Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2016

Quyết tâm đầu năm của tôi: hãy là chính mình!


Chu Thập
15.1.16
Đầu năm, cũng như ai, tôi mon men vào các trang tử vi để xem thử thời vận. Nhưng nhận thấy năm nào con đường được các nhà tiên tri mở ra trước mắt cho tôi cũng đều “huề vốn” cả cho nên tôi không “mặn” với tử vi cho lắm. Tôi thiên về tướng số hơn, nếu hiểu tướng số là thuật “trông mặt mà bắt hình dong”. Nhưng kinh nghiệm của tôi trong việc nhìn người mà đoán tính tình và thời vận  xem ra cũng nhiêu khê lắm.
Vào những năm đầu thập niên 1960, không rõ tướng mạo của tôi lúc còn ở trung học có thê thảm lắm không mà một ông thày tướng số đã làm cho tôi phải mất ăn mất ngủ rất nhiều ngày. Số là năm chuẩn bị thi trung học đệ nhứt cấp, một nhóm bạn chúng tôi rủ nhau lên Tháp Bà (Nha Trang) để nhờ “các thày” xem cho biết mình có qua cầu được trong kỳ thi sắp tới không. Sau khi xem chỉ tay và nhìn kỹ diện mạo của tôi, một ông thày đã tuyên bố gần như chắc nịch rằng tôi sẽ rất vất vả, nếu không muốn nói là sẽ trượt vỏ chuối trong kỳ thi năm đó. Vào thời đó, cứ hễ thi rớt thì người ta tự an ủi hay được người xung quanh vỗ về: “học tài thi phận” mà!  Giỏi cách mấy mà có số phận hẩm hiu thì cũng rớt thôi. Tôi chuẩn bị và bước vào trường thi với câu thần chú ấy. Nhưng cuối cùng, kết quả thi của tôi năm đó đã chứng minh rằng ông thày tướng số ở Tháp Bà đúng là một ông thày bói nói mò. Kể từ đó, tôi không còn tin ở bất cứ thuật tướng số nào nữa.
Dù vậy, trong cuộc sống, cơn cám dỗ “trông mặt mà bắt hình dong” vẫn không bao giờ rời khỏi cách nhìn người của tôi, mặc dù trong đa số trường hợp, lúc nào sự suy đoán của tôi cũng đều trật lất. Lần đầu tiên khi nhìn thấy một con người có gương mặt sáng sủa và nụ cười thân thiện như ông Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng, tôi nghĩ rằng một Gorbachev đang đến với Việt Nam. Nhưng sau 2 nhiệm kỳ thủ tướng của ông, tôi mới thấy mình không có “khiếu” để theo học khoa tướng số. Tôi cũng có một kinh nghiệm tương tự khi lần đầu tiên được nhìn thấy dung nhan của đương kim chủ tịch nhà nước Trung Cộng, ông Tập Cận Bình. Cứ nhìn nụ cười không thấy răng của ông, ai dám bảo đây là một đồ tể. Tôi đã lầm và tôi cũng nghĩ rằng rất nhiều người trên thế giới này cũng đã lầm: đằng sau nụ cười thân ái, hiền hậu ấy là cả một trời toan tính độc ác mà chỉ có trời mới biết!
Tôi đã lầm khi nhìn diện mạo, cử bộ, dáng đi, giọng nói hay ngay cả nụ cười của người khác để suy đoán về tính tình hay tư cách của họ. Nhưng bởi lẽ con người là một thực thể thống nhứt gồm có thân xác và tinh thần tương thuộc nhau cho nên bộ diện bên ngoài cũng phần nào nói lên nội tâm sâu kín bên trong. Các nhà lãnh đạo, vì là người của công chúng, cho nên dễ trở thành đối tượng để áp dụng môn tướng số. Trực giác của tôi có lẽ đúng khi tôi theo dõi nhứt cử nhứt động của cựu thủ tướng Úc Tony Abbott. Khi thấy ông thích phô diễn bộ ngực nở nang đầy lông lá,  khi nhìn ông xông xáo để “góp mặt” khắp nơi, đó là chưa kể đến những lần phát ngôn thiếu cân nhắc của ông, tôi nghĩ ngay rằng sự nghiệp chính trị của ông không bền. Mà quả đúng như thế.
Có một nhân vật khác mà từ lâu tôi vẫn thắc mắc về điệu bộ khác thường . Người đó là tổng thống Nga Vladimir Putin. Ông này cũng thích biểu diễn như ông Tony Abbott. Nhưng tôi chú ý đến cách đi đứng của ông hơn: tay phải của ông hầu như bất động, chỉ có tay trái mới vung lên theo nhịp bước. May quá, mới đây, các nhà khoa học đã giải mã được dáng điệu đặc biệt ấy của ông tổng thống xem trời bằng vung này. Dịp Giáng Sinh vừa qua, Tạp chí Y khoa Anh Quốc (The British Medical Journal) có đăng tải kết quả một cuộc nghiên cứu của một nhóm bác sĩ Bồ Đào Nha, Ý và Hòa Lan. Các bác sĩ này nhận thấy rằng không riêng gì ông Putin, mà thủ tướng Nga, ông Dmitri Medvedev và một số viên chức cao cấp khác trong chính phủ Nga cũng đều có dáng đi khó hiểu ấy: chỉ có một cánh tay cử động, còn cánh tay kia gần như bất động. Thoạt tiên, các nhà nghiên cứu cho rằng việc vung tay không đều khi đi đứng là dấu hiệu của giai đoạn tiền Parkinson. Nhưng nghiên cứu kỹ lưỡng nhiều đoạn Video trên Youtube, các nhà nghiên cứu đã loại bỏ giả thuyết về bệnh Parkinson, bởi vì các nhân vật nói trên không có các triệu chứng khác như tay run rẩy hoặc tay chân không phối hợp nhịp nhàng. Riêng trong trường hợp ông Putin, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng ông này là một võ sĩ nhu đạo có tới đệ ngũ đẳng huyền đai, tay chân vẫn còn phối hợp rất nhịp nhàng khéo léo. Như vậy không thể bảo rằng dáng đi của ông là dấu hiệu của tiền Parkinson. Chỉ còn lại một giả thuyết mà các nhà nghiên cứu nghĩ là có tính thuyết phục hơn cả: dáng đi của ông Putin là kết quả của thời gian tập luyện trong ngành KGB. Dựa theo “giáo trình luyện tập” do các cựu điệp viên KGB biên soạn và cung cấp, các nhà nghiên cứu giải thích rằng khi di chuyển, đối mặt với kẻ thù, tay phải của các điệp viên KGB phải luôn được đặt ở ngực bên trái để có thể rút súng ngắn đeo ở phía dưới nách trái bất cứ lúc nào. Chính vì tay phải luôn bị đặt trong tư thế đó mà điệp viên KGB Putin đã có cánh tay phải hầu như bất động mỗi khi đi đứng (x.RFI tiếng Việt 1/1/2016). Có lẽ tính cách của ông đã được định hình qua dáng đi ấy.
Thì ra thế. “Dáng đi xạ thủ” của ông Putin phần nào nói lên tính cách của ông: luôn trong tư thế sẵn sàng ứng chiến với mọi người, bởi vì ông chẳng tin ai cả! Và có lẽ trên thế giới này cũng chẳng có nhiều người tin ông, ngay cả khi ông bày tỏ “thiện chí”.
Nhưng điều đáng nói ở đây, theo tôi, không phải là dáng đi của ông Putin, mà là của ông thủ tướng Medvedev. Ông này cũng có dáng đi y chang như ông Putin. Tính cách của ông Putin có lẽ đã được hình thành qua thời gian huấn luyện ở KGB và được củng cố trong suốt hơn mười mấy năm hết làm thủ tướng đến làm tổng thống của ông. Còn ông Medvedev, người chưa hề trải qua bất cứ năm nào trong quân đội, lại cũng chẳng có dấu hiệu nào của bệnh Parkinson, nếu cũng có “dáng đi xạ thủ” như thế là do bắt chước “thủ trưởng” của mình mà thôi. Ông Medvedev muốn được làm một “bản sao” của quan thày Putin!
Nhìn cách ông Medvedev rập khuôn theo “minh chủ” Putin, tôi cũng nghĩ đến hiện tượng chạy theo thần tượng trong xã hội ngày nay. Người ta say mê các thần tượng đến nỗi muốn sao chép cách ăn mặc, nói năng và cử chỉ của họ.
Trong xã hội tự do, con người tự do chạy theo các thần tượng. Còn trong các chế độ độc tài, như Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chẳng hạn, người ta bị bắt buộc phải chạy theo nhà độc tài. Hồ Chí Minh đã thành công trong việc tự tô vẽ cho mình thành thần tượng và bắt mọi người phải rập khuôn theo ông. Mà bởi ông đã đeo vào người đủ thứ mặt nạ mà nét vẽ chính là sự dối trá cho nên người dân sống dưới trướng của ông và hậu duệ của ông cũng đành phải đeo vào người mặt nạ của dối trá. Vì sợ hãi cho nên những kẻ dám đứng lên tháo gỡ chiếc mặt nạ của dối trá ấy không phải là nhiều. Tựu trung, trong chế độ cộng sản, con người không dám là sống cho sự thật, cho chính mình, mà phải lây lất sống với chiếc mặt nạ che khuất cả không khí của tự do.
Trong hồi ký “Đèn Cù”, nhà báo Trần Đĩnh, người đã từng được lệnh viết tiểu sử của Hồ Chí Minh, thường trích dẫn một câu nói thời danh của triết gia Đan Mạch Soren Kierkegaard (1813-1855). Trong phản ứng chống lại thứ triết học cổ điển khô khan chỉ quanh quẩn với những ý niệm trừu tượng, người được xem là cha đẻ của triết học hiện sinh thường nhắn nhủ: “Sois de tout coeur ce que tu es”. Trần Đĩnh dịch là: “Mày là thế nào thì hãy sống hết lòng như thế”. Tôi hiểu câu nói đó một cách đơn giản: hãy là chính mình!
Phải can đảm lắm con người mới dám sống thật với chính mình. Trong các đức tính của con người, can đảm là điều đáng khâm phục hơn cả. Ca nhạc sĩ Rock người Anh nổi tiếng David Bowie vừa mới qua đời. Tôi chưa từng tôn ông làm thần tượng. Nhưng tôi khâm phục sự can đảm của ông. Ngay từ năm 1972, sáu tháng sau khi có cuộc diễn hành đầu tiên của một nhóm người đồng tính tại London, Bowie đã công khai tuyên bố rằng ông là một người đồng tính. Trong một cuộc phỏng vấn, ông còn nói thêm rằng ông là một người lưỡng tính. Vào thời điểm đó, thái độ bộc bạch trên đây của ca sĩ Bowie quả là một “trái bom tấn” làm chao đảo không ít những người hâm mộ ông. Kể từ đó, thông điệp mà ông thường ký thác trong các ca khúc của mình  là lời kêu gọi “hãy là chính mình” và hãy tôn trọng sự khác biệt của người khác.
Một nhân vật khác mà tôi cũng khâm phục sự can đảm là “bà” Caitlyn Jenner, được tạp chí Time xếp vào hàng thứ 7 trong danh sách những người được chọn làm người của năm 2015 vừa qua. Là một nam lực sĩ điền kinh đã từng đoạt huy chương vàng trong Thế Vận Hội năm 1976 cũng như đã từng có vợ con,  mới đây Jenner đã xin chuyển giới. Và hiện nay “bà” được xem như  phát ngôn viên của những trẻ em chuyển giới. Tôi khâm phục những người như thế bởi vì “họ là thế nào thì họ sống hết lòng như thế”.
Mỗi dịp đầu năm, cũng như rất nhiều người, tôi cũng làm một số quyết tâm. Và năm nào tôi chỉ lập lại những quyết tâm cũ rích xoay quanh việc sống có kỷ luật hơn như ăn uống điều độ, siêng năng tập thể dục v.v. Năm nay, tôi lại nghĩ đến một quyết tâm xem ra mơ hồ hơn: đó là “hãy là chính mình”. Mơ hồ nhưng có lẽ sẽ mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của tôi hơn cũng như giúp tôi cảm thấy an bình và hạnh phúc hơn.
“Hãy là chính mình”, theo tôi, trước tiên là biết mình. Đây là bài học vỡ lòng mà tôi đã học được khi vừa bước chân vào ngôi nhà triết học. Dẫn giải về châm ngôn này, nhà hiền triết Hy Lạp Socrates (470/469-399 trước Công nguyên) nói: “Lẽ khôn ngoan đích thực là biết rằng mình chẳng biết gì”. Với tôi, biết mình là biết mình “ngu”, nghĩa là luôn ý thức về những giới hạn, khuyết điểm và lầm lỗi của mình. Có như thế mới biết cảm thông và khoan nhượng đối với người khác. Kinh nghiệm bản thân cho tôi thấy rằng đây là thái độ nền tảng nhứt luôn mang lại sự an bình cho tôi.
“Hãy là chính mình”, với tôi, cũng có nghĩa là sống thật với lòng mình để không phải che đậy hay tô son trét phấn bằng vô số những thứ phù phiếm giả tạo hay sĩ diện hão. Chiếc mặt nạ của sĩ diện tôi đeo lên mặt có thể đánh lừa người khác, nhưng không thể lừa dối lương tâm của tôi. Bộ diện giả tạo của tôi có thể qua mắt được khoa tướng số, nhưng không thể che khuất được tấm gương soi nội tâm của tôi.
“Hãy là chính mình” là một con đường ít người muốn đi. Nhưng tôi tin chắc rằng đó là con đường mang lại cho tôi niềm vui, an bình và hạnh phúc đích thực. Tôi mong được như thế trong năm mới này.





Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

Những Người Hàng Xóm của Tôi



                                                                            Chu Thập
Đầu năm 2010


Những ngày đầu năm Âm lịch, nhớ nhà, tình cờ đọc được chuyện ngắn “Xóm Nhỏ” của nhà văn Võ Phiến, tôi lại càng thấy nhớ nhà hơn.
Nhân vật xưng “tôi” trong câu chuyện mở đầu như sau: “Buổi chiều hôm đó, lúc trời đã gần tắt nắng tôi mới bắt đầu. Đây là bắt đầu chuyến đi loanh quoanh trong xóm thôi. Lần nào cũng vậy, mỗi lần về làng sau khi vắng mặt năm ba tháng tôi vẫn có thói quen dạo xóm một vòng, trông lại nhà cậu này mợ kia, xem qua bờ rào ông này vườn chuối bà nọ v.v…Thường tôi có loanh quanh như thế. Như là để sờ sẫm lại xóm làng. Và thường khi mọi cái vẫn nguyên như cũ. Những mỗi chuyến đi về vẫn cứ có việc sờ sẫm. Bất giác, vu vơ.” (Võ Phiến,Võ Phiến Toàn Tập)
Tôi nghĩ những dòng trên đây có lẽ là tâm sự của chính tác giả, vốn cũng là một người miền Trung như tôi. Và tôi cũng không hiểu tại sao tâm sự ấy lại cũng giống “y chang” tâm sự của tôi.
Hồi đó, học xa nhà, mỗi năm tôi chỉ được về nhà vào dịp Tết và 2 tháng nghỉ hè lớn. Như một nghi thức không bao giờ thiếu, cứ buổi chiều đầu tiên trong kỳ nghỉ, tôi đi rảo qua các ngôi nhà quen thuộc trong xóm rồi vòng ra ruộng cách nhà chừng 10 phút đi bộ. Ở đó, tôi chọn một bờ cao và ngồi nhìn ngắm bức tranh quen thuộc của đồng ruộng. Cũng vẫn những đám mạ xanh đó. Cũng vẫn những ruộng lúa đang trổ đòng đòng đó. Cũng vẫn mấy cái mương dẫn nước vào ruộng đó. Cũng vẫn tiếng nhái cơm nhái bầu kêu mỗi khi chiều về. Cũng vẫn bầy cò trắng đang bay về tổ ở một ngọn núi nằm sau một cái làng mà tôi ít dám đến: đó là ngôi làng nổi tiếng có nhiều người lên núi đi theo “phía bên kia”. Cứ đêm đến, từ ngôi làng ấy, vọng lại tiếng trống “cà tum tum” nghe rợn tóc gáy của “mấy ổng”. Có những buổi sáng, sau một đêm đụng trận giữa quân đội quốc gia và mấy ổng, người ta lôi xác mấy ổng ra phơi ở đầu làng tôi để cho thân nhân bà con của mấy ổng nhận diện và đem về chôn cất.
Làng tôi được cái không có người đi theo phía bên kia. Mọi người, nếu không bà con ruột thịt, thì cũng “giây mơ rễ má” với nhau đến cả 9 đời, bởi vì “chín đời không nhìn trời đánh”. Thành ra, cứ ra đường gặp nhau, không ông bà, chú bác, cô dì, cậu mợ, chú thím, dì dượng… thì cũng anh chị em với nhau. Đã vậy, chào nhau thì phải chào cho đúng thứ vị trong gia đình và nhứt là không được phạm húy. Có những ông Ba Tam, Bà Chín Tứ, Bác Năm Mạch, Dượng Tám Ca…được tôi chào hỏi cả đời mà cho tới nay vẫn chưa biết được đích danh của họ là gì. Những cái tên đi kèm theo thứ vị của họ là tên của người con cả của họ. Cho tới khi biết đọc biết viết, cầm bản “thế vì khai sinh” trong tay, tôi mới biết được tên cha mẹ tôi và kể từ đó, tôi sẵn sàng ăn thua đủ với bất cứ ai đụng đến tên của các ngài. Sau này, tôi cũng biết rằng trong đại gia đình, tên tôi cũng “bất khả xâm phạm” như thế. Có lần một đứa cháu con bà chị cả tôi gọi đích danh tôi là “Cậu Thập”. Chị cả tôi liền mắng nó “tại sao dám hỗn” như vậy và dạy nó phải gọi tôi bằng “Cậu Mười”, vì tôi vốn là con thứ 10 trong gia đình.
Cái thứ vị “đáng kính” ấy cũng theo tôi ra ngoài đường. Chỉ cần 5 phút đi bộ trong xóm, tôi sẽ được chào hỏi với đủ thứ vị như bác Mười, chú Mười, cậu Mười, anh Mười, em Mười…Tôi luôn cảm nhận được cái tình bà con hàng xóm ấy. Cũng như nhà văn Võ Phiến, mỗi lần về thăm nhà, tôi thấy cần phải đi bách bộ trong xóm làng để “sờ sẫm” cho bằng được cái tình nghĩa xóm làng ấy.
Từ ngày bỏ nước ra đi, nếu phải nói đâu là sự mất mát lớn nhứt, tôi không ngần ngại trả lời rằng đó là tình nghĩa xóm làng.
Cái “xóm nhỏ” nơi tôi ở hiện nay thật dễ thương, nhưng không thể nào thay thế được cái xóm làng mà tôi đã mất.
Con đường cụt của xóm tôi được gọi bằng tiếng Anh là “Close”. Hiểu là “đóng kín” cũng được, mà hiểu theo nghĩa “gần gũi, thân thiện” thì có lẽ hay hơn. Tôi đã đếm thật kỹ: con đường chữ L này chỉ đúng 20 ngôi nhà. Hầu hết những người ở bên số chẵn là những người về hưu. Phía bên kia là những cặp vợ chồng trẻ hoặc trung niên. Cặp vợ chồng trẻ với hai con nhỏ cạnh nhà tôi là những người thích sinh hoạt xã hội nhứt xóm: họ thường xuyên tổ chức các buổi họp mặt để qui tụ những người trong xóm lại và mới đây đã cho làm một hồ tắm phía sau nhà; trẻ con trong xóm có dịp vui đùa với nhau. Tôi biết mặt hầu hết trẻ con cũng như người lớn trong cái xóm nhỏ này. Nhưng tên tuổi thì tôi chịu thua. Gặp nhau chào hỏi mỗi ngày, nhưng bà con hàng xóm của tôi tên gì, tôi không hề biết. Tội nghiệp cho cái ông có cái chân khập khiễng. Ông là người niềm nở và dễ thương nhứt xóm. Nhưng vì không biết tên ông, cho nên vợ chồng tôi bất đắc dĩ khi đề cập đến ông phải dùng bằng một cái tên hơi bất kính:  “ông Cà Thọt”. Không biết tên tuổi đã đành, chúng tôi cũng chẳng rành đến nghề nghiệp của họ. Ngoài một người làm cho sở cứu thương, tôi không biết những người hàng xóm của tôi làm nghề gì; bà hàng xóm bên phải, cứ 5 giờ sáng rồ máy xe ra; ông chồng thì ở nhà trông coi hai đứa con. Chỉ có một người tôi biết rõ đã từng làm giáo viên dạy âm nhạc trong một trường tư, đó là cụ bà trên 84 tuổi ở bên trái. Chồng chết cách đây 3,4 năm, con cái đã lập gia đình và ở riêng; cụ bà sống một mình. Nhiều lúc tôi cảm thấy ái ngại cho bà. Một tuần đôi ba ngày, nhân viên xã hội đến chăm sóc bà. Phần lớn thời gian, bà sống một mình và tự lập trong mọi chuyện. Nhưng có những bất trắc của tuổi già làm sao có thể ngờ được. Nghĩ đến các cụ già trong xóm làng của tôi ngày xưa, tôi thấy thương bà cụ. Đêm đến, tôi cứ nhìn qua nhà bà để xem còn có ánh đèn không.Thỉnh thoảng tôi lại liếc mắt để biết chắc là bà vẫn “còn đó”. Tôi cứ nghĩ đến cảnh những người già neo đơn chết trong nhà đến cả tuần mà chẳng ai hay biết. Có lúc tôi mang mặc cảm “thiếu sót bổn phận” đối với bà. Giá ở Việt nam thì chắc chắn mỗi ngày tôi đã “tự nhiên như người Hà nội”, không cần bấm chuông gõ cửa, bước thẳng vào nhà bà để nếu không săn sóc bà, thì ít nhứt cũng tỏ cho bà thấy rằng tôi quan tâm đến bà.
Cái xóm nhỏ của tôi dễ thương thật. Chỉ có điều, cái khoảng cách vô hình giữa tôi và họ vẫn còn đó. Có lẽ do lỗi của tôi hơn là do họ tạo ra. Tôi cứ suy nghĩ mãi về câu nói của ai đó: “con người đã lên mặt trăng và dự trù sẽ thám hiểm các hành tinh khác, nhưng xem ra vẫn chưa băng qua được con đường trước mặt để đến với người hàng xóm.” Ngày nay, do sự phát triển theo tốc độ chóng mặt của hệ thống thông tin toàn cầu, thế giới đã trở thành một ngôi làng nhỏ. Chỉ trong tích tắc đồng hồ, chuyện xảy ra ở đầu thế giới bên này đã được người ở đầu bên kia thế giới biết. Vậy mà, chắc chắn có nhiều chuyện xảy ra trong 20 căn hộ trong cái xóm này mà tôi chẳng hề biết.
Càng lúc tôi càng thấy rõ những khác biệt về văn hóa giữa người với người. Văn hào Anh Rudyard Kipling đã có lý để nói: Đông là Đông và Tây là Tây. Nhưng khác biệt không hề có nghĩa là không thể gặp nhau và cảm thông với nhau.
Một linh mục dòng Tên ngoại quốc truyền giáo tại Việt nam trước năm 1975 có kể lại rằng một linh mục cùng dòng với ông làm giáo sư tại Đại Học Huế chẳng may qua đời trong một tai nạn giao thông. Vì thương mến vị giáo sư, các sinh viên Việt nam tổ chức một tang lễ thật long trọng. Họ chụp hình từng chi tiết, từ lúc vị linh mục nằm xuống, được tẩm liệm cho đến lúc tống táng. Tất cả những tấm hình được ghép lại thành một cuốn Album. Để gọi là tỏ lòng thương nhớ người quá cố và chia sẻ niềm đau của tang gia, các sinh viên Việt nam mới gởi cuốn Album đó đến cho thân mẫu của vị linh mục ở mãi bên Canada. Hành động của các sinh viên Việt nam quả là một nghĩa cử cao đẹp. Nhưng không ngờ, khi nhận được cuốn Album, thân mẫu của vị linh mục như mất con thêm một lần nữa.Trong lá thư gởi cho các sinh viên, bà trách móc tại sao họ gởi cuốn Album đầy những hình ảnh chết chóc đó để khơi gợi lại niềm đau của bà.Thì ra, trong văn hóa Tây Phương, chẳng ai muốn giữ lại những hình ảnh chết chóc và tang tóc của người thân.
Vì không hiểu được văn hóa của nhau, những cử chỉ tưởng là hay đẹp lại tạo ra hiểu lầm. Tôi cũng nhớ một câu chuyện xảy ra trong trại trại tỵ nạn Bataan, Phi luật tân. Từ cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 90, Hoa kỳ cho thành lập trại chuyển tiếp để chuẩn bị Anh ngữ và kiến thức văn hóa Mỹ cho những người được Mỹ nhận. Do đó, tất cả những thuyền nhân từ các trại tỵ nạn Đông Nam Á sẽ đi Mỹ, những người Việt nam ra đi theo chương trình trật tự gọi tắt là ODP hoặc những người con lai Mỹ cùng gia đình đều phải đến trại tỵ nạn Bataan để theo một khóa học về “định hướng văn hóa” trong vòng 6 tháng. Chủ yếu vẫn là học Anh ngữ.
Những người học vỡ lòng lớp Anh ngữ nào cũng đều phải “tụng” những câu như: How are you? What is your name? How old are you? Where are you going? What are you doing? …Gặp bất cứ người ngoại quốc nào, người tỵ nạn cũng lấy mấy câu đó ra để thực tập. Một thiện nguyện viên người Mỹ kể lại rằng, mấy ngày đầu, ông còn lịch sự để trả lời. Về sau, ông phải “nổi dóa” khi nghe đến hai câu “Where are you going? What are you doing?” Ông nói rằng ông bực mình vì người Việt nam không biết tế nhị, lúc nào cũng muốn biết chuyện riêng tư của ông, cho nên có lần ông phải quát lên: “It’s none of your business”. Đại khái ông bảo đừng “xía vô” chuyện riêng của ông. Ông đi đâu, làm gì là chuyện riêng của ông.
Ngày nay, người Việt nam nào ở hải ngoại cũng đều biết rằng đặt những câu hỏi về đời tư của người khác như bao nhiêu tuổi, làm nghề gì, lương tháng bao nhiêu…là điều tối kỵ. Ở Việt nam thì trái lại, hỏi về đời tư thường là một cách bày tỏ sự quan tâm. Ngôn ngữ Việt nam vốn có tính “quan hệ” hơn là thông tin. Người Tây Phương nói chuyện là để thông tin. Người Việt nam thì xem ra chào hỏi trước hết là để đi vào quan hệ với người khác. Gặp một ai đó, tôi xác định tức khắc vị trí của tôi để xưng hô. Người đáng tuổi ông bà tôi, tôi gọi là ông bà. Người đáng tuổi cha mẹ tôi, tôi gọi là bác chú, cô dì…Trong câu chuyện, có thể tôi sẽ hỏi thăm về tuổi tác, chuyện gia đình, chuyện làm ăn. Những câu hỏi như thế không nhằm để khai thác một thông tin, mà chỉ để nói lên mối quan tâm của tôi mà thôi.Tựu trung, qua câu chuyện, tôi muốn thiết lập một quan hệ với người khác.
Quả thật, văn hóa của tôi luôn thúc đẩy tôi cởi mở trong quan hệ với người khác. Nhưng trong cái xóm nhỏ của tôi hiện nay, tôi biết rằng tôi phải dè dặt hơn. Khác biệt văn hóa là điều không thể chối cãi được. Một cuộc sống xã hội hài hòa đòi hỏi tôi phải biết và tôn trọng văn hóa của người khác. Tựu trung, tôi thấy tôi phải  sống như thế nào để không “vô tư” làm phiền người khác.
Tôi nhớ hồi mới dọn về “xóm nhỏ” này, một hôm nhà tôi đưa về ba con gà con, với hy vọng nuôi chúng thành gà mái để đẻ lấy trứng. Không ngờ, cả ba con đều là đực rựa cả. Vừa đến tuổi dậy thì, chúng nó thi đua và tranh nhau gáy inh ỏi cả đêm lẫn ngày. Nhiều đêm tôi không ngủ được và tôi cũng biết rằng tiếng gà gáy cũng đánh thức nhiều người hàng xóm. Biết mình vô tình “làm phiền” hàng xóm, cho nên cuối cùng chúng tôi đành phải “thịt” cả ba chú gà trống. Và dĩ nhiên, khi làm thịt, chúng tôi cũng phải “ra tay” như thế nào để không “xúc phạm” đến “tình cảm” của người Tây phương đối với súc vật.
Ngẫm đi nghĩ lại về chuyện này, tôi thấy mình đã hành động theo một giới luật phổ cập mà tôi tin là có giá trị cho mọi người trên cõi đời này, bất luận thuộc một nền văn hóa nào. Giới luật đó là : “những gì ngươi không muốn người khác làm cho ngươi, thì cũng đừng làm cho họ”.Tôi nghĩ: nếu mọi người đều sống theo nguyên tắc nền tảng của nền đạo đức toàn cầu này thì chắc chắn cái “xóm nhỏ” của mình và thế giới này sẽ trở thành một nơi tốt đẹp hơn.

 Chu Thập, Đầu năm 2010





Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Thế giới sẽ đi về đâu trong năm 2016

15.1.16



Tạp chí Time, số kép ra ngày 28/12/2015 và 4/1/2016, dự đoán rằng tình hình thế giới trong năm 2016 sẽ rất sôi động do thiếu lãnh đạo trên qui mô quốc tế.
Qua cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc hiện nay, người ta thấy Hoa Kỳ đang dần dần đánh mất vai trò “cảnh sát quốc tế” của mình. Lý do là vì người dân Mỹ không còn muốn đóng thuế để đất nước họ gởi quân đi “bình thiên hạ” nữa. Trước sự hung hãn của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”, người ta có thể nghĩ rằng chỉ cần Hoa Kỳ đưa quân sang “dẹp loạn”  là xong ngay. Nhưng Tổng thống Barack Obama biết quá rõ rằng sự ủng hộ của dân chúng cho một giải pháp quân sự sẽ không kéo dài. Sau cuộc khủng bố ngày 11/9/2001, sự ủng hộ của dân chúng Mỹ về việc Hoa Kỳ đưa quân sang Iraq và Afghanistan lên cao chưa từng thấy. Nhưng sau cuộc khủng bố mới đây tại San Bernadino, Tiểu bang California, phản ứng của dân chúng Mỹ không còn đồng bộ nữa. Và ngay cả khi một cuộc khủng bố như thế có thúc đẩy Hoa Kỳ hành động đi nữa, thì có lẽ Hoa Kỳ cũng sẽ chỉ đơn phương hành động mà thôi. Hiện thế giới đang có quá nhiều siêu cường chính trị và kinh tế vốn không màng đến sự lãnh đạo của Hoa Kỳ.
Ngay cả các đồng minh của Hoa Kỳ xem ra cũng không còn tin tưởng ở vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ trên chính trường thế giới. Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là hiện nay đệ nhất siêu cường này đang đi xuống. Kinh tế Mỹ đang tiếp tục hồi phục. Khả năng sáng tạo và đổi mới của Hoa Kỳ vẫn tỏa sáng. Dù vậy, ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên chính trường quốc tế ngày càng phai nhạt. Vai trò “cảnh sát quốc tế” của nước này ngày càng lu mờ. Tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” vẫn tiếp tục làm mưa làm gió ở Trung Đông. Nga đã làm cho Ukraine hoàn toàn tê liệt và hiện cũng đang quậy phá ở Syria như chỗ không người. Trên Biển Đông, Trung Cộng đang thách thức Hoa Kỳ. Dù có diều hâu cách mấy, phần lớn các chính trị gia Mỹ đều không còn tin rằng quốc gia của họ có thể và nên tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thế giới mới nữa.
Thế giới trong năm 2016 sẽ sôi động hơn bao giờ hết bởi vì không có bất cứ một sức mạnh lãnh đạo nào có thể và muốn đứng ra để giải quyết các cuộc xung đột cũng như những thách đố lớn mà thế giới phải đương đầu.
Trước hết hãy nhìn vào tình hình tại Trung Đông. Tại Cộng hòa Hồi giáo Iran, vì sợ việc tháo gỡ cấm vận sẽ để cho ảnh hưởng của Tây Phương tràn vào và đánh thức sự khao khát muốn thay đổi của giới trẻ, các thành phần bảo thủ đang tìm cách thắt chặt móng vuốt của sự kiểm soát hơn. Tại Vương quốc Á rập Saudi, một số yếu tố như: sự vươn lên của kẻ thù không đội trời chung là Iran, thái độ lạnh nhạt của Hoa Kỳ, những cuộc tranh chấp trong hoàng gia và giá dầu ngày càng giảm sút...có thể sẽ khiến cho quốc gia này cảm thấy bị đe dọa và do đó tìm cách mở rộng các cuộc chiến tranh “ủy nhiệm” tại Trung Đông.
Tại Yemen, cuộc tắm máu đang tiếp diễn mà vẫn không được thế giới ngó ngàng tới. Tại Iraq, chính phủ gồm đa phần người Hồi giáo theo hệ phái Shiite sẽ gia tăng xuất cảng dầu, nhưng lại không làm gì để ngăn cản những người Hồi giáo theo hệ phái Sunni chạy theo tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”. Hoa Kỳ, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp và một số quốc gia khác sẽ tiếp tục dội bom xuống Syria, nhưng xem ra chẳng đạt được kết quả nào về mặt quân sự. Người tỵ nạn Syria tại Liban và Jordan vẫn tiếp tục lây lất trong cuộc sống đày đọa khốn khổ của họ.
Nhưng thách đố lớn hơn cả đối với thế giới hiện nay vẫn là tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”. Tổ chức khủng bố này có thể bị đánh bạt ra khỏi Iraq, nhưng sức mạnh của họ xem ra không suy giảm. Có trong hầu bao đến hơn cả tỷ Mỹ kim, nắm trong tay một mạng lưới thông tin toàn cầu hùng mạnh và nhất là khả năng chiêu dụ thánh chiến quân trên khắp thế giới, “Quốc gia Hồi giáo” đã có thể chứng tỏ cho các tín đồ của họ thấy rằng họ có thể xây dựng một đế chế Hồi giáo mà biên giới được vẽ ra không bởi các chính trị gia Tây Phương, mà do các “siêu nhân” Hồi giáo.
Có thể đây là lý do thế giới sẽ chứng kiến nhiều cuộc tấn công khủng bố trong năm 2016 này, nhất là kể từ khi Thổ Nhĩ Kỳ nhảy vào cuộc xung đột tại Syria: các thánh chiến quân tân binh từ các nước sẽ khó tìm đường qua Syria, bù lại họ sẽ mở những cuộc khủng bố ngay tại nơi họ đang sống. Tại Trung Đông, hơn bất cứ nơi nào khác, cuộc chiến đang gia tăng, nhưng dường như  không có nhà lãnh đạo nào sẵn sàng trả giá để vãn hồi trật tự cho vùng này.
Trong khi tình hình tại Trung Đông ngày càng sôi sục thì tại Âu Châu, các nước lại phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng khác. Cách đây 5 năm, mối  đe dọa chính mà các nhà lãnh đạo của lục địa này phải đối mặt là cuộc khủng hoảng đồng Âu kim. Nhờ sự cương quyết của cả khối và nhất là sự lãnh đạo của Đức, cuộc khủng hoảng đã được giải quyết một cách tốt đẹp.
Nhưng bước vào năm 2016, Âu Châu sẽ phải đứng trước nhiều vấn đề rộng lớn hơn. Những xáo trộn về tài chính tại Hy Lạp vẫn chưa ngã ngũ: chính phủ do đảng tả phái lãnh đạo đang cù cưa với những yêu sách của các nước chủ nợ, phe đối lập vẫn tiếp tục tấn công và cử tri vẫn tiếp tục bất mãn. Tại Tây Ban Nha, chính phủ sẽ phải thương lượng với người dân vùng Catalonia để tránh khỏi tình trạng ly khai. Riêng tại Anh Quốc, người dân sẽ tham gia cuộc trưng cầu dân ý để quyết định có nên ở lại trong khối Liên Âu không.
Bên cạnh những vấn đề trên đây, Âu Châu hiện đang phải đối phó với làn sóng người tầm trú từ Trung Đông và Phi Châu tràn ngập qua biên giới của mình. Bóng ma của “Quốc gia Hồi giáo” ẩn hiện đàng sau hơn một triệu người tầm trú này khiến cho người dân Âu Châu cứ phải thấp thỏm lo sợ bị khủng bố. Một số nước đã đề ra những biện pháp gắt gao để kiểm soát biên giới của họ. Người mà Âu Châu đã từng tin cậy có thể giải quyết được vấn đề là thủ tướng Đức Angela Markel nay cũng đành phải chùn bước trước áp lực của nhiều người xem người tầm trú như những tên khủng bố trong tương lai.
Một Âu Châu đang rối ren lại không mặn mà với Hoa Kỳ cho nên lại càng yếu thế hơn. Cũng may, bước sang năm 2016, một Putin chuyên chọc trời khuấy nước lại tỏ ra hòa hoãn hơn. Ông đã lôi kéo Pháp và một số nước Âu Châu đứng về phía mình và nghĩ rằng mình có thể giải quyết được vấn để Syria để chấm dứt các cuộc cấm vận của Tây Phương. Tuy nhiên, nền kinh tế ngày càng èo uột, nạn lạm phát phi mã và giá dầu sút giảm sẽ khiến cho dân chúng Nga bất mãn và người ta sợ rằng Putin lại sẽ giở ngón sở trường của ông là tìm cách gây rối ở nước ngoài để đánh lạc hướng dân chúng trong nước.
Từ Âu Châu và Trung Đông nhìn sang Á Châu, thế giới có thể sẽ an tâm hơn vì tình hình an ninh ở Đông Á xem ra sẽ tương đối yên tỉnh trong năm 2016 này. Các nhà lãnh đạo chính trị tại Trung Cộng, Nhật Bản và Ân Độ đang bận tâm với những chương trình cải tổ kinh tế trong nước, do đó không muốn dây dưa vào những xáo trộn có thể ảnh hưởng đến chuyện trong nước. So sánh với Âu Châu và Đông Âu, ngoại trừ vì những quậy phá bất ngờ của Bắc Hàn, Đông Á sẽ yên tĩnh.
Trung Cộng sẽ tìm những cách khác để thách thức Hoa Kỳ. Có thể họ sẽ dùng từ 3 đến 4 ngàn tỷ Mỹ kim ngoại tệ dự trữ để tài trợ cho những tổ chức tài chính khác với tham vọng hất cẳng những cơ chế tài chính do Phương Tây lãnh đạo như Quỹ Tiền Tệ Thế Giới và Ngân Hàng Thế Giới. Trung Cộng sẽ trở thành một chủ nợ mới của những  nước đang phát triển nào không muốn thỏa mãn những yêu sách của Hoa Kỳ. Một số  đồng minh của Hoa Kỳ, như Anh Quốc và Đức chẳng hạn, vì muốn đa dạng hóa các đối tác kinh tế và tận dụng sự phát triển của Trung Cộng, sẽ tiếp tục để cho quốc gia khồng lồ này lôi kéo. Cuộc chiến dành quyền áp đặt những tiêu chuẩn thương mại trên thế giới giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn sẽ bất phân thắng bại.
Với một vị thế ngày càng lớn mạnh như thế, Trung Cộng lại chẳng muốn đóng vai trò “cảnh sát quốc tế” để thay thế Hoa Kỳ. Bắc Kinh sẽ không tham gia vào cuộc chiến chống “Quốc gia Hồi giáo” hoặc giúp đỡ tái thiết Syria. Quốc gia cộng sản này cũng chẳng muốn giúp xoa dịu những căng thẳng giữa Nga và Tây Phương. Trung Cộng là chính phủ duy nhất trên thế giới có một chính sách đối ngoại toàn cầu. Tuy nhiên, chiến lược này chỉ nhắm mục đích giải quyết các vấn đề nội bộ của Trung Cộng hơn là của thế giới. Với chủ trương “thế giới loạn, Trung Quốc nhờ”, đồ tể Mao Trạch Đông đã mở ra con đường ấy và các lãnh đạo cộng sản Trung Quốc tiếp tục đi theo con đường ấy .
2016 sẽ không phải là một con đường êm ả cho thế giới. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều tín hiệu đầy hy vọng. Những cuộc cải tổ đầy hứa hẹn sẽ được đẩy mạnh tại Ấn Độ và Mễ Tây Cơ là hai trong số những thị trường đang lên và quan trọng nhất trên thế giới hiện nay. Các nước Đông Á sẽ kìm tỏa được sự tranh giành giữa các cường quốc. Việc chấn chỉnh các chính sách tại Ba Tây và Á Căn Đình cũng sẽ mang lại kết quả tốt đẹp. Các quốc gia tại vùng Hạ Sahara của Phi châu và Trung Á sẽ hưởng lợi được từ việc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ, Trung Cộng, Âu Châu và Nhật Bản trong cuộc đầu tư vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở.
Tuy nhiên, những triển vọng trên đây sẽ chẳng góp phần vào việc giải quyết cuộc khủng hoảng về lãnh đạo trên qui mô thế giới. Cuộc khủng hoảng này có thể sẽ khiến cho thế giới phải ngồi lại với nhau để tìm cho bằng được một sự hợp tác toàn cầu  dựa trên cán cân quyền lực thực sự của thế giới. Nhưng trước khi đạt được cán cân quyền lực này, thế giới có thể sẽ phải trải qua hoặc là một cuộc chiến tranh toàn diện, một cuộc khủng hoảng tài chính rộng lớn, một cuộc khủng bố khốc liệt hay một đại họa về môi sinh. Những biến cố như thế có thể sẽ không đến trong năm 2016 này. Nhưng nếu chúng xảy đến thì đây có thể là biến cố lớn nhất trong thời đại chúng ta.

(theo tạp chí Time, số ra ngày 28/12/2015 và 4/1/2016)




Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

Giai nhân và dã thú



Chu Thập
4.9.12

Một ông bạn già vừa gởi đến một câu chuyện bảo là để “nghiền ngẫm”.
Một phụ nữ trong trang phục áo bằng vải len kẻ sọc và chồng bà trong bộ com lê giản dị đã mòn xơ cả chỉ, bước ra khỏi ga xe lửa ở thành phố Boston. Trong bước đi rụt rè, họ tìm đến văn phòng của đại học nổi tiếng Harvard mà không xin hẹn trước.
Người đàn ông nhỏ nhẹ ngỏ lời với cô thư ký: “Chúng tôi muốn gặp ông viện trưởng”.
Nhìn cách phục sức và dáng điệu thô kệch của cặp vợ chồng, cô thư ký gắt lên: “Ông ấy bận rộn cả ngày”.
Với sự kiên nhẫn có sẵn, người vợ bình tĩnh nói: “Chúng tôi sẽ đợi”.
Cô thư ký nghĩ bụng: sẽ cho họ chờ đợi cho đến khi nản lòng và bỏ đi. Nhưng rốt cục, kẻ thua cuộc lại chính là cô thư ký.  Vì không chịu đựng được chính sự kiên nhẫn của hai người khách lạ, cô đành phải đến quấy rầy ông viện trưởng. Dù cô thư ký nói rằng cặp vợ chồng này chỉ xin được gặp vài phút, ông viện trưởng cũng tỏ dấu khó chịu ra mặt, nhứt là khi nhận thấy những người muốn gặp mình lại ăn mặc tuềnh toàng như thế.
Người vợ trình bày: “Thưa ông viện trưởng, chúng tôi có một đứa con trai đã từng theo học ở trường đại học Harvard một năm. Nó thực sự yêu mến ngôi trường này. Thế nhưng, cách đây một năm, nó đột ngột bị giết chết. Và vợ chồng tôi rất muốn xây dựng một tấm bia để tưởng nhớ con trai mình ở một nơi nào đó trong khuôn viên đại học”.
Nghe như chuyện đùa, ông viện trưởng liền mỉa mai: “Thưa bà, chúng tôi không thể dựng tượng cho từng người đã theo học tại đây. Làm như thế thì trường này chẳng biến thành một nghĩa trang sao?”
Người phụ nữ nhanh chóng giải thích: “Ồ, không phải vậy đâu. Chúng tôi không có ý định xây dựng một bức tượng. Chúng tôi chỉ muốn xây một tòa nhà cho viện đại học thôi”.
Ông hiệu trưởng lại tròn xoe đôi mắt. Ông liếc nhìn chiếc áo thô sơ của người vợ và bộ com lê cũ mèm của người chồng rồi thốt lên: “Một tòa nhà ư? Ông bà có tưởng tượng được một tòa nhà trị giá bao nhiêu không? Chúng tôi phải đầu tư hơn 7 triệu rưỡi Mỹ kim để xây dựng trường Harvard này đấy”. Nói xong, ông tin tưởng là có thể thoát được cái của nợ trước mắt.
Người phụ nữ im lặng. Bà quay lại phía chồng và nói nhỏ: “Bắt đầu xây một trường đại học mà chỉ tốn có ngần ấy thôi sao? Tại sao chúng ta không xây một trường đại học riêng?”
Người chồng gật đầu đồng ý. Gương mặt của ông viện trưởng bỗng dài thượt ra vì bối rối và lúng túng.
Thì ra, cặp vợ chồng “nhà quê” này chính là ông bà Leland Stanford, một kỹ nghệ gia giàu có hồi cuối thế kỷ 19. Họ đã rời Boston để đến thành phố Palo Alto, tiểu bang California và lập nên một trường đại học nổi tiếng có tên là “Stanford”.
Kèm theo câu chuyện mà ông bạn già gởi đến cho tôi là rất nhiều lời bàn. Nhưng ông bạn già của tôi, vốn là một tín hữu Kitô, lại trích lời dạy của Chúa Giêsu: “Đừng nhìn bề ngoài mà đoán xét” (Tin mừng theo thánh Gioan 7,24) để nhắc khéo tôi.
Không những chỉ “nghiền ngẫm” như ông bạn già của tôi đề nghị, tôi cũng nhìn lại cái nhìn và cách xử sự của mình đối với người khác. Tôi thường bị thu hút bởi cái vẻ hào nhoáng bên ngoài đã đành, mà cũng vội vàng dựa vào một số định kiến để đánh giá về người khác. Người giàu sang lịch thiệp dễ được tôi tôn trọng. Người có tướng nghiện ngập dễ làm tôi e dè, tránh né. Nếu ở Phi trường Úc, các viên chức quan thuế thường chú ý tới người Á châu, thì leo lên máy bay, cũng như hai bà đầm trên chiếc máy bay trong cuốn phim “The Dictator” (nhà độc tài) của danh hài Sacha Baron Cohen, hễ thấy có bóng dánh của người Trung đông và nghe có tiếng Á rập là tôi thấy hơi...run. Đời là thế. Do bị điều kiện hóa bởi những thành kiến, con người dễ có khuynh hướng “chụp mũ” hay quơ đũa cả nắm.
Thật ra, sở dĩ tôi có dựa theo “bề ngoài” mà đoán xét người khác là bởi vì chính tôi dường như cũng không muốn chấp nhận và sống theo con người thật của mình. Một cách nào đó, dù không hoàn toàn cố ý, tôi cũng có nhiều mặt nạ. Tôi không muốn người khác thấy rõ bộ mặt thật của tôi đã đành, mà đôi lúa chính tôi cũng không muốn chấp nhận “chân dung” thật của mình.
Tôi có xem được một cuốn phim tài liệu có tựa đề “Giai nhân và Dã thú: bộ mặt xấu xí của thành kiến” (Beauty and the Beast: the ugly face of Prejudice) được trình chiếu trên đài truyền hình ABC2.  Adam Pearson là một sinh viên 25 tuổi tốt nghiệp từ trường quản trị kinh doanh thuộc đại học Brighton, Anh quốc. Anh mắc một chứng bệnh mà các nhà khoa học gọi là NF1 hay Neurofibromatosis. Chứng bệnh này làm cho các tế bào gia tăng một cách bừa bãi khiến cho thân thể con người trở thành dị tướng. Trong trường hợp của Adam, kể từ năm anh lên 5, sự phát triển bừa bãi của tế bào lại tập trung vào đầu và mặt. Một con mắt của anh bị mù hoàn toàn. Con mắt còn lại chỉ mở vừa đủ để anh nhìn thấy. Tai phải của anh cũng mất đến 40 phần trăm thính lực. Những biến chứng trên khuôn mặt của anh khiến anh trông chẳng khác nào một “Dã thú” (the Beast). Ở bậc tiểu học, anh đã từng là nạn nhân của không biết bao nhiêu vụ trêu chọc. Anh đã trải qua đến 27 lần phẫu thuật, một phần để giúp cho khuôn mặt trông bớt dị dạng, nhưng phần lớn để anh không bị mù lòa, câm điếc và chết ngạt vì khó thở.
Bên cạnh anh là “Giai nhân” (Beauty) Louisa Day, 21 tuổi, một nhân viên thẩm mỹ. Cô có một sắc đẹp tự nhiên nhưng lại không tin rằng mình đẹp. Cô gái này cho biết: kể từ năm 14 tuổi, cô không bao giờ ra khỏi nhà mà không trang điểm và mỗi lần trang điểm của cô kéo dài đến 2 tiếng đồng hồ. Tính ra mỗi năm cô tốn 7 tuần lễ cho chuyện trang điểm và làm đẹp. Đó là chưa kể đến không biết bao nhiêu lần cô gái trẻ này phải đến thẩm mỹ viện để được dao kéo cắt xén, mài dũa và bơm Botox.
Adam là tác giả của một cuốn sách có tựa đề “The challenge of facial disfigurement” (thách đố của một khuôn mặt dị dạng). Ngoài kinh nghiệm cá nhân, Adam cũng thu thập được những dữ kiện để viết sách nhờ cuộc gặp gỡ kéo dài một tuần lễ sống với Louisa. Thật vậy, hai người đã đồng ý đến sống với nhau trong một khách sạn. Tại đây cũng như qua những lần tham dự các cuộc vui chung, Adam đã có cơ hội quan sát được cách sống, những phản ứng, cách cư xử và những suy nghĩ của những người hoàn toàn lệ thuộc vào “phấn son” và giải phẩu thẩm mỹ như Louisa. Cuối cùng, do thái độ tự tin của “Dã Thú” Adam, “Giai nhân” Louisa đã vượt qua được  bức tường thành kiến do chính cô tự tạo ra cho bản thân để vứt bỏ mọi thứ phấn son tạo thành chiếc mặt nạ trên gương mặt của cô và dám xuất hiện trước đám đông với khuôn mặt thật của mình. Còn Adam thì vẫn tiếp tục sống với khuôn mặt “Dã thú”. Louisa đã được giải thoát khỏi mọi thứ mặt nạ cô đắp lên mặt mình. Cô đã dám sống bằng chính con người thật của mình chứ không phải “hình tượng” của một người khác.
Đúng như tiểu đề của cuốn phim tài liệu gợi lên, không có gương mặt con người nào là xấu xí cả, mà chỉ có “gương mặt xấu xí của thành kiến” mà thôi. Xấu đẹp là do thành kiến và cái nhìn xuất phát từ thành kiến. Vượt qua được bức tường thành kiến, con người không những thay đổi cái nhìn về người khác mà cũng có thể sống với con người thật của mình một cách tự tin hơn.
Tôi nghĩ đây cũng là bài học của câu chuyện thần tiên nguyên thủy “La Belle et la Bête” (Giai nhân và Dã thú) của nữ văn sĩ Pháp Gabrielle Suzanne Barbot de Villeneuve hồi thế kỷ 18. Câu chuyện mà có lẽ trẻ con trên khắp thế giới đều biết này đã gợi hứng cho không biết bao nhiêu truyện hoạt hình, phim ảnh. Câu chuyện được trẻ con ưa thích vì kết có hậu: hoàng tử bị biến thành “Dã thú” xấu xí vì đã không cho một bà tiên trú mưa và chỉ khi nào được một Giai nhân yêu thương thật sự bất luận dáng vẻ bên ngoài xấu xí của mình thì lời nguyền mới được tháo gỡ và hoàng tử mới hiện lại nguyên hình. Người lớn nào cũng thích kể câu chuyện thần tiên này cho trẻ con nghe để lồng vào một bài học làm người: bất cứ một hành động tử tế vô vị lợi nào cũng có sức biến đổi người khác và làm cho ta được nên người hơn. Ngược lại, bất cứ hành động ích kỷ nào tự nó cũng là một hình phạt cho bản thân. Con người bớt “người” hơn khi chỉ biết sống cho riêng mình. Đàng sau một “Giai nhân” xinh đẹp có khi là cả một thế giới của mưu mô, dối trá, lừa đảo, bất lương. Nhưng bên trong một “Dã thú” có khi lại ẩn tàng một quả tim vàng mà chỉ có  ánh mắt của con tim mới nhìn thấy.
Có lẽ anh em văn sĩ thường được mệnh danh là Brothers Grimm của Đức vào thế kỷ 19 cũng muốn nhắn gởi một thông điệp như thế trong bộ sưu tập truyển cổ của hai ông, đặc biệt  qua truyện “Hoàng tử Cóc”. Nội dung của truyện cổ tích này thì có lẽ ai cũng biết. Một công chúa chơi đùa bên một dòng suối bỗng làm rớt trái banh vàng của cô xuống nước. Nước sâu, cô không thể nào tìm lại được trái banh. Cô chỉ biết ngồi bệt xuống cỏ khóc và thầm thì khấn: nếu có ai giúp cô tìm lại được trái banh, cô sẽ tặng cho tất cả những gì cô đang có. Từ dòng suối, một con cóc xuất hiệu và hỏi cô công chúa tại sao cô khóc. Nghe chuyện, nó liền đề nghị: “Nếu cô thương tôi, cho tôi được sống với cô, ăn uống cùng bàn với cô và ngủ chung giường với cô thì tôi sẽ tìm lại trái banh cho cô”. Biết chắc là con cóc không thể nào rời bỏ dòng suối để vào cung điện cho nên cô công chúa đã hứa hẹn cho xong chuyện để nó tìm lại trái banh cho cô. Cho nên sau khi được con cóc mang trái banh lên trước mặt, nàng công chúa xinh đẹp tĩnh bơ nuốt lời hứa và đi về nhà một mình, mặc cho con cóc có van lơn.
Ngày hôm sau, cô công chúa không thể tin ở mắt mình: con cóc đã bò đến trước cung điện và nhắc lại lời hứa của cô. Cô không thể tưởng tượng mình có thể rước một con vật xấu xí và gớm ghiếc như thế vào cung điện. Nhưng do lời khuyên của vua cha là phải tuân giữ lời hứa của mình, cô công chúa cũng đành để cho con cóc vào nhà và cô phải thực thi những lời cam kết của mình như cho nó được ăn uống trên bàn, để nó ngủ chung giường với cô. Sang đêm thứ ba thì cô công chúa không còn thấy con cóc nữa. Thay vào đó là một hoàng tử khôi ngô tuấn tú.
Chàng hoàng tử mới giải thích cho cô công chúa rằng chàng đã bị một bà tiên hóa thành cóc và chàng chỉ có thể trở lại người thường khi nào có một công chúa ưng thuận cho cóc được ăn cùng bàn, ngủ cùng giường trong ba đêm liền...Chuyện thần tiên thì dĩ nhiên cũng kết thúc một cách thần tiên: công chúa và hoàng tử lấy nhau và sống hạnh phúc với nhau cho đến mãn đời. Tất cả đều nhờ ở một lời hứa được tuân giữ! Và tuân giữ lời hứa ở đây đối với cô công chúa chính là “gồng” mình yêu thương và cư xử tốt với một con cóc xấu xí!  Thằng người gỗ “Pinocchio” của ông Carlo Collodi chỉ cần bỏ tật nói dối cũng đủ để được làm người, huống chi là hành động tuân giữ lời hứa của một công chúa.

Với tôi chuyện thần tiên không chỉ có trong cổ tích hay chuyện kể cho trẻ con để chúng nhắm mắt đi vào mộng mơ. Những “chuyện cổ tích của thời hiện đại” không bao giờ thiếu.  Ở đâu có “phép mầu” thì ở đó có chuyện thần tiên. Và “phép mầu” thì lúc nào cũng có thể xảy ra trong cuộc sống con người: một cử chỉ nhân ái, một hành động tử tế, một cố gắng sống thật với chính mình...đó là bao nhiêu phép mầu giúp cho con người được “thoát xác” để bớt phần “dã thú” và tăng nét “giai nhân” hơn. 

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Một Chút Quà cho Quê Hương


Chu Thập
40 Năm Mất Nước 

Kỷ niệm 40 năm mất nước, tôi nghe đi nghe lại không biết bao nhiêu lần ca khúc “Một Chút Quà cho Quê Hương” của cố nhạc sĩ Việt Dzũng, qua tiếng hát của Ngọc Lan, người nữ ca sĩ cũng yểu mệnh như tác giả của bài hát.
Kể từ khi Việt Cộng cưỡng chiếm Miền Nam, “nhạc vàng” đã trở thành “nhạc đồi trụy”. Kể từ đó, nền âm nhạc đã một thời nuôi dưỡng tình tự dân tộc, lòng yêu nước cũng như cho tôi biết mơ mộng, biết yêu đã chết dần chết mòn trong tôi. Trái tim tôi hầu như khô cằn để có thể thưởng thức và thổn thức với âm nhạc Việt Nam.
Mãi cho đến mùa Thu năm 1982, khi vừa đặt chân đến Thủ đô Paris, Pháp Quốc, lang thang ở Quận 13, nơi có đông người Việt sinh sống, tôi mới tìm được một cuốn băng vừa ý để qua những ngày dài buồn lê thê trong trại tạm cư tại một vùng ngoại ô Paris. Đó là những bài “hùng ca” do nữ nhạc sĩ Nguyệt Ánh sáng tác và trình bày. Cùng với người nữ nhạc sĩ này, tôi “vẫn mơ một ngày về” lại quê  hương, khi đất nước thoát khỏi tay “bọn quỷ đỏ”. Tôi ôm cái máy cassette rẻ tiền và “nằm mơ” cho tới khi chiếc máy không còn muốn “hát” và cái băng cassette mòn đến độ không còn phát ra tiếng nữa. Có lẽ đó là thời gian cuối cùng tôi còn thưởng thức nhạc Việt Nam. Những năm tháng sau đó, hòa nhập vào cuộc sống mới, lạc lõng giữa những người không cùng màu da, ngôn ngữ và văn hóa với mình, tôi quên bẵng đi âm thanh dịu vợi của dòng nhạc quê hương. Nếu có thỉnh thoảng ghé thăm gia đình của bạn bè, được cho thưởng thức những chương trình văn nghệ do các trung tâm như Thúy Nga Paris, Asia hay Vân Sơn sản xuất, tôi cũng chỉ ngồi bất động như một cái thây chết để chỉ sực tỉnh với những màn hài kịch cười ra nước mắt xoay quanh cuộc sống của người tỵ nạn.
Vậy mà năm nay, kỷ niệm 40 năm mất nước, tôi lại lắng nghe ca khúc “Một Chút Quà cho Quê Hương” đến gần như thuộc lòng. Có lẽ cả đời chưa có bản nhạc Việt Nam nào làm cho tôi xúc động cho bằng ca khúc này. Biết tôi thích bản nhạc, nhà tôi đã cho thu lại và cài vào một chương trình âm nhạc đặc biệt trên xe để mỗi lần nổ máy xe, ca khúc lại được phát ra. Ca từ trong bản nhạc đã trở thành “tâm nguyện” và lời cầu kinh hằng ngày của tôi. Tôi biết rằng bao lâu tôi còn sống kiếp tỵ nạn thì bấy lâu ca khúc này cũng trở thành bất hủ trong tôi. Với ca khúc này, cố nhạc sĩ Việt Dzũng cũng đã trở thành bất tử và nữ ca sĩ Ngọc Lan, với tiếng hát vượt thời gian, cũng sẽ có giọng hát trẻ mãi không già trong trái tim tôi. Cả hai đã sống mãi trong tôi. Thật ra, tâm tình của cố nhạc sĩ Việt Dzũng và tiếng hát của nữ ca sĩ Ngọc Lan cũng chính là tâm tình của tôi, kể từ khi tôi được đặt chân đến bến bờ tự do. Và tôi nghĩ đó cũng là tâm tình của tất cả những người Việt hải ngoại nào còn ý thức được mình là người tỵ nạn cộng sản. Mang tiếng là “Một Chút Quà cho Quê Hương” nhưng nghe đến đâu, tôi thấy đắng lòng đến đấy. Bởi đó là tất cả tâm tình, sự chăm chút yêu thương qua từng món quà cho từng người thân.
Tôi sẽ không bao giờ quên những kỷ niệm đẹp nhứt ở đầu đời tỵ nạn. Đó là những lần chắt chiu từng đồng và lặn lội từng khu phố để mua quà gởi về cho người thân ở Việt Nam. Khi thì thùng thuốc Tây. Lúc thì năm ba thước vải. Món quà “nặng ký” nhứt mà tôi đã gởi về cho vợ chồng cô em gái là một chiếc xe Honda đàn ông 67, loại nói theo ngôn từ trong nước là “đã qua sử dụng”, được nhập từ Nhựt Bổn vào Pháp. Dù chưa phải ăn mắm hút dòi hoặc lang thang đầu đường xó chợ ở quê người, nhưng “cháy túi” vì một chút quà gởi về quê hương là chuyện đã từng xảy ra cho tôi. Tôi biết có biết bao nhiêu người tỵ nạn cũng đã từng lâm vào một hoàn cảnh như tôi. Đó là chưa kể đến trường hợp vì người thân còn ở Việt Nam mà nhiều gia đình tỵ nạn đã phải xào xáo với nhau, ngay cả đi đến đổ vỡ.
Mẹ tôi qua đời ngay chính trong cái Tết đầu tiên sau khi Cộng Sản cưỡng chiếm Miền Nam. Tôi không kịp “gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may (để) mẹ may hộ con tim gan quá đọa đày” hay “dăm gói chè xanh (để) mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn”. Còn với các thành phần khác trong gia đình, từ cha, anh, chị và em, cùng với các cháu, hầu như món quà nào mà cố nhạc sĩ Việt Dzũng đã gởi về cho người thân, tôi cũng đã hơn một lần cắc ca cắc củm từng đồng để mua sắm và gởi về. Cha tôi đã qua đời. Chưa đến nỗi  “ra pháp trường phơi thây”, nhưng, cũng như mọi người Việt Nam khác, cha tôi cũng đã quằn quại hết cả tuổi già của người trong nhà tù lớn là cả nước và không bao giờ có cơ hội gặp lại tôi trước khi nhắm mắt. Anh tôi cũng đã từng nhận được bao nhiêu “bao thuốc lá” để “đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay” trên vùng kinh tế mới cho đến khi ngã gục vì sốt cấp tính. Em tôi và gia đình được may mắn thoát khỏi kiếp đọa đày để tiếp với tôi một tay trong việc gởi quà về cho quê hương.
Hiện tôi chỉ còn hai bà chị già đang sống ở Việt Nam. Mỗi năm, tôi vẫn cố gắng gởi về cho hai chị “một ít diêm nhóm lửa để đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương” của những năm tháng còn lại trong một nơi mà ánh sáng mặt trời của hy vọng và tình thương dường như không còn chiếu tới.
Từ nhỏ, tôi đã được truyền đạt cho thứ đạo lý của “Cho và Nhận”. Tôi đã được dạy rằng cuộc đời chỉ có ý nghĩa khi được dệt bằng những cho và nhận. Người nhận sẽ được nhắc nhở để sống tâm tình nền tảng nhứt của đạo làm người là lòng biết ơn. Người cho thì dĩ nhiên sẽ có được niềm vui của trao ban, bởi vì “cho thì có phúc hơn nhận lãnh”. Xa quê hương, người tỵ nạn nào mà chẳng buồn. Nhưng bù lại, nỗi buồn ấy có thể vơi đi nhờ những trao gởi về cho người thân còn ở quê hương. Từ những thùng quà khi mới chân ướt chân ráo đặt chân đến bến bờ tự do cho đến những ngân khoản lớn hơn mà cuộc sống ổn định và khá giả đã cho phép, tư cách tỵ nạn của người Việt Nam không được định nghĩa bằng qui chế tỵ nạn do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc cấp, mà bởi chính tấm lòng trao gởi về quê hương. Còn là người tỵ nạn là còn gởi quà về quê hương. Còn là người tỵ nạn là còn biết trân quý và bảo tồn nét đẹp cao cả nhứt trong con người Việt Nam là san sẻ và trao tặng. Người Việt tỵ nạn bỏ nước ra đi, nhưng có lẽ ai cũng mang theo trong đáy thẳm tâm hồn một quê hương và nhứt là những đức tính cao quý nhứt làm nên con người Việt Nam, mà tuyệt đỉnh là lòng yêu nước thương nòi được thể hiện qua “một chút quà gởi về quê hương”.
Dường như Mẹ Teresa Calcutta (1910-1997), người nữ tu đã từng phục vụ những người nghèo khổ trong các khu ổ chuột tại Calcutta, Ấn Độ và trên khắp thế giới, đã có lần nói rằng “trao ban thực sự là trao ban cho đến mức độ cảm thấy mất mát và tổn thương”. Tôi có được niềm vui khi gởi chút quà về quê hương. Nhưng cứ mỗi lần làm nghĩa cử ấy, tôi lại cảm thấy ray rứt, tổn thương như thể mình đang làm một việc bất chính. Sở dĩ, cũng như rất nhiều người tỵ nạn khác, tôi rơi vào tâm trạng ấy là bởi vì hành động gởi quà về quê hương của tôi vô tình góp phần củng cố cái chế độ đang “đọa đày quê hương” của tôi.
Tôi có nghe nói rằng trong năm 2015 này, theo ước tính của chính Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổng cộng số tiền người Việt hải ngoại gởi về quê hương sẽ lên đến 14 tỷ Mỹ kim. So với năm trước, số tiền này tăng gần 3 tỷ Mỹ kim. Số tiền này chiếm một phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, bởi vì nó tương đương với khoảng 8 phần trăm tổng sản lượng quốc nội của Việt Nam. Với số tiền mà người Việt hải ngoại gởi về quê hương hằng năm, Việt Nam lọt vào danh sách 10 quốc gia đón nhận “kiều hối” cao nhứt trong năm vừa qua (theo BBC Việt Ngữ  12/1/2015).
Số tiền ấy đi đâu, người Việt hải ngoại nào mà chẳng biết. Nó không bị lãng phí trong việc bảo vệ lăng tẩm của người đã “cõng rắn về cắn gà nhà”, xây dựng tượng đài thì cũng lọt vào túi của trên 2 triệu đảng viên cộng sản để họ ngồi hưởng thụ ngay trên lưng của đại đa số dân nghèo mà thu nhập mỗi ngày có khi không bằng một Mỹ kim.
Những năm còn trong nước, tôi rất thích thú với một câu chuyện tiếu lâm mà tôi cho là ý nghĩa nhứt về chế độ cộng sản. Chuyện kể rằng có một người phụ nữ nghèo nọ vào nhà thờ cầu nguyện. Bà quỳ trước tượng Đức Mẹ và khẩn khoản xin Đức Mẹ cho bà đúng 10 đồng để đủ mua gạo và thức ăn cho gia đình trong một ngày. Trong một chế độ công an trị, chuyện những người tuyên thệ “còn đảng còn mình” đi quanh quẩn trong các giáo đường để theo dõi người dân là chuyện thường ngày ở huyện. Cho nên hôm đó, khi người đàn bà nghèo đang cầu khẩn với Đức Mẹ, có hai tên công an đứng rình rập để theo dõi nhứt cử nhứt động của bà. Họ ra ngoài bàn tính với nhau một hồi rồi mỗi người cố gắng rút từ trong túi áo ra một số tiền. Họ đếm đi đếm lại nhưng tổng cộng chỉ được đúng 2 đồng. Họ bỏ tiền vào bì thơ và viết lên đó dòng chữ: “Đảng cho”, với hàm ý muốn dạy cho người đàn bà rằng tôn giáo tín ngưỡng là chuyện mê tín dị đoan, rằng ở Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mọi nhu cầu của người dân đều được Đảng “no” (lo) cho cả. Rồi chờ cho người phụ nữ úp mặt xuống bàn quỳ để cầu nguyện, họ rón rén đặt bì thơ trước mặt bà. Sau đó họ tìm một góc khuất trong nhà thờ để xem phản ứng của người đàn bà. Khi ngước mặt lên để cầu khẩn tiếp với Đức Mẹ, người đàn bà ngạc nhiên vô cùng khi nhìn thấy bì thơ. Chị mừng rỡ không thể tưởng tượng được khi được “phép lạ”. Nhưng sau khi đã đếm tiền xong, chị lại ngước mắt nhìn lên Đức Mẹ và than thở: “Lạy Đức Mẹ, lần sau nếu Đức Mẹ có thương tình cho con quà thì xin Đức Mẹ trực tiếp trao cho con, bởi vì trao qua Đảng, chúng nó lấy mất của con đến 8 đồng”.
Tôi biết những người thân của tôi có sống còn trong chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay là nhờ “phép lạ”. “Phép lạ” từ những gói quà và điều được gọi là “kiều hối” mà người Việt hải ngoại vẫn tiếp tục gởi về quê hương. Nhưng vì phải “qua Đảng” cho nên 10 phần, thì “chúng nó” đã ăn chận, ăn bớt  đến cả tám phần. Như Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã có lần ví von, cộng đồng người Việt hải ngoại là một thứ “bò sữa” bị chế độ cộng sản Việt Nam vắt không biết mỏi mệt.
Mỗi lần gởi chút quà mọn về quê hương, một người tỵ nạn như tôi lại nghĩ đến thân phận “bò sữa” ấy. Đau khổ lắm. Nhưng nếu tôi không làm thân “bò sữa” ấy, ai sẽ thay tôi để lo cho hai bà chị già chẳng còn biết nương tựa vào bất cứ một người nào xung quanh mình. Tôi hình dung ra được cuộc sống neo đơn, khốn khổ của hai bà chị là bởi hầu như ngày nào tin tức nhận được từ trong nước cũng đều nói với tôi rằng xã hội Việt Nam hiện nay là một xã hội “vô cảm”. Sống chết mặc bay. Chẳng ai còn muốn nghĩ đến người khác. Cuộc sống dưới chế độ cộng sản đã làm cho con người Việt Nam ra tồi tệ như thế.
Đã có biết bao nhiêu người lên tiếng báo động về tình trạng “vô cảm” ấy của người Việt Nam hiện nay. Mới đây, trên báo mạng Đàn Chim Việt, tôi lại đọc được một bài của tác giả “Người Buôn Gió”. Tác giả ghi nhận  các vụ thảm sát, các vụ tự thiêu vì đất đai bị cưỡng chiếm, chuyện ngộ độc vì thức ăn độc hại bán đầy dẫy và nhứt là tai nạn giao thông. “Mỗi năm có khoảng 11 ngàn người chết vì tai nạn giao thông, gấp 15 lần con số người chết vì bệnh ung thư; hàng chục ngàn sinh viên mỗi năm ra trường thất nghiệp hoặc không tìm được việc đúng ngành nghề; hàng chục ngàn người hàng năm trở thành tội phạm để sống cuộc đời trong các nhà tù”. Chuyện xảy ra như cơm bữa.
Vậy mà bên cạnh đó, vẫn có những người, như một cô bạn của tác giả, vẫn thản nhiên đưa lên Facebook “những tấm hình đi du hí ở đâu đó”. Theo ghi nhận của “Người Buôn Gió”, “không phải riêng mình cô, mà có hàng chục ngàn người như cô trên các trang mạng xã hội ngày ngày đưa ra những tấm hình cho thấy họ mới mua xe, mua váy, đồng hồ, những chuyến đi du ký danh lam thắng cảnh”.
Tác giả ngậm ngùi chia sẻ: “Còn tôi thì hàng ngày vẫn đọc tin, suy nghĩ về những cái chết tự thiêu, những cái chết tai nạn, bệnh tật diễn ra ở Việt Nam. Tôi nghĩ cô bạn là phụ nữ, mà phụ nữ ham làm đẹp là mối quan tâm nhất của họ, chuyện thế là thường. Tôi đem tâm tư nói với anh bạn về những cái chết, những thứ diễn ra ở Việt Nam. Anh bạn tôi bảo - Tu rồi, không quan tâm thế sự, giờ lo kiếm tiền thôi” (Người Buôn Gió, Toàn Người Tốt Mà Vẫn Buồn, Đàn Chim Việt online 14/8/2015).
“Người Buôn Gió” nêu lên câu hỏi nhức nhối: “Cô bạn, anh bạn tôi đều là người tốt, tôi chắc chắn họ không bao giờ nghĩ mưu hại ai dù chỉ trong đầu họ, trong cuộc đời họ cũng giúp đỡ bạn bè rất nhiều lần. Tại sao những người tốt như họ lại không quan tâm đến những chuyện người dân tự thiêu, bị công an đánh chết, thực phẩm độc hại bán đầy cho người nghèo...?” (bđd)
Những trăn trở trên đây của “Người Buôn Gió” không thể không khiến tôi liên tưởng đến trận động đất tại Nepal ngày 25 tháng Tư vừa qua. Cũng trên Facebook và các trang mạng xã hội, nhiều người trong nước cũng như bên ngoài đã nhìn thấy được hình ảnh của một thiếu nữ Việt Nam đứng “tươi cười” trước một cao ốc sụp đổ vì cơn địa chấn. Chắc chắn đã có nhiều người chết trong cao ốc và không chừng cũng còn nhiều nạn nhân đang quằn quại chờ được cứu sống. Người thiếu nữ là thành viên của một phái đoàn Việt Nam sang Nepal để gọi là học hỏi và nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến động đất. “Nụ cười” tươi rói của người thiếu nữ trước nỗi đau của cả một quốc gia mình đang viếng thăm chỉ có thể nói lên một điều: cô đã quen sống “vô cảm” trước nỗi khổ đau và mất mát của người khác!
Chế độ độc tài đảng trị mà những người cộng sản Việt Nam đã áp đặt lên Miền Bắc từ 70 năm qua và tại Miền Nam từ 40 năm nay, đã hoàn toàn làm cho người Việt Nam biến chất. Trên khắp đất nước, đi đâu người ta cũng thấy hai chữ “văn hóa”. Nhưng ngoài thứ văn hóa “vô văn hóa”, người ta chẳng còn thấy bất cứ một chút văn hóa nào của dân tộc Việt Nam như con người Việt Nam ở Miền Bắc trước năm 1945 và con người Việt Nam ở Miền Nam trước năm 1975 đã từng được nhào nặn.
Biểu hiện rõ ràng nhứt của thứ văn hóa “vô văn hóa” mà người cộng sản đã tạo ra cho dân tộc Việt Nam chính là tính “vô cảm” hiện nay của đại đa số người Việt trong nước: vô cảm trước nỗi khổ đau của người đồng bào ruột thịt, vô cảm trước những tệ nạn xã hội đầy dẫy trong nước, vô cảm trước vận mệnh của đất nước. Người khác có chết đói trước mắt cũng mặc kệ. Tệ nạn xã hội có xảy ra như cơm bữa cũng mặc kệ. Đất nước có rơi vào tay ngoại xâm cũng mặc kệ. Bè lũ tham tàn có cỡi trên đầu trên cổ cũng mặc kệ. “Tu rồi, không quan tâm thế sự, giờ lo kiếm tiền thôi”.
Mỗi lần lắng nghe ca khúc “Một chút quà cho quê hương”, tôi luôn hình dung ra khuôn mặt đau khổ của nhạc sĩ Việt Dzũng và tiếng khóc nức nở của ca sĩ Ngọc Lan. Cả hai đều đã ra đi với “mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình”. Tôi cũng có cùng một mơ ước như thế, bởi vì kể từ khi những người Cộng sản cưỡng Miền Nam,  Việt Nam chưa bao giờ thực sự có hòa bình. Với tôi, hòa bình không hề có nghĩa là không có tiếng súng. Bởi lẽ, kể từ ngày 30 tháng Tư năm 1975 đến nay, người Cộng sản đã mở ra một cuộc chiến tranh triền miên nhắm vào chính dân tộc Việt Nam. Đó là chiến tranh của hận thù, của đàn áp, của tù đày, của nghèo đói, của nô lệ, của tham nhũng, của vô số tệ nạn xã hội, của vô đạo. Trong chiến tranh võ trang, hàng triệu  người Việt Nam đã chết vì bom đạn. Còn trong cuộc chiến hiện nay, thân xác người Việt Nam có thể còn nguyên vẹn, nhưng nhân cách của họ chết dần chết mòn vì vô cảm, vì dửng dưng, vì dối trá, vì ích kỷ...Đó là cái chết khủng khiếp nhứt trong mọi cái chết, bởi vì đó là cái chết làm cho con người đánh mất chính mình.
Kể từ ngày bỏ nước ra đi đến nay, tôi chưa từng tham gia bất cứ một tổ chức “phục quốc” hay “kháng chiến” nào. Tôi cũng chưa từng là thành viên hay đảng viên của bất cứ một phong trào hay đảng phái nào đang tranh đấu cho tự do và dân chủ tại Việt Nam. Tôi ngưỡng mộ những người dám hy sinh vì đại cuộc như thế.
Tôi không biết cố nhạc sĩ Việt Dzũng có tranh đấu trong một tổ chức hay đảng phái nào như thế không. Nhưng tôi cảm phục anh bởi vì qua anh, tôi có được “tâm nguyện” luôn muốn “gởi một chút quà cho quê hương”. Đó không chỉ là một “dăm ba thước vải”, “kẹo bánh thênh thang” hay một khoản “kiều hối”, mà là tấm lòng muốn trao ban và san sẻ. Đó là tấm lòng làm nên bản sắc tỵ nạn đích thực của tôi. Thực vậy, quà cho quê hương không hẳn chỉ là những hiện vật hiện kim để cải thiện phần nào cuộc sống người thân. Quà tinh thần như tình yêu thương lá lành đùm lá rách, những nâng đỡ tinh thần, như sự chia sẻ kiến thức, thông tin, như cách sống dựa trên sự tin tưởng, tình liên đới...giữa người với người, còn quan trọng hơn cho quê hương, nơi mà tình người và những giá trị văn hóa, đạo đức đã và đang bị hủy diệt. Tôi tin rằng những người không cùng màu da, tiếng nói và văn hóa xung quanh tôi sẽ hiểu được thế nào là một người Việt Nam qua những san sẻ và trao ban ấy. Đó là lòng yêu nước mà tôi muốn bày tỏ trước mặt người “ngoại quốc”. Tôi cũng tin rằng lòng yêu nước được tôi gói ghém trong “một chút quà cho quê hương” có thể là những viên đạn bắn vào sự vô cảm, lỗ hổng đạo đức mà người Cộng sản đang tạo ra cho dân tộc và xã hội Việt Nam hiện nay.
Với “một chút quà cho quê hương”, tôi chỉ “mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình” để cùng với cố nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) hát lên :
“Từ đây người biết quê người
 Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người”
(Mùa Xuân Đầu Tiên)










Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Quyết tâm đầu năm của tôi.

                             
                                                                  
                                                                         Chu Thập
Tết Dương Lịch 2010


Mỗi dịp đầu năm, như rất nhiều người trên thế giới, tôi cũng làm một vài quyết tâm: bỏ một vài tật xấu, tập một vài thói quen tốt. Động lực thúc đẩy tôi có quyết tâm chính là ý muốn vươn lên, sống cho ra người tử tế, mưu tìm hạnh phúc cho bản thân và trở thành người hữu dụng cho xã hội.
Tôi là người tin ở sức mạnh của ý chí.
Ngay lúc còn mài đũng quần ở trường làng, cùng với hình ảnh của ông Mạc Đăng Dung mài gươm bên dòng suối, đầu óc tuổi thơ của tôi đã được nhồi nhét bằng những câu như “có công mài sắt có ngày nên kim” hoặc “có chí thì nên”. Lên bậc trung học, mới bập bẹ chia những động từ cơ bản của tiếng Pháp, tôi cũng đã biết tụng niệm câu “vouloir c’est pouvoir” (muốn là được). Rồi lúc học thêm Anh ngữ, tôi lại càng tâm đắc với câu “Where there’s a will, there’s a way” (với quyết tâm thì điều gì cũng giải quyết được)
Thời đó, tôi đã tôn hoàng đế Nã Phá Luân của nước Pháp làm thần tượng và ngày đêm “tự kỷ ám thị” với câu nói thời danh của ông: “Cụm từ “không thể có” không có trong tự điển của tôi”. Với quyết tâm học hỏi và rèn luyện nhân cách, tôi ngấu nghiến tất cả những cuốn sách “học làm người”: từ “Bắp Thịt trước đã” đến “Người ý chí”, “Người kiên nhẫn”, “Cái dũng của Thánh nhân” v.v …Kết quả là không những thành tích học tập của tôi có tiến bộ, mà sức khỏe cũng như tư cách của tôi cũng khá hơn trước.
Thành tích mà tôi cho là lớn nhứt trong đời tôi là bỏ được thuốc lá, rượu bia, cà phê và ngay cả các thứ gia vị cay nóng trong thức ăn. Sau năm 75, do nỗi buồn “thế sự”, tôi vướng vào không biết bao nhiêu tật xấu, trong đó trầm trọng nhứt là thuốc lá, rượu và cà phê. Phải gần 20 năm sau và sau năm lần bảy lượt trầy vi tróc vẩy, tôi mới bỏ hẳn được những thứ “lăng nhăng” ấy. Nhưng khốn nỗi, những thứ “lăng nhăng” ấy vẫn tiếp tục “quấy” tôi. Ngày nay, mùi và khói thuốc lá có thể làm cho tôi cảm thấy nhức đầu hay buồn nôn. Nhưng bia rượu, cà phê và các thứ gia vị lại vẫn tiếp tục làm cho tôi “thèm nhỏ r...ãi” và “đứng ngồi không yên” mỗi khi thấy người khác “vô tư” thưởng thức trước mặt mình. Nhứt là mùi vị của ớt: đây đúng là cái gót chân Achille của tôi! Là dân miền Trung, từ lúc được mẹ nhai cơm mớm miệng, tôi đã cảm được cái hương vị “thơm ngon” của ớt. Khi tôi bước vào tuổi khôn thì mỗi bữa ăn mà thiếu hai trái ớt xiêm thì bị coi như chưa thành bữa. Vậy mà, vì lý do sức khỏe, tôi đành phải chiến đấu để gạt ớt ra khỏi bữa ăn. Đây là một trong những thành tích lớn nhứt trong việc tập luyện ý chí và đồng thời cũng là hy sinh lớn nhứt của tôi. Bỏ mà vẫn còn thèm. Quả thật, ớt là “cơn cám dỗ” lớn nhứt trong đời tôi. Tôi nhái giọng của triết gia Descartes để “lý sự”: Tôi còn bị cám dỗ, cho nên tôi hiện hữu. Dĩ nhiên, hiện hữu như một con người có đủ mọi thứ sam sân si để, cứ vươn lên rồi lại vấp ngã.
Chính trong cuộc chiến chống lại ba cái “lăng nhăng” ấy mà tự nhiên tôi thấy dấy lên một sự cảm thông cao độ đối với những ai, vì lý do này hay lý do khác, không thể vượt qua được những điều mà chúng ta cho là “yếu hèn” hay “cám dỗ” trong cuộc sống.
Ở tuổi thanh xuân, tôi tin rằng với ý chí, mình có thể đạt được những gì mình thực sự muốn. Dĩ nhiên, điều này có thể đúng với một số người, nhưng không phải ai cũng có được một “ý chí” sắt đá như thế. Càng thêm tuổi đời, càng vấp ngã, tôi càng thấm thía với câu nói của người Pháp: “Si jeunesse savait, si vieillesse pouvait!” (Phải chi tuổi trẻ có được hiểu biết và phải chi tuổi già có đủ sức lực). Thật vậy, tuổi trẻ tưởng mình có thể làm được mọi sự. Nhưng người già thì lại biết rằng sức lực của con người có giới hạn.
Khi nghe ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tung ra khẩu hiệu “Yes, we can” (Phải, chúng ta có thể làm được), tôi đã “cười thầm” với nhận định của kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa khi ông viết rằng ông Obama đang rao hàng: “Ai mua trăng tôi bán trăng cho”. Thực tế của Hoa kỳ sau một năm ông tổng thống tương đối còn trẻ này lên cầm quyền, đã cho thấy lượng giá của ông Nguyễn Xuân Nghĩa là đúng: ông Obama đã không “làm được” như ông đã hứa hẹn! Cuộc chiến đang diễn ra ở Iraq và ở Afghanistan, cuộc chiến chống  khủng bố và  khủng hoảng kinh tế ở trong nước hay cuộc chiến trên bình diện xã hội không dễ như trở bàn tay như vị tổng thống da đen đầu tiên này của Hoa kỳ đã mơ tưởng. Ông Obama đã mang lại một niềm cảm hứng lớn lao cho nhiều người khi ông đạt được “giấc mơ Hoa kỳ” (American dream). Nhưng giờ đây có lẽ ông đang thấm thía khi nhận ra rằng sức người có giới hạn, không phải cứ muốn là được.
Trong lãnh vực đạo đức và luân lý, sự yếu đuối của con người lại càng tỏ rõ hơn. Ông bà chúng ta quả thực đã thâm thúy khi nói “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Ngày nay, chúng ta bảo: có xỏ chân vào giày người khác mới hiểu được họ. Có một lần lầm lỡ, vấp ngã mới biết cảm thông.
Cuộc đời không chỉ làm nên bằng những hành động của ý chí, mà thường lưu đậm nét nhờ những cử chỉ của cảm thông.
Steve Covey, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “7 Habits of Highly Effective People” (7 thói quen của những người có hiệu năng cao) có kể lại một kinh nghiệm mà ông đã nếm trải trên một chuyến xe điện tại thành phố New York vào một sáng Chúa Nhựt. Trên toa xe điện, mọi hành khách đều chìm đắm trong thinh lặng. Một số đang đọc báo, một số ngồi ngáp, một số nữa nhắm nghiền đôi mắt như đang thiền niệm. Đây là một buổi sáng êm ả, bình lặng hiếm có trong đường xe điện ngầm tại New York. Thế rồi, ở một trạm dừng nọ, một người đàn ông và mấy đứa con của ông bước lên xe điện. Mấy đứa trẻ bắt đầu la lối, ồn ào. Có đứa giựt cả báo của hành khách. Quả thật, mấy đứa trẻ đã làm xáo trộn cái bầu khí tĩnh lặng đang có. Một số người bắt đầu khó chịu ra mặt. Vậy mà người đàn ông vẫn cứ ngồi yên bất động.
Tác giả Steve Covey không thể tưởng tượng nổi có một người đàn ông vô tâm khi để cho con cái mình quấy phá người khác như thế. Cuối cùng, nghĩ rằng mình có trách nhiệm đối với mọi người hành khách khác, tác giả tiến đến gần người đàn ông và với tất cả nhã nhặn, ông nói: “Thưa ông, mấy đứa con của ông đang làm phiền người khác. Ông có thể bảo chúng ngồi yên được không?” Người đàn ông ngước mắt nhìn lên như thể vừa mới tỉnh ngủ và nói: “Ồ, xin lỗi ông. Ông nói đúng. Lẽ ra tôi phải bảo chúng ngồi yên. Tôi vừa mới ra khỏi bệnh viện: mẹ chúng nó vừa qua đời cách đây một tiếng đồng hồ. Tôi không còn đầu óc để mà suy nghĩ và tôi nghĩ mấy đứa con tôi cũng thế”.
Tác giả Steve Covey viết: “Lúc đó, bạn có thể tưởng tượng được tôi cảm thấy như thế nào không? Tôi bỗng nhìn thấy sự việc một cách khác. Vì thấy khác cho nên tôi cũng cảm thấy khác và cư xử khác. Sự bực tức trong tôi bỗng tan biến. Trái tim tôi được lấp đầy bằng nỗi đau của người đàn ông này. Niềm cảm thông và thân thiện tràn dâng trong tôi. Tôi chỉ còn biết nói với người đàn ông bất hạnh: “Vợ ông mới qua đời sao? Ồ, tôi xin lỗi. Ông có thể kể thêm cho tôi nghe được không? Tôi có thể làm gì để giúp ông?”
Theo ông, buổi sáng Chúa Nhựt hôm đó, không có gì thay đổi trên toa xe điện ấy. Tất cả vẫn như cũ: cũng những con người đó, cũng sự bực tức đó, cũng những đứa trẻ đó. Có thay đổi chăng là thay đổi trong cách nhìn và phán đoán về người khác và từ đó cũng thay đổi trong cung cách cư xử của họ.
Buổi sáng hôm đó, tác giả Steve Covey cảm thấy như được giác ngộ. Cũng vào một buổi sáng, cách đây hai ngàn năm, tại một làng quê ở Palestine, một số người tham dự một phiên xử chẳng khác nào một thứ “tòa án nhân dân”  hẳn cũng được giác ngộ. Sách Tin Mừng của Kitô giáo kể lại rằng sáng hôm đó một đám đông người Do thái, do một nhóm “kinh sư” và “biệt phái” cầm đầu, đã dẫn đến trình diện trước mặt Chúa Giêsu một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. “Kinh sư” là những chuyên gia về luật của thời đó. Còn “biệt phái” là những người tự xem là “đạo đức” cho nên muốn đứng “tách biệt” ra khỏi  đám đông. Theo luật thời đó, những người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình đều phải bị ném đá cho đến chết.
Sách Tin Mừng viết rằng các kinh sư và biệt phái muốn nhân cái tòa án nhân dân này để giăng bẫy Chúa Giêsu: tha cho người phụ nữ là vi phạm luật pháp, mà tuyên bố phải ném đá chị theo luật pháp thì thật là một hành động bất nhân đi ngược lại với giáo huấn của Ngài về yêu thương và tha thứ.
Tác giả Gioan kể lại: “…Nhưng Chúa Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Ngài ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ngươi sạch tội, thì cứ việc lấy đá ném trước đi”. Rồi Ngài lại cúi xuống viết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi…”
“Bắt đầu từ những người lớn tuổi”: đây là một chi tiết đáng suy nghĩ. Người lớn tuổi rút lui trước hẳn vì càng thêm tuổi, con người càng nhận ra thân phận bất toàn yếu đuối của mình.
Buổi sáng hôm đó, già trẻ lớn bé, tất cả mọi người có mặt trong phiên xử của tòa án nhân dân đều được giác ngộ: họ đã nhận ra bản thân yếu hèn của mình và cũng nhìn vào người phụ nữ ngoại tình bằng một cái nhìn khác!
Câu chuyện trên đây là một trong những trang đẹp và cảm động nhứt của Tin Mừng Kitô giáo.
Thật ra, theo tôi, cốt lõi của “Đạo” hay bất cứ tôn giáo nào cũng đều là “Lòng Cảm Thông”.
Cố linh mục Anthony de Mello, một linh mục dòng Tên Ấn độ chuyên xử dụng kho tàng minh triết của Đông phương để giới thiệu Kitô giáo, có kể câu chuyện như sau: Có một người đàn bà giàu có nọ cho xây trong khu vườn của mình một tịnh xá. Bà mời một vị sư trẻ về trụ trì. Một thời gian khá lâu sau, khi nhà sư đã tu luyện, một đêm nọ, người đàn bà cho rước một cô gái điếm về và đưa vào tịnh xá để gọi là thử thách vị tu sĩ. Kết quả sau một đêm chiến đấu của nhà sư khiến bà hết sức ngỡ ngàng: mặt mũi cô gái điếm bầm tím! Thấy thế, bà lập tức mời vị sư ra khỏi tịnh xá và nói: “Tôi không ngờ thày đã đối xử tàn bạo như thế đối với cô gái này. Sau nhiều năm tu luyện, lẽ ra thày phải đạt được cốt lõi của Đạo là lòng từ bi và sự cảm thông, chứ không phải là để có được một trái tim chai đá trước nỗi khổ đau của người đồng loại”.
Cửa chùa và  tu viện có nhiều, nhưng chẳng có đường tu nào mà không có “tu thân”. Và chẳng có “tu đâu cho bằng tu nhà”. Khởi đầu một năm mới, tôi quyết tu thân sửa tính để sống cho ra Người hơn (Người với tất cả cái đẹp của nó). Dường như một số bạn bè muốn giúp đỡ tôi trong đường tu thân ấy cho nên năm nào, họ cũng gởi đến cho tôi tấm hình của 3 chú khỉ ngồi bên nhau: một chú bịt tai, một chú bịt miệng, một chú bịt mắt…Tôi sẽ bịt tai để không nghe những lời “nói xấu” về người khác. Tôi sẽ bịt miệng để không nói xấu về người khác. Tôi sẽ bịt mắt trước những thiếu sót lầm lỡ của người khác. Đồng thời, tôi sẽ mở rộng trái tim để đón nhận tất cả mọi khiếm khuyết của người khác. Có quyết tâm như thế, tôi mới lớn lên trong cảm thông và độ lượng và như vậy, mới cảm nếm được niềm hạnh phúc và an bình mà loài người thường chúc nhau mỗi dịp đầu năm.


 Tết Dương Lịch 2010