Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2016

Hiểu để thương



Chu Thập
8.4.16
Văn phòng Hồng Thập Tự địa phương vừa gởi cho tôi một lá thơ để nhắc nhở tôi về một số cam kết mà tôi đã hứa tuân thủ trong tư cách là một “liên lạc viên” của “bà Tàu” hàng xóm của tôi.
“Bà Tàu” là tên mà tôi đặt cho người đàn bà Hong Kong ở cách nhà tôi hai căn. Tôi gọi bà là  “Bà Tàu” bởi vì bà  là người Hoa duy nhứt trong khu xóm. Khi mới dọn về đây, tôi xem bà chẳng khác nào một người đồng hương. Dù sao, xét về mầu da, văn hóa và ngay cả ngôn ngữ, hai bên cũng rất gần gũi với nhau. Gặp bà, thay vì “hello” tôi cũng “nị hảo” và xổ một vài câu quan thoại học lóm được trong sách tự học tiếng Hoa mà tôi nghĩ “bà Tàu” chẳng hiểu gì cả. Cuối cùng, dù cũng mũi tẹt da vàng, nhưng hai bên đành trao đổi với nhau bằng Anh Ngữ cho chắc ăn. Sự qua lại giữa hai bên cũng rất thân thiết. Bất cứ chuyện gì “bà Tàu” cũng có thể trút bầu tâm sự cho chúng tôi. Và đây mới là vấn đề.
Lúc đầu, tai của tôi còn nhậy cảm và tế nhị cho nên sẵn sàng làm cái sọt rác để “bà Tàu”có thể trút bất cứ rác rưởi nào cũng được. Nhưng thét rồi tôi mới khám phá ra một điều: “bà Tàu” là một người đàn bà không bình thường. Mỗi lần gặp nhau ngoài đường hoặc trao đổi qua điện thoại, tất cả những bực bội của bà đều xoay quanh ông phát thơ và những người hàng xóm mà bà gọi là bọn kỳ thị chủng tộc.
“Bà Tàu” là một người đàn bà không bình thường bởi vì cuộc sống của bà xem ra chẳng giống ai. Bà có 2 cậu con trai. Cả hai đều đã ngoài 30. Cả hai đều xuất hiện trong nhà mẹ mình như những bóng ma. Năm thì mười họa người con thứ mới về nhà một lần. Cậu âm thầm chiếm lấy cái nhà xe làm nơi tạm trú. Người con cả nghe đâu đã xong cao học về khoa học. Bất kể sáng tôi, nắng mưa, lúc nào anh cũng đeo kính mát. Lầm lũi, không chào hỏi ai là thái độ thường tình của anh.  “Bà Tàu” than phiền rằng hai người con trai của bà chẳng ai chịu học lái xe cả. Bà không giải thích lý do tại sao họ không chịu lái xe. Riêng bà có một chiếc xe Toyota mà tôi đoán không dưới 20 tuổi. Chiếc xe cũ kỹ, rĩ sét và đầy bụi hiện đang nằm án ngữ trên lối đi trước nhà. Bà đậu chiếc xe ở vị thế này như một thứ hàng rào để ngăn không cho ông phát thơ dẫm lên bãi cỏ trước nhà của bà. Với chiếc xe gắn máy 2 bánh, ông phát thơ thường tỉnh bơ leo lên bãi cỏ của bất cứ nhà nào để giao thơ. Gặp ngày mưa, chiếc xe 2 bánh tạo ra những đường cày xéo sâu trên bãi cỏ. Ai mà chẳng tức vì hành động vô tình này của người đưa thơ. Thành ra, cứ mỗi lần gặp tôi “bà Tàu” lại lôi chuyện ông phát thơ ra mà cằn nhằn. Cứ như tôi là một thẩm phán ở tòa án địa phương không bằng!
Nhưng từ chuyện ông phát thơ, “bà Tàu” lại lái sang thái độ kỳ thị chủng tộc của những người hàng xóm. Ông “cà thọt” ở sát nách nhà bà là một người đàn ông rất tử tế. Tên ông là James. Nhưng vì thấm nhiễm cái thứ ngôn ngữ đầy miệt thị của người Việt Nam đối với người tàn tật, cho nên thấy ông đi chân cao chân thấp, tôi bèn đặt cho ông cái tên gợi hình và dễ nhớ là “cà thọt”. Nhưng với tôi, ông James là người đàn ông niềm nở, nhiệt tình, vui vẻ và “dễ thương” nhứt trong khu xóm. Vậy mà không hiểu tại sao ông lại được “bà Tàu” dán lên người cái nhãn hiệu kỳ thị. Ngay cả người đàn bà độc thân ở trong căn nhà đối diện với nhà “bà Tàu” cũng được bà gom vào phạm trù kỳ thị.
Vì kỳ thị cho nên trong cái nhìn của “bà Tàu”, những người hàng xóm Úc có nuôi chó cứ tối tối thả chúng nó ra để tha hồ sang phóng uế trên bãi cỏ của bà. Sự tức tối của “bà Tàu” đã tích lũy thành một trái bom được cho nỗ tung vào ngày “Thứ Sáu Tuần Thánh”, tức tuần nghỉ lễ Phục sinh năm ngoái. Tôi vẫn nhớ mãi trận cãi vã to tiếng tưởng chỉ có ở Việt Nam. Hôm đó, người hàng xóm đối diện với nhà “bà Tàu” có khách ở xa đến thăm. Những người khách này mang theo vài cô cậu chó cưng. Tôi không rõ do người chủ lơ đễnh hoặc cố tình, mấy con chó nhỏ đã chạy sang trước bãi cỏ của “bà Tàu” và tỉnh bơ “đại tiện” lên cỏ. Không rõ “bà Tàu” đã khai chiến như thế nào mà phía bên kia cũng ăn miếng trả miếng không vừa. Cuối cùng thì “bà Tàu” đành đầu hàng: một phần vì ngôn ngữ hàng tôm hàng cá trong Anh ngữ của bà không đủ để ứng phó với các đối thủ to mồm hơn, một phần vì cô thân cô thế trong khu xóm này.
“Bà Tàu” là người cô độc và có lẽ cũng cô đơn nhứt trong khu xóm của tôi. Cách đây vài năm, bà đã được giải phẩu để cắt hột cườm trong mắt. Nhưng có lẽ cuộc giải phẩu không thành công mấy cho nên ngày nay, mặc dù đôi mắt vẫn còn đó, “bà Tàu” lúc nào cũng chống gậy và đi đứng lạng quạng như một người mù. Cộng với tình trạng khiếm thị, bà còn bị bệnh cao máu khiến đã có lần bà lên cơn và té ngã giữa đường. Tuy chưa thất thập như tôi, nhưng trông bà chẳng khác nào một cụ bà tám chín chục. Thành ra, do yêu cầu của bà, Hội Hồng Thập Tự mới cho nhân viên đến giúp đỡ bà trong một số dịch vụ cần thiết.
Cách đây một tháng, “bà Tàu” đã gọi điện thoại cho tôi và xin tôi đứng ra làm người liên lạc với Hội Hồng Thập Tự trong những trường hợp khẩn thiết. Trong lá thư gởi cho tôi, Hội Hồng Thập Tự đã nhắc lại một số trách nhiệm của tôi như: liên lạc với Hội khi xảy ra trường hợp khẩn thiết, thăm viếng “bà Tàu” khi được Hội yêu cầu và mỗi khi đi vắng lâu ngày phải cho Hội biết... Tôi thấy không có lý do gì để từ chối làm một liên lạc viên như thế. Lâu nay, vì thành kiến và vì sợ bị quấy rầy tôi đã tỏ ra quá lạnh nhạt với một người hàng xóm mà lẽ ra tôi phải tỏ ra ân cần hơn ai hết.
Nhìn lại mối quan hệ giữa “bà Tàu” và tôi, tôi thấy mình cũng có “vấn đề” khi nhìn về người khác. Tôi chỉ nghĩ về bà như một con người không bình thường, chỉ biết quấy rầy người khác và hoàn toàn không có khả năng để sống chung hòa bình với người khác. Sau khi đã nhận lời làm liên lạc viên với Hội Hồng Thập Tự, tôi mới rà soát lại cái nhìn, cách cư xử của mình đối với “bà Tàu” và nhận ra rằng đây là một con người đang đau khổ, cần được lắng nghe, nâng đỡ và ủi an hơn là xa lánh. Có lẽ nỗi  khổ tâm mà người đàn bà này đang trải qua đã bắt nguồn từ thảm cảnh gia đình. Bà đã có lần kể cho tôi nghe rằng chồng bà là một người Úc chính hiệu, rất thành đạt trong kinh doanh. Nhưng do nghiện rượu, cờ bạc, người chồng đã trở thành vũ phu. Cuối cùng, “bà Tàu” không còn chịu đựng được nữa cho nên mới đâm đơn ly dị. Nhưng có lẽ vết thương do bạo hành gia đình và cuộc chia tay không bao giờ lành cho nên “bà Tàu” mới trở thành một người đàn bà mà tôi chỉ biết dùng ba chữ “không bình thường” để mô tả. Tôi  nghĩ rằng trong ánh mắt của những người Úc trong khu xóm của tôi, “bà Tàu” cũng là một người không bình thường. Và từ đó, do một cuộc sống hôn nhân bất hạnh với một người đàn ông Úc mà bà nhìn đâu cũng cảm thấy bị kỳ thị chăng. Hoặc vì không hiểu rõ hoàn cảnh của bà mà những người Úc trong cái xóm nhỏ của tôi ngấm ngầm hoặc công khai có thái độ kỳ thị với bà chăng.
Riêng tôi, tự vấn lương tâm, tôi thấy mình thiếu sự cảm thông với người đàn bà đáng thương này. Tôi nghiệm ra một điều là trong cuộc sống, nếu tôi luôn có thái độ cảm thông thì tôi dễ có cái nhìn chấp nhận và bao dung về người khác hơn. Mới đây tôi đọc được một bài chia sẻ của nhà văn nữ Bùi Bích Hà trên cột báo thường xuyên của báo Người Việt. Tác giả nhắc đến một bài thuyết pháp của thiền sư Nhất Hạnh với chủ đề “Muốn Thương Phải Hiểu”. Tác giả viết: “Hiểu là cảm thông, là khả năng nhìn vào vị thế người khác để chấp nhận sự khác biệt vì nếu từ chối sự khác biệt ấy ví như bịt mũi không cho người ta thở, nhiều khi mình tắt thở theo vì ngột ngạt”.
Tôi thích hình ảnh được nhà văn Bùi Bích Hà sử dụng để giải thích về thái độ “bế quan tỏa cảng” không muốn chấp nhận sự khác biệt của người khác: từ chối sự khác biệt thì chẳng khác nào “bịt mũi không cho người ta thở mà nhiều khi mình tắt thở theo vì ngột ngạt”. Hình ảnh này không thể không làm tôi liên tưởng đến phản ứng của ông Fidel Castro, người đã cai trị bằng bàn tay sắt tại Cuba trong hơn nửa thế kỷ qua. Trong khi Tổng thống Barack Obama đã vượt qua được một đoạn đường lịch sử dài đến gần một thế kỷ để đến Cuba và tuyên bố: “Tôi đã đến đây để chôn vùi những tàn dư cuối cùng của chiến tranh lạnh ở Châu Mỹ. Tôi đến đây để mở rộng vòng tay hữu nghị với nhân dân Cuba” và bày tỏ hy vọng: “chúng ta có thể đi chung cuộc hành trình này như những người bạn và là hàng xóm và như gia đình với nhau” (x.bài diễn văn của Tổng thống Barack Obama tại Gran Teatro de la Havana hôm 22 tháng 3 vừa qua) thì một  người gần đất xa trời như ông Fidel Castro vẫn cố bám víu vào thứ vinh quang giả tạo của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa để khép lại cánh cửa của đối thoại, của cởi mở và dĩ nhiên của tương lai (x. http://dcvonline.net/2016/04/03/anh-ban-obama). Ông Castro vẫn tiếp tục giam mình trong ngôi tháp ngà ngột ngạt khó thở của ông khi ông từ chối mọi cuộc đối thoại với thế giới bên ngoài và nhứt là khi ông không muốn nhìn nhận những đọa đày khốn khổ trong thiên đàng cộng sản mà ông đã gây ra cho người dân Cuba trong suốt 60 năm qua.
Kinh nghiệm bản thân luôn nói với tôi rằng khi tôi biết ra khỏi vỏ ốc của mình để đến với người khác, để chấp nhận những khác biệt của người khác, để hiểu và cảm thông với người khác là lúc tôi mới thực sự có tự do. Nhưng dĩ nhiên đó là thứ tự do mà tôi thấy phải chiến đấu từng ngày mới có được.
Tôi có ý tưởng như thế khi đọc lại bài diễn văn của thủ tướng Đức, bà Angela Merkel, tại Quốc Hội Hoa Kỳ dạo cuối tháng 3 vừa qua. Trong bài diễn văn, nữ thủ tướng Đức nói đến tự do mà người dân Đông Đức như bà đã có được khi đứng lên đạp đổ bức tường ô nhục Bá Linh. Kết thúc bài diễn văn bà nói một câu đáng suy nghĩ: “Tự do không tự dưng mà có. Tự do chỉ có thể giành được bằng đấu tranh và tự do phải được bảo vệ từng ngày trong đời sống của chúng ta” (x.Việt Báo online 30/3/2016).
Thủ tướng Merkel nói đến tự do chính trị. Nhưng cuộc đấu tranh từng ngày để có tự do và để bảo vệ tự do cũng có giá trị cho cuộc sống nhân bản và tâm linh. Có biết cố gắng từng ngày để ra khỏi chính mình và đến với người khác con người mới thực sự có tự do.
Cám ơn “bà Tàu” người hàng xóm của tôi đã cho tôi được cơ hội tìm kiếm một thứ tự do như thế.





Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

Một nụ cười cho tôi sống một ngày



Chu Thập
22.5.12


Kể từ một tháng nay tôi “ghiền” chạy bộ. Mưa gió hay cảm thấy mệt mỏi đến đâu, tôi cũng đều cố gắng chạy. Sáng không chạy thì chiều cũng chạy. Phần thưởng dành cho tôi thật lớn: lượng đường trong máu của tôi đã xuống đến mức bình thường.
Cách đây ba năm, đọc kết quả thử máu của tôi, bác sĩ gia đình của tôi giữ tôi lại và bắt tôi nốc nguyên một ly nước đường. Hai tiếng đồng hồ sau tôi trở lại để thử máu. Sau khi coi kết quả, như một quan tòa, bác sĩ dõng dạc  “tuyên án”: ông bị tiểu đường lọai 2. Tôi thấy rụng rời tay chân. Nghĩ đến những người có đôi bàn chân tím ngắt hoặc bị cưa chân, cụt ngón hoặc bị mù lòa, tôi thấy như trời sắp đổ xuống trên tôi. 
Bác sĩ cho toa để tôi mua thuốc Diaformin và dụng cụ thử máu mỗi ngày. Thử máu thì tôi thử nhưng uống thuốc thì tôi gật đầu cho có lệ. Mua thuốc về, tôi cất kỹ trong tủ. Tôi đã có kế hoạch tự chữa bệnh của mình: kiêng cữ và tập thể dục. Đây là hai “liều thuốc” có sẵn trong tầm tay và chẳng tốn kém bao nhiêu mà lâu nay tôi xem thường. Thế là trong một tháng liền, tôi ăn uống theo đúng sách vở dành cho những người bị tiểu đường và tập thể dục mỗi ngày. Lượng đường trong máu của tôi đã xuống đến mức của một người bị tiểu đường được coi là “kiểm soát” một cách “rất tốt” (very good diabetic control). Đúng một tháng sau, tôi đi gặp bác sĩ và khoe thành tích của mình. Bác sĩ khen lấy khen để. Nhưng thói thường, sự tự mãn dễ làm cho con người vấp ngã. Tưởng mình đã thoát khỏi nguy biến, tôi bắt đầu lơ là trong việc kiêng cữ và tập thể dục và cũng chẳng thèm thử máu thường xuyên làm gì cho “tốn” máu.
Cách đây một tháng, tôi xin thử máu tổng quát và trở lại gặp bác sĩ. Lần này, khi bác sĩ cho xem kết quả thử máu, tôi mới tá hỏa tam tinh. Lượng đường trong máu của tôi lên cao chưa từng thấy. Bà bác sĩ trẻ người Tàu lại cho toa mua thuốc và nắm tay tôi dặn dò rất kỹ: ông phải uống thuốc! Bà còn trấn an tôi: có người uống thuốc ba lần một ngày có sao đâu!
Lần này thì tôi “vâng lời” bác sĩ và uống đúng ba ngày. Lượng đường có xuống, nhưng bù lại tôi phải chịu một số hiệu ứng phụ như chóng mặt, muốn mửa. Cứ tưởng suốt những năm tháng cuối đời phải lệ thuộc vào thuốc và sống trong tình trạng này tôi thấy lo. Tôi tự trách mình: không chịu kiêng cữ trong việc ăn uống và ngồi quá nhiều trước màn ảnh vi tính. Hình ảnh của cha tôi lại hiện về. Suốt một đời, cha tôi không hề biết đến một phòng mạch của bác sĩ hay bất cứ một viên thuốc Tây nào. Hết ra ruộng, cha tôi lại làm vườn và đi bộ. Mỗi ngày, sau bữa ăn chiều, ông uống ba viên thuốc lô hội (Aloe vera) mua trong tiệm thuốc Bắc. Sau 75, thiếu thốn mọi bề, vậy mà cha tôi cũng trở thành người thọ nhứt trong làng và qua đời ở tuổi 95.
Không biết có nhờ cha tôi phù hộ không mà trong những ngày xuống tinh thần nhứt vì biết mình bị tiểu đường, trong khi tìm hiểu về căn bệnh này, tôi đọc được trong tạp chí Reader’s Digest, ấn bản Úc châu, số ra tháng Tư vừa qua, một bài viết về “5 thực phẩm có thể cứu thế giới” (five foods that may save the world). Đứng hàng thứ hai trong 5 thực phẩm “cứu rỗi” này là trái khổ qua (người miền Bắc Việt nam gọi là mướp đắng. Trong Anh ngữ, trái này có tên là Bitter Melon). Trái khổ qua có chứa chất “charantin” có khả năng giúp tiếp nhận Insulin do tuyến tụy tiết ra và điều hòa lượng đường trong máu. Năm 2007, Bộ Y Tế của Phi luật tân đã công nhận dược tính trên đây của trái khổ qua và cho áp dụng vào việc chữa trị bệnh tiểu đường loại 2.
Như lênh đênh giữa biển khơi mà quơ được phao cứu hộ, tôi liền ngưng uống Diaformin và thử dùng trái khổ qua. Sẵn dịp một ông bạn tặng cho một mớ khổ qua loại cực kỳ đắng và trồng theo phương pháp tự nhiên, nghĩa là không dùng phân hóa học hay thúc cho mau lớn, tôi liền bắt tay vào việc tự chữa trị. Mỗi ngày tôi ăn sống nửa trái. Đắng cỡ nào tôi cũng rán nhai và nuốt. Ngoài ra tôi cũng tìm mua trà khổ qua để uống mỗi ngày thay nước.
Sau đúng 3 tuần lễ ăn và uống trà khổ qua, cộng với kiêng cữ và chạy bộ mỗi ngày, lượng đường của tôi đã xuống đến mức của một người không bị tiểu đường.
Tôi không biết yếu tố nào mang lại kết quả trên đây. Tôi tin ở phép lạ của trái khổ qua. Tôi cũng nhìn thấy hiệu quả của sự kiêng cữ. Nhưng phần thưởng lớn nhứt tôi lại gán cho một giờ chạy bộ mỗi ngày. Với tôi, chẳng có thuốc tiên nào có thể thay thế cho sự kiên trì vận động. Một giờ chạy bộ mỗi ngày cũng mang lại cho tôi một niềm vui đủ lớn để sống một ngày.
Người Úc trong vùng tôi ở rất thích thể dục. Bờ hồ gần nhà tôi có lẽ là nơi gặp gỡ nhộn nhịp nhứt vào buổi sáng và buổi chiều. Xung quanh bờ hồ sát gần mé nước với chu vi cũng đến cả hơn chục cây số có một con đường xi măng chỉ dành riêng cho người đi bộ và xe đạp. Một giờ chạy bộ với tốc độ vừa phải của một người đã “thấy đời xanh rêu” như tôi chỉ vừa đủ để chào hỏi chừng 2,3 chục người đi hoặc chạy bộ mỗi buổi sáng. Chỉ cần một cái gật đầu, một lời chào và nhứt là một nụ cười thôi cũng đủ cho tôi thấy muốn sống một ngày. Người Úc ở vùng tôi sống, ai cũng có thói quen chào hỏi người xa lạ. Hầu như ngày nào tôi cũng tính nhẩm: có đến 99 phần trăm những người tôi gặp khi chạy bộ đều dành cho tôi một câu chào hỏi, dĩ nhiên theo một công thức quen thuộc và hơn một nửa sẵn sàng nhoẻn miệng cười. Nhưng trong số những người tôi gặp mỗi ngày, cảm động nhứt vẫn là nụ cười của một cụ già ngày nào cũng ngồi chờ ở trạm xe buýt gần khu tôi ở. Tôi đoán có lẽ cụ là cư dân của khu “tự lo” (self care) trong viện dưỡng lão cũng gần nhà tôi. Ngày nào cũng vậy, hễ mỗi lần thấy tôi chạy qua trước mặt, cụ đều chào hỏi, kèm với một nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ và nhứt là đưa tay như ra hiệu khuyến khích tôi chạy cho khỏe. Tôi “ghiền” chạy bộ mỗi ngày có lẽ cũng vì nụ cười của cụ già này.
Tôi đọc được ở đâu đó một giai thoại về văn hào Pháp Antoine de Saint Exupéry. Ông từng là một phi công trong thời Đệ nhị thế chiến. Chính từ những năm tháng này mà ông đã viết ra truyện ngắn có tính tự thuật với tựa đề “Nụ cười” (Le sourire). Trong câu truyện, ông thuật lại việc ông bị quân Đức quốc xã bắt làm tù binh và bị đối xử một cách tàn bạo. Ông viết: “Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm quẹt. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một cai tù. Tôi gọi: “Xin lỗi, anh có lửa không?”...Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là một viên cai tù Phát xít nữa, mà chỉ còn là một con người. Anh ta hỏi tôi: “Anh có con chứ?” Tôi đáp: “Có” và lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình. Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhòa lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khóa và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười” (x. Hanoch McCarty, Short Stories to Warm the Heart).
Tôi vẫn luôn tâm niệm về những gì người ta thường viết về nụ cười. “Giá của một nụ cười rẻ hơn tiền điện, thế nhưng nụ cười tỏa sáng nhiều hơn hàng trăm bóng đèn. Không ai nghèo đến nỗi không thể nở nổi một nụ cười. Cũng chẳng ai đủ giàu để sống mà không cần đến nụ cười của người khác. Một nụ cười, vốn liếng tuy nhỏ bé nhưng lại sinh hoa lợi nhiều, nó làm giàu cho kẻ đón nhận nó mà không hề làm kẻ trao tặng phải nghèo đi. Ngược lại, có khi người ta sẽ còn mãi mãi ghi nhớ.
Không ai đủ giàu mà bỏ qua không nhận lấy một nụ cười. Nụ cười tạo được hạnh phúc trong gia đình. Nụ cười là dấu hiệu của nhân ái. Nụ cười đem lại sự can đảm cho người nản chí hoang mang.
Nếu có một lúc nào đó trong đời, bạn gặp một ai đó không cho bạn được một nụ cười như bạn đáng được nhận, thì bạn hãy quảng đại mà nở một nụ cười với người đó. Bởi lẽ không ai cần đến nụ cười cho bằng người không bao giờ biết cười” (khuyết danh).
Dĩ nhiên, cười cũng có 36 vạn cái cười khác nhau. Có cái cười phải trả bằng cái giá của cả một đế quốc như cái cười của nàng Bao Tự thời Đông Chu liệt quốc. Có cái cười của bạo chúa Nero khi cho nổi lửa đốt thành Lamã để có cái cớ bách hại các tín hữu Kitô tiên khởi...Gần đây, có cái cười chỉ có thể làm cho thế giới văn minh muốn nôn mửa đó là cái cười của những tên khủng bố người Nam Dương khi ra trước tòa để bị xét xử vì tội đặt bom sát hại những người vô tội.
Nhưng loại bỏ những cái cười ngạo nghễ, độc ác và điên cuồng ấy đi, người ta thấy nụ cười nào cũng đều là gạch nối tự nhiên giữa con người với nhau. Cười là muốn đi vào cái phần sâu thẳm nhứt của tâm hồn mà không gì có thể đạt tới được. Cười có sức tước đoạt mọi vũ khí tàn độc nhứt trong con người. Bên dưới cái vỏ ngụy tạo của mỗi người là một “cung thánh” bất khả xâm phạm. Đó là nơi duy nhứt để gặp gỡ nhau, liên kết với nhau bên kia ranh giới của hận thù, đố kỵ, sợ hãi hay chiến tranh. Chính nơi đây mà văn hào Saint Exupéry và người cai tù Phát xít đã gặp nhau và gặp nhau nhờ một nụ cười.
Tác giả Hanoch McCarty, khi bình về truyện ngắn “Nụ cười” của Saint Exupéry, đã nêu lên câu hỏi: “Tại sao chúng ta cười khi gặp một bé thơ?” Và tác giả đã trả lời: “Có lẽ vì chúng ta thấy được một tâm hồn tinh sạch không vướng mắc trong bất cứ một lớp vỏ bọc nào. Chúng ta biết và cảm thấy nụ cười của trẻ thơ là một nụ cười chân thực, không lừa dối và tâm hồn trẻ thơ trong chính chúng ta mỉm cười đáp trả một cách say sưa”.
Nụ cười chân thực luôn có tính lây lan.Thấy ai đó cười một cách chân thực, chúng ta không thể không cười đáp trả. Tôi thường nghĩ đến nụ cười của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng. Nhìn ngài, tôi mới hiểu được hình tượng của Phật Di Lặc. Tôi cho rằng với Phật Giáo, đời không chỉ là bể khổ. Đời cũng đáng để vui hưởng, để cười và để trao cho nhau nụ cười hơn là thù hận hay buồn phiền.
Nhìn nụ cười của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tự dưng tôi cũng muốn làm một phật tử.  Dĩ nhiên theo cách thế của tôi hay ít ra theo tinh thần của nhà lãnh đạo tinh thần này. Cuộc sống có quá nhiều phúc lành cần được vui vẻ đón nhận và chia sẻ với mọi người. Ngay cả bệnh tật, xét cho cùng, cũng là một phúc lành. Nhờ nó mà ta biết cảm thông với người khác hơn. Nhờ nó mà ta cũng biết cảm thông với bản thân hơn. Và dĩ nhiên, cũng nhờ nó mà ta được tôi luyện để biết mỉm cười với cuộc đời.





Thứ Hai, 11 tháng 4, 2016

Yemen: nội chiến và chiến tranh ủy nhiệm




8.4.16
Bên cạnh Syria, Iraq và Libya, Yemen hiện cũng đang trải qua một cuộc khủng hoảng trầm trọng ảnh hưởng không chỉ đến Trung Đông  mà  còn cả các nước Tây Phương nữa.
Cộng Hòa Yemen là một nước Á Rập nằm trong vùng Tây Á, giáp giới với Á Rập Saudi về hướng Bắc, Oman về hướng Đông, nhìn sang Biển Đỏ về hướng Tây. Ngoài ra, về phía Nam Yemen còn được bao bọc bởi Vịnh Aden và Biển Á Rập. Với diện tích trên 500 ngàn cây số vuông, Yemen được xem là quốc gia lớn thứ nhì trong vùng Vịnh Á Rập.
Mặc dù nằm ở ngã ba của Phi Châu, Trung Đông và Á Châu, Cộng Hòa Yemen là một quốc gia tương đối trẻ. Sau nhiều năm chém giết lẫn nhau, Cộng Hòa Yemen được thành lập sau khi Miền Nam theo chế độ Cộng sản và Miền Bắc Tự Do chấp nhận thống nhất với nhau vào năm 1990. Tuy nhiên, những mối căng thẳng giữa hai miền Nam Bắc vẫn tiếp diễn. Trong một cuộc nội chiến ngắn ngủi hồi năm 1994, một phong trào ly khai ở Miền Nam đã bị đánh bại. Hòa bình tưởng đã được tái lập cho quốc gia còn non trẻ này. Nhưng năm 2009, các căng thẳng lại tái phát khi quân đội chính phủ và các phiến quân được biết đến dưới tên “Houthi” đụng độ với nhau. Hàng trăm người bị thiệt mạng và trên 200 ngàn người phải đi lánh nạn. Năm 2011, cảm hứng từ cuộc cách mạng thường được mệnh danh là Mùa Xuân Á Rập tại Tunisia và Ai Cập, người dân Yemen đã xuống đường biểu tình một cách ôn hòa. Làn sóng nổi dậy đã buộc Tổng thống Ali Abdallah Saleh phải từ chức. Nhưng cũng kể từ đó, Cộng hòa còn non trẻ này lại rơi vào một cuộc khủng hoảng hầu như không có lối thoát. Cũng như Syria và Iraq hay Libya, Yemen đã biến thành một mảnh đất mầu mỡ cho các tổ chức khủng bố như Al-Qaeda và “Quốc gia Hồi giáo”. Sự quậy phá của hai tổ chức này đã làm gia tăng sự bất ổn của Yemen. Tình trạng bất ổn đã biến thành một cuộc nội chiến vào năm 2014. Mặc dù cho tới nay đã có nhiều sáng kiến hòa bình được cộng đồng thế giới đưa ra, cuộc nội chiến và cuộc chiến tranh ủy nhiệm vẫn tiếp diễn tại Yemen.
Với dân số trên dưới 25 triệu người, Yemen vẫn còn bị xếp vào hạng một trong những nước nghèo nhất thế giới. Dù vậy, về mặt chiến lược, cuộc khủng hoảng tại Yemen vẫn có những hệ lụy nghiêm trọng cho vùng Trung Đông và tình trạng an ninh của các nước Tây Phương.
Câu hỏi đầu tiên thường được nêu lên khi bàn về cuộc khủng hoảng hiện nay tại Yemen là: ai là những kẻ đang lâm chiến? Trong những tháng vừa qua, Cộng Hòa này đã rơi vào những cuộc xung đột giữa nhiều nhóm vũ trang khác nhau. Trước hết phải nói đến cuộc chiến giữa các lực lượng trung thành với tổng thống đang lưu vong  là ông Abdrabbuh Mansour Hadi và các lực lượng phiến quân Houthi. Dạo tháng Hai vừa qua, trước sức tấn công vũ bão của các phiến quân Houthi, Tổng thống Hadi đã bị buộc phải rời bỏ Thủ đô Sanaa.
Các lực lượng an ninh của Yemen cũng chia thành hai phe: một phe ủng hộ Tổng thống Hadi và một phe chạy theo các phiến quân Houthi và người tiền nhiệm của ông Hadi là ông Ali Abdullah Saleh. Hiện nay ông Saleh vẫn còn một ảnh hưởng lớn tại Yemen. Về phần mình, ông Hadi vẫn còn được hậu thuẫn bởi lực lượng dân quân và nhiều bộ lạc khác ở Miền Nam vốn có đa số dân theo Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni.
Nhưng cả tổng thống Hadi lẫn phiến quân Houthi đều là kẻ thù chung của chi nhánh khủng bố Al-Qaeda trong Vịnh Á Rập.
Cuối năm 2014, bức tranh của cuộc khủng hoảng tại Yemen lại càng phức tạp hơn khi xuất hiện tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo”. Trong cuộc tranh giành ảnh hưởng với chi nhánh khủng Al-Qaeda tại vùng Vịnh Á Rập, “Quốc gia Hồi giáo” đã tổ chức một loạt những vụ đánh bom tự sát tại Thủ đô Sanaa dạo tháng Ba năm 2015.
Tình hình Yemen lại càng thêm rắc rối hơn với sự can thiệp của nước ngoài. Cuối tháng Ba vừa qua, sau khi các lực lượng phiến quân tiến gần đến cứ địa của Tổng thống Hadi ở miền Nam là Aden, ông này lại yêu cầu quốc gia láng giềng là Á Rập Saudi can thiệp. Vương quốc Á Rập này liền thành lập một liên minh quân sự gồm có 5 nước trong vùng Vịnh Á Rập và một số  nước khác như Jordan, Ai Cập, Marocco và Sudan. Liên minh quân sự này đã mở nhiều cuộc không tập nhắm vào các căn cứ của phiến quân Houthi. Các cuộc oanh tạc đã không làm suy yếu các lực lượng Houthi, nhưng lại gây ra không biết bao nhiêu đau thương tang tóc  và đói khổ cho thường dân, nhất là trẻ con.
Cuộc khủng hoảng tại Yemen dĩ nhiên đã tạo ra nhiều căng thẳng tại Trung Đông. Nhưng các nước Tây Phương cũng lo ngại không kém khi nhìn thấy mối đe dọa của những cuộc tấn công do các tổ chức khủng bố xuất phát từ một Yemen bất ổn có thể tung ra.
Các cơ quan tình báo của các nước Tây Phương xem chi nhánh Al-Qaeda tại vùng Vịnh Á Rập là tổ chức khủng bố nguy hiểm nhất bởi vì chi nhánh này hiện đang nắm trong tay nhiều kỹ thuật tinh vi và có tầm nhắm rộng lớn trên thế giới. Với sự hợp tác của Tổng thống Hadi,  Hoa Kỳ đã từng mở các cuộc oanh kích, nhất là bằng máy bay không người lái, nhắm vào chi nhánh khủng bố Al-Qaeda tại Yemen. Nhưng trước bước tiến của các phiến quân Houthi, Hoa Kỳ đã cho ngưng các cuộc oanh tạc.
Cuộc chiến giữa các phiến quân Houthi và lực lượng của một chính phủ dân cử hợp pháp cũng làm nổi bật cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa hai quốc gia Hồi giáo thuộc hai hệ phái đang kình chống nhau là Iran theo hệ phái Shiite và Á Rập Saudi thuộc hệ phái Sunni. Ai cũng biết rằng Cộng hòa Hồi giáo Iran đang đứng sau lưng các phiến quân Houthi và Á Rập Saudi và các các quốc gia trong vùng Vịnh Á Rập đang ủng hộ Tổng thống Hadi thuộc hệ phái Sunni.
Sở dĩ về mặt chiến lược Yemen có một tầm quan trọng đặc biệt và lôi kéo nhiều nước vào cuộc xung đột là vì quốc gia này nằm trên eo biển có tên là Bab al-Mandab. Đây là hải lộ nối liền Biển Đỏ với Vịnh Aden và là con đường đi lại của nhiều chiếc tàu dầu  của thế giới. Ai Cập và Á Rập Saudi đều sợ rằng nếu các phiến quân Houthi cướp chính quyền tại Yemen thì việc giao thông trên eo biển này sẽ bị đe dọa.
Sau nhiều tháng bao vây, các phiến quân Houthi đã nắm được chính quyền. Dạo tháng Giêng vừa qua, nhóm phiến quân này đã tuyên bố sẽ giải tán quốc hội và loan báo kế hoạch thành lập quốc hội lâm thời và hội đồng chính phủ gồm 5 thành viên. Họ cho biết  hội đồng này sẽ cầm quyền trong vòng 2 năm. Hành động này của nhóm Houthi đã lắp đầy lỗ hổng chính trị kể từ khi Tổng thống Hadi bị quản thúc tại gia, thủ tướng và hội đồng nội các của chính phủ Hadi từ chức.
Nhưng vì các phiến quân Houthi là một sắc tộc thiểu số gồm những  người Hồi giáo thuộc hệ phái Shiite ở miền Bắc cho nên lời tuyên bố trên đây của họ đã không được các bộ lạc thuộc hệ phái Sunni ở miền Nam nhìn nhận. Yemen chỉ có thể rơi vào tình trạng rối ren hơn mà thôi.
Về phần mình, Tổng thống Hadi, vốn đã được cộng đồng thế giới nhìn nhận như nhà lãnh đạo chính thức của Yemen, đã trốn thoát khỏi tư gia  và hiện đang có mặt tại Aden. Ông đã tuyên bố Aden là thủ đô của Yemen.
Người Houthi hay còn gọi là Ansar Allah, tức “những người thuộc phe của Đấng Allah”, là những tín đồ Hồi giáo theo một chi nhánh của hệ phái Shiite có tên là Zaidi. Họ chiếm một phần ba dân số Yemen đã từng thống lĩnh tại Miền Bắc Yemen gần cả ngàn năm mãi cho đến năm 1962. Houthi là tên của lãnh tụ Hussein Badr al-Din al-Houthi. Ông này đã lãnh đạo những người Houthi trong cuộc nổi dậy đầu tiên hồi năm 2004. Mục đích của cuộc nổi dậy là để đòi hỏi nhiều quyền tự trị hơn cho tỉnh Saada, đồng thời bảo vệ truyền thống văn hóa và tôn giáo của người Houthi mà họ cho là những người Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni đang tìm cách xóa bỏ.
Cuối năm 2004, sau khi ông Houthi bị quân đội Yemen giết chết, gia đình ông đứng ra lãnh đạo liên tục 5 cuộc nổi dậy khác. Cuối cùng năm 2010, chính phủ Yemen đã phải ký kết một cuộc ngưng bắn với họ.
Một năm sau, tức năm 2011, những người Houthi đã liên kết với người dân Yemen trong các cuộc biểu tình ôn hòa để lật đổ Tổng thống Saleh. Nhưng họ đã lợi dụng tình trạng vô chính phủ để đứng lên nắm quyền cai trị tại tỉnh Saada và chiếm luôn tỉnh Amran. Sau đó, họ tham dự vào Hội nghị Đối thoại Toàn quốc mà kết quả đã buộc Tổng thống Hadi phải tuyên bố thành lập liên bang Yemen gồm 6 vùng. Tuy nhiên, người Houthi đã không chấp nhận kế hoạch này. Họ cho rằng một liên bang như thế sẽ làm cho họ suy yếu.
Nay người Houthi đã lên nắm quyền. Yemen lại càng rơi vào bất ổn hơn bao giờ hết. Thật ra, bất ổn gần như là tình trạng thường xuyên của quốc gia này. Trong gần như suốt thế kỷ 20 vừa qua, Yemen đã hiện hữu như hai nước riêng biệt : phía Bắc là Cộng hòa Á Rập Yemen và phía Nam là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Yemen theo chế độ Cộng sản. Năm 1990, hai nước đã đồng ý thống nhất và trở thành Cộng hòa Yemen. Tuy nhiên, người Miền Nam bắt đấu than phiền về việc chính phủ ở Sanaa phân biệt đối xử với họ. Một cuộc nội chiến đã bùng nổ vào năm 1994, nhưng đã không đảo lộn được tiến trình thống nhất của hai miền.
Bất ổn chính trị đã dẫn đến không biết bao nhiêu hệ lụy khác như chính phủ suy yếu, tham nhũng, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt và hạ tầng cơ sở tồi tệ. Đây là những nguyên nhân đã khiến cho Yemen trở thành quốc gia nghèo nhất tại Trung Đông.
Nạn thất nghiệp, thực phẩm khan hiếm, các dịch vụ xã hội giới hạn...đã khiến cho trên 10 triệu người Yemen luôn phải sống trong tình trạng  thiếu an toàn về thực phẩm.
Theo một bản phúc trình của cơ quan UNICEF (Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc), các cuộc dội bom xuống Yemen do Liên minh được Á Rập Saudi cầm đầu, đã gây ra không biết bao nhiêu thiệt hại cho người dân nước này. Bản phúc trình cho biết: những cuộc tấn công vào các trường học và bệnh viện cũng như việc từ chối không cho trợ giúp nhân đạo đối với trẻ em hiện vẫn đang tiếp diễn. Liên Hiệp Quốc đã kiểm chứng được 51 vụ tấn công vào các cơ sở giáo dục, 63 cơ sở y tế bị dội bom, các dịch vụ và hạ tầng cơ sở tại Yemen đã hầu như bị phá hủy hoàn toàn.
Cho tới nay, đã có gần 10 ngàn người bị thiệt mạng, trên 320 ngàn trẻ em đang chết đói. Cách đây một năm, ngay cả trước khi Á Rập Saudi thành lập Liên minh quân sự để không kích Yemen, Hoa Kỳ cũng đã từng dội bom xuống nước này. Vào thời điểm đó, Yemen đã được xếp vào hạng một trong những nước nghèo nhất thế giới. Nay các cuộc không kích của Liên minh quân sự do Á Rập Saudi lãnh đạo chỉ làm cho một đất nước vốn đã nghèo nàn thêm tồi tệ hơn mà thôi.  Bên cạnh đó là cuộc nội chiến khốc liệt giữa các phe phái trong nước. Tình trạng khốn khổ hiện nay của người dân Yemen, nhất là trẻ con, là một trong những cuộc khủng hoảng nhân đạo tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại.
(theo http://www.bbc.com/news/world-middle-east và www.mintpressnews.com/nearly-10000-people-killed-320000-children-starving-us-saudi-backed-bombing-yemen)


Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2016

Chúc mừng Phục Sinh



Chu Thập
1/4/16
Tuần qua, bên cạnh các vụ khủng bố làm rúng động cả thế giới, tôi đặc biệt chú ý đến 2 bản tin nhỏ.
Trước hết liên quan đến thủ tướng Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng, người vừa bị cuộc đấu đá trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đẩy ra bên rìa của quyền lực “cướp bóc”. Sở dĩ tôi chú ý đến ông này là vì mới đây ông đã lên lớp kêu gọi các đồng nghiệp của ông hãy “ráng làm người tử tế”. Theo tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, hôm thứ Bảy 26 tháng 3 vừa qua, khi chủ trì phiên họp nội các lần cuối cùng trước khi từ nhiệm, ông Nguyễn Tấn Dũng đã gởi lời cám ơn đến các cộng sự viên của mình, đồng thời chúc mừng các thành viên mới trong chính phủ, rồi lên tiếng khuyên nhủ: hãy “ráng làm công dân tốt, đảng viên tốt, ráng làm người tử tế, sống tử tế”. Theo Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, “trong đoạn thu âm được đăng tải trên báo chí trong nước, khi ông Dũng nói tới chữ “người tử tế” thì nhiều người tham dự cuộc họp đã bật cười”.
Các “đồng chí” của ông mà còn bật cười, huống chi là tôi. Lâu nay tôi vẫn nghi ngờ về trình độ trí thức của ông y tá vườn vô bưng khi chỉ mới 12 tuổi này. Vậy mà nhờ “học tại chức” ông lấy được cả bằng cử nhân và cao học về luật hay quản trị gì đó. Không hiểu sao cứ mỗi lần nghe ông trả lời phỏng vấn với báo chí nước ngoài thì trong tôi lại dấy lên mối nghi ngờ về trình độ học vấn của ông. Nhưng điều tôi nghi ngờ hơn cả về ông thủ tướng này chính là sự thành thật của ông. Hoặc là ông chẳng hiểu gì về những lời tuyên bố của mình hoặc ông là người trơ trẽn đến độ vừa tuyên bố một điều vừa hành động ngược lại tức khắc sau đó. Có lẽ Anh Ba Sàm, tức nhà báo mạng Nguyễn Hữu Vinh, người vừa bị ông Dũng ra lệnh bịt miệng và cho vào nhà đá chỉ vì thực thi một trong những quyền cơ bản nhứt của con người là được phát biểu ý kiến, hiểu được sự trí trá của ông hơn bất cứ người Việt Nam nào.
Có lẽ tôi hơi thiếu công bằng và khách quan khi nhận định về trình độ trí thức và đạo đức của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nay ông đã ngã ngựa. Tôi thấy mình cần xét lại cái nhìn về ông. Phải chăng khi quyền lực đã tuột khỏi tầm tay, khi thói lưu manh không còn hữu dụng nữa và nhứt là khi tuổi đời đã xế bóng, ông Dũng đã nhìn lại và hiểu được thế nào là tử tế và phải sống tử tế? Có điều tôi lấy làm tiếc là nếu hiểu thế nào là “tử tế”, tại sao ông Dũng không sống tử tế khi còn quyền trong tay để khi về vườn nếu có lên giọng giảng dạy thì không bị các “đồng chí” cười vào mặt. Chẳng lẽ ông Dũng chỉ có thể sống tử tế khi không còn quyền lực? Hay thực tế hơn, ông muốn người khác tử tế để đừng lôi ông ra tòa về những “thành tích” hại dân hại nước của ông? Như vậy ông Dũng có thực sự hiểu “tử tế” là gì không?
Lâu nay có thể ông Dũng đã để cho giây thần kinh và ý thức về sự tử tế hoàn toàn tê liệt. Nếu ông thật sự muốn lên lớp khuyên dạy về sự tử tế và muốn sống tử tế nhưng lại chẳng hiểu gì về sự tử tế, tôi đề nghị ông nên tìm một mẫu người tử tế cụ thể nào đó, chớ không phải cái thây chết trong lăng Ba Đình, để tập sống theo. Tôi nghĩ đến Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo của trên một tỷ tín đồ công giáo trên khắp thế giới. Đây là nội dung của bản tin nhỏ thứ hai trong tuần qua mà tôi cũng đã đặc biệt chú ý tới.
Theo Đài BBC, mới đây viện thăm dò dư luận Win/Gallup International đã thực hiện một cuộc khảo sát về cái nhìn của nhiều người trên khắp thế giới đối với  Đức Phanxicô. Cuộc thăm dò đã được thực hiện với trên 1000  người rải rác tại 64 quốc gia. Kết quả cuộc thăm dò cho thấy sau 3 năm ở cương vị lãnh đạo Giáo hội Công giáo, Đức Phanxicô không những được người công giáo, mà hơn một nửa số người theo đạo Tin Lành, người Do Thái và ngay cả người ngoài Kitô giáo đều dành cho ngài nhiều mỹ cảm hơn bất cứ nhà lãnh đạo nào trên thế giới hiện nay.
Theo Đài BBC, chủ tịch của viện thăm dò WIN/Gallup International, ông Jean Marc Leger cho biết: “Giáo hoàng Phanxicô là nhà lãnh đạo đã vượt lên trên cả chính tôn giáo của mình. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy một đa số rất lớn công dân trên thế giới thuộc các tôn giáo khác nhau và ở những vùng đất khác nhau đều có một cái nhìn tốt về Đức giáo hoàng (x. BBC, Chương trình Việt ngữ 24/3/2016).
Bản tin trên đây mách bảo với tôi rằng con người thời đại, dù có khô đạo đến đâu, vẫn trân quý và xem sự tử tế như một tư cách quan trọng mà bất cứ nhà lãnh đạo nào cũng phải có. Thật ra không chỉ các nhà lãnh đạo, mà bất cứ con người nào cũng chỉ được đánh giá dựa theo sự tử tế của người đó đối với người đồng loại.
Là một người công giáo, nhưng tôi chưa bao giờ “tôn thờ” bất cứ vị giáo hoàng nào. Với tôi giáo hoàng cũng chỉ là một con người như mọi người. Nhưng với riêng Đức Phanxicô thì tôi vẫn luôn nhìn lên như một mẫu gương sống động và cụ thể trước mắt để học biết thế nào là sống tử tế với người đồng loại. Dĩ nhiên, nhà lãnh đạo tối cao nào của Giáo hội Công giáo cũng đều là một mẫu người tử tế cả. Có vị giáo hoàng nào mà không rao giảng về tình thương, sự cảm thông và tha thứ. Nhưng trong khi các vị tiền nhiệm của ngài thường xuất hiện như những triết gia, thần học gia hay học giả uyên bác, thì Đức Phanxicô lại chọn thái độ khiêm tốn, cuộc sống đơn giản, sự cảm thông...làm kim chỉ nam cho cuộc sống và lời rao giảng của ngài. Một trong những cử chỉ của ngài mà tôi cho là biểu trưng của sự tử tế là việc ngài quỳ gối rửa chân và hôn chân trong nghi lễ của ngày mà Giáo hội Công giáo gọi là “Thứ Năm Tuần Thánh”. Đặc biệt năm nay ngài đã rửa và hôn chân không phải của những người được chọn lựa và xem đó như một vinh dự, mà là những người tỵ nạn ngoài Kitô Giáo. Họ là đại diện của những thành phần dễ bị quên lãng nhứt trong xã hội hiện nay.
Hằng năm, cứ đến mùa Lễ Phục Sinh, tôi vẫn luôn cố gắng đi tìm ý nghĩa của Phục Sinh đối với cuộc sống tại thế của tôi. Là một tín hữu Kitô, tôi tuyên xưng rằng Chúa Giêsu đã thực sự sống lại và trong niềm tin đó tôi cũng tin rằng con người cũng sẽ sống mãi khi thế giới này qua đi. Nhưng nỗi khắc khoải khôn nguôi của tôi vẫn là: một niềm tin như thế có mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống hiện nay của tôi không? Và năm nay, tôi đã tìm ra được ý nghĩa đó khi chiêm ngắm cử chỉ rửa và hôn chân của Đức Phanxicô.
Nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo đã lập lại cử chỉ của Chúa Giêsu trong bữa ăn cuối cùng với các môn đệ trước khi bị bắt và đem đi đóng đinh. Với tôi, Phục Sinh không chỉ diễn ra 3 ngày sau đó khi Chúa Giê Su sống lại và ra khỏi mồ, mà ngay chính trong giây phút Ngài làm cử chỉ khiêm tốn và phục vụ ấy. Kể từ giây phút ấy, một sức sống mới đã bừng dậy trong lòng các môn đệ của Ngài. Một cách nào đó mầm mống của Phục Sinh đã bắt đầu bừng lên nơi các môn đệ. Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu có lẽ sẽ vô nghĩa nếu không có cử chỉ ấy. Chính vì thế mà khi các tín hữu Kitô tiên khởi đã họp nhau thành Giáo Hội, thì cử chỉ đặc trưng của họ chính là phục vụ. Tựu trung, họ thâm tín rằng phục vụ và sống tử tế chính là tuyên xưng và để cho sức sống của Chúa Giêsu phục sinh được tiếp diễn qua chính con người của họ. Lịch sử của các bệnh viện tại các nước Tây Phương và hệ thống y tế hiện nay đã chứng minh điều đó.
Thời Đế quốc Lã Mã sau Công Nguyên đã chứng kiến nhiều thứ “ôn dịch”. Nhưng cũng chính trong giai đoạn đó mà con số các tín hữu Kitô gia tăng. Sở dĩ có sự kiện ngược đời ấy là vì, trong khi mọi người kể cả các y sĩ, bỏ trốn khỏi các đô thị, thì các tín hữu Kitô đã quyết định ở lại để chăm sóc cho các bệnh nhân bất luận họ thuộc tôn giáo nào. Sự kiện này đã khiến cho hoàng đế La Mã Julian (361-363) đã phải thốt lên với một viên cận thần của ông: “Trong khi những tên Galilê ngoại đạo (tức các tín hữu Ki Tô tiên khởi) không những chăm sóc cho người nghèo của họ, mà còn cả những người nghèo của chúng ta, thì ai mà chẳng thấy rằng người của chúng ta thiếu tinh thần phục vụ”.
Nhìn chung, trong hàng bao thế kỷ qua, đi tiên phong trong việc phục vụ người nghèo, chăm sóc các bệnh nhân, nhứt là những thứ bệnh nan y như lao, phung cùi và liệt kháng...vẫn là các tu sĩ công giáo và những người đã được thúc đẩy vì lý tưởng phục vụ của Kitô giáo.
Ngày nay, muốn hay không, có lẽ cũng khó chối bỏ được tinh thần phục vụ hy sinh nơi những người tin và sống tinh thần Phục Sinh. Chẳng hạn năm 2014, khi bùng nổ dịch bệnh Ebola tại Phi Châu, một giáo sư tự xưng là vô thần như ông Brian Palmer hiện đang giảng dạy tại Đại học Uppsala, Thụy Điển cũng đành phải thú nhận rằng phần lớn những người dấn thân phục vụ các bệnh nhân vẫn là các bác sĩ thiện nguyện trong các tổ chức từ thiện của Kitô giáo.
Thật ra, không riêng Kitô giáo, mà dường như bất cứ tôn giáo nào cũng xem từ thiện, phục vụ, hy sinh và sống tử tế với người đồng loại như cốt lõi của đạo mình. Nhưng đối với các tín hữu Kitô, phục vụ và sống tử tế được xem như thể hiện của chính sức sống Phục Sinh. Với họ, tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh trước hết có nghĩa là phục vụ, hy sinh, nghĩa là sống tử tế với người đồng loại của mình.
Phục Sinh luôn hàm ý sự đổi mới. Sống tự nó là đổi mới. Triết gia Hy Lạp Parmenides (510 trước Công Nguyên) đã từng nói rằng “không ai tắm trong cùng một dòng sông đến hai lần”. Ông ngụ ý rằng cuộc sống không ngừng thay đổi. Cơ thể con người luôn thay da đổi thịt. Cuộc sống tinh thần cũng vậy. Cần phải đổi mới không ngừng. Tôn Trung Sơn (1866-1925), nhà cách mạng tiên phong vĩ đại của Trung Quốc khi mới 17 tuổi đã cảm hứng từ câu “Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” trong sách Đại Học để lấy hiệu là “Nhật Tân”. Cụ Phan Bội Châu (1867-1940), trong bài thơ “Chúc Tết Thanh Niên” cũng kết luận: “Chữ rằng: nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân”. Các nhà cách mạng lớn của nhân loại đều xem sự đổi mới bản thân từng ngày là điều quan trọng.
Tôi cũng suy nghĩ về sự Phục Sinh theo chiều hướng đổi mới ấy. Và đổi mới thực sự chính là quyết tâm sống tử tế hàng ngày với mọi người. Trong ý nghĩa ấy,  tôi thấy cần phải mỗi ngày lập lại với chính mình câu “chúc mừng Phục Sinh” để tự nhắc nhở mình phải luôn cư xử tử tế mỗi ngày và với mọi người, nhứt là những người thân quen gần gũi với mình trong gia đình.






Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016

Ác mộng triền miên




Chu Thập
24.4.12



Tháng Tư có nhiều cuộc tưởng niệm buồn thảm.
Ngày 14/4/12 vừa qua, thế giới đã tưởng niệm đúng 100 năm ngày chiếc tàu vĩ đại Titanic của Anh quốc đắm chìm ở ngoài khơi đại Tây dương khiến cho 1496 người trong số 2208 người gồm thủ thủy đoàn và hành khách thiệt mạng. Lịch sử sẽ không bao giờ quên thảm kịch đau thương này.
Nhưng trong lịch sử nhân loại, có lẽ không có biến cố đau thương nào đáng ghi nhớ cho bằng cuộc tế sát 6 triệu người Do thái do Đức quốc xã chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế chiến. Năm 2005, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã quyết định lấy ngày 27 tháng Giêng, tức ngày trại tập trung Đức quốc xã Auschwitz-Birkenau được giải thoát, làm ngày Thế giới tưởng niệm 6 triệu người Do thái bị Đức quốc xã tàn sát. Trong ngày này, mỗi quốc gia thành viên của Liên hiệp quốc đều buộc phải tôn vinh các nạn nhân Đức quốc xã và phát huy những chương trình giáo dục nhằm ngăn ngừa những cuộc diệt chủng trong tương lai. Riêng tại Hoa kỳ, ngoài ngày 27 tháng Giêng, Quốc hội nước này còn quyết định thành lập Bảo tàng viện tưởng niệm và lấy nguyên một tuần lễ từ ngày 15 đến 22 tháng 4 vừa qua để tưởng niệm các nạn nhân.
Với người Úc thì dĩ nhiên, ngày 25 tháng 4 hàng năm, tức ngày Anzac, hẳn phải là ngày tưởng niệm quan trọng và có ý nghĩa nhứt trong năm. Ngoài những nghi thức tưởng niệm vào lúc hừng đông tại Úc đại lợi, nhiều người Úc còn sang tận Gallipoli, Thổ Nhĩ Kỳ, để truy điệu trên 8.500 chiến sĩ đã bỏ mình tại đây trong thời kỳ Đệ nhứt Thế chiến.
Riêng với người Việt nam đang sống rải rác trên khắp thế giới, tháng Tư hàng năm vẫn mãi mãi là “Tháng Tư Đen”. Đây là một cuộc tưởng niệm không giống bất cứ một cuộc tưởng niệm nào.
Khi thế giới tưởng niệm 100 năm ngày chiếc tàu Titanic đắm chìm, người ta chẳng còn gặp được bất cứ một nhân chứng sống nào: người sống sót cuối cùng trong vụ đắm tàu Titanic là bà Milvina Dean, đã qua đời hồi năm 2009, hưởng thọ 97 tuổi. Tất cả những người có mặt tại hải cảng Southampton, Anh quốc, hôm 14 tháng 4 vừa qua để tưởng niệm các nạn nhân chỉ là hậu duệ, con cháu xa gần của các nạn nhân mà thôi.
Dù cuộc sát tế 6 triệu người Do thái do Đức quốc xã chủ xướng trong thời Đệ nhị thế chiến có tàn bạo, độc ác, dã man ngoài sức tưởng tượng của con người đi nữa, biến cố ấy cũng đã thuộc về lịch sử. Ngoài ra, chỉ vài năm sau biến cố, công lý cũng đã được trả lại cho các nạn nhân: Đồ tể Hitler đã tự mình kết liễu mạng sống, tay chân bộ hạ của ông, dù có trốn ở tận chân trời góc biển nào cũng bị truy lùng và đưa ra trước công lý, chủ nghĩa Đức quốc xã chỉ còn là một ý thức hệ mơ hồ đối với phần lớn nhân loại. Các nạn nhân cũng ngậm cười nơi chín suối, mà những người còn sống sót hay con cháu của họ cũng hả dạ, thế giới cũng mãn nguyện vì một chủ nghĩa đồi bại đã cáo chung và bóng ma của những cuộc diệt chủng cũng đã được đẩy lui.
Có những biến cố đã thuộc về lịch sử. Hiện nay, ngày Anzac, đối với người Úc, cũng chỉ là một cuộc tưởng niệm về một biến cố hoàn toàn thuộc về lịch sử: người lính chiến và chứng nhân cuối cùng của trận đổ bộ lên Gallipoli là ông Ted Matthews đã qua đời ngày 11 tháng 12  năm 1997, hưởng thọ 101 tuổi.
Nhưng với người Việt nam, cuộc tưởng niệm tháng Tư Đen không chỉ đơn thuần là một cuộc tưởng niệm về một biến cố lịch sử. Dĩ nhiên, trong tháng Tư Đen, chúng ta truy điệu các chiến sĩ đã bỏ mình vì tổ quốc, chúng ta tưởng niệm các nạn nhân của chiến cuộc, chúng ta nhớ đến vô số những người đã và đang chết tức tưởi trong lao tù cộng sản hay bỏ mình giữa biển khơi trong cuộc vượt biển, vượt biên tìm tự do. Chúng ta cũng không quên bao nhiêu đồng bào ruột thịt đang quằn quại dưới ách cai trị độc tài, khát máu, vô nhân đạo của những người cộng sản...Chúng ta không chỉ tưởng niệm. Chúng ta đang sống một biến cố “đen tối” kéo dài từ tháng Tư năm 1975 cho đến ngày hôm nay. Tháng Tư đen không chỉ diễn ra trong một tháng mà là 37 năm kể từ ngày mất nước. Đó là một cơn ác mộng triền miên. Nói theo nhà thơ Thanh Nam:
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư!
Bao lâu những người cộng sản Việt nam vẫn còn đó, thì tháng Tư Đen vẫn mãi mãi là một tháng Tư buồn thảm đối với người Việt tỵ nạn và rất nhiều người trong nước. Ông Võ văn Kiệt nói đến ngày 30 tháng 4 như một biến cố trong đó có “triệu người vui mà cũng có triệu người buồn”. Tôi không nghĩ rằng có sự cân bằng trong con số kẻ vui người buồn này. Nếu chỉ có hai triệu đảng viên cộng sản Việt nam và một thiểu số nhỏ theo đóm ăn tàn vui có “ngày vui đại thắng” thì hầu như gần 80 triệu người Việt nam đã và vẫn tiếp tục đau buồn vì tháng Tư Đen ấy. Tôi hiểu được tại sao trong những ngày vừa qua, MC Nguyễn Ngọc Ngạn đã phải “lãnh búa” tơi bời vì tham gia tổ chức đại nhạc hội Thúy Nga Paris tại Berlin, Đức vào chính những ngày cuối tháng Tư này. Có uốn năm bảy tấc lưỡi, thanh minh thanh nga thế nào thì cũng không thể biện minh cho một cuộc vui tổ chức ngay vào “ngày giỗ” của đất nước.
Không buồn và khắc khoải sao được khi cái chủ nghĩa vô nhân đạo ấy đã bị khai tử ngay tại cái nôi sinh ra nó và bị thế giới quăng vào hố rác của lịch sử thì trên quê hương, tên tội đồ dân tộc vẫn còn được tôn thờ trong lăng tẩm, những tên cướp ngày vẫn tiếp tục cai trị đất nước bằng bàn tay sắt.
Không buồn sao được khi ngày nay, cứ nhắc đến Việt nam thì thế giới chỉ nói đến những “kỷ lục” tồi tệ nhứt. Kể từ khi Miến Điện trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi và hàng ngàn tù nhân chính trị cũng như cố gắng  thoát khỏi vòng kìm tỏa của Trung Cộng để xích lại gần với thế giới Tây Phương, thì Việt nam lại lên ngôi để trở thành quốc gia độc tài hà khắc nhứt Đông Nam Á.
Không buồn sao được khi mức sống của người Việt nam hiện nay bị xem là thấp kém nhứt so với các nước Đông nam á khác. Chính báo Lao Động trong số ra ngày 5 tháng 4 vừa qua cũng phải “giật mình với thu nhập đầu người của Việt nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore”.
Không buồn sao được khi đọc được toàn những “thành tích kinh dị” của Việt nam khiến cả thế giới phải “giật mình” như: tỷ lệ trẻ em chết đuối ở Việt nam cao nhứt khu vực Đông Nam Á (cứ mỗi ngày lại có 10 trẻ em tử vong vì chết đuổi ở độ tuổi từ 7 đến 15); theo Tổ chức Y tế Thế giới, Việt nam là quốc gia có số tai nạn giao thông cao nhứt thế giới: mỗi ngày trung bình có 31 người chết vì tai nạn (cách đây mấy hôm, xem trên Đài SBS cái cảnh một anh công an áo vàng của Việt nam đu vào đầu một chiếc xe buýt vì người tài xế không chịu trình giấy tờ, tôi cứ tưởng như phim Charlot, cười và xấu hổ đến muốn độn thổ); Việt nam được xếp vào hạng 10 nước có không khí bẩn nhứt thế giới; Việt nam có tỷ lệ nạo phá thai cao nhứt thế giới và dĩ nhiên Việt nam cũng đứng đầu thế giới về tỷ lệ vào Internet để “truy cập” các tài liệu về khiêu dâm... Ngày nay, cứ nói đến Việt nam thì người ta chỉ giới thiệu những hình ảnh “cực độc” chỉ có ở Việt nam. Việt nam không những tranh đua để được có tên trong sách Guiness, mà cũng muốn đứng đầu thế giới về những thành tích bất hảo và tồi tệ nhứt. Thực là hết thuốc chữa! Tôi vốn không quen văng tục. Nhưng cứ mỗi lần nghe mấy ông cộng sản Việt nam lên tiếng biện minh cho tình trạng tụt hậu về mọi mặt của Việt nam thì tôi lại thấy ngứa miệng muốn bắt chước nhà viết Blogger Nguyễn Quang Lập trong nước. Tác giả đề cập đến một trong những chuyện nhức nhối hiện nay tại Việt nam là nạn các quan chức cướp đất của dân chúng. Nhưng ông quan chức Tổng Thanh Tra của Việt nam thì lại cho rằng “một số địa phương “chưa” tập trung giải quyết tới nơi tới chốn, còn né tránh đùn đẩy nên người dân bức xúc. Một số trường hợp còn kết luận không chính xác nên dân không đồng tình”. Tức đến trào máu trước cái cảnh bất công và lối chạy tội huề vốn này của ông Tổng Thanh Tra, tác giả Nguyễn Quang Lập thét lên: “Cái gì cũng chưa...chưa...chưa ...Muốn văng tục một câu cho bõ tức: “chưa cái con c...” (x.Đàn Chim Việt online 19/4/2012)
Nhiều lúc tôi cũng chỉ biết chửi đổng cho hả giận mỗi khi nghe mấy ông cộng sản Việt nam, nhứt là mấy ông đang ở chóp bu của quyền lực, phát biểu. Chẳng hạn như trong chuyến viếng thăm Cuba hôm 9 tháng 4 vừa qua, Tổng  bí thư Đảng cộng sản Việt nam, ông Nguyễn Phú Trọng, đã “giảng bài” về mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt nam. Với tận cùng của vô liêm sỉ, ông Nguyễn phú Trọng khẳng định với các “đồng chí” nghèo nàn khốn khổ Cuba rằng đi lên chủ nghĩa xã hội là “khát vọng của nhân dân (Việt nam), là “lựa chọn đúng đắn của Đảng” và “phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Vẫn như con vẹt, người đứng ở đỉnh cao quyền lực của Việt nam giải thích rằng “những thành tựu đổi mới tại Việt nam đã chứng minh rằng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế” (x.Đàn Chim Việt online 10/4/2012).
Nghe ông Trọng thuyết giảng như một kẻ nói xàm, rồi nhìn vào cái cảnh “con ông cháu cha” ở Việt nam hiện nay, tức đến ói máu được. Chuyện con cái ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việt nam, được gởi đi du học nước ngoài (dĩ nhiên bằng đồng tiền bóc lột và hút máu của dân chúng) để rồi về nước được cất nhắc vào những chức vụ quan trọng trong guồng máy cai trị, tưởng là luật trừ. Thật ra, chẳng có cái chế độ nào trong đó nguyên tắc “con vua làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa” được áp dụng triệt để cho bằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt nam. Mới nhứt có cô con gái của Ủy viên Bộ chính trị Tô Huy Rứa là cô Tô Linh Hương, mới có 24 tuổi, đã được đưa lên làm chủ tịch hội đồng quản trị Công ty xây dựng quốc doanh Vinaconex PVC.
30 tháng 4 hàng năm, cũng như bình luận gia Nguyễn Xuân Nghĩa, tôi phải thú nhận “không tham gia bất cứ một tổ chức đấu tranh chính trị nào, bản thân chúng tôi kính trọng những người đấu tranh, dù có khi không hoàn toàn đồng ý về mọi chuyện. Và càng kính trọng những người đấu tranh vì lý tưởng hơn là vì mơ tưởng sẽ có một vai trò chính trị nào đó trong tương lai” (Nguyễn Xuân Nghĩa, vấn đề Trung quốc của thế giới và của Việt nam, VL20/4/2012). Nhưng tôi phải tuyên xưng là tôi chống cộng và chống cho đến cùng. Chống không phải cái chủ nghĩa vốn đã xơ cứng và lạnh cóng như cái xác chết thối tha được ướp và trưng bày ở Ba Đình. Nhưng chống cái bộ mặt trá hình của chủ nghĩa này là dối trá, tham lam, quyền lực, độc ác, vô nhân đạo, vô liêm sỉ, giả nhân giả nghĩa...được nhập thể bằng xương bằng thịt trong những cường hào ác bá mới ở Việt nam.
Mới đây, như Việt Luận đã đăng tải, cảnh sát Tiểu bang Victoria đã phá vỡ được một đường giây sản xuất cần sa của người Việt tại Melbourne và tịch thu số cần sa trị giá đến 29 triệu Úc kim. “Đây là một trong những tin làm nhục người Việt tại Úc Châu”. Trong thực tế, “phần lớn các băng nhóm trồng cân sa có gốc gác từ miền Bắc (xã hội chủ nghĩa Việt nam) đặc biệt là các băng Quảng Ninh và Hải Phòng”, sản phẩm tiêu biểu của chế độ cộng sản , đặc trưng của “con người mới xã hội chủ nghĩa”.
Cố gắng sống như một người Việt nam lương thiện trong đất nước đã cưu mang mình, theo tôi, đó cũng là một trong những cách chống cộng có ý nghĩa nhứt. Ở đâu đạo đức thắng thế thì ở đó cộng sản sẽ không còn có đất sống. Cho nên trong ngày 30 tháng Tư hàng năm, tôi thấy cần phải suy ngẫm về câu nói của Mahatma Gandhi: “Trong những giây phút của tuyệt vọng, tôi tự nhủ là trong lịch sử, sự thật và tình yêu luôn luôn chiến thắng. Có rất nhiều bạo chúa và sát nhân tin là họ không bao giờ thất bại, nhưng cuối cùng họ vẫn bị tiêu diệt. Chúng ta phải luôn nhớ điều đó”.







Thứ Hai, 4 tháng 4, 2016

Bangladesh và Hồi Giáo


1/4/16
Tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” hiện đang có mặt và hoạt động tại rất nhiều nước trên thế giới. Bangladesh ở Á Châu có thể là một trong những điểm hoạt động của tổ chức này.
Ngày 14 tháng 3 vừa qua, tại một thành phố ở miền Bắc Bangladesh, một người Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni cải đạo sang hệ phái Shiite và trở thành một giáo sĩ đã bị ám sát một cách dã man. Tám ngày sau, tại thành phố Kurigram, cũng ở miền Bắc Bangladesh, một vị mục sư thuộc Giáo hội trưởng lão Presbyterian cũng bị sát hại. Vị mục sư này trước đây là một tín đồ Hồi Giáo, sau đó đã cải đạo sang Kitô Giáo và trở thành mục sư. Cả hai vụ ám sát đều được tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” lên tiếng nhận trách nhiệm và xem hành động ám sát dã man của mình như một “bài học” cho tất cả những ai muốn từ bỏ hệ phái Sunni để cải đạo sang hệ phái Shiite hay bất cứ tôn giáo nào khác. Theo cảnh sát địa phương, vị mục sư tên là Hossain Ali đang đi dạo trong buổi sáng thì có ba người đi xe gắn máy bám sát theo ông. Hai trong ba người này đã dùng dao uy hiếp ông và sau đó cắt cổ ông. Trước khi bỏ chạy, nhóm khủng bố này đã ném bom xăng vào đám đông để dễ bề tẩu thoát. Vị mục sư 68 tuổi đã tắt thở ngay  tại chỗ.
Cả hai vụ ám sát trên đây đã tạo ra nhiều căng thẳng tại Bangladesh, quốc gia có 168 triệu dân trong đó có đến 92 phần trăm theo Hồi Giáo.
Là một nhân viên nghỉ hưu của Phòng Kế hoạch hóa Gia đình, Mục sư Hossain Ali đã từng là một cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh giành độc lập hồi năm 1971. Lúc đó Bangladesh, còn được gọi là Đông Hồi, đã giành được độc lập khỏi Pakistan, tức Tây Hồi. Năm 1999, ông Hossain Ali đã cùng với gia đình gia nhập Kitô Giáo.
Trong một quốc gia mà con số các tín hữu Kitô chưa chiếm quá một phần trăm dân số,  các cộng đồng tôn giáo thiểu số cũng như tất cả những ai không được những người Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni xem như tín đồ Hồi giáo chính thống, đã trở thành mục tiêu của những cuộc hành hung và sát hại trong thời gian gần đây.
Trong những tháng vừa qua, các tín hữu Kitô đã trực tiếp bị tấn công nhiều lần. Dạo tháng 10 năm 2015 vừa qua, ông Luke Sarkar, một mục sư Tin Lành 50 tuổi, đã bị thương trầm trọng do bị một nhóm Hồi giáo cực đoan tấn công. Nhóm Hồi giáo cực đoan này có tên là Jamaat-ul-Mujahedin Bangladesh. Một tháng sau đó, đến lượt một nhà truyền giáo thuộc Giáo hội Công giáo là linh mục người Ý tên là Piero Parolari. Nhà truyền giáo này đã bị tấn công bằng súng tại Dinajpur, Bắc Bangladesh. Ngoài ra, đồng loạt nhiều linh mục Công giáo, mục sư Tin lành cũng như các nhân viên của các tổ chức từ thiện thuộc Kitô Giáo bị đe dọa giết chết.
Một phát ngôn viên của Giáo hội Công giáo tại Bangladesh đã lên tiếng cảnh cáo rằng “chính phủ và các cơ quan công quyền không nên xem những vụ ám sát như thế là những vụ bạo động lẻ tẻ chống lại các nhóm thiểu số, mà trái lại cần phải có ngay những biện pháp cứng rắn để bảo đảm công lý và ngăn cản những tội ác như thế xảy ra nữa”. Phát ngôn viên của Giáo hội Công giáo giải thích: “Chúng tôi đang sống trong một quốc gia thế tục nhưng các nhóm tôn giáo thiểu số lại là mục tiêu (của những vụ tấn công) và chính phủ đã thất bại trong nhiệm vụ phải bảo vệ họ”.
Nhưng không riêng các cộng đồng Kitô Giáo, các nhóm tôn giáo thiểu số khác cũng đã trở thành điểm nhắm của những vụ tấn công bạo động. Cuối tháng 10 năm vừa qua, một trái lựu đạn đã được ném vào một cuộc tụ tập của các tín đồ Hồi giáo thuộc hệ phái Shiite tại Huseni Dalan, nơi có một đền thờ Hồi giáo quan trọng của người Shiite tại khu phố cổ ở Thủ đô Dacca. Cuộc tấn công đã làm cho một người chết và nhiều người bị thương. Hai tháng sau đó, một vụ ném bom vào một đền thờ Ấn Giáo tại Dinajpur, Bắc Bangladesh, cũng làm cho nhiều người bị thương. Rồi dạo tháng Hai vừa qua, một vụ tấn công khác nhắm vào một đền thờ Ấn giáo cũng ở phía Bắc Bangladesh đã làm cho một người chết và hai người bị thương nặng. Và cuối cùng, ngày 14 tháng 3 vừa qua, ông Abdur Razzak, một tín đồ Hồi giáo Sunni cải đạo sang hệ phái Shiite cũng bị sát hại tại miền Tây Nam nước này.
Trong danh sách kể trên, có lẽ cũng cần phải thêm một số những vụ sát hại khác như trường hợp một nhân viên người Ý làm việc trong tổ chức trợ giúp phát triển và một người Nhật Bản. Ngoài ra, trong năm 2015, đã có ít nhất 6 nhà báo mạng, những người tự nhận là có tư tưởng tự do, cũng bị sát hại.
Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” đã lên tiếng nhận trách nhiệm về một số vụ ám sát trên đây. Tuy nhiên, cảnh sát Bangladesh cho rằng tổ chức này chưa thiết lập được cơ sở tại Bangladesh. Thay vào đó, chính quyền Bangladesh thường chĩa mũi dùi vào tổ chức Jamaat-ul-Mujahedin. 6 lãnh tụ của tổ chức này đã bị treo cổ hồi năm 2007 và 5 thành viên khác của tổ chức đã bị cảnh sát bắn gục trong một cuộc đọ súng dạo tháng 11 năm vừa qua.
Trong khi quốc gia đang trải qua một thời kỳ đầy căng thẳng và tế nhị như thế thì Tối Cao Pháp Viện của nước này đã duyệt xét lại chỗ đứng của Hồi giáo trong Hiến Pháp. Ngày 29 tháng 2 vừa qua, Cơ quan Tư pháp tối cao của Bangladesh đã bắt đầu cứu xét một thỉnh nguyện thư nhằm đặt lại vấn đề về quy chế của Hồi giáo trong Hiến Pháp. Được biết hồi năm 1988, Hiến Pháp Bangladesh đã được tu chính để đưa Hồi Giáo lên hàng Quốc giáo. Ngay trong năm đó đã có hàng chục nhà trí thức nêu lên câu hỏi về tính hợp hiến của tu chính án này. Ngày nay, khi quốc gia đang rúng động về những cuộc bạo động tôn giáo, việc tái cứu xét thỉnh nguyện thư yêu cầu đặt lại vấn đề về tính hợp hiến của tu chính án đã được đại diện của tất cả các nhóm tôn giáo thiểu số tại Bangladesh nhiệt liệt hoan nghênh.
Kể từ khi giành được độc lập khỏi Pakistan năm 1971, Bangladesh không ngừng đi tìm bản sắc dân tộc của mình. Người dân luôn được đặt trước câu hỏi: Bangladesh là một quốc gia thế tục hay là một nhà nước Hồi giáo?  Dĩ nhiên, Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni  hiện đang chiếm một chỗ đứng quan trọng trong một Bangladesh luôn tự nhận là một quốc gia ôn hòa và khoan nhượng. Với trên 90 phần trăm dân số theo Hồi giáo, Bangladesh được xem là quốc gia Hồi giáo lớn đứng hàng thứ ba trên thế giới chỉ sau Nam Dương và Pakistan. Dù có đông dân số theo Hồi giáo, năm 1972, Bangladesh đã từng được xây dựng trên một Hiến Pháp lấy ngôn ngữ và tinh thần thế tục như là những thể hiện chính của bản sắc dân tộc. Thế rồi, năm 1988, sau khi ăn cướp chính quyền và thiết lập chế độ quân phiệt, nhà độc tài Hussein Muhammad Ershad đã quyết định tu chính Hiến Pháp để đưa Hồi giáo lên hàng quốc giáo. Kể từ đó, giới trí thức và chính trị trong nước đã không ngừng tranh đấu để tái lập nguyên tắc thế tục như đã được nhìn nhận từ ngày giành được độc lập.
Năm 2011, Liên minh Awami, tức đảng đang cầm quyền vào lúc đó, đã quyết định tái lập nguyên tắc thế tục. Nhưng Thủ tướng Sheik Hasina, vì sợ mất phiếu của đa số cử tri Hồi giáo, đã không dám loại bỏ chỗ đứng ưu biệt của Hồi giáo trong Hiến Pháp. Lãnh tụ của phe đối lập,  đồng thời cũng là người đứng đầu Đảng Quốc gia Bangladesh, vốn liên minh chặt chẽ với Đảng Hồi giáo Jamaat -e-Islami, là bà Begum Khaleda Zia đã bênh vực chủ trương “Hồi giáo là tôn giáo của đại đa số dân chúng Bangladesh” và như vậy chống lại việc không nhìn nhận Hồi giáo như quốc giáo của nước này. Bà Hasina lẫn bà Zia là đại diện của hai ý thức hệ đối lập nhau về lịch sử và bản sắc của Bangladesh.
Tuy nhiên, ngày nay bầu khí xem ra thuận lợi hơn cho việc nhìn lại bản sắc của dân tộc. Rất nhiều người Bangladesh không tỏ ra có thiện cảm với khuynh hướng muốn Hồi giáo hóa Bangladesh. Những người này xem Hồi giáo như căn nguyên của xung đột, căng thẳng và bạo động. Những cuộc tấn công nhân danh Hồi giáo đã gia tăng trong những năm gần đây. Những kẻ tấn công đều thuộc những nhóm nhỏ cực đoan. Ngay từ năm 2012, những người Hồi giáo cực đoan đã mở các cuộc tấn công nhắm vào giới trẻ đang tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ. Nhóm giới trẻ này đã bị những người Hồi giáo cực đoan dán cho nhãn hiệu “vô thần”. Năm 2015, nhiều nhà trí thức đã bị đe dọa và ngay cả bị sát hại.
Trong một bầu khí căng thẳng như thế, sự kiện Tối Cao Pháp Viện Bangladesh tái cứu xét thỉnh nguyện thư năm 1988 về tính hợp hiến của tu chính án đưa Hồi giáo lên hàng quốc giáo, quả là một hành động táo bạo. Tối Cao Pháp Viện Bangladesh lập luận như sau: nhìn nhận Hồi giáo như quốc giáo là một hành động đi ngược lại với nguyên tắc thế tục của quốc gia. Shahria Kabir, tác giả chính của thỉnh nguyện thư đã yêu cầu Tối Cáo Pháp Viện phải có thái độ dứt khoát. Theo ông, điều 2A qua đó Hiến Pháp nhìn nhận Hồi giáo như quốc giáo đi ngược lại với điều 12 vốn bênh vực “tính thế tục và tự do tôn giáo”. Thật vậy, với điều 12 này Hiến Pháp Bangladesh cấm Nhà nước ưu đãi tôn giáo này hay tôn giáo khác. Trong khi đó toàn văn điều 2A lại khẳng định “ Quốc giáo của Cộng Hòa là Hồi giáo, nhưng Nhà nước có nghĩa vụ phải tôn trọng quy chế và quyền bình đẳng trong thực hành của các tôn giáo Ân giáo, Phật giáo, Kitô giáo và các tôn giáo khác”. Để cân nhắc quyết định của mình, các thẩm phán của Tối Cao Pháp Viện Bangladesh đã sẵn sàng mở ra một hồ sơ dầy cộm là chỗ đứng của Hồi giáo trong lòng xã hội nước này.
Đàng sau cuộc tranh luận về Hiến Pháp là số phận của các tôn giáo thiểu số tại Bangladesh. Subrata Chowdhury, luật sư đại diện cho những người ký tên vào thỉnh nguyện thư, nói rằng “các nhóm thiểu số này đã bị đẩy xuống làm công dân hạng hai trong cộng hòa Bangladesh”. Dĩ nhiên, việc cứu xét thỉnh nguyện thư và thủ tục tư pháp đã làm  gia tăng các mối căng thẳng. Chưa chi các nhóm Hồi giáo bênh vực chủ trương đưa Hồi giáo lên hàng quốc giáo đã đe dọa tổ chức các cuộc biểu tình để phản đối nếu Tối Cao Pháp Viện đưa ra phán quyết hủy bỏ tu chính án năm 1988. Những nhóm này đã  yêu cầu các thẩm phán của Tối Cao Pháp Viện phải hủy bỏ thỉnh nguyện thư. Giáo sĩ Mohammad Faezullah, lãnh tụ của Đảng Hồi giáo Islamic Oikya Jote đã tuyên bố: “Bất cứ nỗ lực nào nhằm chối bỏ quy chế hiện nay của Hồi giáo (trong xã hội Bangladesh) đều là một hành động xúc phạm và bôi nhọ tôn giáo”. Riêng tổ chức Hefajat-e-Islam (bảo vệ Hồi giáo) còn đi xa hơn khi đưa ra thông cáo: “Người Hồi giáo khắp nơi sẽ xuống đường. Ngọn lửa của phản kháng sẽ cháy bùng trên toàn quốc”.
Trước áp lực và đe dọa của các tổ chức Hồi giáo trên đây, hôm thứ Hai 28 tháng 3 vừa qua, Tối Cao Pháp Viện Bangladesh đã đưa ra phán quyết bác bỏ thỉnh nguyện thư. Hồi giáo vẫn tiếp tục là quốc giáo tại Bangladesh và các cộng đồng tôn giáo thiểu số tại nước này sẽ vẫn tiếp tục là điểm nhắm của  các tổ chức Hồi giáo cực đoan.
(theo http://eglasie.mepasie.org/asie-du-sud/bangladesh/2016-03-17-la-cour-supreme-examine-le-statut-de-l2019islam-dans-la-constitution)