Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Cho nhau một cơ hội




Chu Thập
8.5.15
Cũng như đối với rất nhiều người dân Úc, sự “ra đi” của hai tử tội Andrew Chan và Myuran Sukumaran đã gợi lên trong tôi nhiều thương tiếc và ngưỡng mộ. Thương tiếc là bởi cuộc hành quyết, như Thủ tướng Tony Abbott đã nói, quá “tàn ác và không cần thiết” (cruel and unnecessary) đối với những con người trong suốt 10 năm qua đã làm được một cuộc hoán cải phi thường. Tôi thật sự ngưỡng mộ những nỗ lực đổi đời của hai người thanh niên này. Niềm tin yêu và hy vọng mà hai anh đã mang lại cho các bạn tù trong suốt 10 năm qua và nhứt là thông điệp mà, qua sự ra đi đầy thanh thản, hai anh muốn nhắn gởi đến toàn thế giới, cũng đủ để tôi cúi đầu thán phục và xếp vào hàng ngũ những mẫu người cần được vinh danh và dõi bước theo.
Thỉnh thoảng trong Giáo hội Công giáo của tôi có diễn ra những cuộc lễ phong thánh. Tôi được biết rằng mục đích của việc phong thánh trước tiên là đề ra cho các tín hữu những mẫu gương để mô phỏng. Một vị thánh như Mẹ Terêxa Calcutta, người suốt một đời phục vụ và hy sinh cho người nghèo, quả là một mẫu người gần gũi, thấy được trước mắt và có thể bắt chước được đối với mọi người, bất luận thuộc tôn giáo nào. Nhưng có những vị thánh mà hào quang quá sáng chói, lại sống cách tôi hàng bao thế kỷ, trong một xã hội và điều kiện sống hoàn toàn xa lạ với tôi, khiến tôi cảm thấy khó đến gần. Andrew Chan và Myuran Sukumaran thì trái lại là những mẫu người mà tôi cảm thấy rất gần gũi và đã cho tôi thấy được thế nào là hoán cải và đổi đời. Nơi hai anh, tôi được nhắc nhở rằng lầm lỗi là chuyện thường tình của con người. Nhưng nơi hai anh, tôi lại “thấm” được câu nói quen thuộc trong Phật Giáo: bỏ đao thành phật! Chúa Giêsu có lẽ đã muốn chứng tỏ điều đó khi Ngài “đưa thẳng” lên thiên đàng tên cướp bị đóng đinh bên tay phải Ngài chỉ vì anh ta còn vừa đủ thời giờ để nói lên một lời sám hối ngắn ngủi trước khi nhắm mắt lìa đời. Với tôi, Chúa Giêsu đã tóm lược toàn bộ “Tin Mừng” của Ngài trong cử chỉ ấy. Với tôi, đây là chân lý vĩ đại nhứt được Chúa Giêsu mạc khải. Và tôi đã nhìn thấy chân lý ấy xuyên qua cuộc đổi đời của Andrew Chan và Myuran Sukumaran.
Ngay cả trong nhận thức về con người và cuộc đời, Andrew Chan và Myuran Sukumaran cũng giúp tôi hoán cải. Cũng như Ký giả Adam Gartrell của báo The Age (http://www.theage.com.au/federal-politics/political-opinion/andrew-chan-and-myuran-sukumaran-deserved-a-second-chance), tôi “hận” những kẻ buôn bán ma túy. Ký giả Gartrell cho biết: một người anh của ông đã qua đời năm 2007 trong một tai nạn xe hơi, do ảnh hưởng của ma túy, sau khi đã trải qua 2 thập niên lệ thuộc vào ma túy và sống trong tù tội. Một người, như mẹ của Ký giả Gartrell thường nhắc lại, không nở hãm hại một con ruồi, vậy mà do ảnh hưởng của ma túy, đã có thể dối trá, lường gạt, trộm cướp và ngay cả hãm hại người khác. Gia đình điêu đứng, con cái hư hỏng: đó là hậu quả trước mắt mà Ký giả Gartrell đã chứng kiến được về tác hại của ma túy đối với người anh của ông. Cũng như tôi là người đã cảm nhận được nỗi đau của gia đình một người bạn có con bị ma túy làm hỏng cả một cuộc đời ngay từ tuổi thiếu niên, Ký giả Gartrell đã xem bản án tử hình dành cho hai người thanh niên Úc này là điều họ đáng phải lãnh nhận. Họ đáng chết bởi vì họ đã biết rõ điều mình làm là tội ác. Họ đáng chết vì đã biết rằng khối lượng ma túy mà họ vận chuyển vào Úc sẽ góp phần giết hại bao nhiêu mạng sống và phá hủy bao nhiêu gia đình. Họ đã biết hậu quả của hành động của mình là phải bị tử hình nếu bị bắt giữ tại Nam Dương.
Ký giả Gartrell chỉ thực sự thay đổi cái nhìn của mình đối với hai người tử tội kể từ khi đến Nam Dương để thực hiện các bài phóng sự sau khi đã dấy lên nhiều lời kêu gọi xin ân xá cho họ. Ông đã gặp họ năm 2010, tức  khoảng 5 năm sau khi họ đã thể hiện quyết tâm đổi đời. Hình ảnh ông đã từng có về họ đã hoàn toàn thay đổi. Trước đây, họ như những con thú dữ bị nhốt vào chuồng, lúc nào cũng tỏ ra giận dữ, cộc cằn, thô lỗ. Nhưng nay, dưới cái nhìn mới của Ký giả Gartrell, họ đã trở thành hai người thanh niên lịch sự, ăn nói nhỏ nhẹ và rất thân thiện. Họ đã hoàn toàn lột xác sau khi Andrew bắt đầu học thần học và hướng dẫn tâm linh cho các bạn tù, còn Myuran Sukumaran thì bắt đầu vẽ tranh. Andrew Chan giải thích: “Tôi nhìn nhận rằng tôi đáng bị trừng phạt vì tội ác của tôi, nhưng tôi xin tòa cho tôi khỏi bị xử tử. Tôi hy vọng có được một cơ hội khác trong cuộc sống”. Về phần mình, Myuran Sukumaran nhìn nhận rằng mình đã từng là một con người “thiếu suy nghĩ và ngu ngốc”. Anh nói: “Trước khi bị bắt, tôi không hề biết những thiệt hại mà tội buôn bán ma túy của tôi có thể gây ra. Tôi không hề nghĩ đến tác động của nó; tôi chưa từng biết những người nghiện ngập ma túy và không bao giờ nghĩ đến những hậu quả nghiêm trọng của hành động của mình”. Rồi anh quả quyết: “Tận đáy lòng, tôi có thể thành thật nói rằng bây giờ tôi đã là một con người khác. Tôi là một con người đã được cải hóa”.
Ký giả Gartrell đã có lý để viết rằng hai người tử tội này không phải là những vị thánh, nhưng chắc chắn họ đáng được cho một cơ hội khác. Cách đây 10 năm, họ đã đi vào con đường dẫn đến hủy hoại và chết chóc. Nhưng nay, với con đường hoán cải mà họ đã tự vạch ra, họ đã để lại cho cả thế giới một di sản đáng được đón nhận để suy nghĩ: án tử hình là điều không nên có chỗ đứng trong thế giới ngày nay nữa và nhứt là bất cứ một con người nào còn có mặt trên trái đất  này cũng đều đáng được dành cho một cơ hội mới để sống tốt đẹp hơn.
Rất tiếc là tổng thống Nam Dương, ông Joko Widodo, đã không muốn đón nhận thông điệp ấy. Lẽ ra, hơn ai hết, ông hiểu được thế nào là một cơ hội mới mà bất cứ một con người nào cũng đều đáng được dành cho. Xuất thân từ một gia đình lao động nghèo, ông đã vươn lên không ngừng để rồi cuối cùng đạt đến địa vị cao nhất của quốc gia. Xã hội đã không nhốt ông trong số phận đen tối, mà đã cho ông vô số cơ hội để đổi đời. Tiếc thay, tổng thống Nam Dương đã hà khắc đến độ khước từ một cơ hội đổi đời cho hai người tử tội đã tỏ dấu hoán cải trong ròng rã 10 năm trời!
Bất cứ một cuộc đổi đời nào cũng tạo được phấn khích cho tôi. Tôi vốn không thích môn Quyền Anh. Nhưng võ sĩ quyền anh nổi tiếng nhứt Á Châu hiện nay là ông Manny Pacquiao, người Phi Luật Tân, lại là một mẫu người tôi trọng nể. Như ông đã thố lộ trước khi so găng với võ sĩ Mỹ Floyd Mayweather trong “trận đấu của thế kỷ” tối thứ Bảy tuần trước, ông đã từng là một đứa trẻ đường phố, nhưng đã có được cơ hội để vươn lên bằng môn quyền anh, để từ đó leo dần lên các bậc thang chính trị, trở thành thượng nghị sĩ và hiện đang có tham vọng trở thành tổng thống. Ông cho biết luôn muốn mang lại niềm cảm hứng cho giới trẻ Phi, nhứt là những trẻ em nghèo.
Hãy cho nhau một cơ hội. Đó là lời kêu gọi thống thiết mà tôi đã nghe được qua cuộc hoán cải và đổi đời của hai tử tội Andrew Chan và Myuran Sukumaran cũng như bao nhiêu gương thành công của không biết bao nhiêu người biết vươn lên từ những lầm lỗi và thất bại trong cuộc sống. Tất cả đều nói với tôi rằng ai cũng đều đáng được cho một cơ hội mới để sống tốt đẹp hơn.
Đây là thông điệp mà tôi cũng đã tiếp nhận được từ một người bạn mới. Sau một tai nạn giao thông cướp đi của anh một số cơ phận trong lục phủ ngũ tạng và gần đây sau hai lần bị đột quỵ, anh vẫn vui sống và cười cợt như thể chẳng hề có chuyện gì đã xảy ra. Xã hội Úc vẫn tiếp tục mang lại cho anh những cơ hội mới và tạo điều kiện để anh sống và sống có ý nghĩa. Gặp bất cứ ai anh cũng thổi ra cái hơi thở của vui sống ấy. Không chỉ đối với người đồng loại, anh còn chia sẻ niềm lạc quan ấy cho cây cỏ và ngay cả những thứ không có sự sống. Đó là cảm nhận tôi có được khi được anh hướng dẫn đi tham quan ngôi vườn sau nhà mà anh gọi là một “chiếc tàu” quê hương. Thật ra, đây chỉ là một “rẻo” đất hẹp bỏ trống của Hội đồng thành phố, nằm giữa một chung cư chính phủ dành cho người nghèo và một khu chung cư tư nhân trung lưu. Anh ví rẻo đất này là “hải phận quốc tế”. Anh đã biến nó thành một ngôi vườn được thiết kế theo hình một chiếc tàu vượt biên. Như  ông già Noe trong Kinh Thánh, trong ngôi vườn có hình con tàu ấy, anh đã thu thập được hầu hết “đại diện” của các cây trái rau cỏ của quê hương. Nhưng điều tôi cho là kỳ thú, đáng chú ý và đáng suy nghĩ nhứt là bên cạnh cây cỏ, vật liệu được ông bạn nghệ sĩ của tôi sử dụng để tô điểm cho con tàu của anh lại là bất cứ phế liệu nào anh kiếm được. Nơi đây là một vài khối sắt vụn. Đàng kia là những viên gạch hay những phiến đá, lu chậu nhặt được từ đầu đường xó chợ nào đó. Trong ánh mắt và bàn tay phù thủy của anh, tất cả những phế liệu ấy đều có một chỗ đứng, một vai trò, một ý nghĩa và nhứt là một sức sống. Anh bạn tôi đã thực sự thổi hơi vào những vật vô hồn ấy. Chúng đã có được một cơ hội để tái sinh.
Nghe anh dẫn giải về chỗ đứng và ý nghĩa của từng “cư dân” trên “con tàu Noe” của anh, tôi lại liên tưởng đến câu hát trong ca khúc “Diễm Xưa” của cố nhạc sĩ Trinh Công Sơn: “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”. Nghệ thuật đích thực, mà bạn tôi gọi là một thứ “đạo hạnh”, và nghệ sĩ chân chính lúc nào cũng nhận ra sợi giây liên đới giữa sự vật với nhau, giữa sự vật và con người, giữa con người và con người. Người nghệ sĩ nhìn thấy điều mà người thường ít nhận ra.
Có lẽ chính cái nhìn lạc quan ấy đã mang lại cho anh niềm vui sống và sức mạnh để vượt qua bệnh tật. Xét cho cùng, khi con người biết nhìn ra điều tích cực nơi người khác, họ cũng tự cho mình một cơ hội mới. Đó là định luật nền tảng của cuộc sống. Càng quảng đại trao ban thì càng lãnh nhận nhiều hơn. Đây là bí quyết mà ông Dale Carnegie đã học được từ tiểu thuyết gia Mỹ Janes Lane Allen (1849-1925) và ghi lại trong cuốn sách nổi tiếng của ông “Quảng gánh lo đi và vui sống” (How to stop worrying and start living). Ông Allen có khuyên như sau: “Ai cũng thấy rằng nếu ta thay đổi ý nghĩ của ta về người khác và mọi vật thì người khác và mọi vật cũng sẽ thay đổi với ta...Khi một người thay đổi hoàn toàn những ý nghĩ của mình thì người ấy sẽ ngạc nhiên thấy những điều kiện vật chất về đời mình cũng do đó mà thay đổi rất mau chóng” (Sđd, Bản dịch của  Nguyễn Hiến Lê và P.Hiếu. trg 139).
Nhìn cái “hải phận quốc tế” có con tàu vượt biên chở cả ba miền quê hương của bạn tôi, tôi thầm nghĩ, giá mà Tổng thống Nam Dương có một tí xíu “đạo hạnh” nghệ thuật của ông bạn tôi thì chắc chắn Andrew Chan và Myuran Sukumaran đã có cơ hội để “tái sinh”.








Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Thắt Lưng Buộc Bụng

Chu Thập
9.8.11




“Thắt lưng buộc bụng là cụm từ mà tôi nghe được lần đầu tiên vào đầu thập niên 1970, khi Hoa kỳ bắt đầu rút quân khỏi Việt nam và thực hiện điều được gọi là “Việt nam hóa chiến tranh”. Lúc bấy giờ, Chính phủ Đệ nhị Cộng hòa ban hành chính sách “kiệm ước” và kêu gọi người dân “thắt lưng buộc bụng”. Thời đó, viện trợ Mỹ bị cắt giảm, sự phồn vinh giả tạo bị lật tẩy, vật giá cứ ào ào leo thang. Nhà nhà, người người được khuyến khích sống tiết kiệm.
Nghĩ lại, tôi thấy tội nghiệp cho người nhà quê của miền Trung tôi. Người giàu có phải thắt lưng buộc bụng là chuyện nghe hợp lý. Còn nghèo như người dân quê chỗ tôi, quanh năm ngày tháng lúc nào cũng nghèo kiết đói meo thì cần gì phải buộc, phải thắt lại. Mãi cho đến lúc bỏ nước ra đi, quan niệm về giàu nghèo của tôi vẫn còn gắn liền với hình ảnh của đầu và bụng. Quen thấy mấy ông Tây thực dân đầu sói, bụng phệ, tối sâm banh sáng sữa bò, tôi luôn nghĩ rằng chỉ có người giàu mới có cái đầu sói và cái bụng phệ.
Tôi còn nhớ, lúc nhỏ, lũ nhóc chúng tôi thường từ nhà quê đi bộ  mấy cây số mới đến “Thành” để mua giây cao su về làm ná bắn chim hay nhợ, cước, lưỡi câu để câu cá. Người chủ của cái tiệm tạp hóa mà chúng tôi thường ghé đến là một cụ già người Hoa đẹp lão, rất hiền hòa dễ thương. Không biết tên ông cho nên chúng tôi cứ dựa vào cái đầu hói của ông mà gọi ông là “ông già sói”. Cứ nhìn gương mặt lúc nào cũng đỏ au và cái bụng nước lèo có tầm cỡ của chú ba Tàu này thì ai cũng biết rằng ông là người giàu có. Kể cũng lạ, trong mắt trẻ thơ của tôi, hễ sói đầu thì thế nào cũng bụng phệ.
Nhắc đến “ông già sói” thì đứa trẻ nào trong làng tôi cũng đều nghĩ đến cái ông ba Tàu này, bởi vì trong cả làng, cả xã của tôi chẳng thấy có một ai sói đầu cả. Trẻ nhỏ như tôi vẫn cứ nghĩ rằng hễ sói đầu là giàu có. Mà làng tôi chẳng có ai giàu đến độ nứt đố đổ vách thì làm gì “sói đầu” được.
Đã không có người sói đầu, làng tôi cũng rất hiếm người có bụng phệ. Chẳng hiểu tại sao lúc nhỏ tôi vẫn “thán phục” và thèm cái bụng phệ. Trông cái bụng phệ “oai” làm sao, bởi vì chỉ có dân nhà giàu mới ăn nhiều và to bụng mà thôi. Mà lũ trẻ con nhà nghèo lam lũ bụng xẹp như tôi làm sao không mơ ước được giàu có.
Thành ra, chính sách “kiệm ước”, thắt lưng buộc bụng được Chính phủ Đệ nhị Cộng hòa ban hành là điều xem ra quá mỉa mai đối với làng tôi. Chưa từng sử dụng các tiện nghi của cuộc sống thành phố cho nên dân nhà quê cũng chẳng thấy mất mát bao nhiêu khi phải thắt lưng buộc bụng. Hồi đó, nhờ có một ông sĩ quan người làng đắc cử dân biểu quốc hội, cho nên “một người làm quan cả họ được nhờ”, làng tôi được “điện hóa”. Nhờ chút ánh sáng văn minh đô thị, đêm đêm cả làng tụ lại tại một vài nhà có truyền hình để xem ké cải lương. Nhà cửa bắt điện sáng trưng, nên ba ngày Tết thấy cũng sáng sủa và vui nhộn hơn. Một vài gia đình làm đủ thứ kem để bán cho dân làng. Nhưng sau 75, làng tôi có điện cũng như không. Không cần phải kêu gọi “thắt lưng buộc bụng” gì cả, chế độ mới vắt cạn lục phủ ngũ tạng của người dân. Cái bụng teo tóp lại đã đành, mà mắt mũi cũng chẳng còn đủ sức để mở ra “nhìn đời”. Tôi nhớ có lần về thăm ông già. Mới 5 giờ chiều mà ổng đã cho bật đèn nê-ông sáng trưng. Tôi hỏi sao phí điện thế. Cha tôi giải thích: không bật đèn sớm thì chập tối, mấy người có tủ lạnh “xuyệt” (tăng điện) một cái, là đèn đuốc hết lên nổi. Cỡ như cha tôi hay cái làng thời nào cũng nghèo xơ xác như làng tôi, chuyện thắt lưng buộc bụng xem ra chẳng có ý nghĩa gì cả nếu không muốn nói là mỉa mai.
Nhưng ngày nay, sống trong cái xã hội thừa mứa của cải vật chất này, tôi thấy cụm từ “thắt lưng buộc bụng” quả có ý nghĩa thực tế. Nói đến tiết kiệm là phải nói đến những cắt giảm cụ thể và trong cuộc sống con người, cụ thể nhứt không gì bằng cái ăn cái mặc. Tôi đã nhiều lần làm “tổng vệ sinh” cái tủ quần áo. Cứ mỗi lần lục lạo sắp xếp lại, tôi thấy mình “thực sự” giàu có, có quá nhiều thứ chẳng đụng tới bao giờ. Có những cái vì ham rẻ mua về chất đống, nay moi ra mới thấy chưa cắt tem giá.
Quần áo dư thừa đã đành, mà thức ăn trong tủ lạnh và tủ bếp thì lại càng ê hề hơn. Cứ vài tuần, nhà tôi lại phải lôi ra vài món thức ăn quá “đát” vì lỡ để ở một góc kẹt khuất tầm nhìn trong tủ lạnh. Còn cái tủ đựng nắm muối tiêu tỏi mì gói bún khô...thì cứ như nồi cơm Thạch Sanh, tôi chẳng bao giờ thấy cạn. Tôi tin rằng: nếu gặp thiên tai không đi mua sắm được, thì vẫn có thể sống được hơn cả tháng với cái đám thức ăn dự trữ trong mấy cái tủ này.
Nếu phải quyết tâm “thắt lưng buộc bụng” thì ba nơi trước mắt mà chúng tôi có thể làm tức khắc là cái tủ quần áo, tủ lạnh và tủ bếp. Chỉ cần biết vun vén một chút thì trong xã hội dư dật này, con người chẳng bao giờ hụt trước thiếu sau hay phải nợ nần chồng chất.
Xét cho cùng, “thắt lưng buộc bụng” cũng có nghĩa là thay đổi quan niệm về cuộc sống và cách sống. Người Việt nam nói đến “thắt lưng buộc bụng” không phải vì chuyện gì cũng quy về cái “ăn”. Thực ra, người Việt nam nói đến cái bụng mà không dừng lại ở cái bụng.
Tác giả Vĩnh Phúc, cựu chủ biên của Ban Việt ngữ Đài BBC, đã nêu lên câu hỏi: “không hiểu sao trong ngôn ngữ hàng ngày người Việt hay nói về cái bụng?” Theo ông, hình như theo lý luận của các cụ ta ngày xưa, mọi chuyện đều phát xuất từ cái bụng mà ra. Tốt, hay, cũng do cái bụng. Xấu, dở, cũng do cái bụng.Với các cụ, cái bụng không chỉ làm nhiệm vụ tiêu hóa, mà còn thay thế cho cả cái đầu nữa. Các cụ vẫn nói: “Nghĩ thầm trong bụng”. Đến như việc học hành, cũng lại chỉ dùng cái bụng mà thôi. Người thông minh được gọi là “sáng dạ”. Kẻ ngu ngơ, khờ dại bị chê là “tối dạ”. Bụng cũng thay thế công việc của trái tim khi nói người có “tấm lòng vàng” hay “tốt bụng”. Người học rộng tài cao thì được coi là có “một bụng đầy chữ nghĩa”. Chính vì vậy mà một cụ đồ Miền Nam đã nói xỏ đối thủ của một mình bằng một câu nói bóng gió thâm thúy: “Trong bụng lem nhem ba lá sách”.
Lá sách, ngoài nghĩa đen là bao tử, còn có nghĩa là “đọc được vài cuốn sách”. Chửi kẻ chỉ “lem nhem ba lá sách” là có ý bảo rằng người đó chẳng có bao nhiêu kiến thức và như vậy không phải là bậc tài trí.
Theo các cụ ta ngày xưa, bụng không chỉ tượng trưng cho chữ nghĩa, sự thông minh và kiến thức. Nó còn là điểm để người ta căn cứ vào mà quyết định về tư cách của một người. Chẳng hạn, ăn ở hẹp hòi thì bị cho là “xấu bụng”. Tác giả giải thích thêm: “ Những kẻ tiểu nhân lòng dạ hẹp hòi, lắm khi cứ tưởng rằng người quân tử cũng cùng một phường như mình, là bởi vì họ “suy bụng ta ra bụng người” vậy. Những quân tiểu nhân, có hành động bất chính, rất khó lường. Ngoài mặt, chúng làm ra vẻ tử tế nhân nghĩa, nhưng thực ra chúng là quân lừa dối tráo trở, rất có thể chúng sẵn sàng hại người khác nếu thấy có lợi. Cho nên người ta gọi bọn này là hạng “mặt người dạ thú” hay hạng người “ lòng lang dạ sói”. Với những phường nham hiểm này, thật rất khó đề phòng. Cho nên cổ nhân đã có câu: “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.” (x.Vĩnh Phúc, Phiếm 2006, Nxb Tam Vĩnh, London, England, trg 34-37)
Cha tôi là người rất xem trọng cái bụng. Dĩ nhiên, không phải theo nghĩa phàm phu tục tử. Là người không bao giờ biết đến thuốc Tây, cứ mỗi sau bữa ăn, ổng đều uống vài viên kẹo “lô hội” có bán trong các tiệm thuốc Bắc. Cha tôi lý luận rằng mọi thứ bệnh tật đều do cái bụng mà ra; giữ cho bộ tiêu hóa được điều hòa thì sẽ khỏe mạnh. Thành thử, nóng giận thì không tránh khỏi, nhưng cha tôi ít khi có bộ mặt “táo bón” đến độ không thể sống chung “hòa bình” với người khác. Mỗi lần nghĩ đến cha tôi, tôi thường tự nhủ: ráng giữ cho cái bao tử luôn được lành mạnh để có thể sống tử tế, dễ dãi và quảng đại với mọi người.
Về điểm này, tôi thấy bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong nước cũng đồng quan điểm khi ông đề cao vai trò của cái bụng đối với sức khỏe của con người. Trong tuyển tập Cành Mai Sân Trước, ông bác sĩ này viết rằng: “Lý Lập Ông, một triết gia Trung quốc thế kỷ 16 đã viết trong Nhân Tình Ngẫu Hứng như sau: “Xét cơ thể con người, tai mắt mũi, tay chân, thân thể, hết thảy đều cần thiết... chỉ có hai cái không cần thiết mà Trời phú cho ta là cái miệng và cái bao tử, nguồn gốc của tất cả những cái lụy của loài người từ xưa tới nay. Có cái miệng với cái bao tử nên sinh kế mới hóa ra phiền phức, sinh kế phiền phức mới sinh ra mưu mô gian trá, mưu mô gian trá mới phải đặt ra hình pháp...”
Lâm Ngữ Đường có lẽ cũng đồng ý như thế nên ông viết: “Chúng ta có một cái bao không đáy gọi là bao tử...Nó ảnh hưởng đến văn minh nhân loại...Các hội nghị quốc tế căng thẳng đến thế nào, tới giờ cũng phải dừng lại để ăn...”  Tác giả ao ước: “Nếu con người có được cái diều như diều chim, có cái dạ dày của loài nhai lại chắc là không có tình trạng hiếu chiến, tàn ác vì loài ăn cỏ, ăn hạt đều hiền lành, loài ăn thịt đều hiếu sát”.
Tác giả Lâm Ngữ Đường cũng đưa ra một nhận xét thú vị: “Gà trống cũng thường đá nhau nhưng không phải vì thức ăn mà vì gà mái. Con người mà có cái diều như gà thì chỉ còn những cuộc chiến nho nhỏ chứ không phải cần đến chiến tranh lớn để xuất cảng đồ hộp.”  (Cành Mai Sân Trước, Đỗ Hồng Ngọc, nxb Văn hóa thông tin, 2004, trg 137-138)
Theo bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, ít có cơ phận nào trong con người bị hành hạ và bạc đãi cho bằng cái bao tử. “Nói chung, con người ít khi thương hại cái dạ dày của mình, chứ đừng nói đến chuyện biết ơn nó. Trái lại, người ta sẵn sàng nhồi nhét vào đó không thiếu thứ gì. Ta cũng sẵn sàng đổ vào đó hằng lít rượu đế, whisky, hằng két bia và vô số những chất độc hại khác như ...thuốc trừ sâu, giun đầu gai.v.v...” (sđd).
Những cái “bao tử” hiện đang sống tại Việt Nam hay Trung Quốc thì lại còn thê thảm hơn. Chuyện những hộp sữa dành cho thơ nhi chứa đầy những chất vô cơ độc hại không những làm khổ cái bao tử mà còn làm chết cả chủ nhân của nó là chuyện ai cũng biết. Bao tử ở hai nước này cũng không được thưởng thức “đồ thiệt” mà cứ phải ăn những thức ăn có hình thù mùi vị thơm ngon nhưng lại toàn là độc chất. Tiền bỏ ra mua thức ăn là tiền thiệt nhưng thực phẩm lại toàn “đồ giả” hay “đồ” đểu”. Một người bạn vừa đi du lịch Việt nam về, đã bị “dội ngược” khi trong một nhà hàng sang trọng có một cái “Phòng Nôn”. Có lẽ chẳng nơi đâu trên thế giới người ta bị ngộ độc thực phẩm, bị đi “té re” và đủ loại bệnh vệ đường tiêu hóa như hai nước này.
Nếu việc “hành hạ” cái bao tử chỉ là chuyện riêng tư, thì không thành vấn đề. Đàng này, sống trong xã hội loài người, tình liên đới trách nhiệm đòi hỏi ta phải nghĩ đến người khác. Đừng nói gì đến chuyện bệnh hoạn làm phiền người thân hay “táo bón” khiến luôn cau có với người xung quanh. Khi ốm đau chỉ vì không chịu “yêu thương” và chăm sóc cái bụng, ta lại làm tốn kém công quỹ và gây thiệt hại cho công ích.
Xét cho cùng, không cần gì phải chờ có khủng hoảng kinh tế, mà để có thể khỏe mạnh và cư xử tử tế với mọi người, thì “thắt lưng buộc bụng” lúc nào cũng phải là qui luật sống vậy.



Thứ Hai, 11 tháng 5, 2015

Miếng khi Đói, Gói khi No


Chu Thập
2.8.11



Trong các thứ cây nhiệt đới trồng trong ngôi vườn mà tôi gọi là “quê hương bỏ túi” của tôi,  tôi “thương” cây chuối nhứt. Tôi nói “thương” là bởi vì tôi có cảm tưởng như cây cối cũng có một “linh hồn”. Thi sĩ Lamartine của Pháp đã chẳng hỏi: “Hỡi các vật vô tri, các ngươi có một “linh hồn” không mà sao ta cứ mãi quyến luyến với các ngươi?”  Các cụ ở quê tôi thường giải thích rằng cây nào trồng gần nhà, được chăm sóc và “nói chuyện” với, thì thường mau lớn và chóng sinh hoa kết trái. Điều này thì xem ra chẳng có giá trị đối với mấy cây nhiệt đới đang có mặt trong vườn của tôi. Như cây chuối chẳng hạn, ở quê tôi, chỉ cần trồng độ 6 tháng hay tối đa một năm là đã thấy ra buồng. Còn nơi tôi đang ở, cây chuối được tôi trồng và “thương”  đúng 3 năm, mà nay mới nhú lên một cái lá ngắn báo hiệu sắp trổ buồng. Nhà tôi, tuy ăn mặn, nhưng lại thương cây cối một cách khác thường. Thấy cây chuối không lớn nổi, nhà tôi cứ trách tôi là chỉ vì muốn có hình ảnh quê hương mà đi “abuse” (ngược đãi) các thứ cây nhiệt đới. Mà đúng vậy, mùa đông, cứ nhìn các tàn lá chuối rách tả tơi và vàng úa, tôi cũng cảm thấy xót xa.
Nhìn cây chuối trong vườn đã thấy xót xa, ra siêu thị nhìn giá chuối cứ ở trên cao ngất ngưởng, tôi lại càng thấy “tê tái” hơn. Kể từ khi xảy ra cơn bão “Yasi” tại Queensland hồi đầu năm, vị giác của tôi hầu như đã quên hẳn mùi vị của chuối. Sinh ra và lớn lên ở đồng quê, tôi thường ăn chuối thế cơm. Cũng như dừa, chuối có tính đa dụng. Trái chín thì để tráng miệng. Trái ương ương luộc hay làm chuối xào dừa ngon hết sẩy. Chuối xanh hầm chung với ốc và lá lốt theo kiểu Bắc Kỳ cũng thật hấp dẫn. Bắp chuối thì còn đa dụng hơn: “um” với cá trê, cá lóc, ếch...hay bóp gỏi gà gỏi vịt thì cũng hết ý. Lá chuối xanh dùng để gói đủ thứ bánh hay giò lụa, giò thủ. Còn lá khô cũng dùng vào đủ thứ việc, kể cả “đi đồng”. Thân chuối khi hạ xuống cũng “xài” tuốt: bằm ra trộm cám cho vịt ăn hay nấu chín để nuôi heo. Sau 75, một số người đi kinh tế mới có cầm hơi qua ngày được là cũng nhờ củ chuối!
Tôi “thương” cây chuối là vậy. Nhưng từ nửa năm nay, mỗi lần đi chợ, tôi chỉ biết đứng nhìn và ăn hàm thụ. Cách đây mấy hôm, không chống trả được cơn “cám dỗ”, tôi “dụ” nhà tôi mua ba trái chuối “lady finger”. Tôi chả hiểu tại sao lại gọi là “ngón tay quý bà”, trông nó “ô dề” và có màu vàng như giống chuối sứ hay chuối “mốc” của miền Trung tôi chứ có búp măng gì đâu. Mua rồi tôi mới thấy hối hận: giá mỗi trái gần 3 Úc kim! Cứ mỗi lần bóc vỏ một trái, tôi lại tính nhẩm:  giá của một trái chuối mà tôi đang ăn có thể nuôi sống nguyên một gia đình đông con ở nhà quê Việt nam ít nhứt là một ngày.
Nhưng mấy ngày qua, tôi không nghĩ đến người thân nghèo còn ở Việt nam, mà lại hướng tâm trí đến hàng triệu triệu người đang lâm cảnh đói khổ vì hạn hán tại Miền Đông Phi Châu, còn được gọi là Vùng Sừng Phi Châu. Nạn hạn hán bị xem là tệ hại nhứt từ 60 năm nay đã khiến cho cả chục triệu người phải rời thôn làng. Có người, trên đường đi lánh nạn, đã đau lòng gạt nước mắt chôn vội người thân gục ngã vì yếu nhược. Hình ảnh của những bà mẹ tay bồng những trẻ thơ da bọc xương còn đang bú mớm không thể không làm cho mắt tôi xốn xang. Thông thường  “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, riêng tôi cứ ăn một trái chuối là thấy như đang phạm tội, không phải tội hái trộm trái cây như lúc còn nhỏ ở quê nhà, mà là tội “ăn không nghĩ đến người khác”. Ở đây, không có chuối thì còn bao nhiêu thứ trái cây khác. Giá cả có lên đôi chút, nhưng có người Úc nào nghèo đến độ không ăn “nổi” trái cây. Vấn đề là người ta có biết “liệu cơm gắp mắm” không thôi. Nếu biết mua sắm theo kiểu “mùa nào thức nấy” và nhứt là biết tiết kiệm, thì chẳng có người Úc nào thiếu ăn hay chết đói, mà còn có dư để gởi giúp những người đang đói khổ trên khắp thế giới. Người Việt mình, dù có khách đến nhà thình lình nhằm bữa ăn, chỉ cần thêm chén thêm đũa là xong ngay. Câu nói: “Miếng khi đói bằng gói khi no” thật là thâm thúy. Thế giới chẳng bao giờ đông miệng ăn đến nỗi thiếu lương thực. Thiếu chăng là thiếu tấm lòng quảng đại, tình liên đới và sự chia sẻ mà thôi.
Đứng trước trình trạng kém phát triển hay thiên tai dẫn đến đói kém, sự ích kỷ của con người thường được biện hộ bằng chủ thuyết dân số. Người ta trút hết mọi thứ tội vạ lên sự gia tăng dân số. Dù đã cũ rích và cũng chẳng được kiểm chứng, chủ thuyết này vẫn cứ được nại đến như một thứ bùa hộ mạng cho phát triển.
Năm 1798, một tu sĩ người Anh tên Thomas Malthus đã cho xuất bản một cuốn sách có tựa đề “Khảo sát về nguyên tắc dân số”. Theo ông thày dòng này, số phận tương lai của nhân loại gắn liền với hai thứ: một là lương thực hai là tính dục. Ông cho rằng dân số thế giới gia tăng theo cấp số nhân, trong khi nguồn thực phẩm chỉ gia tăng theo cấp số cộng, do đó sẽ đến một lúc trái đất không còn đủ khả năng để nuôi sống nhân loại. Lúc đó, cuộc cách mạng kỹ nghệ đang mở ra cánh cửa lạc quan cho thế giới, thì Malthus lại vẽ ra một bức tranh chẳng mấy sáng sủa.
Nhìn vào thế giới ngày nay, nhiều người cho rằng Malthus quả là người nhìn xa thấy rộng. Chưa bao giờ giá thực phẩm lên cao cho bằng ngày nay. Số người đói ăn cũng ngày càng gia tăng. Cứ mỗi lần có hạn hán hay lụt lội ở đâu đó thì viễn tượng nạn đói lại càng đe dọa hơn. Trên trái đất này, mỗi đêm vẫn còn khoảng Chín Trăm Hai Mươi Lăm TRIỆU người đi ngủ với cái bụng trống và mỗi ngày lại có thêm 219.000 người cần được nuôi ăn. Trong khi đó đất đai, nước uống và các tài nguyên dùng để sản xuất lương thực thì lại có giới hạn.
Thực ra, từ khi Malthus “chế” ra trái bom dân số đến nay, dân số thế giới đã gia tăng gấp 7 lần, nhưng việc sản xuất nông phẩm vẫn đủ để cho nhân loại sống. Theo tạp chí Time số ra ngày 25 tháng 7 vừa qua, nếu có hàng triệu người trên thế giới bị chết đói, thì nguyên nhân không phải vì thiếu lương thực cho bằng chính trị. Hai triệu người miền Bắc Việt nam chết đói năm Ất dậu (1945) không vì thiếu lương thực cho bằng chính sách hà khắc của quân phiệt Nhựt cộng với chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” của Việt Minh. Người dân trong các nước cộng sản có chết đói hàng loạt chắc chắn không phải vì đất hẹp người đông mà vì chính sách kinh tế “ngu đần” của chế độ.
Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận thực tại của cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay trên thế giới. Nhưng nguyên nhân của cuộc khủng hoảng lương thực chắc chắn không phải là nạn nhân mãn. Theo giải thích của tạp chí Time, trong niên khóa 2010-2011, lượng ngũ cốc mà thế giới tiêu thụ cao hơn số cung, khiến cho giá cả tăng một cách đáng kể. Tổ chức Lương Nông Thế Giới (FAO) cho biết: hiện nay, trên toàn thế giới, giá lương thực tăng 39% so với một năm trước đây. Số lượng ngũ cốc dự trữ đã hạ giảm so với nhu cầu của nhân lọai.
Dĩ nhiên, thời tiết xấu là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khan hiếm thực phẩm. Nhưng nhìn xa hơn, chính sự hoán chuyển sức mạnh kinh tế từ Tây sang Đông và việc tìm kiếm nguồn năng lượng sạch hơn cũng đang tạo ra tình trạng mất cân bằng về sự tiêu thụ thực phẩm. Các dự án của Tổ chức Lương Nông Thế Giới dự báo rằng vào năm 2050, sản xuất lương thực phải tăng 70% mới đáp ứng với nhu cầu gia tăng nhân số. Ông Ngozi Okonjo Iweala, giám đốc điều hành Ngân Hàng Thế Giới cảnh cáo: “Vấn đề an toàn thực phẩm cũng là vấn đề an ninh thế giới”.
Theo tạp chí Time, điều mỉa mai là cội rễ của cuộc khủng hoảng lương thực lại nằm trong chính bước nhảy vọt về kinh tế của nhân loại. Nói cách khác, chính vì thoát khỏi nghèo đói, mà các nước đang phát triển lại tiêu thụ lương thực nhiều hơn. Những người nghèo tại những nước như Trung Quốc, Ấn độ, Brasil và những nền kinh tế đang bùng nổ trên thế giới ngày càng gia tăng sự tiêu thụ lương thực. Trong vòng 30 năm qua, mức tiêu thụ ngũ cốc tại các nước đang phát triển đã tăng 80%. Nhưng quan trọng hơn, những “người giàu mới” tại Trung quốc, Ấn độ và Brasil dùng nhiều thịt và các món ăn trước kia chỉ dành cho người khá giả. Trong ba thập niên vừa qua, lượng thịt mà mỗi đầu người tiêu thụ đã tăng gấp hai. Điều này dĩ nhiên tạo thêm áp lực cho nông nghiệp. Để có đủ heo bò cung cấp cho nhu cầu của dân chúng, ngũ cốc trước đây dành cho con người nay được dùng vào chăn nuôi. Tại Hoa kỳ chẳng hạn, phải mất đến 6 kg ngũ cốc mới có thể sản xuất được một ký thịt bò. Đó là chưa kể đến hàng ngàn lít nước kèm theo.
Một “thủ phạm” nữa chính là nỗ lực giảm thiểu ô nhiễm: Tại Hoa kỳ, năm 2000, chỉ có 6% số bắp thu hoạch được sử dụng để sản xuất Ethanol, dùng cho vào xăng dầu để giảm bớt chất chì. Nay có đến 40% lượng bắp thu hoạch được dùng để sản xuất chất này. Với lượng bắp này, có ít nhứt 350 triệu người được nuôi sống. (x. Time 25/7/11)
Một vài dữ liệu trên đây cho thấy rằng trái đất không bao giờ cạn kiệt đến nỗi không sản xuất đủ lương thực cho nhân loại. Vấn đề chính là tổ chức sản xuất và nhứt là thay đổi cách tiêu thụ của con người. Nói chung, nếu mọi người ở những nước giàu biết thay đổi cách sống của mình, thì chắc chắn lương thực sẽ chẳng bao giờ thiếu cho những người đói khổ ở các nước nghèo. Tại các nước nghèo, con người đói lương thực. Thê thảm hơn, ở các nước giàu, trong khi người ta dư dật lương thực nhưng lại thường “đói” nghèo tình liên đới, sự cảm thông và tấm lòng biết san sẻ.
Xét cho cùng, giải pháp cho vấn đề lương thực của thế giới không chỉ nằm trong kỹ thuật, mà trong chính trái tim của con người.
Năm 1925, một luật sư kiêm ký giả trẻ người Pháp tên là Raoul Follereau đã cùng người vợ mới cưới đi hưởng tuần trăng mật tại Phi Châu. Tại đây, khi xe bị tắt máy giữa đường trong rừng già, lần đầu tiên ông gặp gỡ với một hạng người bị xã hội đẩy ra bên lề và phải sống vất vưởng trong rừng: đó là những người phung cùi. Cuộc gặp gỡ đã thay đổi hoàn toàn hướng đi của ông. Trở về Pháp, ông đã viết sách để kêu gọi thế giới quan tâm đến số phận của những con người khốn khổ này. Hội “Những người bạn của người phung cùi” đã ra đời và đã thay đổi được số phận khốn cùng của không biết bao nhiêu người phung cùi tại Phi Châu và trên khắp thế giới.
Một sự đổi đời như thế cũng đã xảy ra cho vợ chồng tỷ phú Melinda và Bill Gates. Bà Gates chia sẻ như sau: “Khi mới lấy nhau, tôi và Bill định khi về già sẽ chia sẻ tiền bạc với người khác. Lần đầu tiên chúng tôi đến Phi Châu là nhân một chuyến đi săn năm 1993. Chúng tôi không thể nào tận hưởng thiên nhiên hoang dã vì cảnh tượng mọi người đi chân đất, phụ nữ phải vừa bế con vừa xách nước đi hàng cây số và bởi lời mời từ một bộ lạc về việc dự buổi lễ cắt âm vật phụ nữ. Sau đó về nhà, chúng tôi tìm đọc báo cáo về phát triển thế giới năm 1993 và không khỏi giật mình. Trẻ con đang chết hàng loạt chỉ vì căn bệnh tiêu chảy và những loại bệnh cơ bản mà trẻ con ở nước chúng tôi đã được chủng ngừa....Chúng ta có khinh rẻ mạng sống của người Phi Châu hơn mạng sống của chúng ta không? Bill và tôi cho rằng không có sinh linh nào mang giá trị hơn hay kém hơn so với sinh linh khác. Chính sự công bằng này là lý do để quỹ từ thiện của chúng tôi hoạt động”.
Quỹ này đã chính thức khai trương năm 2000 và vợ chồng ông Gates đã cam kết trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của họ hiện ước tính khoảng 46 tỷ Mỹ kim cho Quỹ này.
Tôi biết mình không có đủ tài trí và năng lực của một Raoul Follereau hay sự giàu có của vợ chồng tỷ phú Gates. Nhưng tôi tin rằng cũng như họ, đứng trước sự nghèo khổ của người khác, nhân cách của tôi sẽ giảm đi nếu trái tim tôi không biết rung động và lòng bàn tay của tôi không chịu mở ra. Dù chỉ nhịn ăn một trái chuối để chia sẻ, tôi cũng đã góp phần xoa dịu nỗi đói khổ ở một nơi nào đó và dĩ nhiên cũng cảm nhận được một niềm vui lớn.


Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

Lời Mẹ Dặn…



                                                                      Chu Thập
Ngày cho Mẹ 2010

Mẹ tôi qua đời ngày cuối năm âm lịch 1975. Từ đó, nhà tôi hầu như không còn Tết nữa. Nếu lấy 75 làm cột mốc để tính, thì bao nhiêu năm tôi mất mẹ cũng là bấy nhiêu năm tôi mất nước. Như tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã đưa ra nhận xét: “Bất cứ ký ức nào cũng có tính tương tác. Nhớ, dù là nhớ một kỷ niệm hoàn toàn riêng tư, cũng vẫn liên hệ với một cái gì khác. Qua việc nhớ, do đó, chúng ta nối kết bản ngã và môi trường chung quanh, nối kết quá khứ và hiện tại, cá nhân và tập thể, cái riêng và cái chung.” (x. Nguyễn Hưng Quốc, Tháng Tư và Ký Ức Tập Thể, Đối Thoại online 26/4/2010), với tôi, nỗi nhớ mẹ luôn đi kèm với mất nước và mất nhiều thứ.
Những năm cuối thập niên 50, ở bậc tiểu học, ngày nào chúng tôi cũng chào cờ, hát quốc ca “Này công dân ơi…”, suy tôn Ngô tổng thống “ai bao năm vì sông núi quên thân mình” và cũng “học biết” về chủ nghĩa Cộng sản như một chủ nghĩa “Tam vô”: vô tôn giáo, vô tổ quốc, vô gia đình. Thời thái bình “cửa còn bỏ ngỏ”, tôi chẳng hiểu gì về chủ nghĩa tam vô ấy.
Lên trung học, đầu thập niên 60, tôi được xem cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống”, nhớ mãi cảnh đấu tố ngoài Bắc, đoàn người lên tàu há mồm di cư vào Nam và nhứt là hình ảnh cuối cùng khi tài tử Lê Quỳnh bị cá mập cắn đứt chân…Nhưng một giáo sư người Pháp của tôi, không rõ có chịu ảnh hưởng của cánh tả tại nước Pháp vào thời đó không, nói với tôi rằng cuốn phim chỉ là một trò tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa; theo ông, làm gì có những cảnh khủng khiếp như thế.
Tôi tạm cho rằng bài học sơ đẳng về“Chủ nghĩa Tam vô” và “Chúng Tôi Muốn Sống” là những tuyên truyền cần thiết trong một đất nước đang phải chiến đấu một mất một còn với những người Cộng sản. Tuy biến cố 30 tháng Tư 75 xảy đến như một cuộc tận thế, tôi vẫn còn nuôi chút hy vọng rằng Cộng sản Miền Bắc khác với Cộng sản Miền Nam. Những ngày đầu khi bóng dép râu và mũ tai bèo xâm nhập mọi hang cùng ngõ hẻm, mấy ông cán bộ “Ba Mươi” đi trấn an dân làng chúng tôi rằng làm gì có thứ chủ nghĩa Tam vô. Họ giải thích: “Cứ nhìn chúng tôi đây, chúng tôi cũng có vợ con, cũng đến nhà thờ, cũng đi lễ chùa.”
Nhưng quả như cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã cảnh giác “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”, có sống với người Cộng sản thì mới biết được thế nào là chủ nghĩa Cộng sản. Thật vậy, cứ nhìn vào cuộc bách hại tàn bạo đối với các tôn giáo tại Việt nam kể từ 75 đến nay cũng đủ để biết mấy ông Cộng sản có “vô tôn giáo” hay không? Về chủ trương tiêu diệt, khống chế hay “công cụ hóa” tôn giáo của các chế độ Cộng sản, những chuyện đã và đang xảy ra tại Việt nam và những chứng liệu lịch sử tại các nước Cộng sản là sự thật “hai năm rõ mười” không thể chối cãi được.
Còn chuyện những người Cộng sản có “vô tổ quốc” hay không, những khẩu hiệu  như “tổ quốc xã hội chủ nghĩa” hay “yêu tổ quốc là yêu xã hội chủ nghĩa” là lời tự thú “thưa ông tôi ở bụi này”, khỏi cần phải dông dài bàn cãi nữa.
Riêng về chủ trương “vô gia đình” của người Cộng sản, điều ấy xem ra cũng rõ như ban ngày. Còn nhớ dạo tháng Giêng năm 2002, trong một cuộc phỏng vấn dành cho tạp chí Time, ấn bản Á Châu, khi được hỏi về những đồn đãi rằng ông là con của ông Hồ Chí Minh, tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt nam Nông Đức Mạnh liền “phán” rằng: “Ở Việt nam, mọi người đều là con của Bác Hồ.” Tôi tức muốn ói máu khi nghe câu nói xấc xược và mất dạy này. Mẹ tôi có ăn nằm với tên tội đồ của dân tộc ấy đâu mà bảo rằng tôi là con của hắn ta. Khi Hồ Chí Minh  viết hồi ký dưới bút hiệu Trần Dân Tiên để tự xưng là “Cha Già Dân Tộc” của cả nước, hẳn ông đã có ý gạt bỏ vai trò làm cha của người đàn ông Việt nam và xóa bỏ mọi ranh giới và chức năng của gia đình. Hậu quả của chủ trương “vô gia đình” ấy, như ông bà chúng ta đã nói, là tình trạng “con không cha như nhà không nóc” mà chúng ta đang chứng kiến trong xã hội Việt nam ngày nay.
Nhưng điều đáng nói nhứt trong chủ trương “vô gia đình” của chủ nghĩa Cộng sản chính là hoàn toàn chối bỏ thiên chức của người mẹ trong gia đình. “Tự trong tiềm thức, Mẹ là nơi tìm về cuối cùng cũng là nơi yên bình nhất của cuộc sống, vì vậy mà phần đông người ta khi gặp hoạn nạn hay trước giờ phút lâm chung, một cách vô thức, đều bật ra tiếng kêu “Mẹ”. Mẹ là tiếng bập bẹ đầu lòng với âm môi “mm” trong miệng đứa bé, nên tiếng “mẹ, má, mạ (Việt), mẫu mù (Hoa), mom, mother (Anh), maman, mère (Pháp), mama, madre (Tây Ban Nha)…và tất cả ngôn ngữ trên thế giới đều bắt đầu bằng âm môi bập bẹ đầu tiên là “mm”. Thật là lạ lùng và nghịch lý vì sao con cái và dòng họ “nhà thơ vĩ đại Tố Hữu” lại bật ra tiếng nói đầu đời là Staline được?!” (Tiếng đầu lòng con gọi Sit-ta-lin) (Huy Phương, Nước Mỹ Lạnh Lùng, Nam Việt 2006)
Quả thật, trong xã hội Cộng sản, tiếng gọi thân thương “Mẹ” đã hoàn toàn biến mất khỏi tự điển và văn chương. Ở Miền Bắc, kể từ khi những người Cộng sản áp đặt chủ trương “vô gia đình”, “Tính từ năm 1945 cho đến năm 1975, không có một khoảng đất trống nào dành cho Mẹ, vì văn nhân thi sĩ bận lo ca tụng Đảng, ca tụng Bác. Đó là sự thật, Miền Bắc có thể hãnh diện có 365 bài thơ, nhạc ca tụng Bác và Đảng nhưng không hề có một dòng ca tụng Mẹ. Nếu có Mẹ là Mẹ chở bộ đội sang sông, mẹ bắn máy bay Mỹ, chứ không có mẹ mang nặng đẻ đau, cù lao chín chữ. Trong đợt “cải cách ruộng đất” ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa năm 1948, khi cần đấu tố thì những thằng con hoa chân múa tay có thể lý luận rằng “chúng mày ngủ với nhau mà sinh ra thằng tôi chứ đâu có ơn nghĩa gì”. Trong khi cả nước theo Đảng tiến lên giành thắng lợi, Mẹ vẫn là một điều gì xa xỉ, xa vời và tiểu tư sản.” (sđd).
Dĩ nhiên, mẹ bị khinh thường thì cha cũng bị chối bỏ. Đức cố Giám mục Lê Đắc Trọng, giám mục phụ tá tổng giáo phận Hà nội, có kể lại chuyện xảy ra trong thời Cải Cách Ruộng Đất như sau: “Một phụ nữ đứng tuổi, rất thương người cha già chị săn sóc hằng ngày. Chị nói với bố: “Ông có biết tôi là ai không?” Người cha ngậm ngùi trước nhìn đứa con dứt ruột của mình mà nói: “Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ”. Lời thưa não nùng thảm thương, nhưng phải hỏi cái sức ma quỉ nào đó đã thúc đẩy người con chất vấn người bố như thế? Cứ đó mà luận ra những người khởi xướng” (Lê Đắc Trọng, Chứng từ của một giám mục,Diễn Đàn Giáo Dân, 2009, trg 383)
Trước năm 1945 ở Miền Bắc và trước năm 1975 ở Miền Nam, đứa trẻ Việt nam nào cũng thuộc lòng bài học đạo đức vỡ lòng: “Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như suối trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”
Sau năm 1945 ở Miền Bắc và sau năm 1975 ở Miền Nam, trẻ con Việt nam chỉ còn biết có “5 điều Bác Hồ dạy”:
Yêu tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh tốt
Khiêm tốn thực thà dũng cảm”
(Dĩ nhiên khiêm tốn và thực thà như Hồ Chí Minh-Trần Dân Tiên!)
Công ơn cha mẹ, ông bà tổ tiên được thay thế bằng “ơn Bác và Đảng”! Trẻ con được dạy “căm thù” và noi gương thứ đạo đức “dối trá” của người muốn làm “cha thiên hạ”.
Mỗi dạo tháng Tư Đen, tôi nhớ ngày mất nước, tôi nhớ mẹ tôi và tôi cũng nhớ đến bao nhiêu nỗi mất mát mà người Việt nam phải hứng chịu trong chế độ Cộng sản. Ngày nay, kinh tế có phát triển, những tiện nghi vật chất có nâng cao, nhưng cái chủ nghĩa “tam vô” mà tôi đã học được ở bậc tiểu học ngày xưa vẫn còn đó. Không có chiếu chỉ cấm đạo, nhưng tự do tôn giáo hiểu theo đúng nghĩa của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các công ước quốc tế về các quyền tự do cơ bản của con người, vẫn chưa được nhìn nhận và tôn trọng đầy đủ; các tôn giáo vẫn còn bị kìm kẹp và biến thành công cụ trong tay những kẻ vô đạo. Tổ quốc thân yêu vẫn còn bị những con người “vô tổ quốc” mang ra mặc cả đổi chác với ngoại bang. Nền tảng của gia đình là đạo đức chỉ còn là một lỗ hổng không đáy. Tựu trung, cái mất lớn nhứt của đất nước tôi chính là đánh mất cái linh hồn của dân tộc. Linh hồn ấy đã bị những kẻ chủ trương “tam vô” đem bán đi để đổi lấy quyền lực và tư lợi cá nhân.
Mỗi dạo tháng Tư Đen, tôi nhớ ngày mất nước, tôi nhớ mẹ tôi và tôi cũng nhớ lời mẹ tôi dạy dỗ. Có lần, một chủ bút của một tờ báo tại London, Anh Quốc gởi đến cho thủ tướng Winston Churchill một danh sách của những người đã từng là thày dạy ông và xin ông duyệt xét. Trong danh sách ấy, người chủ bút hỏi thủ tướng Churchill ai là người thày tuyệt vời nhứt của ông. Thủ tướng Anh trả lời: “Người đó là mẹ tôi.”
Mẹ tôi không được đạo đức như thánh nữ Monica để suốt một đời ăn chay và cầu nguyện cho con mình là thánh Augustino từ bỏ cuộc sống trụy lạc và trở về với đường ngay nẻo chính.
Mẹ tôi không được mẫn cán như bà mẹ của ông Mạnh Tử: thấy con học thói xấu nơi phố chợ liền dọn nhà về gần trường cho con học đòi nết tốt.
Mẹ tôi không được cương quyết như mẹ của ông Mahatma Gandhi để tuyên bố không nhìn mặt con vì tật nói dối.
Mẹ tôi cũng không được như mẹ của tổng thống Washington để ông luôn tìm đến ngồi bên cạnh mỗi khi gặp khó khăn trong công việc và cuộc sống.
Mẹ tôi cũng không được như mẹ của ông Phùng Quán thời Nhân văn Giai phẩm để có thể khuyên con:
“Con ơi,
Trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật
Con ơi, một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.” 
(Lời Mẹ Dặn)
Mẹ tôi chỉ là một bà mẹ quê dốt nát thất học. Bà “đạo đức” theo kiểu “kinh kệ suốt ngày” mà tôi không thích mấy. Bà chẳng có lời vàng ngọc nào để lại cho tôi. Tôi chẳng thấy mẹ tôi có tài năng hay nhân đức nào để đề cao. Nhưng với tôi, cũng như với thủ tướng Churchill, mẹ tôi là người thày tuyệt vời nhứt của tôi, bởi vì tôi biết rằng bà dạy tôi nên người bằng cuộc sống vất vả hy sinh của bà. Cũng như mọi người mẹ Việt Nam bình thường khác, mẹ tôi đã hy sinh cả đời là để cho con cái được nên người.
Mẹ tôi chưa từng biết thế nào là Ngày Hiền Mẫu. Mẹ tôi mất quá sớm để tôi được đền ơn báo nghĩa. Nhưng tôi tin rằng bên kia thế giới, mẹ tôi hẳn phải mỉm cười mãn nguyện mỗi khi thấy tôi cố gắng sống cho ra người “chân thật”: không vì một chút bã quyền lực, danh lợi mà dối trá hay hãm hại người khác.





Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

Vẫn mãi là người tỵ nạn



Chu Thập
1.5.15


Cuốn phim “The Age of Adeline” (Tuổi của nàng Adeline) hiện đang được chiếu tại Úc, dù chẳng có chút hơi hám chính trị nào, vậy mà cũng khiến tôi nhớ đến thân phận hay đúng hơn “căn cước” tỵ nạn của mình. Sở dĩ có sự liên tưởng như thế là bởi vì cuốn phim thuộc loại vừa khoa học giả tưởng vừa tình cảm ướt át này đã được cho mở đầu với hình ảnh một thiếu phụ trẻ đẹp bước ra khỏi một chỗ chuyên làm giấy tờ giả, trên tay cầm một lúc đến 5,7 cái thẻ căn cước. Thật ra đây không phải là một thiếu phụ mà là một “cụ bà” sinh vào đầu thế kỷ 20. Sau khi có một đứa con với một người chồng vừa mới qua đời do một tai nạn trong xưởng làm, người thiếu phụ 29 tuổi gặp một tai nạn giao thông. Chìm sâu trong một hồ nước, tim người thiếu phụ hoàn toàn ngưng đập trong một hồi lâu. Nhưng do tác động khác thường của một số yếu tố như nước lạnh và một cơn sấm sét long trời lở đất, tim của chị bắt đầu đập lại và đập lại theo nhịp của một người đã vượt qua được mọi biên giới của tuổi già và sự chết. Đây quả là một giấc mơ đã thành sự thật mà nhân loại từ cổ chí kim đều khao khát có được. Nhưng trẻ mãi không già và trường sinh bất tử, đối với người thiếu phụ này, lại là một cơn ác mộng. Sau nhiều cuộc phiêu lưu tình cảm, chị thấy ngao ngán cho thân phận bất tử của mình.
Bởi lẽ, như một người tình cũ, được thể hiện qua sự nhập vai xuất sắc của tài tử gạo cội Harrison Ford, đã nói người con trai của mình: “Cô ta không còn khả năng để thay đổi”. Quả thật, không còn khả năng thay đổi là cả một thảm kịch đối với người thiếu phụ. Bao nhiêu người tình đến rồi đi, trẻ rồi già. Còn chị thì vẫn cứ “trơ gan với tuế nguyệt” cho nên không thể nào thích nghi và chạy theo sự thay đổi của những người tình. May cho chị, vào cuối cuốn phim, cũng do một tai nạn giao thông, chị đã được thiên nhiên trao trả lại khả năng có thể thay đổi, nghĩa là có thể già và chết như mọi người. Kể từ giây phút đó, chị mới thực sự chấp nhận cuộc sống, chấp nhận con người của mình, chấp nhận “căn cước” đích thực của mình.
“Trải qua một cuộc bể dâu”, tôi cũng thấy mình đã cầm trong tay không biết bao nhiêu thẻ căn cước. Tấm thẻ căn cước đầu đời khẳng định sự trưởng thành, các quyền công dân và quyền con người của tôi, đã được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp phát cho tôi vào giữa thập niên 1960, dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Với thẻ căn cước bọc nhựa, trên đó có ghi dấu tay của tôi, ít nhứt trước năm 1975, tôi đã hiểu được thế nào là dân chủ và nhân quyền, dù cho Việt Nam Cộng Hòa vào thời đó vẫn còn là một nền dân chủ non dại. Những lần đi bầu cử là những lần tôi thực sự thể hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình.
Sau năm 1975, tôi đã nâng niu và cất giữ tấm thẻ căn cước bọc nhựa này như một báu vật. Nhưng tiếc quá, trong chuyến vượt biên, tôi đã đánh mất nó. Có lẽ đây là lúc tôi mới thực sự cảm nghiệm được thế nào là “mất nước”. Với tư cách là một công dân, cùng với sự đánh mất tấm thẻ căn cước ấy, tôi đã mất tất cả.
Trong 5 năm sống và “sờ sẫm” được bộ mặt thật của xã hội chủ nghĩa, tôi thấy mình chẳng khác nào một người tỵ nạn ngay trên quê hương mình: tôi không có được bất cứ một thứ giấy tờ tùy thân nào trong người! Khoảng năm 1980, khi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bắt đầu cấp phát “Chứng minh nhân dân”, không hiểu vì một lý do nào đó, tôi bị lọt sổ. Nếu hiểu đúng nghĩa của bốn chữ “chứng minh nhân dân” trong chế độ cộng sản, thì quả thật tôi chưa có đủ bằng chứng để được chứng minh là một thành phần của “nhân dân”. Mặc dù không hề có bất cứ “nợ máu” nào, tôi cũng không được làm công dân của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Không được “chứng minh” là “nhân dân” cho nên đi lại, dù chỉ trong chu vi 5,10 cây số, là chuyện trần ai khoai củ đối với tôi. Sau này, khi tìm đường vượt biên, trốn vào Sài Gòn, tôi mới nhờ một người bạn đang làm việc trong một nhà in, “cấp phát” cho tôi thẻ “công nhân xây dựng” của một công ty ma nào đó ở Vũng Tàu. Thời đó, cầm trong tay một xấp giấy in Ronéo có đóng dấu bằng củ khoai là hầu như cửa ải nào cũng lọt qua được. Huống chi tài liệu “xác minh” tôi là “công nhân xây dựng” lại là một tờ giấy in hẳn hoi được một công ty đóng dấu đàng hoàng. Đây là lúc tôi cảm thấy tự tin nhứt trong những ngày sống lang thang ở Sài Gòn và Vũng Tàu.
Nhưng những thứ giấy tờ mà tôi đã có được do cái thói quen giả mạo của người cộng sản, không phải là “căn cước” thật sự của mình, cho nên khi bước lên tàu vượt biên, tôi đã nhờ biển cả thủ tiêu hết. Đó là bước đầu trong cuộc đổi đời của tôi: tôi muốn gột rửa hết những vết tích của giả mạo, dối trá mà chế độ đã vô tình ghi khắc trên con người tôi.
Mãi cho đến khi được định cư tại Pháp, tôi mới được cấp phát cho một thẻ căn cước theo đúng nghĩa. Cho tới nay, dù có thể quăng hay đốt bất cứ tài liệu nào, tôi vẫn trân trọng cất giữ “Thẻ chứng nhận tỵ nạn” (Certificat de réfugié) do Văn phòng Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc của Chính phủ Pháp cấp phát. Tôi không thích cái chữ “vô tổ quốc” (apatrides) được ghi trên thẻ chứng nhận tỵ nạn của tôi. Dù có bỏ nước ra đi, tôi vẫn mãi có một quê hương và tổ quốc. Bên cạnh thẻ chứng nhận tỵ nạn, tôi cũng xin được một   “Sổ thông hành” (Titre de Voyage = Travel Document) dành cho người tỵ nạn. Với hai thẻ này, chỉ một thời gian ngắn sau khi đến Pháp, tôi đã có thể đi lại hầu hết các nước Âu Châu không cộng sản. Đây là lúc tôi mới thực sự cảm nhận được thế nào là “không gì quý bằng tự do”. Và ngày nay, mang quốc tịch Úc, tôi đã có thể đi lại khắp nơi, kể cả quay trở về Việt Nam. Nhưng dù có là “công dân của thế giới” đi nữa, như người tỵ nạn nổi tiếng nhứt trên thế giới là Đức Đại Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, thường nói về mình, tôi vẫn không bao giờ có thể xóa bỏ khỏi tâm tư mình cái căn cước tỵ nạn ấy. Thẻ chứng nhận tỵ nạn và sổ thông hành dành cho người tỵ nạn được tôi cất giữ một cách trân quý là để tự nhắc nhở rằng tôi vẫn mãi mãi mang thẻ căn cước tỵ nạn trong trái tim mình. Căn cước ấy không chỉ là một vật kỷ niệm ghi dấu một bước đầu quan trọng trong cuộc đổi đời sau khi trốn thoát khỏi chế độ cộng sản. Nó vẫn mãi mãi xác định những suy nghĩ, tư cách, những cuộc chiến đấu trong bản thân tôi. Giữa một đám đông những người không cùng màu da, ngôn ngữ, văn hóa với mình, tôi càng ý thức một cách mãnh liệt rằng lý do hiện hữu của tôi ở nơi xa lạ này chính là tư cách tỵ nạn của tôi. Đi xa ngộ cố tri, gặp gỡ đồng bào và đồng hương trong những cuộc vui, trong các sinh hoạt xã hội, văn hóa, tôn giáo hay bất cứ một sinh hoạt nào, tôi cũng đều trở về với ý nghĩ: tôi sẽ không có mặt ở đây nếu tôi không phải là một người tỵ nạn.
Tỵ nạn và nhứt là tỵ nạn chính trị có nghĩa là trốn thoát khỏi một chế độ áp bức. Là người tỵ nạn cộng sản, tôi không chỉ trốn chạy khỏi một chế độ độc tài, độc ác và dã man, tôi không chỉ căm ghét những người cộng sản. Căn cước tỵ nạn cộng sản của tôi cũng đòi hỏi và nhắc nhở tôi phải không ngừng chiến đấu trong chính bản thân tôi để loại trừ tất cả những gì là tồi tệ nhứt làm nên chế độ cộng sản như thù hận, dối trá và độc ác. Bao lâu chế độ cộng sản vẫn còn tồn tại, tôi vẫn tiếp tục là một người tỵ nạn cộng sản và vẫn luôn được thúc đẩy để “chống cộng”, nghĩa là trước tiên chống lại những “cái thói cộng sản” vốn đã bám vào con người của tôi.
Là một người tỵ nạn được đón nhận làm công dân của một xứ sở mới, căn cước tỵ nạn cũng không ngừng gợi lên trong tôi một trong những tâm tình căn bản nhứt giúp tôi trưởng thành hơn trong nhân cách là lòng biết ơn. Tôi tin chắc rằng lòng biết ơn là một trong những nền móng vững chắc làm nên  Hoa Kỳ. Trong rất nhiều cuộc lễ được cử hành trong năm, quốc gia này đã dành riêng một ngày “Tạ ơn”  không chỉ để nhắc nhở về một biến cố lịch sử trong thời kỳ lập quốc, mà còn để không ngừng khơi dậy trong trái tim người dân một trong những tâm tình cao quý nhứt của con người là lòng biết ơn.
Bên cạnh những tên gọi không thể xóa bỏ được khỏi ký ức người Việt tỵ nạn như Ngày Quốc Hận, Ngày Mất Nước, Ngày Hành Trình về Tự Do... riêng tôi vẫn xem ngày 30 tháng Tư hàng năm như một Ngày Tạ Ơn. Tạ ơn cộng đồng thế giới đã biết ngồi lại với nhau để đưa ra một Công Ước nhìn nhận và bảo vệ người tỵ nạn. Tạ ơn các quốc gia đã mở cửa đón nhận người tỵ nạn và các quốc gia đã cho người tỵ nạn được đến cư trú và chọn làm quê hương thứ hai. Tạ ơn thế giới văn minh đã không chỉ giải thoát người tỵ nạn khỏi những chế độ áp bức, mà còn tạo điều kiện để họ sống xứng với phẩm giá con người.
Lòng biết ơn đích thực dĩ nhiên luôn đi kèm với sự đền ơn. Qua những thành tựu trong học vấn, nghề nghiệp và kinh doanh, người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới đã đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế và xã hội của quốc gia đã đón nhận và cưu mang họ. Đó là cách cộng đồng người Việt tỵ nạn trả ơn cho đất nước mà họ đã chọn làm quê hương thứ hai. Rất nhiều quốc gia đã nhìn nhận và đề cao sự đóng góp của các cộng đồng người Việt tỵ nạn. Riêng tôi, tự xét mình chẳng làm nên trò trống gì để đóng góp cho quê hương thứ hai này, cho nên để bày tỏ lòng biết ơn với đất nước đã mở rộng vòng tay đón nhận mình, tôi chỉ biết tự nhủ là phải cố gắng sống như thế nào để chứng tỏ cho người lối xóm thấy rằng mình thực sự là một người tỵ nạn cộng sản, nghĩa là không mang theo mình những “thói quen và cung cách cộng sản” để không vô tình làm phiền người khác.
Xét cho cùng, cái căn cước tỵ nạn cộng sản đã được ghi khắc trong tôi chẳng khác nào dấu ấn của “Phép Rửa” trong Kitô Giáo. Đó là một thứ “Đạo” mới của tôi. Tôi không chỉ tuyên xưng “Đạo” ấy trong các cuộc biểu tình đả đảo Cộng Sản. Tôi không chỉ “rao giảng” “Đạo” ấy mỗi năm một lần vào ngày 30 tháng 4 trước tòa đại sứ Việt Cộng ở Canberra. Tôi thấy mình phải sống “Đạo” ấy qua cuộc sống hàng ngày. “Đạo” ấy đòi hỏi tôi phải tuân thủ luật pháp, sống thành thật, tôn trọng lẽ công bình, đấu tranh cho lẽ phải, thể hiện tình liên đới và bao dung như tôi đã từng được người khác đối xử một cách quảng đại.
Xin được mãi mãi mang trong người căn cước tỵ nạn ấy để cố gắng vươn lên trong sự trưởng thành nhân cách.




Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

Sống và cho Sống...



Chu Thập
27.07.11


Cũng như nhiều người, cứ có xảy ra một vụ khủng bố, thì cho dù tác giả chưa được nhận diện hay lên tiếng nhận trách nhiệm, tôi cũng lập tức đoán ngay ai là người trực tiếp gây ra khủng bố hay đứng đằng sau vụ khủng bố.
Trước năm 1975, ở Miền Nam Việt Nam, cứ có một vụ đắp mô làm kẹt xe hay làm nổ tung xe cộ gây thương vong, cứ có một vụ giựt sập cầu cống làm gián đoạn giao thông, cứ có một vụ pháo kích bừa bãi vào khu dân cư làm máu đổ thịt rơi, cứ có một trái bom plastic làm sập các cao ốc chôn vùi bao nhiêu mạng người vô tội, cứ có một vụ chặt đầu phân thây ở thôn quê...thì chẳng cần phải chờ đợi có người lên tiếng nhận trách nhiệm, ai cũng biết rằng tác giả của những vụ khủng bố như thế  đích thị là mấy ông Việt cộng. Với người dân Miền Nam Việt Nam, cộng sản cũng đồng nghĩa với khủng bố. Cứ hễ có khủng bố thì nghĩ ngay đến Việt cộng, chẳng sai bao giờ!
Kể từ sau cuộc khủng bố tại Tòa nhà Tháp Đôi ở New York, Hoa kỳ ngày 11 tháng 9 năm 2001, cứ có một vụ khủng bố ở đâu đó trên thế giới, thì có cá cuộc rằng tác giả chủ mưu cuộc khủng bố đó không phải là Al Qaeda, thì cũng chẳng ai dám liều lĩnh bỏ tiền ra mà ăn thua đủ. Khủng bố giờ đây là việc làm của Al Qaeda. Không khủng bố không là Al Qaeda!
Vậy mà sáng thứ bảy vừa qua, khi theo dõi hai cuộc khủng bố tại thủ đô Oslo và đảo Utoeya, Na Uy, tôi đã thấy mình hoàn toàn sai bét trong việc suy đoán tác giả của cuộc khủng bố. Thoạt tiên, tôi tin chắc như đinh đóng cột rằng chủ mưu hai cuộc thảm sát này chỉ có thể là tổ chức khủng bố Al Qaeda mà thôi, bởi vì Na Uy không những gởi quân đội tham chiến tại Afghanistan, mà còn đưa ra nhiều tuyên bố chống lại khủng bố.  Al Qaeda có loại bỏ nước Âu châu nào ra khỏi danh sách những nước cần bị khủng bố đâu. Thời buổi mà khủng bố xảy ra như cơm bữa này, cứ đổ tội cho Al Qaeda là xong; tổ chức khủng bố này đáng phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi vụ khủng bố trên thế giới.
Nhưng khi cảnh sát Na Uy đã bắt được một “trự” da trắng, mắt xanh, mũi lõ, tóc hoe chính hiệu “na uy”, không những khôi ngô mà còn hiền lành nữa, thì tôi thấy mình đã không ăn ốc mà lại đoán mò, chẳng trúng trật gì cả. Tôi thực sự bàng hoàng, bủn rủn chân tay khi người thanh niên tên Anders Behring Breivik tự nhận mình là tác giả của cuộc đặt bom  tại tòa nhà Quốc hội và cũng là người thảm sát các thanh thiếu niên tại trại hè ở đảo Utoeya.
Khủng khiếp hơn nữa khi tôi được biết rằng trong “tuyên ngôn” dài 1500 trang viết trước khi tiến hành cuộc khủng bố, Behring Breivik tự hào cho rằng mình là một trong “80 đơn vị tử đạo” được tuyển mộ trên khắp Tây Âu để lật đổ các chính phủ nào tỏ ra khoan nhượng với Hồi giáo. Đã có khủng bố của chủ nghĩa hồi giáo cực đoan. Nay lại “đẻ ra” cái gọi là khủng bố của chủ nghĩa cực đoan bài hồi giáo. Cái chủ nghĩa sau xem ra còn khủng khiếp hơn cái trước. Khủng khiếp và đáng sợ hơn bởi vì chủ nghĩa này phát sinh ngay trong chính xã hội bị các nhóm hồi giáo cực đoan khủng bố. Bao lâu nay, người ta cứ trút hết mọi thứ tội lỗi lên đầu con “dê tế thần” Al Qaeda. Nay mới thấy kẻ nội công “phe ta” còn đáng sợ hơn tổ chức khủng bố này, bởi vì nó ở ngay trong chính nhà của mình.
Tôi còn nhớ, ngày 19 tháng 4 năm 1995, khi xảy ra vụ khủng bố tại tòa nhà chính phủ Hoa kỳ ở thành phố Oklahoma, trong đó có 168 người bị thiệt mạng mà 19 trẻ em trong một vườn trẻ ở lầu hai, nhiều người cũng nghi ngờ rằng tác giả của cuộc đặt bom chỉ có thể là một tên hồi giáo cực đoan nào đó mà thôi. Vậy mà cuối cùng, mọi người đều chưng hửng khi một người thanh niên cựu chiến binh trở về từ cuộc chiến Vùng Vịnh Thứ Nhứt tên là Timothy McVeigh bị bắt và nhận trách nhiệm về cuộc thảm sát. Ngoài thiệt hại về nhân mạng, trái bom do McVeigh chở trên một chiếc xe tải và cho phát nổ cũng làm hư hại trên 300 cao ốc bên cạnh. Phải cần hơn 12 ngàn thiện nguyện viên và nhân viên cấp cứu mới có thể giúp dọn dẹp những đổ nát sau cuộc đánh bom này.
Có nhiều động lực thúc đẩy người thanh niên này nhúng tay vào hành động tội ác. Lúc còn trên ghế nhà trường, anh là người luôn bị chúng bạn ăn hiếp mà không biết làm sao để đánh trả. Nhiều người biết rõ đã mô tả anh như một người nhút nhát, tách rời với đời sống xã hội. Tất cả những uẩn ức ấy được anh dồn hết vào “thủ phạm” duy nhứt là chính phủ. Cố tình cài bom giựt sập một tòa nhà của chính phủ trung ương, ai chết mặc ai, miễn anh thấy “rửa hận” là được.
Điều đáng suy nghĩ là trước cái chết của bao nhiêu người vô tội, nhứt là trẻ em, Timothy McVeigh vẫn không để lộ một chút hối hận và tiếc thương nào. Đây cũng là thái độ mà người ta cũng bắt gặp trên gương mặt gần như vô cảm của Anders Behring Breivik.
Cuộc khủng bố tại thành phố Oklahoma không thể không làm tôi liên tưởng đến nhiều cuộc khủng bố khác tại Hoa kỳ mà tác giả không phải là tổ chức Al Qaeda. Năm 1966, đã từng xảy ra một cuộc thảm sát tại Đại học Texas. Mới nhứt có lẽ là cuộc bắn giết tại Học viện Kỹ thuật Virginia năm 2007. Nhưng chắc chắn khủng khiếp nhứt là cuộc thảm sát tại trường trung học Columbine, quận Jefferson, tiểu bang Colorado dạo tháng Tư năm 1999. Hai học sinh trung học đã bắn xối xả vào một lớp học, sát hại 12 học sinh, một giáo viên và gây thương tích cho nhiều người khác, rồi sau đó tự bắn vào mình.
Cuộc điều tra sau đó cho thấy rằng cả hai học sinh đều là những đứa trẻ thông minh, nhưng đã từng là nạn nhân bị hiếp đáp. Sau đó, nhân dịp kỷ niệm 5 năm cuộc thảm sát, các nhà điều tra FBI tại Columbine và nhiều chuyên gia tâm lý trị liệu đã cho công bố kết quả cuộc điều tra theo đó hai kẻ sát nhân đều có vấn đề tâm lý: một em mắc bệnh tâm thần, em kia bị trầm cảm. Người học sinh mắc bệnh tâm thần là kẻ chủ mưu cuộc bắn giết với mục đích chứng tỏ cho thế giới thấy sự trổi vượt của mình. Ngoài ra, trò chơi điện tử bạo động và kích thích sự hoang tưởng cũng như các băng nhạc cổ võ cho chủ nghĩa hư vô cũng góp phần không ít vào sự hình thành một nhân cách rối loạn và bệnh hoạn nơi hai người học sinh này.
Trong xã hội nào cũng có người lương thiện và kẻ gian trá, người hiền lành và kẻ độc ác. Có người cho rằng xấu tốt đều do bẩm sinh; trời sinh ra kẻ tốt người xấu. Lạc quan như Mạnh Tử hay một số triết gia Tây phương như Jean Jacques Rousseau thì cho rằng bản tính con người tự nó là hoàn toàn tốt, nhưng bị xã hội lôi cuốn và làm cho ra bại hoại. Tôi cũng tin như thế. Con người chịu ảnh hưởng của xã hội rất nhiều để trở thành người tốt mà cũng có thể ra người xấu. Hiểu được như thế chúng ta mới dễ dàng cảm thông khi đứng trước những bất toàn, khiếm khuyết hay ngay cả hành động gian ác của con người.
Tôi rất tâm đắc với cái nhìn của Đức Đạt Lai Lạt Ma khi ngài nói về nhà độc tài Saddam Hussein. Ngài nói như sau: “Rất nhiều người trong chúng ta đổ tội cho Saddam Hussein về chiến tranh Vùng Vịnh. Nhưng tôi, tôi thấy điều này không công bằng. Tôi thấy trong nhiều trường hợp, tôi rất tội nghiệp cho Saddam. Đành rằng Saddam Hussein là kẻ độc tài chuyên chế, đành rằng ông ta làm nhiều chuyện tệ hại, nhìn sơ qua ai cũng muốn đổ hết tội lỗi cho ông. Nhưng...nếu ông không có quân đội thì ông ta cũng không làm hại được nhiều người như thế. Mà nếu quân đội của ông không có vũ khi thì cũng không hoạt động được. Mà vũ khí không phải tự không khí mà có. Nó liên quan tới nhiều quốc gia trên thế giới. Nhìn cho sâu, chúng ta thấy mình cũng đóng góp ít nhiều vào cuộc chiến này”.
Xã hội như thế nào thì con người thường như thế đó. Trong một xã hội mà ai cũng dối trá, sống lương thiện không phải là điều dễ. Cứ nhìn vào xã hội Việt nam hiện nay để thấy rõ điều đó. Ngược lại, xã hội Tây phương cũng có những vấn nạn riêng của chúng. Nhìn sơ qua thì chẳng khác gì biển hồ với một bề mặt bình lặng, nhưng lại đầy những đợt sóng ngầm ở độ sâu. Chiến tranh không diễn ra ở các nước Tây phương, nhưng số người chết vì bạo động ngoài đường phố, trong học đường và ngay cả trong gia đình không phải là ít. Có nước nào có nhiều cuộc bắn giết chỉ để bắn giết như tại các nước Tây phương, nhứt là Hoa kỳ? Hầu hết những kẻ gây ra những vụ bắn giết đều là những người, nếu không có vấn đề về tâm thần, thì cũng mắc một chứng hoang tưởng nào đó. Giết người chỉ để gây sự chú ý hay để nổi tiếng hoặc chỉ để “tự khẳng định” không phải là chuyện hiếm có!
Tựu trung, trong một xã hội sung túc của cải vật chất, nhưng thiếu vắng những giá trị tinh thần và một lý tưởng cao đẹp để sống chết cho, bất cứ một kẻ rối loạn tâm thần và mắc bệnh hoang tưởng nào cũng đều có thể là một trái bom nổ chậm. Khi trái bom ấy phát nổ thì đã quá muộn.
Tôi nghĩ phải có những giá trị tinh thần và những lý tưởng cao đẹp may ra mới có thể lấp đầy cái lỗ hổng mà một cuộc sống thừa mứa của cải vật chất có thể tạo ra và nhứt là mới có thể giữ cho xã hội đứng vững trong những giai đoạn đầy khó khăn và thử thách.
Trong trận động đất và sóng thần xảy ra tại Nhựt bản ngày 11 tháng 3 vừa qua, thế giới đã thấy rõ rằng chính nhờ sức mạnh được biểu lộ qua sự hy sinh cao độ của mọi người dân mà quốc gia này đã có thể đứng vững được trước thảm họa. Trong số ra ngày 4 tháng 7 vừa qua, lễ Độc lập của Hoa kỳ, nhựt báo Los Angeles Times đã ghi lại gương hy sinh của hai chuyên viên khoa học Nhựt bản. Hiện nay, chính phủ Nhựt bản đang cần các chuyên viên để sửa chữa Trung tâm điện nguyên tử Fukushima. Đây là một công việc chắc chắn đòi hỏi nhiều hy sinh, ngay cả hy sinh tính mạng.
Cho rằng đất nước đang cần nhiều người trẻ cho những công tác quan trọng hơn, vì vậy, ông Nobuhiro Shiotani, một hóa học gia và ông Yasutero Yamada, một nhà vật lý 72 tuổi, cả hai đều đã về hưu liền có sáng kiến là cần phải làm một cái gì đó với tuổi già còn lại. Hai ông lập luận rằng các chuyên viên trẻ tuổi làm việc tại Trung tâm Fukushima có thể bị ung thư với xác suất cao. Nơi người già thì trái lại, tế bào phát triển chậm cho nên ung thư bởi phóng xạ cũng phát triển chậm hơn và có nhiều cơ may sẽ chết vì tuổi già hay bệnh tật khác trước khi bị giết bởi phóng xạ.
Nghĩ như thế cho nên hai chuyên gia về hưu này liền đưa ra kế họach thành lập Hội chuyên viên tự nguyện gọi là “Đội ngũ chuyên gia hồi hưu” (Skilled Veterans Corp) để tình nguyện vào làm việc trong Trung Tâm Fukushima.
Cách đây 3 tháng, hai ông đã dùng điện thoại, điện thư và thư tay để kêu gọi bạn bè tham gia vào Đội ngũ chuyên gia hồi hưu. Trong số 2500 người được tiếp xúc có 400 người tuổi từ 78 đến 60 gồm nam chuyên viên và phụ nữ thuộc đủ mọi ngành nghề. Có trường hợp cả hai vợ chồng cao niên cùng tình nguyện gia nhập vào hội.
Ông Shiotani giải thích: “Lò điện nguyên tử là sản phẩm của thế hệ chúng tôi. Nếu có “xả rác” thì chúng tôi có nhiệm vụ phải dọn dẹp cho giới trẻ”. Trên trang mạng của “Đội ngũ chuyên gia về hưu”, hai ông viết : “Những ai đã từng ca ngợi sự an toàn tuyệt đối của các lò điện nguyên tử phải là những người đầu tiên xung phong vào Hội. Đó là nhiệm vụ của chúng ta đối với thế hệ trẻ hôm nay và các thế hệ mai sau”. (x. Việt luận, 12/7/11)
Không biết rồi đây chính phủ Nhựt Bản có đồng ý để cho hai “cụ già” này lãnh đạo Đội ngũ chuyên gia hồi hưu vào làm công tác thiện nguyện trong lò điện nguyên tử Fukushima không, nhưng ít nhứt hai ông và các thành viên của Hội đã để lại cho giới trẻ nước này một tấm gương hy sinh cao độ, một lý tưởng sống cao đẹp và một nghệ thuật sống tuyệt vời.
Ở đâu cũng thế, con người luôn cần có những tấm gương dấn thân hy sinh cho người khác. Sống cho người khác và cũng để cho người khác được sống: đó là khí cụ cần thiết để tháo gỡ ngòi nổ của những trái bom nổ chậm trong những xã hội trống rỗng những giá trị tinh thần và những lý tưởng cao đẹp đáng để sống chết cho.