Hiển thị các bài đăng có nhãn Tháng Tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tháng Tư. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Giáo hoàng có bao nhiêu sư đoàn?

 

                                     

 


                          


                                                                                       

 

Ở tuổi già, tôi lú lẫn và hay quên. Bộ nhớ của tôi có lẽ đã teo tóp đi rất nhiều. Vậy mà không hiểu sao, kể từ ngày thành phố Nha Trang của tôi mở ngõ vào ngày mùng Một tháng Tư năm 1975 và ngày mùng Hai, quân đội Bắc Việt ngơ ngác tràn vào thành phố, hình như tôi không quên bất cứ điều gì. Mỗi năm cứ đến thời điểm mà người Việt tỵ nạn gọi là “Tháng Tư Đen”,  “nỗi buồn chiến tranh” trong tôi lại cứ khiến tôi ray rứt trong lòng. Cho đến nay, “Bên Thắng Cuộc” vẫn cứ huênh hoang gọi cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc là một “cuộc chiến tranh thần thánh”. “Thần thánh” ở đâu thì tôi không thấy, mà chỉ thấy dối trá và độc ác hiện nguyên hình như một bầy quỷ dữ. Nhân danh một ý thức hệ ngu xuẩn và độc ác để sát hại hàng triệu người đồng bào ruột thịt, người ta bảo để tiến tới một xã hội “bình đẳng, không còn cảnh người bóc lột người”. Nhưng 50 năm qua, nói theo nhà văn Anh George Orwell trong quyển tiểu thuyết nổi tiếng “Trại Súc Vật”, trong xã hội mà chế độ cộng sản đã thiết lập tại Việt Nam, “tất cả mọi thú vật đều bình đẳng, nhưng có một số thú vật bình đẳng hơn những con khác” (1). Chính vì “được bình đẳng hơn”, cho nên giai cấp thống trị tại Việt Nam hiện nay tự cho mình quyền được thu tóm tất cả mọi quyền trong tay: từ quyền chiếm đoạt tài sản của quốc gia làm của riêng đến quyền sinh sát trong tay!

Mới đây tôi được một người Việt Nam có chồng Úc mời đến nhà dùng bữa cùng với một số người bạn. Người chồng Úc đã từng sống và làm việc tại nhiều nơi ở Việt Nam trong nhiều năm cho nên xem ra rất am hiểu về tình hình Việt Nam. Vốn là một người ít nói, nhưng trong bữa ăn, cứ mỗi lần mở miệng ông đều nói rằng ở Việt Nam, cái gì cũng “Tiền”, nghĩa là không thể sống mà không tham nhũng. Quả đúng như dân gian hiện nay thường nói: “tiền là tiên là phật, tiền là sức bật lò xo, tiền là thước đo lòng người, tiền là nụ cười của tuổi trẻ, tiền là sức khỏe của tuổi già, tiền là cái đà danh vọng, tiền là cái lọng che thân, tiền là cán cân công lý...”  Trong xã hội, một khi đồng tiền đã ngự trị trên “đỉnh cao chói lọi” thì đương nhiên mọi giá trị đạo đức đều bị xuống cấp, chối bỏ và chà đạp. Từ 50 năm qua, ai cũng bảo: Việt Nam đang rơi dần vào một lỗ hổng đạo đức không đáy!  Một ý thức hệ đồi bại lấy dối trá và độc ác làm kim chỉ nam, lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện thì đương nhiên chỉ có thể dẫn đến  một xã hội đồi bại mà thôi. Càng lúc tôi càng xác tín rằng chính trị “là đạo đức trên qui mô quốc gia”. Chính trị theo đúng nghĩa không thể là chính trị vô đạo.

Là một người tỵ nạn, tôi không quên và bao lâu còn sống còn cố gắng nhớ về tháng Tư Đen. Nhưng với tư cách là một con người,  cũng trong tháng Tư Đen, với ký ức tập thể của nhân loại, tôi cũng không ngừng cố gắng để không bao giờ quên một biến cố khủng khiếp đã từng xảy ra trong lịch sử nhân loại. Đó là cuộc sát tế sáu triệu người Do Thái do Đức quốc xã chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế chiến. Mặc dù không hề là một nhân chứng lịch sử về biến cố, hàng năm cứ vào tháng Tư, đặc biệt năm nay, vào ngày 14 tháng Tư vừa qua, tôi cũng đã hòa nhập cùng với toàn thế giới và cách riêng người Do Thái trên khắp thế giới để tưởng niệm các nạn nhân Do Thái đã bị Đức Quốc Xã sát hại trong các trại tập trung và nhứt là trong các lò hơi ngạt. Là một con người, đứng trước cái chết, nhứt là cái chết thảm thương của một người đồng loại, dù không hề quen biết, tôi không thể không thốt lên như thi sĩ Anh John Donne (1572-1631), “cái chết của mỗi người đều làm tôi bị mất mát đi, bởi lẽ tôi gắn liền với Nhân Loại. Và bởi thế, xin đừng bao giờ hỏi rằng chuông gọi hồn ai. Chuông gọi hồn bạn đó!”

Đồng cảm với nỗi khổ đau do chính người đồng loại gây ra, tôi không thể không cảm thấy bị ray rứt và cố gắng không ngừng để hiểu tại sao con người lại gây ra khổ đau cho người đồng loại của mình. Thời mới bước vào ngưỡng cửa triết học, tôi được một vị giáo sư giao cho trách nhiệm thuyết trình trước cả lớp về câu nói nổi tiếng của nhà văn Pháp Ernest Renan (1823-1892), “Chính những tư tưởng dẫn dắt thế giới” (ce sont les idées qui mènent le monde). Có những tư tưởng thanh cao mang lại niềm cảm hứng để con người đi tìm chân thiện mỹ và sống một cuộc sống thực sự hạnh phúc. Nhưng cũng có vô số những tư tưởng đồi bại không những làm hỏng cả một đời người mà còn dẫn dắt cả một thế hệ hay nguyên một quốc gia xuống hố sâu của diệt vong. Tôi đã dẫn chứng hai trường hợp cụ thể: một là chủ nghĩa cộng sản, hai là đức quốc xã.

Chủ nghĩa cộng sản, ý thức hệ đã gây ra cái chết của cả trăm triệu sinh linh trên khắp thế giới, nay đã bị quăng vào sọt rác của lịch sử. Riêng cơn ác mộng mà Đức quốc xã đã gây ra cho cả thế giới và cách riêng người Do Thái, nó khủng khiếp đến độ không bao giờ có thể  phai mờ trong ký ức tập thể của nhân loại.

Tưởng niệm cuộc sát tế người Do Thái do Đức quốc xã chủ xướng, tôi luôn ghi khắc bài học để đời của nhà văn Mỹ gốc Do Thái Elie Wiesel (1828-2016), người đã từng sống sót từ các trại tập trung trở về và năm 1986, được trao Giải Nobel Hòa Bình. Trong bài diễn văn đọc khi đón nhận Giải thưởng cao quý này, ông tuyên bố: “Chúng ta phải luôn luôn chọn phía. Trung lập giúp kẻ áp bức, chứ không bao giờ giúp nạn nhân. Im lặng chỉ cổ võ kẻ hành hạ, chứ không bao giờ giúp người bị hành hạ”(2).

Hitler và Đức quốc xã đã không có đủ ba đầu sáu tay để thực hiện chủ nghĩa đồi bại “chủng tộc Aryan thượng đẳng” và tiêu diệt người Do Thái trên khắp Âu Châu. Rất nhiều người Đức đã ủng hộ chủ trương này. Trong số những thành phần này cũng phải kể đến vai trò của chính các tín hữu Kitô, những người gọi người Do Thái là “những kẻ giết Chúa” đáng bị nguyền rủa và tiêu diệt. Bên cạnh đó là vô số những người giữ thái độ “trung lập” bằng sự thinh lặng đồng lõa trước tội ác. Vị giáo hoàng thời đó là Piô XII đã đóng một vai trò gây nhiều tranh cãi trong cuộc diệt chủng đối với người Do Thái. Mặc dù tại Roma, vị giáo hoàng này đã âm thầm giúp đỡ nhiều người Do Thái thoát khỏi nanh vuốt của Đức quốc xã, nhưng về mặt chính thức, với tư cách là biểu tượng của một sức mạnh tinh thần và đạo đức uy thế nhứt thế giới, ngài đã không hề đưa ra bất cứ một lời tuyên bố nào về tội ác của Hitler và Đức quốc xã.

Đạo đức đích thực không cho phép con người “trung lập” khi đứng trước tội ác. Không biết đương kim Giáo hoàng Leo có lắng nghe lời nhắn nhủ của nhà văn Elie Wiesel hay rút ra bài học cay đắng từ Giáo hoàng Piô XII không, nhưng ngài đã không giữ thinh lặng trước tội ác, nhứt là tội ác nhân danh niềm tin tôn giáo.

Tổng thống Donald Trump và “bộ sậu” của ông, khi tung ra “Chiến dịch Cơn thịnh nộ Sử thi” (operation epic fury) để tấn công Cộng hòa Hồi giáo Iran, đã không ngừng trích dẫn Kinh Thánh để biện minh cho cuộc chiến mà hầu như cả thế giới đều lên án. Thế giới chưa từng ủng hộ những tội ác của chế độ thần quyền Iran đối với chính người dân của mình. Nhưng dù cho Donald Trump có gào thét kêu gọi, thế giới, do những tính toán hơn thiệt, đã không đứng về phía những kẻ đang gây ra một trong những cuộc chiến đồi bại nhứt. Riêng Giáo hoàng Leo đã thẳng thừng lên án điều mà người ta chỉ có thể gọi là một cuộc “thánh chiến” của thời đại. Lên án cuộc chiến nhân danh Thiên Chúa, ngài cũng không im lặng trước chủ trương dùng sức mạnh quân sự để hiếp đáp kẻ yếu thế. Với ngài, đó là một chủ trương vô đạo. Ngài đã mạnh mẽ lên án “ảo tưởng về quyền năng tuyệt đối” đang thúc đẩy cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Iran. Trong một buổi lễ cầu nguyện cho hòa bình hôm 11 tháng Tư vừa qua, ngài nói: “Đủ rồi cái kiểu tôn thờ bản thân và tiền bạc. Đủ rồi cái kiểu phô trương quyền lực! Đủ rồi chiến tranh”(3). Sở dĩ nhà lãnh đạo tinh thần của hơn một tỷ người công giáo trên thế giới đã có những lẽ mạnh bạo như thế là bởi vì trước đó đại diện của ngài tại Hoa Kỳ là sứ thần Christophe Pierre đã được triệu tập tới Bộ Chiến Tranh để nghe một lời khiển trách gay gắt về diễn từ của ngài. Thứ trưởng quốc phòng Mỹ là ông Elbridge Colby đã nói như đe dọa với vị sứ thần: “Hoa Kỳ có sức mạnh quân sự để làm bất cứ điều gì chúng tôi muốn làm trên khắp thế giới. Giáo hội Công giáo tốt hơn nên đứng về phía chúng tôi” (4).

Lời đe dọa trên đây không thể không khiến tôi liên tưởng đến một câu nói được gán cho đồ tể Stalin khi nói về uy thế của một vị giáo hoàng trong thời Đệ nhị Thế chiến. Theo câu chuyện được truyền tụng, trong một cuộc trao đổi với Thủ tướng Anh Winston Churchill, khi được đề nghị mời nhà lãnh đạo tôn giáo đứng ra làm trung gian để giải quyết chiến tranh, Stalin đã tuyên bố: “Đi hỏi xem giáo hoàng có bao nhiêu sư đoàn?” Hư thực thế nào không biết, chỉ có điều chắc chắn là Stalin là người chỉ tin ở sức mạnh quân sự.

Lịch sử cho thấy đôi khi cũng cần có sức mạnh quân sự để giải quyết chiến tranh và mang lại hòa bình. Nhưng cũng trong rất nhiều trường hợp, sức mạnh tinh thần và đạo đức cũng có sức đạp đổ những bức tường của độc tài và áp bức tưởng như không gì có thể lay chuyển. Một Mahatma Gandhi không cần một tấc sắc trong tay đã có thể đánh đuổi được một đế quốc hùng mạnh ra khỏi đất nước của mình. Một Nelson Mandela cũng chẳng cần một khẩu súng nào mà cũng có thể đánh đổ được một chế độ phân biệt chủng tộc để đứng lên lãnh đạo quốc gia. Về sức mạnh tinh thần và đạo đức của một nhà lãnh đạo tôn giáo, khó có thể quên hình ảnh của một Giáo hoàng Gioan Phaolô II đứng giữa một quảng trường của một thủ đô Balan cộng sản để kêu gọi đám đông: “Đừng sợ hãi!” Ít hay nhiều lời kêu gọi ấy cũng đã góp phần vào sự cáo chung của chế độ cộng sản tại Balan và ảnh hưởng đến sự sụp đổ của cả khối Đông Âu cộng sản hồi cuối thập niên 1980. Có lẽ cũng tin tưởng ở sức mạnh tinh thần và đạo đức ấy cho nên sau khi bị Tổng thống Trump tấn công và chính phủ của ông đe dọa, Giáo hoàng Leo đã khẳng khái đáp trả: “Tôi không sợ Trump”(5).

Lời tuyên bố này không thể không khơi dậy trong tôi niềm hy vọng và tin tưởng rằng cuối cùng sức mạnh tinh thần và đạo đức sẽ chiến thắng.

Chu Văn, cuối tháng Tư

 

 

 Chú thích

1. George Orwell, Animal Farm, Penguin Books, 2003, trg 97

2. Elie Wiesel’ s acceptance speech, on the occasion of the award of the Nobel Peace Prize in Oslo,Dec.10,1986

3. Pope Leo XIV denounces the “delusion of omnipotence”, he says fuels the Us-Israel war in Iran, Politico 4/11/2026

4. Pentagon threatened the pope after he criticized Trump, Yahoo.news 9/4/2026.

5.I do not fear Trump, says pope Leo after US president calls him “weak” , the Guardian 14/4/2026

                                                                                                  

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2022

Khi thằng người gỗ không muốn làm người

 




Chu Văn

Sự tàn bạo dã man của Vladimir Putin trong cuộc chiến tranh xâm lăng Ukraine đã khiến cho nhiều người cho rằng lương tâm nhân loại đã thức tỉnh. Thức tỉnh trước những hành động man rợ của tên đồ tể này đã đành, mà quan trọng hơn chính là thức tỉnh trước sự dối trá trắng trợn của hắn. Không gì bỉ ổi cho bằng biện minh cho tội ác bằng những lời dối trá và lật lọng mà không một người nào còn có chút lương tri có thể chấp nhận được.

Có người đã tóm tắt một cách rất chính xác những lời dối trá trâng tráo của Putin:

“Putin tuyên bố Ukraine muốn gia nhập NATO, đây là một đe dọa với sự ổn định của nước Nga nên...ĐÁNH.

Putin nói Ukraine có vũ khí nguyên tử nên...ĐÁNH

Putin giải thích muốn ủng hộ đám ly khai ở Donbass và XYZ nên...ĐÁNH

Putin lại nói rằng muốn diệt đám quốc xã ở Ukraine nên...ĐÁNH

Và vừa rồi hắn nói: Trước sau gì rồi cũng phải ĐÁNH Ukraine.

Dường như Putin và Trump có cùng dòng họ hoặc ít nhất là sở hữu một gen đột biến giống nhau - gen nói láo. Nói láo không biết xấu hổ, nói dối không cần một bằng chứng giả tạo.

Thật là trơ trẽn. Trước đây tôi chưa bao giờ có ác cảm gì với người Nga, tôi thấy họ hiền lành, bình thường, không tự cao tự đại. Tôi cũng chưa bao giờ nghe thấy chuyện phân biệt đối xử với người Nga ở châu Âu. Thế nhưng, bây giờ tôi mới biết là không chỉ bị phân biệt đối xử, mà người Nga còn sắp bị tiêu diệt như người Do Thái!

Ngày 3-4-2022, ở Berlin và nhiều thành phố khác trên nước Đức đã diễn ra một cuộc biểu tình bằng xe hơi của người Nga. Trên kính sau của một chiếc xe có biểu ngữ “No Fascism” (Nói không với chủ nghĩa phát xít) với biểu tượng NATO bị gạch chéo.

Theo tôi, nếu Putin và người Nga làm những chuyện này nhiều lần trước cuộc chiến Ukraine thì có lẽ hợp lý hơn. Nhưng cuộc biểu tình diễn ra vào ngày thứ 38, sau khi Nga xâm lược Ukraine.

Và tôi đươc biết  thêm (qua một bài báo): Ở Nga việc sử dụng Holocaust (cuộc tàn sát người Do Thái do Hitler chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế chiên) làm công cuộc cho chính trị đã mang tính truyền thống. Họ đang biến thủ phạm thành nạn nhân và ngược lại!” (1)

“Biến thủ phạm thành nạn nhân và ngược lại” cho nên những tên đồ tể cũng thường đảo ngược bậc thang các giá trị đạo đức. Họ trang điểm khuôn  mặt của mình  bằng một lớp phấn đạo đức giả.

Tôi không ngạc nhiên chút nào khi nhìn thấy Putin trong nhà thờ chính tòa Đấng Cứu Thế của Chính Thống Giáo ở Thủ đô Mạc Tư Khoa trong ngày Lễ Phục Sinh 24 tháng Tư vừa qua. Nhưng không gì bỉ ổi bằng vừa tàn sát người dân vô tội ở Ukraine lại vừa gởi đi một thông điệp Phục Sinh để đề cao “những lý tưởng và giá trị đạo đức cũng như niềm tin vào sự sống, lòng thiện hảo và công lý”. Riêng trong lời chúc mừng Phục Sinh dành cho Thượng phụ giáo chủ Chính Thống Nga Kirill, Putin viết: “Trong những ngày nghỉ lễ Phục Sinh, tâm hồn các tín hữu tràn ngập một niềm vui đặc biệt, một nỗi khao khát làm điều thiện và giúp đỡ những người túng thiếu”. “Làm điều thiện” như Putin đang hiểu và thực thi chính là giết người và giết người vô tội vạ!

Dường như Thượng phụ Kirill, người lúc nào cũng sát cánh bên Putin cũng hiểu như thế về “lòng thiện hảo và công lý” cũng như thế nào là “làm điều thiện”. Ông đã chúc lành cho các binh sĩ Nga trước khi họ lên đường xâm lăng Ukraine. Trong sứ điệp Phục Sinh năm nay, ông cũng chỉ lập lại những công thức sáo ngữ chứ không hề lên án hành động xâm lăng ngang ngược và tàn bạo của Putin tại Ukraine.

Tựu trung, Putin đã dối trá và Kirill, lẽ ra là tiếng nói của sự thật và lẽ phải rốt cục cũng phụ họa theo. Chỉ tội nghiệp cho người dân Nga. Họ cũng chỉ biết hòa nhịp với dàn đồng ca ấy mà thôi. Trong những ngày đầu khi Putin cho tiến quân xâm lăng Ukraine, đã có hàng chục ngàn người xuống đường phản đối chiến tranh. Nhưng trong những tuần lễ gần đây, những cuộc biểu tình như thế ngày càng trở nên hiếm hoi. Dĩ nhiên, dân chúng Nga có lý để sợ, bởi vì Putin đã ra lệnh giam tù 15 năm những ai dám lên tiếng phản đối cuộc xâm lăng Ukraine của hắn. Nhưng sự sợ hãi chỉ là một phần của câu chuyện. Thực tế cho thấy rất đông người Nga đang đứng đàng sau lãnh tụ đồ tể của họ. Trước cuộc xâm lăng, mức ủng hộ dành cho Putin chỉ có gần 70 phần trăm. Một tháng sau điều được gọi là “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine, tỷ lệ ủng hộ dành cho hắn lên đến 83 phần trăm. Cuộc chiến không chỉ diễn ra ở Ukraine, mà cũng xâu xé người Nga không ít. Không thiếu người Nga hiện đang kết án và tố cáo bạn hữu, láng giềng, đồng nghiệp và ngay cả người thân của mình nếu họ không ủng hộ cuộc chiếm xâm lược của Putin. Trong một bài diễn văn, chính Putin đã khuyến khích và nuôi dưỡng cuộc “nội chiến” ấy khi ca ngợi những người biết phân biệt ai là “những người yêu nước thực sự và ai là những kẻ phản quốc”.

Dĩ nhiên, trong một chế độ độc tài khát máu như Nga hiện nay, tỷ lệ ủng hộ 83 phần trăm dành cho Putin có thể chỉ nói lên một nửa sự thật. Khi sự sợ hãi bao trùm cả nước thì những con số cũng phải rụt rè ít nói. Ai ủng hộ, ai phản đối cuộc xâm lược, khó mà nhận diện một cách chính xác. Chỉ có một điều chắc chắn mà người ta có thể khẳng định về tâm trạng hiện nay của người dân Nga là: rất đông người Nga, nếu không muốn nói là đa số, hiện đang tỏ ra dửng dưng và vô cảm trước những tội ác mà Putin đã và đang thực hiện tại Ukraine. Nói tóm lại, như ký giả Shadi Hamid đã nhận định trong một bài viết được đăng trên báo The Atlantic, “các chế độ độc tài vặn vẹo tâm hồn con người và bóp méo các định chế luân lý tự nhiên. Làm như thế, họ khiến cho người công dân, hay chính xác hơn những người dưới quyền họ, ít phải chịu trách nhiệm hơn về mặt đạo đức. Để hoàn toàn chịu trách nhiệm về mặt đạo đức, con người phải được tự do để chọn lựa giữa đúng và sai. Nhưng một sự chọn lựa như thế sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều trong một chế độ độc tài. Không phải ai cũng có thể can đảm và hy sinh mạng sống và cuộc sống của mình để làm điều đúng “(2).

Những nhận định trên đây của ký giả Shadi Hamid về thế đứng của người dân Nga trước cuộc chiến xâm lược của Putin tại Ukraine không thể không đưa tôi trở về với quê hương Việt Nam, nhứt là trong những ngày cuối tháng Tư hằng năm. Cuộc chiến tranh giữa Miền Nam tự do và Miền Bắc cộng sản thiết yếu là cuộc chiến giữa Sự Thật và Dối Trá. Giữa thập niên 1950, vừa bước vào tuổi khôn, không cần phải được tuyên truyền, thực tế của những vụ ám sát đã mang đến cho một đứa trẻ như tôi niềm xác tín sâu xa rằng cộng sản là những người “nói dối  như Vẹm”. Rồi khi cộng quân đã công khai xuất đầu lộ diện tại Miền Nam tôi lại càng thấy rõ hơn bộ mặt dối trá của người cộng sản. Cuộc chiến  mà các lãnh tụ cộng sản gọi là “thần thánh” dưới chiêu bài “giải phóng” Miền Nam mà thực chất là một cuộc xâm lược. Bao nhiêu người dân Miền Bắc đã bị lừa vì hai chữ “giải phóng”. Một “bộ đội” Dương Thu Hương đã ngồi bệt xuống vệ đường giữa Sài Gòn trong ngày “giải phóng” để ôm mặt khóc khi biết mình bị lừa. Chính ngày Miền Nam được “giải phóng”, một nghệ sĩ Ái Vân đã hăm hở mang theo 2 cân gạo để tặng cho bà con ở Sài Gòn, vì người dân Miền Nam phải đói khổ trong hàng bao nhiêu năm trời dưới sự đô hộ của Mỹ.

Cùng với ý thức hệ cộng sản mà “bên thắng cuộc” đã áp đặt lên Miền Nam, mặc dù chính họ cũng chẳng hiểu và cũng chẳng tin, họ cũng bao trùm lên cả nước sự dối trá. Những kẻ thống trị dối trá. Người bị trị cũng phải dối trá. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, người sau khi ra tù đã viết quyển tiểu thuyết tự thuật nổi tiếng “Chuyện kể năm 2000”, đã lột tả triết lý sống rất sinh động của người Việt Nam trong chế độ cộng sản hiện nay: “muốn tồn tại và vinh thăng trong cái xã hội ấy thì phải biết vờ, vờ nói, vờ nghe, nghĩa là khi nói, biết mình nói dối nhưng vẫn phải vờ nói dối một cách thành thật, khi nghe, biết mình không muốn nghe những vẫn phải vờ nghe một cách thành khẩn”(3).

Tôi chỉ sống trong chế độ dối trá ấy hơn 5 năm. Mặc dù đã chuẩn bị tinh thần để sống trong chế độ ấy, tâm hồn tôi cũng đã bị vặn vẹo, nhân cách của tôi cũng bị thui chột. Tôi cũng đã chạy theo “dòng chảy” người ta sao tôi vậy, nghĩa là cũng “vờ” để sống. Thoát khỏi chế độ dối trá ấy là để sống tự do. Và tự do luôn đi với trách nhiệm. Trách nhiệm mà tôi cho là quan trọng và ý nghĩa nhứt đối với một người tỵ nạn như tôi là phải cố gắng thật. Người ta có thể thoát khỏi một chế độ độc tài dối trá mà vẫn mang theo sự dối trá như một thứ “bửu bối”. Tôi nghĩ đến không ít những người đồng bào ruột thịt của tôi, những người đã trốn khỏi chế độ cộng sản dối trá, nhưng lại sùng bái những lãnh tụ dối trá.

Dối trá là một bản năng tự nhiên của mọi sinh vật. Các chuyên gia tâm lý và các nhà sinh vật học theo thuyết tiến hóa cho rằng lừa dối đã được khắc ghi trong bản chất của mọi sinh vật. Để sinh tồn, cây cỏ  biến dạng để trông  giống côn trùng và côn trùng cũng biết biến dạng để trông giống cây cỏ. Thú vật cũng biết dùng đủ mọi “thủ đoạn” để thu hút “bạn tình” hay đánh lừa kẻ thù. Dù có tiến hóa đến đâu, con người vẫn còn duy trì cái bản năng dối trá ấy. Nếu chúng ta không nói dối liên tục thì chắc chắn chúng ta cũng thường xuyên nói dối. Một cuộc nghiên cứu cho biết: cứ trong một cuộc trò chuyện kéo dài 10 phút, chúng ta nói dối 3 lần và ngay cả nhiều hơn nữa khi chúng ta sử dụng email hay gởi lời nhắn qua các phương tiện truyền thông hiện đại (4). Kinh Thánh của Do Thái và Kitô giáo đã khẳng định: “Mọi người đều dối trá” (Thánh Vịnh 116, 11). Nhưng cũng chỉ có con người mới ý thức được bản năng dối trá của mình và biết rằng họ chỉ có thể trưởng thành nhờ cố gắng sống thật. Sống lúc nào cũng là một cuộc chiến đấu giữa sự thật và dối trá. Cũng như cậu bé người gỗ Pinocchio của nhà văn Ý Carlo Collodi (1826-1890), con người sẽ không bao giờ là một con người có nhân cách nếu lấy dối trá làm lẽ sống.

 

Chu Văn

  

1.Lê Thanh Nhàn, thủ phạm và nạn nhân, sự lật lọng, báo Tiếng Dân 17-4-2022

2.Shadi Hamid, Why the Russian people go along with Putin’s war, The Atlantic 23/ 04/2022

3.Nguyễn Giụ Hùng, Vờ, Việt Báo 25/04/2022

4.Dallas G. Denery II, The Devil Wins, Princeton University Press, 2015, trg 4.

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

Kẻ chiến thắng đích thực


  
Chu Thập
23/04/14
Mỗi năm, cứ đến ngày Anzac 25 tháng 4, tuy không phải là dân Úc chính hiệu, tôi cũng hướng lòng về Gallipoli, Thổ Nhĩ Kỳ, để tưởng nhớ các chiến sĩ Úc đã bỏ mình trong thời Đệ nhứt Thế chiến và dĩ nhiên cùng với họ, tôi cũng không quên tất cả những binh sĩ Úc đã hy sinh trong  mọi cuộc chiến có sự tham gia của quân đội Úc. Lòng biết ơn không cho phép tôi loại trừ họ, bằng cách này hay cách khác, ra khỏi ký ức của mình.
Biết ơn các chiến sĩ Úc, tôi thấy cũng không thể quên được tấm lòng của một người Thổ Nhĩ Kỳ đã từng được thế giới đề cao như một trong những nhân vật vĩ đại nhứt trong lịch sử nhân loại: cố tổng thống Mustapha Kemal Ataturk (1881-1938). Đúng như tước hiệu “Ataturk” (cha già dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ) đã được trao tặng duy nhứt cho một mình ông, Mustapha Kemal, vị tổng thống đầu tiên của Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ, đã có công khai sinh ra một quốc gia dân chủ đầu tiên trong thế giới Hồi giáo và biến Thổ Nhĩ Kỳ thành một đất nước văn minh, tiến bộ. Nhưng đáng ghi nhận nhứt nơi ông, theo tôi nghĩ, chính là tấm lòng độ lượng biết dẹp bỏ hận thù để xây dựng tình thương và củng cố quan hệ thân hữu với các nước cựu thù. Việc cho phép và khuyến khích chỉnh trang các nghĩa trang của quân đội Đồng Minh, cách riêng quân đội Úc, tại Gallipoli là một cử chỉ cụ thể nói lên tấm lòng độ lượng ấy. Là một vị tướng chỉ huy thành công trong việc đẩy lui quân đội Đồng Minh trong trận chiến Gallipoli, Mustapha Kemal đã không cư xử với thái độ đắc thắng của một kẻ chiến thắng. Trái lại, ông đã xem những người nằm xuống của bên chiến bại như bạn hữu và ngay cả như những người con của đất nước mình. Năm 1934, trong bài diễn văn đọc trước một phái đoàn gồm người Úc, Tây Tân Lan và Anh đến viếng thăm trận địa Gallipoli, vị tổng thống đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ đã ngỏ lời về các chiến sĩ Đồng Minh đã ngã gục tại đây bằng những lời lẽ như sau:
“Những vị anh hùng này đã đổ máu và đã hy sinh mạng sống của mình. Giờ đây, các bạn đang nằm trên mảnh đất của một nước bạn. Do đó, các bạn hãy nghỉ yên.
Đối với chúng tôi, không có sự khác biệt giữa những “Johnny” (tên gọi quen thuộc của Anh, Mỹ, Úc, Gia Nã Đại và Tân Tây Lan) và những “Mehmet” (tên gọi quen thuộc của người Thổ Nhĩ Kỳ) tại những nơi họ đang nằm nghỉ bên cạnh nhau trong đất nước của chúng tôi.
Về phần mình, hỡi các bà mẹ là những người đã gởi con ra khỏi đất nước của mình, các bà hãy lau sạch nước mắt. Con trai của các bà hiện đang nằm trong lòng chúng tôi và đang nghỉ giấc bình an.
Sau khi đã bỏ mình trên mảnh đất này, họ cũng đã trở thành con cái của chúng tôi.”
(http://www.awm.gov.au/encyclopedia/ataturk.asp)
Vị cha già dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ có vĩ đại là bởi tấm lòng độ lượng và khoan nhượng của ông. Hẳn tổng thống Mustapha Kemal là người rất am hiểu lịch sử Hoa Kỳ, nhứt là trong thời kỳ lập quốc, bởi vì cử chỉ khoan nhượng của ông không thể không làm tôi nhớ lại thái độ cao thượng của một trong những nhà lập quốc vĩ đại của Hoa Kỳ là tổng thống Abraham Lincoln (1809-1865), người thường được mệnh danh là Nhà Giải phóng Vĩ đại. Vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ này đã để lại một bài diễn văn được xem là một trong những văn kiện hay nhứt bằng Anh Ngữ trong suốt lịch sử nhân loại. Bài diễn văn thường mệnh danh là “bài diễn văn Gettysburg” vì được đọc trong  buổi lễ cung hiến Nghĩa trang Chiến sĩ quốc gia tại Gettysburg, tiểu bang Pennsylvania ngày 19 tháng 11 năm 1863, bốn tháng rưỡi sau khi xảy ra trận Gettysburg đẫm máu trong đó quân đội Liên bang dành được chiến thắng vẻ vang. Trong bài diễn văn lịch sử dài 272 chữ và kéo dài không quá 3 phút, tổng thống Lincoln đã đề cao gương anh dũng hy sinh của các chiến sĩ của Liên Bang cũng như của Liên Minh miền Nam. Ông mở đầu bài diễn văn bằng cách nhấn mạnh đến lý tưởng tự do và bình đẳng: “Tám mươi bảy năm trước, cha ông chúng ta đã tạo dựng trên lục địa này một quốc gia mới được thai nghén trong Tự Do, được cung hiến cho niềm xác tín rằng mọi người sinh ra đều Bình Đẳng”. Chính vì lý tưởng và niềm xác tín ấy mà hai bên, Liên Bang cũng như Liên Minh Miền Nam đã gặp nhau trên “bãi chiến trường này”. Theo tổng thống Lincoln, chính các chiến sĩ, bất luận thuộc bên nào, mới là những người đã cung hiến mảnh đất này. Kết thúc bài diễn văn, tổng thống Lincoln nói: “Thế giới sẽ không quan tâm, cũng chẳng nhớ đến những gì chúng ta đang nói ở đây, nhưng thế giới sẽ không bao giờ quên những gì họ đã làm tại đây.”
(http://www.abrahamlincolnonline.org/lincoln/speeches/gettysburg.htm)
Dĩ nhiên, thế giới đã không bao giờ quên cuộc nội chiến nhờ đó Hoa Kỳ đã trưởng thành hơn trong lý tưởng Tự Do và niềm xác tín về Bình Đẳng. Nhưng chính tổng thống Lincoln đã xóa bỏ làn ranh giữa hai chiến tuyến để đề cao gương anh dũng hy sinh của các chiến sĩ, bất luận thuộc bên nào, mà thế giới vẫn mãi mãi không bao giờ quên được “bài diễn văn Gettysburg” của ông.
“Bài diễn văn Gettysburg” của tổng thống Lincoln nay đã được đúng 150 tuổi. Bài diễn văn của tổng thống Mustapha Kemal tại nghĩa trang Gallipoli cũng đã tròn 80 tuổi. Thời xa xưa, nhiều vị nguyên thủ quốc gia đã biết nghĩ đến chuyện xóa bỏ hận thù để chỉ nghĩ đến hòa giải và tha thứ, cũng như bày tỏ một niềm tôn kính sâu xa đối với các tử sĩ, bất luận họ thuộc bên “thắng cuộc” hay bên “chiến bại”.
Có bao giờ người Việt Nam chúng ta sẽ nghe được một bài diễn văn như thế tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa không? Tôi mong điều đó biết chừng nào! Tôi chưa từng đặt chân vào Nghĩa Trang này, trước cũng như sau năm 1975. Nhưng tôi tin rằng nhà văn Giao Chỉ đã không quá phóng đại hay thêu dệt khi mô tả lại tình trạng của Nghĩa Trang này như sau: “Ngày 30/4/1975”, quê hương Việt Nam vào tay cộng sản. Sau những chiến dịch đánh tư sản mại bản, đánh tư thương, và đánh tất cả các ngành khác mà chung qui là chúng tịch thu tất cả cơ sở kinh doanh sản xuất của tư nhân và chia chác tài sản quốc gia. Đó là về vật chất, còn về con người thì hằng trăm ngàn quân nhân, viên chức, cán bộ, và một số dân thường, bị chúng đẩy vào các trại tù mà chúng gọi là trại cải tạo không thời hạn. Đó là hành hạ trả thù người còn sống, còn đối với những quân nhân tử trận nằm im trong lòng đất vẫn bị hành hạ trả thù, bằng cách ủi bằng các nghĩa trang địa phương để xây dựng nhà ở hay cơ sở trên đó. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cũng bị phá hoại dưới nhiều hình thức khác nhau, do một đơn vị quân đội của họ trú đóng nơi đây đập phá. Trong thập niên 1990, có tin CSVN giao cho một công ty Đài Loan xây dựng khu kỹ nghệ, nhiều thân nhân xôn xao vội vàng bốc mộ, nhưng không rõ việc gì đã xảy ra mà họ không thực hiện. Do vậy mà Nghĩa Trang vẫn còn đó dù chỉ là từng phần từng mảng trong điêu tàn hoang phế!...
Theo tác giả có bút hiệu “Người Giữ Mộ” thì năm 1983, sau khi ra tù, tác giả đến nơi an nghỉ của những chiến sĩ đã tròn nhiệm vụ với quốc gia dân tộc, để cảm nhận cảnh tiêu điều hoang phế của Nghĩa Trang! Loại cây Hắn Hương rất nhiều rất cao, che phủ Nghĩa Trang, phải len chân mới di chuyển được. Tất cả mộ bia đều bị đập phá hình, khoảng 50% mộ bia ngã xuống đất, phần còn lại thì ngả nghiêng xiêu vẹo, riêng bia của 8 vị Tướng bị đập phá hoàn toàn, nắp xi măng trên phần mộ bị nhà cầm quyền đem cấp phát cho các cơ quan của họ, trong đó có câu lạc bộ bệnh viện Từ Dũ. Thân “Con Ong”, tức là những khu đất phần mộ, trở nên loang lở do bị đào xới” (Việt Báo, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, 19/4/2014).
30 tháng Tư hàng năm, đọc lại những dòng trên đây mà thấy xót xa. Người sống, dù thế nào đi nữa, cũng có thể bương chải để sống còn. Nhưng người chết, nhứt là những người vị quốc vong thân, nếu không được mồ yên mả đẹp thì lẽ ra, vì truyền thống “nghĩa tử nghĩa tận” của dân tộc, không đến nỗi phải bị mang ra cày xéo thêm một lần nữa. Vậy mà “Bên thắng cuộc” vẫn cứ say men chiến thắng và say cả máu người để tiếp tục dẫm đạp lên phần linh thiêng nhứt của con người là mộ phần.
Chiến tranh nào cũng có hồi kết thúc. Có kẻ chiến thắng. Có người chiến bại. 30/4/1975, như nhà báo Huy Đức trong nước đã ghi lại trong tác phẩm “Bên Thắng Cuộc”, muốn hay không, xét về quân sự, rõ ràng là những người cộng sản Miền Bắc đã đánh cho “Mỹ cút, Ngụy nhào”. Nhưng cũng do chính tác giả này nhận định, “kẻ thắng cuộc” đích thực lại không phải là những người cộng sản Miền Bắc, mà chính là Miền Nam Tự Do. Chỉ cần hình ảnh của một “bộ đội” Dương Thu Hương, khi vào “tiếp thu” Sài Gòn, đã phải ngồi ôm mặt khóc ròng trước cảnh tượng của một Miền Nam Tự Do và Thịnh Vượng (vì biết mình bị Bác và Đảng lừa gạt) cũng đủ để nói lên ai mới thực sự là “Bên Thắng Cuộc”. Có anh bộ đội bà con từ Bắc vào Nam thăm thân nhân. Mặc dù sau 1975, thiếu ăn thiếu mặc, gia đình người thân cũng cố làm một bữa cơm xoàng để đãi anh. Không ngờ, chỉ thưởng thức món rau muống chẻ trộn thịt bò thôi, anh đã luôn miệng khen: “Sao mà nó ngon thế, sao mà nó “đế quốc” thế, sao mà nó “nãng mạn” thế”. Không cần phải là một Dương Thu Hương, khi khám phá ra bộ mặt thật của thịnh vượng, tự do của Miền Nam, mới bưng mặt khóc. Có lẽ tôi cũng sẽ khóc khi nhìn gương mặt ngây ngô của anh “bộ đội cụ Hồ” lần đầu tiên được thưởng thức món rau muống chẻ trộn dầu giấm ăn với thịt bò của đế quốc! Khóc vì sao thấy trên đời này có những người tội nghiệp đến thế.
Miền Nam không chỉ giải phóng Miền Bắc bằng sự giàu có, tự do và dân chủ, mà còn “chiến thắng” bằng tình người và tinh thần nhân bản vốn đã hoàn toàn bị thui chột dưới chế độ cộng sản Miền Bắc.
Tưởng niệm các chiến sĩ Úc trong Ngày Anzac, nhưng tâm hồn tôi lại hướng đến Ngày 30 tháng Tư Đen, ngày mà nhà văn Liêu Thái trong nước đã gọi là “Ngày Oan Hồn”, ngày đã đẩy không biết bao nhiêu người Việt Nam đang sống cũng như đã qua đời thành những oan hồn vất vưởng không nơi cư trú. Nhìn nghĩa trang Gallipoli mãi bên tận Thổ Nhĩ Kỳ, tôi lại hình dung ra Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Đọc lại “bài diễn văn Gettysburg” của tổng thống Abraham Lincoln, lắng nghe những lời của tổng thống Mustapha Kemal tại nghĩa trang Gallipoli, tôi không thể không nghĩ đến chiến thắng đích thực trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào. Đó là chiến thắng của hòa giải và tha thứ trên bất khoan nhượng và hận thù. Đó là chiến thắng của tình người và lòng vị tha  trên những toan tính ích kỷ. Đó là chiến thắng của Sự Thật trên Dối Trá và Lừa Gạt .
Nghi lễ của ngày Anzac nào cũng bắt đầu vào lúc hừng đông và kết thúc khi mặt trời vừa ló dạng. Tôi cũng mong có ngày mặt trời của Sự Thật, Công Lý và nhứt là Tình Thương  sớm chiếu tỏa trên quê hương vẫn còn đắm chìm trong tăm tối của Hận Thù và Khốn Khổ.









Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

Tháng Tư Đen, nghĩ về lòng biết ơn



Chu Thập
02/04/14
Tối thứ Hai 31 tháng 3, 2014 vừa qua, Đài Truyền Hình SBS có chiếu một phóng sự ngắn về việc một số người tỵ nạn Việt Nam từ Melbourne đã bày tỏ lòng biết ơn với một vị thuyền trưởng Hòa Lan mà họ gọi là vị cứu tinh của mình.
Với tựa đề “Món quà của Lòng Biết ơn” (Gift of gratitude), bài phóng sự kể lại rằng dạo tháng 2 năm 1982, một chiếc tàu chở hàng của Hòa Lan đã vớt được một nhóm thuyền nhân Việt Nam. Những thuyền nhân này đã lênh đênh trên biển trong nhiều ngày do tàu chết máy và lương thực cũng như nước dự trữ đã cạn. Alisha Fernando là thuyền nhân trẻ nhứt trên chiếc tàu vượt biên. Cô bé chỉ mới được hai tuổi.
Cô nói với phóng viên của Đài SBS rằng nếu không được tàu Hòa Lan vớt, có lẽ tất cả các thuyền nhân đều sẽ chết chìm dưới biển.
Đêm đó, thuyền trưởng Willem Christ của chiếc tàu Hòa Lan và thủy thủ đoàn của ông đã vớt được 168 người, trong đó có Alisha, cha mẹ và chú của cô. Họ được đưa vào trại tỵ nạn Pulau Bidong, Mã Lai và sau đó được định cư tại Úc Đại Lợi.
Vừa đặt chân đến quê hương mới, mẹ cô Alisha đã tìm cách liên lạc với thuyền trưởng Christ. Và ngày nay, 30 năm sau, bà và người con gái của bà đã lên đường đến Amsterdam để gặp gỡ với người mà lúc nào họ cũng gọi là vị cứu tinh của mình. Cô Alisha nói: “Thật là một món quà kỳ diệu khi cuối cùng tôi đã có được cơ hội gặp lại người đã cứu sống tôi. Ông là người đã giúp tôi và cha mẹ tôi có được cuộc sống như ngày hôm nay. (Nếu không) biết đâu tôi lại chẳng là một người ăn xin trên đường phố ở Việt Nam hoặc là một con số trong những thống kê về chiến tranh”.
Sự may mắn mà cô Alisha, gia đình cô và những thuyền nhân  được viên thuyền trưởng Hòa Lan cứu sống, cũng chính là sự may mắn mà tôi và hàng triệu người Việt Nam khác đã có được trong cuộc vượt thoát khỏi thiên đường cộng sản sau năm 1975. Chúng tôi quả là những người Việt Nam may mắn. Bởi lẽ, như cô Alisha đã nói, nếu không thoát khỏi Việt Nam thì ngày nay chúng tôi sẽ như thế nào. Ăn xin trên đường phố quả là một điều tủi nhục. Nhưng chúng ta sẽ nghĩ gì về nỗi tủi nhục của những cô gái Việt Nam bị bán đi làm vợ cho tứ phương thiên hạ, từ Trung Quốc, Đại Hàn, Đài Loan...đến cả Phi Châu. Bên cạnh nỗi tủi nhục riêng tư ấy, còn có nỗi tủi nhục “quốc thể” khi những bộ mặt biểu tượng của đất nước là các cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp lại bị bắt quả tang “ăn cắp” tại Nhựt Bổn. Nhục hơn nữa khi tại Thái Lan, Đài Loan, Đại Hàn, Nhựt Bổn, người ta phải viết những câu bằng ngôn ngữ của đất nước tôi để giải thích về tính phạm pháp của hành vi ăn cắp trong các siêu thị. Dường như ở Á Châu, chỉ có một thành phần trộm cắp cần được cảnh cáo và đề cao cảnh giác là người Việt Nam. Và có lẽ cũng chỉ có một thành phần tham ăn cần được hướng dẫn để không ăn uống một cách phí phạm. Tôi nghĩ rằng người ta có quyền quơ đũa cả nắm khi nói về người Việt Nam, bất luận là người Việt Nam mang quốc tịch của cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay người Việt Nam đang là công dân của những quốc gia tự do, dân chủ và văn minh. Không cần phải mang thông hành xã hội chủ nghĩa Việt Nam để đi đâu cũng bị “soi xét” như Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt đã từng phàn nàn. Nhiều lần ở các phi trường, tôi đã bị các nhân viên hải quan gọi riêng ra để “làm việc”, vì là người Việt Nam, tôi biết mình bị tình nghi có mang theo ma túy hay đồ quốc cấm nào đó. Tôi không  trách người ta có thái độ kỳ thị chủng tộc đối với mình, bởi vì cứ nghe nói đến chuyện “trồng cỏ” ở đâu đó tại Úc Đại Lợi, tại Anh Quốc hay Gia Nã Đại...thì những cái tên “Đinh Lê Lý Trần” Nguyễn...quen thuộc của dân tộc tôi lại hiện ra trước tiên.
Nghĩ đến những thiếu nữ Việt Nam bị bán làm vợ cho tứ phương thiên hạ, tôi vừa cảm thấy nhục nhã vừa thương cảm. Họ chỉ là nạn nhân của một chế độ bất nhân và vô cảm. Nghĩ đến những cô chiêu đãi viên hàng không “ăn cắp” hàng từ nước ngoài mang về nước bán, tôi cũng chỉ biết thương cảm. Họ cũng chỉ là nạn nhân của một chế độ không chỉ cướp lấy quyền sống của con người, mà cũng cướp luôn những giá trị nhân bản tốt đẹp nhứt của dân tộc tôi. Nghĩ đến tất cả những người Việt Nam không có được một sự lựa chọn nào khác hơn là phải làm thân phận của “cột đèn” bị chôn chặt trong thiên đường cộng sản, tôi chỉ thấy uất hận và buồn chán: cả một dân tộc phải bị đọa đày trong ngục tù cộng sản!
Giả như không thoát khỏi xã hội cộng sản, biết đâu tôi chẳng có được vinh dự được làm một nhà bất đồng chính kiến đang ngồi tù rục xương, mà chỉ là một tên đầu trộm đuôi cướp hoặc một gã chán đời suốt ngày la cà trong các quán rượu hoặc cà phê vỉa hè để mà than thân trách phận.
Mỗi dạo Tháng Tư Đen trở về, bên cạnh vô số những phiền muộn của một người ly hương, tôi lại thấy mình là một người may mắn. May mắn được hít thở không khí tự do. May mắn có được một cuộc sống xứng với phẩm giá con người. Nhưng may mắn nhứt là được quyền sống như một người lương thiện. Và theo tôi, một trong những nét nổi bật nhứt trong cung cách của một người lương thiện, chính là được nhắc nhở để luôn biết bày tỏ lòng biết ơn. Xã hội tôi đang sống chưa phải là một xã hội hoàn hảo. Tệ nạn xã hội vẫn còn đầy dẫy. Nhưng ít ra, hàng ngày tôi vẫn còn nghe được hai tiếng “cám ơn” trên đầu môi của hầu hết mọi người tôi gặp gỡ. Họ không ngừng nhắc nhở tôi rằng sống là đi vào quan hệ tương thuộc với người khác và sống cho thực sự ra người là phải biết mình mang ơn mọi người cách này hay cách khác.
Tôi không cho là phóng đại hoặc tổng quát hóa một cách quá chủ quan khi bảo rằng hai tiếng “cám ơn” đã trở thành quý hiếm trong xã hội Việt Nam hiện nay. Bất cứ ai một lần về thăm quê hương cũng đều nhận ra điều đó. Hai tiếng ấy đã hầu như trở thành một phản xạ tự nhiên của người Việt (chớ không phải Việt Kiều như thường bị gọi) đang là công dân tại các nước nơi họ đã định cư. Nói theo kiểu nói của tác giả Nguyễn Khắp Nơi, “Người Việt tôi là thế đấy”. Từ ngàn xưa, người Việt tôi đã biết trọng lễ nghĩa, xem lòng biết ơn như cốt lõi của nhân cách con người. Nhưng  đối với người Việt trong nước hiện nay, nếu hai tiếng cám ơn có trở thành quý hiếm là bởi nó đã bị xóa bỏ khỏi tự điển của người cộng sản và lòng biết ơn dường như cũng đã trở thành một thứ xa xí của chủ nghĩa tư bản cần phải tẩy trừ.
Những người cộng sản lúc nào cũng vỗ ngực tự xưng là vô thần. Thật ra, trước khi là vô thần, họ đã là đồ “vô ơn”. Tôi không cần phải nhắc lại chuyện những người cộng sản đã mang không biết bao nhiêu “ân nhân”, những người đã từng bao che họ ra đấu tố trong thời Cải cách ruộng đất hoặc ép buộc cha mẹ, vợ chồng con cái bôi mặt nhau để mà sỉ vả nhau. Tôi cũng không cần phải nhắc lại chuyện những người cộng sản đã quay lưng lại với chính những người mà họ gọi là “mẹ chiến sĩ”, những người đã từng nhịn ăn nhịn mặc, bảo vệ họ ngay trong “đất địch” để họ có chiến thắng hôm nay. Chỉ cần đọc  khẩu hiệu: “Yêu tổ quốc là yêu xã hội chủ nghĩa” là tôi đã thấy ngay bộ mặt vô ơn của họ. Phải yêu xã hội chủ nghĩa mới yêu tổ quốc, nói như thế là chối bỏ công ơn dựng nước giữ nước của các bậc tiền nhân của dân tộc. Họ có biết mặt mũi của xã hội chủ nghĩa như thế nào đâu mà yêu với thương. Thế chẳng lẽ những tiền nhân, vì không biết và không yêu xã hội chủ nghĩa, nên họ là người “phản quốc”?  Thật là đồ “vô ơn” khi bảo rằng các bậc tiền nhân của dân tộc không yêu tổ quốc.
Một khẩu hiệu khác cũng nói lên bộ mặt vô ơn của người cộng sản. Tưởng nhớ các bậc anh hùng liệt sĩ, những người đã hy sinh cho tổ quốc, người cộng sản không “ghi ơn” hay “nhớ ơn” như dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, mà chỉ có “ghi công”. “Công” thì được ghi, nhưng “ơn” thì không cần phải nhớ. Tôi không phải mất giờ để mà vạch lá tìm sâu về thái độ vô ơn của người cộng sản. Một dân tộc vốn trọng lễ nghĩa, lấy lòng biết ơn làm nền móng của tòa nhà nhân cách, nay lại trở nên “xa lạ” với lòng biết ơn. Ai đã làm cho dân tộc tôi nên nỗi này?
Chuyện cô Alisha cùng mẹ lên đường đi Hòa Lan để bày tỏ lòng biết ơn với vị ân nhân của mình, như Đài Truyền Hình SBS trình chiếu, không phải là một “biến cố” trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại đã ghi lại không biết bao nhiêu cuộc “hành trình” của lòng biết ơn ấy nơi người Việt tỵ nạn. Họ không chỉ hít thở không khí tự do. Họ không chỉ có đủ mọi quyền làm người. Để sống xứng với phẩm giá con người và sống cho ra người, lúc nào họ cũng được nhắc nhở để tỏ lòng biết ơn.
Mỗi dạo Tháng Tư Đen trở về, tôi không chỉ thấy dấy lên trong tâm tư nỗi buồn và lòng thương cảm khi nghĩ đến cả dân tộc đang bị đọa đày trong ngục tù cộng sản và không có điều kiện để phát huy những giá trị nhân bản cao quý của dân tộc, tôi cũng được mời gọi để không ngừng tri ơn tất cả những ai đã góp phần cho tôi có được cuộc sống như ngày hôm nay. Trước hết là những người đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi vượt thoát khỏi thiên đường cộng sản. Kế đó là viên thuyền trưởng, các thủy thủ và nhân viên trên chiếc tàu khoan dầu trong vùng biển Nam Dương đã cứu vớt chúng tôi và đưa về trại tỵ nạn. Rồi sau đó, làm sao quên được đất nước tạm dung, nơi tôi thực sự nếm trải được thế nào là tự do và tình người. Nhưng dĩ nhiên, tôi không biết bao giờ mình mới trả ơn cho hết đối với đất nước đã được tôi chọn làm quê hương thứ hai. Thật ra đất nước này sẽ chẳng là gì nếu không có những con người tôi đang sống với hay gặp gỡ mỗi ngày. Cách này hay cách khác, tất cả đều là ân nhân của tôi. Và mỗi một ngày qua đi đều thêm một ân tình tôi phải trả với người khác. Người Việt chúng ta thường nói: “Hữu sự vái tứ phương, vô sự đồng hương không mất”. Con người dễ vô ơn. Tôi nhận thấy theo thói thường, người ta chỉ muốn nhận chớ không muốn cho đi. Nếu nhận được một ân huệ nào của người khác thì dễ quên đối với vị ân nhân, còn khi mình làm ơn thì lại nhớ rất dai và muốn người ta phải thể hiện lòng biết ơn đó. Tôi vẫn nhớ giai thoại về kịch tác gia nổi tiếng người Anh, ông George Bernard Shaw (1856-1950). Ngày nọ, ông đi dạo qua những tiệm bán sách cũ. Tình cờ ông thấy có một tuyển tập những vở kịch của ông. Tuyển tập này đã từng được đề tặng cho một người bạn. Ở trang đầu của tuyển tập, ông có đề tặng: “Mến tặng bạn hiền. Thân mến. George Bernard Shaw”. Ông liền mua lại tuyền tập đó và ghi lại lời đề tặng mới: “Lại mến tặng bạn hiền. Thân mến. George Bernard Shaw”.
Cứ tưởng tượng một ngày nào đó, có ai cũng nhắc nhở tôi như thế về lòng vô ơn của tôi, chắc chắn đó phải là ngày buồn nhứt trong đời tôi.
Tháng tư là tháng để tôi nhớ mãi bản sắc tỵ nạn cộng sản của mình. Tôi có mặt trên quê hương mới này bởi vì tôi là một người “chống cộng”. Nhưng với tôi, tháng tư cũng nhắc nhở tôi phải không ngừng cố gắng để sống cho ra người hơn và một trong những đức tính mà bao lâu còn sống tôi còn phải trau dồi là lòng biết ơn. Tôi sẽ thôi là người “chống cộng” nếu tôi trở thành người vô ơn.





Thứ Tư, 11 tháng 4, 2018

Chùm khế ngọt



Chu Thập
30.04.13



Trong “quê hương bỏ túi” đằng sau nhà, tôi có trồng một cây khế ngọt. Đúng như nhà thơ Đỗ Trung Quân trong nước đã viết trong bài thơ Quê hương nổi tiếng của ông, trong các thứ cây nhiệt đới, có lẽ cây khế là hình ảnh gợi nhớ quê hương nhiều nhứt, nhứt là những cái bông lấm chấm. Khế ở Việt Nam ra trái quanh năm. Khế ở Úc này có lẽ cảm thông được với tâm trạng buồn nhớ quê hương của người Việt tỵ nạn chăng, cho nên chỉ ra trái vào mùa Thu, mùa có “tháng tư đen”. Trái chín không đậm đà như ở quê nhà, nhưng cũng đủ ngọt để người thưởng thức vẫn nhớ mãi quê hương và biết rằng dù ở đâu hay có mất tất cả, họ vẫn ôm ấp mãi quê hương trong lòng.
Thật ra, với tôi, quê hương không thu gọn trong “chùm khế ngọt trong vườn, con diều thả trên cánh đồng, con đò nhỏ khua nước trên sông, chiếc cầu tre nhỏ bắc qua con mương, giàn hoa bí, giậu mồng tơi, hàng rào dâm bụt …” Dĩ nhiên, nói đến quê hương người ta dễ nhớ đến những kỷ niệm của thời thơ ấu. Nhiều lắm, kể không xiết. Nhưng  quê hương cũng chưa hẳn là những kỷ niệm, những nơi mình đã sống. Có lẽ mỗi người đều giữ cho mình một hình ảnh quê hương của riêng mình. Theo ý nghĩa ấy, người nước nào cũng có một quê hương để ôm ấp. Tôi nghĩ đến trước tiên những người Úc mà tôi đang sống với.
Lối vào nhà tôi hiện nay được chia thành hai con đường cụt nối liền với nhau theo hình chữ T. Có một hiện tượng cứ khiến tôi phải suy nghĩ mãi là: chỉ nội trong 5 năm vừa qua, trong khoảng trên dưới 30 ngôi nhà, đã có hơn một nửa được bán đi. Ngoại trừ vài cặp vợ chồng già, đa số cư dân mới trong xóm của tôi đều là những người mới đến. Người Úc quả không quyến luyến với ngôi nhà họ đang ở. Thích thì ở, không thích thì dọn đi nơi khác. Nhưng có phải vì vậy mà họ không có quê hương sao?
Ở quê tôi, ít có ai bỏ xóm làng để đi phương xa lập nghiệp. Có đói khổ cách mấy, người ta cũng cố bám vào quê cha đất tổ mà sống. Như trường hợp mấy đứa cháu con của bà chị cả của tôi chẳng hạn: mảnh đất của chị để lại rộng không hơn một ngàn thước vuông, vậy mà có đến 5 đứa con của chị chia nhau mỗi người một mảng để cất nhà túm rụm bên nhau.
Kể từ khi ra khỏi Việt Nam, tôi mới nhận thấy rằng quê hương không còn giới hạn trong một mảnh đất hay những kỷ niệm của thời thơ ấu nữa. Vì nhu cầu của cuộc sống, vì đòi hỏi của những tiện nghi vật chất, vì sự cần thiết phải thích ứng với những tiến bộ của kỹ thuật và nhất là vì công ăn việc làm, con người thời đại xem mọi thứ trong cuộc đời này là tạm bợ. Chẳng có nơi nào là nơi chôn nhau cắt rún, chẳng có ngôi nhà nào là nhà của tổ tiên. Nếu cần, nhứt là để thay đổi cuộc sống, người ta có thể bỏ lại tất cả để ra đi.
Trước kia, nhứt là ở thôn quê, giữa con người và sự vật luôn có một quan hệ mật thiết. Thi sĩ Alphonse de Lamartine của Pháp (1790-1869) đã diễn tả đúng sợi giây liên kết giữa con người và sự vật qua câu thơ nổi tiếng: “Hỡi những vật vô tri giác, các ngươi có linh hồn không mà lại quyến luyến với linh hồn của chúng ta và buộc chúng ta phải yêu thương?” (Objets inanimés, avez –vous donc une âme qui s’ attache à nôtre âme et la force d’aimer?). Tôi hiểu được cái thói quen khác thường của cô con gái con của người bạn chí cốt của tôi bên Mỹ. Năm nay đã sắp ra trường đại học, nhưng cô không thể nào ngủ mà không có tấm chăn đã hầu như rách nát mà cha cô đã mua tặng cho mẹ cô khi hai người mới yêu nhau và được dùng để đắp cho cô khi cô còn đỏ hỏn. Giữa con người và sự vật quả có một mối liên kết mật thiết khó giải thích được.
Nhưng trong xã hội tiêu thụ ngày nay, xem chừng mối quan hệ ấy ngày càng lỏng lẻo. Hầu như chẳng có thứ gì mật thiết đến độ khiến con người thời đại phải bám víu vào suốt đời nữa. Từ miếng giấy lau tay, lau mặt thế cho chiếc khăn “mù soa” cho đến chiếc xe hơi, thứ gì cũng có thể dùng rồi vứt đi (disposable) hay bán lại. Văn hóa tiêu thụ cũng đồng nghĩa với văn hóa “vứt bỏ”. Chỉ trong một xóm nhỏ như nơi tôi ở, tháng nào tôi cũng thấy có gia đình mang đồ cũ ra bỏ trước nhà để được hội đồng thành phố cho người đến hốt đi. Thỉnh thoảng, bắt chước người Úc, tôi cũng “ngang nhiên” đi bới rác. Đôi khi, trong cái đống rác nhà giàu này, tôi cũng lượm được khối đồ vật còn tốt chán. Tôi cứ nghĩ: cũ người mà mới ta. Có sao đâu! Nếu có mang chút mặc cảm thì có lẽ không phải vì lượm đồ cũ cho bằng cảm thấy như mình không đóng góp hết mình cho sự chuyển vận của bánh xe kinh tế. Kinh tế nước nào mà cũng gặp toàn dân “trùm sò” như tôi, nghĩa là không thích mua sắm mà chỉ thích xài đồ cũ thì chắc phải sập tiệm thôi!
Kinh tế và kỹ thuật tân tiến ngày nay cứ bắt con người phải chạy theo hàng mới đến bở hơi tai. Có những thứ máy móc như điện thoại hay máy vi tính cầm tay tôi chưa dám đụng tới, vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành lỗi thời. Thứ gì cũng trở thành tạm bợ và nhứt thời đối với người tiêu dùng ngày nay. Hãy nói đến số phận của chiếc xe tại Hoa Kỳ chẳng hạn. Ai cũng thích xe. Ai cũng thích nói về xe. Nhưng “tình cảm” của con người đối với chiếc xe không đủ mãnh liệt để khiến họ phải giữ mãi một chiếc xe. Trung bình, người dân Mỹ chỉ xử dụng một chiếc xe 3 năm rưỡi. Chính vì thời gian xử dụng một chiếc xe không quá lâu mà kỹ nghệ bán xe cũ mới thịnh đạt. Chính kỹ nghệ xe hơi tại Hoa Kỳ đã thành công trong việc đánh đổ cái quan niệm truyền thống cho rằng đã mua sắm cái gì thì phải xử dụng nó cho đến cùng. Ngày nay, “ăn chắc mặc bền” có thể là một quan niệm đi ngược lại với sự phát triển của kinh tế. Nói đến kinh tế là phải nói đến sản xuất và tiêu thụ. Có tiêu thụ nhiều, nghĩa là có xài rồi vứt bỏ thì mới có sản xuất và như vậy kinh tế mới phát triển.
Song song với việc thay đổi xe nhanh chóng như thế, có một hiện tượng khác phát sinh từ Hoa Kỳ và lan rộng đến hầu hết mọi nơi trên thế giới: đó là việc thuê xe! Ngày nay, nhứt là trong những thành phố lớn, nơi mà chỗ đậu xe cũng đắt gần như mua một chiếc xe mới, ngày càng có nhiều người thay vì mua xe đã chọn giải pháp thuê xe. Đi đâu cũng thuê xe được. Ở đâu cũng có chỗ cho thuê xe. Vừa tiện lợi, vừa ít tốn tiền, vừa không phải đóng bảo hiểm và thuế đường hàng năm.
Mà đâu chỉ có xe hơi. Hiện nay, bất cứ vật dụng gì cũng đều có thể thuê mướn được. Nhiều người ngày nay có lẽ cũng thích mướn nhà hơn mua nhà. Trong thời kỳ Đại khủng hoảng kinh tế hồi thập niên 1930 của thế kỷ trước, khi có đến hàng triệu người thất nghiệp và lâm cảnh “vô gia cư” thì có được một ngôi nhà riêng của mình là một mơ ước cả đời người và đồng thời cũng là động lực thúc đẩy kinh tế trong các xã hội tư bản. Ngay nay, ở đâu cũng thế, ước muốn có được một ngôi nhà riêng của mình vẫn luôn mạnh. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ chẳng hạn, kể từ sau Đệ nhị thế chiến, tỷ lệ của những căn phòng được cất lên để cho thuê ngày càng gia tăng. Cuối năm 1955, tỷ lệ này chỉ có khoảng 8 phần trăm số nhà ở. Đầu thập niên 1960, tỷ lệ này lên đến 24 phần trăm. Hiện nay, nhứt là trong những thành phố lớn, số người ở nhà thuê ngày càng gia tăng. Vì tình trạng tài chính của gia đình cũng có, vì công ăn việc làm cũng có mà vì sở thích cũng có. Người ở nhà thuê luôn có cái cảm giác được tự do. Họ có thể thay đổi chỗ ở bất cứ lúc nào. Giữa đô thị, con người thời đại vẫn có thể sống kiếp “du mục” nay đây mai đó.
Hãy thử tưởng tượng nhịp sống của một viên giám đốc công ty tại Wall Street chẳng hạn.  4.30 chiều mỗi thứ sáu, ông xếp lại giấy tờ và cho vào một chiếc cặp xách tay. Từ tầng lầu thứ 29 của một cao ốc, ông đi thang máy xuống tầng trệt và mất 10 phút để chen chúc trong đám đông mới có thể đến một bãi đậu dành cho trực thăng. 6 phút sau, ông ra đến phi trường J.F Kennedy. Một giờ sau, ông đến phi trường Colombus, tiểu bang Ohio. Từ đây, ông mất khoảng 30 phút để lái xe về nhà.
Mỗi tuần, ông ngủ bốn đêm trong một khách sạn ở Manhattan. 3 đêm còn lại, ông dành cho vợ con tại Columbus. Trung bình, mỗi năm, ông đi đi về về như thế gần một trăm ngàn cây số.
Chuyện đi lại của viên giám đốc trên đây không phải là một trường hợp cá biệt. Tại tiểu bang California, mỗi sáng những chủ nông trại giàu có đều lái máy bay khoảng hai trăm cây số từ nhà của họ ở vùng duyên hải Thái bình dương đến thung lũng San Bernadino Valley để thăm các nông trại và ở lại đó cho đến chiều tối.
Ngày nay, với những phương tiện di chuyển ngày càng tối tân, con người ngày càng đi lại nhiều hơn. Thời đệ Nhứt thế chiến, trung bình một người Mỹ mỗi năm chỉ di chuyển tối đa gần 3 ngàn cây số. Ngày nay, tại Hoa Kỳ cũng như tại Úc Đại Lợi này, những người có xe riêng mỗi năm có thể di chuyển đến 20 ngàn cây số (x. Alvin Toffler, Future Shock, Pan Books, London 1971).
Không quyến luyến với sự vật mình đang xử dụng, không gắn bó với ngôi nhà mình đang ở, phải chăng con người thời đại ở các nước văn minh không có một “quê hương” để nhớ? “Trông người lại nghĩ đến ta”, phải chăng bỏ nước ra đi như tôi là mất quê hương? Tôi còn nhớ, trong những ngày đầu tiên khi từ trại tỵ nạn mới đến Pháp, giấy chứng nhận là người tỵ nạn tôi nhận được có ghi rõ tình trạng của tôi: “vô tổ quốc”, nghĩa là không phải là công dân của một quốc gia nào. “Vô tổ quốc” nhưng không phải là “vô quê hương”. Điều đó có nghĩa là dù có ăn nhờ ở đậu ở đâu, ai cũng còn có một quê hương. Và ngay cả không thể trở về quê hương, họ cũng vẫn mang theo một quê hương trong lòng.
Nghĩ như thế cho nên kể từ lúc bỏ nước ra đi, dù sống ở chân trời góc bể nào, tôi cũng vẫn luôn thấy mình vẫn còn có một quê hương. Người ta có lý để gọi đất nước mình chọn lựa để dung thân là quê hương thứ hai. Quê hương thứ hai không chỉ là lãnh thổ của một đất nước, ngôi nhà mới mình đang cư ngụ, cảnh vườn mới xung quanh nhà, mà còn là hình ảnh của quê hương cũ được mình cố gắng tái hiện bằng nhiều cách. Chính trong ý nghĩ đó mà tôi cố gắng tạo dựng một “quê hương bỏ túi” trong ngôi vườn đàng sau nhà.
Tôi đã có dịp trở lại thăm “quê nhà”. Nhớ quê hương, yêu mến quê hương thì lúc nào tôi cũng có. Nhưng trở về sống ở quê hương bây giờ thì dứt khoát không. Bởi cái quê hương của “riêng” tôi không còn nữa. Không phải vì khung cảnh cũ không còn mà chính là vì cái chất “keo” thiêng liêng của an bình, của đầm ấm giữa xóm làng, giữa người với thiên nhiên trong cái nhìn của tôi không còn nữa. Cũng mảnh đất quê hương ấy, cũng những con người ấy, nhưng cái chất “keo” kia ra vẻ không còn nữa. Nhìn nhau thật sâu nhưng sao không tìm thấy mình trong đáy mắt của người kia. Ngồi cách nhau một mặt bàn mà xa nhau hơn nửa vòng trái đất. Tôi sợ mình sẽ trở thành người xa lạ ngay chính trên quê hương của mình. Nhưng mãi mãi không gì có thể làm cho nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương trong tôi.
“Quê hương là chùm khế ngọt”. Đúng vậy, tôi không thể thưởng thức trái khế ngọt trong “quê hương bỏ túi” đàng sau nhà mà không cảm thấy như mình đang sống ở quê hương. Thật ra đâu chỉ có chùm khế ngọt. Một khung cảnh thanh bình, một môi trường lành mạnh, những mối quan hệ tốt đẹp với người lối xóm…ở đâu tôi cảm thấy an bình thì ở đó chính là quê hương của tôi vậy.






Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2016

Mưa tím


Chu Thập
29.4.16
Úc Đại Lợi vừa kỷ niệm lần thứ 101 ngày Anzac. Một trong những người sống sót cuối cùng của  khoảng 60 ngàn binh sĩ Úc và Tân Tây Lan tham gia  cuộc đổ bộ lên bờ biển Gallipoli, Thổ Nhĩ Kỳ ngày 25 tháng 4 năm 1915 là ông Alec Campbell đã qua đời năm 2002. Trong số những người hành hương mỗi năm sang Gallipoli hay tham gia các cuộc tưởng niệm tại khắp nơi ở Úc Đại Lợi, người ta chẳng còn thấy bóng dáng của bất cứ một nhân chứng sống nào của biến cố nữa. Vậy mà hàng năm, dù xuất phát từ gốc gác nào, dù thuộc chủng tộc, mầu da hay văn hóa nào, tất cả mọi người Úc, kể cả người Úc gốc Việt cũng đều cảm thấy biến cố lịch sử đó như một phần của cuộc sống của mình.
Đối với người Úc gốc Việt, ngày Anzac còn có một ý nghĩa đặc biệt như thế huống chi là “Tháng Tư Đen”. 41 năm là một quãng thời gian dài trong đời người. Nhưng với phần lớn người Việt tỵ nạn đang sống rải rác trên khắp thế giới, Tháng Tư Đen có lẽ chỉ như một ác mộng  mới xảy ra hôm qua.
Đó là cảm nghiệm riêng của tôi. Tháng Tư Đen  có 30 ngày thì ngày mùng một tháng tư đã bắt đầu được “đếm” tại Thành phố Nha Trang của tôi. Nếu có được sống đến 103 tuổi như cụ Campbell và dĩ nhiên nếu  không bị lú lẫn thì, nếu có ai hỏi tôi hình ảnh nào đáng ghi nhớ nhứt trong Tháng Tư Đen, tôi sẽ không ngần ngại  trả lời rằng đó là cơn mưa lạ lùng đổ xuống trên thành phố thân yêu của tôi.
Miền trung, nếu tính từ Bình Thuận trở ra đến Bình Định, có lẽ là vùng ít có mưa nhứt của Việt Nam. Mỗi năm, trời chỉ “hành” vài cơn lụt trong tháng 9 và tháng 10 Âm lịch, sau những trận mưa thúi đất kéo dài đến cả hai ba tuần lễ. Thời gian còn lại, tính từ tháng 3 cho đến tháng 8 âm lịch, là mùa khô. Bước vào tháng Tư Dương lịch, người ta đã nghe được từng cơn gió nồm đốt cháy cả thịt da. Vậy mà không hiểu sao, tôi vẫn còn nhớ rõ, suốt cả đêm mùng một tháng tư năm 1975, bầu khí ngột ngạt do làn sóng người di tản từ khắp nơi đổ về Nha Trang tạo ra  lại càng nóng rực lên để rồi sau đó biến thành một cơn mưa tầm tã kéo dài cho đến hết ngày mùng hai là ngày thành phố được “bên thắng cuộc” tuyên bố được hoàn toàn “giải phóng”. Suốt ngày mùng hai năm đó, tôi đã như nhà văn Trần Dần (1926-1997) của Thời Nhân Văn Giai Phẩm ngoài Bắc, “tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”. Dĩ nhiên, trong những ngày đầu khi các bộ đội “Cụ Hồ” trong bộ ca ki Nam Định và dép râu ngồi trên những chiếc xe tăng 54 ngơ ngác tiến vào thành phố và những ông “cách mạng 30” như “chó tháng Bảy” chạy loanh quanh thành phố để ca mừng chiến thắng, người ta chỉ mới thấy được trương lên cờ giải phóng. Nhưng có lẽ trong ánh mắt buồn thảm của tôi và của người dân Thành phố Nha Trang , “mưa sa” đã biến mọi thứ thành màu đỏ.
Nhìn đâu cũng thấy “mưa sa trên màu cờ đỏ” cho nên ánh mắt của tôi  có khi cũng bị hoa lên để chỉ thấy toàn màu đen của chết chóc và thất vọng. Dĩ nhiên, trong những ngày đầu, khi chứng kiến cảnh một vài chiếc oanh tạc cơ của Không lực Việt Nam Cộng Hòa từ phía nam bay ra để dội bom xuống Cầu Bóng hầu chận đường tiến của Cộng quân, một vài người, trong đó có tôi, vẫn còn ngây ngô để  nuôi chút hy vọng hão huyền là Thành phố Nha Trang sẽ được “giải phóng” ngược hay ít ra một số tỉnh ở phía Nam sẽ không rơi vào tay Cộng sản. Nhưng rồi cứ nghe các bài phóng sự và tường thuật của Đài BBC “dẫn đường” cho quân đội Bắc Việt tiến vào phía Nam, nhìn quanh quẩn tôi chẳng còn thấy có chân trời nào nữa. Bầu trời như sụp xuống. Cho tới lúc đó tôi chưa từng biết thế nào là thất tình hay trải qua bất cứ sóng gió nào trong cuộc sống tình cảm. Vậy mà không biết sao tôi lại cứ ngâm nga bài “Nửa hồn thương đau” để rồi cứ lập đi lập lại câu: “nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt”. Thật ra đâu có cần phải nhắm mắt mới thấy “một chân trời tím ngắt”. Mắt vẫn mở trao tráo mà chẳng còn thấy bất cứ một thể hiện hay biểu trưng nào của hy vọng, sự tin tưởng, niềm vui và nhứt là nụ cười của con người.
Trong nhiều biểu hiện của chết chóc trong thiên đàng cộng sản vừa mới chớm nở, cái chết của nụ cười hẳn phải là nét đặc trưng nhứt. Người ta không còn muốn cười vì nhìn đâu cũng thấy bế tắc. Người ta không còn muốn cười vì đã bắt đầu nhìn đâu cũng thấy kẻ thù.
Mới đây, một người Úc tên là Elliott Davies, không rõ do một cơ duyên nào đó đã được may mắn viếng thăm “thiên đàng cộng   sản” Bắc Hàn. Những hình ảnh ông thu thập được và được cho đăng tải trên báo Daily Mail và Đài ABC phần lớn được tập trung vào một chuyến đi xuyên qua một tuyến đường xe lửa ngầm tại Thủ đô Bình Nhưỡng. Đường xe lửa ngầm này được xem là sâu nhứt  thế giới và có lẽ cũng là một trong những tuyến đường đẹp và sạch sẽ nhứt thế giới. Có những chỗ phải mất đến cả 4 phút mới xuống đến trạm xe trong lòng đất.  Trong những hình ảnh tác giả thu được, ở bất cứ trạm nào người ta cũng chỉ thấy hình tượng của “cha già dân tộc” Kim Nhật Thành và con ông, Kim Chính Nhật. Trong những bức chân dung được tô vẽ rất hoành tráng hoặc những bức tượng chạm vàng óng ánh, đây là 2 khuôn mặt biết cười duy nhứt trong thiên đàng cộng sản Bắc Hàn. Còn những gương mặt của tất cả mọi hành khách trên bất cứ chuyến xe lửa ngầm nào được tác giả thu hình được, cũng đều trông giống như những người máy lạnh lùng, vô cảm và dĩ nhiên không biết cười. Trong các cuộc biểu dương công cộng, người dân Bắc Hàn có thể vỗ tay, có thể múa nhảy, có thể cười và ngay cả khóc. Nhưng tất cả mọi động tác đương nhiên đều được làm theo lệnh. Họ đúng là những cái xác chết biết đi.
Có lẽ đó là cũng là cảm nhận của tôi khi nhìn vào thiên đàng cộng sản vừa mới được khai sinh trong thành phố của tôi trong những ngày đầu tháng Tư năm 1975. Người dân đã bắt đầu biết thế nào là phải nhìn trước ngó sau trước khi mở miệng để nói hay ngay cả để cười. Tầm nhìn bị thu ngắn lại. Cường độ của giọng nói cũng phải bị giảm lại. Ánh mắt như bị che kín bởi toàn mầu đen cho nên  không còn dám tự nhiên trao gởi niềm tin nơi người khác. Tựu trung, buồn thảm là biểu lộ duy nhứt mà người dân trong chế độ cộng sản còn được tự do để bày tỏ.
41 năm đã qua, nhưng nhìn lại những ngày đầu tháng Tư trong thành phố thân yêu của mình, tôi vẫn thấy như mới hôm qua. Ngày nay, cũng như phần lớn những người tỵ nạn Việt Nam trên khắp thế giới,  tuy không thuộc thành phần ăn nên làm ra, nhưng tôi đã có cuộc sống ổn định. Lâu lắm rồi, tôi không còn thấy mình được ăn cỗ trong những giấc mơ. Tôi cũng chẳng còn bị công an rượt đuổi trong những cơn ác mộng. Ngay từ những đầu khi đặt chân đến đất nước đã đón nhận mình, tôi đã có thể đi từ nước này qua nước khác mà chẳng cần phải xin chiếu khán. Đến bất cứ một nơi xa lạ nào, tôi cũng chẳng cần phải đến bất cứ một văn phòng nào để trình “hộ chiếu” hay “đăng ký tạm trú”. Nói gì đến các quyền tự do khác. Chẳng có ông cảnh sát hay công an nào rình rập xem tôi có ăn nói “phản động” hay không.
Tôi có cuộc sống ấm no. Tôi hiểu được thế nào là tự do và dân chủ. Tuy nhiên, mỗi năm cứ mỗi lần “Tháng Tư Đen” trở lại, cứ mỗi lần nhớ lại những ngày đầu bước vào “thiên đàng cộng sản” và nhứt là ngày nay khi nhìn vào xã hội Việt Nam trong đó bao nhiêu người thân và đồng bào của mình vẫn đang tiếp tục quằn quại trong kiếp đọa đày, tôi lại thấy những đám mây đen của những ngày đầu tháng Tư trong thành phố thân yêu của tôi hiện về.
Biết chừng nào mới hết “mưa sa trên màu cờ đỏ”? 41 năm rồi, năm nào cứ Tháng Tư Đen trở về tôi cũng đều tự hỏi như thế và rồi tự nuôi hy vọng “trước sau gì cơn ác mộng cũng sẽ qua đi thôi”.
Sự ra đi bất thần của ca nhạc sĩ nổi tiếng Prince đã khiến cho cả thế giới thương tiếc. Trước đây thỉnh thoảng tôi có nghe nói đến tên ông, người đã từng 7 lần đoạt giải âm nhạc danh giá Grammy Awards và năm 2004 được “phong thần” trong bảo tàng viện danh giá “The Rock and Roll Fame and Museum”. Sở dĩ tôi chú ý đến người ca nhạc sĩ tài ba này là vì trong những ngày vừa qua truyền màn ảnh truyền hình, ca khúc có tựa đề ngộ nghĩnh “Purple Rain” (mưa tím) của ông cứ được phát đi phát lại. Có lẽ đây là ca khúc nổi tiếng nhứt của người nghệ sĩ này. Nghe tiếng Anh lõm bõm, tôi không hiểu hết được bài hát. Nhưng khi mở Google để đọc lại toàn văn ca từ, tôi  nhận thấy có những câu thật dễ thương. Chẳng hạn như những câu: “ Anh chỉ muốn thấy em tắm trong mưa tím....Anh chỉ muốn thấy em đi trong mưa tím... Cưng ơi, anh biết rằng thời gian đang thay đổi. Đã đến lúc tất cả chúng ta phải vươn lên một cái gì mới mẻ. Em cũng vậy”.
41 năm qua, nhìn lại lịch sử thế giới, tôi thấy có những điều bất ngờ xảy ra ngoài dự đoán của mọi người. Đáng chú ý nhứt dĩ nhiên là sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại Đông Âu năm 1989 và hai năm sau đó là sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại cái nôi sinh ra nó là Nga. Ngày nay, sau khi Nghị viện Âu Châu thông qua nghị quyết ngày 25 tháng 10 năm 2010, qua đó lên án những tội ác chống lại nhân loại của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa này đã bị quăng vào sọt rác của lịch sử nhân loại. Chuyện xảy ra trong thế giới cộng sản tại Đông Âu và Nga tưởng như chỉ có trong mơ. Tôi thấy mình có đủ lý do để lạc quan khi nhìn về viễn ảnh của chế độ cộng sản tại Việt Nam. Tôi hy vọng và tin tưởng rằng chế độ cộng sản trước sau gì cũng sẽ sụp đổ trên quê hương. Niềm mơ ước duy nhứt và lớn nhứt còn lại của tôi trước khi nhắm mắt lìa đời là được nhìn thấy niềm vui vỡ bờ của người dân Âu Châu khi được giải phóng khỏi Đức Quốc xã và các chế độ cộng sản cũng được lập lại trên quê hương mình.
“Mưa tím” đã từng che kín cả bầu trời của thành phố Nha Trang của tôi trong những ngày đầu Tháng Tư Đen. Nhưng cũng như ca nhạc sĩ Prince đã nói đến sự thay đổi của thời gian, tôi cũng muốn tin tưởng lập lại câu nói quen thuộc: “Sau cơn mưa trời lại sáng”.
Không những chỉ trong cái nhìn về chế độ cộng sản tại Việt Nam, mà còn trong cả cuộc sống hàng ngày, xuyên qua những đám mây mù của thất bại, bệnh tật, khổ đau và ngay cả tuổi già, tôi cho rằng con người chỉ thực sự cảm thấy tự do khi biết nhìn về tương lai với niềm lạc quan và vui sống. Với tôi đó cũng là bí quyết để luôn được sống thanh thản và an bình.