôi vẫn cứ kè kè quyển tự điển bên hông hoặc cầu cứu ông Google.

Tuy có mất giờ, nhưng tôi vẫn xem việc tra tự điển liên miên như thế là một thao tác hữu ích cho một người già lú lẫn như tôi. Tôi “phục lăn” tổng thống Mỹ Donald Trump. Cùng một tuổi với tôi, vậy mà mới đây, khi nói về trí lực, mặc dù thường ngủ gục trong những lần họp nội các, ông  khẳng định rằng ông minh mẫn, sắc bén” hơn cách đây 25 năm (1). Không những “phục lăn” ông, tôi cũng “thích” cách nói chuyện của ông. Nó đơn giản, dễ hiểu vì chỉ quanh quẩn với một số từ quen thuộc. Tự đề cao mình hay các chính sách của mình thì chỉ cần năm ba chữ như “to” (big), “đẹp” (beautiful), “tuyệt vời” (wonderful)...Còn như để phê bình, chê bai hay ngay cả rủa sả các đối thủ hay những ai dám thách thức ông thì lúc nào ông cũng tuôn ra mấy chữ như: “ngu” (stupid), “chỉ số thông minh thấp” (low I.Q), “kẻ thua cuộc” (loser), “hạng hai” (second grade), “ác” (nasty), “đồ mất trí” (lunatic). Còn để miệt thị một dân tộc nào đó, ông gọi họ là “đồ rác rưởi” (garbage) hay “hố xí” (shithole country) ...Dù sao cũng có những từ hoặc cụm từ thường được ông dùng, đối với riêng tôi, không đơn giản chút nào. Một trong những cụm từ đó là “săn phù thủy” (witch hunt). Tôi bắt đầu nghe cụm từ này kể từ khi có cuộc điều tra về việc Nga can thiệp vào cuộc bầu cử ở Mỹ hồi năm 2015. Kể từ đó, cứ mỗi lần có cuộc điều tra nào dính tới ông thì đó là một cuộc “săn phù thủy”.

Vốn theo truyền thống “chữ nghĩa” của Việt Nam ngày xưa, cho nên hễ gặp một từ mới thì tôi luôn cố gắng “lần” ra ngọn nguồn và “nghĩa” của từ đó.

Tuy ít được nhắc tới nhiều như các cuộc thập tự viễn chinh, các tòa điều tra, các cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Công giáo và Tin Lành, nhưng các cuộc săn phù thủy từ thời Trung cổ cho đến Thế kỷ thứ 17 cũng là một trong những trang sử đen tối của Kitô giáo tại Âu Châu.

Điều đáng chú ý là tuyệt đại đa số các “phù thủy” bị săn lùng đều thuộc nữ giới. Ngay cả ngày nay, hầu như tất cả các nhân vật phù thủy trong sách báo hay phim ảnh cũng vẫn là phụ nữ. Theo sử gia Yuval Noah Harari, các cuộc săn lùng phù thủy tại Âu Châu có lẽ bắt nguồn từ một “lời dạy” của thánh Phaolô trong lá thư thứ nhứt của ngài gởi cho người môn đệ tên là Timôtêô. Thật vậy, trong một đoạn thư, vị thánh được cho là nhà thần học đầu tiên của Kitô giáo viết rằng: “Tôi không cho phép đàn bà giảng dạy hay thống trị đàn ông, trái lại họ phải thinh lặng, vì Adam được tạo dựng trước rồi mới đến Eva. Cũng không phải Adam đã bị dụ dỗ, nhưng người đàn bà đã phạm tội, khi bị dụ dỗ” (1 Tim2, 12-14).

Dựa trên đoạn văn trên đây, các “nhà thần học” thời Trung Cổ suy ra rằng vì dễ bị dụ dỗ cho nên phụ nữ được Satan (Ma Quỉ) dùng để chống lại Kitô giáo, hủy hoại trật tự xã hội và tiêu diệt nhân loại. Theo các "nhà thần học" này, cứ đêm đến các phù thủy thường tập trung lại để thờ lạy Satan, giết hại trẻ con, ăn thịt người cũng như đọc thần chú để tạo ra sấm sét, dịch bệnh và những tai họa khác.

Những cuộc săn lùng phù thủy đầu tiên đã diễn ra tại những vùng hẻo lánh ở phía đông dãy núi Alpes từ giữa năm 1428 đến năm 1436. Đã có khoảng hơn 200 người bị kết án hay nghi ngờ là phù thủy bị giết chết. Nhưng đó chỉ là những cuộc săn lùng và hành quyết lẻ tẻ diễn ra tại một số địa phương. Các nhà lãnh đạo tôn giáo vẫn còn tỏ ra nghi ngờ về sự hiện diện và tác động của các phù thủy trong các cộng đồng tôn giáo. Tuy nhiên vào năm 1485, một tu sĩ dòng Đa Minh người Áo tên là Heinrich Kramer, người đã từng là một phán quan trong các cuộc điều tra và trừng phạt những người bị xem là “lạc giáo”, đã tung ra một cuốn sách có tựa đề “Chiếc búa của các phù thủy” (The hammer of the witches). Đây là một cuốn cẩm nang hướng dẫn việc săn lùng, tố cáo và hạ sát các phù thủy. Với sự ra đời của máy in do Gutenberg phát minh, cuốn cẩm nang của Kramer đã được phổ biến rộng rãi trong dân chúng. Người ta bắt đầu nghe nói tới những cuộc hoang dâm, sát hại trẻ con và những âm mưu độc ác của Satan. Nỗi sợ hãi bao trùm xã hội và dĩ nhiên cũng làm phát sinh những cơn cuồng nộ dẫn đến cả một chiến dịch rộng rãi trong việc săn lùng và tàn sát phù thủy. Với chiến dịch do cuốn cẩm nang của Kramer phát động, người ta đã “phát hiện” trên khắp Âu Châu khoảng một triệu tám trăm ngàn phù thủy. Riêng tại Pháp, con số phù thủy cũng ước tính lên đến 300.000 người. Trong hai thế kỷ 16 và 17, con số phù thủy bị tra tấn và hành quyết không dưới 50 ngàn người. Dĩ nhiên, tất cả đều là những nạn nhân vô tội thuộc mọi thành phần trong xã hội. Có cả những trẻ em mới 5 tuổi cũng bị khép vào tội hành nghề phù thủy!

Một trong những cuộc săn lùng phù thủy dã man nhứt đã diễn ra tại hai thành phố ở miền nam nước Đức vào cuối Thế kỷ 17 là Bamberg và Wurzburg. Tại Bamberg, một thành phố chỉ có 12 ngàn dân, vậy mà có đến 900 người vô tội bị tố cáo làm phù thủy đã bị hành quyết. Tại Wurzburg, với dân số khoảng trên 11 ngàn người, vậy mà cũng đã có 1.200 người bị tra tấn và giết chết.

Sau không biết bao nhiêu chết chóc như thế, giáo quyền mới cho mở cuộc điều tra và cuối cùng đã tuyên bố rằng “đã không tìm thấy bất cứ một bằng chứng nào cho thấy có hoạt động phù thủy” và cũng “chẳng có phù thủy nào hay người nào bị phù thủy ám hại ngoại trừ chỉ nghe nói đến và được viết ra”(2).

Nói theo ngôn ngữ quen thuộc của ông Trump, các cuộc săn lùng phù thủy tại Âu Châu từ thời Trung Cổ cho đến Thế kỷ 17 chỉ là một “cú lừa bịp” (hoax). Người ta dựng lên một câu chuyện và chọn một thành phần xã hội dễ bị tổn thương nhứt để trút lên đầu họ mọi tội ác trong xã hội để có cớ tẩy chay, truy lùng và sát hại họ.

Theo sử gia Harari, có lẽ cuốn cẩm nang săn lùng phù thủy của ông thày dòng Kramer cũng đã trở thành cẩm nang của những người cộng sản Nga trong chiến dịch săn lùng thành phần “địa chủ” (Kulak). Trong thập niên 1930, dưới thời Stalin, chiến dịch tập thể hóa nông nghiệp đã gặp thất bại nặng nề, dẫn đến sự phản kháng của nông dân và một sự thất bại kinh tế chưa từng có. Trăm dâu đổ đầu tằm. Chính quyền cộng sản tung ra một thuyết âm mưu và trút lên đầu những người bị gán cho nhãn hiệu “địa chủ” mọi thứ tai họa ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước. Stalin tuyên bố “địa chủ” là một giai cấp cần phải bị xóa bỏ. Theo lời hiệu triệu của Stalin, toàn đảng, toàn lực lượng an ninh đã bắt tay vào cuộc truy lùng và tiêu diệt giai cấp “địa chủ”. Dĩ nhiên, như người dân Việt Nam đã từng chứng kiến, sao chép lại bản sao từ Trung Cộng dưới thời Mao Trạch Đông, Đảng cộng sản Việt Nam dưới thời Hồ Chí Minh cũng đã áp dụng chính sách truy lùng và tiêu diệt thành phần địa chủ của Stalin trong cuộc đấu tố hồi thập niên 1950. Tính chung, trong cuộc truy lùng địa chủ Nga dưới thời Stalin, đã có khoảng 5 triệu người bị đuổi ra khỏi nhà của họ và không dưới 30 ngàn chủ hộ bị mang ra hành quyết (3).

Nhìn chung, cuộc săn lùng phù thủy ở Âu Châu và cuộc truy lùng và tiêu diệt thành phần địa chủ dưới thời Stalin có chung một mẫu số: tìm cho được một thành phần xã hội để trút lên đầu họ mọi thứ tai họa trong xã hội và truy lùng, sát hại họ để tạo ra hoang mang và sợ hãi. Ngày xưa, người Do Thái trong sách Cựu Ước cũng đã từng làm như thế, nhưng họ chỉ trút mọi tội lỗi của họ lên đầu những con dê. Trong cuộc săn lùng phù thủy và trong chiến dịch tiêu diệt giai cấp địa chủ của Stalin, những “con dê tế thần” lại chính là những con người bằng xương bằng thịt!

Cuộc săn lùng phù thủy tại Âu Châu và chiến dịch tiêu diệt giai cấp địa chủ tại Nga dưới thời Stalin chỉ là 2 trường hợp điển hình. Lịch sử thế giới hẳn không thiếu những cuộc săn lùng như thế. Và dĩ nhiên, có lẽ ông Trump, dù bị cho là không thông minh, nhưng có lẽ cũng đã hiểu rõ hơn ai hết thế nào là “săn lùng phù thủy” và áp dụng thuật ngữ này một cách rạch ròi và thành công hơn ai hết. Như cả thế giới đều đã và đang chứng kiến, chiến dịch “hấp dẫn” và có sức thuyết phục nhứt của ông đối với người dân Mỹ nói chung chính là chính sách di trú. Trong chiến dịch tranh cử trong nhiệm kỳ thứ nhứt, chiến dịch thu hút nhứt của ông là “Xây Bức Tường” (Build the Wall) ở biên giới phía nam để ngăn chặn làn sóng di dân lậu từ Mễ Tây Cơ và các nước Nam Mỹ nói chung. Cùng với khẩu hiệu “Xây Bức Tường”, ông đã trút lên đầu người di dân mọi thứ tội lỗi như ăn cướp công ăn việc làm của người dân Mỹ, buôn lậu ma túy vào Mỹ, hãm hiếp phụ nữ Mỹ, trở thành gánh nặng cho Mỹ, gây xáo trộn và bất ổn cho xã hội Mỹ hoặc có khi còn tệ hơn, “di dân là đồ súc vật”(4)...Đang bất mãn vì tình trạng chính trị, kinh tế, xã hội và cuộc sống của mình, người dân Mỹ rất “khoái tai” khi nghe những cáo buộc dành cho người di dân như thế. Chính vì thế mà họ đã dồn phiếu cho ông và ngay cả khi ông đã hoàn toàn thất bại trong nhiệm kỳ đầu, người dân Mỹ vẫn muốn đưa ông trở lại Tòa Bạch Ốc một lần nữa. Tất cả hay có thể nói phần lớn là nhờ chính sách di dân của ông. Được nước làm tới, trong nhiệm kỳ thứ hai này, chính sách di dân của ông đã được đẩy mạnh tới mức mà người ta chỉ có thể gọi là tội ác đối với người di dân.

Người dân Mỹ, nói chung, vẫn tiếp tục “sợ” người di dân. Ông Trump vẫn tiếp tục thành công trong chiến dịch “hù dọa” họ với những con ngáo ộp di dân. Chính vì sợ một điều không tưởng mà người ta đã không những ủng hộ mà còn sùng bái một con người mà một cựu luật sư của Tòa Bạch Ốc trong nhiệm kỳ đầu của ông Trump là ông Ty Cobb đã gọi là con người “tồi tệ hơn bất kỳ người nào trong lịch sử” của nước Mỹ(4).

Sợ và sợ những điều tưởng tượng vốn là đặc tính của trẻ con. Có đứa trẻ Việt Nam nào mà không sợ mỗi khi người lớn đưa “ông Ba Bị” ra hù dọa. Mỗi lần nhớ tới “ông Ba Bị” của tuổi thơ, tôi lại nhớ đến hai câu thơ của cụ Tản Đà: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn. Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”.

Bốn ngàn năm văn hiến mà vẫn còn là trẻ con, thì 250 năm lịch sử có lẽ cũng chưa hẳn đã đủ dài để thật sự gọi là lớn đủ nếu vẫn còn cuộn mình trong vỏ ốc của ích kỷ và hận thù.

Mùa Giáng Sinh năm nay, thay cho “ông Ba Bị” với những lo sợ láo lếu của một người chuyên “tuôn” phù thủy vào đầu người dân, tôi cầu mong ông già Noel mang chiếc bị đầy những cái nhìn thân thiện, yêu thương và cảm thông đến tặng mọi người, để mỗi khi chúng ta nhìn nhau, chúng ta thấy được sự đẹp đẽ, chân tình và ngay cả khổ đau trong tâm hồn và thân xác của những người quanh ta.

Bình an dưới thế cho người thiện tâm!

Chu Văn

 

 

 

 

 

 

 

Chú thích

1.Trump said he was ‘sharper than I was 25 years ago’...Aaron Blake, CNN 5/12/2025.

2.Yuval Noah Harari, Nexus, a brief history of information networks from Stone Age to AI, Random House, New York, 2024, trg 91-101.

3.Sđd trg 167-171.

4.”Aliens” and “animals”- language of hte used by Trump...The Conversation, January 30, 2025

5. Fact Check: former White House lawyer Ty Cobb on Trump: “ worse than anyone in our history, Yahoo news September 8,2025.

 

                                                                                                                                            

                       

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2024

Chúc những ngày nghỉ lễ hạnh phúc!

 

                          

                                                                                                                                                        

 


Một ông bạn “đồng đạo” thỉnh thoảng gọi điện thoại để tâm sự về “chuyện đạo”. Mới đây ông cho biết cậu con trai út của ông đã mua được nhà và dọn ra riêng. Con cái đến tuổi trưởng thành có được cuộc sống tự lập là điều đáng mừng. Nhưng ông bạn tôi lại than rằng con trai ông dọn ra riêng là để được sống “tự do” với cô bạn gái của nó. Mà cô bạn gái này lại mới “trở lại đạo”, nghĩa là mới được “rửa tội” để trở thành một người công giáo thực thụ. Ông bạn đồng đạo của tôi “phán”: “Vậy là chúng nó đang sống trong tội lỗi, bởi vì theo giáo huấn của Giáo hội Công giáo, hai người công giáo “ăn ở” với nhau mà không có “phép đạo”, nghĩa là không chính thức cưới hỏi trong nhà thờ là “rối đạo”. Có đến nhà thờ thì cũng không được lên rước Chúa Giêsu hiện diện trong bánh thánh”.

Ông bạn đồng đạo của tôi còn nói đến một thứ tội khác mà cậu con trai út của ông và cô bạn gái của nó đang “phạm”, đó là sử dụng các phương tiện ngừa thai nhân tạo, bởi vì giáo huấn của Giáo hội nghiêm cấm sử dụng các phương tiện này. Về giáo huấn này thì những người công giáo ở tuổi U80 như ông bạn đồng đạo của tôi và tôi đều rành “sáu câu”. Còn nhớ vào khoảng đầu thập niên 1960 của thế kỷ trước, tại các nước Tây Phương đã nổ ra điều thường được gọi là “cuộc cách mạng tình dục” và hệ quả của nó là “cuộc giải phóng phụ nữ”. Một cách cụ thể, nhờ các phương tiện như viên thuốc ngừa thai, bao cao su (condom), vòng xoắn, cắt ống dẫn tinh...việc ngừa thai được an toàn hơn, chức năng của người phụ nữ không chỉ giới hạn trong việc “mang nặng đẻ đau”, vợ chồng có thể lên kế hoạch về số con cái họ có thể nuôi dạy phù hợp với tình trạng kinh tế của gia đình, sức khỏe của người phối ngẫu được bảo đảm và dĩ nhiên tình yêu lứa đôi cũng có ý nghĩa hơn...Đứng trước cuộc cách mạng này, các nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo trên khắp thế giới và rất nhiều giáo dân không khỏi hoang mang. Họ muốn nghe được tiếng nói chính thức của Giáo hội. Năm 1968, nhà lãnh đạo tối cao của Giáo hội lúc bấy giờ là Giáo hoàng Phaolô VI liền cho thành lập một ủy ban gồm một số chuyên gia thuộc nhiều lãnh vực khác nhau như thần học, khoa học, y tế, xã hội học, tâm lý học...để tham khảo ý kiến. Sau một thời gian thảo luận, ủy ban đã đệ trình lên kiến nghị yêu cầu cho phép người giáo dân được sử dụng các phương tiện ngừa thai nhân tạo. Nhưng nhân danh quyền giảng dạy tối thượng trong Giáo hội, Giáo hoàng Phaolô VI đã cho công bố giáo huấn có tên là “Thông điệp Sự sống Con người” (Humanae Vitae) nghiêm cấm việc sử dụng các phương tiện ngừa thai nhân tạo. Kể từ đó, người công giáo có thể mắc thêm một cái tội nữa là tội sử dụng các phương tiện ngừa thai nhân tạo!

Ông bạn đồng đạo của tôi cũng có lần nói đến sự “bối rối” của các quân nhân công giáo trước năm 1975. Công tác xa nhà, hành quân nay đây mai đó, thỉnh thoảng mới được vài ngày phép về thăm gia đình, kinh tế gia đình èo ọp, lại sống nay chết mai...liệu có quân nhân công giáo nào có thể triệt để tuân hành giáo huấn của Giáo hội không?

Chiến đấu một mất một còn ngoài  trận mạc, các quân nhân công giáo trước năm 1975 hẳn còn phải trải qua một cuộc chiến đấu nội tâm cam go hơn khi phải đối đầu với giáo huấn của Giáo hội. Nhưng nhắc đến tình cảnh éo le của các quân nhân công giáo, tôi không thể không liên tưởng đến số phận có lẽ còn thảm thương hơn của nhiều người công giáo tại nhiều nước Phi Châu trong cuộc chiến chống lại dịch bệnh Aids-HIV (Sida). Khi cơn dịch bệnh hiểm nghèo này bùng phát tại lục địa đen, Tổ chức Y tế Thế giới, Liên Hiệp Quốc và các nước Tây Phương đều xem việc sử dụng bao cao su như phương thế hiệu nghiệm nhứt để phòng chống lại nó. Nhưng các nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo vẫn khăng khăng lên án biện pháp phòng chống này. Năm 2005, ký giả John Thavis, đặc phái viên của hãng tin công giáo Hoa Kỳ Catholic News Service tại Vatican, đã ghi lại lập trường của Giáo hoàng Benedictô XVI trong chuyến viếng thăm Phi Châu đầu tiên của ngài. Trên chuyến bay từ Ý sang Cameroun, khi được các ký giả tháp tùng hỏi về giáo huấn của Giáo hội đối với việc sử dụng bao cao su để phòng chống dịch bệnh Aids-HIV, vị giáo hoàng này đã trả lời một cách dứt khoát rằng “bạn không thể giải quyết vấn đề bằng việc phân phát bao cao su; trái lại bao cao su làm cho vấn đề thêm tồi tệ hơn” (1).

Ôn lại giáo huấn luân lý của Giáo hội Công giáo về hôn nhân, tính dục và nhứt là vấn đề ngừa thai bằng những phương pháp nhân tạo, ông bạn đồng đạo của tôi đã có lúc thở dài như để bày tỏ một chút cảm thông với cậu con trai út của mình: “Người công giáo tụi mình đã được dạy dỗ ngay từ nhỏ để nhìn đâu cũng thấy tội”.

“Nhìn đâu cũng thấy tội” cho nên cử chỉ tiêu biểu nhứt của người công giáo ở mỗi đầu thánh lễ chính là đấm ngực xưng thú “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Một nhà báo Việt Nam ở California, cứ mỗi lần nói đến người công giáo, luôn gọi họ là dân “đấm ngực”!

Ngay từ lúc lên bảy, tôi đã biết đấm ngực. Thật vậy, 7 tuổi, tôi đã được dạy và buộc phải đi xưng tội hai tuần một lần. Tôi vẫn còn nhớ mãi: một vị linh mục người Pháp khi về làm quản nhiệm xứ đạo của tôi đã phát cho mỗi đứa trẻ một cuốn sổ để mỗi lần đi xưng tội được ông ký tên vào đó. Mỗi lần trình diện để xưng tội là một cực hình đối với đứa trẻ 7 tuổi như tôi: lục xét mãi mà không tìm ra tội thì đành phải “phịa” thôi!  Nhưng có lẽ tôi không bao giờ quên được những cú tát tai in năm ngón tay trên má từ một vị linh mục người Việt Nam. Tôi bị trừng phạt ngay trong nhà thờ và trước mặt mọi người chỉ vì cái tội trốn học giáo lý.

Tôi sợ ông cha sở. Tôi sợ các bà “xơ”. Và dĩ nhiên tôi sợ tội. Tôi sợ nhứt là tội bỏ lễ và “làm việc xác” ngày chúa nhựt. Bà mẹ rất mực “đạo đức” của tôi lúc nào cũng hù dọa: bỏ lễ chúa nhựt mà “chết tươi ăn năn tội chẳng kịp” thì chắc chắn phải “sa hỏa ngục đời đời kiếp kiếp” mà thôi.

Thời đó, tức giữa thập niên 1950 của thế kỷ trước, thỉnh thoảng có các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế đến xứ đạo của tôi để gọi là “giảng tuần đại phúc”. Trong suốt một tuần, các bài giảng của các vị linh mục này hoàn toàn tập trung vào chủ đề “hỏa ngục”. Với tài hùng biện mà các cha sở thường không có, các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế mô tả “hỏa ngục” với những hình ảnh sống động và khủng khiếp như thể các vị vừa mới đi chầu Diêm Vương trở về. Ai nghe mà chẳng sợ phải “sa hỏa ngục đời đời kiếp kiếp!”

Tôi được dạy dỗ để nhìn đâu cũng thấy tội, để sợ tội và sợ hỏa ngục. Và dĩ nhiên, cùng với nỗi sợ ấy, tôi cũng bị nhồi nhét vào đầu tinh thần bất khoan nhượng. Không rõ ông bà tổ tiên của tôi từ đâu và lúc nào đã có mặt trong xứ đạo. Chỉ biết xứ đạo nguyên thủy là một làng của người Chàm. Hiện nay trong làng vẫn còn rất nhiều bia mộ của người Chàm. Lúc nhỏ có những đêm tôi lén đi theo người lớn để xem cảnh đào mả Chàm để lấy vàng. Có một số người chết vì “bệnh lạ”. Người ta bảo đó là những người đã bị vàng của người Chàm “bắt”! Người công giáo sống giữa những di tích của người Chàm và dĩ nhiên cũng hòa đồng với những người ngoài công giáo. Giữa làng có một ngôi đình. Lẽ ra đó là một cơ sở văn hóa và xã hội để mọi người dân làng có thể gặp nhau mỗi năm ít nhứt một lần. Nhưng người công giáo vẫn xem đó là nơi cư ngụ của ma quỷ chỉ dành riêng cho “kẻ ngoại” hay “người lương” mà thôi. “Kẻ ngoại” hay “người lương” là những người không được rửa tội.  Trong cuộc sống hằng ngày, họ là ông bà, cô dì, chú bác và anh em họ của tôi. Nhưng trong thâm tâm, người công giáo trong xứ đạo của tôi vẫn xem họ là “kẻ ngoại”, là “người ngoài”. Dù có ăn ngay ở lành cỡ nào, nếu chết mà không được rửa tội thì họ cũng phải sa hỏa ngục mà thôi. Ngay cả con nít mới lọt lòng mẹ mà chết trước khi rửa tội thì cũng đâu có được lên thiên đàng!

Tôi đã được dạy dỗ để nhìn đâu cũng thấy tội, để sợ hỏa ngục và cũng để nhìn người khác đạo với cái nhìn bất khoan nhượng như thế. Cuốn giáo lý mà bọn trẻ công giáo chúng tôi phải “tụng” mỗi ngày được gọi là “ cuốn thiên”, nghĩa là cuốn sách gồm có “chín thiên và mười giái” (“giái” là giới nói theo giọng địa phương). “Thiên” thứ nhứt xướng như sau: “Thiên Chúa Nhứt Thể Tam vị đệ nhứt thiên”. Câu hỏi thưa đầu tiên là : “Hỏi có mấy đàng lên thiên đàng? Thưa có một đàng rất chánh rất thật là đạo thánh Đức Chúa Trời”! Ngoài “ đàng” ấy ra thì tất cả mọi con đường khác đều dẫn xuống hỏa ngục!

Ngày nay, gần đất xa trời, đã đến lúc cần phải “về thu xếp lại”, càng suy nghĩ về con đường mình đã đi qua, tôi càng hiểu được tại sao đã có những cuộc thánh chiến, những cuộc thập tự viễn chinh, những giàn hỏa thiêu dành cho những người bị xem là lạc giáo, và cả những cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa những người cùng tôn thờ một Thiên Chúa...Trong tác phẩm “Sapiens”, tóm tắt lịch sử của nhân loại, sử gia Yuval Noah Harari, hiện đang giảng dạy tại Đại học Jerusalem, Israel, đã có một nhận xét khá lý thú về các tôn giáo độc thần. Theo tác giả, các tôn giáo độc thần như Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo là những tôn giáo có chủ trương bách hại các tôn giáo khác hơn là đa thần giáo. Riêng về Kitô giáo, sử gia Harari ghi nhận rằng trong suốt 300 năm trước khi Hoàng đế Constantino trở thành một tín hữu Kitô, các hoàng đế La Mã đã phát động 4 cuộc bách hại các tín hữu Kitô. Nhưng trong suốt 3 thế kỷ, con số các tín hữu Kitô bị sát hại chỉ có vài ngàn người. Trong khi đó, trong 1500 năm tiếp theo sau đó, con số nạn nhân bị tàn sát trong cuộc chiến tương tàn giữa các tín hữu kitô để gọi là bảo vệ tôn giáo của “tình yêu và sự cảm thông”  lên đến hàng triệu người... Theo ông, “những người theo các tôn giáo độc thần có khuynh hướng cuồng tín và truyền đạo hơn những người theo đa thần giáo”(2).

Nhìn lại cuộc bầu cử tổng thống vừa qua tại Hoa Kỳ, tôi vẫn xem tôn giáo là một yếu tố quan trọng. Kể từ năm 2016 đến nay, sự ủng hộ của các tín hữu Tin Lành Mỹ dành cho ông Donald Trump vẫn không suy suyển. Riêng trong cuộc bầu cử vừa qua, theo  kết quả của một cuộc thăm dò được báo The Washington Post cho phổ biến liền sau cuộc bầu cử, đã có đến 56 phần trăm người công giáo Mỹ ủng hộ ông Trump(3). Nhìn chung, lá phiếu của các tín hữu Kitô là một trong những yếu tố quan trọng mang lại chiến thắng cho ông Trump.

Đa số các tín hữu Kitô Mỹ đã dồn phiếu cho ông Trump vì họ tin rằng ông là người được Thiên Chúa tuyển chọn giống như một số nhân vật lịch sử của Do Thái Giáo. Chính ông cũng muốn cho người ta tin như thế. Trong một cuộc vận động bầu cử ở Florida sau khi bị ám sát hụt, ông Trump đã tuyên bố: “Nhiều người đã nói với tôi rằng Chúa đã để cho tôi tiếp tục sống là có lý do và lý do đó là để cứu lấy đất nước của chúng ta và khôi phục sự vĩ đại của nước Mỹ”. Và dĩ nhiên, nhiều tín hữu Kitô Mỹ hiểu ngầm rằng khôi phục sự vĩ đại của nước Mỹ cũng có nghĩa là khôi phục lại vị trí thượng tôn của Kitô giáo trong xã hội Mỹ.

Chỉ còn vài ngày nữa là đến lễ Giáng Sinh. Với nhiều tín hữu Kitô Mỹ, khôi phục lại vị trí thượng tôn của Kitô giáo cũng có nghĩa là khôi phục lại lời cầu chúc “Merry Christmas”. Vào những ngày cuối của cuộc vận động bầu cử, ông Donald Trump đã hứa một điều, “Merry Christmas đang trở lại. Chúng ta sẽ có “Merry Christmas” như chúng ta đã từng có cho mọi người cách đây 7 năm khi chúng ta đã đem nó trở lại. Nó (lời cầu chúc này) đã gặp nguy hiểm sâu xa, (nhưng) chúng ta đã đem nó trở lại”(4).

Nhưng ông Trump đã mang lại thứ “Merry Christmas” nào? Trong suốt mấy mùa Giáng Sinh vừa qua, thông điệp ông gởi đi lúc nào cũng chứa những lời rủa sả đầy hằn học và hận thù dành cho các đối thủ chính trị của ông. “Christ” trong “Christmas” của ông là một “Christ” của kỳ thị và hận thù. Và hiện nay, qua những người mà ông đề cử vào các chức vụ quan trọng trong chính phủ sắp tới của ông, người ta cũng chỉ nghe được cùng một giọng điệu của  hận thù, kỳ thị và bất khoan nhượng.

Bước vào tháng 12, ánh sáng của lễ Giáng Sinh đã bắt đầu chiếu sáng trong cái khu xóm nhỏ của tôi. Tôi thấy có đủ mọi hình tượng như ông già Noel, cây thông, quà cáp và nhiều con thú khác. Nhưng tuyệt nhiên, tôi không thấy có hang đá, máng cỏ, Hài nhi Giêsu hay “Christ” nào cả. Nhưng tôi biết chắc một điều: ai cũng thấy rộn lên một niềm vui! Và tôi cũng tin chắc rằng đó là niềm vui vượt qua mọi hàng rào của kỳ thị, hận thù, bất khoan nhượng. Dù là tín hữu Kitô hay không, ai cũng xứng đáng hưởng niềm vui ấy. Vậy thì thay vì “Merry Christmas” với kỳ thị và thù hận, xin được cầu chúc mọi người “Happy Holidays!” (chúc những ngày nghỉ lễ hạnh phúc!)

Chu Văn

 

 Chú thích

1.John Thavis, The Vatican Diaries, Viking Penguin, 2013, trg 256

2. Yuval Noah Harari, Sapiens, a brief history of Humankind, Harvill Secker 2014, trg 240

3.La Croix International, US elections: Catholic voters supported Trump over Harris , November 5th, 2024

4.The Atlantic , The Christian case for Happy Holidays, December 2, 2024

 

 

 

x

Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2021

Bỏ súng xuống là thành Phật!

 

Chu Văn




Hôm Thứ Sáu 17 tháng Mười Hai vừa qua đánh dấu đúng 10 năm lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Il qua đời. Kim Jong Un, người con trai út của ông lên kế vị để cai trị quốc gia cộng sản được xem là bưng bít nhứt thế giới.

Khi lên kế vị, Kim Jong Un còn là một thanh niên chỉ mới 27 tuổi, chưa từng có bất cứ một kinh nghiệm nào về lãnh đạo. Ngoài bốn lần thử nghiệm vũ khí nguyên tử, bắn hàng tá hỏa tiễn để đe dọa các nước láng giềng như Nhật Bản, Nam Hàn và ngay cả Hoa Kỳ, đưa đất nước vào tình trạng nghèo đói chưa từng thấy, thành tích nổi bật nhứt của nhà lãnh đạo này là những cuộc thanh trừng dã man xảy ra như cơm bữa.

Tham mưu trưởng quân đội, ông Ri Yong Ho, sau khi bị giải nhiệm đã bị Kim Jong Un ra lệnh xử tử dạo tháng Bảy năm 2012. Tháng Mười Hai năm 2013, người chồng của cô ông là ông Jang Song Thaek, một cố vấn tối cao trong chính phủ, đã bị đẩy ra khỏi bộ chính trị, đánh đập một cách tàn nhẫn và xử tử bằng súng cối. Dạo tháng 12 năm 2011, cả ông Ri lẫn ông Jang đều là 2 người đã từng đi bên cạnh Kim Jong Un trong suốt ba tiếng đồng đồ dưới cơn mưa tuyết để tiễn đưa cha ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Cả hai người đều được xem là những người đã hướng dẫn nhà lãnh đạo trẻ trong việc điều hành đất nước.

Với Kim Jung Un, bất cứ ai cũng có thể là một đối thủ chính trị cần phải thanh trừng. Ngay cả người thân ruột thịt cũng không thoát khỏi. Đó là trường hợp ông Kim Jong Nam, người anh cùng cha khác mẹ với ông. Ông này đã bị ám sát tại phi trường Kuala Lumpur, Mã Lai dạo tháng Hai năm 2017: hai người phụ nữ, một Nam Dương và một Việt Nam, đã được thuê tạt nước có chứa khí độc VX vào mặt ông Nam.

Cái chết của ba ông Ri, Jang và Nam chỉ là phần nổi của một tảng băng khổng lồ của vô số những cuộc thanh trừng dưới tay Kim Jong Un. Dưới mắt nhà độc tài khát máu nhứt thế giới này, bất cứ ai cũng có thể là kẻ thù. Gần đây nhứt, Kim Jong Un đã ra lệnh triệt tiêu điều mà ông gọi là “mối ung thư xấu xa” của nền văn hóa Nam Hàn như được thể hiện qua nền nhạc K-Pop và đặc biệt là bộ phim truyện có tựa đề Squid Game (Trò chơi Con mực) được nhập lậu vào Bắc Hàn. Nhiều nguồn tin đã xác nhận: rất nhiều người bị bắt quả tang “xem hay phát tán bộ phim (Trò chơi Con mực) của Nam Hàn” đã bị xử tử.

Các cuộc xử tử, vốn thường diễn ra nơi công cộng, là “chuyện thường ngày ở huyện” dưới thời của Kim Il Sung và Kim Jong Il, tức ông nội và cha của Kim Jong Un. Nhưng sau khi Kim Jong Un lên cầm quyền, các cuộc xử tử ngày càng trở nên tàn bạo hơn. Theo ông Ji Seung Ho, người đã đào thoát khỏi Bắc Hàn năm 2006 và hiện là dân biểu Quốc hội Nam Hàn, nhà lãnh đạo Bắc Hàn ra lệnh thanh trừng và xử tử hàng loạt là để “chứng tỏ quyền lực của mình” (1).

Tại sao Kim Jong Un đã trở thành nhà độc tài khát máu nhứt thế giới hiện nay? Dĩ nhiên, nói như chính trị gia Anh nổi tiếng là ông John Dalberg-Acton (1834-1902), thường được gọi tắt là Lord Acton, “quyền lực dễ làm cho con người đồi bại và quyền lực tuyệt đối làm cho con người đồi bại một cách tuyệt đối”. Kim Jong Un đã đồi bại và biến thành một dã thú vì muốn nắm quyền tuyệt đối trong tay. Nhưng không phải ngẫu nhiên hay trong một sớm một chiều mà người thanh niên này bỗng nhiên biến thành nhà độc tài khát máu nhứt thế giới. Mầm mống của sự độc ác và tàn bạo đã được cấy vào tâm hồn của ông ngay từ tuổi thơ.

Được cha mẹ gieo vào đầu ý tưởng mình là một “bán thần” (demigod), cậu bé Kim đã không ngừng giở thói bắt nạt với những đứa trẻ đồng lứa khác. Sợ cậu đến nỗi các em khác đã đặt cho cậu biệt danh là “nhà độc tài tí hon”. Bảy tuổi cậu đã có thể cỡi xe gắn máy và lái xe hơi. Năm 11 tuổi, cậu con trời này đã mặc đồng phục của một tướng lãnh và lúc nào cũng mang bên hông một khẩu súng Colt 45. Là “con trời” và là tướng lãnh cho nên xung quanh cậu lúc nào cũng túc trực một đoàn tùy tùng để hầu hạ cậu 24 giờ một ngày và 7 ngày một tuần. Phòng “chơi” của cậu có nhiều đồ chơi hơn bất cứ cửa hàng bán đồ chơi cho trẻ con nào ở Âu Châu. Những ngôi vườn xung quanh nhà cậu đầy những chuồng súc vật gồm có khỉ và gấu để cậu giải trí. Mang súng kè kè trong người cho nên cậu được cho là có thể bắn đúng mục tiêu cách cả trăm thước. Được trang bị tận răng như thế, cậu luôn luôn nghĩ rằng mình là một người đặc biệt. Tiệc sinh nhựt thứ 8 của cậu được tổ chức mà không có bất cứ một thiếu niên nào được mời tham dự. Trong bữa tiệc chỉ có các viên chức cấp cao trong chế độ mang hoa đến chúc mừng, cậu được cho mặc một bộ đồ “lớn” màu đen như một ông lớn thứ thiệt.

Được cưng chiều và chỉ phát triển những  tồi tệ nhứt trong nhân cách, cậu thiếu niên Kim lại càng bộc lộ những nét đốn mạt ấy trong suốt thời gian theo học tại một trường trung học quốc tế ở Thụy Sĩ.  Có lẽ do thành tích học hành kém cỏi chăng, cậu Kim chỉ biết lấn lướt bạn bè bằng tính nóng giận và cộc cằn của cậu, đặc biệt trên sân bóng rổ (2).

Người Pháp đã có lý để nói “Ai ăn cắp một cái trứng sẽ ăn cắp một con bò” (qui vole un oeuf volera un boeuf). Dĩ nhiên không phải mọi tuổi thơ bất hạnh đều dẫn đến tội ác. Nhưng cứ sự thường, nhỏ bị bỏ bê và không được dạy dỗ cho nên người thì lớn lên dễ trở thành người hư hỏng. Có lẽ Kim Jong Un là một trường hợp cụ thể nhứt cho thấy gương của bậc phụ huynh và người lớn ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và trưởng thành nhân cách của con cái. Trong triều đại của họ Kim tại Bắc Hàn, mầm mống của sự đồi bại và độc ác đã từ ông nội truyền xuống cho cha và từ cha sang con. Ánh sáng văn minh, nhân đạo và tình người của Thụy Sĩ, dù có mạnh đến đâu, cũng không đẩy lùi được bóng tối của tội ác đã lấp đầy tâm hồn thơ dại của cậu Kim Jong Un.

Hình ảnh của cậu thiếu niên 11 tuổi Kim Jong Un mang khẩu súng ngắn Colt 45 kè kè bên hông không thể không làm cho tôi liên tưởng đến những tấm thiệp Giáng Sinh vốn chỉ có ở Mỹ trong những ngày vừa qua. Hồi tháng trước, một thiếu niên 15 tuổi tại Thành phố Oxford, Tiểu bang Michigan đã dùng khẩu súng được người cha tặng nhân dịp Giáng Sinh để bắn hạ bốn em học sinh cùng trường và làm bị thương nhiều người khác. Vậy mà trong bối cảnh của cuộc thảm sát dã man ấy, dân biểu liên bang Thomas Massie, đại diện cho một đơn vị thuộc Tiểu bang Kentuckey đã đưa lên mạng xã hội một tấm thiệp Giáng Sinh trong đó ông và vợ ông cùng với 5 người con, người nào cũng cầm súng giơ lên, miệng cười toe toét. Phía sau họ là cây thông giả, biểu tượng của sứ điệp Giáng Sinh. Kèm với tấm thiệp, ông Massie viết: “Ông Già Noel ơi, xin ông mang đến súng đạn”!

Tâm đầu ý hợp với ông Massie còn có một dân biểu nổi tiếng khác là bà Lauren Boebert, đại diện cho Tiểu bang Colorado. Trong tấm thiệp Giáng Sinh được bà Boebert gởi đi, người ta thấy bà đứng sau 4 cậu con trai thiếu niên, mỗi cậu cầm trong tay một khẩu súng (3).

Tôi không nghĩ rằng những khẩu súng mà gia đình của hai vị dân biểu thuộc Đảng Cộng Hòa trên đây giương lên trong tấm thiệp Giáng Sinh là những “lòng súng nhân đạo cứu người lầm than” như nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã hát lên trong ca khúc “Anh đi chiến dịch”. Trong bối cảnh sôi sục của cuộc tranh luận về súng đạn hiện nay tại Mỹ, nhứt là với những vụ bắn giết xảy ra như cơm bữa, súng đạn trong tay người dân chỉ có thể là biểu tượng của đố kỵ và nhứt là hận thù mà thôi.  Và những nụ cười toe toét trong những tấm thiệp Giáng Sinh của hai dân biểu Massie và Boebert chắn chắn cũng không phải là những nụ cười nói lên niềm vui đích thực của Giáng Sinh.

Giáng Sinh thiết yếu là lễ của Bình An. Và Bình An không phải tự nhiên mà có. Nó đòi hỏi một cuộc chiến đấu cam go. Chiến đấu cam go không phải bằng súng đạn, mà chính là vứt bỏ súng đạn. Lâu lắm rồi, tôi có đọc một bài viết có tựa đề “Thông điệp mùa Giáng Sinh: bỏ mác lê xuống là thành phật” của nhà văn, thi sĩ Trần Mạnh Hảo trong nước (x.Đàn Chim Việt info 10/12/2011). “Mác Lê” là tên  quen thuộc mà người Việt Nam thường dùng để gọi hai ông tổ của chủ nghĩa cộng sản là Các Mác và Lê Nin. “Mác” cũng là giáo mác và “lê” là lưỡi lê. Đây là hai thứ khí cụ biểu tượng của hận thù, chiến tranh và chết chóc. Đức Phật dạy chỉ cần bỏ gươm giáo xuống là thành phật. Nhại lời Đức Phật, tác giả Trần Mạnh Hảo nhắn nhủ người cộng sản Việt Nam hãy buông bỏ “Mác Lê” của hận thù xuống mới hy vọng có được Bình An.

Ngày nay ai cũng nói đến sự xuống cấp thê thảm về đạo đức trong xã hội Việt Nam. Biểu hiện của sự xuống cấp đó là bạo động tràn lan trong xã hội. Ở bậc tiểu học, học sinh tập làm các phép tính cộng trừ nhân chia trên số xác chết và vũ khí tịch thu được của “Mỹ Ngụy”, “kẻ thù” mà  trong một cuộc thi hoa hậu được tổ chức ngay trên lãnh thổ Mỹ người ta cũng dùng âm nhạc để rủa sả. Đừng hỏi tại sao bạo động vẫn là biểu hiện của sự xuống cấp hiện nay trong xã hội. Bao lâu “chông” và súng đạn của hận thù vẫn chưa bị bỏ xuống và nhân quyền chỉ được hiểu đơn thuần là miếng ăn như Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tự hào dẫn giải trong chuyến công cán tại Âu Châu hồi cuối tháng Mười vừa qua (4), thì dĩ nhiên còn lâu Việt Nam mới thực sự có hòa bình.

Tôi không phải là một tín đồ Phật Giáo. Tôi không đi chùa. Tôi không ăn chay trường. Tôi không cúng giường và dĩ nhiên tôi còn nặng tham sân si. Nhưng nói như nhà văn Dương Thu Hương, tôi là “một phật tử theo cách thế riêng của tôi”. Chính vì thế mà trong cuộc sống mỗi ngày tôi luôn cảm nhận được lời dạy của Đức Phật: “Bỏ gươm xuống là thành phật”. Là một tín hữu Kitô, đặc biệt trong đêm Giáng Sinh năm nay, tôi lại nghe lời dạy của Đức Phật được vọng lại trong lời ca của các thiên sứ: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Nhìn lại hình ảnh của cậu thiếu niên 11 tuổi Kim Jong Un mang kè kè bên hông khẩu Colt-45 và xem những cánh thiệp Giáng Sinh với súng đạn và nụ cười toe toét vô cảm của một số dân biểu Mỹ, tôi nghe như Đức Phật lại dạy: “Bỏ súng xuống là thành phật”.

 

 

 

 

 

 

Chú thích

1. How Kim Jong Un became the World’s most bloodthirsty dictator, Daily Beast 17/12/2021

2. Kim Jong Un was dubbed “the little dictator” as childhood of excess groomed him for tyrannical rule, The Sun  26/04/2020.

3. “Santa, bring ammo”: US congressman tweets Christmas pic of family holding guns , the Indianexpress 7/12/2021.

4. Nhân quyền không phải là miếng ăn, Phạm Đình Trọng, báo Tiếng Dân 11/12/2021.

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2020

Đồng đạo hay đồng cảm?

 

Chu Văn

Có lẽ ai cũng có những lễ Giáng Sinh đáng ghi nhớ. Với tôi, khó quên nhứt là Đêm Giáng Sinh năm 1975. Làm sao quên được cái đêm Giáng Sinh đầu tiên bên trong điều được gọi một cách rất chính xác là bức màn sắt. Không hiểu sao đêm đó, mọi ánh sáng trong thành phố Nha Trang của tôi đều tắt lịm. Kể từ đó, ánh sáng của Giáng Sinh đã lùi bước trước bóng đêm của hận thù, dối trá và nghi kỵ. Nói gì, làm gì cũng phải nhìn trước ngó sau. Nhìn đâu cũng thấy bóng dáng của công an chìm nổi và những người đang theo dõi mình.

Mãi cho đến năm 1981, tôi mới tìm lại được một Lễ Giáng Sinh có ý nghĩa. Đó là lễ Giáng Sinh trong trại tỵ nạn Kuku, ở Nam Dương. Rách rưới và thiếu thốn trong một hoang đảo, nhưng được tự do cho nên tôi đã thực sự hưởng được một mùa Giáng Sinh an bình và vui tươi. Ngày nay, dù sống ở đâu và trong hoàn cảnh nào, cứ mỗi dịp Giáng Sinh về tôi không thể nào quên được mùa Giáng Sinh ở Kuku ấy.

Mùa Giáng Sinh năm 2020 này có lẽ cũng sẽ là một Mùa Giáng Sinh đáng ghi nhớ trong những năm tháng cuối đời của tôi. Giáng Sinh là mùa của gặp gỡ. Nhưng năm nay, dường như ai cũng phải  chui vào vỏ ốc riêng tư của mình. Dĩ nhiên, mọi thứ tội lỗi đều có thể trút lên đầu con Covid-19 hết! Cũng tại cái con siêu vi này mà rào cản giữa người với người được dựng lên. Nhưng với riêng tôi, cùng với con siêu vi Covid-19, còn có một thứ rào cản khác khủng khiếp hơn. Kinh nghiệm cá nhân buộc tôi phải gọi đích danh rào cản ấy là Tổng thống Mỹ Donald Trump. Trong suốt 4 năm qua và nhứt là trong mùa Giáng Sinh này, chính ông đã xen vào các mối quan hệ giữa tôi và người thân, bạn bè và nhứt là những người đồng đạo. Thế giới đã bị chia rẽ, nước Mỹ đã bị phân hóa đến cùng cực. Nhưng sự chia cách giữa tôi và người thân, bạn bè và đồng đạo lại càng sâu sắc hơn.

Tôi vẫn nhớ mãi một buổi gặp gỡ giữa những người đồng đạo cách đây không lâu. Dù có cố gắng đến đâu, câu chuyện trên bàn ăn vẫn luôn dẫn đến vấn đề chính trị. Như một “chính trị viên” thấm nhuần chính sách và đường lối của Tổng thống Trump, bà vợ của người chủ nhà, một người công giáo thuần thành, đã đọc bản án dành cho cựu Tổng thống Barack Obama như sau: “tên phản quốc này chắc chắn sẽ vào tù sau ngày bầu cử Mỹ 3 tháng Mười Một!” Cũng may, người đàn bà này chưa đến nỗi gọi ông Obama là tên “Lọ Nồi” hay “Thằng Mọi Đen” như một số đồng môn và đồng đạo khác của tôi!

“Giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha”, noi gương cụ Đồ Chiểu tôi bèn hỏi vặn lại: “tin này chị đọc được ở đâu vậy?”  Lời chất vấn của tôi, mặc dù chỉ nhắm đến “tin giả” tràn lan trên các trang mạng xã hội, được người đàn bà hiểu như là một thái độ thách thức không “phò Trump”. Bầu khí cuộc gặp gỡ giữa những người đồng đạo bỗng trở nên căng thẳng và nặng nề.

Vài ngày sau, tình cờ gặp lại hai vợ chồng người đồng dạo này tại nhà môt người đồng đạo khác vốn là bạn chí cốt của tôi, tôi được đón tiếp bằng một thái độ lạnh lùng gần như thù hận. Ông bạn chí cốt của tôi lên tiếng cảnh cáo: gặp nhau nhớ giữ mồm giữ miệng không thì ăn miểng! Ông cho biết: trong một cuộc gặp gỡ cũng giữa những người đồng đạo, người chồng đã từng “nhét” vào miệng của nữ Phó tổng thống Kamala Harris những đồ “dơ bẩn” nhứt trong thân thể con người! Những thứ “dơ bẩn” như thế, tôi thấy nhan nhản trên các “meo đàn” của những người đồng đạo của tôi!    

Tội nghiệp ông bạn già của tôi. Dù sao, ở xa cộng đồng người Việt, ít ra tôi cũng né tránh được nhiều cuộc gặp gỡ với người đồng đạo. Ông bạn tôi, cứ mỗi lần gặp gỡ người đồng đạo, đều chọn thái độ “chịu đấm ăn xôi”, cắn răng ngồi nghe người ta tung hô Tổng thống Trump và chửi rủa thậm tệ đối thủ của ông và những ai không phục tùng ông. Bạn tôi kể lại rằng có lần giữa một bữa nhậu, đang vui vẻ chén chú chén anh, ông vô tình bày tỏ thái độ không “phò Trump”, một người đồng đạo vốn là bạn nhậu lâu năm của ông, đã tức khắc đứng dậy rời khỏi bàn ăn.

Rõ ràng là hơn cả con siêu vi Covid-19, Tổng thống Trump đã dựng lên vô số rào cản và “lô cốt” giữa người thân, bạn bè và người đồng đạo. Vì không “phò Trump”, tôi bị người thân và bạn bè chụp lên đầu cái mũ thân cộng. Nhưng nếu trong mắt nhiều người Việt, Tổng thống Trump là một nhà lãnh đạo quốc gia dám đánh Trung Cộng để giải phóng Việt Nam khỏi chế độ cộng sản, thì đối với rất đông người đồng đạo của tôi, vì chống phá thai và chống hôn nhân đồng tính, ông là người được Chúa chọn và sai đến để bảo vệ những giá trị truyền thống và chấn hưng đạo đức. Vì ông là người được Chúa chọn cho nên không phò ông là chống Chúa. Chẳng khác nào một số giáo hoàng thời Trung Cổ, Tổng thống Trump đã tung ra một cuộc thánh chiến theo đúng nghĩa và những đồng đạo của tôi sẵn sàng “tử đạo” cho ông.

Mùa Giáng Sinh năm nay, không còn được mời đến thăm dự các cuộc gặp gỡ giữa những người đồng đạo nữa, tôi dành những giây phút tĩnh lặng để suy nghĩ về căn tính tôn giáo của tôi.

Câu chuyện Giáng Sinh có một chi tiết đáng suy nghĩ: người chồng dắt người vợ bụng mang dạ chửa đi gõ cửa các quán trọ, nhưng không còn một cánh cửa nào mở ra cho họ. Họ đành phải dìu nhau đến một chuồng súc vật giữa đồng không mông quạnh và đứa con đầu lòng của họ đã cất tiếng chào đời ở đó.

Tác giả của câu chuyện Giáng Sinh cũng ghi lại một bài dụ ngôn mà tôi nghĩ hẳn phải là một nối dài của câu chuyện này. Bài dụ ngôn là câu trả lời của Chúa Giêsu cho một câu hỏi của một người thông luật : “Ai là người thân cận của tôi?”  Chúa Giêsu kể rằng có một người bộ hành nọ rơi vào tay một bọn cướp. Chúng tước đoạt  hết của cải của ông, đánh ông đến trọng thương và bỏ ông dở sống dở chết dọc đường. Có 2 người đi qua đoạn đường ấy. Cả hai đều là bậc vị vọng trong Đạo Do Thái. Nhưng họ đều nhắm mắt làm ngơ trước cảnh nạn nhân đang nằm vất vưởng bên đường. Thế rồi, tình cờ có một người Samaria cũng đi qua đoạn đường ấy. Với người Do Thái, Samaria có nghĩa là “ngoại đạo”. Người này động lòng trắc ẩn, đã dừng lại băng bó cho nạn nhân, đặt ông lên lưng lừa để đưa đến một quán trọ gần đó nhờ chăm sóc. Hôm sau, trước khi đi, ông dặn dò chủ quán: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ hoàn lại cho bác”.

Kể xong câu chuyện, Chúa Giêsu hỏi: “Vậy, theo ông nghĩ, trong 3 người đó, ai đã tỏ ra là thân cận với người đã bị rơi vào tay bọn cướp”. Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với  người ấy”. Chúa Giêsu kết luận: “Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy” (x. Tin Mừng theo thánh Luca 10, 29-37).

Bài dụ ngôn đã đảo lộn cách suy nghĩ và sống đạo thông thường của tôi. Chúa Giêsu dường như đã không xem trọng tính đồng đạo. Ngài đề cao sự đồng cảm. Suy ngẫm về bài dụ ngôn trong bối cảnh của sự rạn nứt giữa những người đồng đạo, tôi  đặt lại câu hỏi: “Ai là người đồng đạo của tôi?” Và dĩ nhiên, tôi sẽ nghe Chúa Giêsu trả lời: “Hãy trở thành người đồng đạo của người khác”. Bởi lẽ cốt lõi của Đạo là từ tâm, nhân ái, đồng cảm, cho nên trở nên người đồng đạo của người khác sẽ chỉ có nghĩa là thực thi lòng nhân ái và bày tỏ sự đồng cảm với người khác.

Thái độ của người Samaria “ngoại đạo” trong bài dụ ngôn của Chúa Giêsu khiến tôi liên tưởng đến một câu chuyện xảy ra trong mùa hè vừa qua mà tôi thường lấy  làm đề tài suy gẫm trong Mùa Giáng Sinh năm nay.

Nhân vật chính được nhắc đến trong câu chuyện là một cô gái tên là Kate Kilroy. Năm 2018, với ước mơ được đi đây đi đó, cô đã gia nhập vào lực lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ. Mùa hè vừa qua, lực lượng này tham gia một cuộc tập trận chung giữa hải quân và lực lượng tuần duyên của nhiều quốc gia ở Greenland. Hôm Tuần Duyên hạm trên đó cô Kilroy đang phục vụ thả neo ở Thủ phủ Nuuk của Greeland, cô được phép lên bờ. Đây là dịp để cô gái trẻ tìm hiểu về cuộc sống của người dân trên quốc gia hải đảo này. Tình cờ khi đi bộ quanh cảng để chụp hình, cô tạt vào một nhà hàng. Tại đây, cô thấy một người đàn ông ngồi đơn độc ngoài hiên...Cảm thấy tội nghiệp, cô đề nghị đãi người đàn ông một bữa ăn. Cả hai cùng ăn, cùng trò chuyện rồi chia tay.

Vài ngày sau, Thủ tướng Greenland, ông Kim Kielsen, ngỏ lời muốn đến thăm Tuần Duyên Hạm và thủy thủ đoàn của Mỹ. Khi Thủ tướng Greenland lên boong, cô Kilroy mới biết người đàn ông mà cô cảm thấy tội nghiệp nên đề nghị đãi một bữa ăn và cùng trò chuyện để ông ta không “tủi thân” vì cô độc chính là ông thủ tướng Greeland. Sự đồng cảm và tử tế của cô Kilroy cũng là là lý do khiến Thủ tướng Kielsen mời hạm trưởng Tuần Duyên của Mỹ và tự tay lái xe đưa đi một vòng tham quan Greeland!

Tổng lãnh sự Mỹ tại Greeland đã gởi lời cám ơn lực lượng Tuần Duyên Mỹ vì hành động của cô Kilroy. Về phần mình, cô giải thích rằng trong gia đình cô, ai cũng đều cư xử như thế khi thấy ai đó cần được giúp đỡ (x. https://www.voatiengviet.com/a/kilroy-kielsen-greenland-long-tu-tam/5682965.html).

Giáng Sinh năm nay, tôi không thể đến nhà thờ. Tôi cũng không thể tham gia các buổi gặp gỡ giữa những người đồng đạo. Nhưng tôi tin rằng nếu bất cứ lúc nào tôi cũng luôn trong  tư thế sẵn sàng để sống lòng từ tâm, thực thi nhân ái và bày tỏ sự đồng cảm với mọi người, nhứt là với người xa lạ, thì đó là lúc tôi tuyên xưng niềm tin tôn giáo và thực thi sứ điệp của Lễ Giáng Sinh vậy.

Chu Văn, Giáng Sinh 2020

 

 

 

 

 

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2018

Giã từ bóng tối


Chu Thập
21/12/18
Mỗi năm, cứ bước vào tháng Mười Hai, tôi lại nhớ về trại tỵ nạn Kuku, bên Nam Dương. Chính trong trại này mà tôi đã mừng một lễ Giáng Sinh có ý nghĩa nhứt trong cuộc đời.
Tôi vượt biên vào cuối năm 1981. Khi được tàu dàn khoan vớt và đưa vào trại Kuku, tôi chỉ còn mang trên người mỗi chiếc quần đùi. Kuku là một trại tỵ nạn dã chiến. Người tỵ nạn chỉ dừng chân ở đó một thời gian ngắn. Dài nhứt như trường hợp của tôi là một tháng. Sở dĩ tôi được “may mắn” lưu lại ở đây lâu hơn nhiều người là vì cuối năm, chiếc tàu chuyên chuyển người tỵ nạn từ Kuku sang trại chính là Galang phải nghỉ lễ Giáng Sinh và Năm Mới. Tôi cho đây là một điều “may mắn”, bởi vì sau khi thoát khỏi địa ngục trần gian là Việt Nam dưới thời cộng sản, tôi nhìn Kuku chẳng khác nào thiên đàng. Ở đó, trong nguyên một tháng, suốt ngày tôi chỉ biết tắm biển, rong chơi. Cứ đêm đến lại mơ bị công an rượt đuổi, nhưng bừng tỉnh thấy mình đang sống trong thiên đàng. Chỉ có những ai trải qua những cơn ác mộng như thế mới cảm nhận được thế nào là tự do. Tự do để không còn phải nhìn trước ngó sau mỗi khi muốn phát biểu ý kiến. Tự do để không vì muốn tồn tại trong chế độ dối trá mà có lúc cũng phải bán linh hồn cho ma quỷ để móc ngoặc, mánh mung, lừa dối. Bước vào “thiên đàng” Kuku với một mảnh vải vừa đủ để giữ kín những gì cần phải che đậy trên thân thể, tôi cho đây là hình tượng đích thực của giải phóng và tự do. Bước vào “thiên đàng” Kuku tôi đã cởi bỏ xiềng xích của dối trá mà chế độ cộng sản đã buộc vào thân thể tôi hoặc chính tôi đã tự tròng vào người. Lễ Giáng Sinh năm 1981 trong trại Kuku, với tôi là lễ Giáng Sinh có ý nghĩa nhứt trong cuộc đời của tôi, bởi vì kể từ năm đó, cứ mỗi mùa Giáng Sinh trở về, tôi luôn tự nhắc nhở phải tái sinh không ngừng, phải sống chết cho hai chữ tự do đích thực mà mình đã phải mua lấy bằng chính sự sống của mình.
Giáng Sinh năm nay, khi đọc tạp chí Time với số ra cuối năm 2018, tôi lại càng hiểu và ý thức hơn về giá trị của hai chữ tự do. Thật vậy, sau khi cân nhắc trước một danh sách dài những người nổi tiếng và có một ảnh hưởng lớn, tốt cũng như xấu, đối với thế giới, cuối cùng ban biên tập của tạp chí Time đã chọn những người mà họ gọi là “những người bảo vệ” sự thật (The Guardians). Cũng như người được tạp chí Time bầu chọn làm nhân vật của năm vừa qua 2017 là “những người phá vỡ sự thinh lặng” (the silence breakers), tức những người đã dám lên tiếng nói lên sự thật, thì năm nay “những người bảo vệ” sự thật cũng chính là những người dám liều mạng sống của mình để chỉ nói lên sự thật. Một cách chính xác hơn, “những người bảo vệ” sự thật được tạp chí Time tuyên dương là 4 ký giả mà tên tuổi đã thường được thế giới nhắc tới trong năm 2018. Trước hết là ông Jamal Khashoggi, một ký giả người Á rập Saudi, cộng tác viên của báo The Washington Post đã bị sát hại một cách dã man ngay trong Tòa tổng lãnh sự của Vương quốc Á Rập Saudi tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ ngày 2 tháng Mười vừa qua. Những chi tiết của cuộc hành quyết như được ghi lại cho thấy chưa từng có một cuộc sát hại nào lại xảy ra trong một cơ sở ngoại giao và một cách độc ác dã man như thế. Như tạp chí Time đã nhận định, “cái chết của ông đã phơi trần bản chất đích thực của một thế tử luôn mỉm cười và tính vô luân cực độ của liên minh giữa Á rập Saudi và Hoa Kỳ”, một quốc gia đang được lãnh đạo bởi một ông tổng thống đặt tiền bán khí giới lên trên những giá trị đạo đức. Ký giả Kamal Khashoggi đã chết vì hai chữ tự do, tự do để nói lên sự thật.
Người thứ hai được tạp chí Time chọn vào nhóm nhân vật của năm 2018 là nữ ký giả người Phi Luật Tân 55 tuổi Maria Ressa. Bà Ressa đã sáng lập báo mạng lấy tên là Rappler. Rappler được ghép bởi hai từ tiếng Anh là “rap” nghĩa là thảo luận và “ripple” nghĩa là tạo nên những làn sóng. Kể từ khi chính trị gia dân túy Rodrigo Duterte được bầu làm tổng thống, Rappler đã theo dõi, tường thuật và vạch trần sự tàn độc dã man của cuộc chiến chống ma túy do ông Duterte khởi xướng. Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch, tính đến nay đã có khoảng 12.000 người bị giết chết trong cuộc chiến này, phần lớn trong những vụ thủ tiêu thường được gọi là “giết người không cần xét xử”. Dĩ nhiên, một người xem trời bằng vung trong quốc gia hải đảo Phi Luật Tân như ông Duterte không thể để yên cho bất kỳ một ký giả nào dám phơi bày sự thật về tội ác của mình. Chính vì vậy mà tháng Mười Một vừa qua, ông đã tố cáo báo mạng Rappler của bà Ressa mà ông không ngừng gọi là báo đưa tin giả (fake news) về tội trốn thuế. Với tội danh này bà Ressa có thể bị giam tù đến 10 năm. Nói về mối đe dọa tù đày vì nói lên sự thật, người ký giả đã từng làm phóng viên của Đài CNN, cho biết: “Tôi đã từng là một phóng viên chiến trường. So ra dễ hơn với những gì mà tôi đang đối phó”. 10 năm tù có thể là một bản án tương đối nhẹ trong một quốc gia được cai trị bởi một nhà lãnh đạo có khuynh hướng độc tài muốn cai trị bằng bàn tay sắt và muốn giết ai thì giết như ông Duterte. Nhưng có lẽ cũng như ký giả Kamal Khashoggi, bà Ressa dường như lúc nào cũng sẵn sàng sống chết cho tự do được nói lên sự thật.
Năm 2018 vừa qua, thế giới đã đặc biệt theo dõi thảm kịch của sắc dân Rohingya tại Miến Điện. Chính vì vậy mà tạp chí Time đã đưa lên hàng đầu danh sách “những người bảo vệ” sự thật 2 phóng viên của hãng thông tấn Reuters là Kyaw Soe Oo và Wa Lone. Hai ký giả này đã bị chính phủ do một người đã từng được trao giải Nobel Hòa Bình là Aung San Suu Kyi lãnh đạo, kết án 7 năm tù vì tội gọi là phơi bày sự thật về hành động diệt chủng của Chính phủ Miến đối với sắc dân Rohingya. Bà Chit Su Win, vợ của ông Kyaw Soe Oo nói rằng ông hăng say làm công việc, tức trình bày sự thật, đến nỗi bà không thể ngăn cản ông được. Nói cho cùng, cũng như ông Jamal Khashoggi và bà Maria Tessa, 2 nhà báo người Miến này, dù có biết những nguy hiểm đang chờ đợi mình, vẫn thách thức chế độ để nói lên sự thật.
4 ký giả trên đây là 4 nhân vật tiêu biểu của một danh sách dài những người mà tạp chí Time gọi là “những người bảo vệ” sự thật.
Tại Bangladesh, tạp chí Time nhắc đến nhiếp ảnh gia Shahidul Alam. Ông này bị giam tù hơn 100 ngày vì tội gọi là đưa ra những lời tuyên bố “giả hiệu” và “khiêu khích” sau khi đã phê bình Thủ tướng Sheikh Hasina trong một cuộc phỏng vấn về một cuộc biểu tình tại Thủ đô Dhaka. Tại Sudan, nhà báo tự do Amal Habani đã bị bắt giữ vì tường thuật những cuộc biểu tình phản đối về chính sách kinh tế của chính phủ. Trong 34 ngày bị giam giữ, nhà báo này đã bị đánh đập và tra tấn bằng điện. Tại Ba Tây, phóng viên Patricia Campos Mello bị đe dọa đến tính mạng sau khi tường thuật rằng những người ủng hộ tổng thống dân túy Jair Bolsonaro đã tài trợ cho một chiến dịch phổ biến những tin giả trên các trang mạng xã hội. Tại Hong Kong, chủ bút của báo The Financial Times, ấn bản Á Châu, đã bị buộc phải rời cựu thuộc địa của Anh này sau khi mời một nhà tranh đấu nói chuyện tại một câu lạc bộ báo chí, trái với ý muốn của Chính phủ Trung Cộng. Trong danh sách dài “những người bảo vệ” sự thật, tạp chí Time cũng không quên nhắc tên và in hình của nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, người còn được biết đến với tên Mẹ Nấm. Năm 2017, nhà báo chuyên viết Blog này đã bị chế độ cộng sản kết án 10 năm tù vì tội gọi là “tuyên truyền chống nhà nước”. Tháng Mười vừa qua, Mẹ Nấm đã được trả tự do và được cho sang Mỹ. Trong một tuyên bố được tạp chí Time ghi nhận, “người bảo vệ” sự thật này chia sẻ: “Tôi sợ hãi vô cùng và quyết định giữ thinh lặng. Nhưng sau đó, tôi nhận ra rằng...nếu tôi biết là tôi sợ vậy thì tôi phải đứng lên và làm đúng điều tôi muốn làm”. Mẹ Nấm là đại diện của vô số nhà báo tự do và những nhà bất đồng chính kiến hiện đang bị giam tù tại Việt Nam. Họ xứng đáng được gọi là “tù nhân lương tâm” bởi để sống theo lương tâm, họ sẵn sáng đánh đổi tất cả, ngay cả mạng sống của mình, để nói lên sự thật.
“Những người bảo vệ” sự thật được tạp chí Time vinh danh trong số ra cuối cùng của năm 2018 thật ra chỉ là một con số tượng trưng của vô số những nhà báo, những nhà chính kiến bị giết chết, bị giam tù, bị đe dọa...chỉ vì dám lên tiếng nói lên sự thật. Theo Ủy ban Bảo vệ Báo chí (Committee to Protect Jounalism), trong năm 2017, trên toàn thế giới có tất cả 262 ký giả bị giam tù.
Con số này chắc chắn phải cao hơn trong năm 2018, bởi vì trên thế giới ngày nay, sự thật ngày càng bị chối bỏ và chà đạp. Ông Can Dundar là chủ bút của một tờ báo tại Thổ Nhĩ Kỳ. Ông đã bị buộc tội gọi là “tiết lộ bí mật nhà nước”. Suýt bị ám sát, ông đã trốn sang Đức để tiếp tục nói lên sự thật. Ông Dundar nhận định về tình hình tự do báo chí trong thế giới ngày nay: “Đây là thế giới của những nhà lãnh đạo có khuynh hướng độc tài; họ ghét tự do báo chí và sự thật”. Một cách nào đó, theo tạp chí Time, “thế giới hiện đang được lãnh đạo bởi tổng thống Mỹ là người ngưỡng mộ những nhà độc tài và tấn công báo chí”. Về đất nước đang được lãnh đạo bởi một người như tổng thống Donald Trump, bà Maria Ressa tự hỏi: “Đâu là những giá trị của Hoa Kỳ?”
Tôi không phải là một nhà báo chuyên nghiệp. Tuy chưa bị tù đày vì nói lên sự thật, tôi cũng có thể mất một số bạn bè vì nói lên sự thật. Nhưng sự kiện tạp chí Time vinh danh “những người bảo vệ” sự thật ở cuối năm 2018 này không thể không thúc đẩy tôi phải suy nghĩ về “những giá trị” làm nên con người mà nếu chối bỏ “những giá trị” ấy cũng đồng nghĩa với chối bỏ chính phẩm giá của mình. Đó là những giá trị mà  con người không thể mang ra thương lượng, đổi chác dưới bất cứ hình thức nào. “Những người bảo vệ” sự thật đã chứng tỏ điều đó. Họ đưa chính mạng sống của mình ra làm bảo chứng để nói lên sự thật, để “bảo vệ” sự thật. Họ là những con người tự do đích thực. Họ là những con người đáng ngưỡng mộ.
Mặc dù không hề quen biết và cũng chẳng tán thành những hành động “đen tối” của ông trong quá khứ, tôi cũng muốn dành sự ngưỡng mộ của tôi cho ông Michael Cohen, cựu luật sư của Tổng thống Trump. Trong lời phát biểu trước tòa án trước khi bị tuyên án hơn 3 năm tù hôm thứ Tư 12 tháng Mười Hai vừa qua, ông Cohen đã nhận ra “con đường đen tối” (a path of darkness) mà 12 năm cúc cung phục vụ ông chủ Donald Trump đã đưa đẩy ông vào. Ông nói rằng ông đã chọn đi theo con đường ấy thay vì nghe theo tiếng nói của lương tâm và kim chỉ nam đạo đức. Sau khi công khai thú nhận những hành động đen tối và dối trá của mình, cựu luật sư của Tổng thống Trump nói rằng “hôm nay là một trong những ngày ý nghĩa nhứt trong cuộc đời của tôi”. Một ngày ý nghĩa nhứt bởi vì ông đã thực sự cư xử như một người có tự do và nói lên sự thật.
Giáng Sinh là mùa của Hoa Đèn. Ánh Sáng lúc nào cũng là biểu tượng của sự thật. Giã từ bóng tối của dối trá để bước đi trong ánh sáng của sự thật: phải chăng đó không là sứ điệp mà tôi cần phải lắng nghe mỗi dịp Giáng Sinh về?


Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

Khi Ông Già Nobel không còn tuần lộc để cỡi...



Chu Thập
14/12/18
Không biết có phải vì đã đến tuổi “gần đất xa trời” không, tôi thấy mình dễ mủi lòng và mủi lòng vì những chuyện xem ra chẳng ra gì. Chẳng hạn như mới đây khi phải dọn sạch một giàn thanh long bị gió mạnh làm ngã đổ.  So với nhiều nhà Việt Nam ở Sydney, tôi tự kể mình vào số những “nhà nông” có nhiều thanh long và đủ loại thanh long. Tôi đã sưu tầm được cũng đến 6,7 loại thanh long khác nhau. Và cứ hễ có chỗ trống là tôi nhét thanh long vào. Tính ra cũng có đến vài chục gốc. Mỗi gốc thanh long không những là một kỷ niệm, mà cũng là nơi tôi chôn chặt và gắn liền một phần cuộc sống của tôi. Thành ra khi cực chẳng đã phải gỡ bỏ một giàn thanh long bị ngã đổ, tôi cảm thấy bồi hồi xúc động như thể mình đang chà đạp hay xúc phạm đến một sự sống. Nói như thi sĩ Alphonse de Lamartine (1790-1869) của Pháp, vật vô tri (objets inanimés) cũng có một linh hồn khiến ta cứ phải gắn bó với chúng.
Dọn một giàn thanh long của mình bị ngã đổ, tôi bồi hồi xúc động đã đành, tôi cũng có một cảm xúc như thế khi nhìn người ta bày bán những cây thông Giáng Sinh. Cứ bước vào tháng Mười Hai, vào những buổi sáng thứ Bảy, không biết từ đâu đó, người ta chở những cây thông Giáng Sinh xanh tươi đến trước một Hội quán Hướng Đạo gần nhà tôi để bày bán. Lần nào cũng vậy, mỗi lần chạy bộ qua trước ngôi chợ trời  ấy, tôi lại thấy buồn khi nhìn vào những cây thông bị cắt ngang gốc không còn một chút rễ nào bám vào thân. Một số được rước về nhà để làm cây thông Giáng Sinh trong vài tuần lễ. Số phận của những cây thông Giáng Sinh này chắc chắn sẽ rất bi đát: sau lễ, người ta sẽ mang chúng đem quăng vào một xó rừng nào đó hoặc chờ cho chúng khô héo rồi sẽ nhờ thần lửa cho chúng hóa kiếp. Số phận của những cây không được ai rước về nhà có lẽ lại càng bi đát hơn: bị đốn ngã một cách tàn nhẫn, lại không được ai ngó ngàng tới và cuối cùng cũng bị quăng vào lửa!
Theo một ý nghĩa rất phổ biến, cây thông Giáng Sinh là biểu tượng của sự sống. Ở những xứ lạnh, trong mùa đông giá rét, trưng bày trong nhà một cây thông “sống”, nhứt là trên đó có treo lủng lẵng hoa đèn, là muốn thắp lên một ngọn nến của hy vọng và sự sống. Nhưng mỉa mai thay, biểu tượng của sự sống là cây thông Giáng Sinh lại bị cướp mất sự sống tận gốc rễ!
Với tôi, một cây thông Giáng Sinh “chết” trông chẳng khác nào Ông Già Noel không ngồi trên chiếc xe được kéo bởi những con tuần lộc (reendeer), mà lại đến bằng máy bay. Đây là cảnh mà thỉnh thoảng tôi thấy xuất hiện trong một màn quảng cáo trên truyền hình: Ông Già Noel của thời đại đến thăm dân tình bằng máy bay, nhưng chẳng may máy bay ngộ nạn; cảnh cuối của màn quảng cáo thật có hậu: sau khi tiếp cứu Ông Già Noel, đãi ông một bữa no nê, cư dân lại còn kiếm được nguyên một bày tuần lộc để kéo chiếc xe của ông hầu ông có thể tiếp tục sứ mệnh của mình.
Không biết tác giả của màn quảng cáo trên đây có nghĩ xa hơn không. Nhưng tôi nhìn vào đó như một thông điệp rất có ý nghĩa cho thời buổi đang có hiện tượng trái đất hâm nóng và khí hậu thay đổi hiện nay. Bão lụt và hỏa hoạn, với những hậu quả tàn khốc đối với trái đất và cuộc sống con người dưới nhiều khía cạnh khác nhau, là những biểu hiện khó chối cãi được của khí hậu thay đổi. Khắp nơi trên mặt đất đều đang hứng chịu hậu quả của hiện tượng này. Nhưng dường như một trong những nơi phải bị tàn phá nhiều nhứt vì khí hậu thay đổi có lẽ là quê hương của Ông Già Noel.
Lapland không chỉ là một địa danh chỉ có trong trí tưởng tượng của con người mỗi khi nói đến Ông Già Noel. Đây là một vùng đất có thật ở Bắc Cực, trải dài qua phía Bắc của 4 quốc gia Na Uy, Thụy Điễn, Phần Lan và Nga.
Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy Bắc Cực hiện đang là nơi phải gánh chịu những hậu quả của khí hậu thay đổi nhiều hơn bất cứ một nơi nào khác trên mặt đất. Tại Bắc Cực, nhiệt độ hâm nóng trái đất tăng nhanh gấp 2 lần mức độ trung bình ở những nơi khác. Do đó, hơn bất cứ cư dân nào trên mặt đất, người dân ở Lapland đã bắt đầu cảm nhận được những hậu quả của khí hậu thay đổi.
Rovaniemi, thủ phủ hành chánh của tỉnh Lapland thuộc Phần Lan, đã tự nhận là “Quê hương chính thức của Ông Già Noel”. Đây là nơi mà du khách có thể đến thăm nhân vật huyền thoại này bất cứ ngày nào trong năm, chớ không chỉ trong Mùa Giáng Sinh. Thật ra, Ông Già Noel chỉ chính thức đến cư ngụ tại thành phố Rovaniemi vào năm 1950, khi dinh thự của ông được xây cất.
Toàn vùng Lapland, trải dài từ Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan qua Nga, hiện đang là lãnh thổ của người thổ dân Sami. Nhờ hẻo lánh và nhiệt độ thấp, phần lớn vùng Lapland vẫn còn giữ nguyên vẹn nét hoang dã của nó. Chính tính hoang dã này đã cung cấp cho người thổ dân Sami đủ không gian để đeo đuổi nghề truyền thống của họ là chăn nuôi loài tuần lộc.
Tuy nhiên, ngày nay khi trái đất hâm nóng, nhiệt độ ngày càng tăng và bắt đầu làm đảo lộn sinh thái, cuộc sống và sự tồn tại của người thổ dân Sami cũng như của chính Ông Già Noel, đang bị đe dọa.
Tiến sĩ Stephanie Lefrere là một nhà sinh vật học chuyên nghiên cứu về loài tuần lộc. Bà đã đến tỉnh Lapland của Phần Lan từ 18 năm qua. Kể từ đó, bà đã quan sát những thay đổi đáng sợ của thời tiết trong vùng và ảnh hưởng của chúng đối với đời sống hoang dã. Bà cho biết khi mới đến vùng này, bà nhận thấy nhiệt độ trung bình trong vùng vào ngày 31 tháng Mười là 20 độ C dưới không. Nhưng nay một nhiệt độ trung bình như thế không còn nữa. Tiến sĩ Lefrere cho biết: gần đây, người dân ở đây nói đến “những mùa Giáng Sinh đen”: đen là bởi vì không còn cảnh tuyết trắng rơi ở phía Nam của Phần Lan nữa. Hơn ai hết, sau gần hai thập niên làm việc tại quê hương của Ông Già Noel, bà Lefrere lại càng xác tín hơn rằng khí hậu thay đổi đã tạo ra những hậu quả khốc liệt đối với sinh thái của vùng Lapland, ảnh hưởng đến đường di chuyển, môi trường sống và ngay cả động thái của loài chim thiên di.
Những thay đổi như thế lại càng có những hậu quả tàn phá hơn nữa đối với các thổ dân Sami, vốn là những người am hiểu về vùng Lapland hơn bất cứ ai. Toàn bộ văn hóa của họ đều xoay quanh thiên nhiên và nhứt là loài tuần lộc. Họ không chỉ sống bằng nghề chăn nuôi tuần lộc, mà còn bằng săn bắn, bắt cá và hái lượm. Nhưng tuần lộc vẫn là biểu tượng trọng tâm của xã hội Sami. Trước kia, hầu như người dân Sami nào cũng sống bằng nghề chăn nuôi tuần lộc. Nay tỷ lệ này chỉ còn là 10 phần trăm. Sở dĩ nhiều người phải bỏ nghề chăn nuôi tuần lộc vì khí hậu thay đổi khiến họ không thể giữ cho tuần lộc được an toàn và khỏe mạnh.
Thời tiết thay đổi bất thường và nhứt là mưa liên tục lại xảy ra trong những tháng lạnh nhứt khiến cho những tảng băng đá vỡ vụn trên đất. Tuần lộc là loài thú sống bằng cách đào tuyết để bới tìm loại rong rêu “lichen” chìm ngập dưới đất. Nay chúng không còn ngửi được mùi rêu này dưới đất nữa. Không đào được thức ăn dưới đá, dĩ nhiên tuần lộc bị kết án phải chết đói mà thôi.
Mà tuần lộc chết thì đương nhiên sự sống còn của người thổ dân Sami cũng bị đe dọa. Tuần lộc là loài thú duy nhứt ở Lapland đã nhào nặn ngôn ngữ cũng như những nghề tiểu công nghệ truyền thống của người dân Sami mà da và sừng của chúng là vật liệu cần thiết. Bà Jamie Staffansson, một nhà hóa học chuyên tranh đấu cho quyền của người thổ dân Sami nói rằng nền văn hóa của người Sami sẽ biến mất cùng với loài tuần lộc (https://www.independent.co.uk/environment/climate-change-lapland-santa-claus-father-christmas-reindeer-global-warming-a8113041.html).
Không những chỉ có người thổ dân Sami mới gánh chịu những hậu quả của khí hậu thay đổi. Tại miền Bắc Phần Lan, kỹ nghệ du lịch là cột sống của kinh tế. Nhưng nhiệt độ ngày càng gia tăng khiến cho vùng này không còn là đất của “mùa đông muôn thuở” nữa. Những môn thể thao mùa đông đang bị đe dọa khiến cho số người hâm mộ các môn thể thao mùa đông cũng thưa dần. Dĩ nhiên những “mùa Giáng Sinh đen” sẽ khiến cho du khách không còn muốn đến Rovaniemi để thăm Ông Già Noel nữa. Du lịch mùa Giáng Sinh đang xuống một cách thê thảm. Trước kia, được mệnh danh là Làng của Ông Già Noel, Rovaniemi mỗi năm trung bình thu hút được 300.000 du khách. Nay họ hướng về phía Bắc và phía Đông Phần Lan, bởi vì ở đây  tuyết vẫn còn nhiều hơn. Sẽ đến một lúc, ngay trên chính “quê hương” của mình, Ông Già Noel sẽ không còn trèo lên chiếc xe được một bày tuần lộc kéo nữa. Cũng như biểu tượng của sự sống là cây thông Giáng Sinh bị tước đoạt sự sống, Ông Già Noel không có đoàn tuần lộc đi hộ tống có lẽ sẽ chỉ còn là một Ông Già Noel què quặt, bệnh hoạn, thiếu sức sống. Tất cả cũng chỉ vì trái đất bị các hoạt động của chính con người hâm nóng và làm cho khí hậu thay đổi.
Bên kia niềm tin tôn giáo, nếu phải tóm tắt ý nghĩa của  Giáng Sinh thành một thông điệp ngắn gọn, tôi cho rằng đây là Mùa của Sự Sống. Sự sống của con người đã đành, mà còn là sự sống của chính trái đất. Thật ra, nếu sự sống của trái đất bị hủy hoại thì chính sự sống của con người cũng bị đe dọa. Tôi tin ở những lời cảnh cáo của các nhà khoa học. Trái đất bị hâm nóng và khí hậu thay đổi chắc chắn không phải là một “cú lừa của Trung Cộng” mà là một thực tế đang diễn ra trước mắt. Chỉ cần một chút thiện chí và  lương thiện để nhìn vào cuộc sống xung quanh cũng đủ để cảm nhận được thế nào là hiện tượng trái đất hâm nóng và khí hậu thay đổi.
Tôi tin lời nhà sinh vật học Richard Attenborough. Mới đây, trong bài nói chuyện tại Hội nghị Thượng đỉnh về Khí hậu Thay đổi do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại thành phố Katowice, Ba Lan, nhà sinh vật kiêm nhà làm phim nổi tiếng này đã cảnh cáo: “Ngay bây giờ đây, chúng ta đang đối diện với một tai họa với qui mô toàn cầu do chính con người gây ra. So với nhiều ngàn năm qua, mối đe dọa lớn nhứt của chúng ta chính là Khí hậu Thay đổi. Nếu chúng ta không bắt tay hành động, thì không bao lâu các nền văn minh của chúng ta sẽ sụp đổ và phần lớn thế giới tự nhiên sẽ bị tiêu diệt”. Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo quốc gia: “Dân chúng trên toàn thế giới đã lên tiếng. Thông điệp của họ đã rõ ràng. Thời buổi đã cấp bách. Họ muốn quý vị, những người làm chính sách, hãy bắt tay hành động ngay” (https://www.bbc.com/news/science-environment-46398057).
Clive Blazey, sáng lập viên của The Diggers Club, người tiên phong trong việc bảo tồn và phân phối các loại cây và hạt giống không bị biến đổi, trong một bài viết gần đây đã khẳng định: “Rác rưởi là một “sáng chế” của con người...Trong thiên nhiên không có rác rưởi” (Waste is a human invention...There is no wast in nature). Theo ông, một người Úc trung bình tạo ra 2.7 tấn rác một năm hay 7.5 ký rác một ngày. Mặc dù mỗi người chỉ tiêu thụ khoảng 1 ký thức ăn bao gồm rau trái, ngũ cốc và thịt, vậy thì 6.5 ký rác còn lại là từ thức ăn dư thừa và các loại bao bì...Nếu chúng ta giảm được rác rưởi bằng cách dùng bao tái chế và thùng giấy, không mua thức ăn làm sẵn (processed food), không mua quá nhiều thực phẩm, dùng thức ăn thừa nuôi giun (worm farm) và tự trồng rau để ăn hay chí ít trồng một ít rau thơm thường dùng...theo ông Blazey, với một chút cố gắng thực hiện những điều trên, chúng ta có thể giảm được rất nhiều rác. Và ông kết luận: “Không còn thì giờ để phí phạm nữa!”.
Đối phó với hiểm họa trái đất hâm nóng và khí hậu thay đổi dĩ nhiên trước tiên phải là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo quốc gia. Trong phạm vi nhỏ bé của tôi, sự đóng góp của tôi có lẽ không bằng một giọt nước trong đại dương. Nhưng sống có trách nhiệm đối với môi trường sống của mình, một cách cụ thể tôn trọng và yêu mến thiên nhiên, sử dụng tài nguyên một cách có ý thức, không vứt rác bừa bãi...ít ra cũng mang lại cho tôi niềm vui và sự an bình, nhứt là trong mùa Giáng Sinh này.