Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

Giã từ cái tôi hèn hạ


Chu Thập
9/11/18
Nhân chuyện giáo sư Chu Hảo bị đảng Cộng sản Việt Nam “kỷ luật” cho nên mới tuyên bố ra khỏi đảng, rồi kế đó nhiều đảng viên khác cũng chính thức và dứt khoát rời bỏ hàng ngũ đảng Cộng sản, tôi đọc lại “Hồi Ký của Một Thằng Hèn” của cố nhạc sĩ Tô Hải (1927-2018). Đọc đề hiểu được “cái hèn” của hàng hàng lớp lớp người Việt Nam đã đi theo đảng Cộng sản và mãi cho tới cuối đời vẫn không có đủ can đảm hay khiêm tốn để đấm ngực tự thú rằng mình đã chọn lầm lý tưởng  và nhứt là nhận ra “cái hèn” của mình. Đọc dĩ nhiên cũng để nhận ra  “cái hèn” của  chính mình trong suốt cuộc hành trình làm người của mình.
“Hèn” là một hằng số khủng khiếp trong cố gắng sống lương thiện và vươn lên của con người. Trong lời phi lộ, nhạc sĩ Tô Hải đã phải thú nhận rằng ở gần cuối quyển hồi ký, ông đã viết thêm chương “Tôi đã hết hèn”. Nhưng “ngẫm ra, tuy viết “Tôi đã hết hèn”, nhưng trong thực tế cái hèn vẫn còn đó, nó vẫn bám chằng chằng, như một bộ phận của cơ thể, cái sự mình khẳng định với mình rằng đã hết hèn mới chỉ là  sự mạnh dạn với bản thân khi cầm bút mà thôi”.
“Cái hèn” không chỉ bám vào bản thân của người trong cuộc, mà còn len lỏi vào trong máu của con cháu và hậu duệ của người đó. Tô Hải nhắc đến trường hợp Nguyễn Đình Thi, người mà ông gọi là kẻ “đứng đầu bọn nô lệ cầm bút”. Nhạc sĩ Tô Hải tiết lộ rằng trước khi chết, Nguyễn Đình Thi (1924- 2003)  để lại một “di cảo” trong đó có lẽ ông đã thú nhận “cái hèn” của mình. Vậy mà Nguyễn Đình Chính, con trai của ông, cho biết cuốn hồi ký của cha mình sẽ chỉ được phép công bố vào năm...2014 mà thôi. Nhạc sĩ Tô Hải tự hỏi: “Sao lại lâu đến thế? Nguyễn Đình Chính vẫn còn sợ, còn tính toán thiệt hơn, còn bắt linh hồn người cha ở thế giới bên kia tiếp tục đóng kịch sao? Hay chính tác giả cuốn hồi ký dọa sẽ in năm 2014 vẫn còn chưa tin là chủ nghĩa cộng sản đã đến ngày tuyệt diệt?”
“Hèn” vì không có đủ lương thiện và can đảm để thú nhận rằng mình đã sai lầm và sai lầm là vì đã “ngu”. Nhà văn Uyên Thao, trong lời đề tựa cho quyển hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải, đã xem “ngu” và “hèn” là cặp song sinh trong tư cách của người cộng sản. “Ngu” và “hèn” luôn đi đôi với nhau.
Vì “ngu” cho nên đã bị một tên đại bịp đánh lừa. Nhà văn Uyên Thao kể lại rằng khi Hoa Kỳ ào ạt đổ quân vào Việt Nam, ông cho rằng người Mỹ không “hiểu thấu hoặc ưu tư về tâm cảnh của người dân Việt Nam”. Thế rồi một hôm, nhân dịp tiếp xúc với một nhóm cầm bút trẻ tại Sài Gòn, người tùy viên văn hóa tòa Đại sứ Mỹ đã hỏi một câu: “Giới trẻ Sài Gòn nghĩ gì về nhân vật Hồ Chí Minh?” Một người bạn của nhà văn Uyên Thao đã trả lời: “Hồ Chí Minh là một người yêu nước, nhưng đã lầm đường”. “Người tùy viên văn hóa mà đa số lớp trẻ Sài Gòn nghĩ là mù mịt về văn hóa Đông Phương đã lắc đầu nói ông ta không nghĩ vậy, vì theo ông ta, người yêu nước trước hết phải thương dân.”  Ông khẳng định: “Hồ Chí Minh đam mê sự nghiệp của ông ta chứ không thương dân. Không thể bảo ông ta là người yêu nước”. Thì ra, “ái quốc”, “yêu nước” thiết yếu phải có nghĩa là “thường dân” hay nói chung “thương người”. Không có tình người, không cổ võ tình yêu thương đối với người đồng loại, thì  bất cứ một nhà “ái quốc” hay “dân tộc chủ nghĩa” nào cũng đều là một tên mị dân, lừa bịp!
Ngày nay và nhứt là vào giữa lúc trào lưu “dân tộc chủ nghĩa” đang dâng cao tại nhiều nơi trên thế giới, có biết bao nhiêu kẻ vỗ ngực tự xưng là “yêu nước” bằng những lời nói và hành động khích động hận thù. Robert Bowers, kẻ đã bắn hạ 11 người Do Thái đang tụ họp thờ phượng trong một hội đường Do Thái tại Pittsburgh, Tiểu bang Pennsylvania hôm thứ Bảy 31 tháng Mười vừa qua, đã đổ tội cho người Do Thái là nguyên nhân khiến người dân Trung Mỹ “xâm lăng” Hoa Kỳ. Trước khi ra tay giết người, hung thủ viết trên một trang mạng xã hội: “Tôi không thể ngồi yên để nhìn “người dân” của tôi bị giết chết”. Cesar Sayoc, người đã gởi bom ống đến tỷ phú  George Soros, một người Do Thái sống sót từ cuộc diệt chủng của Đức Quốc Xã thời Đệ nhị Thế chiến, cũng đưa ra một “thuyết âm mưu” cho rằng ông Soros là người tài trợ cho người dân Trung Mỹ để “xâm lăng” Hoa Kỳ. Hai người này chỉ là những con cắc ké trong phong trào “yêu nước” tại Mỹ. Trên họ, giọng điệu “yêu nước” của nhiều lãnh tụ nghe còn sặc mùi kỳ thị, hận thù và chia rẽ hơn nhiều!
Kể từ khi nghe tùy viên văn hóa tại tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn giải thích thế nào mới thực sự là “yêu nước”, nhà văn Uyên Thao như mở mắt ra: “Kể từ ngày đó, tôi luôn cố tìm con tim rung động trước nỗi đau của đồng bào nơi những con người được tôn xưng là yêu nước và không ngớt thắc mắc về sự viện dẫn tình yêu nước để đẩy đất nước vào vòng lửa đạn với hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng triệu cái chết oan khiên đau đớn”.
Vì “ngu” cho nên hàng hàng lớp lớp “trí thức” Việt Nam đã đi theo tên đại bịp Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh không hề là một nhà ái quốc, một người yêu nước thương nòi. Ông chỉ yêu cái tôi của mình mà thôi. Ông là một “hóa kiếp” của tất cả những tên đại bịp lừng danh  trong lịch sử nhân loại. Nhà văn Uyên Thao nhắc đến bạo chúa Nero (37 trước CN - 68 sau CN) của Đế quốc La Mã. Muốn biến mình thành một người “vĩ đại” bậc nhứt trên mặt địa cầu, Nero đã không ngần ngại hạ sát vợ và cả mẹ đẻ của mình để giảm bớt cản trở trong nếp sống xa hoa và tàn bạo của mình. Với cuồng  vọng “vĩ đại”, Nero muốn thực hiện một công trình nghệ thuật lẫy lừng bỏ xa những tác phẩm lớn của các văn hào thời cổ Hy Lạp và La Mã.  Đám cận thần “ngu” và “hèn” lúc nào cũng tung hô ông như thần thánh đã gợi ý cho ông hãy đốt cháy thành La Mã để có cảm hứng hoàn thành một tác phẩm “vĩ đại”.
Dĩ nhiên, toàn bộ kinh thành bốc cháy đã khơi dậy sự phẫn nộ của quần chúng. Để xoa dịu sự giận dữ của quần chúng, Nero ra lệnh rao truyền rằng chính các tín hữu Kitô tiên khởi là những thủ phạm đã nổi lửa đốt cháy thành La Mã. Cuồng vọng “vĩ đại” của Nero lại có thêm một cơ hội để bộc lộ: ông ban hành lệnh “ném ngay lũ Kitô giáo cho sư tử” cắn xé.
Như nhà văn Uyên Thao đã thuật lại, toàn bộ câu chuyện đã được nhà văn Ba Lan Henryk Sienkiewicz (1846-1016) ghi lại trong quyển tiểu thuyết nổi tiếng “Quo vadis?” (Lạy Chúa, Chúa đang đi đâu?”). So sánh bạo chúa Nero với Hồ Chí Minh, nhà văn Uyên Thao khẳng định rằng “cái Ngu đã khiến nhiều thế hệ lao vào xâu xé lẫn nhau bởi không nhận chân nổi thủ đoạn lường gạt của một bạo chúa, đồng thời cái Hèn đã liên tục tạo thêm sức mạnh cho bạo chúa mặc tình thao túng”.
Hai thời đại cũng giống nhau ở chỗ thời nào cũng có những “thằng hèn” thức tỉnh và dám đứng thẳng để xưng thú cái hèn của mình và chỉ vào mặt bạo chúa để vạch ra sự lường gạt và độc ác của họ. Thời Nero đã có một thằng hèn Chilon Chinonides dám đứng thẳng, vươn tay chỉ vào giữa mặt bạo chúa để tố giác hành động tội ác của y. Thời Cộng sản Việt Nam, cũng có những thẳng hèn cuối cùng đã dám làm người đứng thẳng để tố cáo bộ mặt giả nhân giả nghĩa lường gạt của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản. Nhạc sĩ Tô Hải là một trong những người như thế.
Nghĩ đến cái “hết hèn” của nhạc sĩ Tô Hải, tôi cũng liên tưởng đến một số cựu đảng viên khác, những người ở cuối đời cũng còn có chút lương thiện,  liêm sỉ, tự trọng, can đảm và khiêm tốn để xưng thú “cái hèn” của mình và như nhà văn Nguyễn Khải, lên đường “đi tìm  cái tôi đã mất”.
“Hết hèn” cũng có nghĩa là dám đứng thẳng lên để lên đường  “đi tìm cái tôi đã mất”. Thật ra “cái tôi” cũng có đủ loại cái tôi. Có cái tôi hèn hạ, bỉ ổi. Triết gia Pháp Blaise Pascal (1623-1662) ám chỉ  cái tôi ấy khi ông nói “cái tôi là cái đáng ghét” (le moi est haissable). Như ông giải thích, đó là cái tôi “lạm dụng” người khác cũng như chính mình. Đối lại với cái tôi đáng ghét ấy là cái tôi cao thượng, biết nghĩ đến người khác hơn chính mình. Trong trường hợp những người cộng sản thức tỉnh để nhận ra và từ bỏ “cái hèn” của mình, đó là cái tôi khiêm tốn, can đảm dám thú nhận những lầm lỗi của mình và cố gắng vươn lên trong sự lương thiện, tử tế, yêu thương, quên mình, cảm thông, tha thứ...Đó là “cái tôi” mà văn hào Đức Hermann Hesse (1877-1962) đã cố gắng mô tả qua tác phẩm nổi tiếng Siddhartha.
Đức Phật, như được văn hào Hesse dựa trên cuộc đời và giáo lý của Ngài để tưởng tượng ra, là một chàng thanh niên bỏ nhà ra đi để tìm cái tôi đích thực của mình. Rời khỏi nhà cha mình, chàng thanh niên gia nhập vào một nhóm những tu sĩ sống kiếp lang thang không nhà không cửa. Cuộc đời của Đức Phật kể từ đó là một chuỗi những thay đổi không ngừng. Từ một tu sĩ Bà La Môn trẻ, Ngài trở thành một khất sĩ lang thang nay đây mai đó. Văn hào Hesse còn cho vị tu sĩ trẻ “chết đi” để trở thành một lái buôn yêu một cung phi. Từ một cuộc sống thế tục, cuộc hành trình đi tìm cái tôi đích thực đã biến chàng thanh niên thành một người học nghề  lái đò. Dưới sự hướng dẫn của người lái đò, người thanh niên học cách lắng nghe dòng sông cũng như sự hợp nhứt của vạn vật để rồi cuối cùng khám phá ra rằng cái tôi đích thực của mình không phải là một cái gì tách biệt và bền vững. Cũng như dòng sông, cái tôi đích thực mà người thanh niên khám phá được liên kết với vạn vật trong một tiến trình biến đổi và trở thành. Nhưng  biến đổi và trở thành không chỉ để biến đổi và trở thành. Ở cuối cuộc hành trình, sau nhiều cuộc biến đổi, chàng thanh niên Siddhartha của văn hào Hesse đã đạt được giác ngộ.
(x.https://www.psychologytoday.com/au/blog/it-s-your-choice/201811/become-who-you-are-nietzsche-and-hesse). 
Không như nhân vật Sisyphus trong thần thoại Hy Lạp là người bị số phận nghiệt ngã bắt phải vác cả một tảng đá khổng lồ leo lên đỉnh núi, trèo lên, tuột xuống mà không bao giờ dừng lại, cuộc hành trình của chàng trai Siddhartha đã dừng lại ở một kết thúc có hậu.
Đọc lại cuộc hành trình của nhạc sĩ Tô Hải trong “Hồi ký của Một Thằng Hèn”, khi ông khẳng khái tuyên bố dứt bỏ “cái Hèn” của mình, tôi cho rằng đó cũng chính là lúc ông đã “giác ngộ”. Dĩ nhiên theo cách thế của ông. Nhưng một cách nào đó, cũng như nhà văn Nguyễn Khải, nhạc sĩ Tô Hải đã “tìm lại cái tôi” đích thực đã bao nhiêu năm bị trù dập và đánh mất vì vừa “ngu” vừa “hèn” khi bán linh hồn cho một tên đại bịp và cái đảng “không có mặt người” mà hắn đã lập ra.
Thời đại nào và ở đâu cũng có những tên đại bịp chiêu dụ người khác bằng những “lý tưởng”, chủ nghĩa giả trá. Và dĩ nhiên thời đại nào và ở đâu cũng đều có những kẻ vừa “ngu” vừa “hèn”. Thật ra đâu cần có những tay đại bịp để con người bán linh hồn cho họ. Sống, dù trong hoàn cảnh nào, lúc nào cũng là một cuộc chiến đấu. Chiến đấu để lúc nào cũng tỉnh táo hầu không bị những ma lực như quyền lực, lý tưởng ảo, tiền bạc và danh vọng lừa mị. Chiến đấu không ngừng để nếu vì “ngu” mà sa cơ thất thế cũng vẫn còn giữ được một chút lương thiện, liêm sỉ, can đảm và nhứt là khiêm tốn để giã từ cái tôi hèn hạ của mình.

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

Pakistan: luật chống phạm thượng và cộng đồng Kitô Giáo



9/11/18
Asia Noreen, một tín hữu Kitô  còn được biết đến với một tên khác là Asia Bibi, là một phụ nữ Pakistan thường được nhắc đến mỗi khi nói đến luật chống phạm thượng tại Cộng hòa Hồi giáo Pakistan.
Hiến pháp của Cộng hòa Hồi giáo Pakistan vốn được xây dựng trên luật Hồi giáo Sharia. Do đó, trong luật hình sự của nước này, bị xem là một tội đáng tử hình bất cứ hành động phỉ báng nào đối với Tiên tri Mahomet của Hồi giáo. Thật ra, luật cấm phỉ báng tôn giáo đã có kể từ khi Anh quốc đô hộ Ấn Độ vào năm 1860. Sau khi tách khỏi Ấn Độ và tuyên bố độc lập vào năm 1947, Pakistan vẫn tiếp tục giữ lại luật này. Từ năm 1980 đến năm 1986, chính phủ quân phiệt dưới thời tướng Zia-ul Haq đã bổ sung một số khoản mới vào luật cấm phỉ báng tôn giáo. Thật ra ông tướng này muốn “Hồi giáo hóa” các luật này và sử dụng các luật này để đẩy ra bên lề xã hội cộng đồng người Ahmadi, một hệ phái Hồi giáo bị xem là “lạc giáo”.
Theo luật chống phỉ báng tôn giáo của Pakistan, bất cứ hành vi nào xúc phạm đến Hồi giáo hay kinh Coran đều bị phạt  tù từ một đến năm 10 năm tù. Năm 1986, luật này được nới rộng để phạt tù chung thân hoặc tử hình bất cứ hành động phỉ báng nào đối với Tiên tri Mahomet.
Hình phạt dành cho bà Asia Bibi rơi vào trường hợp cuối cùng này. Dạo tháng Sáu năm 2009, trong lúc đi hái dâu thuê, người phụ nữ này đã có một cuộc cãi vã với các phụ nữ khác. Bà bị tố cáo đã có những lời phỉ báng đối với Tiên tri Mahomet. Bị bắt và đem ra xét xử, Asia Bibi đã bị kết án tử hình. Từ nhiều năm qua, người phụ nữ này lúc nào cũng thấp thỏm chờ đợi trong hành lang tử thần. Nhưng hôm thứ Tư 31 tháng Mười vừa qua, sau khi xét lại hồ sơ của bà, Tối cao Pháp viện Pakistan đã tuyên bố rằng những cáo buộc về tội phỉ báng của bà không có bằng cớ và bà đã thú tội dưới sức ép của một đám đông đang đe dọa giết bà.
Mặc dù bản án đã bị đảo ngược, bà Asia Bibi vẫn còn tiếp tục ngồi tù. Theo một thỏa hiệp giữa Chính phủ Pakistan và những người chống đối việc Tối cao Pháp viện đảo ngược bản án, bà Asia Bibi sẽ không được phép rời khỏi đất nước. Nhưng  trước sự phẫn nộ của nhiều người Pakistan về việc Tối cao Pháp viện đảo ngược bản án, luật sư bào chữa cho bà, ông Saif Mulook đã phải bỏ trốn ra khỏi nước. Về phần mình, chồng của bà Asia Bibi, ông Masih cũng cho biết ông đang lo cho số phận của ông và gia đình ông. Ông Masih đã xin Thủ tướng Anh Theresa May can thiệp với chính phủ Pakistan để ông có thể rời khỏi Pakistan càng sớm càng tốt. Ông cũng kêu gọi các nhà lãnh đạo của Gia Nã Đại và Hoa Kỳ giúp đỡ để bảo vệ mạng sống của ông và gia đình ông.
Hồi giáo hiện đang là quốc giáo tại Pakistan. Sự ủng hộ của dân chúng dành cho luật chống phạm thượng hiện đang rất mạnh. Các chính trị gia có đường lối cứng rắn, để mua lá phiếu của những thành phần Hồi giáo bảo thủ và cực đoan, luôn đứng đàng sau việc củng cố và thi hành luật này.
Thật ra, luật chống phạm thượng rất thường bị lạm dụng và áp dụng một cách rất tùy tiện. Trong hầu hết các trường hợp, luật này thường được nại đến để trả thù vì những tranh chấp và cãi vã hoàn toàn riêng tư. Các bản án cũng thường dựa trên những chứng cớ rất mơ hồ.
Trước đây, phần lớn những người bị kết án vì tội phỉ báng Hồi giáo hay Tiên tri Mahomet đều là người Hồi giáo, nhất là cộng đồng người Ahmadi. Nhưng kể từ thập niên 1990, phần lớn các bản án lại nhắm vào cộng đồng Kitô Giáo. Các tín hữu Kitô ngày càng trở thành mục tiêu của những cuộc tấn công nhân danh luật chống phỉ báng Hồi giáo hay Tiên tri Mahomet.
Cũng như cộng đồng Ấn Giáo, Kitô Giáo tại Pakistan chỉ là một thiểu số chiếm khoảng 1.6 phần trăm của tổng số dân 197 triệu người. Phần lớn các tín hữu Kitô sống tập trung tại những thành phố lớn như Karachi, Lahore và Faisalabad. Ngoài ra tại tỉnh  Punjab, cũng có rất nhiều làng Kitô Giáo. Ngay cả tại một tỉnh rất bảo thủ ở miền Tây Bắc Pakistan là Khyber Pakhtunkhwa, nhất là tại Thị xã Peshawar, người ta cũng thấy có một cộng đồng Kitô đáng kể.
Trước khi tách khỏi Ấn Độ, mặc dù là một quốc gia rất đa dạng, Pakistan cũng được biết đến như một xã hội rất khoan nhượng. Nhưng kể từ ngày độc lập, khuynh hướng bảo thủ ngày càng gia tăng và chủ trương “Hồi giáo hóa” cũng ngày càng mạnh. Trước kia, các cộng đồng thiểu số chiếm đến 15 phần trăm dân số tại các thành phố lớn. Nay họ còn không đầy 4 phần trăm.
Phần lớn các tín hữu Kitô tại Pakistan là hậu duệ của những người Ấn Giáo thuộc giai cấp thấp hay cùng đinh trong xã hội Ấn. Họ đã cải đạo sang Kitô Giáo dưới thời Anh quốc cai trị Ấn Độ. Lý do chính để họ cải đạo sang Kitô Giáo là để ra khỏi hệ thống giai cấp của Ấn Giáo.
Sau khi đã cải đạo, nhiều người được trao phó cho việc canh gác trong các thành phố. Cho tới ngày nay, hầu như trong thành phố nào của Pakistan cũng đều có một khu gọi là Kai Kurti, tức khu có đông các tín hữu Ki Tô cư ngụ. Dù vậy, các cộng đồng Kitô vẫn tiếp tục bị xếp vào hạng nghèo nhất trong xã hội và vẫn tiếp tục làm những nghề thấp hèn nhất. Trong tỉnh Punjab có rất nhiều làng toàn tòng Kitô Giáo và phần lớn đều sinh sống bằng nghề nông hoặc làm công.
Dĩ nhiên, trong các cộng đồng Kitô giáo, cũng không thiếu những thành phần ăn nên làm ra. Được sống tại Karachi và có trình độ văn hóa cao, dưới thời Anh quốc đô hộ Ấn Độ, họ đã đến lập nghiệp tại Goa là một cựu thuộc địa Bồ Đào Nha trù phú.
Nhưng giàu hay nghèo, có học hay thất học, tất cả các tín hữu Kitô đều có chung một tâm trạng là cảm thấy mong manh và dễ bị tổn thương trong xã hội. Đã có rất nhiều tín hữu Kitô giàu có đã rời bỏ Pakistan để đi định cư tại Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, vì họ không thể chịu đựng hoặc chấp nhận bầu khí bất khoan nhượng trong nước.
Thật ra, giữa các tín đồ Hồi giáo và các tín hữu Kitô nói chung, sống chung hòa bình không phải là điều không thể có được. Hầu hết các cuộc tấn công nhắm vào các tín hữu Kitô đều được thực hiện hay khích động bởi những thành phần cực đoan và những cuộc tấn công như thế lại được những người có chủ trương “Hồi giáo hóa” Pakistan khai thác và đổ thêm dầu vào lửa.
Gần đây, nhiều cuộc tấn công nhắm vào các cộng đồng Kitô Giáo đã được ghi nhận. Mới nhất là cuộc tấn công vào một nhà thờ tại Quetta hồi tháng Mười Hai năm vừa qua. Cuộc tấn công đã làm cho 9 người bị thiệt mạng và 57 người bị thương. Một năm trước đó, dạo tháng Ba năm 2016, một cuộc tấn công bằng bom tự sát nhắm vào các tín hữu Kitô đang cử hành lễ Phục Sinh tại Lahore đã làm cho 70 người chết và trên 340 người bị thương. Cũng tháng Ba năm đó và cũng tại Lahore, hai vụ nổ bom tại các nhà thờ đã giết chết 14 người và gây thương tích cho hơn 70 người. Năm 2013, hai vụ nổ bom tự sát tại Thành phố Peshawar cũng đã làm cho khoảng 80 người chết. Vào năm 2009, đã có khoảng 40 ngôi nhà và một giáo đường tại Gojra, Tỉnh Punjab bị một tín đồ Hồi giáo cuồng tín đốt cháy: 8 người bị chết thiêu trong vụ hỏa hoạn! Cách đó 4 năm, tức năm 2005, hàng trăm tín hữu Kitô tại Faisalabad đã phải trốn chạy khi các nhà thờ và trường học bị đốt cháy sau khi một cư dân bị tố cáo đã đốt những trang trong Kinh Coran.
Kể từ thập niên 1990, đã có không biết bao nhiêu tín hữu Kitô bị kết tội “xúc phạm đến kinh Coran” hay “phỉ báng Tiên tri Mahomet”, mặc dù các chuyên gia nói rằng phần lớn những lời tố cáo đều được châm ngòi bởi những tranh chấp về chuyện riêng tư.
Hầu hết những người bị tố cáo đều bị các tòa địa phương kết án tử hình. Nhưng khi lên đến những tòa cấp cao, các bản án đều bị đảo ngược vì thiếu bằng chứng hoặc vì chính các nguyên cáo bị vạch mặt là những người cáo gian chỉ vì những lợi ích kinh tế.
Năm 2012, một thiếu nữ Kitô tên là Rimsha Masih đã trở thành một người ngoài Hồi giáo đầu tiên được tha bổng về tội phỉ báng khi tòa án khám phá ra rằng cô gái này đã bị một giáo sĩ Hồi giáo địa phương gài bẫy để tố gian.
Nhưng cho tới nay, nổi tiếng nhất và được thế giới biết đến nhiều nhất vẫn là trường hợp của bà Asia Bibi. Vụ án của bà đã tạo ra nhiều hệ lụy và tranh cãi nhất tại Pakistan. Nạn nhân đầu tiên của vụ án là ông Salman Taseer, Tỉnh trưởng Punjab. Ông này khẳng định rằng trong trường hợp của bà Asia Bibi, luật chống phạm thượng của Pakistan đã bị lạm dụng. Vì lời tuyên bố này, Tỉnh trưởng Taseer đã bị chính người cận vệ của ông, một người Hồi giáo cuồng tín, ám sát. Tên sát nhân này đã bị kết án tử hình và xử tử dạo tháng Giêng năm 2016. Vụ xử tử đã tạo ra một làn sóng chống đối dữ dội.
Ngoài ra năm 2011, liên hệ đến luật chống phạm thượng, Bộ trưởng Đặc trách các nhóm Thiểu số là ông Shahbaz Bhatti, một tín hữu Kitô, cũng bị những người theo phong trào Taliban ám sát. Lý do chỉ vì ông chống lại luật chống phạm thượng.
Ngoài luật chống phạm thượng, cũng có nhiều yếu tố khác gây ra bạo động và tấn công nhắm vào các tín hữu Kitô. Một số cuộc bạo động trực tiếp gắn liền với cuộc chiến của Hoa Kỳ tại A Phú Hãn.  Chỉ vài tháng sau khi liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo tấn công A Phú Hãn hồi cuối năm 2001, một cuộc tấn công bằng lựu đạn nhắm vào một nhà nguyện bên trong một bệnh viện do Kitô Giáo quản lý tại Thị xã Taxila đã làm cho 4 người bị thiệt mạng. Vài tháng sau đó, một số người có vũ trang đã xử tử 6 nhân viên làm việc cho một tổ chức từ thiện của Kitô Giáo tại văn phòng của họ ở Karachi. Những biến cố như thế, tuy lẻ tẻ, vẫn tiếp tục diễn ra tại Pakistan.
Rất có thể những cuộc tấn công nhắm vào các nhóm thiểu số Kitô giáo và Ấn giáo tại Pakistan là một phần trong kế hoạch nhằm gởi đi một thông điệp cho các nước Tây Phương hoặc để gây hoang mang cho các chính phủ dân sự tại Pakistan nếu họ tỏ ra quá thân thiện với các nước Tây Phương.
Những cuộc tấn công như thế cũng có thể là một chiến thuật của giới quân sự vốn đang có rất nhiều quyền lực tại Pakistan. Chính quân đội là tổ chức đã và đang bảo vệ các nhóm Hồi giáo cực đoan tại A Phú Hãn và Ấn Độ. Trong quá khứ cũng chính quân đội đã từng yểm trợ cho các nhóm tranh đấu để duy trì luật chống phạm thượng tại Pakistan.



Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2018

Việt Nam không bao giờ có thể là đồng minh của Mỹ!


9/11/18
Các diễn biến gần đây cho thấy Việt Nam ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược của Hoa Kỳ nhằm chận đứng tham vọng bành trướng của Trung Cộng trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Dạo tháng Mười vừa qua, trong chuyến viếng thăm Việt Nam lần thứ hai trong năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jim Mattis đã lên án hoạt động kinh tế mà ông gọi là “cướp bóc” của Trung Cộng đối với các nước nhỏ. Tuy nhiên, chính sách ngoại giao dựa trên chủ trương “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Donald Trump đã khiến cho mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước đồng minh tại Á Châu ngày càng trở nên lỏng lẻo. Theo nhận định của Giáo sư Carlyle Thayer, thuộc trường Đại học New South Wales, Úc Đại Lợi, “Đối với Việt Nam, đương đầu với Trung Cộng dưới thời Trump khó hơn bao giờ hết”.
Mặc dù Việt Nam hiện đang được xem là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhanh nhất tại Á Châu, với tổng sản lượng quốc gia tăng 6.8 phần trăm mỗi năm, nền kinh tế này vẫn còn lệ thuộc rất nhiều vào mậu dịch với Trung Cộng. Theo các cơ quan truyền thông công cụ của Việt Nam, hàng hóa trao đổi giữa 2 nước có thể lên đến 100 tỷ Mỹ kim. Hồi năm ngoái, mức thâm thủng mậu dịch của Việt Nam với Trung Cộng lên đến 22.76 tỷ Mỹ kim. Lẽ ra mức thâm thủng này đã có thể khỏa lấp được nhờ Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là TPP được Tổng thống Barack Obama khởi xướng và đã được Việt Nam ký tên gia nhập. Ai cũng biết mục đích của Hiệp ước thương mại này là để ngăn cản sự bành trướng kinh tế của Trung Cộng. Tuy nhiên, Tổng thống Trump đã tuyên bố rút tên Hoa Kỳ ra khỏi Hiệp ước khiến cho Việt Nam không còn một chọn lựa nào khác hơn là quay đầu về với Trung Cộng.
Thật ra, dù cho Việt Nam có  bị Trung Cộng đô hộ một ngàn năm, dù năm 1979 có bị nước đàn anh này dạy cho một bài học nhục nhã, dù cho lãnh thổ và biển đảo có bị ngang nhiên xâm chiếm, các lãnh tụ cộng sản Việt Nam, đặc biệt dưới thời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhất là kể từ khi ông này đăng quang làm chủ tịch nước, lúc nào cũng xem chế độ độc tài của Trung Cộng như một mẫu mực để khuôn rập theo. Trung Cộng làm gì, Việt Nam cũng muốn lập lại theo cùng  một sách vở!
Luật an ninh mạng được Việt Nam cóp nhặt của Trung Cộng sẽ được đem ra thi hành vào năm tới. Tất cả mọi công ty tin học sẽ bị kiểm soát chặt chẽ: Facebook và Google bị buộc phải giao các dữ kiện cá nhân của người sử dụng cho nhà nước! Theo gương Tập Cận Bình, Nguyễn Phú Trọng cũng đeo đuổi một chiến dịch diệt trừ tham nhũng như đã từng được áp dụng tại Trung Cộng. Việt Nam cũng tỏ ra “thông suốt” đường lối của Trung Cộng trong việc đàn áp các nhà bất đồng chính kiến.
Với tình trạng lệ thuộc “môi hở răng lạnh” như thế đối với Trung Cộng, cho dù Việt Nam có lên tiếng phản đối việc quốc gia khổng lồ này quân sự hóa các bãi đá ngầm vốn đã chiếm lấy của Việt Nam và một số nước khác trong vùng và ngăn cản tự do hàng hải trên Biển Đông, còn lâu Việt Nam mới xích lại gần với Hoa Kỳ để đương đầu với Trung Cộng. Việt Nam vẫn tiếp tục chủ trương “ba không”: không liên minh quân sự, không cho ngoại quốc mở căn cứ quân sự tại nước mình, không nhờ vào một nước khác để quốc phòng. Ngoài ra, Việt Nam vẫn tiếp tục mua vũ khí của Nga. Dạo tháng Chín vừa qua, Việt Nam đã đặt mua của Nga đủ loại vũ khí trị giá không dưới một tỷ Mỹ kim.
Hành động này của Việt Nam bị Hoa Kỳ xem như một vi phạm đối với luật Cấm Giao thương với Kẻ thù của Hoa Kỳ (Countering America’s Adversaries Through Sanctions Act) được đưa ra hồi năm 2017 nhằm trừng phạt Nga vì xâm chiếm Crimea của Ukraine cũng như nhúng tay vào cuộc nội chiến tại Syria và can thiệp vào bầu cử Mỹ hồi năm 2016. Chính vì bị Hoa Kỳ chỉ trích về việc mua vũ khí của Nga cho nên Việt Nam đã ra lệnh đình chỉ cuộc tập trận chung của Hải quân Việt Nam với Hải quân Hoa Kỳ.
Nhận định về thái độ ba phải của Việt Nam, một nhà ngoại giao Mỹ, xin được dấu tên, đã nói với Tạp chí Time: “Việt Nam hoan nghênh việc Hoa Kỳ có thái độ cứng rắn đối với Trung Cộng, nhưng không thể vai kề sát cánh với chúng ta. Việt Nam không bao giờ có thể là một đồng minh của Hoa Kỳ”, nhất là dưới thời Tổng thống Trump!


Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018

Bài học vị tha từ thế giới loài vật



Chu Thập
02/11/18
Cách đây vài năm, lần đầu tiên về thăm Vũng Tàu, tôi có ghé vào Lăng Ông Nam Hải. Vũng Tàu vẫn tiếp tục được xem là một trong những thành phố du lịch nổi tiếng của Việt Nam và Lăng Ông Nam Hải là một điểm thu hút nhiều du khách.
Lăng Ông Nam Hải nằm trên đường Hoàng Hoa Thám, trong một khuôn viên rộng và thoáng mát gồm có đền Thắng Tam và miếu bà Ngũ Hành. Cá Ông mà bộ xương vẫn còn được giữ nguyên vẹn trong lăng được người dân địa phương tôn sùng và biết ơn như một vị thần của biển cả. Thật ra, không riêng ở Vũng Tàu mà hầu như bất cứ dân làng chài nào ở Việt Nam cũng dành cho Cá Ông một sự tôn sùng đặc biệt.
Theo truyền thuyết, vào Thế kỷ 19, một con Cá Ông lớn trôi dạt vào Bãi Sau. Kích thước của đầu cá rất lớn. Người dân phải cần đến tre, gỗ rào đầu cá lại cho đến khi thịt cá rữa ra mới tháo từng khớp xương ra và mang vào đền thờ tại một miếu ở Bãi Trước. Hầu như ngư ông Việt Nam nào cũng đều có kinh nghiệm hay tin tưởng rằng cá ông là loài cá linh thiêng, thường hay giúp đỡ con người mỗi khi sóng to gió lớn nổi lên; cá ông cứu con người thoát khỏi nhiều nguy hiểm nên khi cá chết dạt vào bờ, người đầu tiên trông thấy có nhiệm vụ phải để tang và lo toan chôn cất xác cá ông. Sau nhiều năm người dân góp tiền xây dựng một Lăng Cá Ông để tôn thờ hay tưởng nhớ loài cá linh thiêng này (x. https://dulichdongque.com/lang-ca-ong-tai-vung-tau).
Người Tây Phương không tôn thờ cá ông, nhưng cũng công nhận đức tính “vị tha” nơi loài cá này. Thật ra, cá ông cũng có nhiều loại: có loại dữ (orcas hay killer whale) và cũng có loại hiền (humpback whale). Robert Pitman, một nhà sinh thái học hải dương làm việc tại Cơ quan Hải dương học và Khí quyển của Hoa Kỳ, đã kể lại một cuộc gặp gỡ kỳ diệu với loài cá ông “hiền” tại Nam Bắc Cực hồi năm 2009. Theo mô tả của nhà khoa học này, một hôm có một bày cá ông dữ đã dồn sức tấn công một con hải cẩu. Trong cơn sợ hãi, con hải cẩu bơi đến gần hai con cá ông hiền để “cầu cứu”. Một trong 2 con cá ong hiền đã sải dài cái đuôi của nó ra và kéo con vật đang bị tấn công về phía mình. Con hải cẩu nặng đến 400 ký đã tìm được một chỗ trú ẩn an toàn dưới lòng ngực của “vị ân nhân”. Khi đám cá ông dữ tiến đến tấn công, con cá ông hiền, với một cử chỉ thân ái, đã tìm cách ném “nạn nhân” ra khỏi nước để thoát khỏi vòng vây của mấy con cá ông dữ.
Theo dõi “biến cố”, ông Pitman cho rằng “những con cá ông hiền đã làm một điều mà chúng ta không thể giải thích được”. Ông đã hỏi ý kiến của các nhà nghiên cứu đã từng theo dõi động thái của loài cá này. Tất cả đều có cùng một kinh nghiệm. Trong 62 năm ròng rã, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận được tất cả 115 cuộc đối đầu giữa cá ông hiền và cá ông dữ như thế.
Trong một bài viết được đăng trên báo Marine Mammal Science (Khoa học về loài động vất có vú dưới biển) xuất bản tại Hoa Kỳ hồi năm 2016, ông Pitman khẳng định rằng thái độ “vị tha” của loài cá ông hiền được ghi nhận không chỉ tại một vài nơi như Nam hay Bắc Cực, mà là một sự kiện phổ biến tại khắp nơi trên thế giới.
Dĩ nhiên, ghi nhận sự kiện là một chuyện và hiểu được sự kiện lại là một chuyện khác. Câu hỏi mà các nhà khoa học thường nêu lên là: tại sao loài cá ông hiền luôn ngăn cản không để cho loài cá ông dữ tấn công những con mồi khác? Trả lời cho câu hỏi này, các nhà khoa học cho rằng có thể loài cá ông dữ tấn công những con cá ông hiền nhỏ cho nên những con cá ông hiền lớn phải có phản ứng để tự vệ. Đây là chuyện thường xảy ra trong thế giới loài vật. Cũng có thể, theo giải thích của các nhà khoa học, lúc còn nhỏ đã từng bị chấn thương do bị loài cá ông dữ tấn công cho nên khi lớn lên cá ông hiền thường đáp trả lại bằng thế công.
Một con cá ông hiền trưởng thành có thể cân nặng từ 30 đến 40 tấn, trong khi loài cá ông dữ thường chỉ nặng tối đa là 6 tấn. Do đó, trước sức tấn công hay đánh trả của cá ông hiền, cá ông dữ thường bỏ chạy và như vậy, nhờ sự bảo vệ của cá ông hiền, phần lớn các loài động vật bị loài cá ông dữ tấn công, đều được an toàn.
Câu hỏi mà các nhà khoa học thường nêu lên là: phải chăng loài cá ông hiền cũng có lòng vị tha và biết cảm thông như chúng ta vẫn hiểu về từ này theo giáo lý Nhà Phật? Ông Pitman đã trả lời: “Khi một con người bảo vệ một cá nhân đang gặp nguy hiểm vì một chủng loại khác, chúng ta gọi hành động này là cảm thông. Còn nếu một con cá ông hiền làm như thế thì chúng ta gọi là bản năng. Tuy nhiên đôi khi sự phân biệt không rõ ràng chút nào”.
Ngày nay các nhà khoa học nhìn nhận có sự khác biệt “văn hóa” giữa cá ông, loài linh trưởng, voi và một chủng loại khác. Ngày càng có nhiều cuộc nghiên cứu về cảm xúc của loài vật. Các nhà khoa học cố gắng giải thích những khác biệt về cảm thông và vị tha giữa loài vật và loài người.
Loài khỉ, cũng giống như trẻ con còn quá nhỏ để hiểu được thế nào là lịch sự, lại làm được những cử chỉ “vị tha” đối với đồng loại, ngay cả phải ngưng chơi hoặc phải vượt qua một trở ngại nào đó để làm cử chỉ ấy. Không riêng đối với đồng loại, khỉ cũng biết giúp đỡ những người mà chúng quen biết và cả những người lạ mặt.
Các nhà khoa học kết luận rằng vị tha và cảm thông là một “ đức tính” bẩm sinh nơi súc vật cũng như loài người. Giáo sư tâm lý học tại Đại học Berkeley, California, Dacher Keltner gọi đây là một “bản năng cảm thông” (compassionate instinct).
Theo ông Pitman, sở dĩ loài cá ông hiền được phú bẩm cho bản năng cảm thông hay vị tha  ấy là để chúng bảo tồn giống nòi. Như vậy nơi loài cá ông hiền cũng như loài người, bất cứ một cử chỉ vị tha nào cuối cùng cũng vẫn là vì mình và giống nòi của mình. Steve Cole, một nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Los Angeles, California cho rằng, xét về sinh lý học, không thể có một “sự vị tha thật sự”, bởi vì “giúp đỡ người khác cũng chính là giúp đỡ chính mình” (x.Elin Kelsey from Hakai Magazine, The Ocean’sUnexpectedHeroes,https://www.zinio.com/reader/readsvg/394159/58).
Marcus Tullius Cecero là một diễn giả La Mã nổi tiếng sống vào Thế kỷ thứ Nhứt trước Công nguyên. Trong một bài biện hộ, ông có nhắc tới một quan tòa thanh liêm và khôn ngoan là ông Lucius Cassius. Mỗi khi xét xử, ông này thường nêu lên câu hỏi: “Ai là người được lợi ?” (Cui bono). Cụm từ La tinh này đã trở thành một thành ngữ quen thuộc trong việc xét xử: cần phải xét động lực nào thúc đẩy một can phạm có hành vi phạm pháp?
Thành ngữ này cũng được áp dụng vào việc tìm hiểu động lực thúc đẩy con người sống vị tha và làm việc thiện. Thật vậy có rất nhiều động lực thúc đẩy còn người làm việc thiện. Vì thương người, có biết bao nhiêu người chia sẻ tất cả những gì mình có và ngay cả hy sinh mạng sống của mình. Nhưng cũng không thiếu những người làm việc thiện vì “lợi danh”: nếu không vì một chút danh thơm tiếng tốt thì cũng vì một món lợi trước mắt. Ai đó đã có lý  để nói đến các thứ “kinh doanh từ thiện”. Việc thiện đã trở thành một thứ kinh doanh béo bở!
“Tuyệt đối vô vị lợi” trong vị tha là điều xem ra không thể có được. Cách này hay cách khác, con người luôn nghĩ đến bản thân trước tiên. Làm sao  một tín hữu Kitô làm việc thiện, thực thi bác ái mà không nghĩ đến phần thưởng trên “nước Thiên Đàng” hoặc sợ bị trầm luân trong hỏa ngục hoặc để đền bù cho một sự bất công nào đó mình đã làm cho người khác? Có Phật tử nào cúng dường, bố thí...mà không mong được siêu thoát trong kiếp sau?
Thương người như thể thương thân. Thương người là thương chính mình. Một hành động vị tha mang lại lợi ích cho người khác đã đành, mà cũng làm lợi cho chính bản thân.
Ngay cả một hành động vị tha hay vì công ích xem ra chẳng mang lại một lợi ích nào cho người khác hay cho cộng đồng, nhưng không thể không “sinh lợi” cho bản thân. Hãy lấy thử một thí dụ. Ý thức về việc bảo vệ môi sinh, tôi cố gắng không vứt rác bừa bãi, tôi thu nhặt các thứ đồ nhựa để tái sinh, tôi đi xe đạp để góp phần giảm bớt khí thải v.v...Tôi tin rằng tôi làm như thế là để góp phần bảo vệ môi sinh, giúp cho trái đất trở thành một nơi đáng sống cho mọi người. Nhưng thử hỏi, một giọt nước trong đại dương của tôi có ảnh hưởng một ly nào đến 7.6 tỷ con người đang có mặt trên mặt đất này không? Có thể đó chỉ là một thứ công dã tràng. Nhưng nhìn sâu vào nội tâm, tôi nhận thấy rằng mỗi khi tôi làm bất cứ một việc gì vì người khác hay vì công ích, dù đó chỉ là một việc làm vô danh không tạo được một ảnh hưởng nào và nhứt là cũng chẳng được ai ghi nhận, tôi luôn cảm thấy vui. Người “hưởng lợi” từ một hành động vị tha của tôi trước tiên là chính tôi.
Ý tưởng này giúp tôi nuôi dưỡng niềm lạc quan và vui sống, nhứt là trong một thế giới đầy nhiễu nhương và bất ổn như  hiện nay. Tựu trung vấn đề của thế giới lúc nào cũng là vấn đề đạo đức. Thế giới lúc nào cũng bị lôi kéo và xâu xé giữa 2 đối cực: một bên là ích kỷ và hận thù, một bên là vị tha và tình thương. Cuộc chiến giữa 2 đối cực thường được minh họa trên màn ảnh truyền hình bằng hình ảnh của một thiên thần nhỏ và một tên quỷ dữ. Cả hai lúc nào cũng đang rỉ tai thôi thúc con người. Thiên thần nhỏ nhắc nhở một điều thiện cần phải làm như: “Hãy dành chiếc bánh ngọt cuối cùng này cho một người khác đang cần hơn”. Trong khi đó tên quỷ lại xúi giục: “Hãy ăn luôn chiếc bánh ngọt cuối cùng” (x. https://www.psychologytoday.com/us/blog/prefrontal-nudity/201307/the-origin-altruism).
Chủ nghĩa dân tộc đang hồi sinh khắp nơi hiện nay, một cách nào đó, cho thấy sự thắng thế của tên quỷ dữ. Nó bảo: dân tộc và quốc gia của mi là trên hết và trước hết, đừng nghĩ đến các dân tộc khác! Chiếc bánh ngọt thừa thãi cuối cùng lẽ ra phải được chia sẻ cho những người cần ăn hơn vẫn bị giữ khư khư trong tay.
Thật ra cuộc đối đầu giữa vị thiên thần nhỏ và tên quỷ dữ lúc nào lại chẳng diễn ra trong chính bản thân tôi. Tôi luôn ý thức về điều đó: nghe theo lời tên quỷ dữ để khư khư giữ lấy chiếc bánh ngọt cuối cùng cho mình, nhân cách của tôi sẽ thui chột. Trái lại nếu tôi nghe lời vị thiên thần nhỏ để chia sẻ chiếc bánh ấy cho một người khác đang cần được ăn hơn, tôi không chỉ xoa dịu nỗi đau của một người khác. Chính tôi mới thực sự là người hưởng lợi: Khi nhìn một người thưởng thức ngon lành cái bánh mà tôi đã không còn bụng để ăn, chắc chắn tôi cảm thấy vui. Chỉ nhờ một chiếc bánh nhỏ mà tôi “mua” được một niềm vui. Và từ đó tôi tiến thêm một bước trong sự trưởng thành nhân cách. Vị tha luôn mang lại cho tôi niềm lạc quan và vui sống!
Là một người tỵ nạn, tôi đã nhờ có “chiếc bánh nhỏ” của những ân nhân và chính phủ ở quốc gia định cư để bắt đầu cuộc đời mới. Tôi sẽ ra sao nếu không có quần áo, dụng cụ trong nhà...của các hội từ thiện. Tôi sẽ ra sao nếu không có chút tiền trợ cấp và các khóa học cho những người mới đến. Tôi sẽ ra sao nếu không có những người thiện nguyện hướng dẫn trong các vấn đề liên quan đến giấy tờ, luật pháp. Và còn biết bao nhiêu thứ khác...
Một chiếc bánh nhỏ không làm cho một người no đủ nhưng chắc chắn một ngày nào đó khi chính họ cũng có một chiếc bánh dư, họ cũng sẽ chia cho người khác như chính mình đã từng được.






Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Á Châu và Phong trào #MeToo



02/11/18
Cách đây 8 năm, bà Seo Ji-hyun, một công tố viên hàng đầu tại Nam Hàn cho biết bà đã từng bị sách nhiểu tình dục. Bà nói rằng đây là một vết thương khó lành. Bà nói với tạp chí Time: “Trong một thời gian dài, tôi đã tự tra tấn bằng cách đỗ lỗi cho chính mình”. Theo lời bà kể lại, trong một đám ma hồi năm 2010, một đồng nghiệp nam đã liên tục sờ mó bà và hành động sàm sỡ này đã diễn ra ngay lúc bà ngồi bên cạnh Bộ trưởng Tư pháp Nam Hàn.
Bà Seo đã trình sự việc lên cấp trên của bà. Liền sau đó bà đã phải trải qua một loạt những cuộc hỏi cung mà bà cho là bất công. Không những thế, mặc dù luôn có thành tích tốt, bà lại bị giáng cấp và đổi đi khỏi Thủ đô Seoul. Về phía mình, người đồng nghiệp đã có hành động sàm sỡ với bà Seo thanh minh rằng lúc đó ông quá say xỉn cho nên không còn nhớ gì về chuyện đã xảy ra. Người đàn ông này cũng phủ nhận không hề có chuyện bao che và trả thù.
Dạo mùa thu năm ngoái, bà Seo đã theo dõi diễn tiến của Phong trào #MeToo ngay trong trung tâm điện ảnh Hollywood, sau đó đã lan rộng ra các ngành kỹ nghệ khác trên khắp nước Mỹ cũng như tại Gia Nã Đại và một số nước ở Âu Châu. Bà Seo chợt hiểu rằng ngay cả những nữ tài tử nổi tiếng khắp thế giới cũng đã từng đau khổ vì bị sách nhiễu tình dục như bà. Bà nói: “Tôi thấy tự tin hơn và tin rằng đây không phải là lỗi của mình”. Tháng Mười Một năm 2017 vừa qua, bà đã xin được gặp cấp trên của bà để yêu cầu mở một cuộc điều tra về vụ sách nhiễu tình dục và việc bà bị đối xử thiếu công bằng trong những năm sau đó. Nhưng lời yêu cầu của bà đã không được đáp trả. Cuối tháng Giêng vừa qua, bà đã viết một lá thư ngỏ để công khai tố cáo việc sách nhiễu tình dục và ghi danh vào Phong trào #MeToo. Cùng ngày bà đã nhận lời xuất hiện trên một kênh truyền hình nổi tiếng trong nước và giải thích: “Lý do tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn là để nói cho nhiều người hiểu rằng đây không phải là lỗi của họ”.
Tiếng nói của bà đã tạo được một tiếng vang lớn. Cuộc phỏng vấn của bà đã làm phát sinh Phong trào #MeToo tại Nam Hàn, lôi kéo được nhiều phụ nữ nước này lên tiếng tố cáo các giám đốc hãng phim, nhiều nam tài tử và ngay cả một thi sĩ. Trong khi đó, bà Ko Mi-kyung, chủ tịch của Hội Đường Giây Nóng của Phụ nữ, một tổ chức chuyên ủng hộ các nạn nhân của bạo hành gia đình và sách nhiễu tình dục, cho biết: sau cuộc phỏng vấn của bà Seo, số lần gọi đến Đường Giây Nóng của bà đã tăng thêm 23 phần trăm.
Bạo động chống phụ nữ tại Nam Hàn hiện đang là một vấn đề lớn: theo một cuộc nghiên cứu hồi năm vừa qua, có gần 80 phần trăm đàn ông Nam Hàn cho biết họ đã từng lạm dụng một người bạn gái về thể lý hay tâm lý. Một bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc cho biết Nam Hàn đứng hàng thứ ba trên thế giới về tỷ lệ phụ nữ bị sát hại.
Từ Nam Hàn sang Ấn Độ, tại nhiều nước Á Châu người ta cũng thấy hiện Phong trào #MeToo đã bắt đầu chớm nở. Tại các nước Tây Phương, nhiều nhân vật tiếng tăm trong xã hội đã lên tiếng nhìn nhận hành vi sách nhiễu tình dục của mình. Một số mất địa vị và ngay cả phải ngồi tù. Riêng tại Á Châu, vấn đề đã giúp cho nhiều người ý thức hơn về sự bình đẳng nam nữ trong xã hội.
Cũng như tại Hoa Kỳ, Phong trào #MeToo tại Á Châu đã được khởi xướng bởi những công dân bình thường. Nhưng trong khi tại Mỹ những người có tiếng tăm trong xã hội đã giúp quảng bá phong trào thì tại Á Châu, như bà Lu Pin, người sáng lập Phong trào “Tiếng nói Phụ nữ” tại Trung Quốc nhìn nhận, “những người tranh đấu không phải là những thành phần nổi tiếng” trong xã hội, mà là vô số những người vô danh.
Tại Á Châu, Phong trào #MeToo không chỉ tố cáo hành vi sách nhiễu hay tấn công tình dục, mà còn nói lên tiếng nói của người phụ nữ về rất nhiều bất công mà họ phải gánh chịu như bạo hành gia đình và ngay cả giết chết. Với trang mạng có tên “Đừng bảo tôi phải ăn mặc như thế nào” (#Don’tTellMeHowToDress), người phủ lên tiếng đả kích việc chính phủ can thiệp vào chuyện ăn mặc của họ. Tại Nhật Bản, phụ nữ tỏ tình liên đới với những nạn nhân của vấn nạn bị quấy nhiễu trong sở làm. Còn tại Phi Luật Tân, ngoài các trang mạng xã hội như “Tôi là Phụ nữ” (#BabaeAko), phụ nữ còn xuống đường để phản đối những kiểu nói xúc phạm đến phụ nữ của Tổng thống Rodrigo Duterte.
Dĩ nhiên trong những xã hội gia trưởng tại Á Châu, nhiều người phụ nữ phải trả một giá đắt khi lên tiếng chống lại bất công và những hành vi xúc phạm đến phẩm giá của họ. Tại một nước dân chủ như Nam Hàn, nhiều phụ nữ khi xuống đường tố cáo bạo lực và sách nhiễu tình dục, cũng vẫn phải che mặt vì sợ bị trả thù. Tại Trung Cộng, một chế độ nổi tiếng về chà đạp nhân quyền và bách hại các sắc dân thiểu số, tiếng nói của người phụ nữ trên các trang mạng xã hội luôn bị kiểm duyệt; một số trang mạng tranh đấu cho quyền của người phụ nữ phải bị đóng cửa.
Tại Hàng Châu, một nạn nhân của sách nhiễu tình dục đã hoan hô việc các tài tử tại Hollywood đã lên tiếng tố cáo các hành vi sách nhiễu và tấn công tình dục. Nhưng nạn nhân này đã nói với tạp chí Time rằng tình hình tại Trung Cộng hoàn toàn khác: khi một phụ nữ lên tiếng ngay cả khi bị hãm hiếp, đó là lúc họ chết!
Tại Trung Cộng, sự thù nghịch đối với những cuộc phản đối công khai có nghĩa là những người tranh đấu cho quyền của người phụ nữ không thể xuống đường. Họ chỉ có thể lên tiếng trên các trang mạng xã hội mà thôi. Nhưng ngày nay, mặc dù chính quyền cộng sản siết chặt tự do thông tin và phát biểu,  một thế hệ phụ nữ giỏi về kỹ thuật truyền thông mạng vẫn có thể phát động Phong trào #MeToo. Họ sử dụng nhiều cách để qua mặt việc kiểm duyệt của chính quyền cộng sản.
Phong trào #MeToo tại Trung Cộng đã được khai sinh vào ngày mùng Một tháng Giêng năm 2017 vừa qua khi một cựu sinh viên của trường Đại học Beihang tại Bắc Kinh tên là Luo Xixi viết một lá thư ngỏ và đưa lên mạng lưới Weibo. Cô cho biết vào năm 2004, khi cô đang dọn tiến sĩ, giáo sư của cô là ông Chen Xiaowu đã kéo cô vô phòng của em gái ông và tìm cách hãm hiếp cô. Ông Chen đã phủ nhận lời cáo buộc, nhưng 10 ngày sau đã bị sa thải. Đại học Beihang đã rút lại bằng dạy học của ông và ra thông cáo nhìn nhận rằng ông đã sách nhiễu tinh dục các sinh viên.
Chỉ trong một ngày đã có trên 3 triệu lượt truy cập để đọc lá thư ngỏ của cô Luo. Theo một cuộc thăm dò với các sinh viên và những người đã tốt nghiệp hồi năm 2017, có khoảng 75 phần trăm phụ nữ tại Trung Cộng cho biết họ đã từng bị sách nhiễu tình dục và hơn 40 phần trăm các trường hợp đã xảy ra nơi công cộng trong các trường đại học.
Thật ra, Phong trào #MeToo tại Trung Cộng đã manh nha từ nhiều năm trước qua các chiến dịch vận động cho quyền của người phụ nữ. Năm 2012, các thiếu nữ đã gây được nhiều chú ý khi mặc những chiếc áo cưới có vấy máu trong ngày Lễ Tình Nhân (Valentine) tại Bắc Kinh để lôi kéo dư luận về thảm kịch của bạo hành gia đình. Trong ngày hôm đó, tại Quảng Châu, họ cũng đã chiếm luôn các nhà vệ sinh dành cho phái nam để phản đối việc đối xử bất công trong các nhà vệ sinh công cộng.
Dư luận lại càng chú ý hơn nữa vào năm 2015 khi 5 người tranh đấu cho nữ quyền đã bị bắt giữ vì tội quấy rối an ninh trật tự. Họ đã bị bắt vì đã lên chương trình tổ chức một cuộc biểu tình phản đối sự đối xử bất công đối với phụ nữ trên các phương tiện di chuyển công cộng. Bị thế giới lên án, chính quyền cộng sản đành phải trả tự do cho 5 người phụ nữ này sau khi họ bị giam giữ một tháng.
Dĩ nhiên, chính quyền Trung Cộng không thể nhắm mắt làm ngơ trước sự phát triển của Phong trào #MeToo. Dạo tháng Năm năm 2017, các phương tiện truyền thông công cụ của nhà nước Trung Cộng đã nói đến “các thế lực thù địch” đang sử dụng “Phong trào Nữ quyền Tây Phương” để can thiệp vào nội bộ “nước ta”. Một nhà tranh đấu đã nói rằng nếu những cuộc biểu tình phản đối đã diễn ra hôm nay, “chúng tôi đã bị bắt giữ ngay cả trước khi nó xảy ra”.
Hiện nay, trên toàn quốc Trung Cộng, có trên 800 triệu người đang sử dụng mạng lưới thông tin toàn cầu. Chính quyền có thể ngăn chận hay xóa bỏ bất cứ tin nào có nội dung bị xem là “phản động”.
Tại Ấn Độ, nền dân chủ lớn nhất trên thế giới hiện nay, các cáo buộc về sách nhiễu và lạm dụng tình dục đã làm lung lay kỹ nghệ giải trí và truyền thông. Một nhà sản xuất phim ảnh của trung tâm điện ảnh “Bollywood” của Ấn Độ đã buộc phải đóng cửa sau khi một trong những người đồng sáng lập bị cáo buộc về sách nhiễu tình dục. Ngay cả một bộ trưởng trong chính phủ của Thủ tướng Narendre Modi cũng bị cáo buộc về những hành vi như thế. Với những cáo buộc của các nữ ký giả, giới chính trị và kỹ nghệ truyền thông hiện cũng đang bị điều tra.
Trở lại chuyện của bà Seo ở Nam Hàn. Kể từ tháng Giêng vừa qua, người phụ nữ này đã xin nghỉ bệnh. Bà dành nhiều thời giờ hơn cho đứa con trai 10 tuổi. Bà cho biết: đã chẳng có bất cứ thay đổi nào trong văn phòng biện lý. Bà nói: “Tôi đã nghe nói rằng họ vẫn còn nghĩ về tôi như một kẻ thù vì tôi bêu xấu văn phòng của họ”.
Bà Seo không phải là người phụ nữ duy nhất phải gánh chịu hậu quả nặng nề vì dám lên tiếng tố cáo việc sách nhiễu tình dục. Bà Lee Eun-eui, một luật sư đã thành công trong một vụ kiện chống lại công ty Samsung về một vụ sách nhiễu tình dục hồi năm 2008, nói rằng có đến 80 phần trăm các thân chủ của bà than phiền về việc bị kỳ thị và sách nhiễu trong sở làm. Sau khi lên tiếng, nhiều người bị dán cho nhãn hiệu “đào mỏ”, bị nhục mạ trên các trang mạng xã hội và ngay cả bị chính các bị cáo tố ngược lại. Bà Lee tự hỏi: “Ai còn có đủ can đảm để lên tiếng?”
Có thể người dân Nam Hàn không bị kiểm duyệt chặt chẽ như người dân Trung Cộng. Nhưng công khai ủng hộ quyền của người phụ nữ vẫn còn là một việc làm nguy hiểm tại nước này. Một số phụ nữ đã phải mang mặt nạ trong các cuộc biểu tình, vì họ sợ các dữ kiện cá nhân của mình có thể bị tiết lộ cho công chúng. Họ sợ bị mất việc, sợ bị theo dõi hay ngay cả bị tấn công bằng a xít.
Nhưng dù có phải dấu mặt trong các cuộc biểu tình, số người tham gia ngày càng gia tăng. Dạo tháng Tám vừa qua, đã có trên 40.000 người phụ nữ tham gia một cuộc biểu tình chống lại phim khiêu dâm trên các trang mạng xã hội. Cũng trong tháng Tám, 20.000 người phụ nữ đã tuần hành trên các đường phố tại Thủ đô Seoul để phản đối vụ một chính trị gia hàng đầu đã được tha bổng về những cáo buộc hãm hiếp.
Nhìn chung, dù phải gánh chịu những hậu quả khó lường trước được, số người phụ nữ lên tiếng tố cáo về các hành vi sách nhiễu và lạm dụng tình dục tại Á Châu ngày càng nhiều. Họ muốn thay đổi nhận thức của xã hội về nạn nhân của sách nhiễu và lạm dụng tình dục, như bà Seo đã nói với tạp chí Time: “Văn hóa Nam Hàn muốn các nạn nhân phải hành động như nạn nhân, nghĩa là phải luôn luôn chịu đau khổ, than khóc và không được sống hạnh phúc. Tôi muốn cho thấy hình ảnh của một nạn nhân hạnh phúc và đầy tin tưởng”.


(nguồn:
-http://time.com/longform/me-too-asia-china-south-korea/
-https://edition.cnn.com/2018/10/10/asia/india-metoo-intl/index.html)

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

Nhớ cố Nhạc sĩ Tô Hải


2/11/18
Dư luận trong và ngoài nước đang tiếp tục bàn tán xôn xao về việc Đảng Cộng Sản Việt Nam “kỷ luật” Giáo sư tiến sĩ Chu Hảo vì hành vi gọi là “vi phạm những điều đảng viên không được làm”. Vì bị kỷ luật cho nên ông này đã tuyên bố bỏ Đảng.
Theo Tự Điển Bách Khoa Mở, ông Chu Hải, sinh năm 1940, là một nhà trí thức nổi tiếng tại Việt Nam. Ông đã từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ từ năm 1996 đến năm 2005. Khi bị Đảng “kỷ luật”, ông đang là Giám  đốc Nhà xuất bản Tri Thức và Phó hiệu trưởng Đại học Phan Châu Trinh. Cũng theo Tự Điển Bách Khoa Mở, ông Hảo bị “kỷ luật” vì có những bài viết, phát ngôn có nội dung trái với Cương lĩnh chính trị, điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Theo cách nói quen thuộc của người Cộng sản, ông Chu Hảo được cho là đã “tự diễn biến” hay “tự chuyển hóa”, nghĩa là có “những bài viết, phát ngôn có nội dung trái với Cương lĩnh chính trị, điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.
Thật ra hành động “tự diễn biến” của ông Chu Hảo chỉ mới xảy ra trong thời gian gần đây. Cách đây vài năm, cùng với 128 người, gồm trí thức và đảng viên kỳ cựu, ông Chu Hảo đã ký tên vào một lá thư ngỏ gởi đến Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương khóa XI, các đại biểu tham dự Đại hội lần thứ 12 và toàn thể đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam để yêu cầu “đổi tên đảng, đổi tên nước, trả tự do cho những người khác chính kiến đang bị giam giữ, chấm dứt trấn áp và ngăn chặn nhân dân thực hiện quyền tự do dân chủ theo Hiến Pháp”.
Vì bị kỷ luật cho nên ông Chu Hảo đã tuyên bố ra khỏi Đảng. Không cần hay chưa kịp bị kỷ luật, một số đảng viên cốt cán như giáo sư về giáo dục  Mạc Văn Trang và nhà văn Nguyên Ngọc cũng đã công khai tuyên bố hay âm thầm rút tên ra khỏi Đảng. Trước đó khoảng một năm, một đảng viên kỳ cựu khác là ông Lễ Văn Hòa, cựu Vụ trưởng của Ban Nội Chính Trung Ương cũng đã tuyên bố từ bỏ Đảng. Tính tới ngày 29 tháng Mười vừa qua, đã có ít nhất 13 người tuyên bố “từ đảng”
Mẫu số chung của các đảng viên này là tuổi đảng của họ. Phần lớn đều đã là đảng viên trên dưới 50 năm. Trong suốt chiều dài lịch sử ấy, với tư cách là đảng viên, chắc chắn họ đã góp phần tuyên truyền, xây dựng và củng cố chế độ Cộng Sản tại Việt Nam. Nếu không trực tiếp hay gián tiếp góp phần vào tội ác của chế độ Cộng Sản, họ cũng đã im lặng đồng lõa trước bao nhiêu tội ác của chế độ độc tài tàn bạo này.
Có người muốn biện hộ cho “thiện chí” của một số đảng viên kỳ cựu: họ muốn “ở lại” trong Đảng là “để hiểu Đảng, có thông tin về Đảng, thì mới mong thắng nó”. Blogger Đoan Trang đã trả lời: “Đảng cộng sản chẳng đổi mới được đâu. Đến những nhân viên an ninh hạng bét mà mình gặp còn cười khẩy khi nói về các loại thư ngỏ, thư riêng, đơn từ kiến nghị của các đồng chí đảng viên lão thành, thì chứng tỏ Đảng chẳng coi những tâm huyết, những lời gan ruột đó của các đồng chí ra cái quái gì... chưa cho nếm mùi đàn áp đã là trân trọng các đồng chí lắm rồi đấy!”
Tựu trung, nhiều người vẫn cố gắng phân biệt: có loại đảng viên tốt, có loại đảng viên xấu. Thật ra, như Hội đồng Nghị viện của Ủy hội Châu Âu đã tuyên bố trong Nghị quyết 1481 được cho công bố hồi năm 2006, Cộng Sản là một chủ nghĩa tự bản chất là đồi bại, xấu xa; chủ nghĩa này đã phạm tội ác chống lại nhân loại. Ngoại trừ một số đảng viên Cộng sản đang sống trong một nước dân chủ tự do chỉ chủ trương làm cách mạng trong “phòng khách”, còn tại tất cả những nước đã bị Chủ nghĩa Cộng Sản nhuộm đỏ bằng máu của người dân vô tội, không thể là đảng viên mà không ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp nhúng tay vào tội ác hay im lặng đồng lõa trước tội ác
Nếu còn có chút lương tri, tất cả những ai đã từng cúc cung phục vụ Chế độ Cộng sản, hãy có đủ khiêm tốn và sám hối để tuyên bố như cố Nhạc sĩ Tô Hải: Tôi là một “Thằng Hèn”.

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

Bạo lực là biểu hiện của sự yếu nhược



Chu Thậ
26/10/18
Lúc nhỏ tôi thích đánh lộn. Nhà nghèo, thiếu ăn, nhưng nhờ có sức chịu đựng, dẻo dai cho nên tôi chẳng chịu thua bất cứ đối thủ nào. Hễ có khiêu khích thì cho dù đối phương có to con cỡ nào tôi cũng nhào vô húc. Mà đánh đâu thắng đó cho nên tôi giữ chức “cầm đồng” trong cả xóm, cả làng.
Thời đó, tức những năm đầu của thập niên 1950, phim chưởng hay võ thuật chưa xâm nhập vào thị trường Việt Nam. Trong các rạp “xi nê” chỉ có phim ca vũ nhạc  Ấn Độ, quỷ nhập tràng của Phi Luật Tân và cao bồi “viễn tây” của Mỹ. Người hùng của lũ trẻ chúng tôi dĩ nhiên chỉ có thể là mấy tay cao bồi bắn đâu trúng đó và thọi ai thì người đó gục. Tôi được hun đúc với thứ triết lý sống: tất cả mọi vấn đề đều có thể và phải được giải quyết bằng cơ bắp và súng đạn, nghĩa là bằng bạo lực.
Không ngờ triết lý ấy lại đeo đuổi tôi suốt đời. Phải có những lúc hồi tâm, dùng lý trí để suy nghĩ, dùng trái tim để cảm thông, tôi mới nhận thấy rằng bạo lực chỉ là biểu hiện của sự yếu nhược. Ngoài ra, càng thêm tuổi, tôi cũng càng ý thức rằng một người có tư cách và trưởng thành không thể xem bạo lực như biểu hiện của một sức mạnh đích thực. Tôi càng thêm tuổi thì người hùng của cơ bắp và súng đạn cũng càng mờ nhạt đi để nhường chỗ cho những mẫu người biết xây dựng hòa bình và tranh đấu bằng con đường bất bạo động. Một sự tiến hóa như thế có lẽ không chỉ đúng cho  cá nhân tôi, mà cũng áp dụng cho toàn thể nhân loại. Con người ngày càng  vươn lên từ bạo lực đến hòa bình. Đi ngược lại sự tiến hóa ấy là tự kết án vào chỗ chết.
Thời còn ăn lông ở lỗ, con người xem bạo lực như khí giới duy nhứt để chống đỡ với kẻ thù. Để chống chọi với thiên nhiên trong đó các loài thú dữ lúc nào cũng rình rập để cắn xé hoặc các bộ tộc khác vốn luôn cạnh tranh và đe dọa, con người không có một sự chọn lựa nào khác hơn là dùng sức mạnh của cơ bắp để sống còn.
Nhưng qua tiến trình tiến hóa, con người ngày càng trở nên văn minh hơn. Họ biết liên kết với nhau để xây dựng những nền tảng chung, luật lệ chung cũng như học biết cái hay cái mới và từ đó biết tránh xung đột và bạo lực không cần thiết. Tuy nhiên, cũng như trong đời sống của một cá nhân, sự trưởng thành của nhân loại cũng gập ghềnh không kém. Bạo lực vẫn tiếp tục xen vào ý thức và khát vọng hòa bình của con người. Lịch sử của nhân loại dường như cũng là lịch sử của chiến tranh. Trước Thế kỷ 20, thế giới đã bị cày xéo bởi không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh. Trong Thế kỷ 20, hai cuộc đại chiến, những cuộc nội chiến, những cuộc diệt chủng đã diễn ra ở mức độ tàn khốc chưa từng thấy. Từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, mức độ bạo lực trong thế giới có giảm đi nhiều, nhưng bạo lực vẫn còn tiềm ẩn trong trái tim con người, ngay cả trong những nước dân chủ và văn minh. Hoa Kỳ là một trường hợp điển hình. Theo thống kê, chỉ trong năm 2015, có đến 372 vụ xả súng bắn người hàng loạt, khiến cho 475 người bị thiệt mạng và gần 2 ngàn người bị thương. Tính theo tỷ lệ, số người bị giết vì súng đạn tại Hoa Kỳ nhiều gấp 30 lần so với Anh quốc. Từ năm 1968 đến năm 2011, tại Hoa Kỳ có không dưới 1.4 triệu người chết vì súng đạn, trong khi đó chỉ có 1.2 triệu người chết vì chiến tranh nếu tính  từ cuộc chiến giành độc lập (1776) cho đến cuộc chiến tại Iraq. Các tội phạm mang tính bạo lực, từ giết người, hiếp dâm, cướp bóc và bạo hành, chỉ trong năm 2015 thôi, đã lên đến 1.25 triệu vụ.
Ông bà ta dạy: gần mực thì đen gần đèn thì sáng. Bạo lực có tính lây lan. Lúc nhỏ, lũ trẻ nhà quê  chúng tôi thường bị các bà mẹ la rày về chuyện “tùng tam tụ ngũ” với nhau để “phá xóm phá làng”, để đánh nhau với các “băng đảng” của những xóm khác. Băng đảng hay bè bạn nói chung là mảnh đất tốt để làm phát sinh và nuôi dưỡng bạo lực. Cũng như lòng vị tha và sự tử tế có thể mang lại niềm vui cho người thọ ơn lẫn kẻ thi ơn thì người gây bạo lực và chính nạn nhân của bạo lực cũng thường làm cho bạo lực bùng cháy như lửa. Theo kết quả của một số cuộc nghiên cứu được thực hiện hồi năm 2016, thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ thường gây bạo lực nếu một trong những người bạn của họ đã phạm tội. Điều này cho thấy những người nghĩ đến bạo lực hay sử dụng bạo lực thường tìm đến nhau và ngày nay các mạng lưới xã hội đã vô tình trở thành nơi dung dưỡng bạo lực. Một khi bạo lực bắt đầu với các mạng lưới này, nó có nguy cơ lan rộng đến toàn thể các thành viên của mạng lưới.
Bạo lực lại càng lây lan hơn nếu nó được một nhân vật có thế giá và ảnh hưởng trong xã hội cổ võ. Dạo tháng Năm năm vừa qua, trong một cuộc tranh cử bổ túc tại Tiểu bang Montana, khi bị ký giả Ben Jabobs của báo the Guardian của Anh chất vấn, dân biểu Greg Gianforte, thuộc Đảng Cộng Hòa, đã có hành vi bạo động xúc phạm đến thân thể của người ký giả này. Mặc dù đắc cử, dân biểu này vẫn bị tòa phạt 40 giờ phục vụ cộng đồng và 20 giờ học tập để biết kiềm chế sự giận dữ. Có thể trong một lúc nóng giận, vì thiếu tự chủ, vị dân biểu này đã có hành vi nông nổi như thế. Nhưng điều đáng suy nghĩ là mới đây, hôm 18 tháng Mười vừa qua, tại một cuộc tập trung vận động bầu cử tại Thành phố Missoula, Tiểu bang Montana, Tổng thống Donald Trump đã hô hào đám đông hãy dồn phiếu cho dân biểu Gianforte. Nhắc lại cử chỉ bạo động của dân biểu Gianforte hồi năm trước, Tổng thống Trump đã ca ngợi ông này là một “người vĩ đại” (a great guy). Tổng thống còn nói: “bất cứ ai có thể “thượng cẳng chân hạ cẳng tay”, đều là mẫu người của tôi” (Any guy that can do a body slam - he’s my kind of guy). Điều đáng lo ngại hơn là sau lời “ca ngợi” trên đây của Tổng thống Trump, đám đông đã vỗ tay reo hò! Đám đông đã cuồng nhiệt tán thưởng một hành vi bạo động cũng như một lời nói cổ võ bạo động.
Dĩ nhiên, trong một xã hội văn minh như Hoa Kỳ, không những cử chỉ bạo động của dân biểu Gianforte là một hành vi đáng trách, mà việc một tổng thống công khai cổ võ cho bạo động lại càng đáng lên án hơn. Khi được hỏi về thái độ của Tổng thống Trump, một nữ phát ngôn viên của Thủ tướng Anh Theresa May đã trả lời: “Bất cứ một hành vi bạo động hay đe dọa nào chống lại một ký giả cũng đều là điều không thể chấp nhận được”. Tại Hoa Kỳ, nhiều ký giả đã đồng loạt lên tiếng về thái độ của Tổng thống Trump. Thông tín viên của báo the New York Times đã viết trên Twitter: “Gianforte là người có hành vi phạm pháp. Ông đã nhận tội. Nhưng tổng thống lại đi ca ngợi một kẻ phạm pháp về hành động phạm pháp này”. Ký giả Sheryk Gay Stolberg, cũng của báo The New York Times, viết rằng “đây là lần đầu tiên một tổng thống đã công khai và trực tiếp ca ngợi một hành vi bạo động chống lại một ký giả trên đất Mỹ”.
Nhận định của chủ bút báo the Guardian, bà Katharine Viner, lại càng đáng suy nghĩ hơn: “Vào giữa lúc các ký giả trên khắp thế giới đang bị sách nhiểu, bắt giữ và ngay cả bị giết chết, đây là những  lời (lời khen ngợi của tổng thống Trump dành cho dân biểu Gianforte) vô cùng thiếu trách nhiệm. Đó là một cái tát vào mặt tự do báo chí và gởi đi một thông điệp nguy hiểm cho các nhà chuyên chế và độc tài trên khắp thế giới”.
Nhận định trên đây của chủ bút báo the Guardian không thể không gợi lại cái chết bi thảm của ký giả Jamal Khashoggi, người bị sát hại ngay trong tòa lãnh sự của Vương quốc Á rập Saudi tại Thổ Nhĩ Kỳ. Cái chết của ký giả Khashoggi đã phơi bày một bộ mặt đáng sợ của thế giới ngày nay: nhiều chính phủ chuyên chế và chế độ độc tài hiện đang công khai sử dụng bạo lực để bịt miệng, đàn áp và ngay cả tiêu diệt bất cứ một tiếng nói bất đồng chính kiến nào. Đáng sợ hơn chính là sự im lặng đồng lõa của chính các chế độ tự nhận là dân chủ trước cách hành xử bạo lực này.
Thật ra, bạo lực, nhứt là bạo lực của những kẻ có quyền, lúc nào cũng là biểu hiện của sự yếu nhược và sợ hãi.  Chính vì sợ hãi mà con người có hành vi bạo lực, trong lời nói cũng như hành động, đối với người khác.
Triết lý nhân sinh của Lão Tử (600-500 trước Công nguyên) gợi lên cho tôi một sức mạnh khác. Theo truyền thuyết, lúc nhỏ Lão Tử thụ giáo với một lão sư tên là Thường Tung. Khi Lão Tử trưởng thành thì cũng là lúc vị lão sư đã già yếu. Một hôm, biết thày mình không còn sống bao lâu nữa, Lão Tử đã tiến đến bên cạnh giường của thày và hỏi: “Xem ra thày khó qua khỏi. Dám bạch thày còn điều gì để dạy bảo con không?”
Lão sư Thường Tung không nói gì mà chỉ há miệng ra cho Lão Tử xem, rồi lấy tay chỉ vào miệng và thều thào hỏi: “Lưỡi của ta còn không?” Không hiểu thày mình muốn nói gì, Lão Tử hỏi lại: “Phải chăng thày đã bệnh đến mức lẫn rồi sao? Sao thày lại hỏi như thế? Không còn lưỡi thì sao thày có thể nói chuyện được?”
Vị lão sư lại hỏi tiếp: “Thế răng của ta còn không?” Vẫn chưa hiểu được ý của thày, Lão Tử trả lời: “Thưa thày, răng của thày rụng hết rồi ạ”
Lão sư Thường Tung hỏi thêm: “Thế con có biết vì sao ta không còn răng không?” Ngẫm nghĩ một giây lát Lão Tử thưa: “Thưa thày, bởi vì lưỡi của thày mềm nên còn. Răng rụng bởi vì răng cứng, có phải vậy không thưa thày?
Lão sư khẽ gật đầu rồi nhắm mắt.
Về sau, nhớ lại bài học của lão sư Thương Tung, Lão Tử đã viết trong “Đạo Đức Kinh” rằng “nhu thắng cương, nhược thắng cường”. Ông lấy sức mạnh của nước  để minh họa: không gì mềm yếu hơn nước, vậy mà nước lại có thể công phá được mọi thứ cứng rắn nhứt.
Ngày nay, sau cuộc tranh đấu bất bạo động của Mahatma Gandhi tại Ấn Độ và rất nhiều cuộc cách mạng bất bạo động tại nhiều nơi trên thế giới, sức mạnh mềm thường được nhắc tới. Hiểu một cách đơn giản, sức mạnh mềm chính là sức mạnh của bất bạo động, của tình thương, của lòng vị tha, của sự tử tế, của tinh thần khoan nhượng, của cảm thông, của tha thứ...Tương lai của thế giới tùy thuộc vào sức mạnh mềm ấy và dĩ nhiên sự trưởng thành thực sự và định mệnh của mỗi một con người cũng tùy thuộc vào sức mạnh mềm ấy.