Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Nụ cười của người cựu chiến binh


Chu Thập
13/11/13
Úc Đại Lợi mà tôi được hân hạnh làm công dân cho tới nay vẫn còn tự nhận là một đất nước “may mắn”. Có lẽ cả thế giới cũng nhìn nhận điều đó. Ở đâu cũng gặp khủng hoảng kinh tế, nhưng  Úc Đại Lợi vẫn cứ bình chân như vại. Tại nhiều quốc gia, người dân phải sắp hàng dài cả ngày để tìm một công ăn việc làm, Úc Đại Lợi vẫn tiếp tục được xem là nước có mức thất nghiệp thấp nhứt. Tuy không nằm trong “Câu lạc bộ” G8, tuy không phải là một cường quốc kinh tế hàng đầu và cũng chẳng có nhiều tỷ phú nhứt thế giới, Úc Đại Lợi vẫn là quốc gia trong đó tài sản trung bình của người dân được xem là cao nhứt thế giới. Sự kiện những người tầm trú từ một số quốc gia Á Châu và ngay cả Trung Đông vẫn tiếp tục liều mạng sống để đặt chân đến Úc Đại Lợi cho bằng được chứng tỏ rằng đất nước này vẫn còn là một “niềm mơ ước” đối với rất nhiều người.Và dĩ nhiên, với điều kiện sống và khí hậu không quá khắc nghiệt, một vài thành phố của Úc Đại Lợi, trong nhiều năm qua, vẫn được xem là những nơi đáng sống nhứt trên thế giới. Tôi thật sung sướng và hãnh diện được chọn một đất nước như thế làm quê hương thứ hai. Tôi chẳng có gì để than phiền về cuộc sống ở đất nước “miệt dưới” này.
Tuy nhiên, mới đây, khi đọc kết quả của một cuộc nghiên cứu do “Hội tâm lý gia Úc” (The Australian Psychological Society) thực hiện và cho công bố nhân “Tuần lễ Tâm Lý” từ ngày 10 đến 16 tháng 11 này, tôi cảm thấy ngỡ ngàng. Theo cuộc nghiên cứu, cứ 4 người Úc đi làm thì có đến 3 người ngày càng cảm thấy bị “căng thẳng” (stress) với một mức độ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của họ. Ba phần dân đi làm đều bị căng thẳng: đây quả là một tỷ lệ cao!
Theo giáo sư Lyn Littlefield, thuộc “Hội tâm lý gia Úc”, nếu “không được nhận diện và giải quyết một cách đy đủ trong chỗ làm, tình trạng “căng thẳng” có thể ảnh hưởng sâu rộng đến hiệu năng nơi chỗ làm và về lâu về dài tác động đến sức khỏe của nhân viên”.
Những số liệu mới nhứt cho thấy vì bị “căng thẳng” mà nhân viên phải vắng mặt nơi sở làm, tình trạng này có thể gây thiệt hại cho giới chủ nhân mỗi năm khoảng 30 tỷ Úc kim.
Cũng theo cuộc nghiên cứu, thành phần bị căng thẳng nhứt trong xã hội Úc hiện nay là thanh niên thiếu nữ trong độ tuổi từ 18 đến 25. Đây là thành phần xã hội được nhận diện có những triệu chứng trầm uất cao nhứt. Một trong những nguyên nhân khiến cho các thanh niên thiếu nữ Úc bị căng thẳng và trầm uất chính là vấn đề tài chính: họ là nhóm người phải lo toan nhiều hơn cả về những nhu cầu căn bản của cuộc sống khi đứng trước một tương lai bất định.
Hồi giờ tôi cứ ngây thơ tưởng rằng hễ cứ sống ở một đất nước giàu có và may mắn như Úc Đại Lợi thì con người ta phải đương nhiên “hạnh phúc” thôi.  Thì ra, đất nước càng giàu mạnh, tiện nghi cuộc sống càng tối tân, con người càng bị “căng thẳng”. “Thuyền to thì sóng to”: đó là qui luật muôn đời cho giới lãnh đạo chính trị, các nhà doanh nghiệp cũng như từng cá nhân. ông tổng thống Mỹ nào sau một nhiệm kỳ mà không thấy tóc mình bạc ra?  Chủ xí nghiệp hay ngân hàng nào có thể ngồi không “rung đùi” để mà hái ra tiền đâu. Biết đâu sau những bữa tiệc linh đình, giấc ngủ của họ lại chẳng toàn là những ác mộng. Biết đâu trong nhà “vệ sinh” nguy nga tráng lệ của họ lại chẳng ngổn ngang chai lọ và thuốc an thần. Biết đâu những ngôi biệt thự đồ sộ và sang trọng của họ lại chẳng lúc nào cũng chỉ là “phòng không gối chiếc” lạnh lẽo.
“Căng thẳng” là thứ của nợ dường như chẳng tha ai cả. Mà đâu chỉ có con người. Mấy chị gà mái của tôi hôm nào leo đồi bị chồn rượt, hôm sau thế nào cũng làm reo giảm hẳn năng suất. Nhà tôi giải thích rằng mấy chị bị “căng thẳng”. Mấy con cá nuôi trong hồ theo phương pháp thủy canh (Aquaponics: dưới nuôi cá trên trồng rau) cũng thế: hôm nào trở trời trái gió, chúng cũng bỏ ăn. Nhà tôi lại bảo rằng chúng bị “căng thẳng”. Động vật mà còn bị căng thẳng huống chi con người. Như tôi đây, mặc dù chẳng phải lo toan đến bạc đầu vì sinh kế (vì đầu đã bạc), cũng có lúc “thần hồn nát thần tính” ngơ ngơ ngác ngác vì chuyện đâu đâu. Chẳng hạn, hôm nào thức dậy đo huyết áp hay lượng đường trong máu thấy cao hơn mức tuổi già cho phép thì suốt ngày hôm đó cứ thấy lo lắng vu vơ. Còn hôm nào đi khám bệnh, gặp ông bác sĩ chẳng có máu “tâm lý”, cứ đe dọa cảnh cáo đủ điều, về nhà thế nào cũng mất ăn mất ngủ. Ngay như một đề tài của một bài báo chưa được “khai thông” cũng đủ khiến tôi trằn trọc cả đêm. Và đương nhiên, nỗi “căng thẳng” triền miên của tôi là làm sao để có bài nộp cho ông chủ bút đúng ngày giờ.
Giá như được làm mấy ông cộng sản “chóp bu” ở Việt Nam thì sướng biết mấy. Giây thần kinh xấu hổ của mấy ổng thì chắc chắn bị đứt rồi. Và có lẽ giây thần kinh “căng thẳng” của mấy ổng chắc cũng chẳng còn nữa, cho nên lúc nào cũng thấy mấy ổng bình chân như vại: dân tình có khốn khổ, mấy ổng chẳng màng tới; đất nước có bị “nước lạ” xâm chiếm, mấy ổng vẫn cứ tỉnh bơ! Chớ sự thường, theo các nhà tâm lý, hễ  não bộ còn hoạt động thì các giây thần kinh cũng có lúc phải “căng” ra thôi!
Được các chuyên gia mách bảo cho nên những lúc giây thần kinh có bị “căng” ra chút đỉnh tôi vẫn còn tự trấn an: đời là thế mà! “Căng thẳng” tự nó đâu phải lúc nào cũng xấu. Với những liều lượng “nhỏ”, căng thẳng có thể giúp tôi làm được những điều mà bình thường tôi không thể làm được và nhứt là mang lại động lực thúc đẩy tôi cố gắng nhiều hơn trong những điều kiện bình thường. Các chuyên gia tâm lý giải thích rằng “căng thẳng” là một ứng phó bình thường của con người trước các biến cố có thể khiến tôi cảm thấy bị đe dọa hay chao đảo. Khi nguy hiểm xuất hiện, chẳng hạn bị rắn “rượt” như trường hợp của tôi, cơ thể tôi có thể kích hoạt để tôi “cài số” và chạy bán sống bán chết để thoát thân. Đây là một phản ứng tự nhiên của cơ thể trong vai trò bảo vệ. Trong những tình huống “khẩn cấp”, sự căng thẳng có thể cứu mạng tôi, mang lại cho tôi sức mạnh để tự vệ.
Với một liều lượng “vừa đủ” và hợp lý như thế, sự căng thẳng có thể giúp tôi đương đầu với những thách đố của cuộc sống, khiến tim và phổi của tôi làm việc tích cực hơn. Nhưng một khi đã vượt qua giới hạn cho phép thì dĩ nhiên sự căng thẳng có thể làm cho tôi bị tê liệt,  thay đổi tâm tính, hiệu năng làm việc, các mối quan hệ và phẩm chất cuộc sống của tôi. Lúc đó tôi chẳng còn là người “bình thường” nữa, mà đã “bị bệnh” tâm lý rồi.
Nhưng bệnh nào cũng có thể phòng ngừa và tránh được cả. Trong những lời khuyên mà tôi đã đọc được để tránh cho sự căng thẳng có thể trở thành một căn bệnh, thì lối sống “nước tới chân mới nhảy” và ôm đồm theo kiểu “chợ nào cũng có chị” là con đường ngắn nhất để đi đến “căng thẳng” mãn tính. Biết tổ chức cuộc sống hàng ngày, biết chọn lựa những ưu tiên và loại bỏ bớt những bận rộn không cần thiết, và sống có kỷ luật là những phương pháp tốt hơn cả. Nếu tôi biết tuân thủ một thời khóa biểu chặt chẽ và nhất là sống theo nguyên tắc “giờ nào việc ấy” thì tôi không sợ mất thời giờ và phải chạy theo công việc vào giờ chót. Ngoài ra, một cách rất cụ thể, nhiều chuyên gia cũng khuyên nên có một bữa ăn sáng đủ liều lượng. Một bữa ăn sáng đầy đủ chất đạm, ngũ cốc, trái cây, sữa, một ít chất béo và sinh tố cần thiết có thể tái tạo quân bình cho hệ thống thần kinh và như vậy không làm cho một số giây thần kinh bị “căng” quá mức hay bị “đứt”. Một vài động tác như uốn mình, duỗi lưng và đôi vai trong lúc làm việc cũng như đứng dậy hít thở sâu cũng có thể làm cho máu lưu chuyển nhanh và như vậy giúp cho cơ thể thư giãn. Và dĩ nhiên, sau một ngày làm việc, không gì giúp cho thần kinh bớt căng thẳng cho bằng mươi phút đi dạo, ăn tối vui vẻ và một tắm trong làn nước ấm.
Về mặt “kỹ thuật” là như thế. Còn về phương diện tâm lý, tôi thấy sự lắng nghe và cảm thông của người thân và bạn bè trong những lúc tôi gặp căng thẳng vẫn là sự trợ giúp hữu hiệu nhứt. Tình trạng căng thẳng càng gia tăng khi tôi càng trốn vào vỏ ốc cô đơn của mình.
Vì vậy, mỗi khi gặp căng thẳng tôi thường nhớ đến lời khuyên dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Phật Giáo Tây Tạng. 16 tuổi, mất tự do của một công dân ngay trong xứ sở của mình, 24 tuổi phải trốn ra nước ngoài tỵ nạn, nhà lãnh đạo tinh thần này đã cảm nghiệm được thế nào là căng thẳng và trầm uất. Một trong những phương pháp mà ngài cho là hữu hiệu nhứt để giúp ngài giữ vững tinh thần là sự buông bỏ và chấp nhận. Theo ngài, nếu tình thế hoàn toàn bế tắc, nghĩa là không thể tìm được giải pháp, thì ta không cần phải lo lắng làm gì nữa. Còn nếu tình thế vẫn còn có hy vọng tìm ra giải pháp, thì hãy tập trung vào việc giải quyết vấn đề hơn là ngồi đó mà lo lắng hay than thân trách phận.
Nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng nhìn nhận rằng ai cũng có lúc không hài lòng với cuộc sống và cảm thấy như bị đè bẹp bởi các khó khăn. Ngài khuyên rằng khi điều đó xảy ra, nghĩa là khi gặp căng thẳng, ta hãy cố gắng nhớ lại những may mắn và phúc lành mình đang có trong tay, chẳng hạn như vẫn còn được ai đó thương mến, vẫn có một số tài năng, vẫn có được một vốn liếng kiến thức nhờ được giáo dục, vẫn còn được thỏa mãn trong những nhu cầu cơ bản như cơm ăn, áo mặc, nơi cư trú hoặc trong quá khứ mình đã từng làm được một vài việc thiện nào đó. Nói tóm lại, theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, chúng ta nên nhìn lại những khía cạnh tích cực của cuộc sống mà mình đang có. Chỉ có một cái nhìn như thế mới có thể giúp chúng ta vượt qua được sự căng thẳng.
Đây là thái độ lạc quan mà tôi thấy được qua con người của Bobby Henline, một cựu chiến binh Mỹ đã từng chiến đấu tại Iraq. Nếu cần có một khuôn mặt không cần phải hóa trang mà vẫn có thể đóng những vai kinh dị khủng khiếp nhứt, thì có lẽ không ai có thể qua mặt được anh. Ngày 7 tháng 4 năm 2007, ba tuần lễ sau khi trở lại Iraq lần thứ tư, chiếc xe chở anh và 4 đồng đội khác đã bị quân khủng bố cho nổ tung. Bốn đồng đội của anh chết tại chỗ. Bobby Henline là người duy nhứt sống sót, nhưng một số xương trên mặt anh bị vỡ ra từng mảnh, 40% thân thể anh bị cháy và một phần trên cánh tay trái của anh bị cưa. Sau 2 tuần hôn mê, anh được hồi phục. Trở về với gia đình trong một tình trạng như thế, chúng ta có thể hiểu được tâm trạng của người cựu chiến binh này. Ngày nào anh cũng bị ám ảnh bởi những hình ảnh chết chóc của chiến tranh. Có lúc anh chỉ muốn chết đi cho rồi. Thế rồi trong thời gian dưỡng bệnh cùng với các binh sĩ bị thương khác, anh tìm cách quên đi nỗi đau của mình bằng cách nâng cao tinh thần của họ và kể cho họ nghe những câu chuyện vui. Không mấy chốc, người khác vui mà chính anh cũng được chữa lành trong nỗi đau riêng của mình. Anh biến những tai họa của anh thành những nụ cười. Có lần anh kể: “Da đầu của tôi cháy hết. Các bác sĩ lấy da bụng của tôi để đắp lên đầu cho nên mỗi khi ăn nhiều tôi thấy nhức đầu”. Hiện nay, người cựu chiến binh 43 tuổi này được xem là một trong những diễn viên hài duyên dáng nhất tại Mỹ (Time 18/11/2013).
Nhìn nụ cười trên gương mặt dị dạng của Bobby Henline, tôi thấy chẳng có lý do gì để than phiền về cuộc sống của mình nữa. Chuyện “căng thẳng” viết báo của tôi cũng biến thành “chuyện nhỏ”. Theo gương anh và lời khuyên của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nếu như đã “căng thẳng” hết sức mà vẫn không tìm ra để tài để viết hầu bạn đọc, tôi cũng có thể nại bệnh “lẫn” của tuổi già để xin được “thông cảm bỏ qua”.  
Một Chu Thập lú lẫn có lẽ vẫn “dễ thương” hơn một Chu Thập căng thẳng, vì dễ bị nhìn ra thành một Chu Thập “táo bón”.




Thứ Sáu, 9 tháng 6, 2017

Người thật, mặt thật


Chu Thập
02/06/17

Tối thứ Bảy vừa qua, tôi lên Sydney để ngắm cảnh đô thị về đêm (Vivid Sydney). Vì uống nhiều nước tôi phải vào nhà vệ sinh của một trạm xe lửa để “giải quyết vấn đề”. Xong việc, tôi bước ra khỏi nhà vệ sinh với một bộ mặt không được tươi tắn lắm. Nhà tôi liền hỏi: “Bộ nhà vệ sinh dơ bẩn và hôi hám lắm sao mà mặt anh nhăn nhó như con khỉ vậy?” Nhà tôi đã đoán trúng tâm trạng và phản ứng của tôi về tình trạng của nhà vệ sinh công cộng trong nhà ga xe lửa. Quả thực tôi đã không che dấu được cảm xúc của mình.
Dọc đường, nhìn ngắm cảnh đô thị rực rỡ về đêm, tôi lại nghĩ đến điều thường được gọi là “ngôn ngữ thân xác” (body language) và dĩ nhiên cũng liên tưởng đến Tổng thống Mỹ Donald Trump mà các chuyên gia tâm lý vẫn xem như một đề tài nghiên cứu (case study) lý thú, nhứt là về những điệu bộ và cử chỉ của ông.
Tổng thống Trump không phải là nguyên thủ quốc gia của tôi, lại càng không phải là thần tượng của tôi. Vậy mà trong chuyến công du ngoại quốc đầu tiên vừa qua của ông, tôi đã đi theo ông “trên từng cây số”. Theo bình luận của một số cơ quan truyền thông, ông đã qua được cuộc trắc nghiệm một cách tốt đẹp. Nghe nói tỷ lệ ủng hộ của dân chúng Mỹ dành cho ông có nhích lên một chút. Tại Á Rập Saudi, giọng điệu bài Hồi giáo của ông đã hoàn toàn biến mất. Ông đã mang về cho Hoa Kỳ một hợp đồng bán khí giới béo bở trị giá đến cả trăm tỷ Mỹ kim. Tại Palestine, ông đã hô hào xây dựng hòa bình giữa Israel và người Palestine. Đến Roma, ông không quên vào “chầu” Đức giáo hoàng và tặng cho ngài một tác phẩm của cố Mục sư Martin Luther King, người đã tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen tại Hoa Kỳ bằng chủ trương bất bạo động. Cuối cùng, tại cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo của khối Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) cũng như với khối G7, lập trường cứng rắn của ông về nhiều vấn đề có lẽ đã làm cho những người ủng hộ ông hài lòng hả dạ. Nhìn chung, đây là một chuyến công du ngoại quốc tương đối thành công của Tổng thống Trump. Dĩ nhiên dưới mắt của những người ủng hộ ông.
Qua truyền hình, tôi có nghe lõm bõm một số đoạn tiêu biểu trong các bài diễn văn của ông. Tuy nhiên, đây không phải là điều tôi chú ý cho lắm. Thật vậy, trong suốt chuyến công du vừa qua của Tổng thống Trump, tôi chỉ quan tâm đến những chuyện bên lề, đặc biệt những cử chỉ và điệu bộ của ông. Không phải là một chuyên gia tâm lý, tôi cũng cố gắng đọc “ngôn ngữ thân xác” của ông để biết thêm về con người của ông.
Trước hết, tôi đặc biệt chú ý đến cách bắt tay của ông, cách riêng với tân Tổng thống Pháp Emmanuel Macron. Trước đây thiên hạ  đã không hết lời để bàn tán về cú bắt tay của ông với Thủ tướng Nhựt Bản Shinzo Abe. Ai cũng nhận thấy cử chỉ quá lố của Tổng thống Trump đã khiến cho Thủ tướng Abe không che dấu được sự lúng túng và ngượng ngùng của ông.
Ngửa bàn tay ra, nắm lấy bàn tay của một lãnh tụ khác rồi vừa lắc vừa kéo tay người ta về phía mình: các chuyên gia về “ngôn ngữ thân xác” cho đó là biểu hiện của ý chí thống trị của người lúc nào cũng chỉ muốn làm “kẻ cả”. Tổng thống Pháp Macron hẳn đã nhận ra điều đó cho nên đã có thái độ “phòng thủ” khi bắt tay Tổng thống Trump. Trong một cuộc phỏng vấn mới đây trên báo “Journal du Dimanche” (Báo ngày Chúa Nhựt), tổng thống Pháp nói rằng về phương diện chính trị, một cái bắt tay không nói lên điều gì cả. Tuy nhiên, theo ông, cái bắt tay của ông với Tổng thống Trump tại cuộc gặp gỡ của khối G7 là “một giây phút quyết liệt” (un moment de vérité). Tổng thống Pháp giải thích rằng ông đã không để cho mình bị lép vế hay thị oai bởi một người như ông Trump, người mà ông cũng đã xếp chung vào nhóm những nhà độc tài của thời đại như Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan và Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Thật ra, chỉ nhìn vào cách bắt tay, người ta cũng chưa hiểu hết con người của Tổng thống Trump. Phải nhìn lại cách ứng xử của ông, mới thấy được con người thật của ông. Tại Thủ đô Brussels, Bỉ Quốc, trước khi chụp hình chung với các nguyên thủ của khối NATO,  ông đã từ phía đàng sau, dùng tay xô đẩy và kéo Thủ tướng Dusko Markovic của Montenegro ra sau để chen lên đứng ở phía trước, cài lại nút áo, rồi nghênh ngang đứng nhìn xung quanh, mà không nói được một lời xin lỗi. Tôi đã xem lại cảnh này không biết bao nhiêu lần. Cứ sự thường, bất cứ người nào có thái độ như thế đối với tôi mà không nói được một lời xin lỗi, tôi cũng đều rủa thầm trong bụng: “Đồ mất dạy!” Trong một xã hội văn minh, khi phải xô đẩy hay lỡ đụng chạm đến người khác trong một đám đông, hầu như ai cũng đều quay lại để nói một lời xin lỗi. Chẳng có sự “vĩ đại” nào cho phép một người văn minh cư xử “mất dạy” như thế với người khác!
“Ngôn ngữ thân xác” quả thật phơi bày nhiều điều thầm kín trong tư cách của con người cũng như quan hệ của họ với người khác. Trong chuyến công du vừa qua của Tổng thống Trump, nhiều người cũng thắc mắc về tình nghĩa vợ chồng giữa ông và đệ nhứt phu nhân Melania. Sở dĩ có bàn ra tán vào về quan hệ giữa hai người là vì trong chuyến viếng thăm Israel, lúc bước trên thảm đỏ bên cạnh vợ chồng Thủ tướng Benjamin Netanyahu, Tổng thống Trump thấy cảnh vợ chồng người tương nhiệm tay trong tay cho nên cũng đưa tay để nắm lấy bàn tay bà Melania, nhưng bà này đã công khai hất tay của ông ra. Tôi không biết đệ nhứt phu nhân Melania muốn bắn đi tín hiệu gì qua cử chỉ này. Nhưng thái độ bất ngờ và không bình thường của bà lại khiến cho nhiều người nhớ lại những thành tích của Tổng thống Trump mỗi khi bình phẩm về nữ giới. Về cô con gái rượu Ivanka của ông có lần ông nói rằng nếu cô không phải là con gái ông thì ông đã tán tỉnh và hẹn họ với cô. Với công nương Diana, ông cũng công khai tuyên bố rằng ông mơ được có quan hệ tình dục với bà. Một băng hình được một người bà con chú bác của cựu Tổng thống George W. Bush là phóng viên Billy Bush tung ra đã ghi lại những câu nói vô cùng tục tĩu của ông Trump. Đàn bà đối với ông chỉ là một “mớ thịt” để sờ mó. Tựu trung, với ông, đàn bà là một đối tượng để chinh phục và thống trị hơn là để tôn trọng.
Có phải vì một tư cách như thế mà khi chụp hình chung với ông trong điện Vatican, Đức giáo hoàng Phanxicô đã không thể cười nhếch được nửa miệng không? Bình thường, nhà lãnh đạo tôn giáo này không tiếc một nụ cười với bất cứ người nào. Vậy mà khi chụp hình chung với ông, ngài đã giữ một  gương mặt mà các nhà bình luận nói là lạnh như tiền. Chẳng ai biết ngài nghĩ gì trong đầu khi tiếp Tổng thống Trump. Nhưng trong “ngôn ngữ của thân xác”, có lẽ gương mặt lạnh như tiền của ngài nói lên rất nhiều điều. Riêng tôi tưởng tượng gương mặt của Chúa Giêsu khi Ngài rủa sả thậm tệ nhóm biệt phái, tức giới lãnh đạo tôn giáo thời Ngài. Đã từng ngồi đồng bàn và chén thù chén tạc với giới thu thuế, những người bị đẩy ra bên lề xã hội, hẳn Chúa Giêsu cũng biết cười. Nhưng tôi tự cho phép mình tưởng tượng: khi nói thẳng vào mặt những kẻ đạo đức giả, hẳn Chúa Giêsu cũng phải có một gương mặt lạnh như tiền mà thôi. Không biết Đức Phanxicô có nghĩ đến thái độ của Chúa Giêsu đối với nhóm biệt phái không khi ngài để lộ một gương mặt lạnh như tiền trong bức hình chụp chung với ông Trump?
Gương mặt, cử chỉ, điệu bộ và nhứt là sự thinh lặng thường thể hiện nhân cách, cảm xúc và tư tưởng của con người hơn cả lời nói. Thú vật không nói cùng một ngôn ngữ với con người. Nhưng gương mặt, điệu bộ và cử chỉ của thú vật chính là ngôn ngữ của chúng. Những ai có thú cưng, nhứt là chó mèo, đều hiểu được thứ “ngôn ngữ của thân xác” ấy.
Mới đây, trên báo mạng Psychology Today, tôi có xem được một tấm hình thật cảm động. Trong tấm hình, người ta thấy một nhân viên kiểm lâm bên Phi Châu đang choàng vai một dã nhân. Trong thinh lặng, anh đang vỗ về và an ủi con thú. Nhìn kỹ vào tấm hình, người ta lại thấy dã nhân cũng đặt tay lên đùi của nhân viên kiểm lâm. Theo giải thích của người đưa tấm hình lên các trang mạng xã hội, “dã nhân đã bày tỏ sự cảm kích trước mối thiện cảm của nhân viên kiểm lâm bằng cách đặt tay lên đùi của anh”.
Người chụp được tấm hình này cho biết: con thú buồn vì mẹ nó đã bị những người thợ săn giết chết và nhân viên kiểm lâm trong hình đã xuất hiện kịp lúc để bày tỏ sự cảm thông của mình.
Người ta thường nói rằng một bức hình có sức mạnh hơn cả ngàn lời nói. Tấm hình trên đây quả thật có giá trị hơn cả ngàn bài học của các chuyên gia tâm lý về cuộc sống tình cảm và hiểu biết của thú vật. Chẳng ai có thể đi sâu vào “nội tâm” của con dã nhân để hiểu được nó cảm nghĩ như thế nào. Chỉ biết rằng khi nhìn vào bức hình ai cũng nhận thấy ngay rằng đây là một câu chuyện về tình thương và sự mất mát, về sự cảm thông giữa thú và người. Có biết bao nhiêu câu chuyện về những con chó ngày nào cũng đến bên mộ của chủ để bày tỏ sự thương tiếc!
Trong sở thú hay gánh xiếc, người ta có thể tập cho thú vật làm được nhiều “trò”. Chúng được huấn luyện để phản ứng như những chiếc máy. Nhưng trong tấm hình của nhân viên kiểm lâm và dã thú, người ta chỉ có thể thấy những tình cảm chân thật.
Không thiếu người xem cuộc sống như một sân khấu để diễn xuất. “Ngôn ngữ thân xác” của họ có khi không đủ sức “biểu cảm” để nói lên con người thật của họ. Các điệu bộ và cử chỉ của họ có khi không diễn tả được những suy nghĩ và cảm xúc của họ. Thời nào và ở đâu, nhứt là trong các chế độ độc tài, cũng có những giọt nước mắt cá sấu và những kẻ khóc mướn.
Văn ôn võ luyện. “Ngôn ngữ của thân xác” cũng là một “môn” để luyện. Luyện cho nhuần nhuyễn để thể hiện đúng tâm địa của mình.
Tôi thường tự nhận mình là một phật tử theo cách thế riêng của tôi. Cho nên tôi rất vùi mừng để đón nhận những lời chỉ dạy về tu tập do ông bạn hiền của tôi chuyển cho: “Bái lạy không phải chỉ là khom lưng cúi người xuống, mà là buông bỏ ngạo mạn. Niệm Phật không phải là thể hiện số lượng thanh âm, mà là thể hiện sự thanh tịnh của tâm địa. Chấp tay không phải chỉ là khép hai tay lại mà còn thể hiện sự cung kính. Thiền định không phải là ngồi lâu đến mức không dậy nổi, mà là trong tâm không bị dao động bởi bên ngoài. Vui mừng không phải ở khuôn mặt rạng rỡ mà là ở sự khoan khoái, dễ chịu trong lòng. Thanh tịnh không phải là vứt bỏ dục vọng mà là thể hiện tâm địa không mưu cầu cái lợi. Bố thí quyên tặng không phải chỉ là cho đi hết vật chất mà là chia sẻ tấm lòng yêu thương...”











Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

Melbourne Cup & Cinderella thời đại!


Chu Thập
05/11/13
Bằng mọi giá năm nào tôi cũng phải xem cho bằng được Melbourne Cup. Năm nào bỏ lỡ, tôi cảm thấy ray rứt và mang mặc cảm chưa phải là công dân Úc! Thật ra, không thích và cũng chẳng biết đánh cá ngựa, tôi thích nhìn cảnh đô hội hơn là quan tâm đến tên tuổi và thành tích của mấy con ngựa đua. Vả lại so với một trận túc cầu thì cuộc đua trải dài trên 3200 thước và 3 phút phù du chẳng mang lại cho tôi được chút hào hứng và hồi hộp nào cả. Năm nay, đặc biệt có sự hiện diện của người mẫu được mệnh danh là con “báo đen” Naomi Campbell cho nên tôi lại càng thích nhìn người hơn xem ngựa, dĩ nhiên với nhiều suy nghĩ và xót xa hơn là hăm hở và lên cơn sốt như toàn nước Úc. Xét cho cùng, năm nào tôi cũng chỉ thấy lập lại một cảnh tượng.
Chuyện đua ngựa và đánh cá ngựa tưởng chỉ là sân chơi dành riêng cho cánh mày râu, đã biến thành một thứ Lễ hội Mùa Xuân của phụ nữ Úc. Không rõ làm sao mà năm nào người ta cũng thuyết phục được phụ nữ Úc rằng để trở thành “công chúa” hay “cô bé lọ lem Cinderella” dù chỉ trong một ngày thôi, họ cần phải mua sắm một bộ quần áo hợp thời trang và hấp dẫn nhứt, chi ra một món tiền thật lớn để mua cho bằng được một cái mũ khác thường nhứt và xỏ vào chân đôi giày quý phái nhứt mặc dù biết rằng sau một ngày lê lết trên cỏ và đặc biệt sau một ngày uống cho đến độ không còn biết trời trăng gì cả, người ta chỉ còn biết quăng giày để lê lết mà thôi.
Theo ghi nhận của ký giả Jacqueline Maley trên báo The Sydney Morning Herald, đám đông phụ nữ tô điểm cho Melbourne Cup hằng năm chỉ là đám người nghèo bị kỹ nghệ đánh cá khai thác. Người ta lừa mị họ khi bảo rằng đua ngựa là thú tiêu khiển và thể thao của vua chúa và bất cứ người phụ nữ nào xuất hiện tại Randwick hay Flemington cũng đều có thể trở thành một “công chúa” hay một “Cinderella”.
Dĩ nhiên, ngựa thường là chuyện của đàn ông (cho tới giờ phút này, tôi cũng chưa hiểu được tại sao ngày xưa mỗi lần chê trách hay lên án một cô gái “mất nết” nào đó, mẹ tôi thường sử dụng hình tượng “đồ ngựa rượt”). Đó là chưa kể những qui định rắc rối của trò chơi vốn không mấy thích hợp với đầu óc phụ nữ. Thành ra cuối cùng, nếu phụ nữ có đến trường đua trong ngày Melbourne Cup thì cũng chỉ vì thời trang mà thôi. Không biết có phải là qui định có tính khiên cưỡng không, người phụ nữ nào bước vào trường đua trong ngày Melbourne Cup cũng đều buộc phải mang váy chứ không được mặc quần. Thành ra cảnh tượng xảy ra ở “buổi chợ chiều” của ngày Melbourne Cup năm nào trông cũng thê thảm: sáng sớm, các bà các cô ra khỏi nhà lộng lẫy kiêu sa như một công chúa, cuối ngày thường là lê lết chân không trên các ngã phố, chân nam đá chân siêu và xem ra cũng chẳng còn đủ sức để vẫy gọi mọi chiếc taxi. Đó là chưa nói đến chuyện nhiều người bị đám đàn ông thanh niên say lúy túy gạ gẫm và ngay cả xách nhiễu tình dục. Sau một đêm khiêu vũ với hoàng tử, Cinderella thiệt ít ra còn đủ sức về nhà với một chiếc giày còn dính ở chân và được hoàng tử tìm đến tận nhà để trao lại chiếc giày đánh mất. Các “công chúa” của Melbourne Cup thì mất cả hai chiếc giày và mất cả niềm hy vọng được làm công chúa dù chỉ trong một ngày!
Tôi không phải là một nhà tranh đấu cho nữ quyền, nhưng hễ cứ thấy cảnh phụ nữ bị dụ dỗ, lừa gạt hay đối xử bất công thì tôi lại phẫn nộ. Lúc ông Tony Abbott còn làm thủ lãnh đối lập, tôi không mấy thiện cảm với thủ tướng Julia Gillard khi bà lên tiếng mạt sát ông giữa Quốc hội và tố cáo ông là một tên kỳ thị và miệt thị phụ nữ. Nhưng nay, cùng với ký giả truyền hình Lisa Wilkinson, tôi cảm thấy “thất vọng” khi nhìn vào nội các của thủ tướng Abbott: trong số 20 vị tổng trưởng chỉ có độc một người phụ nữ là bà Julie Bishop, tổng trưởng ngoại giao. Mà vì là tổng trưởng ngoại giao nên cũng coi như không mấy khi hiện diện trong nội các.
Cùng với nữ ký giả này, tôi lại càng “thất vọng” hơn khi thấy “có rất nhiều thiếu nữ mới lớn, bị bắt làm con tin và nhào nặn bởi cái nhìn của người khác trên các trang mạng xã hội đến độ không còn biết mình là ai”.
Tôi cũng “thất vọng về nền văn hóa “Instagram” trong đó các thiếu nữ học cách cởi bỏ quần áo càng nhiều càng tốt để được càng nhiều người “thích” càng tốt mặc dù rất thường cái đám  khán giả ấy lại toàn là người lạ mặt”, phải chăng đó là phương cách để các thiếu nữ tạo sự tự tin? (News Review, Sydney Morning Herald, 26-27/10/2013)
Sang thế kỷ 21, chuyện nam nữ bình quyền vẫn chỉ có trên lý thuyết. Tại nhiều nơi, vì truyền thống văn hóa hay tôn giáo,  phụ nữ vẫn còn bị xem là một thứ công dân hạng hai. Ở một nước văn minh, giàu có như Á rập Saudi, dù có tranh đấu cách mấy, phụ nữ cũng vẫn không được phép lái xe. Thật ra, ngay cả trong những xã hội văn minh tiến bộ nhứt thế giới, như tại Úc Đại Lợi này, nam nữ cũng vẫn chưa được đối xử đồng đều về lương phạn. Ngay cả trong một số Giáo hội Ki-tô giáo, dù có đưa ra bao nhiêu lý lẽ để biện minh và giải thích về sự khác biệt về vai trò trong Giáo hội, Giáo hội cũng vẫn tiếp tục xây dựng và duy trì hình ảnh của một Giáo hội của đàn ông; tiếng nói cuối cùng trong Giáo hội vẫn mãi mãi là tiếng nói của các bậc “tổ phụ”.
Tôi ngưỡng mộ xã hội Thụy Điển là nơi có tỷ lệ phụ nữ tốt nghiệp đại học cao nhứt thế giới và là nơi hiện chính phủ đang cố gắng san bằng những cách biệt về rất nhiều phương diện giữa nam và nữ. Tuy nhiên, có một cuộc thử nghiệm mà tôi cho là đáng lo ngại hiện đang được thực hiện tại nước này.
Một buổi chiều Chúa nhựt nắng ấm trong tháng 9, một bé gái 5 tuổi chơi trong một cái hộp lớn có chứa đựng nhiều bùn hơn cát. Nó làm bẩn bộ áo đầm màu hồng của nó. Rất có thể cha mẹ đứa bé sẽ la rày nó. Nhưng tại trường mầm non Nicolaigarden ở Stockholm, chẳng có cô giáo nào quở trách em và chắc chắn cũng chẳng có ai nói với em rằng con gái không nên chơi như con trai. Thật vậy, tại trường mầm non Nicolaigarden, người ta cũng cố gắng không xử dụng ngay cả từ “con gái” nữa. Và dĩ nhiên, từ “con trai” cũng chẳng hiện hữu trong trường này.
Một trong những đồ chơi phổ biến nhứt trong trường là những con “búp bê” nam không ra nam và nữ cũng chẳng ra nữ. Nói cách khác, đó là những con búp bê tóc vàng hoe trông rất “bắc âu” và trần truồng nhưng không thuộc giới tính nào cả.
Theo phóng viên Lisa Abend của tạp chí Time, trường mầm non Nicolaigarden có thể là mô hình mà người ta đang muốn kiến tạo cho toàn Thụy Điển. Với quyết tâm thực hiện tới cùng điều được gọi là “bình đẳng giới tính”, Thụy Điển gọi đó là “trung tính về giới tính”.
Theo phóng viên Lisa Abend, chỉ cần sống vài ngày tại Thụy Điển, du khách đã có thể nhận ra nhiều nỗ lực xóa bỏ những phân biệt về phái tính. Trong Anh ngữ và hầu hết các tiếng Tây Phương, có những đại danh từ phân biệt rõ ràng phái tính. Tiếng Pháp có “il, lui, elle”; tiếng Anh có “he, she, him, her”. Tiếng Thụy Điển cũng có những đại danh từ chỉ phái tính như “han” (nam) và “hon” (nữ). Nhưng nay, thay cho hai đại danh từ này, các nhà làm luật đã bắt đầu xử dụng đại danh từ “hen” (không nam không nữ) trong Quốc hội.
Trường học là môi trường đầu tiên được các nhà lập pháp Thụy Điển cho áp dụng “trung tính về giới tính”. Ngoài trường mầm non Nicolaigarden, còn có 5 trường khác tại Stockholm hiện cũng đang thí nghiệm chương trình “trung tính về giới tính” này (Time 4/11/2013).
Thật ra, tìm cách áp đặt “trung tính về giới tính” là một nỗ lực của “chủ nghĩa” nữ quyền tại Thụy Điển. Chủ nghĩa này hiện đang được xem như một thứ quốc giáo của quốc gia này. Chủ trương của những người theo chủ nghĩa này không chỉ là tranh đấu cho sự bình đẳng nam nữ mà còn xóa bỏ mọi khác biệt về giới tính.
Tôi không phải là thành viên của bất cứ phong trào tranh đấu cho nữ quyền nào. Nhưng tôi tin rằng thế giới này sẽ là một nơi tốt đẹp hơn khi sự bình đẳng giữa nam nữ được thực hiện và tôn trọng, khi không còn ai nhân danh truyền thống văn hóa hay tôn giáo nào để triệt hạ, xúc phạm phẩm giá người phụ nữ. Nhưng tôi cũng tin rằng thế giới này sẽ mãi mãi tốt đẹp nếu những khác biệt phái tính luôn được tôn trọng. Bởi lẽ không nhất thiết phải xóa bỏ giới tính để tôn trọng giới tính. Tôn trọng giới tính là biết tôn trọng người khác theo những cá biệt độc nhứt vô nhị của người đó bao gồm cả đặc điểm đi kèm với giới tính. Khi tìm cách xóa bỏ dị biệt về giới tính, người ta tôn trọng nhau theo cái kiểu “cá mè một lứa”, không hơn không kém.
Thật là buồn và phiền khi những khác biệt giới tính bị xóa bỏ. Vì hội đồng thành phố chỗ tôi ở không cho tôi nuôi gà cồ cho nên suốt ngày tôi chỉ còn nghe tiếng rên rỉ và “chửi” nhau ỏm tỏi của các chị gà mái. Trứng do các chị đẻ ra, vì thiếu gà cồ, cho nên chẳng mang lại được một mầm sống mới nào cả. Muốn có gà con, tôi phải lặn lội đến các nông trại để mua trứng có cồ về ấp. Các chị gà mái của tôi vì thiếu cồ cho nên đành phải chịu cảnh tuyệt tự.
Mà đâu chỉ trong thế giới loài vật, sự xóa bỏ những khác biệt giới tính trong giới thực vật cũng tạo ra bao nhiêu phiền phức cho tôi. Thỉnh thoảng ăn được những trái cây ngon, tôi lấy hột đem trồng. Cứ tưởng như hồi còn ở Việt Nam, cây nào thì đương nhiên phải cho giống đó. Ngờ đâu, trúng thứ hột đã bị biến đổi di truyền (G.E: Genetic engineering) cho nên cây tốt tươi và khỏe mạnh nhưng hoàn toàn “tuyệt tự”, chẳng ra được trái nào cả. Đúng là thứ cây “đực chẳng ra đực mà cái chẳng ra cái”.
Trong số ra mới nhứt, tạp chí “Diggers” (chuyên cổ võ việc trồng cây trái và hoa quả “Heirloom”, nghĩa là chưa bị biến đổi di truyền), có đăng một bài với tựa đề “Đời sống giới tính của cây cối” (sex life of plants). Tác giả của bài báo, ông Clive Blazey giải thích rằng “giới tính” là điều rất quan trọng cho thú vật cũng như thực vật. Vì vậy, dù cho cây trái thường có hoa đực và cái trên một cây nhưng cấu trúc của chúng cũng cố tình tránh sự tự thụ phấn nhưng khuyến khích côn trùng làm công việc mai mối từ cây này sang cây khác.
Tôi nhìn thấy rõ điều đó qua hai cây táo “lùn” (dwarf) trong vườn. Người bán cây khuyên tôi phải trồng hai cây một lúc và bên cạnh để chúng nó có cơ hội làm “sui” với nhau. Mùa xuân này, tôi nhận thấy nhờ ra hoa một lúc mà cả hai cây đều đậu trái, những hoa ra sớm hơn hay muộn hơn đều không đậu trái. Tôi cũng có trồng một lúc hai cây “Kiwi”. Người bán cây cũng xác nhận rằng phải trồng một lúc một cây đực và một cây cái thì mới hy vọng có trái mà ăn. Còn với cây chà là, vốn xuất thân từ những vùng sa mạc Trung Đông, thế giới hồi giáo, cho nên một cây đực lại có thể giúp thụ tinh cho đến cả chục cây cái!
Thế giới loài vật, thế giới cây cỏ và thế giới loài người không những tồn tại mà còn làm đẹp bộ mặt trái đất là nhờ những khác biệt giới tính. Nói chung, bộ mặt thế giới càng đa dạng và dị biệt thì càng đẹp. Loài hoa nào cũng có một chỗ đứng riêng trong vườn hoa. Điều này lại càng đúng hơn cho thế giới loài người. Trong hơn 7 tỷ người đang có mặt trên trái đất, không ai có thể tìm thấy hai người giống nhau như đúc. Mỗi người, bất luận nam nữ, tuổi tác, sắc đẹp, sức mạnh thể lý, trí thông minh, địa vị xã hội...đều có một phẩm giá như nhau, nhưng đồng thời lại có một vai trò, một chỗ đứng và nhứt là một giá trị bất khả di nhượng. Tôi hãnh diện về bản sắc của tôi và tôi tin rằng thế giới này sẽ là một nơi đáng sống hơn nếu tính độc nhứt vô nhị của mỗi người được nhìn nhận và tôn trọng.
Trong mắt tôi phụ nữ ở tuổi nào cũng đẹp. Cái đẹp của họ phát tiết từ những nữ tính độc đáo của họ: chu đáo, tế nhị, ngọt ngào, nhẹ nhàng, đon đả, kiên nhẫn, chịu đựng, hy sinh...Với tôi, đó là những “sắc đẹp” và “thời trang” đặc biệt mà không người đẹp Melbourne Cup nào sánh bằng. Đó cũng là lý do mà không riêng cá nhân tôi, ai cũng cảm thấy rằng thế giới này sẽ vô cùng bi thảm nếu không còn sự hiện diện của những người phụ nữ đúng nghĩa.  





Thứ Hai, 5 tháng 6, 2017

Ai Cập: số phận bi thảm của các tín hữu Kitô Coptic


02/06/17
Hôm thứ Sáu 26 tháng Năm 2017 tuần vừa qua, một nhóm người đeo mặt nạ đã tấn công vào một đoàn xe chở các tín hữu Kitô tại Ai Cập. Cuộc tấn công đã làm cho ít nhất 28 người thiệt mạng và  25 người khác bị thương.
Các nhân chứng còn sống sót cho biết nhóm tín hữu Kitô Coptic di chuyển trên 2 chiếc xe buýt và một chiếc xe tải nhỏ. Họ đang trên đường đi hành hương đến một tu viện cổ ở miền Tây tỉnh Munya, cách Thủ đô Cairo khoảng 245 cây số về hướng nam. Các nhân chứng nói rằng những tên khủng bố đã chận ba chiếc xe lại và bắn xối xả lên đoàn người hành hương. Tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” đã lên tiếng nhận trách nhiệm về hành động giết người dã man này. Đây là lần thứ hai chỉ trong vòng vài tháng “Quốc gia Hồi giáo” mở cuộc khủng bố nhắm vào các tín hữu Kitô Coptic. Dịp lễ Giáng Sinh năm ngoái, “Quốc gia Hồi giáo” đã tấn công vào các nhà thờ tại Cairo, Alexandria và Tanta. Con số nạn nhân bị sát hại trong cuộc khủng bố hàng loạt này lên đến 70 người.
Các tín hữu Kitô Coptic tại Ai Cập là ai và tại sao họ đã trở thành mục tiêu tấn công của “Quốc gia Hồi giáo”?
Là cộng đồng tín hữu Kitô lớn nhất tại Trung Đông, các tín hữu Kitô Coptic tại Ai Cập chiếm khoảng 10 phần trăm dân số nước này, tức khoảng 9 triệu người. Khoảng một triệu khác hiện sống rải rác tại Phi Châu, Âu Châu, Anh Quốc và Hoa Kỳ.
Cộng đồng tín hữu Kitô Coptic tin rằng họ đón nhận Tin Mừng từ chính miệng của thánh Marcô, một môn đệ của Chúa Giêsu.
Vừa là một cộng đồng tín hữu vừa là một sắc tộc, các tín hữu Kitô Coptic có văn hóa và ngôn ngữ riêng mà nhiều người cho là xuất phát từ cổ ngữ xa xưa của Ai Cập. “Coptic” là từ “qibt” trong tiếng Á Rập được đọc theo âm điệu của Tây Phương. Tiếng Hy Lạp cổ đã dùng từ này để chỉ người Ai Cập. Như vậy, “Coptic” có nghĩa là “Ai Cập”.
Nhiều nhà trí thức của cộng đồng tín hữu Kitô Coptic cho rằng văn hóa Coptic bắt nguồn từ thời các vua Pharaoh, nghĩa là có trước cả Kitô Giáo và văn minh Hy Lạp. Chính nhờ bắt nguồn từ thời các vua Pharaoh mà văn hóa Coptic đã trở thành chiếc cầu nối giữa Kitô Giáo và Hồi Giáo.
Trong những thế kỷ đầu của Kitô Giáo, đã có hàng trăm tu viện mọc lên trong các sa mạc của Ai Cập. Nhưng hiện nay chỉ còn lại khoảng 20 tu viện nam và 7 tu viện nữ hiện đang được chăm sóc bởi trên 1000 tu sĩ Coptic. Điều này có nghĩa là Kitô Giáo đã có mặt tại Ai Cập trước Hồi Giáo cả 6 thế kỷ.
Chung một ngôn ngữ, văn hóa cũng như các nghi thức phụng vụ, cộng đồng tín hữu Kitô Coptic tại Ai Cập gồm có 2 nhánh: một nhánh thuộc Giáo hội Chính Thống và một nhánh thuộc Giáo hội Công giáo. Cả hai nhánh đều góp phần vào việc xây dựng đất nước, đặc biệt trong công tác xã hội và giáo dục. Cộng đồng Coptic hiện đang điều khiển một số trường tiểu học và trung học cũng như một bảo tàng viện và một học viện thần học tại Thủ đô Cairo.
Trong suốt dòng lịch sử của mình, cộng đồng tín hữu Kitô Coptic tại Ai Cập đã không ngừng là mục tiêu của các vụ tấn công bạo động, nhất là dưới thời Đế quốc Byzantin và trong thế kỷ thứ 7, tức sau khi người Hồi Giáo xâm chiếm toàn vùng Trung Đông. Vào khoảng năm 1000, sau khi được thành lập, một vương quốc Hồi giáo tại Trung Đông đã phá hủy 3000 ngôi thánh đường Coptic và cưỡng bách một số lớn tín hữu Coptic phải bỏ đạo.
Thời hiện đại, cộng đồng tín hữu Kitô Coptic đã bị đẩy ra bên lề xã hội Ai Cập sau cuộc đảo chính do tướng Gamal Abdel Nasser (1918-1970) thực hiện hồi năm 1953. Kể từ đó cho đến nay, bất cứ sinh hoạt nào, ngay cả tu sửa lặt vặt trong các giáo đường, họ cũng cần phải có phép của tổng thống. Mãi cho đến năm 2005, luật này có được nới lỏng chút đỉnh, nhưng lúc nào họ cũng cần phải làm đơn lên các tỉnh trưởng. Việc xây cất nhà thờ vẫn tiếp tục bị ngăn cản và giới hạn tối đa.
Không những bị kỳ thị, cộng đồng tín hữu Kitô Coptic còn là mục tiêu của các nhóm Hồi Giáo cực đoan. Nhiều tín hữu đã chết vì tay của những nhóm này. Được nhắc đến nhiều nhất là vụ thảm sát tại làng El Kosheh, miền Thượng Ai Cập hồi năm 2000-2001. Đã có 20 tín hữu Kitô Coptic bị giết chết trong một vụ bạo động do người Hồi Giáo gây nên. Họ đã đốt một ngôi thánh đường mới xây cất và nhà cửa của các tín hữu. Vài tháng sau đó, một bé gái 14 tuổi đã bị người Hồi Giáo bắt cóc vì họ cho rằng gia đình em đã chứa chấp một người Hồi Giáo đã cải đạo sang Kitô Giáo.
Năm 2006, một người Hồi Giáo đã tấn công vào 3 nhà thờ tại Alexandria, giết chết một người và gây thương tích cho nhiều người. Tháng 5 năm 2010, nhiều cuộc tấn công nhắm vào các tín hữu Kitô Coptic đã xảy ra khắp nơi. Mặc dù họ đã gọi cảnh sát đến can thiệp. Nhưng cảnh sát đợi cho qua các cuộc tấn công rồi mới đến. Không có một kẻ tấn công nào bị truy tố. Cảnh sát còn buộc họ phải “làm hòa” với những kẻ tấn công để khỏi bị tấn công.
Những xáo trộn chính trị gần đây tại Ai Cập cũng đã khiến cho cộng đồng tín hữu Kitô Coptic phải chịu nhiều cuộc tấn công bạo động hơn. Bách hại và kỳ thị nhắm vào cộng đồng này đã bộc phát sau khi chế độ độc tài của Tổng thống Hosni Mubarak bị lật đổ. Đã có hàng chục tín hữu bị giết chết trong các cuộc bạo loạn vì lý do tôn giáo. Không những tại Ai Cập, các tín hữu Kitô Coptic bên ngoài Ai Cập cũng đang là mục tiêu tấn công của “Quốc gia Hồi giáo”. Đầu năm 2015, tổ chức khủng bố này đã cho phát tán một  băng hình ghi lại cảnh chặt đầu hàng chục tín hữu Kitô Coptic tại một bãi biển ở Libya.
Sau các cuộc tấn công của “Quốc gia Hồi giáo” nhắm vào các tín hữu Kitô Coptic, Ai Cập đã được đặt trong tình trạng khẩn trương. Chính phủ đã thể hiện một số nỗ lực trong việc trả đũa và ngăn ngừa các cuộc tấn công. Tuy nhiên, cộng đồng tín hữu Kitô Coptic đã không tỏ ra lạc quan về các nỗ lực của chính phủ.
Trong một quốc gia mà người Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni chiếm đến 90 phần trăm dân số, sự hiện diện của các tín hữu Kitô Coptic trong Quốc hội không đáng kể. Hiện nay Quốc hội Ai Cập có tất cả 595 dân biểu. Trong số này số dân biểu Coptic chỉ có 36 người, trong số này 24 vị được chọn dựa theo tỷ số tôn giáo.
Theo một bản phúc trình của Viện Brookings có trụ sở tại Hoa Kỳ, mặc dù trên nguyên tắc các tín hữu Ki Tô Coptic được luật pháp bảo vệ như bất cứ công dân nào, trong thực tế họ vẫn là mục tiêu của kỳ thị. Hiến Pháp năm 2014 của Ai Cập “bảo đảm” quyền tự do tôn giáo, nhưng đồng thời cũng tuyên bố rằng Hồi Giáo là quốc giáo và nghiêm cấm mọi cuộc cải đạo sang các tôn giáo khác.
Ngoài ra Hiến pháp hiện hành của Ai Cập cũng đề ra những hình phạt nặng nề cho những ai phạm tội gọi là “phạm thượng” chống Hồi Giáo. Chính phủ dưới thời đương kim Tổng thống Abdel Fattah el-Sisi đã truy tố nhiều vụ “phạm thượng” như thế.
Bị kỳ thị và không được chính phủ tận tình bảo vệ, các tín hữu Kitô Coptic lúc nào cũng là mục tiêu tấn công hàng đầu của “Quốc gia Hồi giáo”. Tổ chức khủng bố này xem họ là những kẻ “ngoại đạo” cần phải tiêu diệt. Mục đích của các cuộc tấn công không chỉ có tính tôn giáo, mà còn mang mầu sắc chính trị: đó là tẩy chay họ ra khỏi quê hương của họ. Với những cuộc tấn công dã man nhắm vào các tín hữu Kitô Coptic, “Quốc gia Hồi giáo” cho thấy rằng không những họ muốn gây khó dễ cho các tín hữu Kitô mà còn muốn biến Ai Cập thành một quốc gia không còn bóng của Kitô Giáo. Với một cái nhìn cực đoan như thế về Ai Cập, dĩ nhiên một cộng đồng tín hữu Kitô cổ xưa nhất như cộng đồng Kitô Coptic không thể có đất sống ở đất nước này.
Ít hay nhiều, “Quốc gia Hồi giáo” đã đạt được mục đích của các cuộc tấn công của họ. Trong những năm vừa qua, đã có rất nhiều tín hữu Kitô Coptic bỏ nước ra đi. Ngoài ra, các cuộc di tản và phân tán trong nước cũng tiếp tục diễn ra. Nhiều tín hữu Kitô Coptic đã tự hỏi phải chăng sẽ có lúc cộng đồng của họ sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn trên chính quê hương của họ.
Dĩ nhiên, cả thế giới đều nhìn vào “Quốc gia Hồi giáo” như thủ phạm chính của các cuộc tấn công khủng bố dẫn đến hiện tượng bỏ nước ra đi của các tín hữu Kitô Coptic. Tổ chức khủng bố này bị xem là kẻ thù chung của nhân loại. Mục tiêu tấn công của họ không chỉ là những người ngoài Hồi giáo, cách riêng các tín hữu Kitô. Tại Ai Cập, họ không tha cả những người ngoài Kitô giáo. Tại Iraq, họ cũng tấn công vào bất cứ người Iraq nào. Tuy nhiên, bên cạnh những cuộc tấn công khủng bố nhắm vào các tín hữu Kitô, “Quốc gia Hồi giáo” cũng muốn khai thác óc bài Kitô Giáo của nhiều tín đồ Hồi Giáo. Óc bài Kitô Giáo đã từng có tại Ai Cập trước khi “Quốc gia Hồi giáo” xâm nhập vào nước này. Vốn đã âm ỉ từ lâu, óc bài Kitô Giáo nơi một số tín đồ Hồi Giáo Ai Cập thỉnh thoảng bùng nổ thành những cuộc bạo động. Một trong những làn sóng bạo động chống Kitô Giáo đã bùng nổ sau cuộc đảo chính lật đổ tổng thống Mohammad Morsi  hồi năm 2013. Ông Morsi đã từng là lãnh tụ của Phong trào “Huynh đệ Hồi giáo” vốn có chủ trương bài Kitô Giáo. Cùng với cuộc đảo chính, quân đội cũng đã đàn áp một cuộc tọa kháng của “Huynh đệ Hồi giáo” khiến cho gần 1000 người ủng hộ phong trào này bị giết chết. “Huynh đệ Hồi giáo” cho rằng các tín hữu Kitô Coptic đã đồng lõa với quân đội trong vụ đảo chính. Đây là lý do đã khiến các cảm tình viên của Phong trào này nổi lên chống Kitô Giáo.
Tháng Tám năm 2013, theo một bản phúc trình của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, “Huynh đệ Hồi giáo” đã đứng ra tổ chức nhiều cuộc bạo động nhắm vào cộng đồng tín hữu Kitô Coptic. Đã có 42 nhà thờ, hàng chục trường học và cơ sở kinh doanh của các tín hữu Ki Tô Coptic trên toàn quốc bị đập phá. Các cuộc bạo động cũng đã làm cho nhiều người bị thiệt mạng. Nhiều tín hữu không dám ra khỏi nhà.
Mặc dù chỉ là một thiểu số từng bị kỳ thị dưới nhiều hình thức khác nhau, các tín hữu Kitô Coptic lại bị một số người Hồi Giáo dán cho nhãn hiệu “giai cấp được ưu đãi” trong xã hội, thu tóm của cải và được chế độ ban thưởng cho nhiều lợi ích. Đây chính là những cáo buộc được “Quốc gia Hồi giáo” khai thác tối đa.
“Quốc gia Hồi giáo” đã dần dần bị đẩy lui ra khỏi Iraq và Syria. Tổ chức này sẽ không chịu bó tay. Họ sẽ tìm mục tiêu khủng bố ở những nơi khác. Các cuộc tấn công khủng bố mới đây tại Manchester, Anh Quốc và Jakarta, Nam Dương chứng minh điều đó. Dĩ nhiên, một khi cả thế giới đã liên kết với nhau trong cuộc chiến chống lại tổ chức khủng bố này, không chống thì chày nó cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, theo nhận định của ký giả H. A. Hellyer, thế giới sẽ không tận diệt được “Quốc gia Hồi giáo” nếu không quan tâm đến óc bài Kitô Giáo vốn vẫn còn sâu đậm nơi nhiều tín đồ Hồi Giáo.

(nguồn:
  -https://www.theatlantic.com/international/archive/2017/05/coptic-christians-egypt-attack)


Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2017

Phần thưởng của trao tặng


Chu Thập
26.05.17
Tạp chí Time, số ra ngày 15 tháng Năm 2017 vừa qua, đã dành những trang chính để báo động về các thứ dịch bệnh có thể hoành hành khắp thế giới. Một trong những dịch bệnh mà Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh của Hoa Kỳ cho là có nhiều nguy cơ nhứt để  bùng nổ và tràn lan khắp thế giới là Cúm Gà  được các nhà khoa học đặt tên là H7N9.
Ai cũng biết dịch bệnh quái ác này xuất phát từ Trung Cộng. Năm 2011, Giáo sư Kinh tế học Peter Navarro, thuộc trường Đại học California, đã tung ra một cuốn sách có tựa đề “Death by China” (Chết bởi Trung Cộng) trong đó ông chỉ ra vô số  tội ác của quốc gia cộng sản khổng lồ này, đặc biệt  bằng cách đầu độc cả thế giới với vô số thực phẩm độc hại của họ. Đắc ý với cuốn sách này chăng, Tổng thống Donald Trump đã bổ nhiệm Giáo sư Navarro làm Giám đốc Hội đồng Thương mại Quốc gia. Nhưng nay có lẽ cần có bàn tay lông lá của Trung Cộng để sửa lưng đàn em mất dạy Bắc Hàn, Tổng thống Trump đã xuống nước và dịu giọng hẳn với Trung Cộng.
Cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc có lẽ sẽ chẳng bao giờ xảy ra và thế giới lại tiếp tục “chết bởi Trung Cộng”. Cùng với thực phẩm độc hại, bóng ma của dịch cúm gà từ Trung Cộng lại càng đáng sợ hơn. Theo tạp chí Time, dù cho Hoa Kỳ đang có một nền y khoa tiến bộ nhứt thế giới  và dù cho nước này có giàu mạnh đến đâu đi nữa cũng không trở tay kịp khi làn sóng toàn cầu hóa đưa cúm gà vào Mỹ.
Tổng thống Trump lúc nào cũng rêu rao rằng ông sẽ làm cho Hoa Kỳ được an toàn. Nhưng ngay cả một bức tường biên giới giữa Mỹ và Mễ Tây Cơ mà phí tổn xây cất có thể ngốn của ngân sách quốc gia không biết bao nhiêu tỷ Mỹ kim cũng không thể giữ cho các loài vị khuẩn gây dịch bệnh không len lỏi vào Hoa Kỳ.
Năm 2015, trong bài nói chuyện về Kỹ thuật, Giải trí và Thiết kế (TED talks), người giàu nhứt thế giới là Tỷ phú Bill Gates đã chia sẻ: “Lúc tôi còn nhỏ, tai họa mà chúng ta  sợ nhứt là chiến tranh nguyên tử. Nhưng ngày nay, nếu có điều gì đó sát hại trên 10 triệu người trong vài thập niên sắp tới, thì điều đó có lẽ sẽ là những vi khuẩn gây dịch bệnh hơn là chiến tranh. Điều đó không phải là hỏa tiễn mà là vi trùng”. Tôi tin lời của người vừa giàu có nhứt lại cũng vừa quảng đại nhứt thế giới này.
Cũng trên Tạp chí Time số ra ngày 15 tháng Năm vừa qua, trong bài viết có tựa đề “Làm thế nào để giữ cho Hoa Kỳ được an toàn” (How to keep America safe), Tỷ phú Gates đã chia sẻ một số kinh nghiệm về những lợi ích của viện trợ. Với Tỷ phú Gates, giải pháp hữu hiệu nhứt để bảo vệ Hoa Kỳ chính là viện trợ.
Chính phủ Mỹ dưới thời đương kim Tổng thống Donald Trump hiện đang tìm cách cắt giảm viện trợ, nhứt là về y tế và phát triển đối với các nước nghèo. Nhưng Tỷ phú Gates khẳng định rằng chính các chương trình viện trợ về y tế và phát triển giữ cho Hoa Kỳ được an toàn. Theo ông, chính nhờ viện trợ về y tế và phát triển của Hoa Kỳ mà nhiều nơi trên thế giới được ổn định.
Người giàu nhứt thế giới cho biết động lực chính thúc đẩy ông thiết lập quỹ từ thiện và đóng góp hầu hết sản nghiệp của ông vào đó là cải thiện cuộc sống của nhiều người trên khắp thế giới. Ông tin rằng khi cuộc sống của người dân tại những nước nghèo được thăng tiến, nó cũng mang lại lợi ích cho chính người dân Mỹ. Theo ông, lý do thật đơn giản: cải thiện cuộc sống của người dân các nước nghèo giúp phòng ngừa dịch bệnh khỏi lây lan. Tỷ phú Gates đưa ra một thí dụ: năm 2014, dịch bệnh Ebola bùng nổ tại Cộng hòa Dân chủ Congo đã sát hại hơn 11.000 người. Nếu không được chận đứng kịp thời, dịch bệnh Ebola đã lan tràn sang nhiều nước khác ở Phi Châu và dĩ nhiên cũng sẽ vượt biên giới để tấn công vào các nước Tây Phương, trong đó có Hoa Kỳ. Sở dĩ dịch bệnh Ebola được chận đứng là nhờ nỗ lực của các nhân viên y tế có mặt tại chỗ. Họ được Chính phủ Mỹ tài trợ để mở một chiến dịch chống lại bệnh viêm màng óc. Nhờ có mặt tại chỗ, họ đã can thiệp kịp thời đề ngăn chận dịch bệnh Ebola lây nhiễm sang các nước khác.
Tỷ phú Gates cũng đưa ra một thí dụ khác cho thấy viện trợ y tế và phát triển cho các nước nghèo luôn mang lại lợi ích cho Hoa Kỳ. Dưới thời Tổng thống George W. Bush, Hoa Kỳ đã mở một chiến dịch phòng chống bệnh liệt kháng (HIV) tại những nước nghèo nhứt. Chương trình lấy tên là PEPFAR (President’s Emergency Plan for AIDS Relief: chương trình cứu trợ khẩn cấp bệnh nhân liệt kháng của tổng thống). Nhờ chương trình này mà 11 triệu người bị liệt kháng được sống cho tới ngày nay.
Theo Tỷ phú Gates, đây không chỉ là một thành tựu về mặt nhân đạo. Đối với nhiều quốc gia,  viện trợ của Hoa Kỳ có nghĩa là họ có thêm giáo viên, có thêm người dấn thân, có thêm các cảnh sát viên và nhứt là có thêm  nhân viên y tế. Chính những người này góp phần làm cho các xã hội được vững mạnh và ổn định. Tỷ phú Gates trích dẫn kết quả của một cuộc nghiên cứu cho thấy chính nhờ chương trình PEPFAR của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Bush mà mức độ bất ổn và bạo động tại các nước Phi Châu đã giảm đến 40 phần trăm giữa năm 2004 và 2015.
Người sáng lập Quỹ “Melinda and Bill Gates Foundation” tin tưởng rằng: “Một thế giới ổn định hơn là điều tốt đẹp cho tất cả mọi người”. Nhưng với riêng Hoa Kỳ, các chương trình viện trợ còn mang lại nhiều lợi ích hơn. Viện trợ mở rộng và củng cố thị trường cho hàng hóa của Mỹ: trong 15 đối tác thương mại hàng đầu của Hoa Kỳ có đến 11 nước đã từng nhận viện trợ của Hoa Kỳ. Đây cũng là bằng chứng cho thấy vai trò lãnh đạo thế giới của Hoa Kỳ. Dân chúng Phi Châu, lục địa được Hoa Kỳ viện trợ nhiều nhứt, luôn dành cho Hoa Kỳ một sự ủng hộ cao. Do đó, theo tỷ phú Gates, cắt giảm hay cắt đứt viện trợ không những ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều người mà còn tạo ra một lỗ hổng về lãnh đạo mà nhiều nước đang chờ đợi để nhảy  vào trám chỗ.
Syria là một trường hợp điển hình cho thấy sự bất ổn định có thể ảnh hưởng đến tình hình thế giới, cách riêng Hoa Kỳ. Năm 2007, Syria phải trải qua một cơn hạn hán trầm trọng nhứt trong lịch sử của mình. Đã có hơn một triệu người rời bỏ thôn quê để kéo nhau vào các đô thị. Đây là một trong những nguyên nhân tạo ra căng thẳng chính trị và đặt nền móng cho cuộc nội chiến khủng khiếp kéo dài cho tới ngày nay. Dĩ nhiên, có nhiều nguyên nhân tạo ra chiến tranh, nhưng thế giới sẽ không là một nơi an toàn hơn nếu Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ cho những nước cần được giúp đỡ.
Theo Tỷ phú Gates, một khi cắt đứt viện trợ về y tế và phát triển thì giải pháp còn lại sẽ là súng đạn. Dạo tháng Hai vừa qua, đã có hơn 120 tướng lãnh về hưu viết thư cho Quốc Hội để khẳng định rằng các chương trình viện trợ của Hoa Kỳ là tối cần để giúp ngăn ngừa các cuộc xung đột và giảm thiểu nhu cầu phải gởi binh sĩ đến những nơi không an toàn. Chính đương kim bộ trưởng Quốc phòng James Mattis, lúc còn làm tham mưu trưởng các lực lượng Mỹ tại Afghanistan, Pakistan và những điểm nóng khác, cũng đã cảnh cáo rằng “nếu Hoa Kỳ không gia tăng ngân sách cho Bộ ngoại giao, vốn là bộ đang chịu trách nhiệm về những chương trình viện trợ chính” thì ông bắt buộc phải “mua thêm nhiều khí giới”.
Tỷ phú Gates kết luận: bảo vệ người Mỹ, ngăn ngừa các dịch bệnh, cứu mạng sống của nhiều người, các chương trình viện trợ của Hoa Kỳ mang lại rất nhiều lợi ích. Lợi ích nhiều  mà chẳng tốn bao nhiêu. Thật vậy, Hoa Kỳ dành không tới một phần trăm ngân sách liên bang để viện trợ cho các nước nghèo: tính ra, cứ mỗi Mỹ kim trong ngân sách, Hoa Kỳ trích ra không tới một xu để viện trợ!  Nhưng đó lại là tiền đầu tư có lợi nhứt cho Hoa Kỳ.
Trong khi với Tổng thống Trump, cái gì cũng phải “Mỹ trước tiên” và xem viện trợ như một mất mát thì Tỷ phú Gates lại chỉ nhìn thấy lợi ích. Chính trong cái nhìn lạc quan ấy mà mới đây, trong một thông điệp gởi đến các sinh viên vừa tốt nghiệp, ông viết rằng món quà mà ông muốn gởi đến cho họ là hãy tìm đọc cuốn sách “The Better Angels of Our Nature” (những thiên thần tốt hơn trong bản tính con người) của Chuyên gia tâm lý Steven Pinker. Cuốn sách này một phần nào đó phản ảnh đúng cái nhìn lạc quan của Tỷ phú Gates về thế giới. Ông Gates nói rằng đây là cuốn sách mang lại cho ông nhiều cảm hứng nhứt. Thật vậy, trong cuốn sách, Tác giả Pinker chứng minh rằng con người càng ngày càng ít bạo động hơn.
Có thể đó là lợi ích mà Tỷ phú Gates đã nhìn thấy qua viện trợ mà các nước giàu dành cho các nước nghèo. Một khi con người đã có cuộc sống ổn định thì đương nhiên khuynh hướng bạo động cũng  giảm bớt.
Bàn về sự cần thiết của  viện trợ, Tỷ phú Gates nói đến những lợi ích về mặt y tế, thương mại và chính trị. Nhưng đối với cá nhân ông, người đã trao tặng hầu như toàn bộ tài sản của mình cho các chương trình từ thiện, Tỷ phú Gates có được lợi lộc nào không? Tôi tin chắc rằng một người chỉ biết nghĩ đến hạnh phúc của người khác như ông không thể không là một người hạnh phúc.
Cách đây vài năm, Tạp chí Science tại Hoa Kỳ đã cho công bố kết quả của một cuộc nghiên cứu của Tiến sĩ Liz Dunn, giáo sư tâm lý xã hội thuộc trường Đại học British Columbia, Gia Nã Đại. Theo cuộc nghiên cứu, con người cảm thấy hạnh phúc hơn khi họ chi tiêu cho người khác hơn cho chính mình. Trong một cuộc thử nghiệm, Giáo sư Dunn và các đồng nghiệp của bà trao cho các sinh viên của trường một bì thư có đựng tiền bên trong và yêu cầu họ: hoặc là dùng số tiền đó để mua sắm cho mình hoặc là trao tặng cho người khác. Kết quả cuộc thử nghiệm cho thấy những ai mua quà tặng cho người khác tỏ ra hạnh phúc hơn những người chỉ mua sắm cho riêng mình.
Kết quả của nghiên cứu khoa học trên đây cũng phù hợp với giáo huấn của các bậc thánh hiền. Chúa Giêsu đã chẳng dạy rằng “cho thì có phúc hơn nhận lãnh” (20:35 Sách Công vụ Tông đồ) đó sao? Riêng Đức Đạt Lai Lạt Ma, trong cuốn sách “Ethics for the New Millenium” (Đạo lý cho thiên niên kỷ mới) cũng ghi nhận rằng hạnh phúc của con người không đến từ của cải vật chất mà từ mối quan tâm sâu xa đối với niềm hạnh phúc của người khác; càng mưu cầu hạnh phúc cho người khác, con người càng hạnh phúc.
Tuy không phải là một tín hữu Kitô, nhưng Mahatma Gandhi dường như cũng rất thông thạo Kinh Thánh của Kitô Giáo khi ông nói “cách tốt nhứt để tìm lại bản thân là đánh mất chính mình vì phục vụ người khác”.
Nhìn vào bối cảnh của Hoa Kỳ với khẩu hiệu rất kêu của tổng thống  Donald Trump “Làm cho Hoa Kỳ vĩ đại trở lại” (Make America Great Again), tôi không thể không nhớ đến câu nói của cố Mục sư Martin Luther King: “Ai cũng có thể vĩ đại, bởi vì ai cũng có thể phục vụ”.
Tôi mong được làm người vĩ đại như thế, bởi lẽ khi phục vụ tôi cảm nhận được một phần thưởng lớn lao là biết rằng mình đã làm những gì mình phải làm để sống cho ra người tử tế hơn.




Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

Thế giới cần những con người lương thiện tử tế


Chu Thập
03.11.03
Ngày đầu tháng 11 hàng năm, theo truyền thống Kitô giáo, tôi thường đến một nghĩa trang để tưởng nhớ người quá cố. Không có người thân ruột thịt nào của tôi yên nghỉ ở bất cứ nghĩa trang nào tại Úc Đại Lợi này cả, nhưng tôi vẫn tin tưởng và cảm nhận được sự hiện diện “như tại” của họ, như thể h đang ở trước mặt tôi, bên cạnh tôi để tôi có thể truyện vãn và hỏi han về bất cứ chuyện gì. Không riêng gì người thân, mà cả những người xa lạ không quen biết, cứ hễ đã là người “quá cố” thì đều trở thành thiết thân gần gũi với tôi. Trong số những người dưng nước lã” đã trở thành thân thiết ấy, năm nay tôi muốn đặc biệt tưởng nhớ và gặp gỡ một số nhân vật lịch sử.
Trước hết là cố tổng thống Ngô Đình Diệm, vị nguyên thủ quốc gia đã thành lập nền Đệ Nhứt Cộng Hòa và đã bị sát hại ngày 1 tháng 11 năm 1963, cách đây đúng 50 năm. Khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị các tướng lãnh đảo chính, lật đổ và giết chết một cách tàn bạo dã man, tôi đang chuẩn bị thi Trung học đệ nhứt cấp. Ở tuổi vị thành niên, nhận thức chính trị của tôi còn mù mờ non nớt. Lúc đó, cùng với các bạn học “di cư Bắc Kỳ”, tôi đã khóc khi hay tin tổng thống Diệm, người mà từ lúc có trí khôn tôi đã “suy tôn” khi hát bài “Ai bao năm vì đất nước quên thân mình…”, bị sát hại. Lúc đó, tôi không biết chính sách cai trị của tổng thống Diệm có độc tài không, ông có chủ trương bách hại tôn giáo không, chế độ của ông có phải là gia đình trị không. Óc quan sát và nhận định của tôi chỉ vừa đủ để nhận thấy rằng sự sụp đổ và cái chết của tổng thống Diệm đã dẫn đến sự phá sập các ấp chiến lược, mở ngõ cho Việt Cộng ào ạt tràn vào thôn làng và khắp mọi hang cùng ngõ hm của đất nước và kéo theo một giai đoạn đy xáo trn với sự đổ quân ào ạt của người Mỹ vào Việt Nam và cuối cũng dẫn đến sự sụp đổ quá nhanh của Miền Nam Việt Nam. Ngày nay, với sự giải mã của những tài liệu liên quan đến cuộc chiến tại Việt Nam mà tôi có dịp đọc được, tôi mới hiểu được rằng cái chết của tổng thống Diệm và ngay cả cái chết của cả Miền Nam Việt Nam dường như đã được người Mỹ “an bài” và định đoạt cả.
Đó là chuyện lịch sử. Mà nói như Đức Đạt Lai Lạt Ma, đã là lịch sử thì có bàn luận hay tuyên bố thế nào đi nữa, cũng chẳng thay đổi được. Trong ngày hôm nay, khi “gặp” cố tổng thống Diệm để “hỏi chuyện”, tôi tin chắc rằng ông chẳng phải tự biện minh, trách cứ hay nuôi dưỡng bất cứ một sự thù hận nào nữa. Dù có đứng ở phía chống đối để chỉ trích hay lên án ông vì những lầm lỗi ông đã sai phạm trong chính sách cai trị của ông, tôi nghĩ rằng không ai có thể tìm được bất cứ một tài liệu lịch sử nào cho thấy ông không là một con người thanh liêm, chính trực và đạo đức. Tôi đã từng ca bài “suy tôn Ngô tổng thống” suốt gần 10 năm trời, nhưng tôi chưa hề tôn ông làm thần tượng. Với tôi, ông là một nhà lãnh đạo lương thiện và tử tế hiếm thấy trong thời đại nhiễu nhương. Thế giới vẫn luôn cần những con người như thế. Nếu có một tiếng nói mà tôi có thể nghe được từ cố tổng thống Ngô Đình Diệm thì tiếng nói đó là một lời mách bảo rằng thế giới cần những con người lương thiện, tử tế và đạo đức hơn những anh hùng.
Tưởng nhớ cố tổng thống Ngô Đình Diệm trong ngày 1 tháng 11 năm nay, tôi cũng liên tưởng đến một người mà lịch sử đã cho thấy có dính líu đến cái chết của tổng thống Diệm cũng như tương lai đen tối của đất nước. Người đó là cố tổng thống Hoa Kỳ, John F.Kennedy, người cũng đã ra đi trong một cái chết thảm thiết chỉ sau tổng thống Diệm đúng 21 ngày. Là một người trẻ đang đi tìm cho mình một mẫu người lý tưởng, tôi cũng đã có lúc say mê hình tượng của ông. Thời đó, người thanh niên nào mà chẳng thuộc nằm lòng câu nói để đời của ông khi ông ngỏ lời với thanh niên Mỹ: “Đừng hỏi đất nước phải làm gì cho các bạn, mà hãy tự hỏi các bạn phải làm gì cho đất nước”.
Nhưng ngày nay, nếu cố tổng thống Kennedy còn sống trong ký ức của tôi thì hẳn không phải là hình tượng của một chính trị gia trẻ trung, tài ba, có sức thu hút lạ thường, mà là một con người biết “sám hối”. Sau khi hay tin tổng thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát, nghĩa là chỉ vài tuần lễ trước khi chính mình cũng trải qua cùng một số phận, tổng thống Kennedy, mặc dù là người đã khai mở chính sách can thiệp thô bạo vào nội tình Việt Nam, “đã tỏ ra xúc động sâu xa và chưa bao giờ buồn rầu đến như thế kể từ khi xảy ra vụ (khủng hoảng và đối đầu với Liên xô tại) Cuba năm 1960. Ông nói: “Ông Diệm đã từng chiến đấu 20 năm trường cho quê hương ông, lẽ nào phải kết liễu như thế.”(M.Taylor, Swords and Plowshares, trg.301). Điều này đã làm cho tổng thống John F. Kennedy ray rức rất nhiều về phương diện tôn giáo và luân lý.” (Phạm văn Lưu, Biến cố chính trị Việt Nam hiện đại, Centre for Vietnamese Studies, 1994, trg 204).
Với tôi, con người thể hiện “tính người” nhiều nhứt khi họ biết hối tiếc, hối hận hay sám hối. Có lẽ ai vào nghĩa trang cũng đều thấy tự nhiên trào dâng trong tâm hồn nỗi niềm thương tiếc trước sự ra đi của người quá cố. Nhưng có lẽ người quá cố cũng sẽ nhắc nhở người còn sống rằng chỉ có một tình cảm đáng trân quý nhứt đó là sự hối tiếc và niềm hối hận khi mình đã gây thiệt hại, làm tổn thương người khác và nhứt là xúc phạm đến sự sống của họ. Tôi nghĩ đó là điều mà có lẽ cố tổng thống Kennedy muốn nói với tôi khi ông nghĩ đến cái chết thảm thiết của cố tổng thống Ngô Đình Diệm mà một cách gián tiếp ông đã gây ra khi chính phủ của ông đã “mua chuộc” các tướng lãnh Việt Nam để thực hiện cuộc đảo chính dẫn đến cái chết của tổng thống Diệm.
Nhìn bức tượng đồng “Thương tiếc” do thiếu tá điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu thực hiện và được dựng lên tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa trước năm 1975 và sau năm 1975, bị bạo quyền Việt Cộng giật sập và phá hủy, tôi thường nghĩ đến sự hối hận mà con người phải nuôi dưỡng trong cuộc sống. Bức tượng ấy dĩ nhiên gợi lên niềm tiếc thương đối với những chiến sĩ đã hy sinh vì tổ quốc, nhưng đồng thời cũng nhắc nhở về tính phi lý của một cuộc chiến mà do tham vọng hay mù quáng ý thức hệ, những người cộng sản Miền Bắc đã gây ra. Tiếc thương cho những người đã nằm xuống, dù ở bên nào của cuộc chiến, và hối hận vì đã gây ra cuộc chiến nồi da xáo thịt: đó là điều mà lẽ ra bất cứ ai còn có chút lương tri và biết tôn trọng lẽ phải, cũng đều phải có.
Tiếc thay, nhiều người cộng sản Miền Bắc, cho đến lúc chết, vẫn chưa có được thứ tình cảm bình thường ấy của con người. Trong ngày 1 tháng 11 năm nay, tưởng nhớ cố tổng thống Ngô Đình Diệm và cố tổng thống John F. Kennedy, tôi cũng không thể không nghĩ đến “nhất tướng công thành vạn cốt khô” Võ Nguyên Giáp. Rồi đây, mỗi khi tưởng niệm tổng thống Ngô Đình Diệm và tổng thống Kennedy, người ta cũng buộc phải liên tưởng đến ông Võ Nguyên Giáp, vì tên tuổi của ông  gắn liền với cuộc chiến phi lý tàn bạo mà cả hai vị tổng thống kia đều can dự vào. Nhắc đến cuộc chiến ấy, người ta cũng không thể không nghĩ đến 15 ngàn thanh niên thiếu nữ Miền Bắc bị ông đem nướng trong lòng chảo Điện Biện Phủ để được ông Hồ Chí Minh thăng cấp “đại tướng”. Nhắc đến ông người ta không thể không nghĩ đến 4 triệu đồng bào ruột thịt Nam Bắc bị ông mang ra tế sát trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa trong cuộc chiến tương tàn để được mãi mãi mang danh hiệu “đại tướng huyền thoại”. Nhưng nhắc đến ông, thế giới cũng sẽ mãi mãi không bao giờ quên được thái độ “không chút mảy may” hối hận vì đã hy sinh đến hàng triệu triệu đồng bào ruột thịt để chỉ mang lại đau thương tang tóc và khốn khổ cho cả dân tộc.
Mới đây, sau khi ông Giáp đã nằm xuống, tác giả Stein Tonneson, một học giả có nhiều nghiên cứu về Việt Nam và hiện đang làm việc tại viện nghiên cứu hòa bình Oslo và chương trình nghiên cứu hòa bình Đông Á của Đại học Uppsalla, đã ghi lại hai cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa của cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara (1916-2009) với ông Võ Nguyên Giáp. Lần đầu tiên hai cựu thù đã gặp nhau là năm 1995, sau khi chiến tranh chấm dứt được đúng 20 năm. Cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã có một ấn tượng khá đẹp về Việt Nam khi ông được đón tiếp không phải như kẻ thù mà như một người bạn. Ông tin tưởng và lạc quan đến độ nói với các nhà báo: “Tôi thực sự cảm động khi không hề thấy sự thù hận nào trong ánh mắt của người Việt Nam đối với tôi. Một Việt Nam thanh bình, dẫu chưa phồn vinh, nhưng quả là đẹp. Một đất nước như thế, một dân tộc như thế thì họ từng đứng vững trong quá khứ và sẽ tiến lên trong tương lai là điều không phải tranh cãi”. Với ấn tượng tốt đẹp như thế về ông Giáp sau lần gặp gỡ đầu tiên vào năm 1995, hai năm sau, trong một dịp đến Việt Nam dự Hội thảo Việt Mỹ lần đầu tiên, ông McNamara lại bằng mọi giá cố gắng đến thăm ông Giáp khi chỉ còn vài tiếng đồng hồ trước khi lên máy bay trở về Mỹ. Nhưng lần này, ông đại tướng huyền thoại của cộng sản Việt Nam đã hiện nguyên hình của một tên hiếu sát và khát máu, miệng luôn tuôn ra sự tự mãn và hận thù (Vài suy nghĩ nhân đọc bài tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Tonneson, Đàn Chim Việt.Info 26/10/2013). Đây có lẽ cũng chính là giọng điệu mà người được thế giới nói đến như “đại tướng huyền thoại” và nhiều người trong nước vẫn tôn là thần tượng đã lập lại với hãng thông tấn AFP trong một cuộc phỏng vấn hồi năm 2005: ông không một chút mảy may hối hận nào về việc đã hy sinh đến 4 triệu đồng bào ruột thịt để gọi là đánh cho “Mỹ cút ngụy nhào”, nhưng thực tế là để tô điểm cho hào quang “đại tướng huyền thoại” của ông.
Cũng như tổng thống Kennedy, trước khi nằm xuống, đã bị dằn vặt ray rứt và dĩ nhiên hối hận vì đã bật đèn xanh cho cuộc đảo chính dẫn đến cái chết của cố tổng thống Ngô Đình Diệm, trước khi ra đi, cựu bộ trưởng quốc phòng McNamara có lẽ cũng nhìn nhận những sai lầm của cá nhân ông và của chính phủ Hoa Kỳ trong cuộc chiến tại Việt Nam. Nghĩa trang ở đâu cũng luôn được xem là nơi yên nghỉ. Ở đó chẳng còn tranh chấp hận thù hay ngay cả thứ bậc giai cấp. Dù có nằm trong lăng tẩm hay bị chôn vùi ở một nơi chẳng còn ai biết đến, tất cả mọi người quá cố đều bình đẳng với nhau và có lẽ cũng đều chỉ có một thông điệp để nhắn gởi với người còn sống: hãy sống hòa bình với nhau và hãy biết hối hận vì đã xúc phạm đến người khác. Giờ này, tôi cũng cố gắng lắng nghe tiếng nói của ông Giáp và tưởng tượng ra cùng một thông điệp ấy. Còn nếu ông vẫn tiếp tục mang theo xuống mồ tâm tư thù hận và niềm kiêu hãnh bệnh hoạn vì đã xây dựng đài vinh quang giả trá của mình trên mạng sống của cả một dân tộc và như thế khó có thể “yên giấc ngàn thu”, thì tôi cũng  xin cầu chúc cho ông  được “yên nghỉ” như mọi người quá cố!
Vào thăm viếng nghĩa trang năm nay, tôi không thể không nhớ đến ông “đại tướng huyền thoại” và “thần tượng” của nhiều người Việt Nam trong nước. Cuộc sống đơn sơ, liêm khiết, chính trực và đạo đức của cố tổng thống Ngô Đình Diệm, nỗi niềm ray rứt của cố tổng thống Kennedy vì đã gây ra cái chết thảm thiết của tổng thống Diệm, thiện chí  hòa giải và xây dựng hòa bình của cố bộ trưởng quốc phòng Mỹ McNamara...gợi lên cho tôi ý nghĩ: thế giới cần đến những con người lương thiện, tử tế, biết hối hận hơn là những “huyền thoại” và “thần tượng” vô cảm.