Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Papua New Guinea và nạn bạo hành đối với phụ nữ


16.10.15

Một trong những vấn đề trầm trọng nhất hiện nay tại Papua New Guinea, cựu thuộc địa của Úc Đại Lợi, là tệ nạn ma thuật. Một cách chính xác hơn, nhiều phụ nữ bị sát hại vì bị tố cáo là phù thủy. Thật ra, đây không chỉ đơn giản là vấn đề ma thuật hay phù thủy. Đàng sau vấn đề này là nạn bạo hành đối với phụ nữ, việc lấn chiếm đất đai và ngay cả mức phát triển nhanh chóng của quốc gia hải đảo này.
Trong một thông cáo báo chí được cho công bố ngày 26 tháng 5 vừa qua, Tổ chức Ân xá Quốc tế đã kêu gọi chính phủ Papua New Guinea hãy nỗ lực hơn trong việc bảo vệ phụ nữ sau khi một phụ nữ tên là Migila bị một nhóm đàn ông chém chết. Hai phụ nữ khác cũng bị đe dọa, nhưng đã kịp trốn thoát. Cả ba người phụ nữ này, cùng với con cái họ, đã bị tố cáo “làm phù thủy”.
Mục sư Anton Lutz, một nhà truyền giáo Tin Lành làm việc lâu năm tại Papua New Guinea, đã từng đứng ra tranh đấu cho quyền được sở hữu đất đai của người dân. Ông đã thu thập tài liệu liên quan đến những vụ tấn công nhắm vào phụ nữ. Nói với phóng viên của hãng thông tấn AAP của Úc Đại Lợi, mục sư Lutz cho biết những kẻ sát nhân tin rằng người phụ nữ bị giết chết là một “Sanguma”, tức một mụ phù thủy. Bà ta bị tố cáo đã gây ra nhiều cái chết và mang lại bất hạnh cho thế giới. Một chứng nhân trong vụ hành quyết người phụ nữ nghe một tên sát nhân nói: “Xin lỗi bà chị. Nhưng hôm nay là ngày chị phải chết”.
Cái chết của bà Mifila là điều rất thường xảy ra. Những vụ tấn công, phần lớn nhắm vào những phụ nữ vô phương tự vệ, dựa vào những cáo buộc về hoạt động phù thủy.
Dân số hiện nay của Papua New Guinea là 7.3 triệu người, với trên 850 ngôn ngữ, văn hóa và phong tục khác nhau. 80 phần trăm dân số vẫn còn sống ở thôn quê và vùng hẻo lánh. Tình trạng đi lại khó khăn khiến cho việc thực thi công lý rất khó khăn.
Mặc dù đất nước có được hiện đại hóa, những vụ tấn công nhắm vào phụ nữ, ngay cả những hành động man rợ, vẫn tiếp tục gia tăng. Chính phủ đã đưa ra một số biện pháp để chận đứng tệ trạng này. Một trong những biện pháp đó là bãi bỏ Luật Chống Phù thủy có từ năm 1971.
Vấn đề ma thuật và phù thủy tại Papua New Guinea được thế giới chú ý tới vào năm 2013 sau khi một thước phim về việc thiêu sống một thiếu nữ 20 tuổi tên là Kepari Lanieta được phát tán đi khắp nơi. Ngay cả trong nước dân chúng cũng tỏ ra ghê tm và phẫn nộ.
Không đầy 2 tháng sau vụ thiêu sống nói trên, bà Helen Rumbali, chủ tịch của hiệp hội có tên là “Liên Đoàn Phụ Nữ Miền Nam Bougainville” lại bị tra tấn và chặt đầu. Mặc dù thật đáng ghê tm, những vụ giết người như thế lại rất thường xảy ra. Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, những vụ tấn công như thế xảy ra hàng tuần. Chính phủ Papua New Guinea cũng nhìn nhận  rằng có tới 150 người bị giết chết như thế mỗi năm chỉ trong một trong số 20 tỉnh trên toàn quốc. Tất cả những người bị giết chết đều bị tố cáo hành nghề phù thủy. Những vụ hành quyết ngày càng có tính man rợ hơn. Trước kia, nạn nhân chỉ bị xô xuống một vực thẳm. Nay họ có thể bị tra tấn bằng những thanh sắt nung đỏ dí vào bộ phận sinh dục trước khi bị mang ra thiêu sống và để cho chết từ từ. Ngày nay, ngay cả những thanh niên thất nghiệp và không hề có bất cứ niềm tin nào vào chuyện ma thuật cũng tham gia vào việc tấn công và giết người như thế. Hiện nay tỷ lệ thất nghiệp tại Papua New Guinea rất cao và mặc dù kỹ nghệ khí đốt đang phát triển nhanh, các tệ đoan cuồng tín vẫn còn ăn sâu trong người dân.
Thủ tướng Papua New Guinea, ông Peter O’Neill đã có lần nói rằng “thật là điều đáng lên án khi phụ nữ, người già và những thành phần yếu kém trong xã hội, lại bị tấn công và tố cáo vì những hành vi ma thuật mà họ không hề biết tới”
“Luật chống phù thủy” (Sorcery Act) được Chính phủ Papua New Guinea ban hành năm 1971. Luật này cho phép tấn công những người bị nghi ngờ có hành động phù thủy hay ma thuật. Các tổ chức quốc tế và địa phương hoạt động trong lãnh vực này hay trong những vấn đề liên quan đến việc bạo hành đối với phụ nữ, đã hoan nghênh quyết định của chính phủ nước này bãi bỏ luật chống phù thủy hồi năm 2013. Một bản phúc trình về vấn đề này được Liên Hiệp Quốc cho công bố trong năm đó nói rằng những vụ tấn công dựa trên những cáo buộc về hoạt động phù thủy có thể được xếp vào loại hành vi như tra tấn hoặc khước từ công lý. Bản phúc trình cũng viết rằng mặc dù Chính phủ Papua New Guinea không thể bị qui trách cho những hành động của cá nhân, nhưng chính phủ nước này vẫn phải chịu trách nhiệm vì không chịu ngăn cản, điều tra, truy tố hoặc đền bù cho những thiệt hại do những cuộc tấn công như thế gây ra.
Nói chung, tại Papua New Guinea, phụ nữ không có thân nhân nam giới như anh em hoặc con trai bên cạnh hoặc góa chồng nhưng vẫn còn sống trong làng của người chồng quá cố thường dễ trở thành nạn nhân của những vụ tấn công. Theo bản phúc trình của một báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc, phụ nữ là những người đầu tiên bị buộc tội khi xảy ra một cái chết bí ẩn hoặc một sự rủi ro nào đó trong gia đình hay làng mạc. Chính vì vậy mà người phụ nữ luôn lo sợ bị tố cáo hành nghề phù thủy.
Tuy nhiên, lý do khiến người phụ nữ Papua New Guinea dễ bị tố cáo làm phù thủy không chỉ là não trạng trọng nam khinh nữ mà còn là tiền bạc. Chẳng khác nào thời có tòa Điều tra Tôn giáo (Inquisition) tại Tây Ban Nha, các “phù thủy” tại Papua New Guinea bị tấn công chỉ vì những vụ tranh giành tài sản. Theo một cuộc nghiên cứu của tổ chức từ thiện Oxfam của Anh Quốc, tại Papua New Guinea, cứ 3 vụ tố cáo về phù thủy thì có 2 vụ liên quan đến việc tranh giành tài sản. Các vụ tố cáo được sử dụng như một phương thế để chiếm đoạt tài sản như đất đai, nhà cửa hoặc cơ sở kinh doanh của người bị tố cáo. Tại những vùng xa xôi ho lánh, thủ tục khiếu kiện lại phức tạp. Nhiều nạn nhân đành bỏ cuộc hoặc tìm cách giải quyết bên ngoài tòa án.
Theo các nhà nghiên cứu, một phần của tệ nạn “tố cáo phù thủy” tại Papua New Guinea xuất phát từ tình trạng y tế và giáo dục thấp kém. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổi thọ trung bình của nam giới tại nước này chỉ có khoảng 60 tuổi, nghĩa là 20 năm thp hơn so với nam giới tại các nước phát triển.
Những nguyên nhân chính dẫn đến tử vong tại nước này chỉ là những căn bệnh có thể phòng ngừa được như sốt rét và lao.
Tỷ lệ tử vong và bệnh tật cao là hậu quả của sự dốt nát và thiếu hiểu biết. Theo Quỹ Nhi Đồng Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc, chỉ có 8 phần trăm trẻ con Papua New Guinea học tới bậc Trung Học.
Nằm ở phía Bắc Úc Đại Lợi, với diện tích 462.840 cây số vuông,  Papua New Guinea đã được Úc trao trả độc lập vào năm 1949. Nhờ tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhất  khoáng sản và khí đốt, vào năm 2011, Papua New Guinea được xếp vào hàng thứ 6 trong danh sách những quốc gia có sự tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới. Vàng, dầu thô và đồng chiếm đến 72 phần trăm kim ngạch xuất cảng. Trong những năm vừa qua, việc sản xuất dầu dừa cũng gia tăng. Đây là sản phẩm nông nghiệp xuất cảng chính của Papua New Guinea. Ngoài ra,  cà phê, ca cao, trà, cao su cũng đóng góp nhiều cho tổng sản lượng quốc gia.
Năm 2006, vì tình trạng kinh tế và xã hội trì trệ, cơ quan có tên là “Chương trình Phát triển” của Liên Hiệp Quốc đã rút tên Papua New Guinea ra khỏi danh sách các nước đang phát triển và đưa vào số những nước kém phát triển nhất. Tuy nhiên, cuối năm 2008,  Quỹ Tiền Tế Quốc Tế lại nhìn nhận rằng nước này đã đạt được một nền kinh tế vĩ mô ổn định. Thật vậy, năm 2007, Papua New Guinea đã có được một thập niên tăng trưởng kinh tế  trên 6 phần trăm, ngay cả trong thời kỳ suy trầm kinh tế toàn cầu trong 2 năm 2008 và 2009. Năm 2011, tổng sản lượng quốc gia của nước này tăng 8.9 phần trăm. Năm 2012, theo Ngân hàng Phát triển Á Châu, mức tăng trưởng kinh tế lại lên đến 9.2 phần trăm. Sở dĩ Papua New Guinea đạt được mức tăng trưởng kinh tế nhanh như thế là nhờ giá thương phẩm gia tăng. Kể từ năm 2009, kinh tế Papua New Guinea lại càng khởi sắc hơn khi mỏ khí đốt tự nhiên ở thể lỏng (LNG: Liquefied Natural Gas) được khám phá.
Cuối năm 2014, Công ty dầu khí ExxonMobil đã bắt đầu khai thác và xuất cảng sang Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn và một số nước Á Châu khác. Công ty “Oil Search” của Papua New Guinea cũng hợp tác với ExxonMobil với 29 phần trăm cổ phần.
Một số công ty ngoại quốc khác như Total S.A của Pháp, InterOil của Mỹ cũng đã đầu tư khai thác dầu khí của Papua New Guinea. Công ty Royal Dutch Shell của Anh và Hòa Lan cũng tỏ ý muốn đầu tư vào việc khai thác và xuất cảng khí đốt của Papua New Guinea.
Với triển vọng trên đây, Ngân Sách được Chính phủ Papua New Guinea công bố dạo tháng 11 năm vừa qua dự đoán kinh tế nước này sẽ tăng 15.5 phần trăm. Riêng Ngân hàng Phát triển Á Châu lại dự báo rằng trong năm 2015 này, tổng sản lượng quốc gia của Papua New Guinea sẽ tăng 21 phần trăm, nghĩa là thêm 6 phần trăm so với năm ngoái. Còn báo The Economist, trong số ra hồi tháng trước, tiên đoán rằng trong năm nay nước này sẽ đạt mức phát triển nhanh nhất thế giới.
Thật ra trên đây chỉ là những dự báo. Ông Paul Flanagan, người đã từng là cố vấn của chính phủ Papua New Guinea, nói rằng nước này cần phải thích ứng với việc giá dầu giảm đến 35 phần trăm để tránh rơi vào khủng hoảng. Ngoài ra, cũng theo ông Flanagan, các chính sách tài chính và tiền tệ yếu kém của Chính phủ Papua New Guinea cũng làm giảm đi những phúc lợi mà dự án khai thác khí lỏng LNG có thể mang lại.
Vin tượng của một nền kinh tế phát triển mạnh xem ra khó đến trong một nền dân chủ còn non nớt và tình hình chính trị luôn bất ổn. Tình trạng này đã khiến cho Papua New Guinea thường bị xếp vào danh sách những nơi có bạo động tồi tệ nhất trên thế giới, nhất là bạo động về giới tính. Theo thống kê, có đến hơn 40 phần trăm đàn ông tại đảo Bougainville bị tố cáo có hành động hãm hiếp đối với phụ nữ. Trong số này có đến 14 phần trăm tham gia hãm hiếp tập thể. Theo Quỹ Nhi Đồng Quốc Tế, một nửa nạn nhân của hãm hiếp chưa đến 15 tuổi và ngay cả dưới 7 tuổi.
Trong một đất nước đầy bạo động như thế, nhất là đối với những thành phần yếu kém dễ bị tổn thương nhất, chính phủ Úc Đại Lợi đã mang tiếng là vô nhân đạo khi đẩy người tầm trú vào trại giam giữ tại đảo Nauru của Papua New Guinea.



Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Học làm người tử tế

Chu Thập
9.10.15

Trong giờ chạy bộ mỗi buổi sáng, tôi đã học được một thói quen tốt của người Úc trong vùng tôi đang sống: gặp bất cứ ai, tôi cũng chào hỏi; thân quen một chút thì dừng lại trao đổi vài câu. Khó tính cách mấy hay ngay cả có kỳ thị chủng tộc cỡ nào, ai cũng đáp trả lại, ít nhứt là bằng một cú gật đầu. Tôi tin chắc rằng nụ cười thân thiện và chân thật, chớ không đểu giả theo kiểu Tập Cận Bình, luôn có sức đánh đổ mọi bức tường ngăn cách hay đố kỵ. Với riêng tôi thì nụ cười và những câu chào hỏi đầu ngày chính là những động tác khởi động cho đầu óc của tôi được thông thoáng và trái tim của tôi được rộng mở. Đó là một chút không khí trong lành để thanh tẩy xua đuổi những ý nghĩ u ám hay những cảm xúc tiêu cực trong tâm hồn. Hôm nào được dịp đưa một bàn tay ra nâng đỡ một người đang gặp hoạn nạn hay cần được giúp đỡ thì không gì vui bằng.
Chẳng hạn như cách đây một tuần, tôi thấy một cụ bà đang ngồi bệt bên lề lối đi dành cho người đi bộ, bên cạnh thùng thư trước nhà. Tôi cứ tưởng bà đang ngồi nhổ cỏ. Nhưng từ xa, vừa thấy tôi, cụ bà đã vẫy tay gọi lại và nói một tràng tiếng Tây Ban Nha mà những bài tự học chỉ vừa đủ để tôi hiểu được bà cần tôi đưa tay để giúp bà đứng dậy.Thì ra cụ bà đã té ngã xuống đất và không thể tự đứng lên được. Ở cái tuổi cũng đã được gọi bằng “cụ” như tôi thì dù có ra tay nghĩa hiệp đến đâu cũng đành chịu thua. Tôi đoán cụ bà này không nặng dưới 90 ký. Sau một hồi cố gắng đến đổ mồ hôi hột mà chẳng nâng bà cụ lên được nửa tấc, tôi đành chạy vào nhà để gọi người thân của bà ra giúp một tay. Nhưng bà lại bảo không có ai đang ở trong nhà cả. Không biết làm gì tôi đành ngồi chờ người qua lại để nhờ giúp thêm một tay. Mãi 10 phút sau mới có một người đàn bà  dắt chó đi ngang qua. Tôi đoán chị không quá 40 tuổi. Tôi hơi lo khi thấy chị cũng có tấm thân “hộ pháp” không kém cụ bà. Tôi gọi chị lại và giải thích về tình trạng của cụ bà: té ngã, không có người thân bên cạnh, lại cũng chẳng nói được một câu tiếng Anh. Rất điệu nghệ, người đàn bà đã đưa hai tay ôm vào nách cụ bà từ phía sau và bảo tôi nâng cụ lên ở phía trước. Như một phép lạ, cụ bà từ từ đứng trên hai chân của mình và được chúng tôi dìu vào trong nhà. Cụ bà luôn miệng “muchas gracias” (cám ơn nhiều). Tôi và người đàn bà chào từ giã cụ bà và tiếp tục cuộc chạy bộ. Trước khi rẽ sang một lối khác, chị nói với tôi: “Hôm nay chúng ta đã làm được một việc tốt”.
Tôi không biết cụ bà Tây Ban Nha này có gợi ý để người nhà chia sẻ “việc tốt” này với tạp chí Reader’s Digest để được đăng lên mục “ Kindness of Strangers” (sự tử tế của người lạ) không. Đó là mục mà tôi không bao giờ bỏ qua mỗi khi cầm lên tạp chí này. Đó chỉ là những câu chuyện nhỏ về lòng tử tế được thể hiện một cách vô vị lợi, không tính toán, không chờ đợi được đền đáp. “Nhỏ” và vô danh nhưng thế giới này sẽ là một nơi ít tốt đẹp hơn và ít đáng sống hơn nếu thiếu những cử chỉ như thế. Tôi cũng nghĩ rằng hạnh phúc sẽ mãi mãi là một ý niệm trừu tượng và vô nghĩa nếu không được dệt bằng những cử chỉ nhỏ ấy.
Nhân tuần lễ “Mental Health Week” (Tuần lễ gây ý thức về bệnh tâm thần tại Úc Đại Lợi) từ ngày 4 đến 10 tháng 10 này, Đài ABC đã mở chiến dịch kêu gọi khán thính giả chia sẻ những hành động tử tế nào của người khác đã đánh động họ và thực sự nâng đỡ họ khi họ phải chiến đấu với bệnh tật.
Nhìn lại cuộc sống, tôi thấy mình đã nhận được không biết bao nhiêu hành động tử tế của người khác. Điều đánh động tôi nhiều nhứt chính là tính cách vô vị lợi và nhứt là niềm vui thấy rõ của những người đã thực thi lòng tử tế đối với tôi. Đó là một trong những bài học quý giá nhứt trong cuộc sống mà tôi đã học được: cho thì có phúc hơn nhận lãnh! Các cuộc nghiên cứu cũng đã cho thấy sự tử tế luôn tác động đến sức khỏe thể lý và tinh thần của con người. Tiến sĩ James Doty, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Cảm thông và Vị tha thuộc trường đại học Stanford, Hoa Kỳ, nói rằng sự tử tế cũng mang lại hạnh phúc và niềm vui cho con người. Trong một cuộc phỏng vấn trong chương trình “All in the Mind” (Tất cả đều tùy thuộc ở tâm trí) của đài phát thanh ABC, Tiến sĩ Doty nói: “Khi bạn thật sự quan tâm đến ai đó, thì cử chỉ đó ở mãi trong trái tim bạn”. Theo ông, sự tử tế mang lại ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống con người.
Các chuyên gia cho rằng trong khi mối đe dọa, sự nguy hiểm hay cả lời chỉ trích gia tăng kích thích tố “cortisol” dẫn đến sự căng thẳng, làm cho tim đập mạnh và huyết áp cao, thì sự tử tế, lòng cảm thông lại làm tiết ra kích thích tố “oxytocin”. Các nhà khoa học gọi đây là kích thích tố của tình thương. Kích thích tố này làm cho con người cảm thấy thư thái, nhẹ nhõm.
Kinh nghiệm sống luôn chứng tỏ điều đó: mỗi lần thực thi một hành động tử tế, dù nhỏ bé đến đâu, tôi cũng đều cảm thấy hạnh phúc. Nở một nụ cười thân thiện và chân thật với một người lạ mặt, nhường chỗ ngồi trên các phương tiện di chuyển công cộng cho người khác, siết chặt bàn tay của ai đó hay bỏ chút thời giờ ra để thực sự lắng nghe người khác...luôn làm cho tôi cảm thấy vui, một niềm vui sâu xa trong tâm hồn. Có khi một nghĩa cử chỉ kéo dài trong chốc lát, nhưng niềm vui lại không bao giờ tàn.
Hạnh phúc của con người tùy thuộc vào những cử chỉ nhỏ như thế. Và có lẽ đó cũng là chìa khóa để giải quyết những vấn đề lớn của thế giới. Ai đó đã đưa ra một nhận xét thật chí lý: “Có người muốn cứu trái đất nhưng lại không động nổi một ngón tay để giúp bà mẹ rửa chén bát”. Những công trình lớn thường phải khởi đầu từ những việc nhỏ. Đây là điều hoàn toàn đúng với tòa nhà nhân cách: hòa bình thế giới khó có thể đến được nếu không được xây dựng trên thiện chí, thiện ý và những hành động tử tế nhỏ. Tác giả Đoàn Khắc Xuyên, trong bài nhận định về nhân cách của người Hà Nội “xã hội chủ nghĩa” ngày nay, đã nói đến hiện tượng nói tục, văng tục và lối sống ích kỷ của người dân thủ đô. Tác giả cho rằng “khi người ta biết sống tử tế với người khác, người ta sẽ không hoặc ít chửi tục hơn”. Thay cho một lời lên án minh nhiên về nguyên nhân đẻ ra những hiện tượng “thiếu tử tế” này là chế độ cộng sản độc tài, tác giả đã trích dẫn lời của nhà đạo diễn Trần Văn Thủy trong phim “Chuyện Tử Tế” được thực hiện cách đây 30 năm như sau: “Tử tế có trong mỗi một con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài của quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy cũng chỉ là những điều vớ vẩn. Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người - người tử tế trước khi mong muốn và chăn dắt họ trở thành những người có quyền hành giỏi giang, hoặc siêu phàm...” (Đoàn Khắc Xuyên, Hà Nội: Đi tìm lại linh hồn đô thị, Việt Luận 22/9/2015).
Mới đây cả Úc Đại Lợi đã rúng động trước tin một cậu bé 15 tuổi đã bắn gục một viên cảnh sát tại Thành phố Parramatta. Một chi tiết đáng suy nghĩ trong vụ sát nhân này là trước khi thực hiện hành động tội ác, người thiếu niên  gốc Trung Đông tên là Farhad Jabar Khali Mohammad đã đến “cầu nguyện” tại một đền thờ Hồi giáo. Là một tín đồ thuần thành có lẽ người thiếu niên này đã học thuộc giáo lý của đạo mình, nhưng lại không được giáo dục về thế nào là lòng tử tế đối với người khác. Người mẹ mà cậu đã xin chuẩn bị cho mình một bữa ăn ngon trước khi lao vào tội ác, có lẽ sẽ phải hối hận khi hay tin con bà bị cảnh sát bắn gục vì con bà đã không được dạy dỗ để biết thế nào là sống tử tế với người khác.
Tôi cũng không nghi ngờ gì về việc “giáo dục gia đình” mà nhà nhà độc tài Kim Jong-un của Bắc Hàn đã hấp thụ được từ cha và ông nội của mình. Tôi tin chắc rằng những hành động độc ác mà nhà độc tài này đang đeo đuổi là hậu quả của một thời tuổi thơ và tuổi trẻ hoàn toàn vắng bóng những giá trị đạo đức, nhứt là sự cảm thông và lòng tử tế, nhưng trái lại đầy dẫy những trò chơi của bạo động và bắn giết. Tôi cũng không tin rằng đã từng được hun đúc từ lò lửa của hận thù cộng sản, một Vladimir Putin và một Tập Cận Bình đã  được giáo dục về thế nào là những đức tính nhân bản cần thiết cho một nhà lãnh đạo đích thực. Họ muốn giải quyết những vấn đề lớn của thế giới trong đó trầm trọng nhứt là nạn khủng bố, nhưng chính họ mới là những tên trùm khủng bố, những kẻ chuyên gây rối loạn và đe dọa người khác bằng những hành động côn đồ của mình.
Tôi lại càng không tin rằng trước khi vào bưng năm 12 tuổi để học khủng bố và giết người, Nguyễn Tấn Dũng đã được dạy dỗ về những bài học làm người căn bản vốn không thiếu trong chương trình công dân giáo dục của thời Việt Nam Cộng Hòa. Trên “bàn thờ tổ tiên hay lễ đài quốc gia” của người cộng sản Việt Nam hiện nay hẳn không phải là sự tử tế, mà là hình tượng của những con người chỉ biết vươn lên đỉnh cao của quyền lực bằng bạo lực, sự độc ác và vô đạo. Không lạ gì cả cái xã hội “xã hội chủ nghĩa” mà họ đang xây dựng ngày càng rơi vào khủng hoảng nhân cách và l hổng đạo đức. Chính họ, những con người đã không được dạy dỗ và cũng chai lì đến độ không còn muốn học về thế nào là lòng cảm thông và sự tử tế, mới là ngọn nguồn của tình trạng vô cảm và vô đạo của xã hội Việt Nam ngày nay. 
Nhà đạo diễn Trần Văn Thủy đã có lý để kêu gọi “hãy hướng trẻ con và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người - người tử tế”. Học làm người là học cả một đời. Nếu có “văn ôn võ luyện” thì cũng có cả một đời để học cách hành xử như một con người. Tôi thường nghĩ về bài học ấy trong những giây phút tnh táo nhứt trong ngày khi bắt đầu chạy bộ. Như một tự kỷ ám thị cần thiết, những lời chào hỏi và nụ cười đầu ngày ấy không ngừng nhắc nhở tôi phải luôn biết quan tâm đến người khác, cảm thông với người khác và sống tử tế với người khác. Sự vận động thể lý có thể góp phần phòng bệnh và chữa bệnh cho tôi. Nhưng thiếu sự cảm thông và tấm lòng tử tế mà cuộc gặp gỡ và giao tiếp với người khác luôn gợi lên, tôi nghĩ mình khó có được niềm vui và hạnh phúc đích thực trong cuộc sống mỗi ngày.



Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

Học và Hạnh



Chu Thập
8.2.12


Hôm thứ Ba 7 tháng 2 vừa qua, thế giới kỷ niệm sinh nhựt thứ 200 của văn hào Anh Charles Dickens. Năm Dickens lên 12 tuổi, cha ông, vì nợ nần chồng chất, phải bị giam tù. Dickens bị buộc phải làm việc cho một xưởng xi giày để kiếm sống và giúp đỡ gia đình. Có lẽ nhờ trải qua một tuổi thơ bất hạnh như thế mà ngòi bút của ông được tinh luyện để trở thành chứng nhân của một xã hội đầy bất công, nhứt là đối với trẻ em.
Tôi chưa từng trải qua một tuổi thơ bất hạnh đến nỗi phải đi làm để kiếm sống. Nhưng nhờ sống nơi miền quê nghèo, tôi đã học được nhiều bài học không có trong sách vở.  6, 7 tuổi, tôi đã có thể mỗi chiều vác cần câu ra bờ sông kiếm cá đủ cho bữa cơm chiều của cả gia đình. Ở tuổi đó, tôi đã biết trồng cây ăn trái.  Tôi cũng biết nuôi gà để kiếm tiền sắm Tết.
Tôi thường tự hào về cái tuổi thơ “huy hoàng” ấy, nhứt là khi so sánh với trẻ con Việt nam sống ở Úc đại lợi này.
Hè vừa rồi, một người bạn đưa cả gia đình đến thăm tôi. Chúng tôi đưa nhau ra bờ biển gần nhà để ăn trưa và câu cá. Cậu con trai 12 tuổi của người bạn đã trở thành một “đối tượng” quan sát, nghiên cứu và suy nghĩ của tôi. Là một học sinh trường tuyển nổi tiếng “Sydney Boys”, cậu thuộc loại trẻ em có I.Q (chỉ số thông minh) cao. Có trên tay một Ipod thứ xịn, dường như cậu có thể trả lời cho bất cứ câu hỏi nào cần tra khảo trên Internet. Nhưng đến khi ra biển, gặp một đàn vịt dạn dĩ đang ăn kề bên bàn ăn của chúng tôi,  tôi lại thấy cậu học sinh xuất sắc này tỏ ra “lớ ngớ”. Tôi đoán cậu bé chắc chắn cũng có chút đỉnh kiến thức về gia cầm, nhưng là thứ gia cầm cậu thấy trong sách vở, trên màn ảnh truyền hình, trong siêu thị hay chỉ ngắm xa xa, chứ không phải nuôi trong nhà hay có thể đến thật gần như ở công viên. Đây hẳn phải là lần đầu tiên cậu bé thông minh này được tận mắt nhìn thấy một đàn vịt bằng xương bằng thịt, có lông có cánh cho nên đã bỏ ăn để say mê theo dõi sinh hoạt của chúng.
Thái độ hơi “ngố” của cậu bé làm cho tôi nhớ đến cậu con trai 22 tuổi của chúng tôi. Dịp đi Việt nam vừa qua, chúng tôi tin tưởng trao phó nhà cửa, vườn tược và gia cầm cho cậu trông coi. Những “báo cáo” của người sinh viên đã tốt nghiệp khoa báo chí, học năm cuối khoa luật cũng như đã từng sống ở một số nước Âu châu, không thể không mang lại cho chúng tôi nhiều trận cười. Trong một điện thư, cậu cho biết vì thấy khu gà vịt ở không có nhiều ánh nắng, lâu ngày có thể bị “stress” cho nên cậu đã lùa cả đàn ra ngoài trời cho chúng “tắm nắng” (?!). Tôi không biết đám gà vịt của chúng tôi có thèm tắm nắng để có được làn da nhuộm nâu như mấy cô gái Úc không. Chỉ có điều: sau một tháng đi nghỉ về, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là một chị vịt đang ngậm trên mỏ một lá xà lách, đứng như trời trồng tròn mắt nhìn chúng tôi như thể chúng tôi đã bất lịch sự vì “đến thăm” mà không báo trước. Đằng sau là cả một “hội hè đình đám” trong vườn rau với vịt gà khắp nơi, rau cải te tua lăn lóc. Đúng là “vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”. Nhìn mà thấy lòng tan nát tả tơi không khác chi cảnh sân nhà.
Trong một “báo cáo” khác, người luật sư tương lai than phiền rằng đang lo học thi mà có hôm anh đã phải mất quá nhiều thì giờ và điên tiết lên vì chuyện một con vịt lớn (vịt cồ) cứ tìm cách cắn vào đầu một con vịt nhỏ (vịt mái) và leo đè lên người nó. Anh cho biết đã phải nhiều lần can thiệp để chấm dứt và ngăn ngừa cái cảnh “hiếp đáp” như thế.
Nghe người thanh niên Úc gốc Việt sắp sửa ra đời hành nghề luật sư kể lại những lần đi “thực tế” ở cái vườn sau nhà như thế, vợ chồng tôi chỉ biết ôm bụng cười. Nhiều người Việt nam trong nước cho rằng trẻ con Việt nam sinh ra ở nước ngoài bị tiêm nhiễm lối sống “văn minh trụy lạc”, không còn biết đến lễ giáo và đạo đức. Kỳ thực, tôi thấy nhiều trẻ em Úc gốc Việt không chỉ giữ được truyền thống dân tộc, mà còn tỏ ra hồn nhiên, ngây thơ và nhứt là chân thật hơn trẻ em trong nước. Trong những cuộc gặp gỡ thân tình giữa các gia đình Việt nam, tôi thấy có những cô gái đã 17, 18 tuổi, gặp người lớn bạn của cha mẹ vẫn khoanh tay cúi đầu chào một cách thật “dễ thương” như một đứa con nít mới tập học lễ phép.
“Dễ thương” và cũng “đáng thương”. Tôi thương cái cảnh trẻ em Việt nam tại Úc tất bật với đủ thứ sinh hoạt trong một ngày sống: hết học ở trường, vừa về nhà lại bị cha mẹ chở đi học thêm; hết tiếng Anh trong tuần lại đến tiếng Việt cuối tuần; hết thể dục thể thao ở trường lại đến các lớp bơi, võ thuật..., phút nào còn sót thì chúi đầu vào màn hình phút đó. Đi đâu cũng có cha mẹ kè kè bên cạnh.
Hôm đầu năm Âm lịch vừa rồi, tôi có đi thăm một trại nuôi cá Barramundi ở Port Stephens, gần New Castle. Ra về, tự nhiên tôi quyết định sẽ không ăn cá Barramundi nữa. Con gà công nghiệp ít ra còn có chút không gian để thở, để nhìn trời và cựa quậy. Con cá Barramundi được nuôi công nghiệp thì hoàn toàn như con gà nuôi trong ống tre. Chúng bị thúc ép để lớn nhanh một cách không bình thường.
Hình ảnh này làm cho tôi nghĩ đến những trẻ em mà đầu óc phải bị nhồi nhét quá nhiều kiến thức đến độ bội thực. Tôi có thể tự hào về tuổi thơ gần gũi với thiên nhiên hơn trường học của tôi. Nhưng tôi phải chào thua tuổi thơ ngày nay: một bồ kiến thức của một nhà bác học ở giữa thế kỷ trước có khi không bằng một góc nhỏ trong cái kho kiến thức của trẻ em thời đại. Xem ra chuyện gì chúng cũng biết. Xem ra chuyện gì chúng cũng có thể tra khảo và tìm được câu trả lời.
Nhưng kiến thức không đương nhiên mang lại sự khôn ngoan. Sự hiểu biết cũng không nhứt thiết làm cho con người có tư cách và đạo đức hơn. Một bộ óc vĩ đại như thiên tài Albert Einstein chưa chắc đã là một bậc mô phạm về nhân bản, về đối nhân xử thế. Trong lịch sử nhân loại, có biết bao nhiêu thiên tài là quái vật hay đồ tể.
Kiến thức không đương nhiên làm cho con người “nên người” hơn.  Tôi có ý nghĩ như thế khi theo dõi cuộc tranh luận do nhà toán học tài ba Ngô Bảo Châu khơi dậy khi tuyên bố trên báo Tuổi Trẻ trong nước rằng trí thức “không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội” (x.Việt Luận 3/2/2012).
Lời tuyên bố của người Việt nam đầu tiên được tặng giải toán học danh giá “Fields” hồi năm vừa qua, lại gợi lên cho tôi “lời phán dạy” của đồ tể Mao Trạch Đông mà chắc chắn các nhà trí thức trên thế giới sẽ không bao giờ quên được: “Trí thức như cục phân”. Phân thì ở đâu và thời nào cũng bị xem như cặn bã thối tha. Nhưng kể từ khi chế độ cộng sản ở Trung Quốc và Việt nam đã sáng chế ra “phân Bắc” thì cái thứ cặn bã thối tha ấy lại trở thành “hữu dụng”. Nếu không có tầng lớp trí thức bị chế độ cộng sản khuất phục, “thuần hóa” thì một Mao Trạch Đông hay Hồ chí Minh không thể nào có đủ ba đầu sáu tay để xây dựng nhà tù để giam hãm người dân vô tội hay đào mồ để chôn sống hằng triệu triệu con người. Nếu không có cái đám trí thức “nô bộc” sẵn sàng bán rẻ lương tâm để cúc cung tôn thờ cá nhân Hồ Chí Minh và đề cao tội ác của chế độ cộng sản thì dân tộc Việt nam không phải bị đọa đày cho tới ngày nay. Ngày nay, Việt nam không thiếu “trí thức”, nhưng toàn là trí thức giả hiệu và đui mù. Bằng cấp thì đầy mình, nhưng chỉ là bằng cấp giả. Hoặc giả có được kiến thức giúp cho mở to đôi mắt để nhìn, thì họ cũng chẳng thấy. Hoặc có thấy thì họ cũng giả điếc làm ngơ.
Trong một bài viết gởi cho Ban Việt ngữ của Đài Phát Thanh BBC, một tác giả từ trong nước ký tên là Huệ Đăng đã viết rằng “Thế giới có danh xưng gì, Việt nam cũng có đủ danh xưng ấy, nhưng tất nhiên với bản chất khác hẳn và danh xưng Trí thức cũng không phải là một ngoại lệ”.
Tra khảo từ “Intellectuel hay Intellectual” trong Wikipedia, tác giả cho biết danh xưng “Trí thức” xuất hiện lần đầu tiên ở Pháp vào năm 1898 khi khoảng 2000 người gồm các nhà khoa học, nhà văn, nghệ sĩ, công chức cao cấp của Pháp đã “dũng cảm” ký tên vào một tuyên ngôn để phản đối một vụ án bất công.
Như vậy, theo tác giả, “thuộc tính đầu tiên của Trí Thức là lòng dũng cảm: dũng cảm bảo vệ ý kiến của riêng mình và dũng cảm đưa ra thảo luận công khai vì việc chung, vì sự phát triển xã hội. Để có thể có được quan điểm, nhận định riêng - có tính phê phán - của mình trả lời cho những vấn đề chung của xã hội mà những người khác hoặc là không nhận thức được, không biết câu trả lời, hoặc không dám đưa ra thảo luận công khai, người Trí thức phải có khả năng phân tích, phân biệt Tốt-Xấu, Đúng-Sai, Lợi-Hại, Nên-Không nên, một cách lý trí, độc lập và khách quan không theo tình cảm của mình”.
Dũng cảm để nói lên và bảo vệ ý kiến của mình đã đành, trí thức phải trước tiên là người biết tôn trọng sự thật. Chối bỏ sự thật cũng đồng nghĩa với phủ nhận khả năng “trí thức” của mình. Tôi thường nghĩ đến người được trao tặng giải Nobel văn chương và được xưng tụng là một trong những nhà trí thức hàng đầu của Pháp hồi thế kỷ trước là Jean Paul Sartre. Có lẽ chẳng có ai có óc lý luận sắc bén như ông và cũng chẳng có ai “dũng cảm” để bày tỏ và bảo vệ ý kiến của mình cho bằng ông. Ông đã từng đi Liên xô để thấy cái cảnh nghèo nàn lạc hậu của thiên đường xã hội chủ nghĩa và dĩ nhiên cũng đã nghe hay thấy tận mắt những “quần đảo ngục tù Gulag”. Vậy mà về Pháp, ông vẫn ra rả ca tụng tính ưu việt của các chế độ cộng sản. Cũng may, về già, trước làn sóng vượt biên của người Việt nam, khi đã thực sự mở mắt ra để nhìn thấy tội ác của các chế độ cộng sản, triết gia hiện sinh này mới sám hối và nhìn nhận bộ mặt thật của chủ nghĩa cộng sản.
Ở Việt nam, vào cuối đời, khi chấp nhận để cho lý trí và lương tâm soi sáng, những nhà trí thức cộng sản Việt nam như Chế Lan Viên...mới có đủ can đảm để nói lên rằng mình đã ngồi vào bàn tiệc để ăn bánh vẽ và đã bị cưỡng bách để bắt người khác cũng ăn bánh vẽ với mình. Trí thức cũng phải là người biết sám hối. Mà nói tới sám hối là nói đến những giá trị đạo đức. Bỏ qua một bên ý niệm tôn giáo về “tội lỗi” và sự xúc phạm đến Thượng Đế hay thần minh, đã nói tới sám hối là phải nghĩ đến những giá trị đạo đức. Dù thuộc tôn giáo hay không thuộc tôn giáo nào, đã là người thì không thể trốn tránh khỏi những giá trị đạo đức.
Không phải chỉ nghêu ngao hát một bài là thành ca sĩ, không phải chỉ sắp xếp mấy nốt nhạc thành một bài ca là đủ để tự xưng là nhạc sĩ, cũng chẳng phải viết được một truyện ngắn là có quyền gắn thêm cái đuôi “nhà văn” vào tên của mình...Cũng thế, tôi chẳng bao giờ thấy mình có được một thành tựu nào khả dĩ cho phép tôi tự xưng là nhà “trí thức”. Nhưng tôi xác tín một điều là giá trị đích thực của một con người, nhân cách của con người không tùy thuộc vào kiến thức hay bằng cấp người đó đạt được, mà là phẩm hạnh của con người đó.
Người Việt nam thường gắn liền “học” với “hành”. “Hành” không chỉ là “thực hành” điều mình đã học được, mà còn là sống cho xứng với những hiểu biết của mình. Đúng hơn, người ta phải để cho “học” đi đôi với “hạnh”.
Tôi chẳng bao giờ xứng đáng để được gọi hay tự xưng là trí thức. Nhưng tôi nghĩ rằng người “trí thức” cũng phải là người “tỉnh thức”. “Tỉnh thức” bởi vì mình đang sống với người khác và để sống cho người khác. Xét cho cùng, thước đo của con người không nằm trong mớ kiến thức tiếp thu trong sách vở, nghiên cứu hay tự mình khám phá, mà chính là ở tinh thần vị tha. Có rất nhiều điều quan trọng trong cuộc sống như hạnh phúc, đau khổ, cảm thông, chia sẻ...không bao giờ thể diễn tả hết được qua kiến thức mà chỉ có tiếp cận, sống cùng, sống với mới giúp cho người ta “thấm thía” được. Như vậy, giáo dục cho một đứa trẻ nên người không phải là thúc bách hay cưỡng bách nó phải giựt cho bằng được mảnh bằng hay trở thành một nhà trí thức, mà chính là biết quan tâm đến người khác, sống với và cho người khác trong tinh thần liên đới và nhứt là cảm thông.
Thời đại ngày nay sản sinh ra rất nhiều chuyên viên nhưng lại chẳng hề có chuyên viên ngành cảm thông.









Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Trung Á và bóng ma “Nhà nước Hồi giáo”


9.10.15

Ngày 16 tháng 9 vừa qua, liền sau Hội nghị Thượng đỉnh của Liên minh Quân sự có tên là “CSTO” (Collective Security Treaty Organization: Tổ chức Thỏa ước An ninh Tập Thể) qui tụ các Cộng hòa cựu Liên xô là Nga, Armenia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan, Azerbaijan, Belarus và Georgia...chính quyền Tajikistan đã ra lệnh bắt giữ 13 thành viên của Đảng Phục Hưng Hồi Giáo và tịch thu thẻ thông hành của 50 thành viên khác để ngăn chận họ ra nước ngoài. Ngày hôm sau, Văn phòng Biện lý Trung ương ra thông cáo giải thích rằng cuộc bắt giữ và tịch thu thẻ thông hành trên đây là một biện pháp nhằm chận đứng những hành vi khủng bố mới cũng như những hành động cực đoan. Văn phòng Biện lý Trung ương cũng tố cáo Đảng Phục Hưng Hồi Giáo có liên hệ mật thiết với một tổ chức vũ trang do tướng Abduhalim Nazarzoda lãnh đạo cũng như đã tham gia vào một cuộc tấn công bạo động nhắm vào một trạm cảnh sát trước đó. Theo Văn phòng Biện lý Trung ương Tajikistan, tướng Nazarzoda thừa hành lệnh của Đảng Phục Hưng Hồi Giáo. Đảng này đã từng bị Chính phủ Tajikistan đặt ra ngoài vòng pháp luật. Lãnh tụ của Đảng này là ông Mhuhiddin Kabiri, hiện đang lưu vong, bác bỏ các cáo buộc trên đây của Chính phủ Tajikistan. Ông Kabiri khẳng định rằng ông không hề ra lệnh cho Tướng Nazarzoda tổ chức cuộc bạo loạn dạo tháng 9 vừa qua. Ông nhấn mạnh rằng cá nhân ông hay Đảng do ông lãnh đạo không hề dính líu đến biến cố này.
Các tổ chức nhân quyền thế giới đã lên án việc Chính phủ Tajikistan giam giữ những thành viên của đảng đối lập và yêu cầu phải trả tự do cho họ tức khắc. Tổ chức Ân xá Quốc tế cảnh cáo rằng tất cả những người bị bắt giữ đều có nguy cơ bị tra tấn và xét xử một cách bất công.
Ông Hugh Williamson, giám đốc của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tại Âu Châu và Trung Á, nói rằng những vụ bắt giữ này là một cuộc tấn công nhắm vào những người bất đồng chính kiến tại Tajikistan.
Về phần mình, ông Ivar Dale, cố vấn và đại diện của Ủy ban Helsinki Na Uy đặc trách vùng Trung Á, đã nói với báo The Diplomat rằng Chính phủ Tajikistan đang phá hủy một chút uy tín còn lại trước mặt cộng đồng thế giới.
Cũng theo ông này, mối đe dọa của Hồi giáo cực đoan chỉ là một cái cớ để một chính phủ khác tại Trung Á là Uzbekistan bịt miệng đối lập và xã hội dân sự từ nhiều năm nay. Ông Dale nói rằng trong khi Tajikistan còn “nhẹ tay” đối với các nhóm đối lập thì tại Uzbekistan, họ hoàn toàn bị đè bẹp.
Hồi tháng trước, “Nhà nước Hồi giáo” và sự xâm nhập của tổ chức này vào Trung Á đã trở thành chủ đề thảo luận chính tại Hội nghị Thượng đỉnh CSTO, được tổ chức tại thành phố Dushanbe,Tajikistan. Trong một thông cáo chung, 6 nước Trung Á thành viên đã bày tỏ quan ngại về việc các chiến binh của “Nhà nước Hồi giáo” có thể từ Afghanistan xâm nhập vào các nước Trung Á và ngay cả Nga.
Tổng thống Nga Vladimir Putin và các nhà lãnh đạo các nước Trung Á đã cố gắng giải thích rằng họ rất quan tâm đến sự kiện nhiều công dân của Liên minh CSTO đang chiến đấu tại Syria. Họ cho rằng “Nhà nước Hồi giáo” đã thò cánh tay của họ từ Syria và Iraq vào các nước trong tổ chức CSTO.
Từ nhiều năm nay, các nhà lãnh đạo của các nước Cộng hòa Trung Á nổi tiếng về những thành tích nhân quyền tồi tệ của họ. Tổng thống Uzbekistan, ông Islam Karimov đã được xếp vào danh sách những nhà độc tài tàn bạo nhất trên thế giới. Riêng những thành tích nhân quyền của chính phủ Tajikistan, do đàn áp quyền tự do ngôn luận và giam giữ các lãnh tụ đối lập, cũng ngày càng tồi tệ. Theo một bản phúc trình của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, tình trạng nhân quyền tại Trung Á ngày càng xấu đi trong năm 2014: người dân bị giam tù vì bày tỏ chính kiến của mình, tự do báo chí và hội họp bị hạn chế, tù nhân bị tra tấn vô tội vạ.
Các chính phủ Trung Á luôn nại đến mối đe dọa của “Nhà nước Hồi giáo” và các tổ chức Hồi giáo cực đoan để đàn áp đối lập và người dân.
Dĩ nhiên, sự hiện diện của người dân Trung Á trong hàng ngũ các chiến binh của “Nhà nước Hồi giáo” là điều không thể phủ nhận được. Tuy nhiên, cho tới nay, không ai nắm vững được con số những chiến binh xuất thân từ Trung Á này. Con số 4000 người mà các chính phủ Trung Á đưa ra, theo một số chuyên gia, là một phóng đại. Theo một bản phúc trình mới đây được Viện Quốc Tế Vụ của Ba Lan phổ biến, tổ chức “Nhà nước Hồi giáo” không xem Trung Á như một nguồn cung cấp chiến binh chính của họ. Tỷ lệ các chiến binh của “Nhà nước Hồi giáo” xuất phát từ các nước Tây Phương có khi còn cao hơn các nước Trung Á.
Có nhiều lý do khiến người dân Trung Á gia nhập vào lực lượng “Nhà nước Hồi giáo”. Qua các cuộc trao đổi với người dân tại các nước này, các chuyên gia đã nhận thấy có 5 nhóm chiến binh khác nhau xuất phát từ các nước Trung Á. Trước hết là những thành phần phản kháng. Họ là những người có học, bất mãn với tình trạng chính trị và xã hội trong nước. Từ nhiều năm qua, họ mong mỏi thấy được sự thay đổi, nhưng hoàn toàn thất vọng về thiện chí và những nỗ lực của chính phủ. Chính vì vậy mà họ đã gia nhập vào “Nhà nước Hồi giáo” để cảm thấy mình đang làm một công việc có ý nghĩa. Một số tin rằng họ đang chống lại một chế độ đàn áp để tranh đấu cho công lý. Số khác lại nghĩ rằng một hệ thống chính trị “thế tục”, tức tách khỏi niềm tin tôn giáo (Hồi giáo), đã không mang lại cho họ một cuộc sống phú túc. Với những thành phần này, chỉ có một quốc gia Hồi giáo mới có thể thay đổi số phận của họ mà thôi.
Nhóm thứ hai gồm những người cảm thấy mình bị bách hại hoặc sợ bị bách hại. Họ muốn trốn thoát khỏi cuộc bách hại. Đây chỉ là một nhóm nhỏ, chỉ chiếm từ 10 đến 15 phần trăm tổng số những chiến binh Trung Á đã gia nhập “Nhà nước Hồi giáo”. Họ là những người cho rằng tại Trung Á không có hoặc có rất ít những diễn đàn để họ có thể bày tỏ quan điểm và tiếng nói của mình. Một số chính phủ Trung Á, như Uzbekistan và Tajikistan không chấp nhận bất cứ một sự bất đồng chính kiến nào. Chỉ riêng tại Uzbekistan, hiện có không dưới 10 ngàn người bị giam giữ chỉ vì có những niềm tin tôn giáo khác với những niềm tin tôn giáo được chính phủ đỡ đầu. Những lãnh thổ hiện do “Nhà nước Hồi giáo” chiếm đóng và kiểm soát được nhóm người này xem như một cứ địa an toàn để trốn chạy cuộc bách hại trong nước.
Nhóm thứ ba của những chiến binh xuất phát từ Trung Á gồm những người có một niềm tin Hồi giáo mạnh. Nói chung, người dân Trung Á ít có hiểu biết về Hồi giáo. Đây chính là nguyên nhân khiến họ dễ dàng trở thành mục tiêu của những người đi chiêu mộ chiến binh cho “Nhà nước Hồi giáo”. Những nhà “truyền đạo” của “Nhà nước Hồi giáo” rêu rao rằng chỉ có họ mới có thể thống nhất và cứu thoát người Hồi giáo trên khắp thế giới. Một số những thành phần ít hiểu biết về Hồi giáo này mong được có cơ hội ra nước ngoài để trau dồi kiến thức về đạo. Những người bị chiêu mộ được hứa hẹn sẽ được gởi sang du học tại Thổ Nhĩ Kỳ. Nhiều người mơ tưởng về các phân khoa thần học Hồi giáo đy uy tín tại Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng cuối cùng lại thấy mình bị đưa sang Syria.
Nhóm cuối cùng gồm các thiếu nữ và trẻ em gái bị bắt cóc đưa đi với lời hứa hẹn sẽ gặp được “hoàng tử của lòng mình”. Xuyên qua các trang mạng xã hội, họ bị dụ dỗ bởi một bức tranh đẹp về các cuộc hôn nhân tốt đẹp mà họ chỉ có thể có được  ở nước ngoài. Trong thực tế, họ bị lừa bẫy để đưa sang Syria và trở thành “trò chơi” của các chiến binh. Nurgul là một phụ nữ ly dị, sống với đứa con gái 4 tuổi trong nhà mẹ mình. Ngày nọ, chị cho mẹ xem  hình của một người đàn ông  Kazakhtan đang sống tại thủ đô Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Người đàn ông này đã bày tỏ ước muốn được cưới chị và đón nhận đứa con gái riêng của chị. Người mẹ gật đầu ưng thuận. “Chàng rể” liền mua vé máy bay đi Istanbul cho Nurgul và con chị. Sau hai tháng thinh lặng, Nurgul đã gọi điện thoại về cho mẹ và báo một tin gây sửng sốt: chẳng có “chàng rể” người Kazakhstan nào cả. Ch đang ở Syria, bên cạnh các chiến binh của “Nhà nước Hồi giáo”.
Thành ra, vấn đề hiện nay tại Trung Á không phải là “Nhà nước Hồi giáo” hay mạng lưới buôn người để đưa sang Nga. Vấn đề chính là các chính phủ Trung Á. Các nhà lãnh đạo của  Trung Á cố tình làm ngơ trước những nguyên nhân chính khiến người dân dễ dàng bị “Nhà nước Hồi giáo” và các tổ chức Hồi giáo cực đoan khác chiêu mộ. Có nhiều hình thức cực đoan đang đe dọa các xã hội Trung Á, nhưng mối đe dọa chính trong vùng vẫn là chính sách cai trị hiện nay của các nhà lãnh đạo. Chính sách này đang tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc “cực đoan hóa” một số thành phần trong xã hội.
Theo ông McGlinchey, một số ký giả và học giả đã phóng đại mối đe dọa của “Nhà nước Hồi giáo”. Theo ông, hầu hết người dân Trung Á đều không mặn mà với thông điệp của tổ chức khủng bố này. Ý thức hệ của tổ chức này hoàn toàn xa lạ với thứ Hồi giáo mà người dân trong vùng đang sống theo. Đây là một thứ Hồi giáo cởi mở, khoan nhượng và có tính “bao gồm” hơn, nghĩa là không hạ phẩm giá của người phụ nữ. Có thể một số thành phần bị thu hút bởi tiền bạc mà “Nhà nước Hồi giáo” cũng thường đưa ra để chiêu mộ chiến binh. Nhưng chỉ sau một thời gian, khi đã khám phá được bộ mặt thật của tổ chức này, họ luôn tìm cách bỏ trốn.
Theo ông Alisher Ilkhamov, một nhà nghiên cứu tại Học viện Đông Phương và Phi Châu học ở London, mối đe dọa của “Nhà nước Hồi giáo” và hiện tượng “cực đoan hóa” của Hồi giáo đã bị các chính phủ Trung Á phóng đại. Nguyên nhân chính khiến người dân dễ bị các tổ chức cực đoan nhồi sọ chính là nạn tham nhũng và việc đàn áp những người bất đồng chính kiến. Người dân cảm thấy mệt mỏi với chế độ và không còn tin tưởng rằng tương lai của họ sẽ tốt đẹp hơn. Tham nhũng, độc tài, nghèo đói đã làm cho các chính phủ đánh mất tính chính danh trước mắt người dân.
Thay vì đối phó với những vấn đề trong nước và hàn gắn sự rạn nứt giữa người dân và chính phủ, Uzbekistan và Tajikistan lại tiếp tục đàn áp các tổ chức và phong trào dân sự và  Hồi giáo. Sự kiện Chính phủ Tajikistan ngăn cấm Đảng Hồi giáo đối lập là một thí dụ điển hình. Theo ông Ilkhamov, Đảng này, hay ít ra các nhà lãnh đạo của Đảng này, hoàn toàn không phải là những thành phần cực đoan. Nhưng chính phủ Tajikistan đã dồn họ vào chân tường. Hành động này đã khiến cho các thành viên của Đảng này ngả theo chiều hướng cực đoan, bởi vì để đối đầu với một chế độ độc tài, nếu không có vũ khí trong tay, họ không còn chọn lựa nào khác hơn là đứng về phíc cực đoan.

(Theo báo The Diplomat, Central Asia and the ISIS Phantom)

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

Nụ cười chân thật



Chu Thập
1.10.15
Mới đây, các nhà khảo cổ Ý cho biết đã tìm thấy xương của bà Mona Lisa La Gioconda, người phụ nữ đã từng làm người mẫu để danh họa Leonardo Da Vinci (1452-1519) vẽ bức chân dung nổi tiếng “La Gioconda” hiện được trưng bày tại bảo tàng viện Louvre ở Paris, Pháp Quốc. Sau nhiều năm nghiên cứu về một số bộ xương được tìm thấy tại Tuscania, họ chỉ có được một mnh xương đùi mà họ tin là của bà Mona Lisa.
Sinh năm 1479, Mona Lisa có tên là Lisa Gherardini. Bà là vợ của một nhà buôn tơ lụa tên là Francesco del Giocondo. Chính người đàn ông này đã nhờ danh họa Da Vinci vẽ bức chân dung cho vợ mình năm 1503. Sau khi chồng chết, bà Gheradini đã sống những năm cuối đời trong một tu viện tại Fiorenza và qua đời tại đó năm 1542. Nếu quả thực mnh xương vừa mới được tìm thấy đã được xác nhận là của bà Mona Lisa, nó sẽ góp phần soi sáng cho bí ẩn của nụ cười của bà trong bức chân dung.
Thế giới vẫn tiếp tục bị thu hút bởi nụ cười của bà Mona Lisa. Riêng tôi thì lại bị ám ảnh bởi một nụ cười thoạt nhìn cũng chẳng khác nụ cười của bà Mona Lisa bao nhiêu: đó là nụ cười của đương kim Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Năm 2012, khi ông mới “lên ngôi” trong đế quốc đỏ Trung Cộng, nhìn ông cười, tôi cứ liên tưởng đến nụ cười bí ẩn, nhưng hiền hậu của bà Mona Lisa. Nhưng nay, với tôi, mọi sự đều sáng tỏ: nụ cười của ông chỉ là một nụ cười đểu giả!
Tuần qua,  khắp nước Mỹ, đi đâu ông cũng biểu diễn nụ cười ấy. Nhưng có lẽ thế giới không còn dễ bị dụ dỗ vì nụ cười ấy nữa. Người ta đã thấy được bộ mặt thật của ông trong cuộc diễu võ dương oai dạo đầu tháng 9 vừa qua khi Đảng cộng sản Trung Quốc cướp công của cố Tổng thống Tưởng Giới Thạch (1887-1975) để tổ chức mừng kỷ niệm 70 năm chiến thắng quân phiệt Nhựt Bổn. Trong bộ áo đại cán, đứng trên cao  nhìn xuống Quảng trường Thiên An Môn, nơi đã từng có hàng ngàn người dân vô tội bị quân đội tàn sát ngày 4 tháng 6 năm 1989 hoặc đứng trên xe để đi duyệt binh, ông Tập Cận Bình đã xuất hiện với một mặt bộ lạnh như tiền. Ông muốn cho người dân trong nước và cả thế giới thấy được sức mạnh của một quân đội hùng mạnh và kho võ khí ông đang có trong tay. Với khuôn mặt lạnh lùng ấy, ông muốn cho thế giới, nhứt là Việt Nam, thấy được nanh vuốt ông đã giương ra ở Biển Đông. Đây là điều mà ông đã ngang nhiên tái khẳng định trong một cuộc phỏng vấn tại Mỹ. Giọng điệu của ông phải thật đểu giả và gian dối một cách trắng trợn khi ông tuyên bố với phóng viên của báo The Wall Street Journal: “Từ thời xa xưa (ancient times) Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam) đã thuộc địa phận Trung Quốc, theo các bằng chứng lịch sử và pháp lý”.  Năm 1974, quân đội Trung Quốc đã tấn công và đánh chiếm Hoàng Sa và năm 1988, nuốt luôn đảo Gạc Ma: đây là bằng chứng lịch sử rõ ràng nhứt cho thấy Trường Sa không bao giờ thuộc địa phận Trung Quốc, mà đã bị nước này “ăn cướp” của Việt Nam. Còn bằng chứng pháp lý ư? Ông Tập Cận Bình quên mất rằng sau ĐNhị thế chiến, thủ tướng chính phủ Việt Nam lúc đó là ông Trần Văn Hữu đã tuyên bố rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam mà không gặp phản đối của bất cứ một quốc gia.
Có lẽ chỉ có người Việt Nam mới thực sự thấy được sự đểu giả trong nụ cười của ông Tập Cận Bình. Đằng sau nụ cười “Mona Lisa” của ông là cả một trời tham vọng bá quyền, mưu mô, đểu giả và độc ác mà câu nói bất hủ của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu “đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” đã lột trần.
Sở dĩ tôi nhắc đến nụ cười đểu giả của ông Tập Cận Bình là bởi vì trong tuần qua, cùng với ông, Hoa Kỳ cũng đã đón tiếp một vị thượng khách mà nhân cách hoàn toàn được gói trọn trong nụ cười: Đức giáo hoàng Phanxicô! Người dân Mỹ có thể không nhớ hoặc cũng chẳng cần phải nhớ những gì vị giáo hoàng này đã nói. Nhưng chắc chắc họ không thể quên được nụ cười và cử chỉ khiêm tốn, nhân ái, đôn hậu và cảm thông của ngài trong suốt tuần lễ qua. Đó là sức mạnh đích thực của một nhà lãnh đạo tinh thần.
Nụ cười đôn hậu và chân thật của vị giáo hoàng này không thể không làm tôi liên tưởng đến một câu nói trịch thượng của đồ tể Stalin (1878-1953). Trong hồi ký của ông, người thông dịch của Stalin là ông Valentin Berezhkov, có kể lại rằng năm 1944, trong một cuộc gặp gỡ với Stalin, thủ tướng Anh, ông Winston Churchill (1874-1965) có đề cập đến tầm quan trọng của tình hữu nghị giữa Ba Lan và Liên Xô. Ông cũng nhắc lại rằng Ba Lan là một quốc gia toàn tòng công giáo. Ông cho biết Anh Quốc cảm thấy có trách nhiệm tinh thần đối với dân tộc Ba Lan và những giá trị tinh thần của họ. Có lẽ Thủ tướng Churchill chỉ muốn khuyên Stalin đừng chèn ép Ba Lan để tránh không làm cho các mối quan hệ với tòa thánh Vatican trở nên rắc rối. Nhưng bất thần Stalin ngắt lời thủ tướng Anh và hỏi: “Giáo hoàng Roma có bao nhiêu sư đoàn?” Thủ tướng Churchill bị cụt hứng. Ông không bao giờ chờ đợi một câu hỏi trịch thượng như thế. Ông chỉ muốn nhấn mạnh đến ảnh hưởng tinh thần của nhà lãnh đạo công giáo đối với thế giới mà thôi. Nhưng Stalin thì trái lại chỉ biết có mỗi một sức mạnh: đó là sức mạnh của lò thuốc súng như đồ tể Mao Trạch Đông cũng đã từng khẳng định.
Quả thật, nhà lãnh đạo công giáo hoàn vũ không có trong tay bất kỳ vũ khí nào. Vài ba anh vệ binh Thụy Sĩ đứng làm cảnh trong tòa thánh Vatican và trong những lễ nghi của giáo triều cũng chẳng có trong tay một khẩu súng hay một viên đạn. Nhưng thế giới không thể phủ nhận ảnh hưởng tinh thần của vị giáo hoàng. Năm 1978, hai nước láng giềng Chile và Argentina ở Châu Mỹ La Tinh đã đứng bên bờ vực của chiến tranh vì tranh chấp biên giới. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II đã cử một vị đại diện đến làm trung gian hòa giải giữa hai nước. Hai nước đã đồng ý ký thỏa ước và từ bỏ việc sử dụng võ khí. Mới đây, khi Cuba và Hoa Kỳ tái lập quan hệ ngoại giao sau hơn 50 năm đoạn tuyệt, người ta cũng đã nói nhiều đến hoạt động trung gian của tòa thánh Vatican, cách riêng của Đức Phanxicô
Đứng trước xung đột có thể dẫn đến chiến tranh, thế giới vẫn có thể có được hòa bình nhờ đối thoại và hòa giải mà không cần phải sử dụng khí giới. Đó là điều mà các nhà lãnh đạo tinh thần của Giáo hội Công giáo không ngừng lập lại. Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ hồi tuần trước, thông điệp mà Đức Phanxicô đã nhắn gởi cho người Mỹ và toàn thế giới xem ra cũng chẳng có gì mới m. Kêu gọi bảo vệ môi sinh, giảm bớt khoảng cách giữa giàu nghèo bằng sự chia sẻ, tôn trọng những thành phần yếu đuối dễ bị tổn thương nhứt trong xã hội, mở rộng vòng tay đón nhận người tỵ nạn, hoặc bảo tồn định chế hôn nhân truyền thống...ngài cũng chỉ lập lại những điều căn bản trong Tin Mừng của Chúa Giê Su mà thôi.
Theo dõi chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vừa qua của Đức Phanxicô, tôi có nghe nói ngài đã được chính ông chủ tịch Hạ Viện Mỹ John Boehner mời đến đọc diễn văn tại Quốc Hội. Đây là lần đầu tiên một vị giáo hoàng được dành cho vinh dự này. Tôi cũng biết ngài đã đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Đó là những biến cố quan trọng nói lên vị trí và ảnh hưởng tinh thần của ngài trong thế giới ngày nay. Nhưng thú thật, tôi chưa nghe trọn một bài diễn văn nào của ngài. Điều đập vào mắt tôi nhiều nhứt chính là hình ảnh của chiếc xe Fiat nhỏ bé và khiêm tốn trên đó ngài đã di chuyển trong những ngày vừa qua. Chắc chắn đây chỉ có thể là một quyết định riêng của ngài. Cuộc sống khiêm tốn từ thời còn làm tổng giám mục ở Buenos Aires bên Argentina vẫn được ngài tiếp tục sống ngay cả khi được ngồi trên điều mà người ta thường gọi là “ngai tòa” giáo hoàng ở Roma. Hình ảnh của chiếc xe nhỏ bé và nhứt là nụ cười, những cử chỉ thân ái và nhân ái của ngài là những gì đã đánh động tôi nhứt trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vừa qua của ngài.
Rõ ràng là Đức Phanxicô không “giảng” bằng lời nói, mà bằng cả cuộc sống của ngài. Với tựa đề “Pope Francis remakes the Vatican” (Giáo hoàng Phanxicô cải tổ tòa thánh Vatican), nguyệt san “National Geographic”, số ra tháng 8 vừa qua, đã nhấn mạnh đến cuộc sống khiêm tốn, bình dị và nhân ái của ngài.
Tuần báo Time trong hai số ra ngày 28 tháng 9 và 5 tháng 10 cũng đã in hình của ngài ở trang bìa và dành trang chủ để nói về ảnh hưởng của ngài trên thế giới ngày nay. “Giáo hoàng Roma có bao nhiêu sư đoàn?” Ngày nay nếu có đội mồ sống lại để đặt lại câu hỏi này, có lẽ đồ tể Stalin sẽ có được câu trả lời. Đức Phanxicô chẳng có quân đội. Ngay cả “âm binh”, ngài cũng chẳng có. Có chăng là nụ cười đôn hậu, cuộc sống khiêm tốn và những cử chỉ thân ái và nhân ái của ngài.
Xét cho cùng, những vị giáo hoàng được thế giới, chớ không riêng gì người công giáo kính trọng và yêu mến nhiều nhứt, không hẳn là những vị tài cao học rộng, mà là những vị có cuộc sống khiêm tốn và nhứt là nụ cười nhân ái như Đức Gioan 23, như Đức Gioan Phaolô I và hiện nay Đức Phanxicô.
Tuần báo Newsweek số ra ngày 10 tháng 9 nêu lên ở trang bìa một câu hỏi ngộ nghĩnh: “Is the Pope Catholic?” (Giáo hoàng có phải là người công giáo không?)  Không là công giáo thì là gì? Cũng như hầu hết các vị tiền nhiệm của ngài, Đức Phanxicô, về mặt giáo lý, cũng được nhiều nhà quan sát xếp vào hạng “bảo thủ”. Có khác chăng là ngài đã dám đi ra ngoài “khuôn phép” để sống cho đến cùng niềm xác tín của ngài là để sống triệt để như một người công giáo, cần phải khiêm tốn, nhân hậu, cảm thông.
“Giáo hoàng có phải  là người  công giáo không?” đặt câu hỏi như thế cũng có nghĩa là trở về với cốt lõi của Tin Mừng của Chúa Giê Su. Cốt lõi đó chính là khiêm tốn, yêu thương, phục vụ, cảm thông và quên mình.
Qua nụ cười và cuộc sống của ngài, Đức Phanxicô có lẽ cũng muốn nhắn gởi với thế giới cùng một thông điệp mà nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, người cũng “thuyết pháp” bằng nụ cười và cuộc sống hơn là bằng lời nói, đã từng truyền đạt: đạo của tôi là đạo tử tế!
Ai đó đã nói: nụ cười là khoảng cách ngắn nhứt giữa hai trái tim. Người ta có thể đố kỵ và ngay cả thù nghịch nhau vì chính kiến và nhứt là vì tôn giáo. Nhưng một khi nụ cười đôn hậu, thân ái và nhân ái đã nở ra trên môi thì chắc chắn khoảng cách nào cũng có thể được rút ngắn và ngay cả xóa bỏ. Đó là “tín điều” quan trọng nhứt của tôi. Chỉ khi nào tín điều ấy được tuyên xưng qua cuộc sống hàng ngày của tôi thì lúc đó tôi mới dám tự nhận mình là người “có đạo” và “đi đạo”.




Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Ung dung ta nói điều ta nghĩ...



Chu Thập
17.1.12



Một trong những điều đáng nói về cái vùng tôi ở là sự say mê thể thao của dân chúng. Đâu đâu cũng có thể nhìn thấy những bãi cỏ xanh tươi chờ đợi những buổi tập dượt và các trận tranh tài. Không riêng môn bóng bầu dục “đặc trưng” của người Úc như Football hay Rugby League mà ngay cả túc cầu, cricket, võ thuật, bơi lội, chèo thuyền... cũng được bà con Aussie say mê. Cảnh cha mẹ ngồi quanh sân cỏ cổ võ cho những cầu thủ bé tý 5,6 tuổi, bước đi còn “chập chững” trong bộ đồng phục hẳn hoi, là hình ảnh tôi thường thấy nhứt mỗi chiều đi dạo. Tôi khâm phục tinh thần yêu thể thao và sự hỗ trợ của phụ huynh trong việc đào luyện một giới trẻ khỏe mạnh và tráng kiện. Khác với vùng có đông lớp người di dân và tỵ nạn vất vả ở ngoại ô Sydney, sau giờ bãi trường, trẻ nhỏ và thanh thiếu niên ở đây hầu hết theo cha mẹ túa ra sân cỏ, chơi banh, tập dợt hò hét vang cả bầu trời cho đến tận chiều tối. Sân vận động Bluetongue hầu như luôn bận rộn cho các trận tranh tài nảy lửa. Những lúc đó, già trẻ lớn bé, con trai con gái, đàn bà trẻ con đều hớn hở khoác lên màu cờ sắc áo của đội mình, lũ lượt kéo nhau đi coi, ủng hộ và hò hét. Nhờ vậy mà các quán trọ và cảnh sát ở đây mới có những ngày bận rộn căng thẳng. Và có lẽ cũng nhờ vậy mà báo chí địa phương mới có chuyện để làm thầy bàn và dĩ nhiên, tôi cũng có chuyện để mà suy nghĩ “lung tung”.
Một chiều thứ Bảy gần đây, sân Bluetongue lại một lần nữa sôi động. Nhưng lần này mức độ sôi động kéo dài ra khỏi sân cỏ đến tận ga xe lửa. Lý do là vì sau 13 trận thắng liên tiếp, “đội túc cầu nhà” Central Coast Mariners đã phải thủ hòa 1-1 với đội New Castle United Jets. Chuyện “nhỏ như con thỏ” vậy mà cũng đủ làm cho đám ủng hộ đội New Castle vui mừng đến điên cuồng và nhóm ủng hộ “đội nhà” Central Coast rưng rưng đau khổ. Trong khi chờ xe điện, “phe địch” đã la hét vui mừng và nhứt là chọc quê nhóm ủng hộ “đội nhà” bằng đủ mọi cử chỉ và lời nói khiếm nhã. Hiếm khi nào ga Gosford lại tràn ngập cảnh sát như vậy. Họ đã phải huy động thật nhiều và mau chóng cô lập nhóm này với nhóm khác. Vài tay quá khích bị cảnh sát lôi ra ngoài. Dù các nhóm đã  bị cô lập nhưng không khí điên cuồng vẫn không giảm.
Ngồi chờ chuyến xe lửa lên Sydney, tôi bất đắc dĩ phải làm “khán giả” của một trận đấu trên sân ga có khi còn sôi nổi và gay cấn hơn cả trận đấu trên sân cỏ, bởi lẽ trên sân cỏ chỉ cần một trọng tài chính và hai trọng tài biên là đủ sức để chế ngự các cầu thủ cho dẫu họ có hung hãn đến đâu. Còn trên sân ga, không khí ăn thua đủ sôi sục đến độ hơn hai chục cảnh sát đã phải ra tay. Nếu không có nhân viên công lực đứng ra làm trọng tài thì tôi e rằng hai đội đấu võ mồm hôm ấy đã đánh giáp lá cà và cảnh đổ máu là điều khó tránh khỏi.
Tuy là dân Central Coast, nhưng về thể thao thì tôi thấy mình chẳng thuộc về phe nào. Giữ được một khoảng cách để có thể quan sát, tôi mới thấy rõ cái “bản tính xã hội” của con người. Nói nôm na, không riêng chuyện này, tôi thấy ở đâu con người ta cũng thích “hùa” theo đám đông. Bình thường, mỗi ngày có biết bao nhiêu người trong cái đám đông ủng hộ gà nhà ấy ngồi đợi xe lửa chung trên một sân ga, ngồi chung với nhau trong cùng một toa xe và rất có thể cũng đã từng trao đổi với nhau một tiếng chào hay một cử chỉ thân thiện. Vậy mà chỉ cần bị kích động, người ta đã có thể ăn thua đủ với nhau. “Hùa” theo đám đông, con người dễ bị “vong thân”, nghĩa là chẳng còn suy nghĩ bằng cái đầu của mình và hành động theo lý trí của mình nữa. Tệ hơn nữa, có khi chẳng khác nào một chiếc máy vi tính, con người chỉ làm theo “lệnh truyền” của một người khác.
Tôi có ý nghĩ ấy khi nhìn cái đám đông người dân Bắc Hàn “thương khóc”  “lãnh tụ kính yêu” Kim Chính Nhất hồi tháng 12 vừa qua.  Phải nhìn nhận rằng trong cái đám đông khóc lóc vật vã ấy, không thiếu những người “thành tâm”, thật sự thương tiếc lãnh tụ của mình. Họ là một số nhỏ được hưởng ơn mưa móc của lãnh tụ và chế độ. Nhưng trong đám tang của cái gọi là lãnh tụ kính yêu ấy, phần lớn, có khi đến hơn cả triệu người, nếu không “khóc mướn” thì cũng chỉ “khóc theo” mà thôi. Người ta khóc bởi vì thấy người khác khóc. Ngoài ra, trong một chế độ độc tài toàn trị trong đó nhứt cử nhứt động của mỗi người đều bị mọi người theo dõi, thì không khóc lãnh tụ kính yêu cũng là một cái tội, không bị tru di tam tộc thì cũng đáng bị đầy vào trại lao động khổ sai.
Trong các chế độ độc tài, đám đông thường bị lợi dụng tối đa để tô điểm, đánh bóng cho chế độ. Nhưng tức nước vỡ bờ. Đám đông là một con dao hai lưỡi. Cũng cái đám đông hôm nay hoan hô, ngày mai lại trở cờ đả đảo. Cũng cái đám đông hôm nay khóc sướt mướt lãnh tụ kính yêu, ngày mai sẽ đứng lên đào mồ chửi bới. Chuyện ấy đã thường xuyên xảy ra kể từ sau cuộc cách mạng thường được mệnh danh là “sức mạnh quần chúng” tại Phi luật tân dạo tháng 2 năm 1986, khi có đến 2 triệu người dân nước này tuốn ra các ngã đường ở thủ đô Manila để lật đổ nhà độc tài Ferdinand Marcos. Năm vừa qua, thế giới cũng đã chứng kiến được sức mạnh ấy trong cuộc cách mạng “Mùa Xuân Á Rập” diễn ra tại một số quốc gia trong khối Á rập. Một khi đám đông đã phẫn nộ và nổi điên, nó chẳng khác nào một cơn lũ mà không một đê điều nào có thể cản ngăn được.
Quả thật, đám đông có một sức mạnh lạ thường. Nhưng điều được gọi là “quần chúng tự phát” xem ra không bao giờ có. Đám đông chỉ có thể trở thành một sức mạnh nhờ được thúc đẩy, lôi kéo và lèo lái. Cuộc cách mạng “sức mạnh  quần chúng” tại Phi luật tân có lẽ khó xảy ra nếu không có một hồng y Jaime Sin, tổng giám mục Manila, lên Đài phát thanh hiệu triệu và kêu gọi xuống đường. Mùa Xuân Á rập có lẽ cũng không xảy ra nếu ở một tỉnh lẻ nào đó bên Tunisia không có một thanh niên tên là Mohammed Bouazizi đã tự thiêu để phản đối bất công. Tạp chí Time số ra cuối năm vừa qua đã có lý để chọn “The Protesters” (Kẻ Phản Đối) làm người của Năm. Bất luận ở đâu, họ là những người dám đứng lên giương cao ngọn cờ và khích động đám đông đi theo mình để chống lại bất công. Hiện nay thế giới đang chú ý đến người thanh niên Nga tên là Alexei Navalny. Người thanh niên 35 tuổi này chưa từng đảm nhiệm một chức vụ công quyền nào và cũng chẳng gia nhập bất cứ đảng phái chính trị nào. Anh cũng không phải là một người giàu có, nổi tiếng hay có “thớ”. Anh cũng chưa từng xuất hiện trên bất cứ một màn ảnh truyền hình nào trong nước. Nhưng hiện anh đang có trong tay một thứ khí giới mà chế độ độc tài của thủ tướng Vladimir Putin phải sợ: có đến trên một triệu rưỡi người đang đọc các bài anh viết trên Blog riêng của anh. Đầu tháng 12 vừa qua, chính phủ Nga đã bắt giữ anh. Nhưng hành động này lại trở thành một thứ “quảng cáo” không công cho anh: dân chúng kéo nhau đến trước khám đường và tổ chức những đêm canh thức. Chỉ trong một tuần, các cuộc phản kháng đã lan tràn đến trên 70 thành phố trên tòan nước Nga và riêng ngày 10/12/2011, đã có trên 50 ngàn người tập trung tại thủ đô Moscow. Trước các cuộc phản kháng, chính phủ đành phải trả tự do cho Navalny. Nhưng liền sau đó, cuộc phản kháng đã qui tụ được một đám đông trên 100 ngàn người. Đây là cuộc biểu tình lớn nhứt kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Mọi giai tầng xã hội Nga đều có mặt trong cuộc biểu tình đòi cải tổ dân chủ. Nhìn biển người biểu tình hô lớn khẩu hiệu “Một nước Nga không có Putin”, người ta không thể không tự hỏi: trong suốt thời gian qua, họ ở đâu? (theo tạp chí Time, số ra ngày 23/1/2012). Thật ra cái đám đông âm thầm ấy vẫn có đó. Chỉ cần có một tiếng nói đủ mạnh để đánh thức họ dậy và lôi kéo họ đi theo.
Mùa nghỉ lễ vừa qua, tôi đã được xem cuốn phim có tựa đề “War Horse” (chiến mã) do nhà đạo diễn nổi tiếng Steven Spielberg thực hiện. Đặc điểm của cuốn phim là ngoài vai “con ngựa” được 14 con ngựa khác nhau thủ diễn, chẳng có nhân vật nào là chính cả. Nhưng dưới sự đạo diễn của Spielberg, tất cả mọi “ nhân vật” đều sắm vai của mình một cách hoàn hảo đến độ người xem có cảm tưởng như nhân vật nào cũng đều là “chính” cả. Câu chuyện nói về một con ngựa tuyệt đẹp và thông minh đến độ, những ai có dịp gần gũi đều yêu mến nó đến độ có thể đánh đổi tất cả những gì họ có, kể cả mạng sống cho sự an nguy của nó. Trong cảnh chiến tranh tàn bạo, con ngựa vẫn có thể làm tan chảy bao trái tim trong cái đám đông không ngừng chém giết nhau. Rồi cũng vì con ngựa, mà cuối cùng, đám đông thù hận đã có những phút hưu chiến tuyệt vời. Gây xúc động nhứt đối với tôi có lẽ là cảnh một người lính Anh đơn phương cầm cờ trắng tiến về phía quân Đức để cứu con “chiến mã” đang bị quấn chặt trong các vòng giây kẽm gai. Khán giả đã có thể cười ra nước mắt khi nhìn cảnh người lính vừa tiến bước trong run sợ vừa hát Thánh vịnh 22 quen thuộc của Kitô giáo: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi...Dù bước đi trong vũng tối, tôi không lo sợ”. Mà quả thật, sự tin tưởng và lòng can đảm đã giúp anh thắng vượt được mọi nỗi lo sợ để có thể tiến về phía quân thù và dàn xếp được một cuộc ngưng chiến để cứu con ngựa. Trước đó không bao lâu, tiếng nói duy nhứt mà hai bên có thể trao đổi với nhau chỉ là tiếng súng đạn. Vậy mà giờ đây, dẹp qua mọi thù hận, người lính Anh và người lính Đức đã có thể bắt tay nhau để cứu lấy con vật. Giữa hai bên không còn cái đám đông “vô danh” sẵn sàng ăn tươi nuốt sống nhau, mà chỉ còn lại những tình cảm cao đẹp nhứt trong tâm hồn con người. Đẹp và cảm động nhứt có lẽ là cảnh khi người lính Anh lên tiếng cần kìm cắt thì những người lính Đức, từ giao thông hào, ném tặng anh không chỉ một cái mà là một trận mưa những chiếc kìm cắt kẽm gai với nhãn hiệu đầy tự hào “made in Germany”.
Cảnh tượng trên đây cũng như cảnh cuối có hậu của cuốn phim “War Horse” gợi lên trong tôi niềm lạc quan và tin tưởng vào cái tính “bản thiện” nơi con người. Ở một mình, trở về nội tâm sâu thẳm của mình, con người thường hướng thiện.
Tôi không hẳn là người “dị ứng với đám đông”. Trong nhiều trường hợp, cần có đám đông để làm nên sức mạnh. Cuộc cách mạng ôn hòa nào cũng là cuộc cách mạng của đám đông. Nhưng cũng lắm khi con người dễ đánh mất chính mình giữa đám đông, nếu không muốn nói là bị hay tự mình làm vật hy sinh cho đám đông.
Về điểm này, tôi rất tâm đắc với bài phân tách của tác giả Nguyễn Gia Kiểng “Vài ghi chú về chủ nghĩa cá nhân” được đăng trên báo điện tử Thông Luận dạo tháng 8 năm 2010. Theo tác giả, chủ nghĩa cá nhân thường bị hiểu sai và đồng hóa với chủ nghĩa vị kỷ. Tác giả giải thích: “Trong khi chủ nghĩa tập thể coi xã hội là cứu cánh, cá nhân là phương tiện” thì “chủ nghĩa cá nhân coi mục đích của tổ chức xã hội, trong đó quan trọng nhất là chính quyền, là tạo điều kiện để mỗi cá nhân xây dựng hạnh phúc của mình. Nói cách khác, cá nhân là cứu cánh, mọi tổ chức trong xã hội kể cả nhà nước chỉ là phương tiện”.
Nếu hiểu “chủ nghĩa cá nhân” như thế, thì tôi thấy chẳng có lý do gì để mà không tuyên xưng và sống theo một chủ nghĩa như thế, bởi vì tôi tin rằng dù có ngu dốt đần độn, nghèo nàn và thấp cổ bé miệng đến đâu, tôi vẫn thấy mình có tự do để suy nghĩ bằng cái đầu của mình và sống theo ý mình và cho hạnh phúc của mình chứ không sống và làm theo ý và lệnh truyền của người khác.
Ngồi theo dõi  “chiến trận” của cái đám đông ủng hộ thể thao trên sân ga, tự dưng tôi lại nghĩ đến lời nói khẳng khái của cụ Nguyễn Trãi: “Ung dung ta nói điều ta nghĩ, cúi ngửa theo người quyết chẳng theo.”