Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

Chuyện nhỏ, nhân cách lớn



Chu Thập
12/10/18
Ông Đỗ Mười đã ra đi hồi đầu tháng Mười vừa qua. Về ông, cũng như đối với tất cả các lãnh tụ cộng sản khác, dĩ nhiên người ta chỉ nghĩ đến tội ác. Một người thuộc bên “thua cuộc” như tôi làm sao quên được chiến dịch đánh tư sản, những năm sống dở chết dở của không biết bao nhiêu người ở những nơi được gọi là vùng kinh tế mới và nhứt là những năm tháng “khoai củ trần ai” và bo bo.
Trong các lãnh tụ cộng sản Việt Nam, có lẽ ông Đỗ Mười là người đã tạo được những ấn tượng sâu đậm nhứt trong ký ức của người Việt Nam. Có người, hễ nhắc đến tên ông, là nhớ ngay đến cái nghề hoạn lợn (miền tôi gọi là thiến heo) ở thuở hàn vi của ông. Không biết sau này khi phú quý sinh lễ nghĩa, ông có nuôi thú kiểng không. Nhưng kể ra heo và đặc biệt heo đực là giống thú thật may mắn: nhắc đến Đỗ Mười là phải nghĩ đến Trư Bát Giới!
Riêng tôi, cứ mường tượng đến dung mạo  của ông Đỗ Mười, tôi lại nghĩ đến “mái tóc rẽ ngôi kinh điển” của ông. Phải nói đây là nét độc đáo nhứt trên khuôn mặt mà có lẽ do bị ám ảnh, tôi cứ nghĩ nó phải là biểu tượng của sự gian ác. Trên báo mạng Đàn Chim Việt.info, số ra ngày đầu tháng Mười vừa qua, tôi đọc được một ấn tượng của tác giả ký tên là Nguyễn Thu về mái tóc của ông Đỗ Mười: “Đồng chí có mái tóc rẽ ngôi kinh điển, được dân nuôi chó (thời mà dân thành phố phải vật lộn làm kinh tế qua các trào lưu từ nuôi lợn đến nuôi chó cảnh, gà úm, chim cút...trong phòng ngủ, phòng khách) lấy làm ví dụ để rỉ tai khuyên nhau: Chó Nhật giống tốt là phải có quả đầu Đỗ Mười”
(x.http://www.danchimviet.info/vai-an-tuong-cua-toi-ve-do-muoi/).
Nhà tôi hiện cũng đang có một con chó Nhật. Kể từ lúc đọc được “lời khuyên” trên đây, tôi hay nghĩ đến cái trò ma mãnh của cậu chó nhà tôi. Nó cũng là chó Nhật, nhưng là Nhật lai cũng đã mấy đời rồi. Người chủ cũ bảo nó là giống chó săn. Không bé bỏng như giống chó kiểng bị nhốt trong nhà suốt ngày. Cũng không bề thế như giống “bẹc rê” (berger). Vốn là dòng dõi chó săn cho nên nó rất hung hăng: hễ cứ thấy có một đối thủ, bất kể lớn bé, nó liền xáp lại tấn công. Còn riêng bất cứ loài có cánh nào, hễ thấy là cậu ta liền rượt đuổi cho bằng được. Chỉ mới về ở với chúng tôi một thời gian ngắn, nó đã lập được một thành tích bất ngờ: hôm đó, một lũ gà lôi rừng (bush turkey), ăn quen cứ nhởn nhơ trong vườn nhà tôi như chỗ không người. Cậu chó nhà tôi được dịp lập công ngay. Nhanh như chớp, nó rượt đuổi và dồn một chị gà rừng vào một góc sân và chỉ cần một cú đớp đã ngoạm con vật vào miệng. Tôi đã chạy tới can thiệp, nhưng quá muộn. Sợ bị rắc rối về “tội ác” của cậu chó, nhưng tôi cũng cảm thấy hả dạ: kể từ nay,mình đã có thủ hạ đắc lực để loại trừ bọn “xâm phạm gia cư bất hợp pháp”!
Ngày nay, hầu như ở đâu người ta cũng thấy những lợi ích của việc nuôi chó. Riêng tôi, lúc nào cũng nghĩ đến trước mắt một lợi ích rất cụ thể: chó giúp tôi đuổi gà lôi rừng ra khỏi vườn nhà tôi. Nhưng phải mất bao công lao và dày công tập luyện, cậu chó nhà tôi mới được thuần nhuyễn trong việc đuổi gà. Theo sách vở và kinh nghiệm, để tập được một thói quen, chó phải luôn được thưởng và thưởng bằng những món ăn nó thích. Bảo nó nằm xuống, phải cho nó ăn. Bảo nó đứng lên, phải cho nó ăn. Và dĩ nhiên, ra dấu cho nó chạy đuổi mấy con gà lôi rừng, lại càng phải tưởng thưởng nó nhiều hơn. Phản xạ có điều kiện của Pavlov đã được ứng dụng một cách có hiệu quả nhứt với cậu chó nhà tôi. Lệnh đuổi gà của tôi và phần thưởng gắn liền với nhau. Và đây chính là sự liên hệ khiến tôi nghĩ đến sự ma mãnh của nó.
Ban ngày cậu chó nhà tôi thường ở trong khu nhà giặt được tôi biến thành gia cư của cậu. Cứ thấy tôi xuất hiện, cậu liền chạy ra  vườn nhìn quanh quẩn một lúc rồi mới  đi tìm mấy con gà lôi rừng. Sau một vòng tảo thanh, cậu chạy về và ứ ứ trong miệng bằng một thứ ngôn ngữ mà tôi hiểu ngay là cậu đòi được thưởng. Nhiều hôm, gà xuất hiện trong vườn, trong tầm nhìn của cậu, nhưng cậu chỉ lõ mắt nhìn chớ không tha thiết gì đến chuyện rượt đuổi. Phải chờ tôi xuất hiện cậu mới xăng xái làm việc và lần nào cũng vậy, sau khi làm bổn phận cậu đòi phải được thưởng.
Kể từ khi có chó trong nhà, tôi học hay đúng hơn nhớ lại nhiều bài học. Ai cũng biết chó là biểu tượng của sự trung thành và biết ơn. Chó luôn nhắc nhở tôi về hai đức tính căn bản ấy trong trường học làm người. Ngoài ra, một bài học cơ bản khác không thể thiếu trong cuộc sống mà tôi cũng học được từ cậu chó nhà tôi là: cần phải tập luyện liên tục tôi mới có được một thói quen tốt và dĩ nhiên, nếu thường xuyên lập lại một điều không tốt, tôi cũng vướng vào một thói quen xấu.
Văn ôn võ luyện. Ngoại trừ những thần đồng, chẳng có ai đạt được một nghệ thuật nào đó mà không dày công tập luyện. Một nhân cách tồi tệ cũng thường được nhào nặn từ những thói quen xấu. Ngạn ngữ Pháp nói một cách chí lý: nhỏ ăn cắp một cái trứng lớn sẽ ăn cắp một con bò (qui vole un oeuf volera un boeuf).
Trong cuốn phim “The Iron Lady” (Bà đầm sắt) được trình chiếu hồi năm 2011, nhà đạo diễn đã đặt lên môi của nữ Thủ tướng Anh Margaret Thatcher (1925-2013) câu nói: “Hãy coi chừng tư tưởng của bạn, vì nó sẽ trở thành lời nói. Hãy coi chừng lời nói của bạn, vì nó sẽ trở thành hành động. Hãy coi chừng hành động của bạn, vì nó sẽ trở thành thói quen. Hãy coi chừng thói quen của bạn, vì nó sẽ trở thành tính khí của bạn. Hãy coi chừng tính khí của bạn, vì nó sẽ trở thành định mệnh của bạn.” Bà Thatcher bảo rằng thân phụ của bà luôn dạy bà điều đó. Thật ra, trước cha của bà Thatcher, có lẽ  Mahatma Gandhi, người đã giải phóng Ấn Độ khỏi sự đô hộ của người Anh bằng cuộc đấu tranh bất bạo động, là người đầu tiên đã nói lên điều đó.
Nhưng dù ai là tác giả của câu nói này, kinh nghiệm bản thân luôn cho tôi thấy rằng bất cứ thói quen, tốt hay xấu nào, cũng đều là một sự lập lại của những điều thường được xem là nhỏ nhặt trong cuộc sống và một khi đã biến thành một nếp nghĩ hay tính khí, nó không thể không ảnh hưởng đến những chuyện lớn trong cuộc sống của tôi. Chính Chúa Giêsu đã dạy tôi điều đó: “Ai trung thành trong việc nhỏ cũng sẽ trung thành trong việc lớn và ai không lương thiện trong việc nhỏ cũng sẽ không lương thiện trong việc lớn” (x. Tin mừng theo thánh Luca 16, 11,12).
Tôi thường suy nghĩ về lời dạy của Chúa Giêsu khi theo dõi thế sự. Gần đây có cuộc chuẩn thuận một thẩm phán vào Tối cao Pháp viện ở Mỹ. Đây là cơ quan luật pháp có uy tín nhứt tại nước này. Người được Thượng viện chuẩn thuận phải là một người có đầy đủ tư cách và đáng tin tưởng. Việc chuẩn thuận ông Brett Kavanaugh là một trong những tiến trình gay go nhứt trong lịch sử Hoa Kỳ. Theo dõi diễn tiến, ai cũng thấy đây là một cuộc đấu đá giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa và cuối cùng đảng Cộng Hòa cùng với Tổng thống Donald Trump đã chiến thắng hơn là cuộc đối đầu giữa ông Kavanaugh và  Tiến sĩ Christine Blasey Ford, người đã tố cáo ông  có hành vi xâm phạm tình dục đối với bà cách đây 35 năm. Một bên tố cáo, một bên phủ nhận. Ngoại trừ thái độ xem ra rất thành thật của bà Ford khi cung khai sự kiện, không có bằng chứng hiển nhiên nào để buộc tội ông Kavanaugh. Và dĩ nhiên, sự phủ nhận của ông Kavanaugh cũng không kém phần thuyết phục. Ai nói thật, ai khai gian, chỉ có lương tâm họ mới biết mà thôi.
Chỉ có điều khiến tôi lo ngại là cung cách của người đã được Thượng viện chuẩn thuận làm thẩm phán của Tối cao Pháp viện. Trong một bài diễn văn đọc hồi năm 2015, Thẩm phán liên bang Kavanaugh đã từng đưa ra nguyên tắc: “Để làm một thẩm phán tốt và một trọng tài tốt, cần phải là người có tư cách”. Ông giải thích: “Cần phải làm chủ được cảm xúc của mình. Cần phải bình tĩnh giữa bão táp. Nói tóm lại, nói theo ngôn ngữ bình dân, đừng tỏ ra ngu xuẩn”. Quả là những lời lẽ khôn ngoan của một thẩm phán có tư cách. Nhưng trong cuộc đối đầu với bà Ford trước Ủy ban Tư pháp của Thượng viện, ông đã hành động hoàn toàn ngược lại với nguyên tắc này. Là một thẩm phán, nhứt là sẽ làm thẩm phán Tối cao Pháp viện, lẽ ra ông không được đứng về phía đảng phái nào. Đàng này, ông lại trút hết cơn giận dữ lên Đảng Dân Chủ và khẳng định rằng đảng này muốn trả thù ông. Ông lại có thái độ khiếm nhã khi bị Thượng nghị sĩ Amy Klobuchar chất vấn về việc uống bia của ông khi còn là một học sinh trung học.
Ngoài thái độ hằn học trên đây, Thẩm phán Kavanaugh cũng không thành thật trong lời khai của mình, nhứt là về chuyện uống bia thời còn đi học. Ông khai: “Tôi thích uống bia.Tôi vẫn thích bia. Nhưng tôi không hề uống bia đến độ say xỉn”. Nhưng trong bài diễn văn tại Đại học Yale hồi năm 2014, ông đã kể lại những ngày nhậu nhẹt đến độ “té xuống khỏi xe buýt trước cửa Phân khoa Luật của Đại học Yale vào lúc 4 giờ 45 phút sáng”.
Về tuổi hợp pháp để được uống rượu, ông khai trước Ủy ban Tư pháp Thượng viện: “Tuổi được phép uống rượu tại Tiểu bang Maryland là 18 trong suốt thời gian tôi học trung học”. Thật ra, vào năm 1982, khi ông được 17 tuổi, tức năm bà Ford tố cáo ông đã tấn công tình dục bà, tuổi được cho phép uống rượu tại Maryland là 21.
Trên đây chỉ là những chuyện nhỏ. Ai cũng có thể tỏ ra thiếu thành thật và thiếu lương thiện như thế trong chuyện nhỏ. Nhưng với một người sẽ cầm cân nẩy mực và một quyết định của người đó có thể liên quan đến cuộc sống của hàng triệu người, thì xem ra những lời nói dối nhỏ như thế không còn là chuyện nhỏ nữa.
Chính vì thái độ hằn học thiếu tự chủ của ông Kavanaugh và những lời nói dối nhỏ của ông mà một cựu thẩm phán của Tối cao Pháp viện là ông John Paul Stevens đã khuyên Thượng viện đừng chuẩn thuận ông. Thẩm phán Stevens là người thuộc Đảng Cộng hòa. Thường các cựu thẩm phán không có ý kiến về việc chuẩn thuận hay không chuẩn thuận một thẩm phán vào Tối cao Pháp viện. Nhưng ông Stevens đã tuyên bố: “Tôi thay đổi cái nhìn của tôi về những lý do không có liên hệ đến khả năng trí thức hay thành tích của một thẩm phán liên bang...Tôi nghĩ rằng thái độ của ông (Kavanaugh) trong lời cung khai đã khiến tôi thay đổi ý kiến”.
Báo Time, số ra ngày 15 tháng Mười này, đã dành một bài để nói về những “bài học lâu dài” từ lời khai của Tiến sĩ Ford. Riêng tôi, khi theo dõi thế sự, chỉ muốn ôn lại một bài học: sống lương thiện là một cuộc thao luyện hàng ngày xuyên qua những suy nghĩ, những hành vi nhỏ nhặt không ai biết trong cuộc sống. Bởi nếu tôi không lương thiện trong tư tưởng, tôi cũng sẽ không lương thiện trong lời nói. Nếu tôi không lương thiện trong lời nói, tôi cũng sẽ không lương thiện trong hành động. Và một khi hành động thiếu lương thiện biến thành thói quen, thì nếu tôi không đi tới chỗ làm chuyện gian dối thì tôi cũng đánh mất chính tôi, cái tôi của “nhân chi sơ tính bản thiện”.




Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018

Yazidi: thân phận người phụ nữ bị bắt làm nô lệ tình dục



12/10/18
Giải Nobel Hòa Bình năm nay đã được trao cho hai người là bác sĩ Denis Mukwege và một thiếu nữ người Yazidi là cô Nadia Murad.
Ông Mukwege là một bác sĩ phụ khoa chuyên chữa trị các nạn nhân của bạo động tình dục tại Cộng hòa Dân chủ Congo, Phi Châu. Còn cô Murad, một nô lệ tình dục đã thoát khỏi tay của các các chiến binh “Quốc gia Hồi giáo” (ISIS), đã can đảm lên tiếng tố cáo tội ác chiến tranh của tổ chức khủng bố này và nhứt là phơi bày trước thế giới thảm cảnh của những phụ nữ bị bắt làm nô lệ tình dục. Chủ tịch Ủy ban Giải Nobel nói rằng hai người này được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình vì “nỗ lực của họ trong việc chấm dứt việc sử dụng bạo hành tình dục như một vũ khí trong chiến tranh và xung đột có vũ trang. Cả hai đều đã có một đóng góp lớn lao vào việc gây ý thức và chống lại những tội ác chiến tranh như thế”.
Riêng cô Nadia Murad, năm nay 25 tuổi, qua cuộc tranh đấu của mình, đã gây được sự chú ý của thế giới trước thân phận của người phụ nữ Yazidi bị các chiến binh của Quốc gia Hồi giáo bắt làm nô lệ tình dục.
Thảm cảnh đã ụp xuống người phụ nữ Yazidi vào ngày 2 tháng Tám năm 2014. Đó là một ngày lễ nghỉ tại huyện Sinjar, miền Bắc Iraq. Hôm đó những người thuộc sắc tộc Yazidi họp nhau để mừng ngày chấm dứt tháng chay tịnh của người Hồi giáo. Hôm đó là một ngày nóng bức. Nhiệt độ lên đến 40 độ C. Nhiều người phải đợi cho đến hoàng hôn mới ra khỏi nhà. Nhưng hôm đó, khi mặt trời vừa lặn, người dân Sinjar thấy có những chiếc xe lạ xuất hiện. Dự đoán bất trắc có thể xảy ra, những người đàn ông cầm súng chạy ra các ruộng lúa để kiểm soát.
Đây không phải là lần đầu tiên họ thấy có những chiếc xe lạ như thế. Cách đó 2 tháng, họ cũng đã thấy cả một đoàn công voa xe lạ xuất hiện trước khi thành phố Mosul, thủ phủ của tỉnh Nineveh mà Sinjar là một huyện nhỏ, rơi vào thay của Quốc gia Hồi giáo. Mosul cách Sinjar 120 cây số về hướng Đông. Sau Mosul hàng loạt những thành phố khác cũng rơi vào tay tổ chức khủng bố này. Cả 4 tiểu đoàn thuộc quân đội Iraq cũng đã tháo chạy. Riêng tiểu đoàn thứ ba mà nhiều binh sĩ là người Yazidi, vốn đồn trú tại Sinjar. Như vậy, Sinjar hoàn toàn bỏ trống, để mặc cho người dân đứng ra tự vệ.
Sau khi chiếm Mosul, Quốc gia Hồi giáo đã  phóng thích cho các tù nhân Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni bị giam giữ trong nhà tù Badoush. Riêng đối với các tù nhân thuộc hệ phái Shiite, họ đã xử tử 600 người. Phần lớn khí giới mà các phiến quân của Quốc gia Hồi giáo sử dụng đều là khí giới và thiết bị được tịch thu từ các căn cứ quân sự của Iraq. Các binh sĩ Iraq vứt bỏ quân phục và khí giới để thoát thân. Nửa triệu thường dân chạy trốn về hường Bắc và hướng Đông. Chỉ trong một tuần lễ, một phần ba lãnh thổ Iraq bị Quốc gia Hồi giáo kiểm soát. Huyện Sinjar, với dân số khoảng 300.000 người, đã đầu hàng. Một vài tuyến đường vẫn còn nằm trong sự kiểm soát của quân đội Kurd ở miền Bắc, nhưng phải mở đường máu may ra mới có thể đến được những tuyến đường này.
Một phần miền Bắc Iraq là một vùng bán tự trị, được đặt dưới sự cái trị của người Kurd và được quân đội Peshmerga của họ bảo vệ. Peshmerga, trong tiếng Kurd, có nghĩa là “những người dám đương đầu với tử thần”. Danh hiệu này nói lên sự dũng cảm của người Kurd trong cuộc chiến đấu chống lại đàn áp và ngoại xâm. Tại vùng đông nam của lãnh thổ bán tự trị này, vốn giáp giới với Iran, quân đội Peshmerga của người Kurd đã từng đụng độ với các chiến binh của Quốc gia Hồi giáo. Nhưng tại huyện Sinjar, ngoại trừ các dân quân người Yazidi, không còn một lực lượng nào có mặt để bảo vệ người dân.
Leila là một thiếu nữ Yazidi tại Sinjar. Gia đình cô làm nông. Người thiếu nữ 25 tuổi này còn có 2 người em và 3 người anh. Gia đình sống tại một làng nhỏ dưới chân núi Sinjar. Sau khi Hoa Kỳ xâm chiếm Iraq hồi năm 2003, 3 người anh của Leila đều đã gia nhập quân đội Peshmerga của người Kurd. Một cô em gái của Leila sống với người chồng mới cưới tại một làng gần biên giới Syria. Buổi sáng ngày 2 tháng Tám năm 2014, cô em gái này đã gọi điện thoại về cho gia đình và cho biết họ đang chạy trốn vì các chiến binh của Quốc gia Hồi giáo đang tiến đến gần làng của cô. Nghe tin này, nghĩ rằng Sinjar còn an toàn, cả gia đình Leila đã chạy về đó. Nhưng khi đến nơi họ mới biết rằng dân chúng tại đây cũng đang bỏ chạy. Ngôi làng họ vừa đặt chân đến đã bị các chiến binh của Quốc gia Hồi giáo bao vây. Cả gia đình Leila đều bị kẹt trong vòng vây. Tất cả đều bị họ bắt giữ và đưa vào trụ sở hành chính của huyện Sinjar. Đàn ông và đàn bà bị giam riêng. Khoảng 9 giờ tối hôm đó, các chiến binh của Quốc gia Hồi giáo bắt đầu cầm đèn rọi vào từng khuôn mặt của phụ nữ. Khi họ đến gần mình, Leila đã té xỉu. Nhờ vậy mà cô đã thoát nạn. Tất cả các phụ nữ khác, trong đó có 5 thiếu nữ bà con của Leila đều bị bắt đem đi.
Cho tới lúc đó, những người phụ nữ Yazidi vẫn chưa biết số phận của mình sẽ ra sao. Nhưng các chiến binh của tổ chức khủng bố này đã có cả một kế hoạch đồi bại: họ sẽ bắt tất cả các thiếu nữ độc thân và các em bé gái trên 8 tuổi làm nô lệ tình dục.
Khi huyện Sinjar bị Quốc gia Hồi giáo tân công, đã có trên 100.000 người Yazidi trốn được lên núi Sinjar. Ai không chạy thoát được đều bị bắt. Riêng đàn ông bị giết chết tại chỗ. Đã có hàng ngàn người Yazidi hoặc bị xử tử và quăng xuống giếng hoặc chết vì khát, vì thương tích hay kiệt sức trên núi.
Theo dân biểu Vian Dakhil, vốn là một người Yazidi từ Sinjar, có tất cả 6.383 người Yazidi, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, đã bị giam hãm trong các nhà tù, các trại huấn luyện và nhà của các chiến binh Quốc gia Hồi giáo rải rác tại miền Đông Syria và miền Tây Iraq. Tại đây, họ đã bị hãm hiếp, hành hung, mang đi bán. Tính đến giữa năm 2016, đã có 2.590 phụ nữ và trẻ em hoặc đã trốn thoát được hoặc bị bán ra ngoài lãnh thổ do Quốc gia Hồi giáo kiểm soát. Vào thời điểm đó, số người bị giam giữ lên đến gần 4.000 người.
Yazidi là một sắc tộc nói tiếng Kurd sinh sống phần lớn tại miền Bắc Iraq. Trên toàn thế giới hiện không có tới một triệu người. Trong suốt dòng lịch sử của họ, người Yazidi đã không ngừng bị bách hại vì bị các nhà lãnh đạo Hồi giáo xem như người “ngoại đạo”. Tự nhận là người Hồi giáo, người Yazidi lại thực hành một số nghi thức của Kitô Giáo như “rửa tội” cũng như sống theo niềm tin của các tín đồ Zoroastra.
Dưới thời nhà độc tài Saddam Hussein, vì Iraq bị Liên Hiệp Quốc cấm vận và nhất là do cuộc xâm lăng của Hoa Kỳ, cộng đồng người Yazidi đã bị buộc phải di dản đi khắp nơi. Trên toàn lãnh thổ Iraq hiện chỉ còn 500.000 người Yazidi, phần lớn tập trung tại huyện Sinjar. Phần lớn những người Yazidi tại Syria và Thổ Nhĩ Kỳ đã trốn sang các nước láng giềng hoặc tỵ nạn tại Âu Châu. Riêng tại Đức, hiện có một cộng đồng Yazidi khoảng 25.000 người.
Từ nhiều thế hệ, người Yazidi đã bị tàn sát và đàn áp dã man. Nhưng nếu không có cuộc tấn công của các chiến binh Quốc gia Hồi giáo vào huyện Sinjar hồi mùa hè năm 2014, có lẽ thế giới ít chú ý đến số phận của họ, nhất là của người phụ nữ.
Thoạt tiên, các phụ nữ và thiếu nữ Yazidi bị các phiến quân của Quốc gia Hồi giáo đưa đến một số địa điểm đã được tổ chức sẵn. Tại đây, họ được phân chia hay chuyền tay cho các chiến binh nào đã có công trong cuộc tấn công vào huyện Sinjar. Để tránh khỏi bị hãm hiếp, một số thiếu nữ đã tự tử bằng cách cắt mạch máu ở cườm tay hay cổ, hoặc tự treo cổ hoặc nhảy từ lầu cao.
Riêng Leila, sau khi đã chứng kiến cảnh các thiếu nữ khác bị bắt mang đi và hiểu được rằng chưa có chồng là một tình trạng nguy hiểm cho nên đã tìm cách đóng vai làm mẹ của 2 đứa cháu nhỏ.
Sau khi bị giam giữ một thời gian tại tòa hành chánh của huyện Sinjar, Leila đã cùng với nhiều người khác được đưa đến một trường học mà các chiến binh Quốc gia Hồi giáo đã biến thành nhà tù tại Tel Afar, cách Sinjar độ 50 cây số. Tại đây, một số tù nhân đã trốn thoát và liên lạc được với quân đội Peshmerga của người Kurd.
Nhiều thiếu nữ Yazidi bị giam giữ theo từng nhóm từ 100 đến 200 người trong các chiếc xe “caravan” tại những nơi đóng quân của các chiến binh người Libya. Tất cả đều bị xiềng lại. Họ bị đánh đập, hãm hiếp và chuyền tay nhau giữa các chiến binh chẳng khác nào thú vật.
Sau hơn một tháng bị giam giữ, Leila và ba thiếu nữ khác bị đưa trở về Iraq và bị giam giữ tại một căn cứ quân sự gần biên giới Syria, cách Sinjar khoảng 200 cây số về hướng nam. Sau đó, Leila bị bán cho một người tên là Muhammad. Cô nhận ra người này: ông ta đã từng là một người bạn thân của gia đình cô. Cô cứ tưởng ông ta sẽ là người giải thoát và đưa cô trở về gia đình. Nhưng trái lại, ông lại đem bán cô cho một lãnh tụ chiến binh của Quốc gia Hồi giáo. Người đàn ông này nổi tiếng là một tay chuyên buôn bán phụ nữ để làm nô lệ tình dục. Bị chuyền tay từ người này sang người khác, cuối cùng Leila đã được một nhà doanh nghiệp người Yazidi chuộc lại và trả tự do cho cô.
Nadia Murad, người vừa được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình, cũng trải qua một cuộc hành trình đầy nước mắt như các phụ nữ Yazidi khác. Cô bị bắt làm nô lệ tình dục cho các chiến binh của Quốc gia Hồi giáo tại thành phố Mosul. Sau khi đã trốn thoát, tháng Hai năm 2015, Murad đã kể lại câu chuyện của mình cho các phóng viên của báo La Libre Belgique (Nước Bỉ Tự Do) của Bỉ. Cũng trong năm đó, cô được đi tỵ nạn tại Đức. Tháng Mười Hai năm đó, cô đã được mời đến Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc để nói chuyện về vấn đề buôn người. Tháng Chín năm sau, cô loan báo thành lập tổ chức lấy tên là “Nadia’s Initiative” (Sáng kiến Nadia) để giúp “các phụ nữ và trẻ em nạn nhân của diệt chủng, buôn người...làm lại cuộc đời và hội nhập vào cộng đồng của họ”.
Tháng Mười Một năm 2015, huyện Sinjar được giải phóng. Kể từ đó, các lực lượng Peshmerga và các nhóm vũ trang khác của người Kurd lại tranh giành nhau. Tuy đã thoát khỏi Quốc gia Hồi giáo, nhưng người Yazidi lại bị xâu xé giữa các nhóm vũ trang khác nhau. Trước kia họ sợ Quốc gia Hồi giáo tấn công, nay họ lại sợ chính những người đã giải phóng họ. Tính đến tháng Năm năm 2016, mặc dù đã được giải thoát, chỉ có khoảng trên dưới 3 ngàn gia đình người Yazidi trở về huyện Sinjar.

(theo: Slaves of Isis: the long walk of the Yazidi women https://www.theguardian.com/world/2017/jul/25/slaves-of-isis-the-long-walk-of-the-yazidi-women)



Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2018

Lú và Láo



12/10/18 
Lâu nay, cứ nói đến Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, người ta thường gắn thêm cái đuôi “lú” vào tên ông. Thật ra, ông chẳng “lú” chút nào cả. Những diễn biến gần đây cho thấy hỗn danh nên dành cho ông là “láo” hơn là “lú”.
Đầu năm 2016, khi được Bộ Chính trị tiếp tục bầu ông làm Tổng bí thư, ông “nghẹn ngào” nói rằng ông rất “bất ngờ”. Ông nói nguyên  văn như sau: “Tôi cũng không ngờ mình lại được Đại hội tín nhiệm giới thiệu tôi, bầu tôi vào Ban chấp hành Trung ương, được Ban chấp hành Trung ương họp phiên thứ nhất bầu tôi làm tổng bí thư. Gần như 100% tuyệt đối, đấy là tôi bất ngờ. Bất ngờ vì sao tuổi tôi đã cao, sức khỏe có hạn, trình độ có hạn, tôi đã xin nghỉ rồi vì trách nhiệm của Đảng giao, với tư cách đảng viên phải thực hiện trách nhiệm của mình...”
Nghe ông Tổng bí thư bộc bạch sự “bất ngờ” của mình, người ta nghe văng vẳng bên tai những lời bày tỏ sự  “khiêm tốn nhường bao” của “Bác Hồ” trong “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” của Trần Dân Tiên-Hồ Chí Minh.
Riêng về chuyện “Nhất thể hóa” hiện đang được dư luận trong nước bàn tán xôn xao, một trích đoạn từ báo Thanh niên điện tử ngày 7/10 vừa qua ghi lại: “Trao đổi với cử tri về vấn đề này, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cảm ơn sự ủng hộ của cử tri, song cũng nói rằng, đây là việc liên quan tới cá nhân nên không tiện nói. Tuy nhiên, ông cho biết, trước đây, thời Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là Chủ tịch nước đồng thời là Chủ tịch Đảng, nhưng sau đó thì bị cách ra.
Còn việc T.Ư. thống nhất giới thiệu Tổng bí thư để Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước thì không phải vì nhất thể hóa mà đây là tình huống. Vừa rồi không may đồng chí Trần Đại Quang, nguyên Chủ tịch nước mất đi đột ngột, mặc dù việc mắc bệnh hiểm nghèo đã được biết hàng năm trước nhưng đồng chí không qua khỏi. Bây giờ khuyết chức danh này thì phải có người làm ngay”, Tổng bí thư cho biết.
“Bộ Chính trị, T.Ư. chuẩn bị nhiều phương án. Qua quá trình thảo luận dân chủ, trách nhiệm thì T.Ư. thống nhất cao giới thiệu Tổng bí thư làm Chủ tịch nước. Không biết ra Quốc hội bầu có được không nhưng đây là ý kiến thống nhất của T.Ư.”, ông nói thêm.
Tuy nhiên, Tổng bí thư lưu ý, việc Tổng bí thư được giới thiệu làm Chủ tịch nước thì không nói kiêm vì đây là 2 cơ chế, 2 cơ quan khác nhau. Bên cạnh đó, cũng không nên nói đây là việc “nhất thể hóa” vì không phải nhất thể hóa mà chỉ là việc “bầu ông này làm 2 việc”. (hết trích)
Đã là “ý kiến của Trung Ương”, mà Quốc hội bù nhìn chỉ là một thứ con rối của Trung Ương, nhưng ông Trọng lại “khiêm tốn nhường bao” khi bảo rằng “không biết ra Quốc hội bầu có được không”. Có bao giờ Quốc hội Cộng hòa XHCN dám có ý kiến ngược lại với Trung Ương đâu mà bảo rằng “không biết Quốc hội có bầu được không. Ông Tổng bí thư chẳng “lú” chút nào cả. Ông chỉ “láo” và “đểu” thôi!
Thật ra, “nhất thể hóa”, “nhị thể hóa”, “tam thể hóa” hay “tứ trụ thể hóa” gì đi nữa cũng vẫn là độc tài và độc tài được xây dựng trên dối trá. “Trọng láo”, “Trung Ương láo”, “Quốc hội láo”, “Cộng sản láo”...tất cả là một. Phải có đủ can đảm ra khỏi guồng máy dối trá ấy, cựu Tổng bí thư Đảng CS Liên Xô Mikhail Gorbachev mới nói được: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản. Ngày hôm nay, tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”.
Bạo lực và độc tài được xây dựng trên dối trá, cho nên chỉ có sự thật mới có thể đánh đổ được độc tài. Cuộc tranh đấu bất bạo động mà Mahatma Gandhi đã đề ra để giải phóng Ấn Độ khỏi sự đô hộ của người Anh đã được xây dựng trên Satyagraha, trong tiếng Phạn, có nghĩa là sự thật. Theo chân ông, tất cả những nhà tranh đấu cho tự do đều lấy sự thật làm khí giới chống lại độc tài và áp bức. Vaclav Havel (1936-2011) đã đi theo con đường của sự thật để chống lại chế độ độc tài dối trá tại Tiệp Khắc và ông đã thành công. Trong một bài viết được đăng trên báo The Washington Post cuối thập niên 1990, ông viết: “Các chế độ độc tài có vẻ như không thể lay chuyển, trong thực tế chúng dựa trên sự dối trá và sự sụp đổ lúc xảy ra thì xảy ra rất nhanh”.
Trong nước hiện nay đang có rất nhiều người như ông Vaclav Havel. Họ là những người nguy hiểm nhất cho bất kỳ chế độ độc tài nào, bởi vì họ không khiếp sợ, không hèn nhát trước bạo lực. Họ có thể đang ở trong tù, bị tra tấn hoặc bị bỏ đói, nhưng tinh thần và niềm tin của họ vào sự thật không hề bị bẻ gãy. Họ đang mang lại niềm hy vọng và sức mạnh cho nhiều người.
Họ cần sự hỗ trợ của chúng ta để nói lên sự thật về chế độ CS.







Thứ Tư, 10 tháng 10, 2018

Hối hận để biết tha thứ và biết ơn



Chu Thập
5/10/18
Trên tạp chí Reader’s Digest số ra tháng Mười này, tôi đọc được một câu chuyện đáng được mang ra nghiền ngẫm. Simon Lovell, một thanh niên Anh 31 tuổi, là một tên lường gạt chuyên nghiệp. Anh cho biết đây là nghề anh đã học được từ những xảo thuật chơi bài của ông nội anh. Hễ anh ra tay thì không một con mồi nào có thể thoát khỏi. Simon chưa hề biết thế nào là hối hận vì cuộc sống bất lương của mình. Nhưng mọi sự đã bất thần thay đổi vào một ngày của năm 1988.
Đó là ngày tên lường gạt chuyên nghiệp xuất hiện trong một quán rượu. Anh đã gạ gẫm và đưa được một người đàn ông dễ tin vào tròng khi hứa hẹn sẽ làm cho ông ta trở nên giàu có như trở bàn tay. Cú lừa của Simon đã được thực hiện một cách hoàn hảo. Hai người đã đi vào khách sạn nơi người đàn ông đang tạm trú. Tại đây, người đàn ông đã chếnh choáng vì men rượu đã mở hầu bao trút hết tiền cho anh. Sau khi móc sạch túi của người say rượu, anh dìu ông ta ra khỏi phòng, dẫn xuống cầu thang và có ý nhờ một nhân viên bảo vệ trông chừng. Nhưng một điều bất ngờ đã xảy ra. Bị bỏ rơi giữa đường, người đàn ông bỗng chợt tỉnh và khóc rống lên.
Nhìn lại khoảnh khắc ấy, Simon nói rằng đây là giây phút đã hoàn toàn làm thay đổi cả cuộc đời của anh. Anh giải thích: “Như thể có một luồng ánh sáng bất ngờ chiếu xuyên qua. Tôi nghĩ “Đây quả là điều thực sự tệ hại”. Lần đầu tiên trong đời, tôi thực sự cảm thấy xót xa cho một người khác”.
Simon không tin nổi là liền sau đó, anh móc túi lấy tiền hoàn trả lại cho người đàn ông và tự nhủ sẽ từ bỏ cuộc sống bất lương. Anh cho biết, ngày hôm sau, khi thức giấc, anh cảm thấy nhẹ nhõm như một người hoàn toàn khác.
Trong những thập niên sau đó, Simon Lovell đã biến tất cả những xảo thuật lường gạt của anh thành những màn biểu diễn trên sân khấu và trở thành một nhà ảo thuật được nhiều người kính trọng và quý mến (x. How to Create an “Aha”Moment, https://www.zinio.com/reader/readsvg/394158/32).
Một chút xót xa và hối hận có thể làm thay đổi cả cuộc đời. Của chính bản thân cũng như của người khác. Nhưng dĩ nhiên, hối hận cũng như nước mắt. Có nước mắt của chân thành sám hối và cũng có nước mắt cá sấu.
Tôi nghĩ đến sự khác biệt ấy khi liên tưởng đến cách hành xử và ngôn từ của một số chính trị gia. Trong những ngày gần đây, nhứt là sau cơn bão Mangkhut tại Phi Luật Tân, nơi tôi đã từng sống và làm việc cả 15 năm, tôi thường nghĩ đến mạng sống rẻ như bèo của những nạn nhân trong cuộc chiến chống ma túy do đương kim Tổng thống Rodrigo Duterte chủ xướng. Theo những con số chính thức, kể từ ngày 30 tháng Sáu năm 2016, tức ngày ông Duterte tuyên thệ nhậm chức tổng thống của quốc gia có đông người công giáo nhứt Á Châu này, đã có khoảng 4.500 người bị cảnh sát giết chết trong những cuộc hành quân bài trừ ma túy. Nhưng các nhà tranh đấu cho nhân quyền cho rằng con số nạn nhân có thể lên đến 12 ngàn người. Tất cả đều bị giết chết trong những cuộc bố ráp của cảnh sát, nghĩa là không hề được mang ra xét xử trong bất cứ một phiên tòa nào. Tổng thống Duterte đã từng cam kết bảo vệ bất cứ  viên cảnh sát nào đã giết người trong khi thi hành nhiệm vụ.
Là người thích sử dụng ngôn từ dao to búa lớn, hàng tôm hàng cá và ngay cả rủa sả bạt mạng, hôm thứ Năm 27 tháng Chín vừa qua, ông Duterte đã bất thần đưa ra một lời tuyên bố khiến cho nhiều người nghĩ rằng ông đã nhìn nhận những vụ giết người do chính ông ra lệnh thực hiện. Trong cuộc nói chuyện với các viên chức chính phủ tại dinh tổng thống Malacanang, ông Duterte đã thách thức quân đội Phi hãy đảo chính lật đổ ông nếu không hài lòng về sự lãnh đạo của ông. Ông nói với các viên chức chính phủ Phi: “Tôi đã nói với quân đội, đâu là lỗi của tôi? Tôi có ăn cắp ngay cả một đồng Peso nào  không?...Tôi chỉ có một tội là giết người mà không thông qua một phiên tòa nào (extrajudicial killings)”.
Thoạt nghe qua, nhiều người tưởng rằng ông Duterte đã nhìn nhận “tội” giết người không gớm tay của ông. Kỳ thật, như phát ngôn viên của ông là ông Harry Roque đã giải thích, ông Duterte chỉ “nói đùa” mà thôi. Đùa hay không là chuyện của “miệng nhà quan có gan có thép”. Bị hàng trăm nguyên thủ quốc gia nhạo cười trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc, có “nhà quan” vẫn có thể lật ngược thế cờ để bảo người ta không nhạo cười tôi (laught at me) mà chỉ “cùng” cười với tôi (laugh with me) cho vui mà thôi!  Riêng về ông Duterte, có lẽ các nạn nhân của những vụ bắn giết mà không được xét xử không cười chút nào đâu. Tòa án Hình sự Quốc tế tại the Hague ở Hòa Lan đã nhận được 2 đơn tố cáo những tội ác của Tổng thống Duterte. Về phần mình, vì không hề xem hành động giết người của mình là một “tội ác”, tổng thống Phi cũng đã tuyên bố sẽ rút tên Phi Luật Tân ra khỏi Thỏa Hiệp La Mã được các nước thông qua hồi năm 1998 để thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế The Hague. Nói cho cùng, Tổng thống Duterte không hề nhìn nhận những vụ giết người mà không xét xử là một “tội ác” và như vậy cũng chẳng hề biểu lộ bất cứ một dấu hiệu nào của sự hối hận. Không có sự đổi đời nơi ông cho nên cũng chẳng có sự thay đổi nào cho mạng sống của rất nhiều người dân Phi hiện nay. Dù bạn chỉ là một con tép riêu trong thị trường ma túy, dù bạn chỉ vì nghèo khổ mà rơi vào nghiện ngập...chỉ cần có ai đó vì tư thù mà tố cáo, cảnh sát có thể ập đến nhà bạn và cho bạn một viên kẹo đồng. Người ta được quyền giết người. Còn bạn lại không được quyền lên tiếng trước bất cứ một tòa án nào. Bạn phải chết nếu những người cầm cân nẩy mực không bao giờ biết thế nào là hối hận về tội ác của họ.
Dĩ nhiên, không thiếu những nhà lãnh đạo quốc gia biết nhìn nhận những sai lầm của mình và công khai bày tỏ sự hối hận. Tôi nghĩ đến cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan (1911-2004). 1987 là năm Tổng thống Reagan còn 2 năm để kết thúc nhiệm kỳ thứ 2 của ông. Đó là năm uy tín của ông xuống thấp nhứt vì xảy ra vụ tai tiếng thường được mệnh danh là Iran-Contragate. Vào thời điểm đó, Cộng hòa Hồi giáo Iran đang bị Hoa Kỳ cấm vận về vũ khí. Một số viên chức trong chính phủ của Tổng thống Reagan đã bí mật tạo điều kiện để bán khí giới cho Iran với hy vọng giải cứu các con tin đang bị cầm giữ tại Iran, đồng thời lấy tiền để tài trợ cho các phiến quân Contra chống lại chính phủ cộng sản tại Nicaragua. Một cuộc điều tra độc lập đã phanh phui chuyện “làm ăn” bí mật này. Dĩ nhiên, mọi mũi dùi đều chĩa vào Tổng thống Reagan. Rất thành thật và can đảm, vị tổng thống đã từng là người đầu tiên sử dụng khẩu hiệu “Let’s Make America Great Again” (Chúng ta hãy làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại) trong cuộc vận động bầu cử đầu thập niên 1980, đã ra trước quốc dân Mỹ để nhìn nhận sai lầm của mình.
Trong bài diễn văn đọc vào buổi tối ngày 3 tháng Ba năm 1987, ông đã nhận hết trách nhiệm về vụ tai tiếng: “Trước tiên, cho phép tôi nói: tôi nhận tất cả trách nhiệm về hành động của riêng tôi và của những người làm việc trong chính phủ của tôi”. Ông nói: “Có nhiều lý do tại sao điều đó (vụ tai tiếng) đã xảy ra, nhưng không thể tha thứ được. Đây là một sai lầm”.
Gần cuối bài diễn văn, giọng ông trở nên tha thiết hơn. Ông nói: “Quý vị  biết đó. Khi quý vị bước vào tuổi của tôi (năm đó ông đã 76 tuổi) quý vị cũng đã làm nhiều sai lầm. Và nếu quý vị đã sống cuộc sống của mình một cách xứng đáng, quý vị  hẳn học hỏi được nhiều điều. Ta sẽ nhìn rõ vấn đề hơn. Ta sẽ dồn mọi nỗ lực lại. Ta sẽ thay đổi. Ta sẽ tiến tới”.   
(x.https://www.americanrhetoric.com/speeches/ronaldreaganirancontraspeech.htm).
Tổng thống Reagan đã góp phần làm cho “nước Mỹ vĩ đại trở lại” vì dưới thời của ông, kinh tế Mỹ lên cao, thất nghiệp xuống thấp và nhứt là ông đã góp phần làm cho chủ nghĩa cộng sản sụp đổ tại Đông Âu và ngay tại cái nôi khai sinh ra nó là Nga. Nhưng có lẽ nước Mỹ còn vĩ đại hơn bởi vì có một vị nguyên thủ có đủ can đảm và sự thành thật để nhìn nhận sai lầm của mình và nhận lấy tất cả trách nhiệm về những hành động sai trái của chính phủ do mình lãnh đạo. Tưởng nghĩ về ông, tôi luôn nhớ tới bài học ấy.
Trong cuộc sống, ít hay nhiều có lẽ ai cũng đã cảm thấy hối hận về những sai lầm của mình. Đi mua sắm mà không hài lòng, tôi thường hối hận. Tôi cảm thấy hối hận vì lẽ ra phải làm một việc gì đó nhưng lại bỏ mất cơ hội. Tôi cũng cảm thấy hối hận khi đã lừa dối người khác hoặc cố tình làm tổn thương người khác bằng lời nói hay hành động mà mình biết rõ sẽ làm họ bị tổn thương.
Nhưng như ai đó đã giải thích, “hối hận thật sự là không chỉ là hối hận về những hậu quả của những sai lầm của mình cho bằng động lực khiến mình làm những sai lầm ấy”. Muốn hay không, tôi không thể dẹp bỏ hay sửa chữa những hậu quả của việc làm sai trái của mình, nhưng tôi có thể nhìn lại để tìm hiểu tại sao tôi đã hành động như thế. Biết được động lực thúc đẩy tôi làm hành động sai trái ấy, tôi mới mong tránh lập lại những hành động như thế trong tương lai. Nhờ vậy, như Tổng thống Reagan đã nói, tôi mới có thể thay đổi , tôi mới có thể tiến tới.
Trong những  sai lầm cần được tôi bày tỏ hối hận nhiều nhứt phải là những lời nói, cứ chỉ hay hành động xúc phạm hay làm tổn thương người khác và bước khó khăn nhứt trong việc bày tỏ sự sám hối thật sự chính là xin lỗi. Tôi chỉ thật sự được giải thoát khi tôi có đủ can đảm để xin lỗi. Trong bất cứ ngôn ngữ nào, hai tiếng xin lỗi vẫn là âm thanh dịu dàng, dễ làm mát lòng người nhứt.
Kinh nghiệm cũng thường mách bảo tôi rằng khi tôi hối hận để “xin lỗi”, tôi cũng đồng thời được thúc đẩy để tỏ lòng biết ơn. Bất cứ ai cũng có thể là thày dạy tôi về lòng biết ơn bởi  vì họ mang lại cho tôi  cơ hội để sống tốt đẹp hơn, tử tế hơn, cảm thông hơn.
Một xã hội trong đó hai tiếng “xin lỗi” và “cám ơn” trở thành quý hiếm là một xã hội đang xuống cấp về mặt đạo đức. Tôi cũng có thể đo lường được nhân cách của chính tôi nếu hai tiếng ấy cũng trở thành xa lạ trong cuộc sống hàng ngày của tôi.








Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

Swaziland: nền quân chủ toàn trị cuối cùng tại Phi Châu



5/10/18
Dọc theo xa lộ từ Phi trường Quốc tế Quốc vương Mswati III dẫn về Thủ đô Mbabane, nhiều tấm bảng được dựng lên để mừng nửa thế kỷ độc lập của Vương quốc Swaziland. Trên các tấm bảng du khách đọc được câu: “50 năm hòa bình, ổn định và tiến bộ”. Nằm cách Thủ đô Mbabane 70 cây số, giữa những ruộng mía phì nhiêu của đất nước, phi trường này mỗi ngày chỉ dành cho ba chuyến bay khứ hồi từ Swaziland đến quốc gia láng giềng là Nam Phi. Thỉnh thoảng cũng có những chuyến bay của chiếc Airbus A340-300 của Quốc vương Mswati III, được mua lại của Hãng hàng không Đài Loan China Airlines với giá 11 triệu Âu kim.
Ông Marlo Masuku, lãnh tụ của Phong trào Dân chủ Bình dân Thống nhất (Pudemo) khẳng định rằng Quốc vương Mswati III đã biến đất nước thành của riêng của ông. Cũng như tất cả mọi đảng phái chính trị khác tại Awaziland, Phong trào Pudemo đã bị cấm hoạt động từ năm 1973. Ông Masuku giải thích: “Kinh tế Swaziland chỉ làm lợi cho gia đình, đám cận thần và một nhóm nhỏ những nhà doanh nghiệp nào có quan hệ tốt với nhà vua”. Gia đình của nhà vua gồm có 13 bà vợ, 23 đứa con và khoảng 200 anh chị em của ông. Ngoài ra cũng phải kể đến giới trưởng giả, các nhà đầu tư Nam Phi là những người chịu đổ tiền vào Swaziland bởi vì giá nhân công tại vương quốc này rẻ hơn gấp 3 lần so với Nam Phi. Bên cạnh gia đình, đám cận thần và các nhà doanh nghiệp người bản xứ hoặc người Nam Phi, ăn nên làm ra trong Vương quốc Swaziland còn có một nhóm nhỏ những nhà doanh nghiệp vốn là hậu duệ của những người thực dân Anh.
Cai trị khoảng 1.3 triệu thần dân trải dài trên một lãnh thổ với diện tích trên dưới 17.000 cây số vuông, Mswati III đã lên cầm quyền tại Swaziland từ năm 1986. Ông là một trong 5 nguyên thủ quốc gia của Phi Châu đã nắm quyền từ hơn 30 năm nay. Với một lực lượng an ninh hùng hậu và tham nhũng được dành cho 5 phần trăm ngân sách quốc gia, Mswati cai trị đất nước bằng bàn tay sắt. Năm giữa hai nước Mozambique và Nam Phi, miền Đông Phi Châu, Vương quốc Swaziland là một trong những nước nghèo nhất của lục địa. Nhưng tài sản của nhà vua lại ước tính có từ 75 đến 180 triệu Âu kim.
Dạo tháng Tư vừa qua, cùng với việc kỷ niệm 50 năm độc lập của xứ sở, Quốc vương Mswati III cũng mừng 50 năm sinh nhật của ông. Ngân sách dành cho các cuộc lễ mừng kỷ niệm này lên đến 75 triệu Âu kim. Ngoài ngân sách quốc gia mà nhà vua vắt cho đến cạn kiệt, Swaziland cũng được Đài Loan tiếp tế cho 1.3 triệu Mỹ kim để tổ chức mừng kỷ niệm độc lập và sinh nhật của nhà vua. Sở dĩ Đài Loan đã tỏ ra quảng đại như thế là vì Swaziland là nước cuối cùng tại Phi Châu còn giữ quan hệ ngoại giao với Đài Loan.
Các cuộc lễ kỷ niệm mừng độc lập của xứ sở và sinh nhật của nhà vua là dịp để ông “rửa tội” lại cho vương quốc. Thay vì tên gọi quen thuộc là Swaziland, ông đặt tên lại là eSwatini, nghĩa là đất nước của người Swazi. Với danh xưng mới này, quốc vương Swati III muốn đoạn tuyệt với quá khứ thực dân. Đàng khác, ông cũng không muốn cho thế giới  lầm lẫn vương quốc với Switzerland, tên gọi bằng Anh ngữ của Thụy Sĩ. Kể từ thời có chế độ phân biệt chủng tộc “Apartheid” tại Nam Phi,  nhiều nhà tranh đấu thuộc Đảng ANC của Nam Phi đã đến tỵ nạn tại Swaziland. Trong khi đó một số người Nam Phi da trắng, vì muốn tránh sự kiểm soát gắt gao của chính phủ, đã đến một khu lịch nổi tiếng Ezukwini của Swaziland để mở các quán “bar” và nhà thổ. Được mệnh danh là “thung lũng hạnh phúc”, Ezulwini đã trở thành một vùng đất riêng của người da trắng. Ở đó có các trường tư, có trung tâm thương mai, có khách sạn, sòng bài Casino, các tiệm buôn sang trọng và tòa nhà đồ sộ của tòa đại sứ Mỹ. Nhưng dĩ nhiên, “thiên đàng” này không thể khỏa lấp được một thực tại đáng buồn của Swaziland. Theo Ngân hàng Thế giới và UNAIDS, tức Cơ quan Chống dịch bệnh Sida của Liên Hiệp Quốc, 63 phần trăm dân số Swaziland sống dưới mức nghèo khó, 26 phần trăm nhiễm Sida (HIV), 200.000 người sống lệ thuộc vào viện trợ lương thực của thế giới, tỷ lệ thất nghiệp lên đến 28 phần trăm và tuổi thọ trung bình của người dân không vượt qua ngưỡng cửa 49 tuổi.
Là một ông vua đa thê, lại chỉ thích gái còn trinh, Vua Mswati III lại cấm ly dị và mặc váy ngắn. Dĩ nhiên, các Giáo hội Tin lành tại Swaziland và truyền thống địa phương rất tán thành chủ trương “đạo đức” của nhà vua.
Là một người có đầu óc dị đoan, ông rất tin quyền lực của các “muti”, tức các phù thủy. Ngoài ra, ông chỉ đặt tin tưởng nơi gia đình ông, các lãnh tụ bộ lạc và Thủ tướng M.Barnabas Dlamini.
Mswati III cũng là một người rất thích các  lễ hội. Một trong những lễ hội nổi tiếng nhất tại Swaziland là Umhlanga, tức lễ  “múa sậy”. Cứ mỗi cuối tháng Tám, hàng ngàn thôn nữ đến trình diện trước triểu đình. Tất cả đều là những thiếu nữ còn trinh. Họ tìm cách gây sự chú ý của quân vương để được tuyển chọn vào khuê phòng (harem). Với các du khách Tây Phương và người dân Nam Phi thích khám phá những bi ẩn của vương quốc, Lễ hội Umhlanga là một trong những màng quảng cáo du lịch ăn khách của vương quốc này. Nhưng theo ghi nhận của sử gia Thabani Thwala, thôn nữ nào không chịu trình diện trong Lễ hội Umhlanga, cô và gia đình cô sẽ phải lãnh nhận nhiều hậu quả tai hại: họ có thể bị các lãnh tụ bộ lạc tẩy chay; họ không nhận được học bổng và cha mẹ họ cũng không nhận được một chút hưu bổng dù rất còm cõi.
Theo ông Masuku, các lễ hội được quốc vương thường xuyên tổ chức là để đánh lạc hướng dư luận quần chúng về tình trạng tham nhũng trong vương quốc. Theo ông, trên toàn quốc có khoảng 15.000 doanh nhân. Nhóm người này lợi dụng tình trạng tham nhũng và thói xa hoa của quốc vương để làm giàu. Phần lớn cái bầu sữa mà nhóm người này vắt là kỹ nghệ mía đường của Swaziland. Hiện nay quốc gia này đứng hàng thứ tư tại Phi Châu về sản xuất mía đường. Kỹ nghệ mía đường thường được gọi là “mỏ vàng của Swaziland”, chiếm đến 18 phần trăm tổng sản lượng quốc gia và mang lại công ăn việc làm cho gần 200.000 người. Nhưng đây cũng là một kỹ nghệ tạo nhiều bất công: nhiều người dân bị buộc phải rời bỏ thôn làng để nhường đất cho việc trồng mía, trẻ con bị lao động cưỡng bách, công nhân phải làm việc mỗi tuần 60 giờ...Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, “điều kiện làm việc của công nhân không lành mạnh, lương lại thấp và mọi toan tính thành lập nghiệp đoàn đều bị dập tắt”. Phần lớn đường làm ra được cung cấp cho hãng Coca-Cola. Hãng này lại được giảm thuế rất nhiều. 40 phần trăm số đường sản xuất được xuất cảng theo những điều kiện được đưa ra trong một thỏa hiệp được ký kết với Liên Âu và nhiều nước Đông Phi hồi cuối năm 2016. Vì những thành tích nhân quyền tồi tệ, Swaziland đã bị chính phủ Hoa Kỳ gạt tên ra khỏi những nước Phi Châu được viện trợ theo Luật Cơ hội và Phát triển Phi Châu gọi tắt là AGOA. Dù vậy, Âu Châu vẫn tiếp tục tỏ ra nhân nhượng với Quốc vương Mswati III.
Một nhà nông tên là William K.Mkhaliphi, 84 tuổi, đã kêu gọi tẩy chay đường của Swaziland. Là một tiểu nông chuyên trồng mía đường, ông Mkhaliphi đã bị trục xuất khỏi Hiệp hội Mía đường Hoàng gia Swaziland. Hiệp hội này sản xuất hai phần ba mía đường tên toàn quốc. Ông Mkhaliphi đã bị đuổi ra khỏi mảnh đất mà ông đã canh tác cùng với 20 nông dân khác.
Người tiểu nông này đã cầu cứu khắp nơi, ngay cả “Quốc hội”. Nhưng Hiến pháp Swaziland lại chỉ được triệu tập khi có lệnh của nhà vua. Mà nhà vua dĩ nhiên lại không bao giờ muốn nghe những khiếu nại không có lợi cho mình.
Tháng Tám năm 2016, sau khi đã lên tiếng kêu gọi tẩy chay mía đường của Swaziland, ông Mkhaliphi đã bị cảnh sát dọa giết. Sau đó ông bị bắt giữ vì tội gọi là ăn cắp  nông cụ. Nhưng vì không đủ bằng chứng cho nên ông đã được trả tự do.
Quốc hội Swaziland thật ra chỉ là một cơ chế bù nhìn của nhà vua. Chính vì vậy mà các nghiệp đoàn và các đảng đối lập đã không ngừng kêu gọi tẩy chay các cuộc bầu cử. Theo thông lệ, cứ mỗi năm năm Swaziland cho tổ chức bầu cử quốc hội một lần. Quốc hội gồm có 65 dân biểu. Trong số 65 dân biểu này có đến 55 người được các lãnh tụ các bộ lạc vốn là tay chân bộ hạ của nhà vua chọn lựa thông qua một cuộc bầu cử giả hiệu. 10 dân biểu còn lại được chính nhà vua trực tiếp chỉ định. Ngoài ra, trước khi chọn thủ tướng và các thành viên của nội các chính phủ, nhà vua cũng là người bổ nhiệm hai phần ba trong số 30 thượng nghị sĩ. Chính ông cũng là người bổ nhiệm các thẩm phán. Thành ra, lập pháp và tư pháp đều không có sự độc lập.
Hơn 30 năm sống dưới sự cai trị của một quốc vương toàn trị, người dân Swaziland đã mất dần kiên nhẫn. Các nghiệp đoàn và các đảng đối lập, mặc dù bị đẩy ra ngoài vòng pháp luật, vẫn cố gắng gióng lên tiếng nói của họ và kêu gọi người dân thức tỉnh. Nguyệt san The Nation là một trong những tiếng nói mạnh mẽ ấy. Tờ báo đã bị đình bản trong 14 tháng vì dám lên tiếng bày tỏ nghi ngờ về tính độc lập của hệ thống tư pháp tại Swaziland. Chủ bút của nguyệt san, ông Bheki Masuku, tuyên bố: “Bức tường của sợ hãi đang bị lung lay”.
Trong một đất nước được cai trị bởi một nhà vua thích lễ hội, nhiều người đã lợi dụng cơ hội này để tổ chức các cuộc gặp gỡ. Dạo tháng Bảy vừa qua, đã có gần 20.000 tập trung tại giữa các ruộng mía để nhảy múa. Kể từ 12 năm nay, thung lũng Malkerns, gần “thung lũng hạnh phúc”, đã tổ chức một cuộc đốt lửa trại thu hút rất nhiều người. Nhiều nghệ sĩ từ khắp nơi đổ xô về tham dự cuộc đốt lửa trại. Ngoài phần ca nhạc và nhảy múa, ban tổ chức cũng kêu gọi giúp đỡ nông dân, hô hào sử dụng các phương tiện ngừa thai, tham gia vào việc phát triển bền vững, phòng chống dịch bệnh Sida.
Mỗi năm một lần, thung lũng Malkerns đã trở thành một “ốc đảo” trong đó những người tham dự cuộc đốt lửa trại được hưởng nhiều tự do hơn. Chẳng hạn họ được hút công khai hút cần sa là loại thuốc kích thích hoàn toàn bị cấm. Ngoài ra năm nay, lần đầu tiên thung lũng này cũng đón tiếp một nhóm đồng tính vốn là một khuynh hướng tính dục hoàn toàn bị ngăn cấm tại Swaziland. Không biết có phải vì muốn quảng cáo để lôi kéo đầu tư nước ngoài hay để bày tỏ một dấu hiệu cởi mở chăng, ban tổ chức cuộc đốt lửa trại tại thung lũng Malkerns cũng được phép mời các phóng viên của Đài CNN của Mỹ và BBC của Anh đến tham dự.
Dù sao, mục tiêu ngầm mà ban tổ chức cuộc đốt lửa trại muốn nhắm tới chính là những thay đổi chính trị tại Swaziland. Ông Masuku hy vọng rằng tân tổng thống Nam Phi, ông Cyrill Ramaphosa, sẽ sớm chấm dứt thái độ đồng lõa của Nam phi với nền quân chủ toàn trị cuối cùng tại Phi Châu.

(Theo: La dernière monarchie absolue d’Afrique,  https://www.monde-diplomatique.fr/2018/08/VICKY/58986)


Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018

Người đáng tin tưởng


Chu Thập
28/09/18
Cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in và Chủ tịch Bắc Hàn Kim Jong-un tại Bình Nhưỡng từ  ngày 18 đến 20 tháng Chín 2018 vừa qua đã mang lại nhiều hy vọng và lạc quan cho nhiều người. Hy vọng và lạc quan nhất dĩ nhiên là tổng thống Nam Hàn. Lần đầu tiên, một nguyên thủ quốc gia Nam Hàn được Bắc Hàn trải thảm đỏ đón tiếp ngay tại thủ đô của mình. Cứ nhìn qua cái ôm thân thiết giữa 2 nhà lãnh đạo, ai cũng mong niềm hy vọng và lạc quan của mình sẽ không bị đánh lừa.
Hôm thứ Tư 19 tháng Chín vừa qua, sau cuộc gặp gỡ, 2 nhà lãnh đạo đã mở một cuộc họp báo chung. Hai bên đã loan báo một số thỏa thuận đạt được, trong đó có việc Bắc Hàn cam kết thực hiện những bước đáng kể trong việc giải trừ vũ khí hạt nhân. Riêng tổng thống Nam Hàn nhìn nhận rằng giữa 2 ông đã thật sự có “niềm tin tưởng và tình hữu nghị”.
Có lẽ chẳng có ai nghi ngờ về thiện chí và tấm lòng thành của nhà lãnh đạo Nam Hàn. Nhưng còn lãnh tụ cộng sản độc tài và cha truyền con nối Kim Jong-un thì sao? Liệu ông có phải là một người đáng tin tưởng không? Và liệu ông có còn khả năng tin tưởng người khác không?
Trong một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình Đức Deuchewelle (DW), bà Ahn Yinhay, một giáo sư về môn quan hệ quốc tế tại Đại học Hán Thành nói: “Không có một người dân Nam Hàn nào muốn có chiến tranh cả. Nhưng tôi có thể nói rằng chiến tranh vẫn còn là nỗi ám ảnh của chúng tôi bởi vì 80 phần trăm người dân ở đây (Nam Hàn) không tin  rằng ông Kim sẽ thực hiện việc loại trừ kho vũ khí hạt nhân của ông một cách toàn diện, có thể kiểm chứng được và không thể đảo ngược được”. Theo bà, dù có muốn cách mấy, người dân Nam Hàn cũng không tin được.
Là một người tỵ nạn đã từng trải qua cuộc chiến Quốc-Cộng từ lúc có trí khôn cho đến tuổi trưởng thành và nhứt là đã từng sống dưới chế độ cộng sản, tôi hoàn toàn chia sẻ thái độ không tin tưởng của người dân Nam Hàn đối với Chủ tịch Kim Jong-un. Về chế độ cộng sản và người cộng sản, tôi tin lời cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm” còn hơn cả các tín điều tôn giáo của tôi.
Cũng giống như tất cả mọi lãnh tụ cộng sản và các nhà độc tài trong suốt lịch sử nhân loại, Chủ tịch Kim Jong-un đã được đào luyện từ trường đại học “dối trá”. Dối trá là bản chất của cộng sản. Làm sao tin được rằng ông sẽ cho giải trừ kho vũ khí hạt nhân của ông, bởi lẽ sự sống còn của chế độ và triều đại cha truyền con nối của ông tùy thuộc vào kho vũ khí ấy. Garren Mulloy, một giáo sư phụ khảo cũng về môn quan hệ quốc tế tại trường Đại học Daito Bunka của Nhật Bản, giải thích: “Mục đích duy nhứt của Kim là tồn tại. Ngay cả sự thịnh vượng của quốc gia, ông cũng không màng tới, miễn là chế độ của ông tồn tại”. Theo giáo sư Mulloy, nhiều người đề nghị: bảo đảm an toàn cho cá nhân ông và sự tồn tại  chế độ của ông thì chủ tịch Kim Jong-un sẽ hủy bỏ toàn bộ kho vũ khí hạt nhân của ông. Nhưng một kẻ giết người như ngóe, ngay cả người thân ruột thịt của mình và các cộng sự viên thân cận nhứt của mình, làm sao có thể tin được rằng những thế lực thù địch như Nam Hàn hay Hoa Kỳ...sẽ bảo đảm an toàn cho mình.
Quyền lực và sự thật thường không sánh vai với nhau. Ở đỉnh cao của quyền lực, nhứt là thứ quyền lực được xây dựng trên dối trá và bạo lực, con người thường bị đặt vào thế phải dối trá. Dối trá dẫn đến cô đơn và dĩ nhiên, cô đơn cũng khiến cho con người không còn tin tưởng nơi người khác và cũng không còn được người khác tin tưởng. Dường như nhà văn bất đồng chính kiến Dương Thu Hương đã muốn chứng minh luận đề ấy qua quyển tiểu thuyết “Đỉnh cao chói lọi” trong đó, khi tiết lộ mối tình bí mật của ông Hồ Chí Minh, bà nói đến nỗi cô đơn của một con người khi ở đỉnh cao của quyền lực lại bị cô lập và không còn được ai tin tưởng nữa. Có lẽ ông Donald Trump Jr, người trưởng nam của đương kim Tổng thống Mỹ Donald Trump,  đã muốn ám chỉ đến một nỗi cô đơn như thế của cha mình khi tuyên bố: “Cha tôi không còn tin tưởng ai xung quanh ông nữa”. Trong một cuộc phỏng vấn trong chương trình “Good Morning America” của Đài truyền hình ABC hôm 11 tháng Chín vừa qua, người con trưởng nam của Tổng thống Trump than phiền: “Thật là xấu hổ hết sức, nếu tin tưởng được hoàn toàn nhân viên xung quanh mình thì mọi việc đã trở nên dễ dàng trơn tru hơn rất nhiều”
(x. https://www.baocalitoday.com/hoa-ky/donald-trump-jr-cha-toi-khong-con-tin-tuong-ai-xung-quanh-ong-nua.html).
Ngoại trừ Lỗ Bình Sơn trên hoang đảo, sống ở đời ai mà chẳng cần có bạn bè để chia sẻ, có người để mình tin tưởng và nhứt là được người khác tin tưởng.
Tôi chưa lên tới đỉnh cao của quyền lực và suốt đời cũng chẳng bao giờ mơ ước được như thế. Dĩ nhiên, cô đơn là tâm trạng có ai tránh khỏi đâu. Nhưng ít ra tôi thấy mình vẫn còn tin tưởng nơi nhiều người và có lẽ cũng có một số người còn tin tưởng nơi tôi. Ít nhứt cũng có một hay hai người được tôi tin tưởng để ký thác những bí mật thầm kín của tôi. Tin tưởng và được tin tưởng, tôi nghĩ mình không thể sống một cách lành mạnh và bình thường nếu không có được niềm tin tưởng hỗ tương ấy.
Qua các cuộc nghiên cứu trước đây cũng như kinh nghiệm thông thường của nhiều người, đều cho thấy rằng những nét nổi trội trong tư cách của một con người khiến cho người đó dễ được người khác tin tưởng thường là sự lương thiện, thái độ khiêm tốn, sự tử tế, lòng quảng đại. Kinh nghiệm bản thân cũng luôn thúc đẩy tôi đặt niềm tin tưởng nơi những con người có những đức tính ấy.
Tuy nhiên, trong một xuất bản ra tháng Chín này, báo The Journal of Personality and Social Psychology (tạp chí về Nhân cách và Tâm lý Xã hội) bên Mỹ có cho đăng tải kết quả của một loạt những  cuộc thử nghiệm cho thấy những người đáng tin tưởng nhứt là những người biết nhận lỗi của mình. Qua kết quả của các cuộc thử nghiệm, Tạp chí The Journal of Personality and Social Psychology cho thấy những người dễ dàng chấp nhận lỗi lầm của mình và như vậy có ý thức trách nhiệm cao là những người dễ được người khác tin tưởng hơn. Các chuyên gia tâm lý tham gia vào các cuộc nghiên cứu đưa ra lời khuyên: “Khi phải quyết định sẽ đặt tin tưởng vào ai đó , bạn  hãy tin tưởng người dễ nhận ra lầm lỗi của mình”
(x.https://www.psychologytoday.com/au/blog/finding-new-home/201809/new-research-determines-who-you-can-trust-the-most).
Lãnh tự Bắc Hàn Kim Jong-un có bao giờ tỏ ra tử tế, nhân đạo với ai chưa, tôi không rõ. Nhưng chắc chắn cho tới giờ phút này, tôi chưa bao giờ thấy ông lên tiếng nhận bất cứ lỗi lầm nào hoặc bày tỏ một chút hối hận nào về những hành động tàn bạo độc ác của mình đối với người dân Bắc Hàn và ngay cả người thân của mình. Tôi không thể nào đặt niềm tin tưởng vào một người như thế. Và dĩ nhiên, cho tới giờ phút này tôi cũng cũng không và sẽ không bao giờ đặt tin tưởng nơi bất cứ một người cộng sản nào.
Hãy thử lấy trường hợp ông Trần Đại Quang, Chủ tịch nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, người  vừa mới qua đời hôm 21 tháng Chín vừa qua. Có lẽ ít có cái chết nào được dư luận trong nước bàn tán xôn xao cho bằng sự ra đi của ông. Người ta ít chú ý đến vai trò “chủ tịch nước” vốn chỉ có tính cách trình diễn của ông hơn là giai đoạn ông còn làm phó Bí thư tỉnh ủy, phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công An, rồi kế đó là Bộ trưởng Bộ Công An.
Trong giai đoạn này, “thành tích” nổi bật nhứt  ông để lại là cuộc “dẹp loạn” ở Tây Nguyên từ năm 2000 đến năm 2004. Số người thuộc sắc tộc thiểu số bị giết chết trong cuộc dẹp loạn lên đến hàng ngàn người và số người đi tù không dưới vài trăm. 30 năm sau, nhiều người vẫn còn kể lại rằng cuộc vây bắt người thiểu số ở Tây Nguyên đã diễn ra chẳng khác nào một cuộc săn thú. Một số trốn được qua Cam Bốt cũng bị săn đuổi cho đến cùng. Khi ông Quang được cất nhắc lên làm Bộ trưởng Bộ Công An, nhiều người thiểu số đã bị Cam Bốt bắt đem trả lại cho Việt Nam.
Nhưng có lẽ người Việt Nam trong nước đặc biệt chú ý hơn đến giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2012. Đây là thời kỳ diễn ra nhiều cuộc biểu tình chống Trung Cộng nhứt. Nhiều người vẫn nhớ mãi “thành tích” của ông Quang khi ông phát minh ra trò cho nhân viên an ninh, công an mặc thường phục, trà trộn vào đoàn biểu tình để đánh đập, gây rối và phá hoại tàn sản của người dân. Đã có không dưới 260 người chết trong các đồn công an. Đó là chưa kể hàng trăm cái chết do công an truy đuổi và gây ra tai nạn.
Cũng trong thời kỳ ông làm Bộ trưởng Bộ Công An, các nhà bất đồng chính kiến, những người đấu tranh cho dân chủ bị kết án nặng nề nhứt (x. http://www.danchimviet.info/nhung-di-san-thanh-tich-cua-bo-truong-c-a-co-chu-tich-nuoc-tran-dai-quang/09/2018/11579/).
Nói cho cùng, tất cả những “thành tích” của Bộ trưởng Công An Trần Đại Quang đều là thành tích của tội ác. Nghe đâu cách đây không lâu ông đã cúng cho chùa Vĩnh Nghiêm một cặp đèn trị giá 19 tỷ đồng Việt Nam, tương đương với trên 800 ngàn Mỹ kim. Nhưng tuyệt nhiên cho đến những giây phút cuối đời, chưa thấy ông thốt lên một lời nào để bày tỏ hối hận vì những tội ác của mình.
Theo báo điện tử Petrotimes.vn. được báo Người Việt bên Mỹ trích thuật,  “hơn 500 tăng ni, phật tử được ghi nhận đã tham gia lễ cầu siêu cho Chủ tịch Nước Trần Đại Quang tại chánh điện Việt Nam Quốc Tự sáng 23 tháng Chín vừa qua”. Tờ báo mô tả: “Di ảnh Chủ tịch Trần Đại Quang được đặt trang trọng giữa tấm ảnh Đức Phật. Ông Trần Đại Quang từng tham dự lễ cầu nguyện rót đồng đúc tôn tượng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tại Việt Nam Quốc Tự cuối năm 2015 với tư cách Bộ trưởng Công an”.
Một người đã gây ra bao nhiêu tội ác nhưng suốt đời không hề bày tỏ được một cử chỉ hối hận hay sám hối như ông Quang, một người như thế nếu có giao dịch tôi sẽ không bao giờ dám đặt tin tưởng vào.
“Nghĩa tử nghĩa tận”, tôi không dám nghĩ như tác giả Tưởng Năng Tiến để bảo rằng “cái gông của ông Quang (nơi cõi âm) nếu dài một thước thì sau khi cúng chùa cặp đèn giá trị 19 tỷ đồng nó sẽ ngắn bớt lại được một phân” hoặc cho rằng “ông sẽ gặp nhiều chuyện lôi thôi lớn và lôi thôi lắm”. Tôi chỉ cầu mong rằng với lễ cầu siêu trang trọng được tổ chức tại chánh điện Việt Nam Quốc Tự, ông sẽ chóng siêu thoát. Còn không nếu còn nặng nợ để phải tiếp tục đầu thai ở kiếp sau, mong ông được làm một người tử tế hơn và nhứt là tiếp tục sám hối về những tội ác của mình để nhận được một phần thưởng lớn trong cuộc đời là được người khác tin tưởng hơn là bị nguyền rủa và xa lánh.