Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp ghi về Mẹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp ghi về Mẹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2015

Tôi tập làm “MẸ”


Chu Thập
8.5.12
Trong cái thế giới nhỏ bé và âm thầm của tôi, chuyện gì xem ra cũng quan trọng cả. Như chuyện con gà con vịt nuôi đàng sau nhà chẳng hạn. Với tôi, đây không phải là chuyện “cà kê dê ngỗng” mất giờ, mà là chuyện nói hoài không hết và không chán!
Cách đây mấy tuần, tôi có ý định ấp thêm một mớ gà vịt để nuôi. Định đến cuối năm chúng sẽ lớn kịp để làm quà biếu cho bạn bè. Mấy chị gà ở nhà tôi vì suốt đời “không biết đến (người) nam” nên tôi phải đi hỏi bạn bè nuôi gà trong vùng mua lại ít trứng có cồ để bỏ vô lồng ấp. Xui một nỗi, năm nay mưa nhiều, gà không có hứng để sản xuất hay sao mà hỏi ai cũng không có. Còn một người cuối cùng thì tôi lại làm mất số điện thoại. Đến nhà thì nhằm lúc chẳng có ai. Muốn viết miếng giấy để lại thì lại không có sẵn viết trong xe. Hỏi nhờ người hàng xóm bên cạnh thì lại gặp thằng thanh niên Úc cà chớn, nói rằng không có sẵn trong người và cũng không có “giờ” để vào nhà lấy, dù hắn ta đang đứng hút thuốc tán dóc với bạn ngay trước cửa nhà. Phải mất thêm cả chục ngày sau, nhân có việc đi ngang nhà thì tôi mới thảy được mẩu nhắn tin của tôi vào thùng thư của họ. Ngay hôm sau, tôi nhận được sự trả lời. Họ nói rằng họ không có trứng chưa ấp nhưng lại cần nhờ tôi “chữa cháy” gấp vì chị gà mái đang nằm ổ, khi nhìn thấy hai chú gà con chui ra, tự dưng bỏ mười mấy cái trứng còn lại, dắt con đi chơi. Họ không có lồng ấp cho nên đang phải dùng bóng đèn ấp tạm hai hôm nay. Nếu tiếp tục e rằng không cứu nổi lứa gà.
Khi tôi đến thì ôi thôi lủ khủ có con đã nở kêu chíp chíp chạy tới chạy lui, có con đen thui lui đang la lối om sòm vì bị dính một mảng lông vào cái vỏ trứng do bóng đèn quá nóng. Trứng còn lại chưa nở thì lớn nhỏ đủ cỡ và đủ màu. Họ nhờ tôi đem về ấp tiếp, không lấy đồng xu cắc bạc nào. Coi như tự nhiên tôi đi nhận “trẻ mồ côi” về nuôi.
Từ hôm đó đến nay, nhà tôi không khác gì bệnh viện sản khoa. Hóa ra người chủ cũ không có giờ kiểm soát nên trong khi chị gà đang ấp thì lại có mấy chị gà vịt khác nhảy vô đẻ thêm. Đâm ra mười mấy trứng không có trứng nào bằng tuổi trứng nào và cũng chẳng thể biết được con cái nhà ai. Lúc nào ngồi làm việc tôi cũng có thể nghe tiếng kêu chíp chíp trong lồng ấp. Và ngày nào tôi cũng làm công việc của một bà mẹ kiêm bà mụ bất đắc dĩ. Từ chuyện nhớ trở trứng mỗi ngày hai lần, đến kê tai vô trứng để nghe coi trứng nào sắp khẻ mỏ, tôi còn phải kiêm thêm việc chuyển “hài nhi” qua “dưỡng đường” để tránh cảnh kẹt chân kẹt cổ trong lồng ấp. Rồi lại ra sân lo cho cái đám đã biết ăn biết mổ từ miếng ăn nước uống đến che đậy để khỏi bị chim cắp chuột tha. Tuy mệt thật nhưng mỗi ngày được chào đón những con gà bé tí dễ thương, thuộc đủ mọi “sắc dân” tôi thấy cũng đáng công. Tuy nhiên, không phải lúc nào chuyện “đỡ đẻ” của tôi cũng xuôi lọt. Sáng nào thức dậy mà thấy cái trứng đêm trước đã khẻ mỏ nhưng vì lý do gì đó chết trước khi được góp mặt nhìn đời, tôi cũng thấy buồn buồn, tiêng tiếc.
Những tưởng ‘sứ mạng’ làm “mẹ” của tôi chỉ đơn giản được nâng niu, chào đón và chăm chút cho những sinh vật bé bỏng dễ thương. Vậy mà cũng có những chuyện làm tôi xúc động thực sự. Số là trong cái mớ trứng lộn xộn mà tôi nhận được có lẫn một ít trứng vịt trong đó. Khi cái trứng vịt đầu tiên khẻ mỏ thì đám gà con đã bắt đầu đi “nhà trẻ” nên chú vịt con không thể nhập bọn được. Thế là tôi phải dành cho nó một “qui chế” riêng. Chắc vì không chịu nổi sự “cô đơn” nên dù có đầy đủ “chăn ấm nệm êm” chú ta vẫn cứ la lối om xòm. Chỉ khi nào thấy tôi thì nó liền “đổi giọng” và thật thú vị, nó ngúc ngoắc cái đuôi vẫy mừng tôi chẳng khác nào một chú chó con bên cạnh chủ. Buồn cười nhất là khi thả ra sân cho chơi, chú vịt nhỏ tuy bận thăm thú ngọn cỏ cọng rác nhưng vẫn nhất định theo tôi cho bằng được. Có lúc vì cố chạy nhanh chú té lộn mấy vòng rồi lồm cồm chạy tiếp. Con vịt nhỏ đã đem đến cho tôi những giây phút thật thú vị và xúc động. Thú vị là vì tôi chưa bao giờ thấy một con vịt con quyến luyến chủ như vậy. Xúc động là vì cả đời tôi chưa từng được ai...“săn đuổi” một cách nhiệt tình như nó. Trộn lẫn trong sự thú vị và xúc động, tôi cũng thấy mình “quan trọng” hẳn ra. Cũng may là vài ngày sau khi mấy cái trứng vịt khác khẻ mỏ thì chú vịt con không còn cô đơn nữa. Mới thấy trong khi ban phát thương yêu mà nhận được sự đáp trả thì không còn niềm vui và hạnh phúc nào lớn hơn.
Những tưởng chăm gà con vịt con là chuyện thái bình hạnh phúc nhứt trên đời vậy mà cũng có chuyện “đất bằng dậy sóng”. Số là một hôm tôi phải đi ra ngoài, khi về thì thấy chú vịt vừa mới nở hôm trước biến đi đâu mất. Lúc đó lòng tôi thật sự thấy lo sợ. Ở sát khu lâm viên, dầu biết rằng không có thú dữ nhưng chuyện rắn rết thì chắc chắn phải có. Tôi có nhiều lý do để lo và sợ. Tôi “hy vọng” là con vịt bị chuột tha hơn là bị rắn vào nhà bắt. Bởi vì chuột thì tôi còn trừ được chứ rắn thì chịu thua. Vừa lo tôi lại vừa thấy mình có lỗi. Tôi trách mình dù đã đóng cửa nhưng lại không che đậy cho kỹ càng. Nó còn quá nhỏ bé để có thể chạy trốn. Cứ tưởng tượng ra cảnh con vịt nhỏ vừa sợ hãi vừa phải chiến đấu với con chuột to hay một con rắn là tôi đã thấy “đau khổ” rồi. Nhưng “giả thuyết” của tôi bị nhà tôi bác bỏ. Vì theo sự quan sát “hiện trường” thì không có dấu tích của một cuộc “ác chiến” nào cả. Vậy chỉ có thể là chú ta nổi máu phiêu lưu muốn thấy trời cao đất rộng nên nhảy ra sân rồi bị chim hay quạ tha mất. Nếu vậy thì tôi lại thắc mắc là bằng cách nào mà một chú vịt mới nở lại có thể nhảy ra khỏi cái thùng cao gấp năm bảy lần chiều cao của nó được. Lo lắng và ray rứt chỉ chấm dứt hành hạ tôi khi nhà tôi tìm ra chú đang co ro vì lạnh và ướt cạnh bên con lạch nhỏ sau nhà. Dù biết rằng không bao giờ tôi có thể biết được toàn bộ câu chuyện “vịt con phiêu lưu ký” của nó nhưng ít ra nỗi ân hận ray rứt vì đã không “chu toàn trách nhiệm” làm “mẹ” không còn đè nặng trong tôi nữa.
Chắc chắn tôi sẽ bị chê là lẩm cẩm khi loay hoay với mấy cái chuyện con cà con kê chẳng ra đâu vào đâu như thế này. Không có con vịt con này thì tôi cũng còn nhiều con vịt con khác. Thế nhưng vấn đề không phải ở chỗ mất con này còn con khác, mà là qua những giây phút lo lắng này, tôi mới thật sự cảm nhận được thế nào là “lòng mẹ”. “Cảm” một chút thôi, bởi vì “lòng mẹ bao la như biển thái bình”
Cảm nhận được “lòng mẹ”, tôi cũng hiểu được sự cô đơn và nỗi khao khát của con người được ôm ấp trong lòng mẹ.Tôi nghĩ đến câu chuyện của cậu bé người Phi Châu được tác giả Steve Madden kể lại trong bài viết “Boy on a Bike” (cậu bé cỡi xe đạp) được đăng trong tạp chí Reader’s Digest, ấn bản Úc châu số tháng 5 này. Steve Madden, người Mỹ, đồng sáng lập viên của tổ chức từ thiện có tên là “BikeTown Africa”. Đây là tổ chức chuyên cung cấp xe đạp cho người dân nghèo Phi Châu. Ông Madden không chỉ ngồi tại Mỹ để kêu gọi quyên góp. Ông đích thân sang tận Phi Châu, tự tay ráp những chiếc xe đạp để tận tay trao cho người nghèo. Chính trong thời gian công tác tại Rwanda mà ông đã gặp và làm quen với cậu bé nói trên. Mỗi ngày cậu thiếu niên, tuy đã 16 tuổi, nhưng trông như mới lên 10, 12, đến giúp ông ráp xe đạp. Hai bên chỉ có thể liên lạc với nhau bằng ánh mắt, nụ cười và những cái siết tay. Tác giả nói rằng cậu bất hạnh đến độ không có nổi một tên gọi này lại dạy cho ông một bài học quý giá nhứt trên đời: cậu bé “có tất cả mọi lý do để hận thù, nhưng nó lại dạy cho ông vô số bài học về yêu thương”. Như rất nhiều thiếu niên trong vùng, em là kết quả của những cuộc hãm hiếp. Mẹ em, một thiếu nữ thuộc bộ lạc Tutsi, đã bị hiếp tập thể trong cuộc diệt chủng do những người Hutu chủ xướng hồi năm 1994, trong đó có đến cả triệu người Rwanda bị tàn sát. Sau khi đã giết ba người anh của cô, một nhóm dân quân Hutu đã hãm hiếp cô. Biết mình có mang, người thiếu nữ định phá thai, nhưng cuối cùng đã giữ lại giọt máu của mình. Quyết định này đã khiến cô đau khổ còn hơn cả khi bị hãm hiếp: cả gia đình cô đều “từ” và xua đuổi cô. Phải chăng đây là lý do khiến cô không dám đặt cho đứa con của mình ngay cả một cái tên.
Quả thực, “lòng mẹ” là một huyền nhiệm mà lý trí con người không thể hiểu thấu hết. Nói như văn hào Pháp Antoine de St Exupéry trong “Le Petit Prince” (hoàng tử tí hon), “có những điểu chỉ có thể thấy được bằng con tim chứ không bằng đôi mắt”.
Tôi không thể không liên tưởng đến câu chuyện của luật sư khiếm thị Trần Quang Thành tại Trung Quốc hiện nay. Có lẽ đây là câu chuyện mà tính thời sự đã vượt qua hẳn các biến cố chính trị khác trên thế giới. Câu chuyện được thế giới bàn tán đến nhiểu nhứt trong lúc này bởi vì nó liên quan đến mối quan hệ giữa hai người khổng lồ của thế giới là Trung Quốc và Hoa kỳ. Nó cũng phơi bày bộ mặt giả nhân giả nghĩa của hai người khổng lồ này. Một bên thì lúc nào cũng bằng mọi giá và mọi  cách giữ cái “thể diện” vốn chẳng còn “mặt mũi” nào vì những thành tích vi phạm nhân quyền trắng trợn. Một bên thì lúc nào cũng ra rả trên môi miệng hai chữ “nhân quyền”, nhưng hễ đụng tới quyền lợi của mình thì mọi giá trị khác đều bị dẹp qua một bên. Chẳng khác nào thái độ của lãnh tụ cộng sản gốc “hoạn lợn” Đỗ Mười  khi phán bảo các cán bộ cộng sản chẳng chút ngượng miệng rằng “các anh có quyền tự do ngôn luận, nhưng tự do ngôn luận để chửi Mỹ thôi”.
Về luật sư Trần Quang Thành, có lẽ thế giới chỉ chú ý đến phần hai của câu chuyện, tức chuyện anh bị quản thúc tại gia và đang đêm đào thoát khỏi nhà để vượt qua hàng 300 cây số và vào được tòa đại sứ Hoa kỳ ở Bắc Kinh. Thật ra đáng chú ý hơn phải kể đến “tấm lòng” và sự quả cảm của anh khi dám đơn thân độc mã đứng ra tranh đấu cho quyền của những người phụ nữ Trung Quốc bị chà đạp khi bị cưỡng bách phá thai và triệt sản. Một trong những người phụ nữ được luật sư Thành giúp đỡ kể lại rằng chị đã bị công an cột vào một chiếc giường, chích thuốc độc vào bụng chỉ hai ngày trước khi con chị chào đời. Vài giờ sau, thai nhi bị trục ra khỏi lòng mẹ. Sau đó công an còn trấn nước đứa bé cho nó thực sự chết (x.Tạp chí Time 14/5/2012)...
Những người cộng sản, nhứt là giới lãnh đạo Trung Quốc không bao giờ thấy rằng đây là một hành động ác đức, vô nhân đạo. Tuy khiếm thị từ lúc nhỏ, luật sư Thành đã “thấy” được tính vô nhân đạo của chính sách “mỗi gia đình một con” của nhà nước cộng sản Trung Quốc và nhứt là “thấy” được phẩm giá và thiên chức cao cả của người phụ nữ là được làm mẹ cũng như nhân phẩm của con người từ lúc được thụ thai trong lòng mẹ.
Năm nay, tạp chí Time đã đưa luật sư Trần Quang Thành vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhứt trên thế giới hiện nay. Lẽ ra tên tuổi của anh phải được đặt ở đầu danh sách này, bởi vì anh đã “thấy” được điều mà rất nhiều người trên thế giới ngày nay không thấy hay không muốn thấy.
Luật sư khiếm thị Trần Quang Thành không chỉ “thấy” điều trước mắt. Với con mắt của trái tim, có lẽ anh cũng báo trước tương lai của nhân loại: tương lai ấy thuộc về “lòng mẹ”. Chỉ có tấm lòng như lòng của mẹ với những nhân đức như nhân ái, rộng lượng, hy sinh, bao dung, cảm thông, tha thứ...mới có thể cứu vãn thế giới khỏi nanh vuốt của quyền lực thống trị, bạo động, độc ác, dã man, vô nhân đạo...và mang lại cho con người bình an và hòa bình đích thực.
“Lòng Mẹ” không nhất thiết chỉ thuộc về những người mẹ mà có lẽ ai cũng cần phải có. Dù sao tôi cũng phải cám ơn đám gà vịt mồ côi nhỏ bé của tôi. Nhờ phải lo lắng cho chúng mà tôi mới thật sự có dịp để tập làm MẸ.




Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

Lời Mẹ Dặn…



                                                                      Chu Thập
Ngày cho Mẹ 2010

Mẹ tôi qua đời ngày cuối năm âm lịch 1975. Từ đó, nhà tôi hầu như không còn Tết nữa. Nếu lấy 75 làm cột mốc để tính, thì bao nhiêu năm tôi mất mẹ cũng là bấy nhiêu năm tôi mất nước. Như tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã đưa ra nhận xét: “Bất cứ ký ức nào cũng có tính tương tác. Nhớ, dù là nhớ một kỷ niệm hoàn toàn riêng tư, cũng vẫn liên hệ với một cái gì khác. Qua việc nhớ, do đó, chúng ta nối kết bản ngã và môi trường chung quanh, nối kết quá khứ và hiện tại, cá nhân và tập thể, cái riêng và cái chung.” (x. Nguyễn Hưng Quốc, Tháng Tư và Ký Ức Tập Thể, Đối Thoại online 26/4/2010), với tôi, nỗi nhớ mẹ luôn đi kèm với mất nước và mất nhiều thứ.
Những năm cuối thập niên 50, ở bậc tiểu học, ngày nào chúng tôi cũng chào cờ, hát quốc ca “Này công dân ơi…”, suy tôn Ngô tổng thống “ai bao năm vì sông núi quên thân mình” và cũng “học biết” về chủ nghĩa Cộng sản như một chủ nghĩa “Tam vô”: vô tôn giáo, vô tổ quốc, vô gia đình. Thời thái bình “cửa còn bỏ ngỏ”, tôi chẳng hiểu gì về chủ nghĩa tam vô ấy.
Lên trung học, đầu thập niên 60, tôi được xem cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống”, nhớ mãi cảnh đấu tố ngoài Bắc, đoàn người lên tàu há mồm di cư vào Nam và nhứt là hình ảnh cuối cùng khi tài tử Lê Quỳnh bị cá mập cắn đứt chân…Nhưng một giáo sư người Pháp của tôi, không rõ có chịu ảnh hưởng của cánh tả tại nước Pháp vào thời đó không, nói với tôi rằng cuốn phim chỉ là một trò tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa; theo ông, làm gì có những cảnh khủng khiếp như thế.
Tôi tạm cho rằng bài học sơ đẳng về“Chủ nghĩa Tam vô” và “Chúng Tôi Muốn Sống” là những tuyên truyền cần thiết trong một đất nước đang phải chiến đấu một mất một còn với những người Cộng sản. Tuy biến cố 30 tháng Tư 75 xảy đến như một cuộc tận thế, tôi vẫn còn nuôi chút hy vọng rằng Cộng sản Miền Bắc khác với Cộng sản Miền Nam. Những ngày đầu khi bóng dép râu và mũ tai bèo xâm nhập mọi hang cùng ngõ hẻm, mấy ông cán bộ “Ba Mươi” đi trấn an dân làng chúng tôi rằng làm gì có thứ chủ nghĩa Tam vô. Họ giải thích: “Cứ nhìn chúng tôi đây, chúng tôi cũng có vợ con, cũng đến nhà thờ, cũng đi lễ chùa.”
Nhưng quả như cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã cảnh giác “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”, có sống với người Cộng sản thì mới biết được thế nào là chủ nghĩa Cộng sản. Thật vậy, cứ nhìn vào cuộc bách hại tàn bạo đối với các tôn giáo tại Việt nam kể từ 75 đến nay cũng đủ để biết mấy ông Cộng sản có “vô tôn giáo” hay không? Về chủ trương tiêu diệt, khống chế hay “công cụ hóa” tôn giáo của các chế độ Cộng sản, những chuyện đã và đang xảy ra tại Việt nam và những chứng liệu lịch sử tại các nước Cộng sản là sự thật “hai năm rõ mười” không thể chối cãi được.
Còn chuyện những người Cộng sản có “vô tổ quốc” hay không, những khẩu hiệu  như “tổ quốc xã hội chủ nghĩa” hay “yêu tổ quốc là yêu xã hội chủ nghĩa” là lời tự thú “thưa ông tôi ở bụi này”, khỏi cần phải dông dài bàn cãi nữa.
Riêng về chủ trương “vô gia đình” của người Cộng sản, điều ấy xem ra cũng rõ như ban ngày. Còn nhớ dạo tháng Giêng năm 2002, trong một cuộc phỏng vấn dành cho tạp chí Time, ấn bản Á Châu, khi được hỏi về những đồn đãi rằng ông là con của ông Hồ Chí Minh, tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt nam Nông Đức Mạnh liền “phán” rằng: “Ở Việt nam, mọi người đều là con của Bác Hồ.” Tôi tức muốn ói máu khi nghe câu nói xấc xược và mất dạy này. Mẹ tôi có ăn nằm với tên tội đồ của dân tộc ấy đâu mà bảo rằng tôi là con của hắn ta. Khi Hồ Chí Minh  viết hồi ký dưới bút hiệu Trần Dân Tiên để tự xưng là “Cha Già Dân Tộc” của cả nước, hẳn ông đã có ý gạt bỏ vai trò làm cha của người đàn ông Việt nam và xóa bỏ mọi ranh giới và chức năng của gia đình. Hậu quả của chủ trương “vô gia đình” ấy, như ông bà chúng ta đã nói, là tình trạng “con không cha như nhà không nóc” mà chúng ta đang chứng kiến trong xã hội Việt nam ngày nay.
Nhưng điều đáng nói nhứt trong chủ trương “vô gia đình” của chủ nghĩa Cộng sản chính là hoàn toàn chối bỏ thiên chức của người mẹ trong gia đình. “Tự trong tiềm thức, Mẹ là nơi tìm về cuối cùng cũng là nơi yên bình nhất của cuộc sống, vì vậy mà phần đông người ta khi gặp hoạn nạn hay trước giờ phút lâm chung, một cách vô thức, đều bật ra tiếng kêu “Mẹ”. Mẹ là tiếng bập bẹ đầu lòng với âm môi “mm” trong miệng đứa bé, nên tiếng “mẹ, má, mạ (Việt), mẫu mù (Hoa), mom, mother (Anh), maman, mère (Pháp), mama, madre (Tây Ban Nha)…và tất cả ngôn ngữ trên thế giới đều bắt đầu bằng âm môi bập bẹ đầu tiên là “mm”. Thật là lạ lùng và nghịch lý vì sao con cái và dòng họ “nhà thơ vĩ đại Tố Hữu” lại bật ra tiếng nói đầu đời là Staline được?!” (Tiếng đầu lòng con gọi Sit-ta-lin) (Huy Phương, Nước Mỹ Lạnh Lùng, Nam Việt 2006)
Quả thật, trong xã hội Cộng sản, tiếng gọi thân thương “Mẹ” đã hoàn toàn biến mất khỏi tự điển và văn chương. Ở Miền Bắc, kể từ khi những người Cộng sản áp đặt chủ trương “vô gia đình”, “Tính từ năm 1945 cho đến năm 1975, không có một khoảng đất trống nào dành cho Mẹ, vì văn nhân thi sĩ bận lo ca tụng Đảng, ca tụng Bác. Đó là sự thật, Miền Bắc có thể hãnh diện có 365 bài thơ, nhạc ca tụng Bác và Đảng nhưng không hề có một dòng ca tụng Mẹ. Nếu có Mẹ là Mẹ chở bộ đội sang sông, mẹ bắn máy bay Mỹ, chứ không có mẹ mang nặng đẻ đau, cù lao chín chữ. Trong đợt “cải cách ruộng đất” ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa năm 1948, khi cần đấu tố thì những thằng con hoa chân múa tay có thể lý luận rằng “chúng mày ngủ với nhau mà sinh ra thằng tôi chứ đâu có ơn nghĩa gì”. Trong khi cả nước theo Đảng tiến lên giành thắng lợi, Mẹ vẫn là một điều gì xa xỉ, xa vời và tiểu tư sản.” (sđd).
Dĩ nhiên, mẹ bị khinh thường thì cha cũng bị chối bỏ. Đức cố Giám mục Lê Đắc Trọng, giám mục phụ tá tổng giáo phận Hà nội, có kể lại chuyện xảy ra trong thời Cải Cách Ruộng Đất như sau: “Một phụ nữ đứng tuổi, rất thương người cha già chị săn sóc hằng ngày. Chị nói với bố: “Ông có biết tôi là ai không?” Người cha ngậm ngùi trước nhìn đứa con dứt ruột của mình mà nói: “Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ”. Lời thưa não nùng thảm thương, nhưng phải hỏi cái sức ma quỉ nào đó đã thúc đẩy người con chất vấn người bố như thế? Cứ đó mà luận ra những người khởi xướng” (Lê Đắc Trọng, Chứng từ của một giám mục,Diễn Đàn Giáo Dân, 2009, trg 383)
Trước năm 1945 ở Miền Bắc và trước năm 1975 ở Miền Nam, đứa trẻ Việt nam nào cũng thuộc lòng bài học đạo đức vỡ lòng: “Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như suối trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”
Sau năm 1945 ở Miền Bắc và sau năm 1975 ở Miền Nam, trẻ con Việt nam chỉ còn biết có “5 điều Bác Hồ dạy”:
Yêu tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh tốt
Khiêm tốn thực thà dũng cảm”
(Dĩ nhiên khiêm tốn và thực thà như Hồ Chí Minh-Trần Dân Tiên!)
Công ơn cha mẹ, ông bà tổ tiên được thay thế bằng “ơn Bác và Đảng”! Trẻ con được dạy “căm thù” và noi gương thứ đạo đức “dối trá” của người muốn làm “cha thiên hạ”.
Mỗi dạo tháng Tư Đen, tôi nhớ ngày mất nước, tôi nhớ mẹ tôi và tôi cũng nhớ đến bao nhiêu nỗi mất mát mà người Việt nam phải hứng chịu trong chế độ Cộng sản. Ngày nay, kinh tế có phát triển, những tiện nghi vật chất có nâng cao, nhưng cái chủ nghĩa “tam vô” mà tôi đã học được ở bậc tiểu học ngày xưa vẫn còn đó. Không có chiếu chỉ cấm đạo, nhưng tự do tôn giáo hiểu theo đúng nghĩa của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các công ước quốc tế về các quyền tự do cơ bản của con người, vẫn chưa được nhìn nhận và tôn trọng đầy đủ; các tôn giáo vẫn còn bị kìm kẹp và biến thành công cụ trong tay những kẻ vô đạo. Tổ quốc thân yêu vẫn còn bị những con người “vô tổ quốc” mang ra mặc cả đổi chác với ngoại bang. Nền tảng của gia đình là đạo đức chỉ còn là một lỗ hổng không đáy. Tựu trung, cái mất lớn nhứt của đất nước tôi chính là đánh mất cái linh hồn của dân tộc. Linh hồn ấy đã bị những kẻ chủ trương “tam vô” đem bán đi để đổi lấy quyền lực và tư lợi cá nhân.
Mỗi dạo tháng Tư Đen, tôi nhớ ngày mất nước, tôi nhớ mẹ tôi và tôi cũng nhớ lời mẹ tôi dạy dỗ. Có lần, một chủ bút của một tờ báo tại London, Anh Quốc gởi đến cho thủ tướng Winston Churchill một danh sách của những người đã từng là thày dạy ông và xin ông duyệt xét. Trong danh sách ấy, người chủ bút hỏi thủ tướng Churchill ai là người thày tuyệt vời nhứt của ông. Thủ tướng Anh trả lời: “Người đó là mẹ tôi.”
Mẹ tôi không được đạo đức như thánh nữ Monica để suốt một đời ăn chay và cầu nguyện cho con mình là thánh Augustino từ bỏ cuộc sống trụy lạc và trở về với đường ngay nẻo chính.
Mẹ tôi không được mẫn cán như bà mẹ của ông Mạnh Tử: thấy con học thói xấu nơi phố chợ liền dọn nhà về gần trường cho con học đòi nết tốt.
Mẹ tôi không được cương quyết như mẹ của ông Mahatma Gandhi để tuyên bố không nhìn mặt con vì tật nói dối.
Mẹ tôi cũng không được như mẹ của tổng thống Washington để ông luôn tìm đến ngồi bên cạnh mỗi khi gặp khó khăn trong công việc và cuộc sống.
Mẹ tôi cũng không được như mẹ của ông Phùng Quán thời Nhân văn Giai phẩm để có thể khuyên con:
“Con ơi,
Trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật
Con ơi, một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.” 
(Lời Mẹ Dặn)
Mẹ tôi chỉ là một bà mẹ quê dốt nát thất học. Bà “đạo đức” theo kiểu “kinh kệ suốt ngày” mà tôi không thích mấy. Bà chẳng có lời vàng ngọc nào để lại cho tôi. Tôi chẳng thấy mẹ tôi có tài năng hay nhân đức nào để đề cao. Nhưng với tôi, cũng như với thủ tướng Churchill, mẹ tôi là người thày tuyệt vời nhứt của tôi, bởi vì tôi biết rằng bà dạy tôi nên người bằng cuộc sống vất vả hy sinh của bà. Cũng như mọi người mẹ Việt Nam bình thường khác, mẹ tôi đã hy sinh cả đời là để cho con cái được nên người.
Mẹ tôi chưa từng biết thế nào là Ngày Hiền Mẫu. Mẹ tôi mất quá sớm để tôi được đền ơn báo nghĩa. Nhưng tôi tin rằng bên kia thế giới, mẹ tôi hẳn phải mỉm cười mãn nguyện mỗi khi thấy tôi cố gắng sống cho ra người “chân thật”: không vì một chút bã quyền lực, danh lợi mà dối trá hay hãm hại người khác.





Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Mẹ và tuổi thơ





Cũng như mọi người, Ngày của Mẹ, tôi nhớ mẹ. Mẹ tôi qua đời ngày cuối năm âm lịch 1975, cho nên kỷ niệm bao nhiêu năm mất nước là bấy nhiêu năm tôi mất mẹ. Thời đó, mẹ tôi đã là một bà già trầu hom hem. Hình ảnh ấy vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi.
Nhưng nay chính mình cũng đã bước vào tuổi già, tôi thường nhớ lại những kỷ niệm của tuổi thơ hơn. Thành ra, mỗi lần quay lại cuốn phim của tuổi thơ tôi đều nhớ đến mẹ của những ngày tôi còn bé.
Khi sinh ra tôi, mẹ tôi cũng đã tròm trèm 40. Vậy mà sau đứa con thứ 10 là tôi, “quen dạ đẻ cách năm đôi”, bà cũng ráng nặn thêm cho tôi được hai đứa em nữa, mà đứa nào cũng mạnh khù chớ không “đao” (down syndrome) điếc hay đui mù sứt mẻ gì hết. Gia đình đông con mà lại nghèo cho nên mẹ tôi không những chia sẻ đồng đều cảnh nghèo cho mọi đứa con, bà cũng tỏ ra rất công bằng trong tình thương dành cho con cái. Cũng như mọi đứa trẻ, có lẽ tôi cũng đã từng được mẹ tôi cho bú mớm, mớm cơm, ru ngủ và âu yếm. Nhưng có điều lạ là tôi vẫn không bao giờ nhớ được bất cứ hình ảnh nào về những cử chỉ âu yếm đặc biệt mà mẹ tôi đã dành cho tôi. Tôi cũng không nhớ có lần nào chính tôi hay bất cứ anh chị em nào của tôi đã tỏ ra bất cứ một cử chỉ ganh tỵ nào về tình thương của mẹ tôi. Có lẽ do văn hóa chăng mẹ tôi chưa bao giờ nói với bất cứ đứa con nào câu nói quen thuộc trên đầu môi chót lưỡi của người mẹ Tây Phương: “Mẹ thương con lắm”. Có thương thì cũng để trong lòng. Có thương thì cũng chỉ thể hiện tình thương bằng những cử chỉ cụ thể như chăm sóc, vỗ về và nhất là “cho roi cho vọt” mà thôi.
Mẹ tôi thương anh chị em chúng tôi bằng một tình thương mặn mà, sâu lắng hơn là bằng lời nói hay những  cử chỉ âu yếm. Suốt một đời, tôi vẫn gọi mẹ là mẹ chớ không thể gọi là “má” được. Lúc nhỏ tôi vẫn nghĩ rằng “ba má” là cách gọi dành cho những đứa trẻ mới bập bẹ biết nói hay những đứa con lớn rồi mà cứ “nhõng nhẽo”, riu ríu bên gấu quần của mẹ.
Mẹ tôi không thể hiện tình thương bằng những cử chỉ âu yếm, nhưng bà không phải là một người mẹ nghiêm nghị, khó tính hoặc cau có. Trong ký ức thơ dại của tôi, ở tuổi ngoài 40, mẹ tôi vẫn còn là một người đàn bà đẹp. Do chủ quan tôi thấy mẹ tôi đẹp là chuyện bình thường. Nhưng những người hàng xóm nhà tôi cũng đều nhìn nhận rằng mẹ tôi đã từng nổi tiếng là một người đẹp. Một tấm hình chụp năm mẹ tôi còn là một thiếu nữ đôi mươi đã xác nhận điều đó. Với sóng mũi không đến nỗi “tẹt” như đa số dân làng tôi, với mái tóc hơi chút gợn sóng, nhiều người nói rằng mẹ tôi có chút “máu lai”. Có người còn đùa rằng có lẽ thời Tây mới qua đô hộ Việt Nam, một bà nẫm, bà sơ hay bà cố nào đó của tôi “chạy không kịp” khi bị lính lê dương “rượt” mỗi khi đi càn quét trong các làng mạc. Chuyện đó thì tôi tin là có thật, bởi vì khi tôi có trí khôn, tôi vẫn còn thấy cảnh các phụ nữ, mỗi lần đi ngang qua Thành Diên Khánh là nơi có lính lê dương trú đóng, đều phải vác giò lên cổ mà chạy, không thì bị họ rượt theo bắt lôi vào trong cái “bọt đền” (Bordel: nhà thổ dành cho lính lê dương thời Tây) để mà làm chuyện đồi bại. Bên cạnh nhà tôi có một anh chàng lai đen. Nghe đâu, mẹ anh ta, vừa mới về nhà chồng, một hôm đi ngang qua Thành đã bị một anh “ma rốc cốc ken” nào đó rượt; bà “chạy không kịp” cho nên mới có anh.
Mẹ tôi có máu lai hay không và tôi có mang trong người một phần trăm nào của máu Tây không, tôi không biết. Tôi cũng mong một ngày nào đó, trước khi qua đời, được đi thử DNA để tìm cho ra sự thật. Nhưng cho dẫu trong số tổ tiên của tôi có ai bị Tây “rượt chạy không kịp” đi nữa, tôi vẫn hãnh diện về nhan sắc của mẹ tôi. Có lẽ mẹ tôi cũng hãnh diện về điều đó mỗi lần bà nhắc lại tuổi thanh xuân của bà. Tôi còn nhớ mang máng một hôm mấy anh chị em tôi bu lại xung quanh mẹ vì thấy mẹ đang ngồi rầu rĩ một mình. Về sau, khi tôi có trí khôn, mẹ tôi mới giải thích rằng hôm đó bà bị cha tôi “đánh ghen”. Số là lúc còn là thiếu nữ, bà được một ông “phán” (thẩm phán thời Tây) trong làng để ý và muốn cưới làm vợ. Nhưng vì bên đàng trai nói ra nói vô rằng hai bên không môn đăng hộ đối do nhà mẹ tôi nghèo, ông ngoại tôi tự ái cho nên không chịu gả con. Vậy mà cả đến 20 năm sau, trong một lần về  làng, ông “phán” lại tạt ngang qua nhà tôi và ghé thăm mẹ tôi, nhằm lúc cha tôi đi vắng. Nghe đâu, lúc từ giã, ông “phán” có để quên một chiếc khăn tay. Cha tôi về thấy có một tang chứng khả nghi liền tra gạn mẹ tôi. Tôi không biết mẹ tôi có u đầu sứt trán không, nhưng cầm chắc là bà đã bị “hành hung”, bởi vì cha tôi vốn là một anh nông dân cục mịch lại nóng tính.
Nhưng còn chuyện “động trời” hơn nữa mà mẹ tôi đã dấu kín trong lòng, mãi khi tôi sắp bước vào tuổi trưởng thành, bà mới tiết lộ. Mẹ tôi kể rằng năm bà độ “mười sáu trăng tròn”, một hôm được một ông “cửu” trong làng mời đến nhà để nhận một lá thư của cậu tôi từ một tỉnh khác gởi về. Thời đó, trong làng tôi cũng có đến 5, 7 ông “cửu”, hầu hết đều đã bỏ tiền ra để mua tước vị này. Ông “cửu” mà mẹ tôi nhắc đến cũng thuộc loại này. Nghe nói có thư của ông anh từ xa gởi về, giữa trưa nắng, mẹ tôi đã hăm hở đến nhà ông “cửu”. Ngờ đâu, lợi dụng lúc trong nhà không có ai, mẹ tôi vừa vào nhà liền bị ông giở trò. May quá, bà đã kịp thoát thân. Có lẽ do một lần bị ông “cửu” nổi tiếng trăng hoa này định hãm hại đời con gái mà mẹ tôi lúc nào cũng giữ khoảng cách với gia đình của ông.
Không gả con cho nhà giàu được, cuối cùng ông ngoại tôi cũng tìm được chỗ môn đăng hộ đối là gia đình cha tôi. Ngoài năm ba chữ quốc ngữ lận lưng ra, cha tôi suốt đời chỉ biết “dí thá” và cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau. Vậy mà khi về làm dâu, không hiểu sao mẹ tôi lại không phải chân lấm tay bùn. Có ra ruộng thì bà cũng đứng trên bờ để “chỉ huy” đám thợ cấy thợ gặt. Trình độ của mẹ tôi cũng thuộc loại vừa tốt nghiệp “bình dân học vụ”. Nhưng dưới con mắt thơ dại của tôi, chuyện gì bà cũng biết. Cứ đêm đến, trước hoặc sau giờ kinh tối trong gia đình, bà kể đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, từ chuyện Kinh Thánh đến chuyện bên Tây bên Tàu, từ chuyện cổ tích đến chuyện ma. Năm ba câu chữ Nho không biết học lóm được ở đâu, bà cũng “xổ” liên tục đến độ anh chị em tôi đều nhập tâm. Cha tôi “cù lần” bao nhiêu thì mẹ tôi lại thông minh và lanh lợi bấy nhiêu.
Vào thời đó, tức đầu thập niên 1950, mẹ tôi đã được xem là người “văn minh” nhứt làng, bởi vì chỉ có mỗi một mình bà dám “mạo hiểm” vào Sài Gòn buôn bán. Cứ mỗi hai tuần một lần, bà thu mua cau từ các làng và buôn Thượng, chất vào cần xế rồi chở xuống ga xe lửa Nha Trang để chuyển vào Sài Gòn bán sỉ cho các bà buôn ở vựa Chợ Cầu Ông Lãnh. Có một lần, vào dịp cuối năm âm lịch, mẹ tôi cho tôi và ông anh kề được tháp tùng bà trong một chuyến đi như thế. Vào thời đó, đối với  một thằng bé nhà quê  suốt ngày chỉ biết lẩn quẩn bên bờ ruộng và con sông Con cạnh nhà, ngay cả Thành (mà người Pháp gọi là citadelle) đã là một thành phố lớn rồi. Nói gì đến Nha Trang và nhất là Sài Gòn. Thế là sau một đêm ngủ vùi trên một toa chở hàng hóa, tôi và ông anh thức dậy khi mặt trời vừa lên để nghe những tiếng rao hàng inh ỏi ở ga Biên Hòa. Thấy cảnh buôn bán tập nập ở Biên Hòa tôi đã choáng ngợp rồi. Đến khi vào đến ga Hòa Hưng rồi được ngồi lên chiếc xe xích lô máy nổ bình bịch để về Cầu Ông Lãnh, tôi thấy như mình đang ở một nước khác, lòng cứ nhủ thầm: thế nào phen này cũng phải kể chuyện cho mấy thằng bạn “quê mùa” của tôi nghe cho chúng lác mắt chơi!
Tôi phục mẹ tôi sát đất: chưa bao giờ sống ở Sài Gòn, vậy mà bà dắt hai anh em tôi đi khắp nơi, khi thì Chợ Lớn mới, Chợ Lớn cũ, lúc thì Lái Thiêu khi thì Thủ Dầu Một...
Chuyến về mẹ tôi chở về Nha Trang đủ thứ hàng: nào là những thứ trái cây mà miền Trung chưa có như Sa bô chê, măng cụt, chôm chôm, sầu riêng, quít đường, nào là tôm sấy chất đầy mấy cái giỏ cần xế, nào là các thứ cây chiết. Suốt mấy ngày chuẩn bị Tết, thiên hạ đổ xô đến nhà tôi để mua sắm.
Không rõ do “cụt vốn” hoặc vì công việc làm ăn của cha tôi bị phá sản, mẹ tôi ngưng chuyện đi buôn. Bà xoay qua làm bánh. Cho tới giờ này, tôi vẫn chưa thấy ai có thể làm được những đòn bánh tét hay những cái bánh ú ngon như mẹ tôi. Mẹ tôi cũng là một “dân nhậu” chính hiệu. Trong khi cha tôi chỉ biết phá mồi thì mỗi ngày mẹ tôi lại chơi hết một chai bia BGI con cọp (Brasseries et Glacieres Internationales) của Pháp. Món nhậu nào bà làm cũng ngon. Ngon đến độ anh em tôi phải bị lừa. Hồi đó, ông anh thứ sáu của tôi thường kể rằng cá nhám là một loài cá chuyên ăn thịt người. Nhất là trong thời Đệ nhị Thế chiến, bao nhiêu xác binh sĩ bị chết trên biển đều được chúng xơi tái hết. Thật ra, không cần phải nghĩ đến hình ảnh những con cá nhám ăn thịt người, chỉ cần ngửi cái mùi tanh ngái của chúng là anh em chúng tôi bỏ chạy. Cho nên thỉnh thoảng có mua loại cá rẻ tiền này về, chỉ có mấy bà chị của tôi là phải cắn rắng để ăn thôi. Dù có dỗ ngon dỗ ngọt cách mấy, anh em trai chúng tôi cũng thà ăn mắm còn hơn  động đũa đến thứ cá gớm ghiếc này. Vậy mà có lần mẹ tôi đã lừa được anh em chúng tôi. Bà đâm quết thịt cá nhám cho thật nhuyễn, ướp với đủ thứ gia vị cho báng mùi, rồi lấy lá chuối cuốn lại như những cuốn chả lụa mà anh em chúng tôi lúc nào cũng thèm chảy nước miếng nhưng thỉnh thoảng mới được thưởng thức. Sau khi hấp cho thật chín, mẹ tôi giới thiệu đây là món chả lụa “hảo hạng”. Thế là anh em chúng tôi tranh nhau đớp sạch. Chờ cho xong bữa ăn, mẹ tôi mới trịnh trọng tuyên bố: “Cá nhám đó bay!” Anh em chúng tôi “mắc nghẹn”, muốn nôn mửa chẳng khác nào mấy ông Tây ăn phải thịt chó.
Làm nông, đi buôn, làm bánh, nuôi gia súc, chế biến các món ăn...nghề nào mẹ tôi cũng xoay xở được. Nhờ tài xoay xở và vun vén của mẹ tôi mà anh em chúng tôi không đến nỗi thất học. Nhưng với tôi, quan trọng hơn chút vốn liếng văn hóa mà tôi đã học được ở nhà trường, mẹ tôi đã dạy cho tôi biết làm người. Và bà dạy tôi bằng chính tấm gương tần tảo hy sinh, những giọt mồ hôi từ những xoay xở, biến báo trong cuộc sống. Có lẽ những câu thơ viết về mẹ của nhà thơ Phùng Cung (1928-1997) của thời Nhân văn Giai phẩm đã diễn tả đúng tâm trạng của tôi mỗi khi nghĩ về mẹ của thời tuổi thơ của tôi:
“Mồ hôi mẹ
Tháng ngày đăm đăm
Nhỏ giọt
Con níu-giọt mồ hôi
Đứng dậy làm người”
Suốt đời, mỗi khi nghĩ về mẹ, tôi luôn tự hỏi: mẹ tôi mong điều gì nơi tôi nếu không phải là luôn biết nghĩ đến những hy sinh của mẹ để “đứng dậy làm người”.



Chu Thập, Mothers' Day 2014