Thứ Tư, 12 tháng 6, 2019

Bóng của Đại Huynh



Chu Thập
11/6/19

Tháng Sáu năm nay (2019) có 2 cuộc kỷ niệm đáng ghi nhớ. Trước hết là  Ngày 6 tháng Sáu, kỷ niệm 75 Ngày D.Day, Ngày quân đội Đồng minh, dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ, đã đổ bộ lên bờ biển Normandie, miền Bắc nước Pháp, để giải phóng nước này và cả Âu Châu khỏi sự cai trị tàn bạo của Đức Quốc Xã. Các nhà lãnh đạo của các nước đã từng tham gia vào cuộc đổ bộ đã có mặt tại địa điểm của cuộc đổ bộ để bày tỏ lòng biết ơn với 175 ngàn binh sĩ đã hy sinh để chiến đấu cho Tự Do.
Ít được chú ý hơn, nhưng có lẽ đáng được ghi nhớ hơn, đó là cuộc thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn ở Thủ đô Bắc Kinh, Trung Cộng: ngày 4 tháng Sáu năm 1989, Đảng cộng sản Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch tối cao Đặng Tiểu Bình, đã ra lệnh cho quân đội đàn áp cuộc biểu tình ôn hòa đòi Tự Do và Dân Chủ của sinh viên. Đã có không dưới 1000 người bị tàn sát!
Cách nhau 45 năm, nhưng hai biến cố đều được liên kết với nhau trong cùng một khát vọng chung của con người ở mọi thời đại: đó là được Tự Do! Người dân Âu Châu ngày nay đã hưởng được Tự Do: họ đã được giải phóng khỏi chế độ tàn bạo của Đức Quốc Xã, họ cũng đã thoát khỏi gông cùm của chủ nghĩa cộng sản!
Nhưng tại Trung Cộng, ngay tại Quảng trường Thiên An Môn, chân dung của đồ tể Mao Trạch Đông vẫn còn đang sừng sững ngự trị, bóng ma dối trá của chủ nghĩa cộng sản vẫn còn đang phủ xuống không những trên toàn lãnh thổ Trung Cộng, mà hiện đang lan rộng ra rất nhiều vùng đất trên thế giới.
Cái bóng ma ấy đầy đặc đến độ có thể che đậy được một cuộc tàn sát dã man được cả thế giới chứng kiến. Nếu trong Thế kỷ 20 vừa qua, cần phải kể đến những hình ảnh có tính biểu tượng nhứt, chắc chắn thế giới không thể không nghĩ đến người thanh niên thường được mệnh danh là “Người chống xe tăng” (The Tank Man). Trong cuộc biểu tình ôn hòa của các sinh viên Trung Hoa hồi năm 1989, các phóng viên ngoại quốc có mặt trong biến cố đã ghi được thước phim mô tả cảnh một người thanh niên, đơn độc một mình, không một tấc sắt trong tay, đã xông ra chận đứng bước tiến của đoàn xe tăng! Cả thế giới đều nhìn thấy hình ảnh hào hùng ấy. Nó đã trở thành biểu tượng về sức mạnh của Lương Tâm, của Tự Do và nhứt là của Sự Thật!
Nhưng 30 năm sau, trong khi mỗi lần nhắc đến cuộc thảm sát Thiên An Môn, thế giới bên ngoài lúc nào cũng trưng dẫn hình ảnh của “Người chống xe tăng” thì tại Trung Cộng, hầu như toàn bộ giới trẻ Trung Cộng đều không hề biết tới người thanh niên ấy. Tất cả mọi phương tiện truyền thông đại chúng đều nằm trong tay Đảng Cộng Sản: tất cả mọi sự kiện và hình ảnh liên quan đến biến cố 4 tháng Sáu năm 1989 đều bị xóa sạch!
Phóng viên Bil Birtles của Đài ABC Úc đã phỏng vấn một số sinh viên ở Bắc Kinh về biến cố Thiên An Môn. Một sinh viên báo chí 24 tuổi nói: “Tôi nghĩ rằng tôi chỉ có một ấn tượng mơ hồ về biến cố 4 tháng Sáu. Biến cố này ít được nhắc đến ở Trung Hoa và tôi không hề học được (về biến cố) trong các sách giáo khoa về lịch sử. Tôi không biết biến cố đó xảy ra chính xác như thế nào cả. Tôi chỉ biết rằng có lẽ chính quyền Trung Cộng đã làm một điều gì đó khủng khiếp lắm đối với những người biểu tình”. Cũng như nhiều sinh viên khác mà phóng viên Birttles đã có dịp tiếp xúc, người sinh viên báo chí trên đây không hề thấy được bức hình nổi tiếng của “Người chống xe tăng”.
Nói chung, không những không được thông tin về biến cố, hầu hết giới trẻ Trung Hoa đều được nhồi sọ để tin rằng chính quyền cộng sản đã “làm đúng” trong biến cố “4 tháng Sáu”.
Đó là sự thành công của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trong việc che đậy sự thật. Sách vở, báo chí ở Trung Cộng không hề đề cập đến cuộc tàn sát đã man tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu năm 1989. Ngày nay, với địa vị của nền kinh tế thứ nhì thế giới, người dân Trung Cộng đã có cuộc sống khá sung túc. Họ cũng được sử dụng hầu hết các phương tiện thông tin hiện đại. Chỉ khác một điều với thế giới bên ngoài: mọi phương tiện truyền thông đều nắm dưới sự kiểm soát nghiêm nhặt của chính quyền. Mạng lưới thông tin lớn nhứt tại Trung Quốc hiện nay là Baidu. Nếu bạn gõ vào đó mấy chữ “4 Tháng Sáu” để tìm kiếm thông tin, bạn sẽ chỉ đọc được một loạt những bài viết của các phương tiện truyền thông quốc doanh.
Hình ảnh của “Người chống xe tăng” đã hoàn toàn bị xóa sạch. Danh tánh và số phận của anh cũng hoàn toàn không được biết tới. Một ký giả Úc đã gọi Trung Cộng là “Cộng hòa Nhân dân mắc bệnh quên” (The People’s Republic of Amnesia). Nói cho cùng, ở quốc gia cộng sản khổng lồ này Sự Thật không hề là một điều đáng ghi vào bộ nhớ của con người!
Ngày quân đội Đồng minh đổ bộ vào Normandie đã được 75 năm. Ngày sinh viên Trung Hoa bị tàn sát tại Quảng trường Thiên An Môn cũng đã được 30 năm. Trong tháng Sáu năm nay, còn có một kỷ niệm khác mà 2 biến cố trên đây buộc tôi phải nhớ đến: đó là kỷ niệm đúng 70 năm ngày cuốn sách nổi tiếng có tựa đề “1984” của nhà văn Anh George Well (1903-1950) chào đời. Thật vậy, ngày 8 tháng Sáu năm 1949, George Orwell đã cho trình làng cuốn tiểu thuyết giả sử viết về một chế độ độc tài không tưởng của ông. Cũng như trong cuốn “Trại Súc Vật” (The Animal Farm) xuất bản trước đó 4 năm, lời cảnh cáo mà tác giả Orwell muốn nhắn gởi cho thế giới sau Đệ nhị Thế chiến, vẫn tiếp tục có tính thời sự. Napoleon trong “Trại súc vật” hay “Đại Huynh” trong “1984” đều giống nhau: cả hai đều muốn xóa bỏ sự thật và đều muốn tuyệt đối kiểm soát tư tưởng của con người. Napoleon hay “Đại Huynh” không chỉ đã từng xuất hiện trong các đồ tể như Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông và ngay cả Tập Cận Bình. Napoleon và “Đại Huynh” hiện cũng đang lấp ló để tái sinh trong một số nhà lãnh đạo của thời đại.
Một trong những từ ngữ nổi bật thường được tác giả George Orwell lập lại trong cuốn sách “1984” của ông và luôn được các chế độ cộng sản tận dụng là “kẻ thù của nhân dân”. Báo chí Mỹ thường cho rằng đương kim Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump là người rất ít đọc sách. Nhưng tôi không ngờ ông lại thuộc lòng và sử dụng rất “nhuần nhuyễn” thuật ngữ “kẻ thù của nhân dân”. Cứ mỗi lần nói đến báo chí tự do Mỹ hiện nay, ông đều gọi đó là “kẻ thù của nhân dân”. Gần đây nhứt, trong một “tuýt”được bắn đi ngày 26 tháng Năm 2019, ông viết: “Truyền thông dòng chính đang bị chỉ trích và khinh bỉ trên khắp thế giới vì bị hủ hóa và giả dối. Trong hai năm liền, họ cứ chúi mũi vào Ảo Tưởng Thông Đồng Với Nga mặc dù vẫn luôn biết rằng không hề có Thông Đồng. Họ thực sự là Kẻ Thù của Nhân Dân và là Đảng Đối Lập Thật Sự!”
Không ngờ Tổng thống Trump đã vô tình quảng cáo không công cho cuốn sách “1984” của nhà văn George Orwell, bởi vì trong tuần lễ sau khi ông tuyên thệ nhậm chức tổng thống, cuốn sách này lại bán chạy như tôm tươi.
Không biết tại sao người Mỹ lại tìm đọc cuốn sách ấy. Riêng tôi, không hiểu sao cứ nghe cụm từ “Kẻ Thù của Nhân Dân” là tôi thấy “run”. Năm năm sống trong chế độ cộng sản đã từng cho tôi chứng kiến cảnh không biết bao nhiêu người bị bắt giữ và bị kết án vì “có nợ máu với nhân dân” và nhứt là “kẻ thù của nhân dân”. Nay nghe khẩu hiệu sặc mùi cộng sản ấy từ một nhà lãnh đạo của thế giới tự do, tôi thấy “lo”. Lo là bởi vì câu nói ấy, với tôi, đơn thuần chỉ có nghĩa là một phủ định sự thật. Hãy thử dẫn chứng một sự kiện: phát ngôn viên đầu tiên của Tổng thống Trump là ông Sean Spicer nhấn mạnh rằng đám đông tham dự lễ tuyên thệ nhậm chức của ông đông chưa từng thấy, nhứt là lớn hơn đám đông đã tham dự lễ tuyên thệ của Tổng thống Barack Obama. Sự thật như được ghi nhận qua các hình ảnh vẫn còn lưu trữ được cho thấy một thực tế hoàn toàn khác. Thế nhưng khi xem lại những hình ảnh này, cố vấn thân cận của Tổng thống Trump là bà Kellyanne Conway lại chế ra một từ mới là “những sự kiện khác” ( alternative facts). Nghe đâu có khác gì chuyện được kể trong “1984”. Nhưng có lẽ đáng “lo” nhứt là lời biện hộ của luật sư riêng của ông là Rudy Giuliani khi ông tuyên bố: “Sự thật không phải là sự thật!”
Tôi cảm thấy “choáng váng”  khi nghe những lời tuyên bố như thế. Nó cứ gợi lại cho tôi những thảm kịch hãi hùng đã từng xảy ra trong các chế độ xây dựng trên sự dối trá.
Nhưng dù bị xóa sổ ở Trung Cộng, hình ảnh của “người chống xe tăng” lúc nào cũng hiện lên trong tâm trí tôi. Nó nhắc nhở tôi rằng: con người có thể chối bỏ sự thật, nhưng họ không thể bóp nghẹt được tiếng nói của lương tâm. Và một khi dám sống cho đến cùng mệnh lệnh của lương tâm, con người không còn phải lo sợ trước bất cứ một vũ lực nào!





Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2019

Biết thì thưa thốt...


Chu Thập
04/06/19
Cuốn phim Aladdin, do đạo diễn Mỹ Guy Ritchie thực hiện và với sự góp mặt của tài tử gạo cội Will Smith trong vai ông thần đèn, hiện đang được trình chiếu tại Úc Đại Lợi. Lúc nhỏ, tôi đã được câu chuyện “Aladdin và cây đèn thần” đưa vào thế giới thần tiên. Nay ở tuổi già, ngoài những cảnh trí hùng vĩ ở Trung Đông mà có nằm mơ cũng sẽ không bao giờ được đặt chân đến, tôi “được” hay đúng hơn “bị” phim Aladdin bắt phải suy nghĩ miên man về một trong những vấn đề muôn thuở của con người là Quyền Lực. Trong các câu nói nổi tiếng về quyền lực, tôi không thể nào quên lời cảnh cáo của sử gia kiêm chính trị gia Anh John Dalberg-Acton hay gọi tắt là Lord Acton (1834-1902): “Quyền lực hủ hóa con người. Quyền lực tuyệt đối hủ hóa con người một cách tuyệt đối” (Power tends to corrupt and absolute power corrupts absolutety).
Dường như đạo diễn Guy Ritchie cũng muốn nhắn gởi một thông điệp như thế khi làm sống lại câu chuyện Aladdin vốn rất quen thuộc này. Cả Aladdin và tể tướng Jafar đều nghĩ rằng hễ nắm được trong tay ông thần đèn thì thế nào cũng chiếm được trái tim của công chúa Jasmine. Khi chiếm được ông thần đèn, Jafar bày tỏ ước muốn là thu tóm trong tay mọi quyền lực trong vũ trụ. Ông thần đèn đã trao vào tay của ông quyền lực đó và đó cũng chính là lúc ông bị một quyền lực như thế hủy diệt. Chiếm lại cây đèn thần, Aladdin chỉ còn lại một ước nguyện để xin. Với cây đèn thần, Aladdin có thể có tất cả mọi sự, nhứt là chiếm được trái tim của công chúa Jasmine. Nhưng sau một hồi suy nghĩ, chàng thanh niên từ bỏ tất cả mọi tham vọng để chỉ xin một điều: giải phóng ông thần ra khỏi cây đèn để ông được trở thành một con người bình thường! Lời ước cuối cùng đã được thực hiện. Aladdin trở thành trắng tay và trở về nguyên trạng của một chàng thanh niên lang thang đầu đường xó chợ, chuyên ăn cắp vặt để sống qua ngày, nhưng lúc nào cũng có tấm lòng biết thương người. Đó chính là sức mạnh đích thực mà người thanh niên khố rách áo ôm lúc nào cũng có và đó chính là sức mạnh giúp chàng chiếm được trái tim của nàng công chúa.
Chuyện Aladdin không thể không làm tôi nhớ lại lợi dặn dò của ông chú Ben Parker với đứa cháu “Người Nhện” (Spider Man) của mình: “Quyền lực càng nhiều thì trách nhiệm càng nhiều” (With great power comes great responsibility). Chính vì thế mà “Người Nhện” đã sử dụng quyền lực của mình để cứu người hơn là đeo đuổi các tham vọng riêng của mình. Quyền lực và trách nhiệm luôn đi đôi với nhau. Và trách nhiệm, hiểu một cách đơn giản nhứt, chính là biết quên mình để chỉ nghĩ đến người khác.
Aladdin đã cư xử như thế khi nắm trong tay quyền lực. Anh đã đặt trách nhiệm đối với người khác lên trên quyền lực của mình. Anh thà trở về với con người thật trơ trụi, bất toàn hơn là sử dụng quyền lực cho riêng bản thân. Nói cho cùng, trách nhiệm đối với người khác đòi hỏi sự khiêm tốn. Đây là bài học mà tôi cũng học được trong đoạn cuối “có hậu” của phim Aladdin.
Tôi thấy thế giới cần sự khiêm tốn hơn bao giờ hết. Tổng thống Donald Trump, người được xem là có nhiều quyền lực nhứt trên thế giới hiện nay, đã nhiều lần tuyên bố rằng ông là “một thiên tài (với tâm lý) rất ổn định” (a very stable genius). Là thiên tài cho nên cũng có nghĩa là thông minh và thông minh nhứt thế giới. Bất cứ ai chống hay phê bình ông cũng đều được ông tặng cho nhãn hiệu “Kém thông minh” (Low I.Q).
Ở Mỹ, Tổng thống Trump có lẽ không phải là người duy nhứt tự hào về óc thông minh của mình. Tác giả Tom Nichols, một chuyên gia về an ninh quốc gia, cho rằng tại Mỹ hiện đang có rất nhiều người như Tổng thống Trump. Trong cuốn sách có tựa đề “The Death of Expertise” (cái chết của sự hiểu biết chuyên môn), ông mô tả mẫu người thông minh đó như sau: “Già trẻ, giàu nghèo, họ là những người có học. Một số chỉ cần được trang bị một chiếc laptop (vi tính di động) hay một thẻ thư viện. Nhưng tất cả đều chia sẻ một mẫu số chung: họ tin rằng họ đang có trong tay  cả túi khôn! Họ xác tín rằng họ có nhiều thông tin hơn các nhà chuyên môn, hiểu biết rộng rãi hơn các giáo sư và có cái nhìn sâu rộng hơn các đám đông mê muội” (https://www.psychologytoday.com/au/blog/out-the-ooze/201905/is-lack-intellectual-humility-what-ails-america)
Tôi luôn tự hỏi: điều gì sẽ xảy ra khi ai cũng nghĩ rằng mình “thông minh” hơn người khác? Có người cho rằng chuyện hay nhứt  của Trạng Quỳnh chính là cuộc đấu khẩu giữa ông và ông Tú Cát. Dù chỉ mới đỗ tú tài, ông Tú Cát vẫn thường nổ rằng mình là người thông minh, hay chữ, coi thiên hạ chẳng ra gì. Để thử tài Quỳnh, ông Tú Cát ra câu đối: “Trời sinh ông Tú Cát”. Quỳnh liền đối lại: “Đất nứt con bọ hung”.
Thiếu sự khiêm tốn, có lẽ con người cũng như giống bọ hung, suốt ngày chỉ biết vùi đầu trong đống phân mà vẫn nghĩ mình hơn người.
Khiêm tốn là khởi đầu của sự khám phá. Có lẽ đây là luận đề mà sử gia Yuval Noah Harrari muốn đưa ra khi giải thích về sự tiến bộ của Âu Châu sau thời Trung Cổ. Đó là thời kỳ người Âu Châu mở ra các cuộc thám hiểm đi tìm đất mới. Vào thời kỳ đó, Trung Hoa vẫn còn miên man ngủ vùi trong sự tự mãn rằng mình là trung tâm của thế giới, là cái rốn của vũ trụ. Trong khi đó, các nhà thám hiểm Âu Châu không chỉ hăm hở đi tìm đất mới để chinh phục. Cùng đi với họ lúc nào cũng có cả một đội ngũ các nhà khoa học như địa chất học, sinh vật học, nhân chủng học, khảo cổ học...Họ ra đi để khám phá, để học hỏi, bởi vì họ tự nhận rằng mình còn rất nhiều điều để học hỏi. Tác giả gọi các cuộc khám phá của các nhà thám hiểm và khoa học gia Âu Châu là “sự khám phá của sự ngu dốt” (The discovery of ignorance).
Biết mình và biết mình ngu dốt, phải chăng đó không là sự hiểu biết tối hậu mà con người cần đeo đuổi? Chỉ có một sự hiểu biết như thế may ra mới có thể mở mắt, mở trí, mở lòng để con người biết sống khiêm tốn hơn, tử tế hơn, cảm thông hơn trong cách đối nhân xử thế. Câu nói của người xưa lúc nào cũng đáng suy nghĩ và đem ra thực hành: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”.




Thứ Hai, 3 tháng 6, 2019

Thời Đại Mua Sắm





Yuval Noah Harari
Hoang Địa chuyển ngữ
Cũng như con cá mập, nếu không bơi thì sẽ bị nghẹt thở, nền kinh tế tư bản hiện đại cũng phải không ngừng gia tăng sản xuất. Nhưng sản xuất không thôi chưa đủ. Cần phải có người mua các sản phẩm. Nếu không các kỹ nghệ gia và các nhà đầu tư sẽ phá sản. Để tránh tai họa và bảo đảm rằng dân chúng sẽ luôn mua bất cứ sản phẩm mới nào được kỹ nghệ sản xuất, người ta phải tạo ra một loại “đạo đức” mới là chủ nghĩa tiêu thụ.
Xuyên suốt lịch sử nhân loại, hầu như mọi người đều đã sống trong những điều kiện thiếu thốn. Chính vì thế mà ai cũng cảm thấy phải biết tiết kiệm. Cuộc sống khắc khổ của những người theo giáo phái Thanh giáo (chú thích của người dịch: Thanh Giáo (Puritan) là tín đồ Tin Lành tại Anh Quốc trong 2 thế kỷ 16 và 17. Họ chủ trương sống khắc kỷ để thanh tẩy Giáo hội Anh khỏi những thực hành của Giáo hội Công Giáo) và những người Sparta (chú thích của người dịch: xã hội Sparta trong thời Hy Lạp cổ đề cao lối sống kỷ luật, đơn giản, đạm bạc và khắc khổ)  là 2 thí dụ điển hình. Theo những người này, người tốt là người biết tránh xa xí, không bao giờ phí phạm thức ăn và thà mặc chiếc quần rách hơn là mua cái mới. Chỉ có vua chúa và giới quý tộc mới tự cho phép mình được công khai từ bỏ những giá trị ấy và khoe khoang về sự giàu có của họ.
Chủ nghĩa tiêu thụ xem việc ngày càng tiêu thụ nhiều sản phẩm và dịch vụ là một điều tích cực. Chủ nghĩa này khuyến khích con người phải biết tự chiều chuộng, xả láng và ngay cả tự làm cho mình chết dần chết mòn bằng việc tiêu thụ quá đà. (Đối với chủ nghĩa tiêu thụ) cuộc sống thanh đạm là một căn bệnh cần phải chữa trị. Bạn không cần phải nhìn đâu xa để thấy tác động của nền “đạo đức” tiêu thụ. Chỉ cần đọc phía sau của một hộp thứ ăn bằng ngũ cốc. Sau đây là một hàng quảng cáo in trên hộp đồ ăn sáng bằng ngũ cốc ưa thích của tôi, được một công ty Israel là Telma sản xuất: “Đôi khi bạn cần phải “tự đãi” mình một bữa. Đôi khi bạn cần phải có thêm chút năng lực. Có lúc bạn cần phải xem xét trọng lượng của bạn và có lúc bạn thấy cũng phải cần có cái gì đó...ngay bây giờ đây! Telma cống hiến cho bạn đủ loại ngũ cốc...Hãy vui hưởng mà không phải hối hận!”
Hầu như thời nào con người cũng cảm thấy muốn tìm cách chống chế hơn là bị thu hút bởi những lời như thế. Họ xem đó như những lời dụ dỗ ích kỷ, đồi bại và hủ hóa về mặt đạo đức. Nhưng với sự tiếp tay của tâm lý học, chủ nghĩa tiêu thụ đã cố gắng thuyết phục được con người rằng tự chiều chuộng là một điều tốt cho bạn và sống thanh đạm là tự áp chế.
Và chủ nghĩa tiêu thụ đã thành công. Tất cả chúng ta đều trở thành những người tiêu thụ tốt. Chúng ta mua không biết bao nhiêu sản phẩm mà chúng ta thực sự không cần đến và mãi cho đến ngày hôm qua chúng ta cũng không biết là chúng hiện hữu. Các nhà sản xuất cố tình thiết kế những sản phẩm ngắn hạn và phát minh những mẫu sản phẩm mới vốn không cần thiết, nhưng lại hoàn toàn có sức thỏa mãn khiến chúng ta phải mua để tỏ ra “hợp thời”. Mua sắm đã trở thành một cái thú qua giờ được ưa chuộng và những sản phẩm tiêu thụ đã trở thành những trung gian cần thiết trong các quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa vợ chồng và bạn bè. Những ngày lễ nghỉ tôn giáo như Giáng Sinh đã trở thành những liên hoan mua sắm. Tại Hoa Kỳ, ngay cả Ngày Chiến Sĩ Trận Vong, vốn khởi thủy là một ngày để tưởng nhớ các binh sĩ đã hy sinh, nay đã trở thành một dịp để hạ giá đặc biệt. Hầu hết mọi người đều đánh dấu ngày này bằng cách đi mua sắm, có lẽ để chứng minh rằng những người bảo vệ tự do đã không nằm xuống một cách vô ích.
Sự thăng hoa của chủ nghĩa tiêu thụ được thể hiện một cách rõ nét nhứt trong thị trường thực phẩm. Các xã hội nông nghiệp truyền thống đã từng sống dưới chiếc bóng hãi hùng của đói khát. Còn trong thế giới dư dật ngày nay, một trong những vấn đề sức khỏe hàng đầu lại là nạn béo phì mà nạn nhân là người nghèo (vốn phải thồn cho đầy bụng các thứ hamburger và pizza) hơn là người giàu (là những người chỉ ăn những món sà lách và trái cây “hữu cơ” (organic). Mỗi năm dân Mỹ chi cho thức ăn kiêng nhiều hơn số tiền cần để nuôi tất cả những người nghèo trên toàn thế giới. Béo phì đã tạo ra một chiến thắng đôi cho chủ nghĩa tiêu thụ: thay vì ăn ít, vốn sẽ làm cho kinh tế bị đình trệ, con người ăn quá nhiều và sau đó lại đi mua các loại thức ăn kiêng nhờ vậy mới giúp cho kinh tế găng gấp đôi.
Tại sao nền “đạo đức” tiêu thụ và nền “đạo đức” tư bản của các doanh gia cũng là một? Theo họ, lợi nhuận không nên bị phung phí, nhưng thay vào đó phải được đầu tư lại để sản xuất. Cũng như trong những thời kỳ trước, ngày nay lao động cũng được phân chia thành thành phần ưu tuyển và khối quần chúng. Ở Âu Châu vào thời Trung Cổ, giới quý tộc tiêu tiền một cách hoang phí trong các thứ xa xí phẩm, trong khi đó người nông dân sống thanh đạm, chắt chiu từng đồng xu nhỏ. Ngày nay, tình thế đảo ngược. Người giàu tính toán so đo trong việc quản lý tài sản và công cuộc đầu tư của họ trong khi người nghèo phải vay nợ để mua những chiếc xe và các thứ máy truyền hình mà họ thật sự không cần đến.
Nền “đạo đức” tư bản và tiêu thụ là 2 mặt của cùng một đồng tiền. Cả hai hợp lại thành một “giới điều”: với người giàu, giới điều tối cao là “hãy đầu tư”. Còn đối với chúng ta thì giới điều tối cao là “hãy mua sắm”.
Nhìn dưới một khía cạnh khác, nền “đạo đức” tư bản-tiêu thụ là một cuộc cách mạng. Trước kia, hầu hết các hệ thống đạo đức đều đề cao sự chiến đấu cam go. Con người được hứa hẹn sẽ vào thiên đàng, nhưng với điều kiện họ phải sống  cảm thông và khoan nhượng, chiến thắng sự tham lam và cơn giận dữ cũng như giới hạn các quyền lợi ích kỷ của mình. Điều ấy quả là quá khó khăn đối với hầu hết mọi người. Lịch sử của các nền đạo đức là một câu chuyện buồn của những lý tưởng cao đẹp mà không ai có thể thực hiện được. Hầu hết các tín hữu Kitô đều không thể bắt chước Đức Kitô, hầu hết các phật tử đều thất bại trong việc đi theo Đức Phật và hầu hết các môn đệ của Đức Khổng Tử đều có thể khiến cho Ngài phải nổi giận!
Trái lại, ngày nay hầu như mọi người đều có thể sống theo lý tưởng tư bản-tiêu thụ. Nền đạo đức mới này cũng hứa hẹn thiên đàng nhưng với điều kiện  người giàu phải tiếp tục tham lam và bỏ tiền ra để làm ra nhiều tiền hơn và đám đông quần chúng thì phải thả lỏng cho sự thèm khát và các đam mê của họ và ngày càng mua sắm nhiều hơn. Đây là thứ tôn giáo đầu tiên trong lịch sử trong đó các tín đồ sẵn sàng làm bất cứ điều gì họ được yêu cầu phải làm. Vậy thì làm thế nào để chúng ta biết rằng chúng ta sẽ được lên thiên đàng? Chúng ta đã thấy nó trên màn ảnh truyền hình rồi!

(Yuval Noah Harari, Sapiens, A Brief History of Humankind, Penguin Random House, UK 2011, trg 388-391)


Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2019

Khuôn vàng



Chu Thập
19/5/19

Mới đây, báo The New York Times đã cho phổ biến tình trạng tài chính của Tổng thống Donald Trump từ năm 1985 đến năm 1994. Theo tài liệu, trong gần một thập niên này, tỷ phú địa ốc Trump đã thua lỗ hơn một tỷ Mỹ kim. Nhưng chỉ vài năm sau đó, với ngòi bút của “văn sĩ chuyên viết mướn” (ghostwriter) Tony Schwartz, ông đã cho xuất bản cuốn sách bán chạy như tôm tươi “The Art of the Deal” (Nghệ thuật Mặc cả). Trong cuốn sách nổi tiếng này, nhà địa ốc được bầu làm tổng thống khẳng định rằng, đúng như cái tên “Trump” tiền định của ông, hễ ông tung “lá bài chủ” ra tố, nghĩa là mặc cả và ngã giá thì lúc nào ông cũng thắng. Tự nhận mình là “chuyên gia đánh thuế” (tariff man), ông “tả xung hữu đột” với mọi thứ hàng hóa nhập cảng vào Mỹ, từ Gia Nã Đại, qua Mễ Tây Cơ đến Liên Âu và gần đây nhứt là Trung Cộng. Cuộc chiến thương mại mà ông cho là “tốt và dễ thắng” (trade wars are good and easy to win) hiện chưa kết thúc, nhưng trước mắt Trung Cộng đang liểng xiểng. Ai mà chẳng mừng khi thấy quốc gia cộng sản khổng lồ này bối rối và biết đâu nay mai chẳng sụp đổ kéo theo sự giải thể của đàn em cộng sản  Việt Nam.
Tổng thống Trump quả thực là người hễ đụng tới đâu là đẻ ra tiền tới đó. Mới đây, theo đài CNN, dựa theo báo cáo tài chính của ông được Tòa Bạch Ốc cho công bố, chỉ trong năm 2018, các cơ sở kinh doanh của ông, hiện do 2 người con trai của ông điều hành, đã kiếm sơ sơ cũng được 434 triệu Mỹ kim.
Tổng thống Trump lúc nào cũng tự hào về sự giàu có của mình. Lúc ra tranh cử tổng thống, ông tuyên bố tài sản của mình trị giá 10 tỷ Mỹ kim, mặc dù tạp chí Forbes, tờ báo chuyên điều tra về tài sản và xếp hạng các tỷ phú, lại chỉ đếm được khoảng 3 tỷ mà thôi. Hãnh diện về tài kinh doanh của mình, trong một tuýt bắn ra hồi năm 2014, ông viết như sau: “Tôi chưa bao giờ thấy một điều như thế: bất cứ điều gì nó đụng tới đều biến thành vàng”. Hay quá! Đây là một câu nói của Fred C. Trump về con trai Donald của ông (tức là tôi) (I’ve never seen anything like it, everything he touches turns to gold!” So nice, a quote by Fred C. Trump about his son Donald (me!)
Hư thực như thế nào tôi không biết, nhưng cái tuýt trên đây không thể không gợi lại cho tôi chuyện thần thoại về vua Midas, người hễ đụng tới đâu cũng biến thành vàng tới đó. Theo thần thoại, Midas là vua của vương quốc Phrygia, Tiểu Á. Ông có tất cả mọi sự mà bất cứ bậc vua chúa nào cũng đều mơ ước. Ông sống trong nhung lụa trong một tòa lâu đài vĩ đại. Chỉ khác với các vua chúa khác một điều: vua Midas sống một mình với cô công chúa. Mặc dù giàu có chẳng ai bằng, nhưng ông nghĩ rằng chỉ có vàng mới thực sự mang lại hạnh phúc cho ông. Suốt ngày ông chỉ biết ngồi đếm những đồng tiền vàng! Thỉnh thoảng ông còn dùng vàng để đắp lên người. Vàng lúc nào cũng là nỗi ám ảnh duy nhứt của vua Midas.
Ngày nọ, vị thần của rượu và yến tiệc là Dionysus đi rảo qua vương quốc của vua Midas. Silenus,người đồng hành của thần Dinonysus cảm thấy mệt mỏi cho nên đã dừng lại nghỉ chân trong ngôi vườn hồng cạnh cung điện của vua Midas. Tình cờ đi ngự uyển, vua Midas bắt gặp có người lạ mặt trong vườn hồng của mình. Ông liền mời Silenus vào cung điện, tiếp đãi tử tế và vài ngày sau đó, ông được hướng dẫn đến gặp thần Dionysus. Cảm kích trước lòng hiếu khách của vua Midas, thần Dionysus hứa sẽ cho ông bất cứ điều gì ông muốn. Không cần phải vò đầu bứt tóc, vua Midas liền xin: “Tôi muốn rằng bất cứ điều gì tôi đụng tới đều biến thành vàng”. Thần Dionysus hỏi ông đã suy nghĩ cẩn thận chưa, vua Midas vẫn tỏ ra cương quyết trong ước muốn của mình.
Ngày hôm sau, vừa thức giấc, vua Midas nhận thấy ước nguyện của mình đã thành sự thật: cái bàn nhỏ trong phòng ngủ vừa được ông chạm tới đã biến thành vàng! Ông chạy khắp nơi trong cung điện để xem điều ước muốn của mình có thật sự ứng nghiệm cho tất cả mọi thứ khác không. Tất cả mọi sự hễ được ông đụng tói đều biến thành vàng!.
Nhưng vua Midas không bao giờ nghĩ rằng ước nguyện cũng là một lời nguyền. Thật vậy, trong bữa ăn sáng, hễ ông đưa tay chạm đến bất cứ thức ăn nào, nó cũng đều biến thành vàng. Hoa hồng là loại hoa ông yêu thích nhứt. Nhưng khi ông vừa cầm một cánh hồng đưa lên mũi để ngửi mùi thơm của nó, cánh hoa cũng biến thành vàng. Vua Midas bắt đầu cảm thấy lo sợ. Vừa thấy cô con gái rượu đến gần, ông ôm chầm lấy cô, cô gái tức khắc biến thành một khối vàng.
Thần Dionysus nghe biết chuyện. Ông liền nói với vua Midas hãy đi ra sông Pactobus để rửa tay. Nhà vua làm theo và nhận thấy vàng tuôn chảy ra khỏi bàn tay của mình. Ông trở về cung điện và sờ vào bất cứ những gì đã bị hóa vàng. Mọi thứ đều trở lại bình thường. Niềm vui lớn nhứt của ông là ôm hôn cô con gái và thấy cô cũng trở lại trạng thái bình thường. Kể từ đó, vua Midas quyết định chia sẻ tài sản của mình cho dân chúng. Khi ông băng hà, dân chúng nhắc tới ông không chỉ như một “ông vua đụng tới đâu biến thành vàng tới đó”, mà  như một  người tử tế, quảng đại và luôn biết ơn về mọi thứ mình có.
Tôi không biết tổng thống Trump có biết câu chuyện thần thoại về vua Midas không. Nếu như bất cứ điều gì tôi đụng tới đều biến thành vàng cả thì còn gì khốn khổ bằng! Giấc mơ vàng có khác gì một cơn bệnh đâu.
Năm 1519, nhà thám hiểm Hernan Cortès và đoàn quân chinh phục của ông đặt chân lên đất Mễ Tây Cơ. Lúc bấy giờ, Mễ Tây Cơ vẫn còn là một hòn đảo biệt lập đối với thế giới bên ngoài. Người thổ dân Aztec nhanh chóng nhận thấy một điều là: những người khách lạ có một niềm ham mê kỳ lạ đối với một thứ kim loại màu vàng. Dĩ nhiên, người Arztec cũng đã từng biết sử dụng thứ kim loại này để làm đồ trang sức. Nhưng để mua bán hay đổi chác, họ lại dùng hột cocoa hay vải vóc mà thôi. Họ không thể hiểu nổi tại sao người Tây Ban Nha lại thích vàng đến thế. Khi người thổ dân Arztec hỏi ông Cortès tại sao người Tây Ban Nha thích vàng như thế, nhà thám hiểm này liền trả lời: “Bởi vì tôi và những người đồng hành của tôi mắc phải một chứng bệnh trong trái tim mà chỉ có vàng mới chữa được” (Yuval Noah Harari, Sapiens, a brief history of Humankind, Penguin Random House, London, 2011, trg 193).
Bài học tôi rút ra được từ câu chuyện của vua Midas là: người ta chỉ có thể chữa được những chứng bệnh trong trái tim bằng cách chia sẻ tài sản và của cải cho người khác mà thôi!
Cố thủ tướng Úc Bob Hawke vừa mới qua đời. Ông được tưởng nhớ như một người Úc vĩ đại nhứt. Về cuộc đời của ông, tôi đặc biệt nhớ đến một chi tiết: ông đã sinh ra và được giáo dục trong một gia đình Tin Lành. Cha ông là một mục sư. Thủ tướng Hawke kể lại rằng lúc nhỏ  ông thường được người cha nhắc nhở: “Con ơi, nếu con tin Chúa là Cha thì cũng hãy xem mọi người là anh em”. Lớn lên, ông nổi loạn, từ bỏ niềm tin tôn giáo, nhưng lúc nào cũng nhớ lời cha dặn “hãy xem mọi người là anh em”. Thay cho bài quốc ca “God save the Queen”, ông đã trao cho Úc Đại Lời một bản quốc ca mới có những lời như: “For those who’ve come across the seas, we have boundless plains to share, with courage let us combine to advance Australia Fair” (Với những người đến đây từ bốn biển, chúng ta có những bình nguyên bao la để chia sẻ, với lòng quả cảm tất cả chúng ta hãy kết hợp để tiến tới ngày Hội của Úc Đại Lợi). Những lời lẽ như thế chắc chắn phản ảnh tâm nguyện của thủ tướng Hawke là “xem mọi người là anh em”.
Cũng bằng thừa để nói rằng vàng bạc chẳng mang lại hạnh phúc đích thực cho con người. Trái lại nếu tôi  sống theo khuôn vàng “xem mọi người là anh em” để biết quảng đại, chia sẻ và cảm thông...chắc chắn tôi sẽ hạnh phúc hơn là “đụng đâu cũng biến thành vàng tới đó”.






Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2019

Vi nhân nan!


Chu Thập
12/05/19
Một ông bạn ở Marrickville, Sydney, mỗi lần thư đi tin lại với tôi đều ghi thêm một địa chỉ nghe rất nặng mùi kiếm hiệp là “Ma Cốc”. Bắt chước ông, tôi cũng gọi nơi tôi đang sống là “Cùng Cốc”. Chưa hẳn là “thâm sơn”, nhưng phía sau nhà tôi là cả một dãy núi thuộc lâm viên quốc gia. Không làm vua một cõi thì ít ra cũng hơn cả “quận công”, muốn làm gì thì làm mà chẳng sợ bị ai dòm ngó. Một cuộc sống như thế dĩ nhiên mang lại cho tôi nhiều cái thú, những cũng kéo theo nhiều thua thiệt. Phần lớn những người hàng xóm của tôi là dân Úc rặc. Gặp nhau cũng “Hello”, nhưng không dễ gì có được một quan hệ thân tình với họ. Có lúc tôi thèm gặp bạn bè ở miền Tây Sydney để bù khú và chén chú chén anh.
Nhiều người bảo: sống như thế thì thà chơi với chó còn hơn! Mà đúng vậy. Hiện tôi sống và  “chơi” với cậu chó trong nhà nhiều hơn với ai hết. Sáng sớm thức dậy đã thấy cậu đứng chờ ở cửa sau. Suốt ngày, ngoài những lúc lim dim ngủ ngày, cậu luôn có mặt bên cạnh tôi. Chiều đến, làm gì thì làm, cũng phải bỏ ra một giờ đề đưa cậu đi chơi ngoài công viên. Thân thiết với tôi như vậy cho nên cậu “dạy” cho tôi rất nhiều điều. Đúng hơn tôi học nơi cậu chó nhiều điều hơn tôi dạy cậu. Một trong những điều đó là: chó chẳng cần phải học làm chó mà vẫn sống được như chó! Dĩ nhiên, ở với người cho nên chó cũng được dạy dỗ, huấn luyện để làm theo một số mệnh lệnh của người như canh nhà, đuổi gà. Nhưng có rất nhiều điều, chẳng cần học mà cậu chó nhà tôi vẫn làm được.
Quan sát các sinh hoạt của cậu chó nhà tôi, tôi nghiệm ra một sự thật rất hiển nhiên là: thú vật chẳng cần phải học để làm thú vật! Tôi thấy rõ điều này nơi giống gà lôi rừng (bush turkey). Giống gà này sinh hoạt hoàn toàn khác với bất cứ loài có cánh nào. Cứ đến mùa sinh sản, chú gà trống bỏ ăn bỏ ngủ để dùng lá cây đắp một cái ụ cao có khi to bằng một chiếc xe hơi nhỏ. Sau đó chú moi vài cái lỗ sâu. Mấy chị gà mái nào muốn chọn chú làm cha của bày con của mình đều đến đẻ trứng vào đó. Sau đó, nhiệm vụ canh giữ “lâu đài tình ái” thuộc về chú gà trống. Chú canh phòng cái ổ trứng rất cẩn mật. Thỉnh thoảng chú thăm dò và điều chỉnh nhiệt độ trong ổ. Đủ ngày đầy tháng, mấy chú gà con mới nở phải tự mình tìm đường để ngoi ra khỏi cái ổ khổng lồ đó và ngay lập tức, chẳng cần cha mẹ dẫn dắt, chúng vẫn có thể bương chải đi kiếm ăn một mình. Con nào vượt qua được cái hành trình đầu đời đó thì “sống mạnh sống hùng”, không thể nào bị chó vật hay xe cán. Đây là hình ảnh rõ ràng nhứt cho tôi thấy thú vật chẳng cần học hành mà vẫn làm thú một cách đầy đủ. Có lúc bực tức khi thấy vườn tược của mình bị đám gà lôi rừng này phá nát, tôi chửi đổng: cái đám gà “mất dạy”! Chợt thấy mình vô lý quá: gà hay thú vật nói chung đâu có cần học hành hay được dạy dỗ đâu mà “mất dạy”!
Tôi ý thức về chân lý này hơn qua một giai thoại về Đức Khổng Tử. Một hôm, trên đường sang nước Tần, ngài và một số môn sinh gặp một số thiếu nhi đang chơi đùa giữa đường. Ngồi trên xe quan sát đám trẻ, ngài thấy một cậu bé không nô đùa với chúng bạn mà lại cặm cụi lấy cát đắp một cái thành nhỏ.
Đức Khổng Tử mới tiến lại gần và hỏi cậu bé: “Này cậu bé, cớ sao cậu không chơi đùa với mấy đứa trẻ kia?”  Cậu bé đáp: “Đùa giỡn thì vô ích, vì có thể bị rách áo quần, nhọc công mẹ vá, lại buồn lòng cha, nên tôi không đùa giỡn”. Nói xong, cậu lại tiếp tục đắp thành. Đức Khổng Tử lại hỏi: “Cậu không tránh đường cho xe của ta đi sao?” Cậu bé thản nhiên đáp: “Từ xưa đến giờ, xe phải tránh thành, chứ có bao giờ thành phải tránh xe đâu?” Nghe câu trả lời thật bất ngờ, Đức Khổng Tử liền xuống xe, tiến lại gần cậu bé và hỏi nhiều điều. Câu hỏi nào cũng được cậu bé trả lời vanh vách.
Đức Khổng Tử mới thắc mắc: “Năm nay cháu được bao nhiêu tuổi?” Cậu bé lịch sự đáp: “Thưa phu tử, cháu lên 6 ạ!”  Ngài ngạc nhiên: “Cháu mới 6 tuổi mà sao biết nhiều điều thế?” Câu bé liền giải thích: “Thưa phu tử, cháu nghe nói con cá nở ra 3 ngày đã bơi tung tăng từ hồ nọ đến hồ kia. Con thỏ 6 ngày đã chạy khắp đồng cỏ. Cháu sinh ra 6 năm mới được như thế!”
Không rõ có phải do được gợi hứng từ cuộc gặp gỡ trên đây không mà sau này Đức Khổng Tử đã nói một câu để đời: “Vi nhân nan” (làm người thì khó).  Và không biết có phải do thấm nhuần lời dạy của Đức Khổng Tử không, người Việt Nam kéo dài câu nói trên đây thành: làm người thì khó, làm chó thì dễ!  Câu ca dao rõ ràng có hàm ý khinh miệt  đối với loài chó. Câu chửi “đồ chó” là một lời mắng nhiếc thậm tệ. Mà đâu có riêng gì người Việt Nam, người Tây Phương, dù nuôi chó như thú cưng, cũng đâu có xem chó ra gì. Chê mắng ai thì bảo người đó là “con của chó cái!” Nghĩ cho cùng, chó đâu có đáng bị khinh bỉ như thế đâu. Bởi lẽ chó không làm điều xấu, chó không biết phân biệt phải trái và thiện ác. Nói cho cùng, chó đâu có ý thức về đạo đức.
Theo một định nghĩa cổ điển nhứt, người là “một con vật có lý trí”. Chính lý trí là làn ranh phân biệt rõ ràng giữa thú và người; người khác thú vì có lý trí. Chính lý trí mách bảo cho con người phải biết phân biệt điều ngay lẽ trái, điều thiện và điều ác. Chính lý trí luôn thúc đẩy con người phải sống theo những giá trị đạo đức. Chính lý trí luôn nhắc nhở con người phải sống cho ra người. Và sống cho ra người, từ cổ chí kim, lúc nào cũng được ghi khắc trong trái tim con người thành một quy luật mà người được tôn làm “Vạn Thế Sư Biểu” (Bậc Thày của Muôn Đời) đã tóm tắt bằng câu: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Cũng quy luật muôn đời ấy lại được Chúa Giêsu đề ra dưới một hình thức tích cực hơn: “Điều gì ngươi muốn người khác làm cho ngươi, hãy làm cho họ” (Mt 7,12).
Vi nhân, làm người, sống cho ra người chính là sống theo quy luật muôn đời ấy. Bất cứ ai biết hồi tâm, tỉnh táo một chút để nhìn lại cuộc hành trình làm người của mình, cũng đều phải thú nhận rằng làm người khó vô cùng. Bậc thánh hiền như Đức Khổng Tử mà còn phải đấm ngực thú nhận điều đó huống hồ là tôi.
Gừng càng già thì càng cay. Còn tôi, càng già càng thấy mình yếu nhược, bất lực và ngu dốt, nhứt là trong chuyện học làm người và sống cho ra người. Chỉ biết mượn tâm sự của nhà văn Nguyễn Đức Lập (1945-2016) để tự an ủi. Trong một bài tự truyện viết có lẽ cũng vào cái tuổi quá “thất thập cổ lai hi” như tôi, ông thú nhận: “Đức Phật là người đi mà không đến. Cái học của tôi cũng vậy, học thầy, học bạn, học sách, học báo, học đường, học chợ, học chỉ để mà học. “Dủ học dủ ngu”.
Ngày xưa thầy Tử Lộ hỏi Đức Không Tử khi nào thì chấm dứt sự học. Vị Vạn Thế Sư Biểu đã trả lời: “Khi huyệt đã đào nhẵn nhụi rồi, đất đã đắp chắc chắn rồi, người đi đưa đã quay chưn lui gót rồi, lúc đó mới hết học”. Và cái học khó nhứt vẫn là học làm sao sống cho ra con người”.







Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

Tiếng chuông Nhà Thờ Đức Bà Ba Lê



Chu Thập
2/5/19
Có một thời, không biết có phải do Hội chứng Stockholm không, tôi “yêu” cuồng nhiệt  Pháp quốc, cái đế quốc thực dân đã từng giẫm gót giày lên đất nước tôi và đày đọa dân tộc tôi đến cả trăm năm. Có lẽ do niềm tin tôn giáo và văn hóa mà tôi đã hấp thụ được từ các nhà truyền giáo người Pháp, tôi thấy cái gì của Pháp cũng nhứt cả: từ bánh mì, phó mát (fromage), rượu vang, bơ sữa, xe hơi, nhà lầu...đến thời trang, điện ảnh, văn chương, nghệ thuật, tư tưởng và ngôn ngữ...cái gì của Pháp cũng đều số một hết!
Tôi say mê nước Pháp đến độ chỉ đeo đuổi một ước mơ: đến Ba Lê rồi chết cũng được!  Trong thời gian chờ đợi trong trại tỵ nạn, mặc cho ai có bảo rằng đảng cầm quyền tại Pháp hồi đầu thập niên 1980 là đảng “xã hội”, tức có bà con giây mơ rễ má với cộng hòa “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam mà mình đã trốn chạy khỏi, tôi vẫn quyết chí đeo đuổi giấc mơ của mình là được trở thành công dân của “mẫu quốc”.
Tôi đến Pháp vào cuối tháng Mười năm 1982. Tuy vẫn còn sống trong một trại tạm trú ở ngoại ô Ba Lê, tôi thấy mình cũng đâu có thua gì ông Phán thời Pháp thuộc: “tối (cũng) sâm banh, sáng (cũng) sữa bò” như ai!  Sau vài ngày ăn uống ngủ nghê để lấy lại sức, tôi mới mon men tìm đường lên “Kinh thành Ánh sáng”. Đường trên lỗ miệng. Vả lại, hệ thống hỏa xa và xe điện ngầm ( Metro) ở Ba Lê thật thuận tiện. Chỉ cần trình độ “thoát nạn mù chữ” như tôi cũng đủ để khỏi bị lạc đường.
Bước ra khỏi xe điện ngầm, tôi bước đi những bước thật chậm rãi dọc theo bờ sông Seine, như người đang mơ một giấc mơ đẹp mà không muốn bị ai đánh thức. Nhưng điểm đến của chuyến thăm thú “Kinh thành Ánh sáng” của tôi dĩ nhiên là Nhà Thờ Đức Bà (Notre Dame de Paris). Là một người công giáo, tôi xem đây là một địa điểm hành hương. Với niềm tin tôn giáo được tiếp nhận và nhào nặn từ các nhà truyền giáo Pháp, muốn hay không tôi thấy mình đã bị ràng buộc vào cả một truyền thống “đạo” lâu đời của người Pháp. Với tôi, vào Nhà Thờ Đức Bà là đi lại cuộc hành trình tôn giáo của cả dân tộc Pháp từ gần hai ngàn năm qua!
Nhưng ở cái nước được xem là “Trưởng Nữ của Giáo Hội” này, mặc dù kể từ năm 1905 đã có sự phân biệt rạch ròi giữa Nhà Thờ và Nhà Nước, niềm tin tôn giáo và văn hóa vẫn tiếp tục quyện chặt lấy  nhau. Nhà Thờ Đức Bà là biểu trưng của sự phân biệt ấy. Di tích lịch sử đã có từ hơn 800 năm này không chỉ là một nơi thờ phượng hay địa điểm hành hương, mà cũng là một điểm du lịch thu hút mỗi năm trên cả chục triệu du khách. Không cần phải có niềm tin tôn giáo để bước vào nơi tôn nghiêm này. Tôi đã hòa mình vào dòng người qua lại trong đó không chỉ như một người hành hương, mà còn như khách thưởng lãm một công trình nghệ thuật.
Với tôi là một “con dân” thuộc địa của Pháp, có lẽ văn hào Victor Hugo (1802-1885) là người đã có công lớn nhứt để quảng bá cho công trình nghệ thuật này. Thật vậy, tôi biết đến Nhà Thờ Đức Bà qua các tác phẩm của đại văn hào này và dĩ nhiên tác phẩm nổi tiếng nhứt của ông về ngôi thánh đường này chính là “Nhà Thờ Đức Bà Ba Lê” (Notre Dame de Paris).
Bước vào ngôi thánh đường cổ kính này là đi lại từng bước của chính văn hào Victor Hugo. Phải nhiều lần chiêm ngắm lối kiến trúc cổ của ngôi thánh đường này ông mới tìm được nguồn cảm hứng để viết một cuốn tiểu thuyết có tính chất lịch sử với bối cảnh là kinh thành Ba Lê thời Trung Cổ.
Văn hào Victor Hugo đã đưa tôi đi một vòng trong nhà thờ  để rồi cuối cùng dừng lại ở một địa điểm được ông đưa vào vị trí trang trọng và quan trọng nhứt của nơi linh thiêng là gác chuông nhà thờ. Tôi đứng nhìn lên gác chuông thật lâu để sống lại những ngày khốn khổ của nhân vật chính của quyển tiểu thuyết của văn hào Victor Hugo là Quasimodo, được tài tử Mỹ Anthony Quinn hồi sinh trong cuốn phim nổi tiếng  có tựa đề “The Hunchbach of Notre Dame” được đạo diễn Pháp Jean Delannoy thực hiện và cho trình chiếu năm 1956. Lưng đã còng, gương mặt lại dị dạng, Quasimodo được người Việt Nam gọi một cách khinh bỉ là “Thằng gù Nhà thờ Đức Bà”. Kỳ thực, đàng sau những dị tật bẩm sinh bị xã hội khinh bỉ và ruồng rẫy ấy, người kéo chuông của Nhà thờ Đức Bà là một con người có  tâm hồn cao thượng luôn biết xả thân hy sinh vì người khác. Lẽ ra phải gọi ông là một người hùng hơn là một “thằng gù”!
Tôi chiêm ngắm vẻ đẹp thẩm mỹ của ngôi thánh đường Gothic là Nhà Thờ Đức Bà, nhưng văn hào Victor Hugo dường như muốn lôi kéo tôi đến một vẻ đẹp khác đáng được tìm kiếm và trân trọng hơn: đó là vẻ đẹp của tâm hồn con người. Đó là vẻ đẹp mà dao kéo thẩm mỹ và mỹ phẩm không thể tạo ra được. Đó là vẻ đẹp ẩn hiện đàng sau những bất toàn và ngay cả những dị tật thể hình mà con người cho là xấu xa gớm ghiếc nhứt. Đó là vẻ đẹp mà văn hào Victor Hugo luôn tìm kiếm và đề cao khi ông nói: “Có một quang cảnh vĩ đại hơn đại dương, đó là bầu trời. Có một quang cảnh vĩ đại hơn bầu trời, đó là nội tâm con người”.
Từ ngàn xưa, dường như người Nhật đã muốn nhấn mạnh đến vẻ đẹp ấy qua điều thường được gọi là “Triết lý Wabi Sabi”. “ Wabi Sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền Tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản trong đó các bậc thày đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của người tạo ra cái chén” ( x. Mai Thanh Truyết, Wabi Sabi - Triết lý của sự bất toàn https://www.tvvn.org/wabi-sabi-triet-ly-cua-su-bat-toan-mai-thanh-truyet/)
Đứng nhìn lên gác chuông Nhà Thờ Đức Bà, nghe văng vẳng tiếng chuông được kéo lên từ bàn tay của người gù Quasimodo, tôi cũng nghe vọng lại tiếng hát của ca sĩ Leonard Cohen (1934-2016) “Hãy rung lên những tiếng chuông khi chúng  còn có thể rung. Hãy quên đi của lễ dâng hoàn hảo của bạn. Trong mọi thứ đều có vết rạn nứt. Đó là cách thế mà ánh sáng len lỏi vào” (Ring the bells thay still can ring. Forget your perfect offering. There’s a crack in everything. That’s how the light gets in).
Nhà Thờ Đức Bà đã trải qua một trận hỏa hoạn chưa từng thấy. Nhưng dường như xuyên qua ngọn lửa cao ngút ấy, người gù Quasimodo vẫn tiếp tục kéo chuông để đưa ra một sứ điệp: vẫn có ánh sáng ở cuối đường hầm! Ông nhắc nhở tôi phải luôn tỉnh táo và lạc quan để tìm thấy vẻ đẹp thâm sâu trong nội tâm của mỗi người, nhứt là những người khốn khổ thường bị xã hội đẩy ra bên lề. Có lẽ ông cũng muốn lập lại một câu đáng ghi nhớ nhứt trong cuốn phim “Tiếng âm nhạc” (The sound of music): “Khi Chúa đóng một cánh cửa chính, thì ở một nơi nào đó Ngài mở ra một cánh cửa sổ” (When the Lord closes a door, somewhere He opens a window).




Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2019

Tôi học kinh Kim Cang



Chu Thập
15/4/19
Là người công giáo nhưng thỉnh thoảng tôi cũng nhận bừa mình là một phật tử. Dĩ nhiên với một câu thòng: theo cách thế của tôi! Và cách thế của tôi thì chẳng giống cung cách của bất cứ một phật tử thuần thành nào hết. Lúc nhỏ  tôi chưa hề được cha mẹ đưa  vào bất cứ ngôi chùa nào để trải qua một nghi thức gia nhập Phật Giáo  giống như phép rửa tội của Kitô Giáo. Lớn lên tôi cũng chưa một lần đặt chân vào ngôi chùa nào để tuyên xưng niềm tin hoặc thực hành đạo. Cho tới nay tôi cũng chưa một lần ăn chay, cúng dường hay làm công quả. Nói gì đến chuyện xuống tóc quy y hay có được một pháp danh! Còn niệm phật thì dĩ nhiên là chuyện hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Nhưng nếu như chỉ cần “buông dao cũng đã thành Phật” thì tôi tin rằng chỉ cần cố gắng sống theo lời dạy của Đức Phật cũng đủ để tự nhận là một phật tử. Tôi không hiểu nhiều về Phật Pháp hay giáo lý cao siêu của Phật Giáo. Nhưng nếu tôi có nổi hứng tuyên bố bậy bạ về Phật Giáo, tôi chẳng sợ bị xếp vào hạng “lạc đạo” hay “ngoại đạo” và bị trục xuất ra khỏi một Giáo hội Phật Giáo nào như trường hợp bị “dứt phép thông công”, nghĩa là bị trục xuất ra khỏi Giáo hội vốn thường xảy ra trong Công Giáo.
Tôi tự nhận mình là một phật tử bởi vì tôi muốn sống theo lời dạy của Đức Phật. Thật ra Đức Phật dạy bằng cuộc sống và gương sáng của Ngài hơn là bằng lời nói. Tôi tin như thế khi đọc bài “Cái Ăn” của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, một tác giả được nhiều người trong nước cũng như ở hải ngoại đọc và mộ mến (x.Đồ Hồng Ngọc , “Cái Ăn”, Thời Báo, Gia Nã Đại, trong mục Tạp ghi, 10 tháng Ba 2019).
Tác giả Đỗ Hồng Ngọc cho biết ông muốn tìm hiểu về kinh Kim Cang hay Kim Cang Năng Đoạn. Kinh này được cho là tuyền tập thu thập những lời giảng dạy của Đức Phật cách nay 2500 năm. “ Nhiều người nói kinh Kim Cang đọc thấy nóng cả người, thậm chí có người bị tẩu hỏa nhập ma”. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, vốn là một phật tử thuần thành, cũng nghĩ rằng qua kinh Kim Cang, ông “sẽ tiếp cận được với những lời dạy uyên áo, đạo lý cao siêu, pháp môn thượng thừa”. Thế nhưng ông đã chưng hửng khi đọc đoạn mở đầu của kinh Kim Cang, bởi vì đoạn này “đã kể lại một chuyện chẳng ăn nhập vào đâu, một chuyện rất bình thường, thậm chí tầm thường, đó là chuyện “cái ăn”.
Theo chuyện được ghi lại trong đoạn đầu của kinh Kim Cang, hôm đó là một ngày đại hội của Phật Giáo. Có hàng ngàn khách thập phương gồm các bậc chức sắc, đại Bồ Tát, đại A La Hán, đạo cao chức trọng tụ tập lại để nghe Đức Phật giảng dạy.  Mọi người đều trang nghiêm ngồi tĩnh tọa, không ai nói với ai lời nào, mà chỉ biết ngóng chờ Đức Phật mở miệng ban bố những lời vàng ngọc. Giữa không khí trang nghiêm trịnh trọng như thế, Đức Phật bỗng lẳng lặng đứng lên, khoác y vàng, cầm chiếc bình bát ung dung bước ra khỏi hội trường. Thì ra đã quá trưa rồi. Ngài cảm thấy đói cho nên cũng cần phải đi khất thực! Ngài đi một vòng trong thành Xá Vệ cho đến khi thấy vừa đủ thức ăn rồi mới quay lại hội trường và bày thức ăn ra... để ăn! Ăn xong, Ngài thu dọn chén bát đâu đó cho đàng hoàng, rồi rửa chân cho sạch sẽ, ngồi xếp bằng và nhập định tiếp! Ngài chẳng thèm nói lấy một câu hay tằng hắng một tiếng!
Từ giữa hội trường, một bậc vị vọng là Tu Bồ Đề xuất hiện. Ông cung kính cúi chào mọi người rồi cất lời: “Thật là tuyệt vời. Thật là tuyệt diệu. Thật xưa nay, chưa từng có như thế. Thế Tôn đã khéo léo dạy dỗ, khéo léo truyền trao, khéo léo gởi gấm cho các vị đang có mặt ở đây hôm nay”.
Tác giả Đỗ Hồng Ngọc kết luận: “Thì ra Phật có cách dạy riêng: không nói mà làm cho coi. Cái đó gọi là “demonstration”, biểu diễn, làm gương, làm cho bắt chước, một lối dạy kỹ năng sống (life skill) rất hiện đại”.
Câu chuyện được ghi lại trong đoạn mở đầu của kinh Kim Cang trên đây cho tôi thấy: Đức Phật không chỉ giảng dạy bằng cuộc sống và gương sáng, Ngài còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những việc tầm thường, nhỏ nhặt trong cuộc sống con người. Những việc càng nhỏ có khi lại là việc quan trọng nhứt trong cuộc sống con người, bởi vì chúng thể hiện tính tình và tư cách của con người. Có lẽ Chúa Giêsu cũng muốn nhấn mạnh đến điều đó khi Ngài dạy phải “tỉnh thức” luôn. Tôi nghĩ có lẽ đó cũng là ý nghĩa của hai chữ “chánh niệm” trong Phật Giáo. Thực hành “chánh niệm” chính là để hết toàn tâm trí vào mọi sinh hoạt và việc làm của mình. “Chánh niệm” ngay cả trong từng hơi thở của mình. “Chánh niệm” để không những làm chủ được chính mình, mà còn để nhận ra ý nghĩa và tầm quan trọng của mọi việc mình đang làm.
Tôi không biết một trong những vị thánh của Kitô Giáo được thế giới tôn làm sứ giả của hòa bình là thánh Phanxicô Assisi (1182-1226) có biết đến Đức Phật và có muốn trở thành một phật tử như tôi không, nhưng ngài cũng chủ trương rao giảng và “thuyết pháp” bằng cuộc sống và gương sáng hơn là bằng lời nói. Thu tập có tựa đề “Fioretti” (những bông hoa nhỏ) ghi lại những giai thoại về thánh nhân có kể lại rằng một hôm vị thánh của thời Trung Cổ này mời một người đệ tử tên là Leo cùng đi “thuyết giảng” với mình. Người đệ tử xem đây là một vinh dự lớn. Anh hăm hở đi theo thày để học cách “truyền đạo” cho người khác. Hai thày trò rảo qua khắp phố chợ, vừa đi vừa chào hỏi mọi người. Người đệ tử tưởng rằng khi đến một góc phố nào đó, thày mình sẽ dừng lại, qui tụ một đám đông để thuyết giảng cho họ nghe. Nhưng sau một vòng phố chợ, thày ra dấu cho người đệ tử cùng quay về nhà với mình. Người đệ tử liền nhắc nhỏ cho thày rằng thày chưa hoàn thành nhiệm vụ quan trọng là thuyết giảng. Nhưng thánh Phanxicô trả lời: chúng ta đã rao giảng rồi đó!  Vị thánh được tôn làm sứ giả của hòa bình đã thực hành “chánh niệm” trong từng đường đi nước bước của mình vậy!
Mới đây, các nhà nghiên cứu tại Hoa Kỳ có làm một cuộc thử nghiệm về kết quả của “chánh niệm” đối với sức khỏe tinh thần của con người. Khoảng 50 sinh viên được chia thành 2 nhóm để rửa chén bát. Trước khi bắt tay vào việc, một nhóm được cho đọc một đoạn sách dẫn giải về cách rửa chén bát cho có hiệu quả, một nhóm được cho nghe một đoạn nói về tầm quan trọng của “chánh niệm”, tức hiện diện, thức tỉnh và chú tâm vào việc rửa chén bát. Kết quả cho thấy sau khi làm xong công việc, nhóm được cho nghe về tầm quan trọng của “chánh niệm” cảm thấy hưng phấn, bớt căng thẳng, thư thái và bình an (x. https://www.psychologytoday.com/au/blog/life-death-and-the-self/201903/can-washing-dishes-make-you-feel-better).
Bài học về “chánh niệm” trên đây gợi lại cho tôi bí quyết sống hạnh phúc của một nhà tư tưởng người Đức ở Thế kỷ 13 là Meister Eckhart. Theo ông, để sống hạnh phúc cần xem trọng 3 điều: giây phút hiện tại là giây phút quan trọng nhứt, công việc đang làm là công việc quan trọng nhứt và người đang đối diện với ta là người quan trọng nhứt. Nghe đâu có khác gì bài học về “cái ăn” của Đức Phật trong kinh Kim Cang!


Thứ Hai, 8 tháng 4, 2019

Viết và Sống



Gởi bạn hiền V.P.
Chu Thập
Vi Phát là một họa sĩ, nhà điêu khắc và nhiếp ảnh gia được nhiều người Việt ở Úc Đại Lợi biết và mộ mến. Có lần ông giải bày rằng ông làm “nghệ thuật vị nghệ thuật” chớ không phải để kiếm sống. Ông sáng tác vì nhu cầu và sự thúc bách để sáng tác hơn là để mưu sinh. Có đến nhà ông mới thấy điều đó. Từ trong nhà ra ngoài ngõ, từ ngõ ra vườn, ở đâu cũng ngổn ngang những tác phẩm của ông, ở xó nào cũng có dấu ấn của bàn tay phù thủy của ông, chỗ nào cũng là khu triển lãm nghệ thuật của ông.  Không biết mai kia, sau khi ông về cội, có ai đó sẽ khám phá ra kho tàng nghệ thuật của ông không. Giá ông xuất hiện vào thời tôi còn ở bậc trung học, khi làm bài văn nghị luận với đề bài “nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật vị nhân sinh”, chắc chắn tôi không thể không nghĩ tới ông.
Nghệ sĩ sống chết cho nghệ thuật như Vi Phát không phải là hiếm. Có khi vì hết mình với nghệ thuật mà nhiều người mới có được cảm hứng để sáng tác. Nhưng nghệ sĩ cũng là con người. Họ cũng phải có phương tiện để sống. Với nhiều người, sáng tác nghệ thuật cũng là một nghề để kiếm cơm. Ngày nay hầu hết các nghệ sĩ nổi tiếng đều là những người giàu có. Họ hái ra tiền nhờ tài nghệ của họ. Điều này lại càng đúng hơn trong lãnh vực văn chương. Tôi nghĩ đến một trong những người phụ nữ giàu có nhứt thế giới hiện nay là bà J.K Rowling sau khi cho ra đời bộ tiểu thuyết giả tưởng Harry Potter. Rất có thể khi bắt tay vào việc sáng tác có lẽ người phụ nữ này không hề nghĩ đến tuyệt đỉnh của danh vọng và giàu có mà tác phẩm của bà đã mang lại cho bà. Nhưng với một số người, ngòi bút thường là cần câu để kiếm cơm. Không ngoa để bảo “nhà báo nói láo ăn tiền”. Điều này hoàn toàn đúng trong các chế độ độc tài, nhứt là độc tài đảng trị cộng sản. Trong chế độ cộng sản, có nhà văn nhà báo nào mà không uốn cong ngòi bút của mình để kiếm cơm và sống còn.
Điển hình của hình tượng ngòi bút bị uốn cong trong chế độ cộng sản là thi sĩ Xuân Diệu. Nhiều người ở miền Bắc khâm phục ông. Họ nâng ông lên thành một tấm gương sáng cho giới cầm bút, bởi vì ông “sáng tác” không ngừng nghỉ. Thật ra, sai lầm lớn nhứt của ông là nghĩ rằng tài năng của một nhà văn nhà thơ tùy thuộc vào số trang sách mình viết được. Thành ra, thay vì sáng tạo nghệ thuật, ông chỉ làm một nhà sản xuất; thay vì nhắm đến việc tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, ông lại miệt mài tăng thêm số chữ và số trang. Hơn nữa, trong khát vọng muốn làm một cái gì hữu ích cho xã hội (dĩ nhiên xã hội cộng sản) và chế độ mà ông đang cúc cung phục vụ, “ông đã đồng nhứt nhiệm vụ của một người cầm bút với nhiệm vụ của một cán bộ”. Nói cho cùng, “thay vì nhắm đến những giá trị thẩm mỹ lâu dài, ông chỉ nghĩ đến việc phục vụ những nhu cầu nhứt thời và khá phù phiếm của xã hội” (Nguyễn Hưng Quốc, Viết, trong tập san Việt, Cộng hòa Văn chương Thế kỷ 21, Úc Châu, 2000, trg 83). Thật đáng tiếc và cũng đáng thương cho một người đã từng là một nhà thơ tài hoa hay, như Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã nhận xét, “cực kỳ tài hoa của một thời, thời 1932-45, trong Phong trào Thơ Mới”.
Thật ra, trong chế độ cộng sản ở Việt Nam, nhan nhản như ruồi nhặng những con người như Xuân Diệu. Như Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã phân biệt: rất nhiều người được nâng lên hàng “văn sĩ” (écrivain) ở Việt Nam thật ra chỉ là những kẻ “dụng văn” (écrivant), tức những kẻ chỉ biết xếp 24 chữ cái cho ra câu cú mà thôi!
Gần đây tôi cũng tập tành “viết lách”. Tuy không bị buộc phải uốn cong ngòi bút để phục vụ cho một chế độ hay đảng phái chính trị nào hoặc phải rán nặn óc để kiếm chút cơm cháo, tôi thấy mình chưa vượt qua được ngưỡng cửa của một kẻ “dụng văn”. Có lúc tôi cảm thấy ngượng đến chín người khi được ai đó tặng cho danh hiệu “nhà văn” hay “ nhà báo”.
Nhưng tại sao tôi lại “viết lách”? Viết để làm gì? Có một thời tôi thích viết “nhựt ký”: ngày nào cũng ghi nhớ ngày tháng và viết xuống những cảm xúc và suy nghĩ của mình về một sự kiện hay một biến cố nào đó xảy ra cho mình hay xung quanh mình. Đọc lại thấy ngô nghê và buồn cười quá, sợ có người đọc được cười nhạo cho nên tôi xé bỏ hết. Vốn sống của tôi lại quá nghèo nàn cho nên tôi cũng chẳng bao giờ nghĩ đến việc viết hồi ký. Vả lại, như một giáo sư Triết của tôi đã khuyên, khi nào biết mình sắp chết và tin chắc tư tưởng của mình không còn thay đổi nữa, lúc đó hãy viết!
Hiện nay, thỉnh thoảng tôi cầm bút hí hoáy vài trang. “Viết chơi” như nhà văn Võ Phiến đã luận bàn (Võ Phiến, Viết Chơi, trong tập san Việt, Úc Đại Lợi 2000, trg 134) chớ không phải để kiếm cơm. Chẳng có lý do gì để “lách” và cũng chẳng xem đó như “di sản” muốn để lại cho hậu thế hoặc nhắm đến ai cả. Viết, với tôi hiện nay, trước hết là viết cho bản thân, là nói với chính mình.
Sở dĩ có chuyện nói với chính mình là bởi lúc nào tôi cũng nhận thấy trong tôi có 2 cái tôi: một cái tôi lúc nào cũng mách bảo tôi phải tiến tới dưới tấm bảng chỉ đường của lý trí và đạo đức và một cái tôi lúc nào cùng kéo tôi lùi lại với những bản năng thấp hèn. Đâu cần phải bị “nhị trùng bản ngã” (dédoublement de personalité) hay mắc chứng “tâm thần phân liệt” (schizophrenia) mới thấy trong mình lúc nào cũng có cuộc chiến giữa hai cái tôi ấy. Khi tôi cầm bút viết là lúc cái tôi của lý trí đang cố gắng nói phải trái với cái tôi của những bản năng thấp hèn trong tôi. Một cách cụ thể, mỗi khi tôi cầm bút, cái tôi của lý trí khuyên bảo cái tôi tham lam, ích kỷ, thù hận, vô cảm trong tôi ...hãy cố gắng làm chủ những cảm xúc tiêu cực để sống cho ra người tử tế hơn. Thành ra, với tôi, viết và sống là một. Viết những gì mình cố gắng sống và sống những gì mình viết. Tôi muốn hiểu câu nói “văn là người” (le stile c’est l’homme) hay “văn dĩ tải đạo” của người Á Đông theo ý nghĩa ấy. Hay như thi sĩ Boileau (1636-1711) của Pháp đã khuyên : “Điều gì được thai nghén kỹ càng mới được bày tỏ một cách rõ ràng” (Ce qui se concoit bien s’énonce clairement). Viết là thể hiện niềm xác tín được thai nghén, hình thành và sống một cách tích cực trong cuộc sống mỗi ngày.