Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2016

Sống thật để được thực sự hạnh phúc


Chu Thập
11.11.16

Người Mỹ vừa trải qua một cuộc bầu cử mà kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa gọi là “từ lạ kỳ đến kỳ cục, kỳ quái” (x. Nguyễn Xuân Nghĩa, Vuốt Dao Cạo, Người Việt 31/10/2016).
Kỳ quái đến độ có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, người Mỹ đang mắc phải một hội chứng tâm lý mà các chuyên gia gọi là “căng thẳng rối loạn do bầu cử” (Election Stress Disorder). Tiến sĩ Steven Stosny, thuộc Hiệp hội Chuyên gia Tâm lý Mỹ  APA  đã mô tả hội chứng này như sau: “Nó giống như cảm giác bực tức, thù hận...và bất lực khiến cho con người dễ dàng bị lôi kéo để chỉ trích và đơn giản hóa các vấn đề”. Tiến sĩ Lynn Bukka, một chuyên gia khác của Hiệp hội APA còn cho rằng hội chứng này càng trầm trọng hơn khi các phương tiện truyền thông tràn ngập đủ loại câu chuyện, lý luận, băng hình và tin tức khác nhau. Xung đột do bầu cử tạo ra không chỉ xảy ra ngoài xã hội, giữa bạn bè hay người không quen biết mà còn len lỏi vào trong các gia đình. Giữa những phần tử trong cùng một gia đình đã xảy ra nhiều trận cãi vã dữ dội vì những bất đồng quan điểm và lập trường (x. Hội chứng tâm lý về bầu cử năm nay của dân chúng Hoa Kỳ, Calitoday 3/11/2016).
Có lẽ cũng trong lịch sử Hoa Kỳ chưa bao giờ có một cuộc bầu cử “kỳ quái” như lần này khi người Mỹ bị buộc phải chọn lựa giữa hai ứng cử viên không những không được ưa thích mà còn đáng ghét là khác. Nhiều người bị đặt trước tình thế “tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa”. Bầu cử mà như thể bị dồn vào chân tường để chỉ còn biết hành động theo nguyên tắc  đạo đức: “Giữa hai điều xấu không thể tránh được, nên chọn điều ít xấu hơn”. Hội chứng “căng thẳng rối loạn do bầu cử” có lẽ đã được xoa dịu. Nhưng nay người Mỹ lại còn phải đối đầu với hội chứng “hậu bầu cử” khi họ phải sống với bi kịch của một sự chọn lựa không có lối thoát.
Chuyện người Mỹ phải hành động theo nguyên tắc “giữa hai điều xấu không thế tránh được, nên chọn điều ít xấu hơn” làm tôi  nhớ đến cuốn phim có tựa đề “Sophie’s Choice” (sự chọn lựa của Sophie). Cuốn phim được thực hiện năm 1982 và mang lại giải Oscar cho nữ diễn viên Meryl Streep kể lại câu chuyện đầy nước mắt của một phụ nữ Mỹ gốc Ba Lan tên là Sophie Zawistowski. Thời Đệ Nhị Thế chiến, Sophie còn ở Ba Lan. Bà đã có chồng và hai đứa con. Chồng bà và cha bà đã bị Đức quốc xã đưa vào Trại tập trung Auschwitz và chết tại đó. Chính bà cũng bị bắt đưa vào trại tập trung này. Tại đây, bà bị buộc phải làm một chọn lựa khủng khiếp. Các cai tù Đức quốc xã yêu cầu bà phải làm một chọn lựa:  trong hai đứa con của bà, bà sẽ chọn đứa con nào để đưa vào lò hơi ngạt và đứa nào bị đưa vào trại lao động khổ sai. Để tránh cho hai đứa con khỏi bị giết một lúc, bà đành chọn cho đứa con trai được đưa vào trại lao động khổ sai và để cho đứa con gái bị đưa vào lò hơi ngạt.
Có lẽ sự chọn lựa nghiệt ngã và đau thương ấy đã đeo đuổi bà suốt đời chăng, cuối cuốn phim Sophie đã cùng với người chồng sau của bà dùng thuốc độc Cyanide để kết liễu cuộc sống.
Dĩ nhiên, trong cuộc sống, không phải  lúc nào con người cũng bị  dồn vào chân tường để phải làm những chọn lựa nghiệt ngã như nhân vật Sophie trong cuốn phim trên đây. Nhưng cuộc sống thiết yếu được dệt bằng một chuỗi những chọn lựa và hầu hết những chọn lựa đều diễn ra giữa hai cực thiện ác và chân giả.
Có lẽ đây là  chủ đề nổi bật của cuốn phim khoa học giả tưởng nổi tiếng có tựa đề “The Matrix” được thực hiện hồi năm 1999 với sự góp mặt của tài tử gạo cội Keanu Reeves. Trong cuốn phim, nhân vật Morpheus đặt Neo (do Keanu Reeves thủ diễn) trước sự chọn lựa giữa hai viên thuốc: một viên thuốc đỏ và một viên thuốc xanh. Morpheus nói với Neo: “Hãy uống viên thuốc xanh và câu chuyện sẽ chấm dứt tại đây. Bạn sẽ thức dậy trên giường của bạn và tin tưởng bất cứ điều gì bạn muốn tin tưởng”, nghĩa là sẽ chẳng có gì thay đổi trong cuộc sống của bạn. Trái lại, Morpheus đề nghị: “Hãy uống viên thuộc đỏ. Bạn sẽ được ở lại trong Vùng Đất Kỳ Diệu (Wonderland) và tôi sẽ chỉ cho bạn thấy cái hang thỏ sâu cỡ nào. Tất cả những gì tôi cống hiến cho bạn là Sự Thật. Ngoài ra không có gì khác”. Tóm lại, Neo được đặt trước một sự chọn lựa: hoặc là cuộc sống bình thường với những hạnh phúc nhỏ đang có trước mắt hoặc là biết Sự Thật. Và Neo đã chọn lấy viên thuốc đỏ. Anh khao khát muốn biết Sự Thật.
Theo Tiến sĩ Raj Raghunathan, một chuyên gia tâm lý có mở một môn học lấy tên là “Sáng tạo và Lãnh đạo” (Creativity and Leadership), phần lớn trong chúng ta đều không hành động như nhân vật Neo trong cuốn phim “The Matrix”. Tiến sĩ Raghunathan cho biết khi ông đặt các sinh viên của ông trước một chọn lựa: hoặc là Hạnh Phúc hoặc là Sự Thật, có đến 58 phần trăm chọn lựa “Hạnh Phúc” và chỉ có 42 phần trăm chọn đi tìm “Sự Thật”.
Nhưng theo Tiến sĩ Raghunathan, tâm trạng của con người ảnh hưởng đến sự chọn lựa của họ. Trong một cuộc thử nghiệm, ông chia các tham dự viên ra hai nhóm: một nhóm được cho uống cà phê và như vậy cảm thấy hưng phấn, một nhóm không được uống cà phê và như vậy thiếu hưng phấn. Kết quả cuộc thử nghiệm của Tiến sĩ Raghunathan cho thấy: nhóm hưng phấn cảm thấy thích thú trong việc đi tìm kiếm “Sự Thật” trong khi nhóm kia chỉ muốn “chữa cháy” nghĩa là chỉ chú tâm đến việc xoa dịu những căng thẳng và đi tìm hạnh phúc nhứt thời hơn. Có lẽ ông bà Việt Nam chúng ta cũng đã hiểu rõ tâm lý con người cho nên mới bảo “Có thực mới vực được đạo”. Người Tây Phương dường như cũng đồng một quan điểm chăng khi nói “Hãy ăn đã rồi sau đó mới nói chuyện triết lý” (Primum manducare deinde philosophare). Quả như người Pháp đã nói: “Bụng đói không có tai” (ventre affamé n’a point d’oreille), đừng mang chuyện triết lý hay tìm kiếm sự thật ra mà trao đổi , bàn cãi hay thuyết pháp  với  người đang chết đói. Con người ta ai cũng muốn được thỏa mãn trong những đòi hỏi nhứt thời. Xét cho cùng, khi nói đến hạnh phúc, con người thường nghĩ đến cái trước mắt hơn là chuyện siêu hình hay xa xôi. Có lẽ chính vì thế mà “hạnh phúc” là một trong những ý niệm mờ ảo và mơ hồ hơn cả. Thường nó chỉ là một ảo ảnh đằng sau những thứ dễ “bắt mắt” và thu hút con người nhứt như tiền của, quyền lực, địa vị, danh vọng...Ai cũng dễ bị lôi cuốn và chạy theo những thứ ấy. Và có lẽ ai cũng nghĩ rằng hạnh phúc là có được những thứ ấy và có hơn người khác. Hạnh phúc là có được nhiều của cải vật chất hơn người khác. Hạnh phúc là có được nhiều quyền lực và danh vọng hơn người khác. Hạnh phúc là hơn người khác ở một khía cạnh nào đó. Thành ra hạnh phúc có khi cũng chỉ là một cuộc ganh đua hơn thiệt với người khác và trong ganh đua dĩ nhiên người ta cũng dễ bị cám dỗ bằng mọi cách, nhứt là bằng dối trá, để triệt hạ người khác.
Cuộc “chạy đua” và cũng là “ganh đua” vào Tòa Bạch Ốc năm nay đã cho tôi cái cảm tưởng ấy. Trong suốt một năm tranh cử vừa qua, không riêng gì ông Donald Trump - người thường được báo chí Mỹ gọi là người “nổ bạo” (bombastic) thích tuyên bố lung tung, muốn chửi ai thì chửi, chuyện gì cũng phịa được - mà hầu hết các ứng cử viên khác, ai cũng đều nã ra những viên đại pháo có chứa ngòi nổ của dối trá. Tất cả những lời chửi rủa thậm tệ của hai bên, nhứt là của hai ứng cử viên được hai Đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đề cử, đều qui về những tiếng như “lươn lẹo, dối trá”. Ông chửi bà “lươn lẹo” (crook), bà rủa ông “dối trá, lưu manh”. Dĩ nhiên, cử tri Mỹ lúc nào cũng xem xét các chính sách được ứng cử viên đề ra để cân nhắc lá phiếu của mình. Nhưng nhìn chung, trong suốt một năm tranh cử vừa qua, dường như tư cách, đức độ của các ứng cử viên vẫn là thước đo được các cử tri sử dụng để chọn mặt gởi vàng. Và sở dĩ người Mỹ đã mắc phải hội chứng “căng thẳng rối loạn do bầu cử” là vì họ không tìm ra được sự lương thiện và tính khả tín nơi các ứng cử viên. Cuộc bầu cử năm nay rốt cuộc là một cuộc tìm kiếm sự thật và  lương thiện. Người Mỹ có lẽ đã “nhức đầu” và ngao ngán vì họ không tìm thấy được những đức tính ấy nơi những người muốn làm nguyên thủ quốc gia của họ.
Tôi có những suy nghĩ như thế khi nhớ lại khẩu hiệu rất quen thuộc thường được nghe thấy trong các tòa án ở Mỹ. Bị can, nhân chứng hay bất cứ ai được mời ra tòa làm chứng cũng  đều giơ tay tuyên thệ theo công thức: “Tôi thề nói sự thật, nói hết sự thật và chỉ nói sự thật” (I swear to tell the truth, the whole truth, and nothing but the truth). Được các nhà lập quốc đề ra như nền móng để xây dựng nền dân chủ và văn minh, lời thề vốn được người Mỹ xem như một nghi thức thánh thiêng. Lỗi lời thề này, tức nói dối, bị xem là tội bội thề (perjury). Trước pháp luật, đây là một hành vi phạm pháp nghiêm trọng. Những ai theo dõi vụ tai tiếng về tình dục của Tổng thống Bill Clinton với người tập sự viên Monica Lewinsky hồi năm 1998 đều thấy được tính nghiêm trọng của hành động bội thề. Bị đưa ra cung khai trước Quốc hội, ông tổng thống tài ba và đào hoa này đã giơ tay thề thốt “nói sự thật, nói hết sự thật và chỉ nói sự thật”, nhưng  lại dùng đủ mọi xảo thuật của một luật sư “dẻo miệng” để chối bỏ sự dan díu tình dục của mình với cô Lewinsky. Ông suýt bị Quốc hội bãi nhiệm, không phải vì bê bối tình dục, mà vì bội thề và cản trở công lý.
Do chịu ảnh hưởng của Kitô Giáo, có lẽ phần đông người Mỹ đều biết câu nói của Chúa Giê Su: “Sự thật sẽ giải phóng các ngươi” (Tin Mừng theo Gioan 8, 32). Riêng người Việt Nam, dù không hề biết đến câu nói trên, cũng đã thấm thía cảm nhận được rằng, kể từ khi người cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam và áp đặt lên chủ nghĩa cộng sản, dối trá là một hình thức nô lệ mới. Với sự dối trá, người cộng sản đã xiềng xích cả dân tộc vào vòng nô lệ. Họ cũng tự trói mình vào nô lệ: nô lệ của dối trá, nô lệ của độc tài, nô lệ của quyền lực. Họ có thể yên vị và ngủ yên trên tiền của và quyền lực. Nhưng liệu đó có phải là một cuộc sống thực sự hạnh phúc không?  Sự khủng bố dưới mọi hình thức mà chế độ cộng sản đang sử dụng để đàn áp người dân thực ra cũng chính là bộ mặt khác của sợ hãi. Chính vì sợ hãi mà con người tìm cách loại trừ người khác. Tựu trung,  dối trá luôn dẫn đến sợ hãi. Người Việt mình đã chẳng nói: “Cây ngay không sợ chết đứng”! Sống ngay, sống thật, con người chẳng có gì để lo sợ.
Cũng như mọi người, tôi khao khát được sống hạnh phúc. Và trong khi đi tìm hạnh phúc, tôi lại nhận ra rằng chỉ khi nào tôi dám sống thật và sống cho sự thật, tâm hồn tôi mới được an bình và tôi mới cảm nhận được thế nào là thật sự hạnh phúc.









Thứ Tư, 16 tháng 11, 2016

Chúa của tôi!



Chu Thập
07.05.13


Khi chọn tựa đề cho bài viết này, tự nhiên tôi nghĩ đến câu chuyện tiếu lâm “nhà đạo”. Ba bà “đạo đức” gặp nhau khoe về sự kính trọng mà người khác dành cho con mình. Bà thứ nhứt khoe: “Con tôi làm linh mục. Ai gặp cũng chào “xin phép lạy cha ạ”. Bà thứ hai lên giọng: “Nghĩa lý gì. Con tôi làm giám mục. Ai gặp cũng cúi mình, hôn nhẫn kính cẩn chào: “Con kính lạy đức cha”. Bà thứ ba cười đắc thắng: “Kể sá gì. Thằng con tôi chẳng cần làm ông gì hết mà ai gặp nó cũng phải thốt lên: “Chúa tôi!” (Oh my God!). Hai bà kia ngạc nhiên hỏi: “Tại sao vậy?” “Có gì lạ đâu, nó mới mười lăm tuổi mà đã nặng gần hai trăm ký lô”.
Ngày tôi còn nhỏ, ai dám cả gan kể câu chuyện tiếu lâm này, nếu không bị ông cha sở “dứt phép thông công” thì có lẽ cũng bị mấy ông câu, ông biện đứng trước cửa nhà thờ chận lại không cho vào bên trong.
Tôi sinh ra trong một gia đình công giáo thuần thành. Mới được 3 ngày tuổi, còn đỏ hỏn, tôi đã được mang đến nhà thờ để được rửa tội. Vừa có trí khôn, biết đọc biết viết, tôi đã được cho xưng tội, rước lễ lần đầu. Được mặc quần áo tương đối tươm tất để đến nhà thờ mỗi sáng sớm là một vinh dự. Nhưng vinh dự luôn đi đôi với trách nhiệm. Mà trách nhiệm đối với một bé trai ngổ ngáo như tôi chỉ có nghĩa là gánh nặng. Nặng nhứt trong các thứ gánh tôn giáo đặt lên vai tôi là phải đi xưng tội nếu không hai tuần thì cũng ít nhứt mỗi tháng một lần. Với bà mẹ chuyên đóng vai “cảnh sát tôn giáo”, tôi khó mà trốn tránh nghĩa vụ này. Có khi không tìm ra tội, tôi đành phải phịa thôi. Có cái tội mà hầu như trong lần xưng tội nào tôi cũng phải kể ra là tội “kêu danh Chúa vô cớ”. Trong xứ đạo toàn tòng của tôi, tuy không đến nỗi dài dòng  “Giêsu Ma lạy Chúa tôi!” như người Bắc, nhưng hầu như ai cũng quen miệng, để tránh chửi thề thì cứ “Chúa ơi” mà kêu.
Ngày đó tôi chẳng hiểu mình đã xúc phạm đến Chúa như thế nào khi gọi “Chúa ơi”.
Nhưng ngày nay, kể từ sau cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ, tôi đã hiểu được tính nghiêm trọng của hành động xúc phạm đến Chúa khi con người nhân danh Ngài, kêu tên Ngài trước khi ôm bom tự sát để giết hại người vô tội.
Thật ra, nhân danh Chúa để làm điều ác đâu phải là điều mới mẻ trong lịch sử nhân loại. Đọc lại lịch sử dân Do Thái, những cuộc “thánh chiến” của họ và nhứt là câu chuyện xuất hành thoát khỏi kiếp nô lệ bên Ai Cập, tôi không khỏi thắc mắc về chân dung của “Chúa tôi” như được người Do Thái tuyên xưng và tôn thờ. Liệu tôi có thể tôn thờ một Thiên Chúa, Đấng, để giải phóng một dân tộc mà Ngài đã chọn làm “dân riêng”, đã nhẫn tâm sát hại những đứa con đầu lòng vô tội của một dân tộc (Ai Cập) khác hay không?
Có lẽ cũng nhân danh một Chúa đó mà thế giới Tây phương thời Trung Cổ đã mở các cuộc thập tự viễn chinh sang Trung Đông để tàn sát người Hồi Giáo. Có lẽ cũng nhân danh một Chúa đó mà cũng vào thời Trung Cổ, Giáo hội công giáo của tôi đã thiết lập các tòa điều tra (Inquisition) để xét xử những người bị cho là “ lạc giáo” và đưa họ lên giàn hỏa thiêu. Có lẽ cũng nhân danh một Chúa đó mà với nhiệt tâm truyền đạo, có khi Tin Mừng lại được rao truyền bằng gươm giáo hay họng súng. Và có lẽ cũng nhân danh một Chúa đó mà với lòng sốt sắng bảo vệ “đạo thánh Chúa”, các tín hữu kitô chẳng ngần ngại xử dụng chính những phương tiện và khí giới hoàn toàn nghịch lại với Tin Mừng của Tình Thương.
Mới đây tôi có đọc được truyện ngắn có tựa đề “Lời xưng tội lúc nửa đêm” của nhà văn Vũ Thư Hiên. Tôi đã đọc truyện ngắn này như bản xét mình để tự vấn lương tâm về cách sống đạo của tôi.
Tôi nghĩ có lẽ nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả của “Đêm giữa ban ngày”, quyển hồi ký chính trị của một người không làm chính trị, cũng có cùng những khắc khoải như tôi khi ông viết truyện ngắn “Lời xưng tội lúc nửa đêm”. Tôi đoán như thế bởi vì trong quyển tiểu thuyết tự thuật có tựa đề “Miền thơ ấu”, ông có kể lại cái gốc gác “công giáo” của ông lúc còn ở Thái Bình.
Truyện ngắn “Lời xưng tội lúc nửa đêm”, tuy hư cấu, nhưng có lẽ đã được tác giả xây dựng trên một số sự kiện lịch sử có thật, mà khu tự trị “Bùi Chu Phát Diệm” của người công giáo chống lại cộng sản là một điển hình. Trong câu chuyện, nhà văn Vũ Thư Hiên cho hai con người không đội trời chung được gặp nhau trong những giây phút nguy ngập nhứt của cuộc đời. Một bên là một cựu cán bộ cộng sản đang hấp hối. Một bên là vị linh mục già. Hai người đã từng “đụng độ” nhau trong một trận nào đó. Tuy không phải là một người công giáo, người cựu đảng viên cộng sản già muốn trút bỏ một lần cho hết cái gánh nặng đã từng đè trên lương tâm ông suốt cả một đời. Ông “xưng thú” với vị linh mục mà như nói với chính mình: “Trên đường truy kích những tên cầm súng bắn chúng tôi, tôi gặp một thanh niên nằm ngửa, mắt mở to. Anh ta đã chết, đạn xuyên qua bụng phá ra hông thành một lỗ toác hoác…Tôi dừng lại, vuốt mắt cho anh ta. Tại sao tôi lại làm như thế, tôi không hiểu. Tôi đã dự nhiều trận đánh, đã thấy nhiều xác chết trong đủ mọi kiểu chết…Tôi dừng lại vì vẻ thánh thiện trên gương mặt trong sáng của người chết. Anh ta đẹp quá. Mà cái đẹp sinh ra để làm gì nếu không phải để tạo ra niềm vui, để dành cho tình yêu? Lẽ ra anh ta phải sống, để ôm ấp trong tay một người con gái đẹp, xứng đáng với anh ta. Để rồi cô gái sẽ sinh cho anh những đứa trẻ đẹp như bố mẹ chúng. Vậy mà anh ta đã chết…” Người thanh niên đó chính là em ruột của vị linh mục già.
Đọc giả cứ tưởng “lời xưng tội lúc nửa đêm” là của người cán bộ cộng sản sắp chết, bởi vì chính ông đã nhờ người nhà mời cho bằng được vị linh mục già đến bên giường bệnh. Kỳ thực, vị linh mục già mới thực sự là kẻ thú tội. Tác giả Vũ Thư Hiên kể lại: “Lời xưng tội của người bệnh khiến toàn thân linh mục ớn lạnh. Ông chân thành quỳ xuống, thú nhận: “Tôi nhìn thấy một người lính ngã xuống trước họng súng của tôi. Viên đạn bắn trúng anh ta có thể không phải là của tôi, tôi không dám nói chắc, nhưng cũng như ông, tôi nghĩ viên đạn là của tôi. Lúc đó tôi còn trẻ. Có lẽ trẻ hơn ông. Lúc đó chúng tôi nhìn các ông như kẻ thù không đội trời chung. Chúng tôi đã quên lời dạy của Chúa: “Hãy thương yêu người ta như mình vậy”. Chính tôi là một trong những người được bề trên sai trói chín anh bộ đội vào đám xú vẹt năm trước đó. Trong số chín người ấy có một anh bộ đội rất trẻ. Khi tôi trói anh ta, anh ta nhìn tôi và thật ngạc nhiên, tôi không thấy trong đôi mắt ấy có một chút oán giận, một chút căm thù. Chỉ có sự ngỡ ngàng, bối rối, như trước một điều khó hiểu. Tôi đứng gần đấy cho đến khi nước triều lên chậm chạp, bắt đầu vượt qua đầu gối họ, lên tới bụng họ, rồi tới ngực họ. Cả chín người đều im lặng. Tôi chờ anh thanh niên kia van xin tha chết, nhưng anh ta im lặng. Tôi không chịu nổi cái nhìn ấy hơn nữa, tôi không còn sức để chịu đựng nữa, tôi hấp tấp bỏ đi vài phút trước khi nước lên tới cằm họ…”
Người cán bộ già xưng tội với vị linh mục già không chỉ vì chàng trai mà ông vuốt mắt là người em ruột của vị linh mục, mà còn bởi vì ông muốn được vị linh mục, người đại diện cho tầng lớp người dân bị chế độ của ông truy sát, giết hại…nói lời tha thứ cho ông. Ông muốn được làm người bạn hữu và anh em của “kẻ thù” trước khi đi vào một nơi không còn hận thù chém giết nữa.
Về phần mình, vị linh mục già xưng tội không chỉ vì đã can dự vào việc tra tấn sát hại người khác, mà còn muốn thay mặt giáo đoàn của mình để thú nhận rằng ông và họ đã không sống đúng lời dạy của Chúa “hãy thương yêu người ta như mình vậy”.
Cho tới những giây phút cuối đời, người cán bộ già vẫn thú nhận rằng ông chẳng tin có Chúa hay thần thánh nào cả. Vị linh mục già, khi nhìn nhận tội ác của mình, hẳn cũng muốn nói lên rằng Chúa mà ông nhân danh để tra tấn và sát hại người đồng loại không phải là Chúa Chân Thật.
Nhân danh chủ nghĩa cộng sản như một tôn giáo, người cán bộ đã sát hại chính những người đồng bào ruột thịt của mình. Nhưng cũng chẳng vừa gì, nhân danh Chúa và để bảo vệ đạo giáo của mình, vị linh mục cũng đã từng nhúng tay vào tội ác. Cả hai đều sẵn sàng chết cho chúa của mình,  một vị chúa do họ đã nhào nặn ra hơn là vị Chúa Chân Thật, Chúa của Tình Thương. Người cựu cán bộ cộng sản đã nhìn nhận: “Khi đã có Chúa trong tay, bất kể là Chúa nào- Chúa tìm thấy, Chúa tạo ra, Chúa vay mượn, Chúa mua sắm, Chúa nhập cảng- tức thì nó lấy ngay Chúa mà nó sở hữu, Chúa của riêng nó, của phe phái nó tròng vào cổ đồng loại, coi đó là ưu thế của nó trên đồng loại, để được cảm thấy mình cao sang hơn đồng loại, chung cuộc là để thống trị đồng loại…”
Không biết tôi có đọc được sứ điệp mà nhà văn Vũ Thư Hiến muốn chuyển tải qua truyện ngắn “Lời xưng tội lúc nửa đêm” không. Nhưng trong cảm nhận riêng của mình, tôi nghĩ rằng bên kia mọi ý thức hệ, mọi thứ chủ nghĩa, mọi thứ thần tượng và mọi tôn giáo, con người có thể gặp nhau và điểm hẹn ấy chính là tấm lòng hướng thiện bẩm sinh trong con người. Con người có thể nhân danh tấm lòng ấy để mà yêu thương nhau và tha thứ cho nhau. Trái lại, bao lâu còn bám víu vào một vị Chúa do mình tạo ra và bằng mọi giá phải “bảo vệ” cho bằng được, con người vẫn có thể loại trừ, cắn xé lẫn nhau.
Chúa Chân Thật hẳn chỉ có thể là Đấng có thể bị tổn thương khi chính con người nhân danh Ngài để hãm hại người đồng loại của mình. Chúa Chân Thật hẳn chỉ có thể là Đấng mà ngay cả khi bị chối bỏ cũng chẳng hề cảm thấy bị xúc phạm, miễn là khi con người được tôn trọng và yêu thương.
Trong quyển tiểu thuyết có tựa đề “Sự thinh lặng” (Silence), nhà văn nổi tiếng người Nhựt Shusaku Endo đã kể lại thời kỳ bách hại dã man mà các tín hữu Kitô tiên khởi của Nhựt Bản đã trải qua trong hai thế kỷ 16 và 17. Chuyện kể về một linh mục dòng tên người Bồ Đào Nha, sau khi hay tin một linh mục bạn của mình vì không chịu đựng nổi cuộc bách hại đã “bỏ đạo”, đã sang thế chỗ để lo cho cộng đoàn giáo dân. Thử thách khủng khiếp nhứt mà vị linh mục phải đương đầu là lúc những kẻ bách hại đưa các tín hữu ra trước pháp trường để hành hình và bắt ông phải chứng kiến cuộc tra tấn. Họ đặt vị linh mục trước một chọn lựa: hoặc là nhìn thấy cảnh các tín hữu Kitô bị hành hạ cho đến chết hoặc là chính ông phải “bỏ đạo”, nghĩa là chối bỏ Chúa của mình. Cuối cùng, để cho giáo dân của mình được sống, vị linh mục đã chọn việc chối bỏ Chúa.
Nếu chính Ngài bị xúc phạm mà con người được sống thì có lẽ một Thiên Chúa Chân Thật, bởi vì là Tình Thương, sẽ chẳng cảm thấy bị xúc phạm chút nào cả. Chúa đâu cần phải ra một luật chống phạm thượng để ngăn ngừa hành vi xúc phạm của con người. Có chăng một luật mà Ngài đã ghi khắc trong tâm hồn con người, thì luật đó chỉ có thể là “hãy yêu thương người ta như mình ta vậy”.
Đã có “hội y sĩ không biên giới”, “hội các ký giả không biên giới”…và nhiều thứ hội không biên giới khác. Tôi cũng nghĩ đến “Đạo không biên giới”. Đó là Đạo qua đó, bên kia mọi thứ rào cản của tôn giáo, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, văn hóa, chính kiến…mọi người đều có thể gặp gỡ nhau, tôn trọng nhau, yêu thương nhau và nhứt là cảm thông và tha thứ cho nhau. Lúc đó, sẽ chẳng có một Chúa của riêng tôi, do tôi tạo ra, mà chỉ có một Chúa của Tình Thương mà thôi.



Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

Đảo Rottnest: nhà tù biến thành khu du lịch!


11.11.16
Mới đây, Rodney Kelly, một hậu duệ của một chiến binh thổ dân bị đoàn thám hiểm của Thuyền trưởng Cook hạ sát đã yêu cầu Bảo tàng viện Anh phải trả lại một cái thuẫn mà ông cho là thuộc về dân tộc ông.
Người chiến binh thổ dân mà ông Rodney Kelly tự nhận là hậu duệ tên là Cooman, thuộc Bộ lạc Gweagal. Người chiến binh này đã bị đoàn thám hiểm người Anh bắn vào chân năm 1770 khi chiếc tàu thám hiểm HMS Endeavour tiến vào Vịnh Botany.
Một chiếc thuẩn và vài cái đao đã bị người Anh lấy đi và hiện đang được trưng bày trong Bảo tàng viện Anh.
Ông Rodney Kelly đã đến London để yêu cầu người Anh phải hoàn trả lại chiếc thuẩn cho dân tộc ông. Theo ông, Bảo tàng viện Anh không có quyền chiếm giữ báu vật này.
Dĩ nhiên, Bảo tàng viên Anh sẽ không bao giờ thỏa mãn yêu cầu của người hậu duệ thổ dân này. Cùng lắm, Ban giám đốc của Bảo tàng viện chỉ cho Úc Đại Lợi “mượn lại” chiếc thuẩn này mà thôi.
Chuyện kỳ kèo về một báu vật trên đây hẳn đã gợi lên những trang sử đau thương của người Thổ dân Úc kể từ khi hòn đảo lớn nhất thế giới này bị Anh Quốc chiếm giữ. Cho đến nay, hậu duệ của những người thổ dân đã từng bị người Anh săn lùng, giam giữ và tiêu diệt vẫn không bao giờ quên được tội ác ấy. Rottnest Island, nằm ở ngoài khơi tiểu bang Tây Úc là một trong những dấu tích của tội ác ấy.
Glen Stasiuk, một giảng viên và nhà nghiên cứu thổ dân thuộc Đại học Murdoch, kể lại rằng khi còn là một thiếu niên ông đã có dịp cùng với một số bạn đi cắm trại tại Rottnes Island. Đó là khoảng thập niên 1980.
Không hiểu tại sao lúc lặn xuống biển, người thiếu niên cảm thấy đau yếu và mệt mỏi  đến độ người ta phải dùng máy bay để đưa cậu về đất liền. Một năm sau, cậu trở lại và lần này cũng vậy, cậu cũng thấy một triệu chứng như thế. Mẹ cậu nói với cậu rằng có lẽ đã đến lúc cậu phải đi gặp bà ngoại của cậu. Bà ngoại cậu liền nói với cậu rằng Rottnest Island là một chỗ bệnh hoạn.
Stasiuk đã từng đi cắm trại tại Tentland. Trong hàng bao năm trời, Tentland là một chỗ cắm trại nổi tiếng tại Rottnest Island. Đây là chỗ mà các gia đình và thanh thiếu niên dựng lều, nướng thịt và ăn nhậu với nhau.
Điều mà những người cắm trại không hề biết là họ đang ngủ trên những nấm mồ không tên của ít nhất 373 người thổ dân. Đây là “nghĩa trang” lớn nhất của người thổ dân tại Úc.
Tiến sĩ Stasiuk chỉ tay về hướng nghĩa trang và giải thích cho khách du lịch: đây là nơi mà năm 1971, lần đầu tiên người ta đã tìm thấy các hài cốt của các tù nhân. Và đây cũng chính là nơi mà người thiếu niên Stasiuk đã từng dựng lều cắm trại.
Rottnest Island, một hòn đảo nằm cách Perth 18 cây số, từng là một trong những nhà tù lớn nhất dành cho thổ dân. Các tù nhân được chôn cất ở đây là một số nhỏ trong 4000 người gồm đàn ông và thanh thiếu niên từ khắp Tiểu bang Tây Úc bị giam giữ tại Rottnest Island từ năm 1838 đến năm 1931.
Khoảng tháng 6 năm 1829, khi đợt định cư người da trắng đầu tiên đi thuyền ngược lên dòng sông Derbarl Yerrigan hay sông Swan, người thổ dân Whadjuk thuộc Bộ lạc Noongar nghĩ rằng những người da trắng này là tổ tiên họ trở về từ bên kia thế giới để bảo vệ họ.
Tiến sĩ Noel Nannup, một trưởng lão thổ dân tại Đại học Edith Cowan giải thích rằng lần đầu tiên thấy người da trắng, người thổ dân tưởng rằng họ đến từ lòng biển, da của họ đã được tẩy trắng.
Nhưng những người khách không được mời đã không bỏ đi. Dọc suốt từ Fremantle đến thượng nguồn sông Swan, người thổ dân đã gọi nhau: “Worra! Hãy tập trung gia đình lại và tìm cách tự vệ”. Không mấy chốc, người thổ dân thấy hàng rào được dựng lên, họ bị xua đuổi ra khỏi đất đai của họ và đẩy ra bên lề. Và mặc dù đã có luật lệ riêng của họ từ cả ngàn năm trước, người thồ dân lại bị buộc phải tuân thủ luật mới của những người định cư da trắng.
Bà Karen Jacobs, một cựu thành viên của Hội đồng Quản trị tại Rottnest Island kể lại rằng người da trắng bắt đầu khai khẩn đất đai, chận đứng mọi nguồn nước ngọt vốn đã từng nuôi sống người thổ dân. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi cây thuốc đông y, mọi loại thảo mộc truyền thống và súc vật đều bị bứng đi hết. Chỉ trong 3 năm sau khi người da trắng định cư, khu rừng săn bắn của người thổ dân cũng biết mất.
Vì nguồn thực phẩm ngày càng cạn dần cho nên người thổ dân thuộc Bộ lạc Noongar liền săn bắn bất cứ loại thú nào họ thấy trước mắt từ trừu, gà đến bò. Họ không hiểu rằng theo luật của người da trắng súc vật là sở hữu của người khác. Với người thổ dân, súc vật thuộc về đất đai và như vậy cũng thuộc về mọi người.
Hậu quả của sự hiểu lầm ấy thật khốc liệt. Người thổ dân bị bắt giữ vì tội ăn trộm, vì vượt qua hàng rào của nhà người khác. Không bao lâu nhà tù đầy ắp người thổ dân.
Trước khi người da trắng đặt chân đến Úc Đại Lợi, người thổ dân không bao giờ có bất cứ ý niệm nào về việc bị người khác giam giữ. Chính quyền Thuộc địa hẳn đã nhận ra tức khắc nỗi khốn khổ của họ khi bị giam giữ. Con số người bị bắt giữ vì những tội không ra gì ngày càng cao. Vấn đề ngày càng nghiêm trọng. Do đó Chính quyền Thuộc địa mới quyết định thiết lập một nhà tù tại Rottnest Island.
Lúc đầu, còn có chút cảm thương, người da trắng nghĩ rằng giam giữ người thổ dân tại Rottnest Island để họ còn có chút tự do đi lại và giết thời giờ bằng việc săn bắn. Trong vài năm đầu có lẽ người tù thổ dân vẫn còn được chút tự do như thế.
Chiếc thuyền đầu tiên đến Wadjemup trên đảo Rottnest Island khoảng tháng 7 năm 1838, mang theo 6 tù nhân. Lúc bấy giờ chưa có nhà tù. Các tù nhân phải tự tay đi kiếm đá để xây nhà tù. Họ phải ngủ trong những hang động trên đảo. Trong những tháng đầu, tù nhân làm vườn và dọn cỏ. Buổi chiều, họ được phép đi săn bắn. Nhưng điều kiện sống của tù nhân ngày càng tồi tệ khi một cai tù tên là Henry Vincent bắt đầu chính sách cai trị hà khắc của ông. Tù nhân phải làm việc giữa nắng nóng. Quần áo đã thiếu thốn, họ còn bị xiềng lại với nhau.
Tiến sĩ Stasiuk nói rằng “Henry Vincent là một cai tù dã man. Ông đấm đá tù nhân không chút xót thương. Ông đã từng dùng xâu chìa khóa để đánh chết một tù nhân. Trước khi được trả tự do và trở về đất liền, tù nhân buộc phải chứng kiến cảnh các tử tù bị treo cổ. Bất cứ người nào không làm theo lệnh ông cũng đều có thể bị bắn ngay tức khắc. Ban đêm, các tù nhân bị xiềng vào một hệ thống cột trong trại.”
Oái oăm thay, tên của viên cai tù độc ác này lại được đặt cho một ngôi nhà và một con đường trên đảo!
Cuộc sống của các tù nhân trên đảo ngày càng đen tối thì khi được trở về đất liền số phận của người thổ dân cũng chẳng sáng sủa hơn. Ranh giới thuộc địa ngày càng nới rộng từ Perth chạy xuyên suốt tiểu bang Tây Úc thì số người thổ dân bị bắt đưa vào tù ngày càng nhiều. Đã vậy, càng đi xa khỏi Perth thì luật lệ càng lỏng lẻo. Tại những vùng xa xôi hẻo lánh, người da trắng tự cho mình có quyền đánh đập, bắn giết hay bịa ra đủ mọi thứ cáo buộc để bắt giữ người thổ dân. Mục đích của những hành động độc ác này là để bẻ gẫy mọi sức chống cự của người thổ dân.
Theo Tiến sĩ Stasiuk, hình ảnh thường thấy nhất là cảnh đàn ông và con trai thổ dân bị bắt giữ, tay chân và cổ bị trói lại để áp tải  đến trạm cảnh sát gần nhất. Tàn nhẫn nhất là cảnh 40 người, gồm đàn ông và đàn bà, bị xiềng lại với nhau tại Bidyadanga và buộc phải đi bộ 700 cây số  về hướng Roebourne.
Các tù nhân thổ dân phải đối diện với một hệ thống pháp luật mà họ hoàn toàn không hiểu gì: không có đại diện hay trợ giúp pháp lý. Hơn nữa, là những người quanh năm ngày tháng chỉ biết sống trong nội địa, lần đầu tiên thấy sóng to gió lớn giữa biển khơi, hẳn phải sợ hãi.
Vào khoảng những năm 1880, số tù nhân được đưa ra Rottnest Island nhiều hơn bao giờ hết và điều kiện sống trên đảo dĩ nhiên cũng tồi tệ hơn. Tình trạng chật chội trong nhà tù dẫn đến đủ thứ bệnh tật. Một phòng nhỏ lẽ ra chỉ dành cho một người phải nhốt đến 10 người. Không có nhà vệ sinh, cũng chẳng có giường ngủ, sàn nhà toàn là bùn. Mùa Đông lại khắc nghiệt. Bệnh tật, nhất là cảm cúm và đậu mùa lây lan nhanh chóng. Có mùa Đông, số người chết lên đến 60 người. Giáo sư Len Collard thuộc Phân khoa Thổ dân học của trường Đại học Tây Úc giải thích rằng, trước khi người da trắng đến Úc Đại Lợi, người thổ dân không hề biết đến một số bệnh như cảm cúm, kiết lỵ hoặc những chứng bệnh khác.
Ký giả Kirsti Melville của đài ABC kể lại rằng hơn 100 năm sau, một người bạn của bà đã đến nghỉ tại một trong những khu nghỉ mát sang trọng nhất có tên là “The Rottnest Lodge”. Nửa đêm, người khách du lịch đã bị đánh thức vì một cơn ác mộng khủng khiếp: bà thấy máu chảy lai láng trên tường của phòng ngủ. Thì ra người khách du lịch này đã ngủ trong một phòng giam của nhà tù nổi tiếng dành cho thổ dân tại Rottnest Island.
Theo Giáo sư Len Collard, du khách không hề hay biết về nguồn gốc của khu nghỉ mát sang trọng này. Ông tự hỏi: tại sao chính quyền tiểu bang, giới chức địa phương tại Rottnest Island thiếu trách nhiệm đến độ  không chịu giải thích cho du khách biết về nguồn gốc của khu du lịch này?
Bên cạnh khu nghỉ mát là một bệnh viện cũ đã biến thành nhà xác. Đây là nơi đã từng giữ xác chết của hàng trăm tù nhân thổ dân. Ngày nay nhà này đã biến thành một nhà bếp  dành cho các nhân viên đang làm việc trên đảo. Liệu họ có bao giờ biết đến những điều khủng khiếp đã từng xảy ra ở đó không.
Đây chính là một trong những “nghịch cảnh” lớn nhất của Úc Đại Lợi: bên cạnh một bãi biển với cát trắng và làn nước trong vắt là một lịch sử vô hình và đen tối của những hành độc độc ác khó tưởng tượng được!
Giáo sư Stasiuk ngậm ngùi đưa ra nhận xét: “Trên khắp thế giới, đã có Hiroshima, Auschwitz, đài tưởng niệm 9/11 ở New York, Porth Arthur (Tasmania) để nhìn nhận rằng  những gì đã xảy ra trong quá khứ là khủng khiếp”. Nhưng Úc Đại Lợi vẫn chưa có được một đài tưởng niệm nào, ngay cả tại Rottnest Island để nhắc nhớ về một trong những trang sử đen tối nhất không những đối với người thổ dân, mà còn đối với người Úc nói chung nữa.
Giáo sư Stasiuk cho biết: 5 người bên phía mẹ của ông và 2 người bên phía cha ông đã từng bị giam giữ và chôn ở Rottnest Island. Ông đã kể lại chuyện này cho các con của ông. Rất tiếc là nhiều người không muốn nhìn nhận điều đó.
(theo: http://www.abc.net.au/news/2016-10-25/rottnest-island-black-prison-to-white-playground/)




Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2016

Trái tim rạn vỡ, trái tim rộng mở


Chu Thập
4.11.16

Một trong những điều khiến cho thế giới phải ngạc nhiên là mặc dù đang bị chiến tranh xâu xé như Iraq hoặc đã từng bị một chế độ quân phiệt cai trị bằng những chính sách hà khắc nhứt như Miến Điện, hai nước này lại là những nơi dân chúng tỏ ra quảng đại nhứt thế giới. Đây là kết quả của một cuộc khảo sát mới nhứt  về Chỉ số Trao tặng (CAF: World Giving Index 2016).
Cuộc khảo sát được thực hiện hồi tháng trước cho thấy cứ 10 người Iraq thì có 8 người đã giúp đỡ một người mà họ không hề quen biết. Một tỷ lệ tương tự  cũng được tìm thấy trong một nước khác đang chìm ngập trong máu lửa là Libya.
Theo cuộc khảo sát cũng được thực hiện cùng một thời kỳ tại Miến Điện, có đến 91 phần trăm dân chúng tại nước này đã hiến tặng tiền bạc cho các hoạt động từ thiện.
Người Mỹ cũng tiếp tục được xếp vào hàng ngũ những người quảng đại nhứt nhì thế giới. 63 phần trăm dân chúng Mỹ đã trao tặng tiền bạc và 73 phần trăm đã giúp đỡ người khác cách này hay cách khác.
Nhìn chung, liên tiếp trong 3 năm liền, người dân Miến Điện lúc nào cũng đứng đầu danh sách về sự trao tặng. So sánh giữa các lục địa, những người thực hiện cuộc khảo sát nói rằng Anh Quốc đứng đầu bảng tại Âu Châu, các Vương quốc Á rập Thống nhứt nổi bật nhứt tại Trung Đông. Còn tại Phi Châu, người dân Kenya được xem là những người quảng đại nhứt. Riêng Guatemala dẫn đầu tại Châu Mỹ La Tinh về sự trao tặng.
Nhưng theo cuộc khảo sát, đáng ca ngợi nhứt là hai nước Iraq và Libya. Mặc dù phải trải qua nhiều năm trong  xung đột và bạo động, người dân của hai nước này lại vô địch về sự tử tế đối với những người hoàn toàn không quen biết. Các phóng viên của Đài BBC đã không tỏ ra ngạc nhiên về kết quả của cuộc khảo sát trên đây tại hai nước này, bởi lẽ cả hai quốc gia này đều có những truyền thống lâu dài về sự hiếu khách đối với người lạ mặt.
Riêng phóng viên Rana Jawad của Đài BBC đặc trách về Bắc Phi cũng khẳng định rằng “người dân Libya có một truyền thống “tự bản chất” là quảng đại”. Theo phóng viên này, hơn 40 năm bị cai trị với bàn tay sắt của Gaddafi, hình ảnh của Libya bị bóp méo và lòng hiếu khách của người dân nước này bị nghi ngờ. Nhưng sau cuộc cách mạng, thế giới bên ngoài mới thấy được sự hiếu khách và lòng quảng đại của người Libya (http://www.bbc.com/news/world-asia-37762753).
Riêng tôi không ngạc nhiên chút nào khi bản tin của Đài BBC viết: “Trung Quốc được xem là quốc gia ít quảng đại nhứt”. Tôi không ngạc nhiên là bởi vì lòng quảng đại không thể tồn tại trong xã hội cộng sản. Người Trung Hoa cũng như mọi dân tộc trên trái đất này, tự bản chất, cũng là những con người quảng đại. Thời xa xưa, các nhà hiền triết của đất nước này luôn lấy “nhân nghĩa” làm đầu. Nhưng kể từ khi Mao Trạch Đông thực hiện điều được gọi là “Cuộc Cách mạng Văn hóa”, tất cả các bậc thánh hiền như Đức Khổng Tử đều bị mang ra đấu tố thì đương nhiên chuyện nhân nghĩa không thể có chỗ đứng trong Xã hội Cộng sản.
Cuộc khảo sát về Chỉ số Trao tặng không nhắc đến Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng nếu người Việt Nam xã hội chủ nghĩa có đứng mấp mé bên cạnh Trung Cộng về chỉ số trao tặng thì cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên. Trong cái xã hội mà hai tiếng “vô cảm” được xem là chính xác nhứt để mô tả  mối quan hệ giữa người với người thì hẳn sự quảng đại đã trở thành một ý niệm rất xa lạ. Chẳng thế mà mới đây khi, “lòng từ bi chợt đến bất ngờ”, một MC Phan Anh nào đó đã bỏ ra một số tiền túi rất lớn và kêu gọi quyên góp cho nạn nhân bão lụt ở Miền Trung, anh được tức khắc tán dương lên chín tầng mây vì chỉ trong một thời gian ngắn đã thu góp được vài chục tỷ bạc Việt Nam. Nhiều người trong nước đã có lý để gọi đây là một “hiện tượng kỳ lạ”, bởi vì lâu nay lòng quảng đại vốn đã bị người cộng sản làm cho hoàn toàn bị tê liệt nay bỗng trồi dậy một cách thật hào sảng.
Không ngạc nhiên về thứ hạng của Trung Cộng trong  Chỉ số Trao tặng, tôi cũng không ngạc nhiên tại sao người dân Miến Điện luôn đứng đầu danh sách thế giới về lòng quảng đại. Đây là một nước theo Phật Giáo. Những người thực hiện cuộc khảo sát về lòng quảng đại giải thích rằng tấm lòng rộng rãi của người Miến Điện phản ảnh giáo lý “Sangha Dana” của Phật Giáo Tiểu Thừa. Các tín đồ không những dâng cúng cho các vị tu sĩ mà cũng luôn tỏ ra quảng đại với mọi người. Dù cho mục đích của việc trao tặng có nhắm tới Niết Bàn hay phần thưởng trong cuộc sống mai hậu đi nữa, tấm lòng quảng đại của người dân lúc nào cũng là một đóng góp lớn lao cho việc xây dựng xã hội trần thế. Xã hội nào cũng sẽ lành mạnh và tốt đẹp khi con người biết đối xử tốt với nhau.
Ngày nay, người ta thường nói đến thời đại “hậu Kitô giáo” tại các nước Tây Phương. Nhà thờ và các nơi thờ phượng của các Giáo hội ngày càng trống vắng. Đó là sự thật không thể chối cãi được. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng con người Tây Phương lúc nào cũng quảng đại trong việc chia sẻ với người khác. Có thể họ không đến nhà thờ, nhưng lại sống cái cốt lõi của Kitô giáo là san sẻ và trao tặng cho người khác, nhứt là những người cần được giúp đỡ. Nói chung, Phật Giáo ở Á Đông, Hồi Giáo ở Trung Đông hay Kitô Giáo ở Tây Phương...tôn giáo nào cũng dạy con người ăn ngay ở lành, nghĩa là biết sống tử tế và quảng đại với mọi người. Tôn giáo nào cũng khơi gợi và vun xới tâm tình cao quý ấy nơi con người. Chối bỏ, bách hại, gạt bỏ tôn giáo ra khỏi xã hội, như người cộng sản vẫn tiếp tục chủ trương, cũng chính là muốn bứng ra khỏi lòng người một trong những đức tính cao quý nhứt là lòng quảng đại.
Thời đại này mà mới đây tôi còn đọc được một bản tin theo đó chính quyền tại Tỉnh Tân Cương tự trị bên Trung Quốc đã ban hành một luật mới cấm chỉ cha mẹ, các bậc phụ huynh không được “tổ chức, thúc đẩy con cái tham dự các sinh hoạt tôn giáo” (http://eglasie.mepasie.org/asie-du-nord-est/chine/2016-10-31-le-gouvernement-du-xinjiang-interdit-aux-parents-de-transmettre-leur-religion-a-leurs-enfants). Đây không phải là một hình thức bách hại tôn giáo là gì. Mặc dù Trung Quốc chính thức nhìn nhận tự do tôn giáo, trong thực tế cho tới nay quốc giáo của nước này cũng vẫn là ý thức hệ cộng sản và các tôn giáo, nếu không bị công khai bách hại, thì cũng bị hạn chế trong các sinh hoạt tôn giáo. Không lạ gì nếu Trung Cộng là nước ít quảng đại nhứt thế giới!
Ít quảng đại nhứt cho nên Trung Quốc cũng là nước đáng sợ nhứt. Vô cảm, thiếu quảng đại, con người đương nhiên cũng dễ tỏ ra hung hăng và dễ gây hấn. Đâu có lạ gì khi cả nước Trung Cộng đang đứng sau lưng đổ tể Tập Cận Bình để thò cái lưỡi bò ra liếm cả Biển Đông. Với sự phát triển bừa bãi, Trung Cộng đang là nước bị ô nhiễm và gây ô nhiễm nhứt thế giới. Dù cho nước này có ngày càng giàu mạnh và người dân nước này có sung túc đến đâu, nếu họ đứng chót trong bản Chỉ số Trao tặng, tôi vẫn nghi ngờ về tình trạng sức khỏe của họ. Cả thể xác lẫn tinh thần.
Một cuộc nghiên cứu do trường Đại học Michigan, Hoa Kỳ thực hiện hồi năm 2003 cho thấy những tác dụng tích cực của sự quảng đại đối với sức khỏe thể lý và tinh thần cũng như gia tăng tuổi thọ của con người. Trong một cuộc nghiên cứu khác cũng do trường đại học này thực hiện, các nhà nghiên cứu đã theo dõi sức khỏe của gần 3 ngàn người trong suốt 10 năm. Họ nhận thấy rằng những người thường xuyên làm việc thiện nguyện có nguy cơ tử vong thấp gấp hai lần so với những người không làm việc thiện nguyện. Thật vậy, lòng quảng đại có sức hạ giảm sự căng thẳng, tăng cường hệ thống miễn nhiễm và gia tăng ý thức về cuộc sống có mục đích. Do đó, lòng quảng đại cũng mang lại sự tự tin dẫn đến thành công trong cuộc sống.
Quảng đại là trao tặng. Nhưng dĩ nhiên, tiền bạc hay của cải vật chất không chỉ là những thứ duy nhứt để trao tặng. Trao tặng thời giờ, trao tặng tình bạn, trao tặng sự cảm thông, trao tặng một nụ cười...Trao tặng thiết yếu chính là trao tặng chính con người của mình. Mà nếu mỗi người, dù nghèo hèn đến đâu, cũng đều có một phẩm giá bất khả di nhượng và như vậy là có một giá trị nằm bên ngoài mọi thứ thước đo, thì có ai nghèo nàn đến độ không có gì để trao tặng cho người khác. 
Kinh nghiệm bản thân cũng luôn nhắc nhở tôi rằng trao tặng là vun xới lòng biết ơn. Sống là mang nợ. Chẳng có ai giàu có đến độ không mang nợ với người khác cách này hay cách khác. Chính vì vậy mà trao tặng chính là thể hiện lòng biết ơn và cũng khơi dậy lòng biết ơn nơi người khác. Trong xã hội, lòng quảng đại chết thì cũng kéo theo cái chết của lòng biết ơn. Tôi hiểu được tại sao trong xã hội Việt Nam dưới chế độ cộng sản hiện nay, hai chữ “cám ơn” đã hầu như tắt lịm trên môi miệng của rất nhiều người Việt Nam. Người Việt Nam xã hội chủ nghĩa không biết và cũng chẳng còn muốn thể hiện lòng biết ơn là bởi vì họ ít cảm nhận được sự quảng đại của người xung quanh. Quan hệ giữa người với người chỉ còn là một cuộc giành giựt, chen lấn, dẫm đạp lên nhau mà sống. Tôi thường có ý nghĩ ấy mỗi khi nhìn cảnh luồn lách của dòng xe hai bánh giữa đường phố.
Khốn khổ thì ở đâu cũng có. Nhưng tại sao ở Iraq , Libya và Miến Điện, vốn là những nước vẫn còn nghèo đói và bị xâu xé triền miên vì chiến tranh, người dân vẫn còn tỏ ra tử tế và quảng đại với những người xa lạ?
Sự quảng đại của người dân Iraq, Libya  và Miến Điện làm tôi nhớ đến ca từ trong ca khúc Cedarwood Road của ban U2 (https://www.youtube.com/watch?v=Svj0eqx90Y0). Bono, ca sĩ chính trong ban, trong ca khúc này đã đưa người nghe nhạc của anh trở về nơi anh đã lớn lên vào thập niên 1960-1970. Đây cũng là thời điểm xảy ra những cuộc nội chiến triền miên vì tôn giáo ở Ái nhĩ lan. Anh đã hát: “A heart that is broken is a heart that is open” (tạm dịch: Một trái tim rạn vỡ là một trái tim rộng mở). Chính giữa những tan vỡ của chiến tranh mà người nhạc sĩ tài ba này đã cảm nhận được tình bạn và tình người như anh đã hát: “And friendship once it’s won. It’s won...It’s won” (Và tình bạn đã từng lên ngôi).
Câu hát này gợi lên cho tôi ý tưởng: trao tặng thật sự là trao tặng  chính mình, chớ không chỉ  “bố thí” hay vất đi những thứ thừa mứa mình không cần dùng đến nữa. Trao tặng thật sự như vậy cũng có nghĩa là trao tặng cho đến lúc trái tim bị tổn thương hay rạn vỡ. Nhưng đó cũng là một trong những nghịch lý lớn nhứt trong cuộc sống: càng trao tặng và trao tặng cho đến lúc bị tổn thương, con người càng làm chủ được chính mình và càng cảm thấy được tự do và trưởng thành hơn.
Quảng đại là con đường vương giả để tiến đến trưởng thành!




Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016

Bình an trong từng bước đi



Chu Thập
23.04.13

Bước vào mùa thu ở Úc, tôi có cái thú mỗi sáng thức dậy, nhâm nhi ly cà phê nóng, đi dạo trong vườn và ngắm cảnh. Đây là những lúc tôi thực sự cảm thấy Úc là một đất nước thanh bình, một nơi đáng sống.
So với các nước văn minh tiến bộ khác, Úc chưa phải là một nước giàu. Nhưng cái cảm giác được sống trong một đất nước an toàn thì chắc chắn người dân Úc nào cũng cảm nhận được.
Giàu có nhưng không có an toàn là một điều bất hạnh. Đây là trường hợp của Trung Quốc. Nhiều chuyên gia cho rằng rất có thể vào năm 2016, tức chỉ còn 3 năm nữa, quốc gia cộng sản đông dân số nhứt thế giới này sẽ bóp còi qua mặt Hoa Kỳ để nắm giữ vị trí đệ nhứt cường quốc kinh tế thế giới. Kể từ khi mở cửa, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản Mao để chạy theo kinh tế thị trường, Trung Quốc đã thành công trong việc lấp đầy cái bụng đói của 1.3 tỷ dân. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn chưa tạo được cho người dân một cảm giác an toàn về phẩm chất của cuộc sống.
Trong một bài viết có tựa đề “The Poisoned Rice Bowl” (chén cơm tẩm thuốc độc), thông tín viên Hannah Beech đã viết trên tạp chí Time số ra ngày 22 tháng 4 vừa qua rằng một triệu phú kinh doanh về địa ốc tại Trung Quốc nói với bà rằng “tất cả bạn bè của ông đều đã có sẵn kế hoạch bỏ nước ra đi”. Lý do mà triệu phú này đưa ra thật đơn giản: “sống ở đây không còn an toàn nữa”.
Bà Beech đã đến sống tại Trung Quốc từ 3 năm nay. Những điều bà viết về Trung quốc thật ra chẳng có gì là mới mẻ cả. Trước hết là chuyện không khí ô nhiễm. Hầu như thành phố nào của Trung Quốc cũng đều bị bao phủ bởi một lớp khói mù. Mỗi năm có đến một triệu người Trung Quốc chết yểu vì không khí ô nhiễm. Học sinh đến trường phải mang khẩu trang và nhiều ngày không thể ra chơi ngoài trời. Bà Beech nói rằng ô nhiễm là chuyện “thường ngày ở huyện” đối với người Trung Quốc. Ở đâu người dân cũng than phiền về ô nhiễm đến độ tiếng Hoa đầu tiên mà đứa con trai 3 tuổi của bà học được là “ô nhiễm”.
Nguồn nước uống tại Trung Quốc thì khỏi nói. Dạo tháng 3 vừa qua, một trong những con sông chính cung cấp nước uống cho thành phố Thượng Hải đã bị tắc nghẽn bởi trên 16 ngàn xác heo chết. Cúm heo, cúm gà…có lẽ cúm gì cũng có thể xuất phát từ cái quốc gia mà sự phát triển không theo bất cứ một chuẩn mực vệ sinh và đạo đức nào cả.
Nhưng an toàn thực phẩm mới là điều đáng nói nhứt tại Trung Quốc. Bà Beech kể lại ngày nọ bà đi chợ ở Bắc Kinh. Thấy cam tươi bà định mua một ít. Nhưng người bán hàng thú nhận: cam vừa được nhuộm cho vàng. Tại Shandong, nơi sản xuất táo nổi tiếng của Trung Quốc, tác giả có dịp nói chuyện với một nông gia. Người này tiết lộ với bà rằng ông vừa mới hối lộ các viên chức địa phương để họ nhắm mắt làm ngơ trước những tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm. Ngay cả táo mà cũng nằm trên danh sách “đen”. Tác giả đã chơi chữ một cách mỉa mai khi dùng câu nói quen thuộc của người Tây phương: “An apple a day keeps the doctor away” để kết luận “Vậy thì chúng ta có thể ăn cái gì tại Trung Quốc để có thể không cần đến bác sĩ nữa?” Dĩ nhiên, đàng sau tình trạng không an toàn về thực phẩm và phẩm chất của cuộc sống nói chung, là lỗ hổng to lớn về đạo đức và nhân cách trong xã hội Trung Quốc ngày nay.
Trung Quốc không phải là một nơi an toàn để sống. Vậy thì đi đâu? Đương nhiên ai mà chẳng mơ được đến Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Đây là đất nước của ước mơ, đây là đất nước của cơ hội mà! Thú thật, có một dạo tôi cũng đã từng mơ được làm công dân của quốc gia giàu có và văn minh nhứt hành tinh này. Nhưng giờ đây, sau bao nhiêu vụ khủng bố và nhứt là bạo động chết người xảy ra liên tục tại Hoa kỳ, tôi thấy rõ ràng đây không phải là một nơi an toàn để sống nữa.
Trong những ngày vừa qua, sau vụ đánh bom của hai anh em Tamerland và Dzhokhar Tsarnaev tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, tôi không ngừng suy nghĩ về tình trạng bạo động trong xã hội Mỹ. Đây là một xã hội không an toàn vì bạo động có thể xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào.
Đâu là động lực đã thúc đẩy hai anh em Hồi giáo gốc Chechen này tự chế bom và cho nổ để giết người vô tội. Các ký giả và các nhà điều tra hẳn phải điên đầu trong việc xác định những động lực thúc đẩy vụ đánh bom. Phải chăng, hai anh em này đã phẫn nộ đối với quốc gia đã cưu mang họ? Phải chăng họ là những chiến sĩ của cuộc thánh chiến hồi giáo? Phải chăng họ có tâm lý bất ổn? Phải chăng họ đã chịu ảnh hưởng của những trò chơi điện tử? Phải chăng họ trở nên bạo động vì thất bại trong việc học hành?
Có nhiều động lực thúc đẩy hai người thanh niên này đặt bom sát hại người vô tội. Nhưng đâu là nguyên nhân đưa họ vào con đường bạo động khi họ lớn lên và được giáo dục trong xã hội Mỹ, có lẽ đây là câu hỏi cần được đặt ra hơn cả.
Tôi nghĩ đến một cách trả lời của tác giả Charles Colson (1931- 2012). Ông Colson đã từng là một cố vấn đặc biệt của cố tổng thống Richard Nixon. Có dính líu trong vụ “Watergate” và bị giam tù 7 tháng vì tội cản trở công lý, sau khi mãn tù, ông Colson đã gia nhập Kitô giáo và trở thành mục sư làm tuyên úy nhà tù. Là một diễn giả hùng biện,  đã từng nhận 15 bằng tiến sĩ danh dự và giải thưởng Templeton vì có công trong việc thăng tiến tôn giáo, ông đã viết trên 30 cuốn sách, mà phần lớn là những thu thập từ những bài nói chuyện của ông trên đài phát thanh. Trong một tuyển tập có tựa đề “Dance with deception” (Khiêu vũ với sự lừa dối) xuất bản năm 1993, ông Colson có kể lại một câu chuyện thật xảy ra trong một giờ toán tại một trường trung học ở Chicago. Buổi sáng hôm đó, thay vì học hình học, các học sinh được dạy cho một bài học đắt giá về bạo động.
Khi giáo sư đang thu bài làm, có hai học sinh không rõ từ đâu đi vào lớp. Hai cậu rút dao ra và tấn công một học sinh trong lớp. Chỉ trong giây lát, nạn nhân té xuống sàn nhà, mình mẩy đầy máu me. Chuyện thanh toán giữa các học sinh như thế rất thường xảy ra trong các trường học ở Mỹ.
Mục sư Colson cho biết: theo một cuộc nghiên cứu có tựa đề “National Education Goals” (những mục tiêu của nền giáo dục toàn quốc), có đến một phần ba học sinh lớp 8 không biết làm tính cộng khi đọc giá các món ăn trên thực đơn; một phần ba học sinh lớp 11 không thể viết được một đoạn văn cho đàng hoàng để nói về mình, chứ đừng nói đến chuyện lịch sử hay văn chương.
Nhưng ở lớp nào, học sinh Mỹ cũng đều rất giỏi về đánh lộn. Cuộc nghiên cứu nói trên cho thấy một tỷ lệ đáng báo động về tình trạng bạo động trong trường học. Vào thập niên 1990, cứ 5 học sinh lớp 12 thì có một em bị thương tích vì nạn bạo động trong trường. Trong nhiều trường hợp, những người tham gia vào cuộc bạo động có xử dụng vũ khí. Ngày nay, dường như rất nhiều học sinh Mỹ khi đến trường đều mang theo trong cặp dao nhọn, dao lam hay vỏ chai bia. Nhiều trường đã phải xử dụng kiểm soát an ninh khi học sinh vào trường.
Theo ông Colson, sở dĩ học sinh ngày càng bạo động và trường học phải gia tăng các biện pháp kỷ luật là vì tại Hoa kỳ quan niệm về quyền và quyền bính đã hoàn toàn thay đổi. Trước kia, theo cái nhìn truyền thống, trường học được xem như một cánh tay nối dài của gia đình: thày cô cũng có quyền trên học sinh như chính cha mẹ các em. Nhưng kể từ đầu thập niên 1960, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã đưa ra một loạt quyết định dành cho học sinh nhiều quyền như người trưởng thành. Chẳng hạn năm 1967, Tối Cao Pháp Viện đưa ra phán quyết rằng bất cứ trường nào muốn có biện pháp kỷ luật đối với một học sinh, trường đó cần phải thông báo và nhìn nhận quyền của học sinh được có luật sư bào chữa. Dĩ nhiên, phán quyết này giúp ngăn ngừa được một số lạm quyền của trường học, nhưng đồng thời lại cổ võ cho việc thả lỏng kỷ luật trong trường học. Các cuộc tranh tụng giữa học sinh và thày cô ngày càng nhiều. Và trong nhiều trường hợp, thày cô bị trói tay. Sợ bị lôi kéo vào những vụ kiện tụng tốn kém, các thày cô không dám áp dụng kỷ luật. Học sinh lúc nào cũng dám nói thẳng với thày cô: “thày cô không thể cho tôi nghỉ học đâu!”
Theo mục sư Colson, một khi trường học thả lỏng kỷ luật, không quan tâm đến việc dạy dỗ về những giá trị nhân bản nền tảng như phép lịch sự, sự tôn trọng phải có đối với người khác và nhứt là sự phân biệt giữa thiện và ác, giữa phải và trái thì dĩ nhiên học sinh có rơi vào con đường bạo động cũng là chuyện đương nhiên. Cuộc sống nào cũng có khó khăn và thách đố. Với những người được giáo dục để cư xử như một con người bình thường thì việc giải quyết các khó khăn và vấn đề trong cuộc sống luôn đòi hỏi phải có phấn đấu và hy sinh. Nhưng với những người không màng đến bất cứ một giá trị đạo đức và nhân bản nào thì bạo động là con đường duy nhứt để giải quyết vấn đề. Một cách cụ thể, cứ gặp bế tắc trong cuộc sống thì xách súng đến trường học, chợ búa hay chỗ đông người để bắn loạn xà ngầu, ai có chết cũng thây kệ! Cứ gặp thất bại thì cứ đổ lỗi cho người khác và gài bom để giết người, bất kể họ là ai!
Mahatma Gandhi (1869-1948), cha đẻ của chủ trương tranh đấu bất bạo động có nói: “Cội rễ của bạo động là: giàu có mà không làm việc, thụ hưởng mà không có lương tâm, có kiến thức mà thiếu nhân cách, buôn bán mà thiếu đạo đức, khoa học mà thiếu nhân tính, thờ phượng mà thiếu hy sinh, chính trị mà không có nguyên tắc”. Lẽ ra, các chính trị gia và các nhà giáo dục tại Hoa kỳ nên lấy những lời trên đây để nghiền ngẫm khi muốn giải quyết tận gốc rễ nạn bạo động trong xã hội. Khi xảy ra cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, chính phủ Hoa kỳ dưới thời tổng thống G.W Bush đã đáp trả theo nguyên tắc “mắt đền mắt răng thế răng”. Cuộc xâm lăng Iraq không những tốn kém, gây tổn thất về vật chất lẫn nhân mạng cho nhiều phía mà còn trở thành mảnh đất mầu mỡ cho phong trào Al Qaeda chiêu dụ thêm chiến sĩ. Cho đến nay cuộc truy lùng Al Qaeda cho đến tận sào huyệt ở Afghanistan cũng vẫn chưa thực sự tiêu diệt được phong trào khủng bố quốc tế. Sau vụ thảm sát tại trường tiểu học Sandy Hook, thành phố Newtown, tiểu bang Connecticut dạo tháng 12 năm ngoái, giải pháp được đưa ra  lại cũng là “lấy bạo động chống bạo động” bằng cách trang bị súng ống cho các trường học. Bao lâu cội rễ của bạo động trong xã hội chưa được nhận diện, thì có lẽ cuộc chiến chống bạo động tại Hoa kỳ còn lâu mới chấm dứt và đất nước này khó có thể trở thành một nơi an toàn để sống.
Liền sau cuộc đánh bom trong cuộc chạy việt dã tại thành phố Boston, tổng thống Barack Obama có lẽ đã nhìn ra vấn đề chăng khi ông đến tham dự một buổi lễ cầu nguyện liên tôn tại nhà thờ chính tòa Holy Cross ở Boston. Cùng với ông, các vị lãnh đạo tôn giáo đều nhấn mạnh đến sức mạnh của tình thương. Tình thương đã được thể hiện qua tình liên đới của người dân Boston liền sau cuộc khủng bố. Chỉ có tình thương mới có thể chiến thắng được bạo động. Có lẽ đó là sứ điệp mà bên kia thảm kịch đau thương, người Mỹ nào cũng đều có thể lắng nghe được.
Sự thịnh vượng giàu có và các tiện nghi vật chất không đương nhiên làm cho cuộc sống con người được an toàn. An toàn đích thực trong xã hội và trước tiên trong con người là khi con người cảm nhận được tình thương và thể hiện tình thương đối với mọi người xung quanh.
Tôi vẫn luôn tự nhủ phải sống như thế để trong từng bước đi, dù ở đâu và trong hoàn cảnh nào, cũng có thể cảm thấy an bình và an toàn.




Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016

Thái Lan và tội khi quân


4.11.16

Toàn dân Thái Lan đang thương khóc Quốc vương Bhumipol Adulyadei, người vừa băng hà hôm 13 tháng 10 vừa qua, hưởng thọ 88 tuổi. Với 70 năm trị vì, ông được xem là quốc vương có thời gian cai trị lâu nhất thế giới và dĩ nhiên cũng chi phối mọi khía cạnh trong cuộc sống của người dân Thái. Nhiều người tôn thờ ông gần như một vị thần. Trong  bản tin chính thức về sự băng hà của nhà vua được phổ biến trên tất cả mọi đài truyền hình tại Thái Lan loan báo rằng nhà vua đã “về trời”. Xuất hiện sau bản tin, Thủ tướng Thái Prayut Chan-o-cha, một tướng lãnh đã lên cầm quyền sau cuộc đảo chính hồi năm 2014, công bố một năm để tang cho nhà vua và yêu cầu người dân Thái ngưng mọi cuộc vui trong vòng 30 ngày.
Ngày hôm sau, long thể của Vua Bhumipol được di chuyển từ Bệnh viện Siriraj ở Thủ đô Bangkok về cung điện để được tẩm liệm theo nghi thức truyền thống của dân tộc. Dân chúng sắp hàng trong các đường phố, ngồi hàng giờ dưới nắng nóng để chờ đón xe chở thi thể nhà vua về cung điện. Với sắc phục màu đen, hầu như người dân Thái nào cũng bày tỏ sự thương khóc về sự ra đi của vị quốc vương kính yêu của họ. Nhưng trong khi đa số khóc thương một cách âm thầm lặng lẽ thì cũng không thiếu những thành phần cực đoan phẫn nộ và lên án tất cả những ai không bày tỏ sự thương tiếc một cách công khai và mãnh liệt như họ. Họ xem đó như một thái độ thiếu tôn trọng đối với nhà vua. Hầu như ngày nào cũng có những người muốn “kiếm chuyện” để tấn công những ai không có cùng một cung điệu thương khóc đối với nhà vua như họ.
Ngày 14 tháng 10 vừa qua, tức một ngày sau khi quốc vương Bhumipol băng hà, khi màn đêm vừa buông xuống, một đám đông giận dữ đã tập trung bên ngoài một tiệm buôn ở Phuket, một trung tâm du lịch nổi tiếng của Thái Lan. Mặc toàn màu đen, họ yêu cầu phải bắt giữ một người thanh niên đang có mặt trong cửa tiệm. Sở dĩ đám đông này muốn bắt giữ người thanh niên vì anh bị tố cáo đã phổ biến trên các trang mạng xã hội những lời lẽ bất kính đối với hoàng gia. Cảnh sát đã phải can thiệp để đám đông không ùa vào bên trong cửa tiệm. Cuộc giằng co giữa cảnh sát và đám đông đã kéo dài đến 3 giờ sáng. Bị tố cáo có hành vi phạm thượng đối với hoàng gia, người thanh niên chỉ được trả tự do vì không có chứng cớ rõ rệt. Những người tổ chức cuộc săn lùng những kẻ phạm tội khi quân không hài lòng với kết quả trên đây. Họ thề thốt sẽ không bỏ cuộc.
Theo luật “khi quân” hiện hành của Thái Lan, những người xúc phạm đến hoàng gia có thể bị phạt tù đến 15 năm. Năm 2015, bị truy tố về 6 tội phạm thượng một lúc, một người đàn ông phải đối diện với một bản án 60 năm tù. Sau khi người này đã nhận tội, bản án giảm xuống còn 30 năm. Luật chống khi quân bị nhiều người trong nước cũng như thế giới chỉ trích vì không được định nghĩa một cách chính xác và giải thích một cách mơ hồ. Những vụ xét xử lại không diễn ra một cách công khai.
Sau vụ Phuket, một chuyện tương tự cũng xảy ra tại tỉnh Phang Nga. Một đám đông “bảo hoàng hơn vua” đã bao vây một tiệm buôn và yêu cầu người con trai của người chủ tiệm phải xin lỗi vì người thanh niên đã có thái độ bất kính đối với nhà vua. Thật vậy, trên một trang mạng xã hội, người thanh niên này đã bình luận rằng việc thương khóc nhà vua vừa mới băng hà là thái quá. Người thanh niên tự hỏi là liệu người dân Thái có bày tỏ một sự thương khóc như thế đối với cha của họ không. Một lần nữa, cảnh sát phải can thiệp để giải tán đám đông.
Sau hai vụ trên đây, hàng loạt biến cố như thế cũng tiếp diễn tại nhiều nơi khác. Tại Koh Samui, một phụ nữ 43 tuổi bị tố cáo phỉ báng hoàng gia đã bị cảnh sát buộc phải phủ phục trước chân dung của nhà vua trước sự chứng kiến của một đám đông đầy phẫn nộ.
Tại Thủ đô Bangkok, một phụ nữ có tuổi đã bị hành khách xua đuổi khỏi một chuyến xe buýt vì bà bị tố cáo có thái độ bất kính đối với hoàng gia. Khi xuống xe, bà còn bị một kẻ qua lại tát cho một cú nẩy lửa. Khi cảnh sát và quân đội đến, người vừa tấn công người phụ nữ và hành khách trên chuyến xe buýt yêu cầu phải bắt giữ bà. Sau này, người ta mới biết người phụ nữ cao niên này mắc bệnh thần kinh.
Tại Chonburi, một đội dân phòng cũng săn đuổi một thanh niên vì người này đã phổ biến trên Facebook những lời lẽ xúc phạm đến hoàng gia. Đám dân phòng đã kéo người thanh niên ra khỏi nhà, đánh đập anh và buộc anh phải khấu đầu trước một bức chân dung của nhà vua rồi sau đó đá vào mặt anh.
Nhiều người Thái đã bày tỏ sự ủng hộ đối với những đám đông “bảo hoàng” trên đây. Họ đồng hóa hoàng gia với tinh thần dân tộc. Ái quốc là bày tỏ sự tôn kính đối với nhà vua và hoàng gia. Trên các trang mạng xã hội, nhiều người xúi dục đám đông tấn công những người phạm tội khi quân. Có người còn gợi ý nên đốt các cửa tiệm nào chứa chấp những người có thái độ bất kính đối với hoàng gia. Một số khác yêu cầu họ rời khỏi Thái Lan.
Sự đồng hóa tinh thần dân tộc với hoàng gia không phải là một não trạng chỉ mới phát sinh gần đây trong lịch sử Thái Lan.
6 tháng 10 vừa qua là ngày kỷ niệm 40 năm cuộc thảm sát sinh viên thuộc trường Đại học Thammasat. Đây là một trong những biến cố đen tối nhất trong lịch sử Thái Lan. Cuộc thảm sát đã diễn ra do có những tin đồn về thái độ bất kính của các sinh viên đối với hoàng gia. Được trang bị tận răng và được các nhóm bán quân sự bảo hoàng yểm trợ, lực lượng an ninh chính phủ đã tấn công và bao vây các phân khoa đại học trong khu lịch sử của Thủ đô Bangkok.
Theo các số liệu chính thức, cuộc tấn công đã làm cho 46 sinh viên thiệt mạng. Trong thực tế, số người bị sát hại lên đến hơn cả trăm người. Một số sinh viên bị bắn chết ngay trong các khu học xá; một số khác thoát thân nhờ nhảy xuống sông Chao Phraya bên cạnh, nhưng lại bị các lực lượng hải quân bắn chết. Một số khác nữa bị các toán dân phòng đánh chết khi họ tìm cách trốn chạy; thi thể của họ bị dày xéo và thiêu đốt. Kéo dài hàng giờ, cuộc thảm sát chỉ chấm dứt khi những đám mây đen tạo ra những trận mưa tầm tả.
Một trong những tấm hình ghi lại cuộc thảm sát cho thấy một sinh viên đã bị đánh đập, thi thể vô hồn của anh bị treo lên cây, chiếc cổ bị kéo dài ra. Một đám thanh niên và thiếu niên đứng nhìn với vẻ đắc thắng. Trên mặt họ nở ra nụ cười đầy hoan hỉ. Đối với nhiều người Thái, bức hình thô bỉ này đã trở thành một biểu tượng hùng hồn nói lên sự bạo động dưới bề mặt có vẻ yên lành của họ.
Bạo động thường xảy ra khi dân chúng tin rằng ý thức hệ chính thức của quốc gia là “Dân tộc, Tôn giáo và Nhà vua là một” bị đe dọa. Năm 2005, một người đàn ông bị bệnh thần kinh đã dùng búa đập phá một bức tượng Bà La Môn tại Đền thờ Erawan ở trung tâm thủ đô. Một đám côn đồ đã tấn công bệnh nhân và đánh đập ông đến chết.
Tinh thần dân tộc và óc bảo hoàng đã được phong trào “Áo Vàng” khai thác triệt để trong cuộc tranh đấu chống lại Thủ tướng Thaksin Shinawatra. Ông cựu thủ tướng này bị chỉ trích vì “bán đứng quốc gia” khi bán các cổ phần của gia đình ông trong công ty viễn thông Shin Corporation cho công ty Temasek Holdings có trụ sở tại Tân Gia Ba. Ông cũng bị tố cáo có thái độ bất kính đối với nhà vua. Quân đội đã chộp lấy cơ hội này để tiến hành đảo chính và lật đổ ông hồi năm 2006.
Sau đó, khi phong trào “Áo Đỏ” vốn ủng hộ ông Thaksin tổ chức xuống đường, họ liền bị chụp cho cái mũ chống hoàng gia. Tuy không có nền tảng, lời cáo buộc này đã được sử dụng tối đa để bôi nhọ phong trào “Áo Đỏ” và kêu gọi dân chúng tẩy chay họ.
Trong cái nhìn chung của nhiều người Thái, hoàng gia và tinh thần dân tộc gắn liền với nhau đến độ bất cứ ai không bảo hoàng đều bị xem như không phải là người Thái. Vì bị dán cho nhãn hiệu “không phải là người Thái”, những người đấu tranh trong phong trào “Áo Đỏ” đã bị đè bẹp. Đã có khoảng 90 người của phong trào này bị giết chết trong những cuộc hành quân của quân đội để giải tán các cuộc biểu tình của họ hồi năm 2010. Một số người bị một nhóm bắn sẻ bắn vào đầu. Những người không ủng hộ phong trào “Áo Đỏ” không biểu lộ bất cứ sự phẫn nộ nào.
Năm 2014, những người “bảo hoàng và ái quốc” đã tổ chức những cuộc biểu tình chống lại chính phủ của nữ Thủ tướng Yingluck Shinawatra. Chiếc “Áo Vàng” bảo hoàng được thay thế bằng chiếc áo “ái quốc” với ba màu đỏ, trắng và xanh. Phong trào này đưa ra những lời kêu gọi đồng hóa hoàng gia với tinh thần dân tộc. Cuộc đụng độ giữa phe “bảo hoàng & ái quốc” và những người bị chụp mũ “không phải là người Thái” đã khiến cho 28 người bị thiệt mạng.
Vua Bhumipol băng hà sau một thập niên đầy sóng gió và chia rẽ chính trị tại Thái Lan. Vai trò của hoàng gia và óc bảo hoàng tại đất nước được mệnh danh là “Thái bình” này là những khía cạnh quan trọng trong cuộc xung đột. Đây là một sự kiện mà người dân Thái không được phép thảo luận công khai. Không những vì luật chống khi quân, mà còn vì sự nhiệt tình của phe bảo hoàng.
Chính phủ quân phiệt luôn kiểm soát các nhóm dân phòng và cảnh cáo dân chúng không được phép tự động giải quyết các cuộc xung đột, mà phải trình báo lên chính quyền những hành vi chống lại hoàng gia. Tuy nhiên, chính phủ lại đưa ra những tín hiệu hoàn toàn trái ngược. Bộ trưởng Tư pháp xem ra bật đèn xanh cho đám côn đồ “tự phát” khi tuyên bố rằng bất cứ ai thóa mạ hoàng gia đều phải bị “xã hội” trừng trị. Ông cũng kêu gọi người Thái sống ở nước ngoài hãy xách nhiễu những người bị xem là có lập trường chống lại hoàng gia.
Lời lẽ mà những người bảo hoàng tung ra thật đáng lo ngại. Aum Neko là một người phụ nữ Thái hiện sống lưu vong tại Pháp. Trên các trang mạng xã hội, bà đã nhận được những lời đe dọa sẽ bị thủ tiêu bằng súng. Một nhóm bảo hoàng tự xưng là “Tổ chức thu dọn rác rưởi” đã tung ra lời kêu gọi hạ sát ông Neko. Vì an toàn, bà Neko đã phải rời bỏ nước Pháp.
Một băng hình được phổ biến trên Internet ghi lại hình ảnh của một người đàn ông đang lái xe, vừa thương khóc Quốc vương Bhumipol vừa đe dọa sẽ bắn giết bất cứ ai tỏ ra bất kính với nhà vua.
Cuộc xung đột chính trị đầy “màu sắc” tại Thái Lan trong 10 năm qua đã xé nát các quan hệ giữa các cộng đồng, bè bạn và ngay cả gia đình. Người Thái nhìn vào màu áo “ Đỏ” hay “Vàng”  để phân biệt bạn thù.
Với sự ra đi của nhà vua, màu đen của tang chế hiện đang bao phủ lên toàn xứ sở và nguồn cảm xúc đang dâng cao. Nhiều người lo sợ rằng đất nước “Thái bình” này sẽ sống lại những giờ phút đen tối nhất của họ.
(theo: http://thediplomat.com/2016/10/the-darker-side-of-thai-royalism)