Thứ Năm, 11 tháng 2, 2016

Ăn ít ngon nhiều



Chu Thập
13.3.12



Hưởng được nhiều lợi ích nhứt của thời đại thông tin toàn cầu này có lẽ là tuổi già. Tôi biết có các cụ Việt nam ở đây tuổi quá “thất thập cổ lai hy”, không những có riêng cho mình một trang Facebook mà còn “rủ rê” bạn bè, con cháu chia sẻ hình ảnh rất sôi nổi. Riêng tôi nhận thấy ích lợi của Internet qua kinh nghiệm của các “bạn già” của tôi. Sau mấy chục năm lưu lạc, nhứt là sau biến cố tan đàn xẻ nghé năm 75, mỗi người một nẻo, tưởng chỉ còn hy vọng gặp nhau “trên nước thiên đàng”. Vậy mà đùng một cái, nhờ Internet, những người học trò dưới mái trường xưa “hồi nẳm” khắp thế giới lại bắt liên lạc được với nhau. Đêm ngày rảnh rỗi, chẳng biết làm gì cho hết giờ cho nên vào “meo đàn” để tán gẫu về đủ thứ chuyện, từ kỷ niệm xưa, văn chương, chính trị, tôn giáo, bù khú đến y tế, sức khỏe và tiếu lâm. Văn chương, chính trị, tôn giáo...thì đầy dẫy trên các trang mạng. Tôi chỉ đơn giản bấm vào “delete” cho khỏi mất giờ. Nhưng chuyện y tế, sức khỏe và nhứt là tiếu lâm thì tôi không bao giờ bỏ qua. Xét cho cùng cười vẫn là liều thuốc bổ tốt nhứt.
Mới đây, một ông bạn già của tôi đưa lên “meo đàn” một bài viết về giá trị của trứng gà. Tôi không rõ bài viết xuất xứ từ đâu; không thấy tên tác giả mà cũng chẳng tìm được tạp chí đăng bài viết. Nhưng cách trình bày, lập luận và dẫn chứng cũng khá thuyết phục. Trong vài hàng giới thiệu bài viết, ông bạn già của tôi viết rằng ổng thấy “quá đã” khi đọc bài. Tôi cũng thấy “quá đã” sau khi đọc biết về lợi ích của trứng gà.
Tôi có nuôi năm bảy con gà mái đẻ, loại gà suốt đời “đồng trinh sạch sẽ” chỉ biết đẻ mà không bao giờ biết đến gà trống. Gà mái của tôi không những “chạy bộ” mà còn “leo rừng” nữa. Giáp giới với vườn nhà tôi là lâm viên quốc gia. Năm nay, gặp thời “La Nĩna” kéo dài, mưa liên tu bất tận, cho nên giun dế lúc nhúc, các chị gà của tôi tha hồ đánh chén. Tôi không nhớ rõ đã đọc được ở đâu đó, giống vật nào được nuôi một cách lành mạnh thì thịt của chúng cũng lành mạnh. Gà mái của tôi có một cuộc sống “tốt” cho nên không chỉ thịt mà trứng cũng “tốt”. Nhìn cái lòng đỏ “đỏ au” thì đủ biết trứng gà của tôi lành biết chừng nào. Chỉ có điều, dù cho trứng có ngon đến đâu, từ lâu nay, kể từ khi thế giới bị “ám ảnh” bởi mấy chữ “Cholesterol” (mỡ trong máu) và tôi bắt đầu ý thức về sức khỏe, thì tôi nhìn trứng chẳng khác nào mèo thấy mỡ. Thèm lắm, nhưng thèm mà lại không được và cũng không dám ăn thả cửa.  
Thuở nhỏ, cái món trong nhà thường bị tôi ăn cắp nhứt là trứng gà. Nhiều chị gà đẻ một lúc cho nên thỉnh thoảng tôi có chôm một vài cái trứng, mẹ tôi cũng chẳng hay biết. Tôi thèm trứng không chỉ vì thiếu dinh dưỡng, mà vì thấy hễ cứ có trứng gà so thì mẹ tôi lại dành để biếu ông cha sở. Với bà, hễ của ngon vật lạ thì phải dành cho nhà lãnh đạo tinh thần. Trứng gà quả là của ngon vật lạ thật, bởi vì, với tôi, ăn trứng theo dạng nào cũng thấy ngon. Ăn cắp một cái trứng, dùng một cây kim chích vào trứng, bất kể vỏ trứng có được sạch hay không, đưa miệng hút ra cái lòng đỏ thì phải nói như nhà văn Duyên Anh là “sướng rên mé đìu hiu” thôi. Lúc mới đến trại tỵ nạn, chưa nghe người ta đe dọa về cholesterol trong trứng, tôi thích mua trứng, đập vỡ ra, gạn lòng trắng sang một bên, cho lòng đỏ vào một ly “bảy úp” (7 Up), quậy đều rồi thưởng thức. Vừa thấy ngon miệng lại vừa tin rằng đây là thức uống bổ dưỡng nhứt.
Cho tới nay, món ăn vật lạ nào tôi cũng có nếm qua và sẵn sàng từ bỏ vì lý do sức khỏe. Nhưng riêng trứng gà thì phải nói là lúc nào tôi cũng thèm “nhỏ rãi”. Đặc biệt, cái món trứng gà luộc, dầm mắm nêm và chấm với các thứ đọt rau luộc thì chẳng có sơn hào hải vị nào bằng. Vậy mà nhà tôi lúc nào cũng đóng vai “thiên thần hộ thủ” để canh giữ kẻo tôi bị “sa chước cám dỗ” với trứng gà. Mỗi tuần nhà tôi chỉ cho tôi ăn đúng 3 cái trứng mà thôi! Có gân cổ cãi đến đâu cũng không bao giờ được phép vượt qua giới hạn đó!
Tôi thấy “quá đã” khi đọc bài viết về lợi ích của trứng gà mà ông bạn già vừa chia sẻ trên meo đàn. Đọc xong, tôi “mời” nhà tôi lại bên máy vi tính, khoe bài viết và thấy như mình vừa làm được một khám phá mới trong y học.
Tất cả những dữ kiện được đưa ra trong bài viết đều phủ nhận cái mớ kiến thức mà tôi đã tiếp thu được về trứng gà. Chẳng hạn, bài viết khẳng định rằng trứng gà không phải là loại thực phẩm giàu cholesterol. Cholesterol tập trung ở lòng đỏ trứng gà, nhưng là loại cholesterol tốt, rất cần thiết cho cơ thể, nhứt là trong việc sinh sản tế bào. Vậy mà lâu nay tôi cứ tưởng trứng gà là thủ phạm chính tạo ra “máu trong mỡ” dẫn đến các bệnh về tim mạch.
Điểm nhấn trong bài viết mà tôi muốn nhà tôi phải chú ý là số lượng trứng được phép tiêu thụ mỗi ngày. Tác giả bài viết cho biết: theo thống kê hàng năm, trung bình mỗi người Mỹ tiêu thụ 300 quả trứng trong một năm...Cholesterol trong lòng đỏ trứng gà kết hợp với một số yếu tố khác như glycerol, cholin, phosphor và các thứ acid béo để tạo ra lecithin. Lecithin có đặc tính “nhũ tương hóa” rất mạnh, nghĩa là có sức giúp chất béo hòa tan được trong máu cho nên cholesterol hòa vào máu để đi đến những chỗ tế bào bị hư hại và sửa chữa lại, nhờ vậy mà cơ thể không bị tổn thương. Còn lượng cholesterol dư thừa thì lại được đưa về gan để giúp tạo ra muối mật và các nội tiết tố điều hành cơ thể. Như vậy, mỗi ngày ta nên ăn một cái trứng là vừa. Nhưng các chuyên gia dinh dưỡng khuyên mỗi tuần chỉ nên dùng 5 trứng.
Còn một chi tiết khác trong bài viết mà tôi lấy làm đắc ý nhứt đó là: trứng không có hại cho gan. Ngày xưa, khi khoa học còn sơ khai, người ta thí nghiệm bằng cách lấy lòng trắng trứng tiêm vào da thỏ thì thấy da thỏ bị phù, nổi mẩn ngứa cho nên bảo rằng trứng gây dị ứng. Và vì thời đó người ta nghĩ rằng dị ứng là do yếu gan nên qui cho trứng là thủ phạm tác hại đến gan. Gần đây, ở thập niên 1960 trở về trước, các hiểu biết về cholesterol chưa rõ ràng cho nên thấy lòng đỏ trứng có chứa cholesterol thì cho rằng trứng không tốt. Thật ra, từ đầu thập niên 1980 đến nay, người ta đã chứng minh rằng cholesterol của trứng là cholesterol tốt và trứng chẳng những không hại, mà còn có lợi cho gan nữa vì trứng có chứa chất cholin giúp bảo vệ gan.
Cuối cùng, tôi cũng rất lấy làm tâm đắc khi tác giả bài viết   khẳng định rằng trứng không làm cho nóng và khó tiêu. Tự nó, trứng không tạo ra cảm giác nóng. Có “nóng” chăng là bởi vì trứng được chiên với nhiều dầu mỡ và nhứt là thức ăn thiếu rau quả và không đa dạng mà thôi.
Bài viết đã hầu như đánh tan được cái mặc cảm “thèm trứng” của tôi. Tôi nghĩ bụng: từ nay tha hồ ăn trứng mà chẳng sợ bất cứ di hại nào! Tôi nhìn nhà tôi với ánh mắt “van lơn”: xin nâng số lượng trứng được phép ăn mỗi tuần cho tôi! Nhưng lạ quá, tôi thấy bài viết chả lay động được nhà tôi một ly ông cụ nào. Trước sau như một, nhà tôi vẫn giữ nguyên cái liều lượng trứng dành cho tôi: mỗi tuần không được quá 3 trứng!
Trong quan hệ vợ chồng, để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi, mấy ông bạn già của tôi luôn ứng xử theo hai nguyên tắc: nguyên tắc một, vợ luôn luôn đúng; nguyên tắc hai: nếu vợ sai, hãy trở về nguyên tắc một. Nghe như đùa, nhưng về chuyện vệ sinh, ăn uống và giữ gìn sức khỏe, tôi thấy hai cái nguyên tắc “quái gở” trên đây lại đúng phóc!
Thật ra, bài viết về giá trị của trứng gà trên đây có giải tỏa được nơi tôi một vài “ẩn ức”, nhưng vẫn không có đủ sức thuyết phục tôi từ bỏ cái khuôn vàng thước ngọc của cha ông chúng ta là “liệu cơm mà gắp mắm”. Về sức khỏe và ăn uống thì chẳng có thước đo hay liều lượng chung nào cả. Mỗi cơ thể mỗi khác. Sức chịu đựng và đòi hỏi của cơ thể ông tây bà đầm có khi cũng khác với người Á đông da vàng. Họ ăn bơ sữa và uống rượu “từ trong bụng mẹ” chẳng sao cả. Mình chạy theo là ngất ngư luôn!
Có người uống rượu như hũ chìm. Có người đụng vào là thấy 36 ông sao ngay. Có người uống cà phê thế nước. Có người uống một hớp vào là thấy nóng bụng và trằn trọc suốt đêm. Có người mỗi tháng rước vào cơ thể vài ký lô đường chẳng sao cả. Nhưng có người, chỉ cần mỗi ngày một hai muỗng cà phê đường là thấy có chuyện. Cũng có người cuối tuần nào cũng đình đám hội hè mà người cứ còm nhom. Nhưng có người sau một tiệc cưới là tăng nửa ký lô ngay vòng số 2 ngay lập tức...Nói chung, về sở thích thì không nên tranh luận và cũng chẳng nên thúc ép người ta phải như mình. Về sức khỏe cũng vậy, mỗi người tự “đi guốc” trong bụng dạ mình mà lo kiêng cữ hay tự đặt ra một ranh giới phải tuân giữ.
Thời nào và ở đâu cũng thế, điều độ vẫn được xem là một nhân đức. Minh triết Đông Tây đều dạy rằng “nhân đức nằm ở bậc trung dung” (virtus in medio stat). Có lẽ triết gia Pháp Blaise Pascal cũng nghĩ đến cái mức “trung dung” này chăng khi ông bảo rằng người ở giữa thú vật và thiên thần: “Con người không phải là thiên thần, mà cũng chẳng là thú vật. Ai muốn làm thiên thần đều trở thành thú vật”. Nhân loại bao phen khốn đốn có lẽ cũng vì những người muốn chối bỏ nhân tính để làm thiên thần và cưỡng bách mọi người cũng phải lột xác như thế. Những thiên đường mù hay những quần đảo Gulag là điểm đến tất yếu của những “thiện ý” muốn cải tạo con người như thế.
Là một tín hữu Kitô, tôi thường được khuyên bảo hãy sống tiết độ. Tôi cho rằng tiết độ hoàn toàn khác với khổ chế. Khổ chế là từ bỏ và trốn chạy khỏi cái thế giới vật chất này để đi tìm tự do và niềm vui tinh thần. Tiết độ không hề có nghĩa là từ bỏ hưởng thụ hay là tìm cách hưởng thụ càng ít càng tốt.  Người biết sống tiết độ là người vẫn yêu mến cái thế giới vật chất mà Thượng Đế đã xem là “tốt đẹp” khi tạo dựng ra nó. Người biết sống tiết độ là người vui hưởng cuộc sống mà vẫn cố gắng đi tìm sự tự do tinh thần. Với người tiết độ thì như người Việt nam chúng ta vẫn nói “ăn ít ngon nhiều”.
Ba cái trứng mà nhà tôi quy định cho tôi được phép “hưởng dùng” mỗi tuần quả là thước đo của sự tiết độ mà tôi thấy cần phải tuân giữ. Có tiết độ mới thấy được vẻ đẹp và giá trị của cuộc sống. Cuộc sống còn đáng sống là bởi ta còn muốn thèm sống.
Trong Mùa Chay của Kitô giáo, tôi cũng nhận thấy rằng tiết độ trong việc ăn uống không phải là điểm đích mà chỉ là một “thử thách” nhỏ để tập “sống đạo” hay đúng hơn là phương thế, là “bài học vỡ lòng” để đạt được những giá trị khác cao cả hơn. Có những điều cần tập tiết độ hơn như tiết độ trong suy nghĩ, lời nói và nhứt là cái nhìn, nhận thức về người khác. Về mặt này, tiết độ quả là rất khó nhưng thật cần thiết để tạo một bầu khí trong lành cho chính mình và với người khác. Chỉ cần một chút quá đà trong suy nghĩ, người ta dễ rơi vào thành kiến và chủ quan. Mà đã thành kiến và chủ quan thì người khác là zê-rô còn “tui” phải là con số một. Và đó cũng là con đường ngắn nhứt để dẫn đến quá khích, cuồng tín và cực đoan. Cuồng tín và cực đoan trong chính trị và nhứt là trong tôn giáo, xét cho cùng, cũng là một thái độ thiếu tiết độ. Thiếu tiết độ trong suy nghĩ và ứng xử cho nên mới thiếu khoan nhượng, cảm thông, dung hòa và tha thứ.
Tôi vẫn nghĩ: đi hết con đường Mùa Chay mà vẫn không thấy mình suy nghĩ và sống trong tinh thần khoan nhượng, cảm thông và tha thứ hơn thì dù có kiêng khem, dù có luôn ngoan ngoãn “tuân thủ” quy định “ba cái trứng mỗi tuần” cho đến chết đi nữa cũng chẳng “có đạo” hơn!



Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

Năm Mới Khang An và Hạnh Phúc

                          

                                                                       
                                                                             Chu Thập
Tết 2010

Cuộc cách mạng của Internet đã giúp tôi tiết giảm được một lượng lớn những cánh thiệp đầu năm. Nhưng vốn ghét những “thông điệp” chung gởi cho hàng loạt địa chỉ email, nên dịp năm mới tôi thường dành nhiều thì giờ hơn để trải dài “tâm sự”, để thăm hỏi và tri ân  từng bạn bè và người thân. Dù vậy, ngoài lời thăm hỏi chân tình, lúc nào tôi cũng phải kèm theo công thức quen thuộc thường thấy trong các cánh thiệp đầu năm như “cầu chúc một năm mới khang an và hạnh phúc”.Thật ra, với công thức ấy, tôi không chỉ cầu mong an bình và hạnh phúc  cho người khác, mà còn để tự nhắc nhở về niềm hạnh phúc riêng tư mà mình phải không ngừng tìm kiếm.
Có nhiều quyết tâm để làm trong năm mới, nhưng tôi nghĩ, tất cả đều qui về một quyết tâm là phải sống hạnh phúc.
Nhưng bởi hạnh phúc là một điều khó định nghĩa hay đúng hơn là một nghệ thuật cần học hỏi và trau dồi liên tục, cho nên tôi thấy mình cần có những bậc thày để được hướng dẫn. Một trong những bậc thày mà tôi thường tìm đến để học hỏi về nghệ thuật sống hạnh phúc là Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng hiện đang được cả thế giới ngưỡng mộ về sự khôn ngoan và nhân đức. Do đó, đầu năm nay, tôi đọc lại những lời khuyên dạy của ngài trong cuốn sách có tựa đề “Ethics for the New Millennium” (Đạo lý cho thiên niên kỷ mới). Trong chương một của cuốn sách, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng đưa ra nhận xét như sau: “Nghèo hay giàu, học thức hay không, bất luận thuộc sắc tộc nào, nam nữ, theo tôn giáo này hay tôn giáo khác...chúng ta chỉ muốn hạnh phúc và tránh đau khổ. Mỗi một hành động có ý thức của chúng ta có thể xem như lời giải đáp cho một câu hỏi lớn mà tất cả mọi người đều phải đương đầu là: “Làm sao tôi mới được hạnh phúc?”
Quả thật, cả cuộc sống con người là một cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc. Đối với nhiều người, tiền của và tiện nghi vật chất là điều kiện mang lại hạnh phúc. Người Việt nam chúng ta đã chẳng nói: “có tiền mua tiên cũng được” sao? Nhìn chung, con người ở đâu và thời nào cũng đều đứng ở núi này nhìn sang núi nọ và chạy theo hạnh phúc như một chiếc bóng mà chúng ta cho là đang ẩn nắp đàng sau của cải vật chất hoặc cái đuôi dài của nó là quyền lực và danh vọng.
Có dịp đi lại nhiều, Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra ghi nhận như sau: “Ở khắp mọi nơi, bằng những phương tiện có thể tưởng tượng ra được, người ta nỗ lực để cải thiện cuộc sống. Điều lạ lùng là, tôi có cảm tưởng rằng những người sống trong các quốc gia phát triển vật chất, với trọn cả nền kỹ nghệ của họ, lại ít thỏa mãn, ít hạnh phúc và trong một chừng mực nào đó, lại còn đau khổ hơn những kẻ sống trong các quốc gia chậm tiến nhứt. Thật vậy, nếu so sánh người giàu với người nghèo, chúng ta thường thấy rằng những người không có gì cả, thật ra lại ít lo lắng hơn, mặc dù họ dễ bị truyền lây bệnh hoạn và đau đớn trong thể xác…Điều thường thấy với một mức độ cao và rất phổ biến trong quần chúng của các nước phát triển là các chứng bệnh lo lắng, mất quân bình, ẩn ức, bất định và căng thẳng”
Theo  báo cáo của Viện nghiên cứu về chứng trầm cảm tại quốc gia giàu mạnh nhứt thế giới là Hoa kỳ, có khoảng từ 75 đến 90 phần trăm bệnh nhân đến gặp bác sĩ, đều than phiền về những chứng bệnh về tâm lý hơn là thể lý.
Đức Đạt Lai Lạt Ma hẳn đã biểu đồng tình với thống kê trên đây khi kể lại kinh nghiệm trong một chuyến viếng thăm một quốc gia Tây Phương như sau: “Tôi là khách của một gia đình giàu có, sống trong một ngôi biệt thự rộng rãi khang trang. Tất cả mọi người đều duyên dáng và lịch sự. Các người hầu phục vụ cho từng nhu cầu của họ và tôi bắt đầu nghĩ, có thể đây là bằng chứng khẳng định rằng giàu có là một nguồn hạnh phúc. Các chủ nhân đều có vẻ tự tin thoải mái. Nhưng khi nhìn vào phòng tắm, qua một cánh cửa hé mở, tôi lại thấy một dãy toàn là thuốc an thần và thuốc ngủ. Tôi bị buộc phải nhớ đến cái hố thâm sâu giữa bề ngoài và thực tế nội tâm”
Đầu năm, đọc lại những dòng trên đây của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi càng xác tín rằng hạnh phúc tùy thuộc ở cái “tâm” của con người hơn là những điều kiện vật chất bên ngoài. Hẳn trong ý nghĩa đó mà cụ Nguyễn Du của chúng ta đã phải thốt lên: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Tôi rất tâm đắc với câu chuyện được kể về nhà hiền triết Esope của Hy lạp thời cổ. Ngày kia, ông đến ngồi bên cổng thành Athènes. Một người khách lạ tình cờ đi qua, dừng lại hỏi ông: “Xin ông cho biết dân tình Athènes như thế nào?” Nhà hiền triết liền hỏi lại: “Xin ông cho biết ông từ đâu đến và dân tình ở đó như thế nào?” Người khách lạ nhíu mày than phiền: “Tôi đến từ Argos và dân Argos toàn là một lũ người láo khoét, trộm cắp, cãi cọ suốt ngày”. Nghe thế, nhà hiền triết thản nhiên trả lời: “Tôi rất lấy làm tiếc để báo cho ông biết rằng rồi ra ông cũng sẽ thấy dân thành Athènes của tôi còn tệ hơn thế nữa”.
Ngày hôm sau, một du khách khác đi qua và cũng dừng lại đặt một câu hỏi tương tự: “Dân thành Athènes như thế nào?” Du khách cho biết mình cũng đến từ Argos. Ông nói rằng Argos là quê hương yêu dấu mà ông buộc lòng phải từ giã để ra đi. Dân ở đó là những người rất tử tế và dễ thương.
Lần này, nhà hiền triết Esope lại nói về dân thành Athenes của mình như sau: “Này ông bạn đáng mến, tôi rất vui mừng báo cho ông biết rằng ông sẽ thấy dân thành Athènes của tôi cũng tử tế và dễ thương như thế”.
Cũng một con người đó, nhưng có người lại thấy dễ thương, có người lại thấy đáng ghét. Cũng một hoàn cảnh đó, có người phản ứng hòa nhã, có người phản ứng đốp chát. Cũng trong cùng một cảnh vật, có người thấy vui, có kẻ lại kêu buồn chán. “Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn. Ô hay, chẳng hiểu vì sao, chẳng hiểu vì sao, chẳng hiểu vì sao, tôi buồn” là vậy. Quả thật, khi cái tâm không bình an thì dù có sống trong tiện nghi vật chất và ngay cả khi đạt đến đỉnh cao của danh vọng, con người cũng sẽ chẳng bao giờ cảm thấy hạnh phúc.
Hiểu theo một cách nào đó, những gì thể hiện ra bên ngoài thường diễn tả trạng thái của nội tâm và ngược lại. Trong lúc lái xe, tôi thích dùng thì giờ để quan sát những tài xế khác, như một cách tìm hiểu tâm của họ. Trong khi một tài xế có thể thản nhiên trước những khiêu khích hay cách lái ẩu của người khác thì với một tài xế khác, chỉ cần bị xe khác vượt mặt hay bóp kèn, cuộc “tranh hùng” có thể lập tức xảy ra. Người có tâm bình an tuy bực mình nhưng không chấp nê vì họ biết hậu quả sẽ ra sao. Chuyện chỉ vì những “tranh chấp trên đường lộ” mà đưa đến vong mạng là chuyện cơm bữa trong cái đời sống mà chúng ta gọi là “văn minh” này. Nhứt là ở Việt Nam, nơi mà “hạnh phúc” luôn đi kèm với tên nước thì khỏi nói. Nếu người ta hạnh phúc thì tại sao lúc nào cũng lái xe theo cung cách chụp giựt, gây hấn, sống chết mặc bay như vậy?
Cái tâm bình an, trước hết, theo thiển ý của tôi, phải là một cái tâm không chất chứa hận thù, ghen ghét, đố kỵ. Tôi không ngạc nhiên tại sao một người như đồ tể Mao Trạch Đông, người đã sát tế trên 30 triệu người đồng bào ruột thịt của mình trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa, đã bị chứng mất ngủ kinh niên. Trong cuốn hồi ký có tựa đề “Cuộc đời bí mật của Mao Trạch Đông”, người đã từng làm bác sĩ riêng của ông trong hơn 20 năm là Lý Phục Hy tiết lộ rằng Mao Trạch Đông mất ngủ liên tục, lấy ngày làm đêm và phải dùng đến thuốc ngủ mới có thể ngủ li bì trong hai ngày liền.
Người không thua kém Mao Trạch Đông bao nhiêu trong việc tàn sát đồng bào ruột thịt của mình là Stalin cũng suốt một đời sống trong nghi kỵ đối với mọi người. Một người suốt đời gieo rắc hận thù làm sao có thể có được cái tâm bình an?
Đọc khẩu hiệu “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc” luôn được thêm vào tên nước “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam”, người ta chỉ có thể phì cười mà thôi, bởi vì hạnh phúc của con người đâu có tùy thuộc vào một ý thức hệ, nhứt là một ý thức hệ có chủ trương đấu tranh giai cấp, khích động hận thù và nhìn đâu cũng thấy kẻ thù và những “thế lực thù địch”. Biến cố mới xảy ra gần đây tại giáo xứ Đồng Chiêm, Hà nội không thể không khiến cho người ta phải nêu lên câu hỏi: liệu những kẻ hung hãn xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người khác khi đập phá Thánh Giá và nhứt là hành hung người dân lành một cách tàn bạo dã man có thể cảm thấy hạnh phúc không? Có lẽ họ quên mất câu nói thời danh của ông tổ của họ: “Chỉ có súc vật mới quay mặt làm ngơ trước nỗi khổ của người đồng loại để chăm sóc cho bộ da của mình”.
Có cái tâm bình an và ước muốn xây dựng hòa bình không những với người đồng loại mà còn cả với thiên nhiên, con người mới cảm nhận được hạnh phúc đích thực. Có lẽ đây là sứ điệp mà Đức giáo hoàng Benedicto XVI, nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo hoàn vũ, muốn nhắn gởi với thế giới trong thông điệp đầu năm của ngài. Người La mã ngày xưa nói “si vis pacem, para bellum” (muốn có hòa bình, bạn hãy chuẩn bị chiến tranh).Vị giáo hoàng này lại kêu gọi: “Muốn có hòa bình, hãy bảo vệ thiên nhiên”.
Tôi có một kinh nghiệm đau thương trong quan hệ với súc vật. Nhà tôi có nuôi năm ba con gà mái để lấy trứng. Đã trồng rau mà còn nuôi gà là điều tối kỵ. Mặc dù tôi đã rào dậu kỹ lưỡng, nhưng mấy chị gà mái vẫn cứ xé rào để phá nát cái vườn rau của tôi. Một hôm, không kềm được cơn nóng giận, tôi đã phang nguyên một cành tre vào chị gà đầu đàn. Hôm sau, thấy con vật nằm một chỗ với một chân sưng vù, nhà tôi trách nhẹ: “Không biết ngày nào đó, anh có cư xử với em như vậy không?” Thật ra, không chờ bị nhà tôi trách móc, hành vi bạo động đối với thú vật tự nó cũng đủ là một hình phạt đối với tôi: tôi cảm thấy bị dằn vặt trong mấy ngày liền! Cứ nhìn con vật lê lết trong đau đớn, tôi cảm thấy như nhân cách của mình bị xói mòn. Giờ đây tôi hiểu được tại sao một số nước Tây Phương ban hành luật cấm hành hạ súc vật. Tôi nhận ra được giá trị của luật cấm sát sanh của Phật Giáo.Và  nhứt là tôi lại càng chia sẻ được cái tình cảm dạt dào yêu thương của thánh Phanxico thành Assisi, Ý, thời Trung Cổ đối với thú vật và thiên nhiên nói chung. Vị thánh được mệnh danh là “ sứ giả Hòa bình” này đã để lại một lời kinh mà, cứ mỗi lần tập trung để cầu nguyện và đòi hỏi công lý, người công giáo Việt nam ngày nay luôn cất hát lên: “ Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đang chân lý vào chốn lỗi lầm…”
Tôi nghĩ đây không chỉ là lời cầu nguyện của các tín đồ của một tôn giáo, mà phải là quyết tâm của những ai đang tìm kiếm hạnh phúc đích thực trong cuộc sống này. Chỉ với cái tâm bình an, nghĩa là quyết tâm yêu thương, tha thứ và xây dựng hòa bình, con người mới cảm nhận được thế nào là hạnh phúc. Chỉ với cái tâm ấy, tôi mới cảm thấy đủ thành thực và không ngượng miệng để lập lại công thức “chúc mừng năm mới khang an và hạnh phúc”.




Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Số phận những nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc


5.2.16
Gui Min Hai là một nhà xuất bản báo chí người Thụy Điển gốc Hoa. Ông chuyên về những chuyện thâm cung bí sử của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đặc biệt những mối quan hệ thầm kín của đương kim Chủ tịch Tập Cận Bình với phụ nữ.
Ngày 17 tháng Giêng vừa qua, bất thần người ta thấy ông xuất hiện trên đài truyền hình nhà nước Trung Quốc để cho biết ông đã tự nguyện trở về quê hương để hầu tòa về tội gây tử vong do lái xe trong lúc say rượu tại tỉnh nhà Ningbo, Mãn Châu cách đây 12 năm. Sau cuộc thảm sát tại Thiên An Môn hồi năm 1989, vốn là một thi sĩ, ông Gui đã trốn sang tỵ nạn tại Thụy Điển. Nhưng trong thước phim được chiếu trên đài truyền hình nhà nước Trung Quốc, ông cho biết không cần bất cứ một sự can thiệp giúp đỡ nào của chính phủ Thụy Điển và các nước Tây Phương nữa. Ông nói: “Mặc dù mang quốc tịch Thụy Điển, tôi vẫn cảm thấy mình là người Trung Hoa và cội rễ của tôi vẫn còn ở Trung Quốc. Do đó, tôi mong chính phủ Thụy Điển sẽ tôn trọng sự chọn lựa cá nhân của tôi, tôn trọng các quyền cũng như cuộc sống riêng tư của tôi và để tôi tự giải quyết những vấn đề của mình”.
Thước phim nói trên được cho chiếu 5 tháng sau khi ông Gui bỗng nhiên “biến mất” khỏi ngôi nhà nghỉ mát của ông tại thành phố du lịch Pattaya, Thái Lan. Cùng lúc có 4 thành viên khác của nhóm “Mighty Current Media” (Sức mạnh của Truyền Thông hiện đại) do ông Gui sáng lập cũng bị xem là mất tích. Trong số này, ba người đã “biến mất” khi họ đang đi thăm miền Nam Trung Quốc vào những dịp khác nhau. Trường hợp mất tích mới nhất là ông Lee Bo, một đối tác làm ăn của ông Gui. Ông Lee có quốc tịch Anh. Ông và vợ ông làm chủ một tiệm sách tại Hong Kong. Lần cuối cùng người ta còn gặp ông tại cựu nhượng địa Anh này là ngày 30/12/15 vừa qua.
Không có hồ sơ chính thức nào cho thấy ông Lee đã rời khỏi Hong Kong. Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau khi ông biến mất, người ta thấy xuất hiện tại Hong Kong một lá thư viết tay được gởi đi từ lục địa qua hệ thống Fax. Trong lá thư, ông Lee giải thích rằng ông đã vào lục địa bằng “những cách thế riêng” của ông. Ông cũng cho biết ông vào lục địa là để giúp mở một cuộc điều tra. Người ta nhận thấy lá thư của ông Lee và lời tự thú của ông Gui đều sử dụng cùng một ngôn ngữ và giọng điệu giống nhau.
Cuối cùng ngày 18 tháng Giêng vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã chính thức trả lời cho cảnh sát Hong Kong về chuyện đi lại của ông Lee và nhìn nhận rằng ông hiện đang có mặt tại lục địa.
Cùng lúc với việc “mất tích” của hai ông Gui và Lee, tại lục địa cũng  có 3 công dân Trung Quốc khác cũng mất tích. Những vụ mất tích như thế khiến cho nhiều người lo ngại về các hoạt động của mật vụ Trung Quốc ở nước ngoài. Từ trước tới nay, người ta tưởng chỉ có mật vụ Nga của ông Vladimir Putin mới dở trò bắt cóc như thế.
Trong nhiều thập niên, Bắc Kinh theo đuổi chủ trương không can thiệp vào chuyện nội bộ của các nước khác và yêu cầu các nước khác cũng đừng xía vào chuyện của mình. Nhưng dưới thời Tập Cận Bình, Trung Quốc đã bắt đầu theo đuổi một chính sách mới: khai sinh các tổ chức đa quốc, đụng độ với các nước láng giềng trong những vụ tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, sử dụng sức mạnh kinh tế để tạo áp lực lên các chính phủ nước ngoài. Làm như thế Trung Quốc của Chủ tịch Tập Cận Bình muốn chứng tỏ mình cũng có một vai trò quan trọng trên chính trường thế giới.
Hiện Trung Quốc đang tự hào là cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới. Mỗi năm có đến 100 triệu người Trung Quốc giàu có đi du lịch nước ngoài. Nhưng hiện nay, sự phát triển kinh tế của nước này đang bắt đầu chậm lại. Kể từ khi lên cầm quyền, ông Tập Cận Bình tự trao cho mình “trọng trách” là phát huy, củng cố Đảng Cộng Sản vốn đã độc quyền cai trị Trung Quốc từ 66 năm qua. Và theo ông, một trong những cách củng cố và đồng thời làm cho Đảng của mình “tỏa sáng” chính là gia tăng đàn áp bất kỳ người dân nào dám đặt vấn đề về sự “khôn ngoan” trường tồn của Đảng. Trong nhiều năm qua, đã có hàng trăm người có lối suy nghĩ độc lập đều bị giam tù. Bộ máy kiểm soát của nhà nước đã bịt miệng các cuộc đối thoại trên mạng và nhồi sọ cán bộ cũng như sinh viên về chủ nghĩa Mác. Ngay cả khi các cơ quan truyền thông nhà nước ra rả về “pháp trị”, Chính phủ Cộng sản Trung Quốc vẫn mở chiến dịch chống lại những ý niệm mà họ cho là độc hại như xã hội dân sự, tự do báo chí và nhân quyền. Theo ông Tập Cận Bình, “pháp trị” chỉ có nghĩa là toàn dân phải tuân phục ông.
Cho tới nay đã có hàng loạt ký giả, luật sư và những người viết báo mạng xuất hiện trên đài truyền hình nhà nước để nhận tội trước khi được xét xử tại tòa án.
Trường hợp đấm ngực tự thú mới nhất đã xảy ra ngày 19 tháng Giêng vừa qua. Người nhận tội là ông Peter Dahlin, một công dân Thụy Điển. Là người điều khiển một tổ chức không chính phủ chuyên bênh vực quyền của những nhà tranh đấu cho nhân quyền, ông Dahlin đã bị bắt giữ hồi đầu tháng Giêng vừa qua. Trong lời tự thú, người công dân Thụy Điển này đã nhìn nhận có những hành động mà Tân Hoa Xã gọi là “những hoạt động làm nguy hại cho nền an ninh quốc gia của Trung Quốc”. Trong một thước phim được công bố trên các trang mạng xã hội, ông Dahlin nói: “Tôi đã vi phạm luật pháp Trung Quốc qua các hoạt động của tôi tại nước này. Tôi đã gây thiệt hại cho Chính phủ Trung Quốc. Tôi đã xúc phạm đến tình cảm của nhân dân Trung Quốc. Tôi thành thật xin lỗi vì đã làm như thế”. Trong băng hình, một người tự nhận là đã từng làm việc với ông Dahlin còn nói rằng “người Thụy Điển 35 tuổi này là phát ngôn viên của những thế lực thù địch chống Trung Quốc tại Trung Quốc”.
Trong khi bên trong diễn ra hàng loạt những cuộc đàn áp công khai thì bên ngoài mật vụ Trung Quốc bắt đầu dở trò bắt cóc những người nào dám lên tiếng chỉ trích chính phủ. Khi bị bắt cóc, ông Gui Min Hai đang ở tại một căn hộ ở Pattaya, Thái Lan mà ông vừa mới mua được khoảng một năm trước đó. Qua việc ông trang bị cho căn hộ mới, người ta không thấy có bất cứ dấu hiệu nào nói lên ý định muốn trở về Trung Quốc để chịu tội cả. Ngày 17 tháng Giêng, khi ông đang đi mua sắm thì có một người không rành tiếng Thái cũng chẳng nói được một câu tiếng Anh xuất hiện tại cổng của chung cư nơi ông Gui đang ở. Khi trở về, ông Gui nhờ người gác cổng mang hộ đồ đạc mới mua lên căn hộ của ông. Sau đó, người ta không còn thấy ông nữa. Một thời gian sau, ông điện thoại về nhờ người gác cổng chăm sóc căn hộ cũng như cho phép một số người lạ mặt được vào căn hộ của ông. Họ lấy đi chiếc máy vi tính cầm tay của ông. Có lần ông gọi điện thoại về cho một người bạn. Nhưng khi người bạn cho biết gia đình ông rất lo ngại về việc “mất tích” của ông, ông liền cúp điện thoại và không bao giờ gọi lại.  
Ông Gui đã từng theo học phân khoa lịch sử tại Đại học Bắc Kinh. Thập niên 1980, mặc dù việc tiếp xúc với người ngoại quốc vẫn còn bị cấm chế, ông Gui và một số bạn của ông vẫn tìm cách len lỏi vào các cơ sở của các phái bộ ngoại giao để đọc sách báo ngoại quốc. Cuối thập niên 1980, việc kiểm soát có phần nới lỏng, ông Gui đã học môn văn chương đối chiếu và cho xuất bản một quyển sách với nội dung tìm hiểu về lịch sử văn hóa Tây Phương trong thế kỷ 20. Kể từ đó, nhất là sau khi trốn thoát khỏi Trung Quốc và định cư tại Thụy Điển, ông Gui đã bắt đầu quan tâm đến những chuyện thâm cung bí sử của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ông đã cho xuất bản hai cuốn sách có tựa đề “Bí mật về tài sản của gia đình ông Tập Cận Bình” và “Lịch sử đen tối của Hoàng đế Đỏ”. Ngoài ra, theo một số nhà văn cộng tác viên của ông, ông đã có ý định cho xuất bản một cuốn sách về một số người tình cũ của ông Tập Cận Bình..
Theo dõi số phận của ông Gui, nhiều nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc hiện đang sống lưu vong ở nước ngoài không thể không cảm thấy lo sợ cho bản thân họ. Lo sợ nhất là những người hiện đang sống tại Thái Lan. Trước đây, truyền thống nhân đạo đã thúc đẩy Thái Lan đã đón tiếp không biết bao nhiêu người tỵ nạn tại Á Châu, cách riêng người Việt Nam. Nhưng hiện nay, chính quyền quân phiệt Thái, do bị Hoa Kỳ lên tiếng chỉ trích vì cuộc đảo chính lật đổ nữ thủ tướng Yingluck Shinawatra hồi năm 2014, đã bắt đầu xa lánh Hoa Kỳ và ve vãn Trung Quốc.
Dạo tháng 7/15 vừa qua, khoảng 100 người tỵ nạn Duy Ngô Nhĩ, một sắc dân theo Hồi giáo tại vùng tự trị Tân Cương, Tây Bắc Trung Quốc, đã bị chính phủ Thái trục xuất khỏi Thái Lan. Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc gọi việc dẫn độ về Trung Quốc hàng loạt này là một hành động vi phạm trắng trợn công pháp quốc tế. Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc lo sợ rằng những người Duy Ngô Nhĩ này sẽ bị bắt hại khi bị cưỡng bách hồi hương như thế.
Liền sau khi ông Gui “mất tích” tại Pattaya, hai nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc đã trốn sang Thái Lan cũng đã  bị gởi trả về Trung Quốc với lý do “vi phạm luật di trú”, mặc dù họ có đầy đủ giấy tờ chứng minh mình là người tỵ nạn. Một trong hai người này đang chuẩn bị lên đường đi định cư tại một nước thứ ba. Liền sau khi về đến Trung Quốc, họ đã bị bắt giữ. Một lần nữa, Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đã lên tiếng khuyến cáo chính phủ Thái Lan.
Yu Yan Hua là một người tầm trú Trung Quốc. Cô đã đến Thái Lan hơn một năm nay. Văn phòng Cao ủy Tỵ nạn tại Bangkok đang duyệt xét hồ sơ để xem cô có phải là một người tỵ nạn chính trị không. Sau khi hơn một chục người bạn tranh đấu cho dân chủ tại Trung Quốc bị chính phủ Tập Cận Bình đàn áp, cô đã phải trả tiền cho những kẻ buôn người để được đưa lậu vào Thái Lan. Cùng  với nhiều người khác cô đã bị nhét vào một chiếc xe buýt như hộp cá mòi và trải qua một cuộc hành trình dài 13 tiếng đồng hồ mới đến được Thái Lan. Là một nhân viên xí nghiệp quốc doanh, cô Yu đã từng bị giam giữ nhiều lần tại Trung Quốc vì các hoạt động tranh đấu cho dân chủ. Nay cô lại càng lo sợ hơn bởi vì từ nhiều tuần lễ qua, cô và những nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc khác tại Bangkok đang bị những người lạ mặt nói tiếng Hoa bám sát. Cô nói: “Tôi cứ tưởng một khi đã trốn thoát khỏi Trung Quốc, tôi sẽ được an toàn. Nếu mai đây tôi có mất tích thì các bạn sẽ biết chắc ai là người bắt cóc tôi”.
(theo http://time.com/4188307/china-kidnapping-dissidents-lee-bo-gui-minhai-mighty-current/?)











































Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2016

Vui Tết


Chu Thập
29.1.16
Tết thì đương nhiên phải vui thôi. Vui như “ba ngày Tết” mà. Có người Việt Nam nào mà không vui mỗi khi Tết đến. Dĩ nhiên ngoại trừ trong gia đình có tang chế hoặc như khi cả nước phải chịu tang trong trận tổng  công kích của mấy ông cộng sản Việt Nam hồi Tết Mậu Thân năm 1968, trong ba ngày Tết già trẻ lớn bé ai cũng đều vui cả. Mỗi lứa tuổi đều có niềm vui riêng của mình.
Với những đứa trẻ ở quê nghèo ở Miền Trung như tôi thì vui Tết có nghĩa là được mặc quần áo mới, được mang dép vài ngày,  được ăn thịt thà thỏa thích, được lì xì để chơi bầu cua cá cọp hay “đánh bài chòi”, được đến rạp “xi nê” để xem phim ca vũ nhạc Ấn Độ hay quỷ nhập tràng của Phi Luật Tân và kể từ năm 1954 khi người Bắc di cư vào Nam, được vào tiệm “kéo ghế” để thưởng thức tô phở “đế quốc và lãng mạn” với đủ mọi thứ tái, nạm, gầu, gân, sách...Vui quá đi thôi. Vui đến độ nhắc đến những kỷ niệm của tuổi thơ là phải nhớ đến những ngày Tết đầu đời ấy.
Lên bậc trung học, phải xa nhà, vui Tết với tôi là được về sum họp với gia đình. Đó là niềm vui thánh thiêng nhứt trong cuộc đời. Thánh thiêng đến nỗi khi xa gia đình hoặc khi cha mẹ và người thân lần lượt ra đi, Tết đến là mỗi dịp cảm thấy trống vắng. Đây là tâm trạng mà tôi thường bắt gặp kể từ khi bỏ nước ra đi sống kiếp tỵ nạn.
Tuy nhiên, bên cạnh sự trống vắng ấy, mỗi khi Tết đến tôi lại tìm được một niềm vui khác. Đó là niềm vui được tặng chút quà mọn cho người khác. Với những người thân còn trong nước, tôi cảm thấy vui khi gởi chút tiền còm về để họ sống cầm hơi trong một năm. Với bạn bè, bà con quen biết ở đây, tôi cũng cảm thấy vui khi chia sẻ chút quà “đặc sản” do mình làm ra từ “công lao, mồ hôi, nước mắt của mình”. Mọi năm tôi thường gởi tặng những trái thanh long bụ bẫm, căng tròn và ngọt lịm của vùng tôi. Trời thương, không ngờ cái giống “xương rồng” của vùng nhiệt đới này lại thích nghi một cách dễ dàng với phong thổ và khí hậu của vùng tôi ở. Cách đây vài năm, trong chuyến về thăm quê hương, mắt tôi sáng lên khi nhìn thấy thanh long được bày bán khắp nơi dọc theo Quốc lộ Một. Giá lại rẻ như bèo. Tưởng bở, tôi vác cả khối về khách sạn để ăn thay nước. Mà đúng là “thay nước” thiệt: thanh long gì mà lạt như nước ốc. Thua xa thanh long của tôi, vừa ngọt, vừa không bèo nhèo.
Năm nay, do thời tiết thay đổi bất thường, thanh long của tôi không chín vào đúng mùa Tết. Để chuẩn bị quà Tết, tôi bèn nghĩ đến một món khác là cá hanh phơi khô. Năm nay, lại trời thương, tôi “được mùa” cá hanh. Nhà tôi dành ra một số để phơi khô. Cá khô thường là món thức ăn của người nghèo. Lúc nhỏ tôi thường thấy mẹ tôi mua cá “ế” đem về xẻ phơi khô để chuẩn bị cho mùa mưa bão, lụt lội. Mới 4,5 giờ sáng, vừa mở mắt đã nghe cả xóm dậy lên mùi cá khô. Ngày nay, buổi sáng hay bất cứ giờ nào trong ngày mà nghe được cái mùi “quê nghèo” ấy thì bụng dạ đầy bơ sữa của tôi cũng phải cồn cào xốn xang. Một ông bạn của tôi, người miền Nam, có lần thưởng thức được cái món khô cá hanh trộn với gỏi đu đủ ấy, đã phải hít hà thốt lên: “ngon bá cháy”. Biết được ở cái xứ thừa mứa của ngon vật lạ này người ta thích những cái món đặc sản của quê nghèo ấy, cho nên năm nay tôi đã dành được một ít khô cá hanh để làm quà Tết. Bạn bè người thân vui, tôi cũng thấy vui. Vui Tết đối với tôi bây giờ là như thế đó.
Từ tuổi thơ cho đến tuổi già, trải qua nhiều niềm vui Tết khác nhau, tôi nghiệm ra được một chân lý trong cuộc đời: mình chỉ thực sự vui khi mang lại niềm vui cho người khác. Từ niềm vui hồn nhiên nhưng vị kỷ của tuổi thơ và tuổi thanh niên bước sang niềm vui của chia sẻ , tôi nhận thấy mình trưởng thành hơn, nên người tử tế hơn mỗi khi biết nghĩ đến người khác và mong ước được mang lại niềm vui cho họ. Tặng quà, nhứt là mỗi dịp Tết đến, là đi tìm một niềm vui như thế. Thật ra, cố tìm cho được niềm vui ấy cũng có nghĩa là đi tìm ý nghĩa của cuộc đời và gặp lại bản thân. Còn nếu có chút tham vọng và nghĩ xa hơn thì tôi cũng cho rằng đó là cách góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Tôi tin rằng thế giới này chắc chắn sẽ là một nơi tốt đẹp hơn và đáng sống hơn nếu ngày càng có nhiều người biết nghĩ đến người khác và cố gắng sống vị tha và quảng đại hơn.
Làm sao có thể “đi làm cách mạng” và cải tạo xã hội bằng cách loại trừ người khác hay “vui khoái” khi sát hại được người khác. Cho tới nay, dân tộc Việt Nam cứ phải khốn khổ vì đã từng có những con người muốn làm cách mạng và cải tạo xã hội bằng cách gieo rắc tang tóc đau thương cho chính đồng bào ruột thịt của mình. Tôi không thể không nghĩ đến bài thơ chúc Tết Mậu Thân năm 1968 của ông Hồ Chí Minh: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. Thắng trận tin vui khắp nước nhà. Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên, toàn thắng ắt về ta”. Tôi thật không thể hiểu được tại sao ông ta có thể vui được khi ra lệnh mở cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968 để tàn sát không biết bao nhiêu người dân vô tội, vào giữa lúc hai bên đã thỏa thuận ngưng bắn để người dân Miền Nam được hưởng một cái Tết thánh thiêng trong an bình. Tôi lại càng không thể hiểu được khi ông có thể “reo vui” đứng nhìn cảnh đau thương tang tóc mà người dân Miền Nam phải trải qua trong Tết Mậu Thân và nhứt là cái bãi tha ma ngập ngụa xác chết của các cán binh cộng sản ngay trong các thành phố, đô thị của Miền Nam. May ra chỉ có loài quỉ dữ mà tôi thường thấy trong các phim ma quái mới có thể nhảy múa reo hò trước cảnh chết chóc của con người mà thôi. Tôi cũng không thể hiểu được tại sao trên đời này có một thứ quỉ dữ như thế lại được tung hô và phong thánh để bắt người dân phải học tập và noi gương “đạo đức”.
Khi tôi đang ngồi suy nghĩ về niềm vui đích thực của Ngày Tết thì Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng vừa kết thúc Đại hội Đảng lần thứ 12. Bao lâu cái Đảng ma quái chết tiệt ấy vẫn tiếp tục độc quyền cai trị đất nước thì cho dẫu cuộc đấu đá nội bộ của những người cộng sản Việt Nam có hất ông này xuống, đưa ông khác lên thì tôi cũng chẳng thấy có chút lạc quan nào về tương lai của dân tộc và đất nước cả. Bao lâu loài quỉ dữ “vui trên xác người” vẫn tiếp tục được đề cao như một tấm gương “đạo đức” thì làm sao dân tộc Việt Nam  có thể có được niềm vui đích thực trong 3 ngày Tết.
Tôi bi quan như thế là bởi vì ý nghĩa đích thực của việc tặng quà  và niềm vui cao quý của dân tộc trong 3 ngày Tết đã hoàn toàn biến chất. Cái thứ “văn hóa tặng quà” mà những người cộng sản Việt Nam đã nhào nặn ra thực chất chỉ là hai chữ “tham nhũng” trá hình. Tham nhũng cũng là tên gọi khác của vô cảm. Mặc cho người dân có đói khổ, những kẻ tham nhũng vẫn có thể tỉnh bơ và trơ trẽn để cướp bóc, nhét vào cho đầy túi và ung dung tự tại để vui và hưởng thụ.
Mới đây, theo nhà báo Phạm Chí Dũng, nhân dịp “Giao thừa Tết Tây, người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao Việt Nam đăng đàn lên tiếng về vụ 5 người Việt bị bắt ở Thái Lan vì tội ăn cắp”. Nghèo đói phải bỏ nước ra đi làm thuê, ở đợ hay buôn thúng bán bưng ở xứ người, có ăn cắp thì cũng chỉ nói lên cái lỗ hổng đạo đức không đáy ở Việt Nam mà thôi. Ở đó, người nghèo không thể sống còn nếu không ăn cắp vặt về đêm. Còn cướp giữa ban ngày mới là đám tham quan. Theo nhà báo Phạm Chí Dũng, thỉnh thoảng các “quan chức” Việt Nam cho tổ chức hội thảo về tệ nạn quan chức nhận hối lộ. Họ lại trút hết tội lỗi lên đầu các doanh nghiệp. Nhưng nhà báo này trích dẫn kết quả của một cuộc khảo sát theo đó chỉ có khoảng 29 phần trăm doanh nghiệp triển khai chính sách liêm chính. Còn lại 70 phần trăm doanh nghiệp sẵn sàng đưa hối lộ cho giới “quan chức”. Giới “quan chức” cộng sản Việt Nam tham nhũng đến độ hiện nay người dân truyền tụng rằng “tại một hội nghị về doanh nghiệp chủ động đưa hối lộ, một chuyên gia nước ngoài đã vội vã lấy khăn mù xoa lau tay mình, mà lại chà thật kỹ, sau cái bắt tay với một quan chức Việt trơn nhẫy mặt”.
Nhà báo Phạm Chí Dũng cho biết: “Năm hết tết đến, “cơ chế” lót tay quan chức lại nổi lên như giặc giã ở khắp nơi, bất chấp năm nào chính phủ và một số địa phương vẫn cố tỏ ra “học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” bằng một chiến dịch phát hành văn bản cấm quan chức nhận quà.”
Tác giả gọi “văn hóa tặng quà” là một thứ “bôi trơn”. “Bôi trơn từ dưới lên trên, từ trên lên cao hơn nữa, để không bao giờ ngừng nghỉ và luôn được “nâng lên một tầm cao mới” như cách nói đầy tính khoa bảng của giời lãnh đạo đặc tính Lê Chiêu Thống mà không hề biết ngượng mồm” (x. Người Việt online 24/1/2014).
Đã còn biết hổ thẹn và “ngượng mồm” thì liệu có thể tiếp tục làm một người Cộng sản nữa không. Dạo về thăm quê hương cách đây vài năm, đi dọc theo bờ biển Nha Trang, mặc dù đã là tháng 9, tôi vẫn còn thấy giăng vẽ khắp nơi những tấm bảng lớn có viết khẩu hiệu “Mừng Đảng mừng Xuân”. Tôi chợt nghĩ: đã cướp “tất tần tật” từ chính quyền cho đến tài sản, đất đai, nhà cửa và ngay cả những quyền căn bản của con người, người Cộng sản cũng cướp luôn cả niềm vui được mừng xuân của người dân. “Mừng Đảng mừng Xuân” chớ có đá động gì đến “mừng dân” đâu. Thật ra, trong thâm tâm, có lẽ chẳng có người dân Việt Nam nào muốn được chia sẻ cái “niềm vui cướp bóc” ấy của người Cộng sản cả. Mỗi người, của ít lòng nhiều, nhưng khi người ta biết chia sẻ cho nhau là lúc họ cảm nhận được một niềm vui mà không chế độ độc tài nào có thể cướp giựt được.
Ở cái xứ sở tự do và dân chủ như Úc Đại Lợi này, tôi thấy mình có đầy đủ mọi thứ quyền để vui hưởng cuộc sống. Nhưng trong vô số niềm vui của cuộc sống mà tôi đang thụ hưởng, tôi nhận thấy rằng niềm vui được chia sẻ và trao tặng một cách vô vị lợi mới thực sự là niềm vui mang lại ý nghĩa cho cuộc sống và giúp tôi được trưởng thành trong nhân cách hơn. Đó là niềm vui mà chẳng có quyền lực nào trên trần gian này, ngay cả tiền rừng bạc bể, có thể mua được hay cướp giựt được. Đó là niềm vui mà mỗi dịp Tết đến, khi tặng cho bạn bè, người thân một chút quà mọn, tôi luôn được nhắc nhớ để tìm kiếm trong cuộc sống mỗi ngày.







Thứ Tư, 3 tháng 2, 2016

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui



                                                                        Chu Thập
Tết 2010

Trong một năm, vui nhứt là ba ngày Tết và vui nhứt trong ba ngày Tết là trẻ con. Trẻ con vui vì được mặc quần áo mới và được người lớn “lì xì”. Nhưng niềm vui của trẻ con còn lớn hơn nếu chúng tự tay kiếm được tiền để “xài” Tết.
Tôi đã có được một niềm vui như thế năm lên 8. Gia đình tôi là nông dân, nhưng không thuộc giai cấp bần cố nông. Của ăn của để không nhiều, nhưng ngoài một đàn gà vịt và một ít con heo, trong nhà lúc nào cũng có một bồ lúa và một thạp đường đen. Dù vậy, được ăn mặc tươm tất mỗi ngày là điều vẫn còn trong mơ khi tôi còn bé. Lúc nào cũng phải mong đến Tết để không phải mặc quần áo “bính” của ông anh kề và nhứt là để được mang “xanh đan” trong ba ngày Tết.
Vậy mà năm lên 8 tuổi, tôi đã có được một niềm vui lớn khi “tự túc tự cường” về việc ăn mặc và tiêu xài trong ba ngày Tết. Số là một con gà con không rõ từ đâu lạc bầy đã đến “tỵ nạn” trong vườn nhà tôi. Tôi nhanh chân “xí” được con vật làm sở hữu. Lúa thóc đã có sẵn trong bồ, tôi liền săn sóc con gà một cách đặc biệt. Đúng 6 tháng sau, nó đã trở thành một chị gà mái. Nó đẻ được một chục trứng. Tôi đương nhiên trở thành một tay tư bản giữa anh chị em “vô sản” trong gia đình: tôi có riêng trong tay một bầy gà. Đúng vào dịp Tết năm đó, tôi nhờ bà chị lớn mang ra chợ bán cả gà mẹ lẫn gà con. Lần đầu tiên trong đời, tôi cầm trong tay gần một trăm đồng. Đây quả là một số tiền quá lớn đối với đứa con nít vào thời đó, bởi vì một tô phở vừa được người Bắc di cư mang theo vào Nam giá chỉ 3 đồng.
Tết năm đó, tôi có được bộ quần áo mới và đôi “xanh đan” do “công sức” mình làm ra cũng như dư tiền để sắm đủ thứ và “ăn xài” trong ba ngày Tết. Đó là cái Tết vui nhứt trong tuổi thơ của tôi.
Thật ra, ở tuổi thơ, dường như tôi không có giờ để buồn. Được sinh ra và lớn lên ở đồng quê quả là một “đặc ân”. Lũy tre, ruộng vườn, sông nước…là một thứ sân chơi vô tận đối với tôi. Ngày dường như quá ngắn để “chán chơi”. Đêm đến chỉ mong mặt trời mọc lên để tiếp tục cuộc chơi.
Có một năm, tôi không được phần thưởng dành cho học sinh giỏi, chỉ vì một bài “luận văn” mà phần kết luận không vừa lòng cô giáo vốn là một nữ tu. Sau khi tả lại một ngày nghỉ mà hoạt động giải trí chính là câu cá, tôi viết lên “cảm tưởng” của tôi là mong suốt đời được đi câu. Vốn có thành kiến về thành tích trốn học của tôi, vị nữ tu phê rằng tôi không ham học mà chỉ biết ham chơi. Dĩ nhiên, điểm bài luận ấy thấp và tôi phải nhường chỗ học sinh giỏi cho người khác.
Có điều lạ, tôi vẫn nhớ mãi “biến cố” ấy trong đời học sinh, nhưng lại không thấy buồn chút nào. Tuổi thơ vẫn cứ trôi qua với một chuỗi ngày vui chơi tưởng như vô cùng tận. Tuổi thơ ấy vẫn cứ nhắc nhở tôi rằng đời là một cuộc vui: hãy tận hưởng bao nhiêu niềm vui cuộc đời mang lại cho ta. Dường như các trưởng sinh hoạt trong các hội đoàn dành cho thiếu nhi cũng muốn nhắc nhở chân lý ấy khi cho các em vừa vỗ tay vừa hát bài: “Con chim vàng, bay trên cành, đời mà vui sướng là do chúng ta. Con chim vàng, bay trên cành, đời mà vui sướng ta hát vang lừng”.
Càng thêm tuổi đời, tôi càng thấm thía với câu hát đơn sơ ấy: “đời mà vui sướng là do chúng ta”. Chẳng có ai vui sướng thay cho mình cả.Vui hay không là tùy mình.
Tôi nhớ một câu chuyện mà nội dung có lẽ cũng muốn mời gọi tôi suy nghĩ theo hướng ấy. Có một nhà hiền triết nọ nổi tiếng thông thái, có thể giải đáp mọi vấn đề. Ngày nào ông cũng ngồi trước cổng thành để giúp đỡ tất cả những ai cần xin ý kiến. Mọi người đều trân trọng đón nhận lời khuyên của ông. Ngày nọ, có người muốn giăng bẫy nhà hiền triết.Trước một đám đông đang ngưỡng mộ nhà hiền triết, anh cầm chặt trong tay một con chim, đến trước mặt nhà hiền triết, rồi đặt câu hỏi: con chim này sống hay chết? Anh ta đã nghĩ kế trong bụng: nếu nhà hiền triết trả lời “con chim đang  sống”, anh sẽ bóp cho nó chết. Còn nếu ông bảo “nó chết”, anh sẽ thả cho nó bay đi. Nhà hiền triết nhìn thẳng vào mắt con người tinh ranh ấy và nhẹ nhàng trả lời: “Con chim này sống hay chết là tùy anh”.
Niềm vui có lẽ cũng giống như con chim:  vui hay không là tùy mỗi người chúng ta. Cuộc đời đã có sẵn biết bao nhiêu niềm vui. Trong một bài viết về niềm vui của tôn giáo, cố giáo sư Nguyễn ngọc Lan đã viết về niềm vui như sau: “Mừng vui là chuyện thường tình trong cuộc sống. Mừng một đám cưới, vui vì một trẻ thơ chào đời, đầy tháng, thôi nôi. Vui vì gia đình trên thuận dưới hòa, mừng vì làm ăn phát đạt hoặc thăng tiến trong nghề nghiệp. Niềm vui của kẻ khá giả còn trúng số độc đắc hay niềm vui của người ăn mày không dám đòi hỏi chi hết mà bỗng dưng được đãi xôi gấc hay một tô phở nóng sốt. Vui lớn, vui nhỏ, niềm vui cũng nhiều, cũng đa dạng như những nỗi buồn, nỗi khổ trong cõi người ta” (x. Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím)
Bên cạnh bao nhiêu nỗi buồn vốn không thể tránh né được, cuộc đời cũng cống hiến vô số những niềm vui. Vấn đề là tùy chúng ta có biết đón nhận những niềm vui ấy không mà thôi.
Chúng ta hãy thử nghe một số niềm vui của một nhà tư tưởng nổi tiếng của Trung Hoa là ông Kim Thánh Thán. Nhân một lúc ngồi buồn trong một ngôi miếu, cùng với một người bạn nhìn mưa rơi liên miên, nhà phê bình văn học thuộc phái ấn tượng của thế kỷ 17 này đã ôn lại một số những niềm vui như sau:
“…Mùa hè, tháng Bảy, mặt trời ngừng ở giữa trời, không có gió mà cũng không có mây, sân trước sân sau hực lên như lò lửa, không một con chim nào dám bay lại. Mồ hôi đổ khắp mình, chảy như suối. Cơm dọn trước mắt mà ăn không được. Bảo trải chiếu để nằm trên đất, nhưng chiếu ướt nhẹp, ruồi bay lại đậu ở cổ, ở mũi, đuổi không đi. Đương lúc không biết làm sao, thì bỗng mây đen cuốn tới, sấm nổ vang như trăm vạn tiếng trống tiếng kèn của đạo quân. Mái nhà nước xối như thác. Mồ hôi ngưng chảy, đất khô như quét, ruồi bay đi hết, ăn cơm được. Chẳng cũng khoái ư?
Một ông bạn cách biệt mười năm, chiều tối bỗng tới nhà. Mở cửa, vái nhau xong, chưa kịp hỏi bạn đi đường thủy hay đường bộ, cũng chưa kịp mời bạn ngồi giường hay ở ghế, vội vào trong bếp, hỏi nhỏ vợ: “Bà có sẵn đấu rượu như bà Đông Pha không”. Vợ vui vẻ gỡ cây trâm vàng đem đổi rượu. Tính ra đãi bạn được ba ngày. Chẳng cũng khoái ư?
Đêm ngồi một mình trong phòng không, đương bực mình vì một con chuột ở đầu giường, sột soạt không biết gậm đồ vật nào hay nhấm cuốn sách nào. Trong lòng nghi hoặc, không biết phải làm sao thì bỗng thấy một chú mèo dữ, đuôi ngoe nguẩy, mắt chăm chú như ngó cái gì. Tôi yên lặng nín thở đợi xem. Bỗng nghe kêu chít lên một tiếng nhỏ, con chuột chạy biến đi như gió. Chẳng cũng khoái ư?
Sau bữa cơm, không biết làm gì, sắp đặt lại đồ vật trong một chiếc rương cũ, bỗng thấy hằng chục hằng trăm văn khế cũ mới của những người thiếu nợ. Người còn, kẻ mất, nhưng toàn là vô hy vọng đòi lại được tiền. Không cho ai hay, tôi gom lại, châm lửa đốt hết, ngửng lên nhìn trời cao không gợn một đám mây. Chẳng cũng khoái ư?
Mưa dầm suốt tháng, sáng nằm ở giường không muốn dậy, như người say rượu hoặc đau. Bỗng nghe chim ríu rít mừng nắng. Tôi vội đưa tay ra vén màn, đẩy mạnh cửa sổ ngó ra, thấy ánh mặt trời long lanh, rực rỡ và cây trong rừng như mời gọi. Chẳng cũng khoái ư?
Đêm Đông uống rượu, trời chuyển lạnh dữ, đẩy cửa sổ nhìn ra thấy những nắm tuyết lớn phủ mặt đất tới ba bốn tấc. Chẳng cũng khoái ư?...”(Lâm Ngữ Đường, Sống Đẹp, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê)
Trên đây là một số trong 33 niềm vui bất ngờ của ông Kim Thánh Thán. Nhìn lại cuộc sống mỗi ngày, tôi cũng thấy mình có đến “36 vạn” niềm vui như thế. Mỗi sáng, ra ngắm vườn, tôi “vui” đến độ không muốn trở vào nhà. Không vui sao được, khi một hạt giống mang từ một chuyến đi xa về, gieo vào lòng đất mất mấy tháng, tưởng đã chết, nay lại nẩy mầm nhú lên. Không vui sao được khi, một buổi sáng nọ, bỗng thấy cái cây trồng bao lâu nay tưởng là “cây đực”, nay lại đâm hoa. Không vui sao được một buổi sáng nào đó, nghe lại tiếng hót quen thuộc của một giống chim tưởng đã buồn bỏ đi nơi khác, nay lại trở về…Quả thực, mỗi ngày thiên nhiên đều mang lại cho tôi một niềm vui mới. Ai đó đã có lý để nói: “nếu bạn ở gần thiên nhiên, bạn sẽ không cảm thấy cô đơn”
Vui với và vì thiên nhiên đã đành, tôi cũng luôn cảm thấy vui mỗi khi đón nhận một cách xử đẹp của người khác và nhứt là khi mình làm một nghĩa cử cho người khác. Vị mục sư phục vụ trong một viện dưỡng lão tại vùng tôi ở có ghi lại trong tờ “thông tin” hằng tháng của viện một câu chuyện như sau: “Một thanh niên mắc “Hội chứng Down” được nhận vào làm việc trong một siêu thị. Công việc của anh chỉ đơn giản là đứng ở quầy tính tiền để giúp cho hàng hóa vào bao bị. Trong ngày làm việc đầu tiên, viên quản lý siêu thị bảo người thanh niên phải xem trọng khách hàng và cố gắng làm sao để “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”.
Để thực thi lời dặn dò ấy, mỗi đêm người thanh niên vào Internet và tìm tòi trong sách báo những câu châm ngôn có ý nghĩa. Anh chép ra hằng trăm bản và ngày hôm sau, cứ trong mỗi gói hàng, anh xen vào một câu châm ngôn.
Vài tuần lễ sau, viên quản lý siêu thị nhận thấy ở quầy hàng có người thanh niên làm việc, khách hàng đứng nối đuôi nhau thật dài. Ông mời họ đến những quầy tính tiền khác để không phải chờ lâu, nhưng mọi người đều từ chối và nói: “Chúng tôi muốn có được câu “châm ngôn”.
Không mấy chốc, người thanh niên mắc “hội chứng Down” được bầu làm “nhân viên sáng giá nhứt” của siêu thị, không phải vì khả năng của anh, mà chỉ vì anh là người muốn mang lại niềm vui cho người khác.”
Không rõ người thanh niên mắc hội chứng Down trên đây có trích dẫn câu châm ngôn nào của ông Eckhart von Huchheim, một nhà tư tưởng Kitô giáo người Đức vào thế kỷ thứ 14 thường được gọi là Meister Echhart không? Tôi thích nhứt là lời khuyên sau đây của ông: “Xem giây phút hiện tại là giây phút quan trọng nhứt, xem công việc mình đang làm là công việc quan trọng nhứt, xem người đang ở trước mặt mình là người quan trọng nhứt.”
Tôi đã cố gắng sống theo lời khuyên ấy và tôi nhận ra rằng đời quả là một cuộc vui không ngừng. Khi còn bé, tôi thường cảm thấy không hiểu nổi được người lớn vì tôi thấy họ chỉ thực sự vui vẻ nói cười với nhau trong dịp Tết. Khi lớn lên, tôi cũng đã trải qua những “dâu bể, truân chuyên” như bao nhiêu người khác, nhưng có lẽ do ảnh hưởng của những niềm vui đơn sơ ngày nhỏ, tôi vẫn giữ được một tinh thần lạc quan vui vẻ dù rằng nhiều lúc thực tại “buồn muốn chết”. Giờ đây, dù không thể biết quãng đời trước mặt dài hay ngắn, tôi tự bắt mình bước vào tiến trình đếm ngược những năm tháng còn lại và nhận ra rằng  mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi giây phút tôi đang có thực là đáng yêu, đáng quí và đáng để vui hưởng biết bao nhiêu. Có lẽ chẳng cần  phải chờ đến ba ngày Tết để vui, bởi cuộc đời lúc nào cũng tràn ngập niềm vui .











Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

Thân phận người tỵ nạn A Phú Hãn



29.1.16

Kể từ sau cuộc khủng bố tại Hoa Kỳ ngày 11 tháng 9 năm 2001, cùng với Phong trào Hồi giáo cực đoan Taliban, A Phú Hãn là một trong những nước Hồi giáo  ở Á châu được thế giới nhắc đến nhiều nhất. Nhưng có lẽ thế giới lại ít nghĩ đến thân phận của người tỵ nạn nước này.
Theo thống kê năm 2015, dân số A Phú Hãn có khoảng 32 triệu người. Nhưng hiện nay đang có khoảng 2.6 triệu người tỵ nạn A Phú Hãn sống tại hơn 70 quốc gia trên khắp thế giới. Thảm kịch tỵ nạn của người A Phú Hãn bắt đầu vào cuối tháng 12 năm 1979. A Phú Hãn là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng người dân nước này vẫn luôn hài lòng với cuộc sống thôn dã truyền thống của họ. Rất ít khi vì cuộc sống cơ cực hay để đi tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn mà người A Phú Hãn phải bỏ nước ra đi. Nhưng cuối năm 1979, cuộc sống nghèo nàn nhưng êm ả ấy đã hoàn toàn bị xáo trộn  khi Liên Xô đem quân sang xâm chiếm đất nước này. A Phú Hãn bỗng nhiên rơi vào vòng xoáy của cuộc chiến tranh lạnh. Xe tăng Liên Xô ào ạt tràn vào các làng mạc, sát hại vô tội vạ thương dân vô tội, phá hủy nhà cửa ruộng vườn , các phương tiện sinh sống của họ và xô đẩy họ bỏ nước ra đi để tìm sự an toàn. Vì cuộc chiến tranh “ủy nhiệm” giữa hai khối Tự Do và Cộng Sản tại Á Phú Hãn trong suốt thập niên 1990, ngày càng có có nhiều người dân nước này trốn chạy khỏi sự bạo động, bách hại, thanh lọc chủng tộc và diệt chủng. Nhiều người chạy sang hai nước láng giềng Pakistan và Iran. Có đến 95 phần trăm người tỵ nạn Á Phú Hãn hiện đang sống tại hai nước này.
Tuy nhiên, trong suốt 36 năm qua, lúc nào người tỵ nạn A Phú Hãn cũng mong được trở về quê hương mỗi khi tình thế cho phép họ hy vọng có được hòa bình và công lý trên đất nước họ. Chẳng hạn trong hai năm 1992 và 1993, sau khi chế độ cộng sản tại A Phú Hãn sụp đổ, đã có hơn 2 triệu người từ Pakistan và Iran tự nguyện hồi hương. Nhưng không bao lâu sau đó, khi cuộc nội chiến đã bùng nổ và nhận chìm A Phú Hãn vào hỗn loạn trong suốt một thập niên, cuộc hồi hương của người tỵ nạn đã bị đình hoãn.
Sau khi chế độ Taliban cáo chung, được cộng đồng thế giới nâng đỡ, đã có trên 5.8 triệu người tỵ nạn A Phú Hãn từ Pakistan và Iran trở về xứ sở. Đây là cuộc hồi hương của người tỵ nạn lớn nhất trong lịch sử của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc. Mặc dù người tỵ nạn A Phú Hãn tự nguyện hồi hương và phải đối phó với cuộc sống đầy khó khăn trên quê hương họ, chính phủ Iran và Pakistan vẫn cứ rêu rao rằng người tỵ nạn là một gánh nặng kinh tế tạo ra cuộc khủng hoảng nhân đạo hoặc có thể là cái ổ để chiêu mộ khủng bố. Dán lên họ những khẩu hiệu như thế là quên rằng họ đã đóng góp rất nhiều cho những xã hội đã đón tiếp họ cũng như thế giới nói chung.
Dù sao, người tỵ nạn và tầm trú cũng là những thường dân có một phẩm giá và nhân quyền nhưng vì cuộc sống bình thường bất thần thay đổi khiến họ phải bỏ nước ra đi để tìm sự an toàn ở những nơi khác. Cha đẻ của thuyết tương đối Albert Einstein (1879-1955) và văn hào Pháp Victor Hugo(1802-1885) chẳng hạn là những nhà trí thức vĩ đại của thời đại họ, nhưng bất thần trở thành những người tỵ nạn sau khi trốn chạy cuộc bách hại trên quê hương mình. Họ đã có những đóng góp quý báu nhất cho quê hương thứ hai của họ.
Hàng triệu người tỵ nạn A Phú Hãn tại Pakistan và Iran là những tài sản vô giá cho nền kinh tế của hai nước này. Nhiều người đã và đang là những nhân công đắc lực mặc dù chỉ được trả bằng một đồng lương thấp hơn nhiều so với người dân địa phương hoặc phải làm những công việc mà người dân địa phương không muốn đụng đến ngón tay. Một số khác thi thố những tài năng đặc biệt. Chẳng hạn, chỉ có họ mới dệt được những tấm thảm đặc thù của A Phú Hãn, nhưng được các hiệu buôn địa phương mua lại với giá rẻ mạt, cho đóng vào nhãn hiệu mới và trục lợi tối đa bằng cách  xuất cảng sang các nước phát triển.
Ngoài ra, hàng tháng không ít người tỵ nạn A Phú Hãn nhận được từ thân nhân của họ tại các nước phát triển như Âu Châu, Bắc Mỹ, Úc Đại Lợi và các quốc gia vùng Vịnh từ 800 đến 1000 Mỹ kim. Họ dùng số tiền này để thuê nhà hoặc trả cho các dịch vụ khác và như vậy đóng góp đáng kể vào kinh tế của các nước tiếp nhận họ. Hơn nữa, cũng phải kể đến không ít người tỵ nạn A Phú Hãn giàu có hiện đang làm ăn tại Pakistan và các nước vùng Vịnh: họ đang góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế của các nước này. Kể từ năm 2001, một số lớn doanh nhân A Phá Hãn đã hồi hương và đầu tư vào những lãnh vực chính như viễn thông, xây dựng, vận tải, tiếp tế. Đây là những lãnh vực đã góp phần gia tăng mậu dịch giữa A Phú Hãn và các nước láng giềng như Pakistan và Iran.
Nếu người tỵ nạn A Phú Hãn đã có những đóng góp đáng kể như thế vào kinh tế thì xem họ chỉ như một gánh nặng kinh tế quả là một bất công. Còn bảo rằng các trại tỵ nạn A Phú Hãn là nơi chiêu mộ khủng bố cũng chỉ là một cái cớ để tránh né khỏi phải hợp tác vào cuộc chiến chống khủng bố mà thôi. Người tỵ nạn A Phú Hãn thiết yếu là nạn nhân của bạo động và khủng bố. Chối bỏ tư cách tỵ nạn của họ rõ ràng là một vi phạm quyền của họ như được Công Ước Genève năm 1951 nhìn nhận. Các nước ký tên vào Công Ước này và các hiệp ước quốc tế khác về nhân quyền đều có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền tỵ nạn và bảo vệ những quyền này bằng cách bảo vệ họ chống lại bạo động, bách hại và tình trạng thiếu an ninh khiến họ không thể trở về quê hương xứ sở của họ.
Mặc dù trong 14 năm qua  đã có 5.8 triệu người tỵ nạn A Phú Hãn  hồi hương từ Pakistan, Iran và nhiều nước khác, phần lớn vẫn còn do dự chưa muốn trở về xứ sở của mình. Hazrat Shah là một người thợ dệt thảm hiện đang sống tại Pakistan. Khi được một viên chức Liên Hiệp Quốc hỏi liệu có muốn hồi hương không, ông trả lời: “Không có nơi nào bằng quê hương của mình cả. Nhưng bạn sẽ đi về đâu nếu nhà của bạn đã cháy rụi?” Người thợ dệt thảm này còn nói thêm: “Hôm nay đã có hai ngôi mộ vừa mới được được để chôn cất hai người anh em của tôi. Họ vừa mới bị giết chết trong một vụ nổ mìn tại A Phú Hãn”. Hai người này đã trở về nhà tại Gereshk trong tỉnh Helmand, miền Nam A Phú Hãn. Họ trở về để tìm công ăn việc làm và dọn đường cho cả gia đình họ từ Pakistan trở về.
Sự sụp đổ của chế độ Taliban cũng như những hứa hẹn bảo đảm an ninh và tái thiết A Phú Hãn đã khiến cho hàng triệu người tỵ nạn lạc quan. Tuy nhiên, cho tới nay chương trình tái thiết A Phú Hãn vẫn chưa hình thành. Nhiều người tỵ nạn hồi hương đã phải lâm cảnh bơ vơ lạc lõng trên chính quê hương của họ. Nhiều người vẫn tiếp tục kiếp sống tỵ nạn của họ, nhất là tại các thành phố lớn. Hai vấn đề lớn mà người tỵ nạn hồi hương phải đối mặt là giành lại đất đai đã bị chiếm hữu và có được nguồn nước uống cũng như canh tác.  Một trong những quan ngại lớn của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc và cộng đồng thế giới là nhiều người tỵ nạn hồi hương không được trợ giúp để tái hội nhập vào xứ sở của họ. Bao lâu những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội tại A Phú Hãn chưa được cải thiện, thì để người tỵ nạn hồi hương hoặc trục xuất những người tầm trú là điều bất nhân. Bao lâu người tỵ nạn A Phú Hãn vẫn còn tiếp tục sống tại các nước tiếp nhận họ, thì cộng đồng thế giới nên chia sẻ gánh nặng với các nước này trong việc trợ giúp người tỵ nạn để họ có thể học được những kỹ năng cần thiết hầu đóng góp cho các nước này cũng như chuẩn bị hành trang để trở về quê hương của mình.
Ngoài ra, các nước phát triển cũng cần đẩy mạnh các chương trình định cư bằng cách tiếp nhận nhiều hơn những người tỵ nạn A Phú Hãn từ Iran, Pakistan và Ấn Độ. Dĩ nhiên, việc cấp phát qui chế tỵ nạn và định cư người A Phú Hãn tại các nước phát triển cũng phải được tiến hành song song với công tác giúp tái thiết và phát triển A Phú Hãn. Một khi đã thích nghi và có được cuộc sống an toàn tại quê hương mới, chính những người tỵ nạn A Phú Hãn mới có thể trợ giúp cho thân nhân bà con của họ ở quê nhà cũng như đang tỵ nạn tại Iran, Pakistan và Ấn Độ.
Về lâu về dài, cũng như hầu hết những người tỵ nạn khác trên khắp thế giới trong đó điển hình là người Việt Nam, một khi đã được định cư tại các nước phát triển, người A Phú Hãn cũng sẽ giàu có và đạt được trình độ học vấn cao. Đây chính là những thứ vốn quý họ sẽ dùng để đầu tư trở lại tại đất nước của mình. Bằng chứng là  có nhiều người giàu có và chuyên viên A Phú Hãn, trong đó có đương kim Tổng thống Ashraf Ghani và nhiều nhân vật khác,  đã từng là những người tỵ nạn: họ đã hồi hương và có những đóng góp lớn lao trong việc tái thiết đất nước kể từ năm 2002.
Cách đây gần 2.500 năm, kịch tác gia Hy Lạp Euripides đã viết: “Trên trái đất này không có nỗi buồn nào lớn cho bằng mất quê hương của mình”. Thật vậy, đối với hầu hết người tỵ nạn A Phú Hãn như người thợ dệt thảm Hazrat Shah trên đây, không có một mảnh đất  xa lạ nào có thể thay thế cho quê hương của họ và họ chỉ có thể trở về quê hương khi cảm thấy an toàn mà thôi. Dĩ nhiên, giải pháp  thực sự lâu bền cho vấn đề tỵ nạn A Phú Hãn là tự nguyện hồi hương, nhưng chỉ với điều kiện là tình trạng an ninh tại nước này được bảo đảm. Do đó, Pakistan, Iran và các nước Tây Phương là nơi hiện đang có đông người tầm trú A Phú Hãn sinh sống, có thể và nên hợp tác để trước tiên bảo đảm an ninh cho nước này. Tình trạng an ninh bền vững và thịnh vượng tại đây đương nhiên sẽ khuyến khích người tỵ nạn A Phú Hãn tự nguyện hồi hương, chứ không cần phải có chính sách cưỡng bách hồi hương của các nước đã đón tiếp họ.


(Bài này được viết dựa theo nội dung bài phân tích của tác giả Ashraf Haidari, được đăng trên báo The Diplomat số ra ngày 21 tháng Giêng vừa qua. Đã từng là một người tỵ nạn, ông Haidari hiện đang đứng đầu Phân bộ Chính sách và Chiến lược của Bộ ngoại giao A Phú Hãn. Ông đã từng phục vụ trong sứ bộ ngoại giao của A Phú Hãn tại Ấn Độ. Ngoài ra, trước đó ông cũng đã từng làm cố vấn cho thứ trưởng an ninh quốc gia và tham vụ ngoại giao tại Hoa Kỳ)