Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2018

Những tia sáng xuyên qua bóng tối


 Chu Thập
20/07/18
Đặc phái viên Steve Cannane của Đài ABC, Úc Đại Lợi, tại Âu Châu  đã đến một nơi đã từng xảy ra một trong những tội ác tày đình nhứt trong lịch sử của Âu Châu hiện đại. Tại đây, một cư dân tên là Nedzad Avdic đưa ông đến một chỗ mà không một người bình thường nào muốn thăm viếng.
Chính tại chỗ này, cách đây đúng 22 năm, Nedzad đã bị các lực lượng của Chính phủ Bosnia Serbia lôi cổ xuống khỏi một chiếc xe tải. Lúc đó, Nedzad chỉ là một thanh niên 17 tuổi. Anh ngửi được mùi thuốc súng. Nỗi sợ hãi chạy suốt xương sống của anh. Anh nghe được tiếng rên la của những người đang hấp hối. Trước mặt anh là hàng hàng lớp lớp những thây chết.
Trước khi đến lượt mình bị mang ra xử tử, người thanh niên nhìn thấy nhiều người ở phía trước anh bị chặt chém. Tay anh bị trói gô ra đàng sau. Anh bị đẩy xuống một rãnh nhỏ trước mặt. Ý nghĩ cuối cùng của người thanh niên trước khi bị bắn 3 lần là mẹ anh sẽ không bao giờ biết xác anh ở đâu.
Nedzad là một trong rất ít những người còn sống sót trong cuộc tàn sát tập thể tại Srebrenica, Bosnia Hegzegovina dạo tháng Bảy năm 1995. Đây là cuộc diệt chủng duy nhứt xảy ra tại Âu Châu sau Đệ nhị Thế chiến.
Khoảng 8.000 người  đàn ông và thanh thiếu niên Hồi Giáo không có một tấc sắt trong tay đã  bị các lực lượng Bosnia Serbia bắt giữ, mang đi xử tử và vùi xuống những nấm mồ tập thể. Không rõ bằng cách nào mà Nedzad đã thoát chết. Sau khi đội hành quyết rời khu tử địa để đi lùng bắt thêm những người Hồi Giáo khác, Nedad đã cố gắng bò lên khỏi tử huyệt, lê lết vào khu rừng bên cạnh.
Năm 2007, trong một hành động thách thức những người  muốn xóa sạch người Hồi Giáo khỏi Sbrebrenica, Nedzad đã cùng với gia đình trở lại đây và tự trao cho mình một sứ mệnh: anh muốn đưa các phóng viên đến nơi đã từng diễn ra cuộc diệt chủng cuối cùng tại Âu Châu để thế giới đừng bao giờ quên tội ác ấy!
Một ngày sau khi được Nedzac đưa đi thăm nơi đã diễn ra cuộc diệt chủng, phóng viên Cannane đã đến gặp ông Mladen Grujicic, Thị trưởng Srebrenica. Ông này không nhìn nhận rằng đã từng có một cuộc diệt chủng xảy ra trong thành phố của ông. Khi nhận xét về tướng Ratko Mladic, tội phạm chiến tranh đã từng ra lệnh cho quân đội Bosnia Serbia thực hiện cuộc diệt chủng, Thị trưởng Srebrenica nói rằng ông này thật sự là một anh hùng. Khi được hỏi đâu là bằng chứng để khẳng định rằng cuộc diệt chủng đã không hề xảy ra, thị trưởng thành phố Srebrenica nói rằng 5 người có tên trong đài tưởng niệm không phải là cư dân ở đây.
Khi được yêu cầu trưng dẫn bằng chứng, Thị trưởng Grujicic đã gởi đến cho phóng viên Cannane hai trang được trích dẫn từ một luận án của một sĩ quan thuộc lực lượng Drina, tức đơn vị chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát người dân vô tội.
Dĩ nhiên, “bằng chứng” do ông Thị trưởng Sbrebrenica trưng dẫn hoàn toàn trái ngược với tài liệu do các chuyên viên làm việc cho Tòa án Quốc tế The Hague đặc trách về Cựu Nam Tư, cung cấp.
Trước những bịa đặt hoàn toàn dối trá của Thị trưởng Sbrebrenika, Nedzad lại càng thấy mình có sứ mệnh phải làm chứng cho sự thật.
Phóng viên Cannane đã có mặt tại Srebrenika vào tháng 11/2017, ngày mà tướng Ratko Mladic bị tuyên án về các tội diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại. Các bà mẹ Sbrebrekika đã khóc ròng khi nghe Tòa Án The Hague tuyên án.
Ngày hôm trước, người phóng viên của Đài ABC đã nhìn thấy Nadzac cùng với vợ và 2 đứa con của anh tại đài tưởng niệm các nạn nhân của cuộc diệt chủng. Đứng trước hàng ngàn bia mộ của những người đã bị quân đội Bosnia Serbia tàn sát, Nadzac nói với phóng viên Cannane: “Đây là câu trả lời của tôi dành cho ông Ratko Mladic”.
Cùng với câu chuyện của Radzac, phóng viên Cannane cũng đã theo dõi nhiều thảm kịch khác chỉ mới xảy ra tại Âu Châu trong thời gian gần đây. Ông đưa ra suy nghĩ: “Văn minh và tình nhân đạo đối lại với sự dã man là điều tôi đã thấy nhiều lần trong 2 năm qua” tại Âu Châu.
Nhiều mạng sống vô tội đã bị hủy diệt vì những cuộc tấn công độc ác dã man. Nhưng đối lại với những hành vi độc ác ấy lúc nào cũng có những hành động tử tế và can đảm. Đặc phái viên của Đài ABC tại Âu Châu nói: “Bất cứ nơi nào có bóng tối, tôi cũng đều thấy được những tia sáng”.
Trong cuộc tấn công khủng bố tại cầu London Bridge, Anh Quốc  dạo tháng Sáu năm 2017, có 8 người bị giết chết và 48 người bị thương. Nhưng cuộc tấn công đồi bại ấy cũng đã làm bừng dậy những hành động can đảm hiếm có. Kirsty Boden, một nữ y tá người Nam Úc, đã bị giết chết sau khi đã lăn xả vào chỗ hiểm nguy để giúp đỡ các nạn nhân. Wayne Marques, một cảnh sát viên Anh, đã bị thương nặng sau khi bị đâm nhiều lần vì can đảm chiến đấu chống lại 3 tên khủng bố.
Tại Manchester, nhiều bậc phụ huynh đã liều mạng để cứu con cái mình trong vụ đặt bom khủng bố tại một buổi trình diễn ca nhạc của ca sĩ Mỹ Ariana Grande dạo tháng Năm năm vừa qua. Cuộc khủng bố đã làm cho 22 người bị thiệt mạng và 59 người bị thương. Vậy mà trong buổi canh thức được tổ chức vào ngày hôm sau để tưởng niệm các nạn nhân, thi sĩ Tony Walsh đã đọc bài thơ có tựa đề “This is the Place” (Đây chính là nơi), qua đó ông kêu gọi mọi người hãy lấy tình thương để đáp trả lại hận thù.
Ngoài Manchester và London, phóng viên Cannane cũng có mặt tại hầu hết những nơi khác ở Âu Châu như Nice, Pháp Quốc và Barcelona, Tây Ban Nha là những nơi đã diễn ra những cuộc khủng bố dã man. Nhưng dưới mắt của người phóng viên của Đài ABC, cuộc khủng bố nào cũng độc ác dã man và cuộc khủng bố nào cũng khơi dậy lòng nhân đạo và những nghĩa cử của con người. (http://www.abc.net.au/news/about/backstory/news-coverage/2018-07-08/steve-cannane-reflects-on-europe-posting).
Đọc lại kinh nghiệm 2 năm làm phóng sự của phóng viên Cannane tại Âu Châu, tôi cứ ngẫm nghĩ về câu nói của ông: “Bất cứ nơi nào có bóng tối, tôi cũng đều thấy được những tia sáng”. Tôi cũng đã nhìn thấy được những tia sáng như thế trong hang động Tham Luang, thuộc tỉnh Chang Rai, Bắc Thái Lan, nơi 12 thiếu niên Thái và huấn luyện viên túc cầu của các em bị mắc kẹt trong nhiều ngày. Trong hang động tối tăm, điều được mang vào trước tiên là một chút ánh sáng, vừa đủ để nhìn thấy gương mặt và nhứt là ánh mắt lúc nào cũng sáng lên niềm hy vọng và lạc quan của các em thiếu niên. Ánh sáng hy vọng và lạc quan đã có thể chiếu tỏa trên gương mặt và đôi mắt của các em thiếu niên bởi vì, dù không nhìn thấy, các em vẫn biết rằng bên trên hang động, cha mẹ và gia đình các em, các thiện nguyện viên, các chuyên viên cấp cứu, những người thợ lặn đang làm việc ngày đêm để cứu các em và cả thế giới như đang nín thở để theo dõi tin tức về các em. Từ hang động tối tăm ấy đã nẩy sinh biết bao nhiêu tia sáng của quảng đại, hy sinh, quên mình. Thế giới sẽ mãi mãi ghi nhớ lòng quả cảm và sự hy sinh của anh Saman Kunan, cựu binh sĩ thuộc lực lượng người nhái Thái, người đã tình nguyện lặn vào hang động để cứu các em thiếu niên và đã hy sinh tính mạng.
Những giây phút tưởng chừng như đen tối nhứt trong bất cứ một thảm kịch nào của nhân loại trong thế giới ngày nay cũng thường là những giây phút đẹp nhứt của tình người. Từ bất hạnh, khổ đau, mất mát lúc nào cũng có thể bừng dậy những nghĩa cử cao đẹp từ trái tim con người. Trong những giây phút tưởng chừng như tuyệt vọng, tin vui lại đến. Với ý nghĩ này tôi nghe văng vẳng ca khúc của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng: “Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng. Một vòng tay vừa mới mở ra. Cứu anh em những đời mạt vận. Đường mờ đi càng bước càng xa. Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng. Hai mươi năm tưởng đá vàng phai. Có em tôi nuốt từng giọt lệ. Ngậm oan khiên đợi mãi một ngày. Hãy nói cho mọi người cùng nghe. Người đã cứu người...”
Máu chảy ruột mềm. Tình người là kho tàng ẩn dấu trong lòng ruột con người. Tình người không có biên giới. Tình người không dừng lại ở bất cứ rào cản nào. Tình người lại càng không bị ràng buộc vào bất cứ một nền văn hóa hay tôn giáo nào. Tình người không có kỳ thị, dù dưới bất cứ hình thức nào.  Đã là người thì dù thuộc chủng tộc, văn hóa hay tôn giáo nào, ai cũng có khả năng sống tình người. Điều làm cho con người thực sự là người chính là lòng nhân đạo, là tình người.
Mới đây, một nữ nghệ sĩ người Úc, bà Patricia Piccinini đã cho triển lãm tại Brisbane một số tác phẩm điêu khắc của bà. Sợi chỉ xuyên suốt trong những hình tượng nửa người nửa thú của bà chính là tình mẫu tử, niềm ưu ái. Dường như thông điệp mà nữ nghệ sĩ này muốn nhắn gởi là: trong chuỗi tiến hóa của loài người thì điều làm cho con người là người chính là tình người. Tình người chính là tế bào gốc của trái tim con người. Tình người là chất keo của các quan hệ xã hội. Do đó tình người cũng phải là trái tim của bất cứ một cuộc “tề gia, trị quốc và bình thiên hạ” nào.
Không biết có phải để đối lại với chủ trương “America first” (Nước Mỹ, người Mỹ trước tiên) của Tổng thống Donald Trump, mới đây một người Mỹ gốc Hoa là ông Andrew Young đã tuyên bố sẽ ra tranh cử tổng thống Mỹ vào năm 2020 với khẩu hiệu “Humanity first” (Con người, tình người, lòng nhân đạo trước tiên). Tốt nghiệp kinh tế và luật, với kinh nghiệm  đã từng hoạt động trong các lãnh vực y tế, giáo dục, ông Yang đã thành lập nhiều công ty. Năm 2011, ông đứng ra điều hành “Venture for America”, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên động viên các nhà doanh nghiệp trẻ tạo công ăn việc làm. Năm 2012, ông được Tổng thống Barack Obama trao tặng danh hiệu “Champion of Change” (nhà vô địch về cải tổ). Ông cũng được Tòa Bạch Ốc cử làm đại sứ của tổng thống về Doanh nghiệp Toàn cầu. Là một nhà doanh nghiệp trẻ, ở tuổi chỉ mới 43, ông Yang nhìn nhận mình là người theo tư bản chủ nghĩa, nhưng ông muốn mang lại cho tư bản chủ nghĩa một bộ mặt “nhân bản” hơn, bởi vì theo ông thứ tư bản chủ nghĩa hiện hành tại Hoa Kỳ không phục vụ cho đại đa số người Mỹ. Ông khẳng định: “Con người quan trọng hơn tiền bạc”. Một cách nào đó, ông Yang và đệ nhứt phu nhân Melania Trump đã gặp nhau ở một điểm: Chính phủ phải cai trị với một trái tim!
Tôi không biết khẩu hiệu “Humanity first” của người Mỹ gốc Hoa Andrew Yang có thuyết phục được người Mỹ không. Nhưng ít ra, nó nhắc nhở tôi rằng trong cuộc sống này chẳng có thứ gì có thể được đặt lên trước tình người và lòng nhân đạo...bởi vì chỉ có giá trị này mới làm cho con người thực sự là người.






Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2018

Đám đông cô đơn



Chu Thập
13/06/18
Chuyện bên lề Giải Túc Cầu Thế Giới 2018: một cặp vợ chồng Nga ly dị chỉ vì cãi nhau về địa vị cầu thủ số một thế giới. Theo một tờ báo địa phương của Nga, cuộc cãi vã giữa cặp vợ chồng đã xảy ra sau khi đội tuyển Á Căn Đình hạ đội tuyển Nigeria ở vòng loại. Với người chồng, Lionel Messi là cầu thủ số một thế giới. Nhưng người vợ thì lại khăng khăng bảo vệ lập trường của mình: Cristiano Ronaldo, thủ quân đội Bồ Đào Nha  mới xứng đáng giữ địa vị này. Trên sân cỏ, cuộc thi đấu nào cũng đều kết thúc hoặc với tỷ số huề nhau hoặc có kẻ thắng người thua. Nhưng trong  trận đấu võ mồm giữa hai vợ chồng Nga này thì chẳng có huề mà cũng chẳng có ai thắng hay thua cả cho nên cuối cùng người chồng đành cuốn gói ra đi và sau đó nộp đơn xin ly dị.
Tờ báo địa phương đưa tin trên đây cho biết hai vợ chồng này đã gặp nhau trong một quán rượu khi cả hai cùng theo dõi Giải Túc Cầu Thế Giới năm 2002 được tổ chức tại Nhựt Bổn và Đại Hàn. Họ đã lấy nhau vì túc cầu và cũng chia tay vì túc cầu. Chẳng có quen biết gì cặp vợ chồng Nga này, nhưng tôi cũng thấy buồn thật! Trên sân cỏ, sau một trận đấu, các cầu thủ còn bắt tay chào từ biệt nhau. Nhưng trên khán đài hay trước màn ảnh truyền hình, có khi người ta còn ăn thua đủ với nhau bằng cả bạo lực nữa!
Theo dõi các cuộc thi đấu, tôi không chỉ chú mục vào sân cỏ, mà còn xem phản ứng của khán giả trên khán đài. Ống kính truyền hình thỉnh thoảng dừng lại ở những khoảnh khắc đặc biệt nói lên đủ thứ hỉ nộ ái ố của khán giả. Nơi đây có kẻ nhảy nhót reo hò vì niềm vui chiến thắng. Nơi kia có người mếu máo khóc. Ở một góc khác, người ta gấu ó tưởng chừng như muốn ăn tươi nuốt sống nhau. Cứ như thể chính mình là người đang thi đấu!  
Ở giữa đám đông, dường như con người dễ mạnh dạn hơn để biểu lộ con người thật của mình. Đám đông là một thứ xúc tác có thể làm bật lên những cử chỉ hay hành động mà bình thường người ta không dám hay không muốn làm. Có người nhờ đám đông để biểu lộ tính lương thiện và những tình cảm tốt đẹp. Nhưng cũng không thiếu những người bị đám đông lôi kéo để làm những hành động bất lương và ngay cả tội ác.
Tôi thường nghĩ đến đám đông những người Đức đã tham gia vào cuộc diệt chủng của Đức Quốc Xã đối với người Do Thái. Vào năm tới 2019, thế giới sẽ đánh dấu 80 năm ngày Đức Quốc Xã xâm chiếm Ba Lan, khai mào Đệ nhị Thế chiến và nhứt là khởi xướng cuộc diệt chủng đối với người Do Thái tại Âu Châu. Dĩ nhiên đó là tội ác của Hitler và Đức Quốc Xã. Nhưng chắc chắn Hitler không có đủ ba đầu sáu tay để thực hiện một tội ác tày đình như thế. Có cả một đám đông đứng sau lưng ông và thi hành hiệu lệnh của ông. Thế giới sẽ mãi mãi thắc mắc tại sao một tội ác tập thể như thế đã có thể xảy ra.
Đã có hàng trăm ngàn người Đức, bình thường như mọi người dân bình thường khác ở Âu Châu và trên khắp thế giới, đã tham gia một cách có chủ ý và với đầy đủ  ý thức vào cuộc tra tấn và tàn sát tập thể những người vô tội. Và ngay cả không trực tiếp tham gia vào tội ác, con số những người bàng quan và  thụ động đứng nhìn các hành động tội ác và biết rõ chủ ý đồi bại của Đức Quốc Xã không phải là nhỏ. Tại sao điều đó đã có thể xảy ra?
Người Đức không phải là một đám sát nhân bệnh hoạn. Phần lớn những người Đức đã tích cực tham gia vào tội ác hay thụ động đứng nhìn tội ác đều là những con người bình thường và có tâm lý ổn định trước khi Hitler lên cầm quyền. Cuộc sống gia đình của họ cũng giống như cuộc sống của những người thuộc giai cấp trung lưu trong bất cứ quốc gia Tây Phương nào. Họ có công ăn việc làm để mưu cầu cuộc sống cho gia đình họ. Họ cũng gởi con đến trường học và cũng mong cho chúng ăn học thành tài và nên người. Họ cũng quảng đại đóng góp cho các công cuộc từ thiện ở địa phương. Họ cũng có bạn bè và cũng tham gia các sinh hoạt xã hội. Họ là những người bình thường như mọi người bình thường trên trái đất này.
Trước khi Hitler lên cầm quyền, trong số những người tham gia vào cuộc diệt chủng người Do Thái do Đức Quốc Xã chủ xướng hoặc làm khách bàng quan đứng nhìn tội ác, không có người nào để lộ bất cứ dấu hiệu nào của bệnh tâm thần hay khuynh hướng độc ác muốn hãm hại người khác. Họ không hề là người vô cảm. Họ cũng không hề là những người không sống theo bất cứ một chuẩn mực đạo đức nào. Khi được tuyển dụng và gởi đến đến các làng mạc của người Do Thái để bắn giết trẻ con và phụ nữ, một số người chỉ thi hành “sứ mệnh” trong một  thời gian ngắn và sau đó bỏ cuộc vì không thể chịu đựng nổi cảnh chết chóc do chính mình gây ra. Điều đó chứng tỏ họ không hề là những người máy không có cảm xúc hay những tên sát nhân hàng loạt mắc bệnh tâm thần.
Theo các tài liệu lưu trữ, không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy những người  tích cực tham gia vào tội ác đã bị cưỡng bách phải thi hành sứ mệnh cả. Tài liệu cho thấy trong số 500 người Đức được tuyển mộ để đi lùng bắt 1800 người Do Thái tại làng Jozefow, bên Ba Lan, chỉ có đúng 15 người quyết định không tham gia vào tội ác sau khi được đại tá Wilhelm Trapp cho biết họ phải bắn giết phụ nữ, trẻ con và người già, nhưng nếu không muốn họ có thể rút lui.
Những người Đức đã tình nguyện đi lùng bắt người Do Thái hoặc làm việc tại các trại tập trung Auschwitz, Ravensbruck, Dachau và nhiều trại tập trung khác, nơi các tù nhân bị sát tế trong các lò hơi ngạt hay được sử dụng như vật thí nghiệm trong các phòng nghiên cứu ...đều xuất phát từ mọi  giai tầng xã hội và ngành nghề khác nhau. Họ là binh sĩ, cảnh sát viên, luật sư, bác sĩ, y tá, thư ký, kỹ sư, nhân công và ngay cả bậc khoa bảng.
Điều hành các trại tập trung là các sĩ quan quân đội, nhưng trực tiếp thi hành tội ác lại là những thường dân. Chính những người đã từng là láng giềng quen biết của người Do Thái lại đứng ra thi hành tội ác. Phần lớn những người Đức đảm nhận những công việc hàng ngày trong các trại tập trung như y tá, cai tù...đều không bỏ công việc hoặc xin chuyển đi nơi khác ngay cả sau khi đã  chứng kiến những hành động tội ác đối với các tù nhân.
Tại sao người Đức đã tích cực tham gia hoặc làm khách bàng quan đứng nhìn tội ác của  Đức Quốc Xã ? Chỉ có một câu trả lời xem ra thỏa đáng là: họ đã hành động như thế bởi vì họ nghĩ rằng đó là điều chính đáng và cần thiết!
Họ nghĩ rằng họ đã hành động đúng, bởi vì họ đã bị đầu độc để ghét người Do Thái. Họ đã được dạy rằng người Do Thái đã tàn phá nền kinh tế của đất nước và rằng những người Do Thái theo cộng sản Bolchevik tại Mạc Tư Khoa đang có âm mưu tiêu diệt người Đức và thực hiện một cuộc cách mạng cộng sản tại Đức.
Họ nghĩ rằng điều họ làm là cần thiết, bởi vì họ tin rằng người Do Thái là một mối đe dọa lớn cho cuộc sống của người Đức. Thật ra, chủ nghĩa bài Do Thái  không phải là kết quả của cuộc tuyên truyền của Đức Quốc Xã. Nó đã được khai sinh ngay từ Thế kỷ 19. Trong cái nhìn của một người Đức bình thường vào thời kỳ đó, Do Thái là một giống người mưu mô, xảo quyệt, độc ác. Tuy nhiên, phần lớn người Đức có lẽ đã không sẵn sàng hay có đủ dã tâm để tiêu diệt người Do Thái. Phải đợi cho đến khi Hitler và Đức Quốc Xã dùng mọi xảo thuật để tuyên truyền và đầu độc, những khuynh hướng thấp hèn trong những người Đức bình thường mới có cơ hội bừng dậy và hận thù vốn đã âm ỉ trong tầm hồn họ mới được trút xuống những người vô tội.
Đám đông là một sức mạnh vĩ đại. Đám đông có thể thực hiện thành công những cuộc cách mạng ôn hòa như thế giới đã chứng kiến tại Phi Luật Tân năm 1986 hay tại một số nước Bắc Phi qua điều thường được gọi là Mùa Xuân Á Rập hồi năm 2010. Nhưng như lịch sử đã chứng minh, cũng chính đám đông tạo ra những nhà độc tài và góp phần vào tội ác. Đám đông người Đức đã đưa Hitler lên cầm quyền và chuẩn thuận chương trình độc ác của ông thường được mệnh danh  là “giải pháp cuối cùng”, tức tiêu diệt người Do Thái.
Con người thường dễ cảm thấy cô đơn giữa đám đông. Ngày nay, khi cuộc sống ngày càng được đô thị hóa, con người càng cảm thấy cô đơn hơn. Hiện tượng tự tử tại những nước có mức sống cao là biểu hiện rõ nét nhứt của nỗi cô đơn mà cuộc sống dư dật và những tiện nghi vật chất không thể khỏa lấp được. Nhưng không những con người cảm thấy cô đơn giữa đám đông mà chính đám đông ngày nay cũng là một đám đông cô đơn. Ngay từ thập niên 1950, tác giả Mỹ David Rieasman đã nói đến hiện tượng cô đơn của đám đông trong cuốn sách có tựa đề “đám đông cô đơn” (the lonely crowd). Trong phần kết luận của cuốn sách, tác giả  khẳng định: “Tư tưởng cho rằng con người sinh ra tự do và bình đẳng vừa đúng lại cũng vừa sai”. Theo ông, con người sinh ra đã khác nhau. Họ đánh mất tự do và độc lập cá nhân khi tìm cách trở thành giống nhau, tức hòa nhập vào đám đông. Lúc đó những lựa chọn của họ không hoàn toàn mang tính cá nhân độc lập mà là sản phẩm của thời thế. Vì đánh mất chính mình cho nên họ mới cảm thấy cô đơn. Và chính vì cô đơn mà đám đông dễ có phản ứng bầy đàn: ở giữa đám đông, bất cứ một hành động nào, tốt hay xấu, cũng đều có sức lây lan và lôi cuốn những người xung quanh.
Ngồi một mình trước màn ảnh truyền hình để theo dõi các trận thi đấu của Giải Túc Cầu Thế Giới, tôi cũng cảm thấy cô đơn. Thật ra, có giây phút nào mà tôi không cảm thấy cô đơn. Và tôi cũng tin rằng trên thế gian này, không một ai có thể thoát được cô đơn. Thông minh và nổi tiếng như nhà bác học Albert Einstein mà cũng có lúc phải thốt lên: “Thật là điều lạ lùng: được cả thế giới biết đến mà vẫn cảm thấy rất đỗi cô đơn!” Có khi càng giàu có con người lại càng cảm thấy cô đơn hơn và đỉnh cao của quyền lực cũng là tột đỉnh của cô đơn. Nhưng cô đơn không phải là tiếng nói cuối cùng trong cuộc sống. Các nhà lãnh đạo tinh thần, như  Đức Đạt Lai Lạt Ma chẳng hạn, thường xem sự cảm thông như khí giới để chiến đấu chống lại cô đơn. Nói cho cùng, khi con người biết lấy tình thương, sự cảm thông, lòng quảng đại và sự tha thứ để đối xử với người khác, họ sẽ vượt qua được nỗi sợ hãi và sự trống rỗng trong tâm hồn mình.










Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2018

Một cử chỉ đẹp



Chu Thập
06/07/18

Hầu như Giải Túc Cầu Thế Giới nào cũng để lại trong ký ức tôi một dấn ấn khó phai. Dĩ nhiên, làm sao quên được tên tuổi của những siêu sao và những cú làm bàn đẹp của họ. Nhưng tôi lại dễ bị cảm kích hơn vì những hình ảnh nổi bật khác. Chẳng hạn “bàn tay Chúa” của danh thủ Á Căn Đình Diego Maradona trong trận đấu giữa Á Căn Đình và Anh Quốc trong Giải Túc Cầu Thế Giới năm 1986 tại Mễ Tây Cơ thì tôi không thể nào quên được. Trong trận đó, Maradona đã dùng bàn tay để ngụy tạo một cú đánh đầu khéo léo đến độ qua mặt được trọng tài. Năm đó đội tuyển Á Căn Đình đoạt chức vô địch thế giới và riêng Maradona được tặng danh hiệu “trái banh vàng” (golden ball).
10 năm sau “bàn tay Chúa” của Maradona, cú húc đầu của siêu sao Pháp Zinedine Zidane lại càng “làm nên lịch sử hơn”. Trong trận đấu giữa Pháp và Ý tại Giải Túc Cầu Thế Giới năm 2006 được tổ chức tại Bá Linh, Đức, không rõ vì một lời nói xúc phạm nào đó đối với em gái của mình, danh thủ Zidane đã dùng đầu húc mạnh vào ngực của tiền vệ Marco Materzzi của Ý. Danh thủ nổi tiếng với lối chơi đẹp và thái độ nhã nhặn đã lãnh thẻ đỏ và bị đuổi ra khỏi sân.
Mới nhứt và xem ra cũng khó quên nhứt đối với tôi có lẽ là cái miệng “Dracula” của danh thủ Luis Suarez thuộc đổi tuyển quốc gia Uruguay. Con ngựa chứng có tài nhưng có tật này thích cắn tai người khác. Trong trận đấu giữa Uruguay và Ý trong Giải Túc Cầu Thế Giới năm 2014 tại Ba Tây, Suarez đã bất thần cắn vào vai tiền vệ Ý Giorgio Chiellini. Đây không phải là lần đầu tiên danh thủ này sử dụng khẩu thuật để tấn công đối thủ. Nhưng tại một Giải Túc Cầu Thế Giới, trước sự chứng kiến của hàng triệu triệu khán giả trên khắp thế giới, cú cắn của anh đã trở thành một dấu ấn khó phai của mùa Giải Túc Cầu Thế Giới năm đó.
Giải Túc Cầu Thế Giới 2018 chưa kết thúc. Tôi không biết rồi đây khán giả trên khắp thế giới sẽ ghi nhớ những sự kiện hay hình ảnh nào được xem là nổi bật nhứt của mùa thi đấu năm nay. Tôi buồn vì một đội tuyển xuất sắc như Ý lại không có được tấm vé để thi đấu ở vòng loại 32. Tôi cũng thất vọng vì đội tuyển Bồ Đào Nha, đương kim vô địch Giải Túc Cầu Âu Châu năm 2014, dù với bàn chân phù thủy của siêu sao Cristiano Ronaldo, cũng đành phải cuốn gói ra về ở vòng 16. Tôi cũng ngỡ ngàng khi siêu sao Lionel Messi của Á Căn Đình cũng chẳng cứu vãn được đội tuyển quốc gia để lọt vào vòng tứ kết. Và nhứt là không gì buồn bằng khi nhìn cảnh thủ quân của đội tuyển Tây Ban Nha, Sergio Ramos, đã khóc nức nở khi bị đội tuyển Nga loại khỏi vòng chiến trong trận thi đấu vòng 16 sáng thứ Hai mùng 2 tháng Bảy vừa qua.
Hiện vẫn chưa có một biến cố nổi bật nào để tôi nhớ mãi về Giải Túc Cầu Thế Giới được tổ chức tại Nga này. Nhưng nếu phải bầu chọn một cầu thủ xuất sắc nhứt thì dĩ nhiên lúc nào tôi cũng bỏ phiếu cho danh thủ Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo.  Dù đội tuyển Bồ Đào Nha không được vào vòng tứ kết, siêu sao Ronaldo lúc nào cũng chiếu sáng trên sân cỏ, dẫu có lúc chỉ như một vì sao lẻ loi. Tuy nhiên, đó không phải là hình ảnh tôi muốn giữ lại trong tâm trí trong mùa Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay, mà là một cử chỉ đẹp mà danh thủ này đã làm trong trận thi đấu với đội tuyển Uruguay sáng Chủ nhựt  mùng một tháng Sáu vừa qua. Sau khi đã ghi được 2 bàn thắng cho đội tuyển Uruguay, tuyển thủ Edison Cavani bị thương nặng đến độ không thể tiếp tục trận đấu. Anh bước những bước khập khiễng ra khỏi chân. Chính lúc đó, người chạy đến quàng tay vào hông để dìu anh ra sân không phải là một người đồng đội mà chính là siêu sao Ronaldo. Nỗi lo của huấn luyện viên Oscar Tabarez hiện rõ trên mặt. Các ủng hộ viên của đội nhà cũng bày tỏ cùng một sự lo ngại. Nhưng từ khán đài, nhiều khán giả, dù thuộc bên nào, đã tỏ ra cảm kích trước tinh thần thượng võ được thể hiện qua cử chỉ đẹp của Ronaldo.
Với tôi đó là dấu ấn nổi bật của Mùa Giải Túc Cầu Thế Giới 2018 năm nay. Tôi sẽ mãi mãi nhớ về Mùa Giải Túc Cầu Thế Giới này với cử chỉ đẹp ấy. Tôi không biết danh thủ Ronaldo có tính toán và ẩn ý nào không khi làm cử chỉ đẹp này. Nhưng trong mắt tôi, dường như với cử chỉ này, Ronaldo muốn thay đổi hình ảnh mà người thường có về anh. Đó là hình ảnh của một cầu thủ kiêu căng, kênh kiệu, thích chơi nổi và luôn chứng tỏ mình là cầu thủ xuất sắc nhứt. Với cử chỉ đẹp ấy, Ronaldo muốn biểu lộ một khía cạnh đẹp trong nhân cách của anh: anh cũng có thể là một người tử tế, biết quan tâm đến người khác, chớ không chỉ nghĩ đến bản thân! Và nếu có một sứ điệp mà một cầu thủ nổi tiếng như anh muốn nhắn gởi đi từ sân cỏ thì sứ điệp đó là: dù trong bất cứ lãnh vực nào của cuộc sống, con người cũng có thể và phải đối xử tử tế với nhau! Ít ra, tôi không phải mất giờ để thức khuya dậy sớm để theo dõi các trận đấu mà không rút ra được bài học nào cho mình.
Năm nay Ronaldo đã 33 tuổi. 4 năm nữa, có thể chẳng còn ai nhắc đến tên anh trong Giải Túc Cầu Thế Giới 2022. Với thời gian, cũng như mọi danh thủ khác, danh tiếng của anh rồi cũng sẽ mai một. Ngay cả tiềng rừng bạc bể của anh rồi cũng có lúc vơi đi. Nhưng một nhân cách đẹp mà anh đã cố gắng xây dựng thì sẽ mãi mãi theo anh và thuộc về anh.
Những cử chỉ đẹp mà mình làm được, hay nói chung sự tử tế mà mình cố gắng thể hiện cho người khác luôn sinh lợi cho chính bản thân mình. Xét cho cùng, khi tôi tử tế với người khác là lúc tôi cũng muốn tử tế với chính mình. Trong cuộc sống, tôi không ảo tưởng đến độ chỉ nhìn đời với kiếng mầu. Xung quanh tôi không thiếu những người bất lương và vô ơn. Không phải ai cũng cảm nhận và đáp trả lại sự quảng đại và lòng tử tế của tôi. Xung quanh tôi có biết bao người tỏ ra vô tâm và vô ơn trước những nghĩa cử của người khác. Con người ta ai mà chẳng có lúc vô ơn trước lòng tốt của người khác! Nhưng lòng quảng đại đích thực không cần sự đáp trả. Người xưa đã chẳng dạy: “thi ân bất cầu báo” đó sao? Làm ơn mà mong được đáp trả là làm ơn có tính toán và vụ lợi. Làm ơn như thế chỉ làm cho nhân cách trở nên nghèo nàn hơn mà thôi. Một nghĩa cử hay một cử chỉ đẹp thực sự tự nó đã là một phần thưởng. Phần thưởng đó chính là làm cho tôi nhẫn nhục hơn, khoan nhượng hơn, cảm thông hơn, tha thứ hơn và nhứt là mang lại cho tôi sự thư thái và bình an trong tâm hồn. Cư xử tốt với người khác không bao giờ làm cho tôi mất mát cả, mà trái lại chỉ có thể làm cho tôi thêm giàu có mà thôi!
Tử tế với người khác là tử tế với chính bản thân. Nhưng ngược lại tử tế với bản thân cũng chính là tử tế với tha nhân. Điều ấy xem ra có vẻ nghịch lý. Nhưng thực tế luôn chứng minh điều đó. Nếu tôi biết  cư xử  tử tế với bản thân tôi bằng cách chăm lo cho sức khỏe bằng cuộc sống điều độ, có kỷ luật...thì đương nhiên tôi sẽ cảm thấy an vui, thư thái và quan hệ của tôi với người khác cũng sẽ tốt đẹp hơn. Trái lại, nếu tôi có cuộc sống bừa bãi dẫn đến bệnh tật, căng thẳng, trầm cảm hay những tệ nạn khác như bài bạc, say sưa thì đương nhiên, không phải chỉ có tôi mới là người phải gánh chịu những hậu quả, mà xã hội và  nhứt là người thân của tôi cũng khổ lây.
Thế giới ngày càng được toàn cầu hóa. Tình liên đới nhân loại ngày càng rõ nét. Từ một nơi xa xăm mất hút trên bản đồ thế giới, bất cứ nỗi đau khổ nào của người đồng loại cũng đều có âm hưởng trên chính bản thân tôi. Và ngược lại, như một viên đá cuội ném xuống một mặt hồ yên tĩnh, bất cứ niềm vui nỗi khổ nào của tôi cũng đều ảnh hưởng đến mọi người cách này hay cách khác. Tất cả mọi người có mặt trên trái đất này đều liên kết với nhau đến độ khi tôi giúp đỡ bất cứ một người nào cũng chính là lúc tôi giúp đỡ chính mình, khi tôi tự giúp đỡ mình cũng chính là lúc tôi giúp đỡ người khác. Cũng thế, khi tôi tự hãm hại mình cách này hay cách khác cũng chính là lúc tôi hãm hại người khác. Ngày nay, toàn thế giới đều “nối mạng” với nhau; thế giới là một “mạng lưới” mênh mông. Tốt hay xấu, bất cứ hành động hay cử chỉ nào của tôi, vô tình hay hữu ý, đều có âm hưởng đến người khác.
Về sự tử tế, tôi luôn tìm đến với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Trong cuốn sách “A Policy of Kindness” (một chính sách về sự tử tế), Ngài nhắn nhủ: “Trách nhiệm (về sự tử tế) không chỉ thuộc về những nhà lãnh đạo đất nước của chúng ta hoặc những người được bổ nhiệm hay bầu lên để làm một công tác đặc biệt. Nó thuộc về mỗi một cá nhân chúng ta. Hòa bình chẳng hạn bắt đầu từ trong mỗi người chúng ta. Khi tâm hồn chúng ta được bình an, chúng ta có thể sống hòa bình với những người xung quanh chúng ta. Khi cộng đồng chúng ta sống trong hòa bình, nó cũng có thể chia sẻ hòa bình ấy với các cộng đồng bên cạnh.
Khi chúng ta yêu thương và đối xử tử tế với người khác, không những chính họ cảm thấy được yêu thương và quan tâm đến, điều đó cũng giúp mang lại hạnh phúc và an bình cho chính chúng ta. Và có nhiều cách qua đó chúng ta có thể bày tỏ tình yêu thương và sự tử tế.
Đối với một số người trong chúng ta, cách thế hữu hiệu nhứt là thực hành yêu thương và tử tế xuyên qua các thực hành tôn giáo. Đối với một số khác, có thể đó là những thực hành bên ngoài tôn giáo. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta cần cố gắng đảm nhận trách nhiệm đối với nhau và đối với môi trường sống tự nhiên”.
Thế giới ngày nay, theo nhà lãnh đạo tinh thần  đang bị nhận chìm trong xung đột. Theo dõi tin tức hàng ngày, chúng ta chỉ thấy hận thù và bạo động giữa các quốc gia, chủng tộc, giai cấp và tôn giáo. Các nhà lãnh đạo chính trị đi đây đi đó để gọi là tìm kiếm những giải pháp hòa bình. Họ tổ chức những cuộc họp thượng đỉnh để gọi là ký kết những hiệp ước hòa bình. Đứng trước đau khổ, chúng ta kêu gọi các nhà lãnh đạo hãy mang lại hòa bình cho thế giới. Tuy nhiên, theo nhà lãnh đạo tinh thần của Phật Giáo Tây Tạng,  hòa bình mà chúng ta đang tìm kiếm không phải là sự thay đổi hàng đầu mà chúng ta chờ mong các nhà lãnh đạo chính trị sẽ mang lại. Điều mà chúng ta tìm kiếm đòi hỏi một sự thay đổi tận căn trong nội tâm chúng ta. Trước hết, chúng ta phải trau dồi sự bình an trong tâm hồn chúng ta. Một sự bình an như thế chỉ có thể có được bằng tình thương và sự tử tế đối với người khác mà thôi.
Tôi không biết cử chỉ đẹp của danh thủ Cristiano Ronaldo có động viên những người chung quanh anh tiếp tục lập lại những cử chỉ đẹp như những gợn sóng tỏa xa ra hay không. Tôi cũng không biết nhờ những gợn sóng đó người ta có thể góp phần nào trong việc mang lại hòa bình thế giới hay không. Nhưng ít ra nó cũng gợi lên trong tôi nỗi khao khát muốn được cư xử tử tế với người xung quanh và nhờ đó có một cuộc sống đẹp và bình an.






Thứ Hai, 9 tháng 7, 2018

Nga: sân sau của Giải Túc Cầu Thế Giới 2018


06/07/18
Chưa bao giờ Nga tưng bừng lễ hội bằng mùa Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay. Tại 11 thành phố lớn của Nga, đâu đâu cũng vui nhộn với những cuộc liên hoan. Suốt ngày đêm lúc nào đường phố cũng đông nghẹt. Trước khi Giải Túc Cầu Thế Giới khai mạc, nhiều người lo sợ du khách và các “tín đồ” bóng đá từ các nước đến sẽ gặp thái độ thù nghịch của người dân Nga. Nhưng trái với dự đoán, chưa bao giờ người dân Nga tỏ ra thân thiện với du khách cho bằng lúc này. Các ủng hộ viên của đội tuyển quốc gia Nga lúc nào cũng sẵn sàng nâng ly rượu Vodka để làm quen với các ủng hộ viên của các đội tuyển khác. Người ta tưởng du khách từ Nhật Bản, Colombia và Tunisia sẽ không bao giờ dám đặt chân đến Tỉnh Saransk trong mùa Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay. Vậy mà không ngờ họ đã được cư dân tại đây lúc nào cũng tỏ ra niềm nở, thân thiện. Trong bộ đồng phục mầu trắng, cảnh sát Nga luôn lịch sự chỉ đường cho du khách và bình thản theo dõi những cuộc vui đôi khi sa đà của dân chúng.
Cách đây vài tháng, cũng chính những viên cảnh sát này cầm gậy săn đuổi và đánh đập những người biểu tình. Cứ tưởng bộ mặt đằng đằng sát khí ấy sẽ không bao giờ thay đổi. Nhưng xem chừng Giải Túc Cầu Thế Giới đã trở thành mùa lễ hội và mọi sự đều được phép!
Để bảo đảm bầu khí lễ hội và liên hoan trong suốt Giải Túc Cầu Thế Giới, các cơ quan truyền thông công cụ của nhà nước Nga cũng ngưng trình chiếu mọi tin tức có nội dung tiêu cực. Các cơ quan khác của nhà nước cũng được lệnh làm như thế. Chẳng hạn bộ nội vụ đã chính thức ra lệnh cho các ban ngành ở địa phương không được thông tin về tội ác.
Tất cả đều được thực hiện với chủ ý: trong hậu trường Túc Cầu thế Giới,  Chính phủ Nga lợi dụng mùa lễ hội của Giải Túc Cầu Thế Giới để thực hiện một loạt những cải tổ và những biện pháp để siết chặt an ninh.
Thật vậy, trong khi người dân Nga đang chú tâm vào các trận thi đấu, Điện Cẩm Linh đã quyết định cho thi hành một trong những cải tổ có thể gây nhiều bất mãn nhất: nâng tuổi về hưu từ 55 lên  63 cho phụ nữ và từ 60 lên 65 đối với đàn ông.
Trong số 83 vùng của Nga, có đến 51 vùng là nơi tuổi thọ trung bình của đàn ông không tới  65. Từ năm 1999 đến năm 2010, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu cuộc sống của khoảng 151.000 người đàn ông Nga tại một số thành phố. Họ đã phỏng vấn họ về thói quen uống rượu của họ. Các nhà nghiên cứu cho biết sau đó có khoảng 8000 người đã qua đời. Nguyên nhân gây cái chết của những người này là rượu. 35 phần trăm những người có nguy cơ chết trước tuổi 55 cho biết trung bình mỗi tuần, mỗi người có thể uống đến 3 lít rượu Vodka trở lên. Nhìn chung, khoảng một phần tư đàn ông Nga chết trước tuổi 55 trong khi tại Hoa Kỳ tỷ lệ này chỉ có khoảng 10 phần trăm.   
Như vậy, với cuộc cải tổ về tuổi hưu do Chính phủ Putin đề ra, người đàn ông Nga tại hầu hết các vùng trên đất nước có lẽ không còn hy vọng sống lâu để mà hưu trí nữa! Dĩ nhiên, Tổng thống  Putin biết quá rõ rằng cuộc cải tổ này sẽ tạo ra bất mãn nơi dân chúng. Ông cũng biết rằng cách đây trên 10 năm, ông sẽ không bao giờ dám thực hiện một cuộc cải tổ như thế.
Nhưng kinh tế Nga hiện đang ngày càng  tồi tệ. Chẳng hạn tính đến tháng Năm vừa qua, thu nhập thực sự đã giảm đến 10 phần trăm. Hiện Chính phủ Nga đang cần tiền hơn bao giờ hết. Điện Cẩm Linh hy vọng rằng kể từ năm 2024, cuộc cải tổ về tuổi hưu trí sẽ giúp Nga  tiết kiệm được mỗi năm  khoảng một ngàn tỷ Rubble, tương đương với 15 tỷ Mỹ kim. Vậy thì tại sao không lợi dụng thời cơ thuận tiện là Giải Túc Cầu Thế Giới này để đẩy mạnh cuộc cải tổ? Người dân Nga đang bận “vui chơi” trong mùa này thì còn giờ đâu để mà biểu tình?
Chính phủ Nga nại đến những cuộc cải tổ tương tự tại nhiều nước Âu Châu để biện minh cho cuộc cải tổ của mình. Nhưng nhiều người cho rằng đây là một cuộc so sánh hơi khập khiễng. Trong khi các nước Âu Châu không phải đương đầu với tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập của người dân và cũng không phải vất vả chiến đấu với nạn tham nhũng thì tại Nga, đây là 2 căn bệnh hầu như không có thuốc chữa. Thật vậy, con số người Nga phải sống dưới mức nghèo khó ngày càng gia tăng. Hiện có đến 22 triệu người Nga, tức 15 phần trăm dân số đang lâm vào tình trạng nghèo đói như thế, trong khi đó con số tỷ phú thì ngày càng gia tăng: từ 96, con số  tỷ phú Nga đã lên đến 106 và tài sản của họ chiếm đến từ 460 đến 485 tỷ Mỹ kim.
Cuộc cải tổ về tuổi hưu mỗi năm có thể mang lại cho chính phủ 15 tỷ Mỹ kim, trong khi đó mỗi năm lại có đến 30 tỷ Mỹ kim bị thất thóat vì nạn tham nhũng, nhưng chính phủ Nga lại chẳng đưa ra bất cứ biện pháp nào để đối phó với tệ nạn này.
Phe đối lập và các nghiệp đoàn đã lên kế hoạch để tổ chức các cuộc biểu tình phản đối. Lãnh tụ Đối lập, ông Alexei Navalnay, người chỉ mới được trả tự do sau khi bị giam giữ vì tổ chức một cuộc biểu tình không được chính quyền cho phép, cho biết ông sẽ tham gia các cuộc biểu tình. Sự hiện diện của ông Navalny ở nơi công cộng sẽ tiếp tục là một cái gai gây nhức nhối đến độ trong những năm vừa qua, các cơ quan truyền thông công cụ của chính phủ được ra lệnh không được nhắc đến tên của ông. Do đó, thật là một ngạc nhiên lý thú khi cựu huấn luyện viên của đội tuyển quốc gia, ông Leonid Slutsky đã nhắc đến ông Navalny trong một bài bình luận về trận đấu giữa Đức và Mễ Tây Cơ được Kênh số Một của đài truyền hình quốc gia trực tiếp truyền hình.
Sau đó, mọi người đều hiểu tại sao đó là lần cuối cùng ông Slutsky bình luận về các trận thi đấu trên Kênh truyền hình này.
Ngoài việc mượn bầu khí lễ hội của Mùa Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay để tiến hành cuộc cải tổ về tuổi hưu trí, Chính phủ Nga cũng lợi dụng dịp này để thắt chặt các biện pháp an ninh. Trước ngày 15 tháng Sáu, tức ngày khai mạc các cuộc thi đấu, Chính phủ Nga đã thực hiện hàng loạt các cuộc bố ráp. Chẳng hạn vào đầu năm nay, Cơ quan An ninh Liên bang Nga gọi tắt là FSB (hậu thân của Cơ quan Mật vụ KGB) đã bắt giữ một số thanh niên thành viên của phong trào Antifa (Phòng trào chống kỳ thị chủng tộc) và tố cáo họ tạo ra “một tổ chức khủng bố” cũng như chuẩn bị lật đổ chính phủ.
Ngày 16 tháng Sáu, trong một phiên tòa,  Dmitry Pchelintsev, một thành viên của phong trào Antifa, tuyên bố rằng anh chỉ còn lại hai các răng trong miệng: tất cả những chiếc răng khác đều đã không cánh mà bay hết khi anh bị tra tấn tại một trung tâm giam giữ.
Những nhà tranh đấu cho nhân quyền nói rằng Cơ quan An ninh Liên bang Nga hiện đang gia tăng các cuộc tra tấn để buộc những người bị tình nghi phải nhận tội. Trong các cuộc tra tấn, Cơ quan An ninh Liên bang Nga sử dụng một số kỹ thuật như tra điện, không cho ngủ, đánh đập, trói tay vào những vị thế gây đau đớn và căng thẳng tột cùng và nhiều phương pháp tàn nhẫn khác.
Trường hợp của Pchelintsev thường được gọi là vụ án “Mạng lưới”, tức âm mưu lật đổ chính quyền. Rất nhiều người khác cũng bị quy cho tội này mặc dù họ không hề là một mối đe dọa đối với xã hội hay chính quyền. Đối với một số người Nga, những trường hợp như thế thường được chuyển lên Cơ quan An ninh Liên bang Nga để họ chứng tỏ hiệu năng của họ và cho thấy họ đã giải quyết được nhiều vụ tội phạm.
Cơ quan An ninh Liên bang Nga cũng muốn lợi dụng những trường hợp như thế để phô trương những thành tích trong hoạt động phản gián của họ. Ngày 19 tháng Sáu, tin tức cho biết Karin Tsurban, Giám đốc của Công ty Điện lực Nga Inter RAO, đã bị bắt giữ vì tội “làm gián điệp cho Lỗ Ma Ni”. Đây là một thứ cáo buộc mà người ta chỉ thấy có trong thời Stalin. Đầu năm nay, tin cũng cho biết Cơ quan An ninh Liên bang Nga đã “chộp”được 397 người hoạt động cho tình báo ngoại quốc tại Nga. Đây là một “thành tích kỷ lục” của Cơ quan An ninh Liên bang Nga!
Cơ quan này cũng đang thực hiện các cuộc bố ráp đối với một số sắc tộc và tôn giáo. Nhiều người thuộc sắc tộc Tatar tại Crimea và các tín đồ của giáo phái Chứng nhân Giêhôva đã bị bắt giữ. Những người tranh đấu cho nhân quyền cho biết trong nhiều trường hợp Cơ quan An ninh Liên bang Nga đã sử dụng tra tấn, đe dọa và bằng chứng giả khi thẩm vấn những người bị bắt giữ.
Giải Túc Cầu Thế Giới được tổ chức tại Nga đã bước vào vòng 16. Bầu khí lễ hội vẫn đang tiếp diễn tại 11 thành phố lớn của Nga. Nhưng sức nóng tỏa ra từ những cuộc vui hoàn toàn tương phản với “mùa đông chính trị” trong đó hầu hết mọi người dân Nga hiện đang ngụp lặn. Tuy nhiên hiện nay rất nhiều người Nga dường như đang bị chứng “vô cảm về nhận thức” cho nên không thể hoặc không muốn nhìn thấy thực tế ấy. Cũng chẳng có gì khiến phải ngạc nhiên về tình trạng này. Từ ngàn năm qua, chế độ độc tài nào cũng dùng các trò giải trí để bịt mắt và xoa dịu tâm trí của người dân.
Giải Túc Cầu Thế Giới và Thế Vận Hội thường là dịp để người dân Nga không những vui chơi mà còn nuôi dưỡng niềm hy vọng. Lần cuối cùng Nga được vào vòng 16 của Giải Túc Cầu Thế Giới là năm 1986, tức dưới thời mồ ma cộng sản Liên Xô. Mới đây trên các trang mạng xã hội, một số người Nga mang thời mồ ma cộng sản Liên Xô ra so sánh với thời “Nga hoàng” Putin. Năm 1980, Thế vận hội Mùa Hè được tổ chức tại Liên Xô đã bị rất nhiều nước tẩy chay, giá dầu xuống, kinh tế Nga bị thiệt hại nặng nề. Trong thập niên đó, Tổng bí thư Mikhail Gorbachev loan báo chính sách “perestroika” và “glasnost” để gọi là “tái cấu trúc” chế độ cộng sản và “cởi mở” kinh tế. Cuộc cải tổ đã dẫn đến sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại chính cái nôi khai sinh của nó là Nga.
Nay  Giải Túc Cầu Thế Giới cũng được tổ chức tại Nga và cũng vào giữa lúc Nga bị cả thế giới lên án vì ngang ngược xâm lăng Crimea của Ukraine và không ngừng gây rối loạn cho nước này. Giá dầu đang sút giảm và kinh tế Nga cũng tuột dốc một cách thê thảm.
So sánh Thế vận hội dưới thời Liên Xô hồi thập niên 1980 với Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay, một số người Nga hy vọng rằng lịch sử có lẽ cũng sẽ được lập lại. Có lẽ đó là lý do duy nhất để nuôi dưỡng một chút lạc quan về Nga hiện nay chăng.

( nguồn:
- https://www.aljazeera.com/indepth/opinion/kremlin-russians-watching-world-cup
-https://www.theguardian.com/world/2014/jan/31/russian-men-losing-years-to-vodka)


Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2018

Người thắng cuộc


Chu Thập
29/06/18
Tuần qua, tôi có dịp trở lại Gosford, thủ phủ của vùng Central Coast, Tiểu bang New South Wales. Không ngờ trung tâm thương mại của thành phố chỉ cách Sydney khoảng 5,7 chục cây số này trông tiêu điều vắng vẻ đến thế! Vào trung tâm bán lẻ nổi tiếng của Đức là Aldi, tôi thấy chỉ có leo teo vài khách hàng. Lúc tính tiền người thu ngân cho nhà tôi biết là chỉ vài tuần lễ nữa Aldi sẽ vĩnh viễn đóng cửa. Ra khỏi Aldi, đi dọc theo hành lang dẫn đến Woolworths, tôi thấy nhiều cửa hàng cũng đã “dẹp tiệm”. Đối diện với trung tâm thương mại chính của thành phố là một tòa nhà đồ sộ khác trông còn thê thảm hơn: kể từ khi Coles đóng cửa cách đây năm ba năm, hầu như không còn bất cứ một cơ sở kinh doanh hay hành chính nào còn hiện diện ở đây nữa.
Ở Gosford chỉ còn lại một nơi tương đối nhộn nhịp và ồn ào. Đó là nhà ga xe lửa chỉ cách trung tâm thương mại chính của thành phố vài phút đi bộ. Vào giờ cao điểm, tôi thấy có một hiện tượng lạ: rất nhiều hành khách là học sinh gốc Á Châu hay da mầu nói chung. Nhưng các em học sinh này không phải là cư dân Gosford mà xuất phát từ những vùng ngoại ô xa lắc xa lơ ở tận phía Bắc Sydney như Strathfield, Burwood, Epping và nhứt là Hornsby. Thì ra, đa số học sinh của trường tuyển Gosford là con cái của người di dân đến từ những nơi khác.
Một hiện tượng khác mà mỗi lần đi khám bệnh tôi cũng ghi nhận được là phần lớn các bác sĩ và nha sĩ làm việc trong các phòng khám bệnh tại thành phố vốn có ít người di dân này lại cũng đều là người di dân. Vào bất cứ trung tâm y tế (medical centre) nào, tôi cũng thấy hầu hết tên của các bác sĩ nếu không là  Ấn Độ, Trung Hoa thì cũng là Việt Nam. Riêng tại trung tâm nha khoa chuyên chữa bệnh nướu răng mà tôi phải đến mỗi năm 2 lần, trong 5 vị bác sĩ chuyên khoa, có một vị Ấn Độ, 2 vị người Hoa và một vị người Phi Luật Tân.
Từ Gosford tôi nhìn xuống một trong những thành phố có đông người Việt tỵ nạn là Bankstown, miền Tây Sydney. Tuần qua, từ ngày 20 đến 23 tháng Sáu vừa qua là Tuần Lễ Tỵ Nạn. Cộng đồng người Việt ở Sydney đã tập trung về Bankstown để biểu dương sức sống mãnh liệt và sự đóng góp tích cực của người tỵ nạn và di dân nói chung cho Úc Đại Lợi. Nhìn về Bankstown, Cabramatta, Fairfield...những nơi đã có một thời trước khi người di dân và tỵ nạn đến là những thành phố hay thị trấn nghèo nàn thưa thớt và nhứt là những khu ngoại ô ở phía Bắc Sydney, tôi càng xác tín rằng người di dân không hề là cặn bã ăn bám hay gánh nặng của xã hội, mà trái lại là một lực lượng đóng góp nhiều cho sự phát triển của đất nước mà họ đã chọn làm quê hương thứ hai. Tôi tưởng tượng: một ngày nào đó, khi  Thành phố Gosford cũng “tràn ngập” người di dân thì chắc chắn bộ mặt tiêu điều vắng vẻ của nó sẽ thay đổi!
Niềm tự hào của tôi về sự đóng góp của người di dân cho đất nước đã đón nhận họ cũng bừng dậy theo cơn sốt bóng đá trong những ngày này. Ngoại trừ Nhật Bổn, Đại Hàn và Ba Lan...dường như bất cứ một đội tuyển quốc gia nào tham dự Giải Túc Cầu Thế Giới 2018 cũng đều là một bức tranh được vẽ lên không phải với màu cờ sắc áo, mà với màu da của các tuyển thủ. Không cần phải nói đến các đội tuyển của Châu Mỹ La Tinh, mà hãy thử nhìn vào các đội tuyển được xem là có nhiều triển vọng nhứt như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức, Anh...màu da và tên của các tuyển thủ lúc nào cũng gợi lên cho tôi niềm tự hào về sự đóng góp của người di dân.
Tiếc là đội tuyển của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ đã không có mặt trong Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay. Nếu không, những người Mỹ kỳ thị và chống di dân liệu có đủ liêm sỉ để tự hào về đội tuyển quốc gia vốn gồm nhiều màu da và sắc tộc của họ không?
Ở vào thời điểm này, một người tỵ nạn như tôi không thể ngồi xem các trận thi đấu của Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay mà không cảm thấy ray rứt khi tại nhiều nước Tây phương, phong trào chống người di dân và kỳ thị chủng tộc đang là cao trào được các chính trị gia dân túy triệt để khai thác để kiếm phiếu trong các mùa bầu cử. Riêng tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, như đã nổ ra trong những tuần lễ vừa qua, di dân đã trở thành chính sách cốt lõi của Tổng thống Donald Trump và là một trắc nghiệm về những giá trị nền tảng làm nên một quốc gia vốn đã từng là của người di dân và do người di dân hình thành và xây dựng.
Tìm đọc lại lịch sử di dân ở Hoa Kỳ, tôi biết rằng vào năm 1845, gần 2 triệu người Ái Nhĩ Lan tỵ nạn đã vượt trùng dương để đến Mỹ trong thời kỳ được mệnh danh là “Nạn Đói khoai tây” (Great Hunger potato famine). Những biến cố như thế làm nên một lịch sử lâu dài về việc đón nhận người tỵ nạn: Chính phủ Mỹ đã lần lượt ban hành nhiều đạo luật liên quan đến việc đón nhận người tỵ nạn. Riêng với người tỵ nạn Đông Dương mà Việt Nam là chính, cũng đã có hai đạo luật được ban hành trong  năm 1975 và 1980.
Tuy nhiên, xen kẽ với những đạo luật ấy cũng không thiếu những đạo luật từ chối hay chống lại việc tái định cư người tỵ nạn. Chẳng hạn như năm 1938, có đến 83 phần trăm người Mỹ chống lại việc đón nhận người Đức gốc Do Thái; 62 phần trăm người Mỹ chống lại kế hoạch đón nhận người Việt tỵ nạn năm 1979. Điều mỉa mai là nhiều người Mỹ chống lại việc tái định cư người tỵ nạn cũng đã từng là người di dân hay tỵ nạn hoặc cha ông họ đã từng là người di dân.
 (x.https://www.psychologytoday.com/au/blog/the-modern-child/201806/the-refugee-child-american-story).
Cũng mỉa mai không kém, lý do chính mà nhiều người Mỹ nại đến để chống lại việc đón nhận người tỵ nạn lại là kinh tế. Thật ra, lịch sử  không ngừng chứng minh rằng việc đón nhận người tỵ nạn và di dân nói chung làm cho Hoa Kỳ trở thành một quốc gia giàu mạnh hơn về kinh tế cũng như văn hóa. Theo Hàn lâm viện Quốc gia, nguồn nhân lực mà di dân mang vào giúp gia tăng tổng sản lượng nội địa của Hoa Kỳ, nhứt là trong thời gian sắp tới khi thế hệ sinh sau Đệ nhị Thế chiến (Baby Boomer) già đi và không còn tham gia vào lực lượng lao động nữa. Một cuộc nghiên cứu do Sáng hội Chính sách (National Foundation for American Policy) của Mỹ  thực hiện cho thấy hơn một nửa các công ty có doanh số  từ một tỷ Mỹ kim trở lên đều được ít nhứt là một người di dân sáng lập. Quỹ Nghiên cứu Kinh tế Hoa Kỳ (New American Economy Research Fund) cũng cho thấy rằng tỷ lệ người tỵ nạn trở thành nhà doanh nghiệp cao hơn 50 phần trăm nếu so với các công dân sinh ra trên đất Mỹ. Theo đánh giá của Tạp chí Fortune chuyên về doanh nghiệp, có đến 40 phẩn trăm trong số 500 doanh nghiệp nổi bật tại Hoa Kỳ là do người tỵ nạn, di dân hoặc con cái họ thành lập.
(https://www.psychologytoday.com/au/blog/the-modern-child/201806/the-refugee-child-american-story).
Trên thế giới, Hoa Kỳ là nơi tôi có nhiều thân nhân, bà con họ hàng và bạn bè nhứt. Hoa Kỳ có đông người Việt tỵ nạn nhứt. Hoa Kỳ cũng là nơi người Việt tỵ nạn thành công và đóng góp nhiều nhứt cho quê hương mới của họ. Phải nhìn nhận rằng sở dĩ đồng bào ruột thịt của tôi ở Mỹ thành công trong việc hội nhập và tích cực đóng góp cho quê hương thứ hai của họ là vì Hoa Kỳ luôn có một chính sách di dân cởi mở. Nói cho cùng đó là do tấm lòng nhân đạo của người dân Mỹ nói chung. Tấm lòng nhân đạo ấy đã được ghi khắc trên bức tượng Nữ Thần Tự Do như sau: “Hãy mang đến cho ta những người kiệt sức, nghèo khổ, đám người nheo nhóc khao khát hơi thở tự do, những người khốn khó rác rưởi chen chúc trôi dạt vào bờ. Hãy gởi cho ta những người này, những kẻ không nhà bị dông tố vùi dập. Ta giương ngọn đèn bên cánh cửa vàng”.
Có những lúc “cánh cửa vàng” ấy khép nhẹ lại. Nhưng nhìn chung, nước Mỹ lúc nào cũng vĩ đại bởi vì trong những giá trị làm nên sự vĩ đại của đất nước này, cốt lõi vẫn là lòng nhân đạo. Cách đây 240 năm, cùng với dân chủ và bình đẳng, lòng nhân đạo đã được các vị cha già dân tộc xem như cột trụ để xây dựng quốc gia và kiến tạo sự vĩ đại của quốc gia này.
Tấm lòng nhân đạo ấy luôn được thể hiện qua việc đón nhận người tỵ nạn và di dân. Cho nên bất cứ một chính sách chống di dân và kỳ thị nào cũng đều bị người Mỹ xem là vô nhân đạo. Chính vì vậy mà chính sách “tuyệt đối không nhân nhượng” (zero tolerance) của Chính phủ Trump đối với người di dân bất hợp pháp mà việc chia cách trẻ con với gia đình chúng được xem như một biện pháp, đã bị cả thế giới lên án là độc ác và vô nhân đạo. Ở Mỹ rất nhiều nhân vật có tiếng nói đầy uy tín, như tất cả các cựu đệ nhứt phu nhân Mỹ đều đã lên án chính sách ấy. Tôi cũng hiểu được phản ứng của số đông người Mỹ. Theo kết quả của một cuộc thăm dò mới đây được Viện Gallup thực hiện, có đến 75 phần trăm người Mỹ cho rằng nhìn chung, di dân là một chuyện tốt đẹp cho đất nước. Lòng nhân đạo vẫn còn là linh hồn của một đất nước vĩ đại. Và một cách cụ thể, nói đến lòng nhân đạo là nói đến sự quan tâm mà con người muốn dành cho những người kém may mắn, những người nghèo khổ, những người cần được giúp đỡ cách này hay cách khác.
Hồi tuần qua, đương kim đệ nhứt phu nhân Melania Trump đã trở thành trọng tâm của một cơn bão đàm tiếu. Khi đến Texas để thăm  một trung tâm tạm giữ những trẻ em bị chia cách với những cha mẹ đang bị giam giữ vì vi phạm chính sách “tuyệt đối không nhân nhượng” của Chính phủ Trump, bà mang trên người một chiếc áo khoác hiệu Zara trên đó có ghi câu “Tôi thực sự không quan tâm. Còn bạn thì sao?” (I really don’t care, Do u?). Chẳng ai biết ẩn ý của bà khi mang chiếc áo khoác chỉ trị giá 39 Mỹ kim này. Văn phòng của bà khẳng định rằng bà chẳng có ý gì cả. Còn phu quân Trump của bà thì giải thích rằng bà muốn nhắn gởi đến các cơ quan truyền thông “Tin giả” rằng bà không màng gì đến những lời bình luận của họ. Riêng tôi tin rằng bên kia khẩu hiệu ấy, bà Trump là một người có trái tim và biết tỏ ra “quan tâm” đến người khác. Sự kiện bà đã từng là một người di dân đến Mỹ để tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn bằng nghề người mẫu và cho biết bà “ghét thấy cảnh trẻ con bị phân tán khỏi cha mẹ chúng”, cũng như kêu gọi chính phủ “cai trị với tấm lòng” (govern with heart) và nhứt là  đích thân đi thăm các em chứng tỏ bà là một người có tấm lòng và biết quan tâm.
Hàng chữ trên chiếc áo khoác của bà Trump không khỏi gợi lại cho tôi một lời quảng cáo của hãng “Dove” mà tôi thường thấy trên màn ảnh truyền hình trong mùa Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay: “Cần  có kỹ năng để chiến thắng, nhưng cần có sự quan tâm để làm một người thắng cuộc” (It takes skill to win, but it takes care to be a winner). Ngồi xem các cuộc thi đấu mà tôi cứ mang lời quảng cáo ấy ra ngẫm nghĩ: trong cuộc sống, bạn có thể thắng người khác nhờ có nhiều lợi thế hơn người khác nhưng bạn chỉ có thể chiếm được trái tim người khác khi thực sự quan tâm đến người khác bằng chính trái tim của mình.
Bởi vì, chỉ có trái tim mới chinh phục được trái tim.






Thứ Hai, 2 tháng 7, 2018

Kosovo và Giải Túc cầu Thế giới 2018


29/06/18
Đội tuyển Thụy Sĩ đã hạ đổi tuyển Serbia với tỷ số 2-1 trong trận thi đấu vào sáng thứ Bảy 23 tháng Sáu vừa qua. Công đầu của chiến thắng này thuộc về hai tuyển thủ Granit Xhaka và Xherdan Shaqiri. Cả hai đều là người Kosovo thuộc sắc tộc Albani. Sau khi ghi bàn thắng cho đội tuyển Thụy Sĩ, cả hai tuyển thủ này đều dùng mười ngón tay bắt chéo vào nhau làm thành lá cờ của Albania: hai ngón cái của họ tượng trưng cho đầu của 2 con chim ó, trong khi những ngón khác đan chéo vào nhau  trông giống như lông cánh của chúng. Với cử chỉ này, Xhaka và Shaqiri muốn nói lên niềm tự hào về nguồn gốc của họ. Nó  gợi lên cả một quá khứ đau buồn của người dân Kosovo, đồng thời cũng nói lên những mối căng thẳng hiện vẫn còn tồn tại giữa Kosovo và Serbia. Thể thao cũng không tránh khỏi mầu sắc chính trị!
Xhaka và Shaqiri, cả hai  đều chào đời tại Kosovo, vùng đất đã từng là một tỉnh thuộc Cộng hòa Serbia. Cũng như hàng trăm ngàn người khác, trong cuộc chiến chống lại các lực lượng Serbia để giành độc lập trong hai năm 1998 và 1999, gia đình của Xhaka và Shaqiri đã xin tỵ nạn tại Thụy Sĩ. Tuy không có những số liệu chính thức, nhưng người ta ước lượng hiện nay có đến 200.000 người Kosovo gốc Albani đang sinh sống tại Thụy Sĩ. Đây là một tỷ lệ khá lớn nếu so với dân số Kosovo hiện chỉ có khoảng 1.8 triệu người. Cùng với những người đồng hương đang sống tại Đức, những người Kosovo gốc Albani tại Thụy Sĩ là một trong những nguồn lợi lớn cho quê nhà: mỗi năm họ gởi về Kosovo khoảng 176 triệu Mỹ kim.
Cuộc di dân của người Kosovo đã xảy ra ngay cả trước khi cuộc chiến bùng nổ giữa Kosovo và Serbia. Đương kim Thủ tướng Kosovo, ông Ramush Haradinaj cũng đã từng sống ở Thụy Sĩ và làm việc như một huấn luyện viên môn Thái cực đạo trước khi trở về Kosovo để tham gia lãnh đạo chiến tranh du kích giành độc lập. Cuộc chiến đã làm cho khoảng 13.500 người bị thiệt mạng, trong số này có hơn 10.000 nạn nhân là người Kosovo thuộc sắc tộc Albani. Cuộc chiến đã chấm dứt nhờ sự can thiệp của Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO). Các cuộc không kích của NATO đã khiến cho các lực lượng của nhà độc tài Milosevic phải rút lui. Năm 2008, nghĩa là không đầy một thập niên sau, Kosovo đã tuyên bố độc lập khỏi Serbia với danh hiệu đầy đủ là Cộng hòa Kosovo. Tuy nhiên cho tới nay, với sự yểm trợ của đồng minh lâu đời là Nga, Serbia vẫn không chịu nhìn nhận nền độc lập của Kosovo.
Sự có mặt của hai tuyển thủ Xhaka và Shaqiri trong đội tuyển quốc gia Thụy Sĩ để thi đấu với đội tuyển Serbia và chiến thắng hai anh đã mang về cho đội tuyển Thụy Sĩ  không thể không gợi lên lịch sử của một cuộc chiến dai dẳng giữa Kosovo và Serbia.
Cuộc xung đột đã khởi đầu ngay từ cuối Thế kỷ 19 khi người Albani bị trục xuất ra khỏi Serbia và Kosovo bị sáp nhập vào Serbia. Căng thẳng giữa các cộng đồng Serbia và người Albani tại Kosovo ngày càng gia tăng và kéo dài trong suốt Thế kỷ 20. Sau Đệ nhị Thế chiến, Thống chế Josip Broz Tito đã đè bẹp tất cả mọi biểu hiện của tinh thần ái quốc của mọi sắc tộc trong Liên bang Nam Tư. Cách riêng, để kìm hãm Serbia là cộng hòa lớn nhất và có đông dân số nhất trong liên bang, ông đã cho thiết lập những chính quyền tự trị tại Tỉnh Vojvodina, ở miền Bắc Serbia và Kosovo, miền Nam cộng hòa này. Thật ra, sự tự trị mà Thống chế Tito dành cho Tỉnh Kosovo chỉ có trên danh nghĩa. Trong thực tế, mật vụ Liên bang vẫn tiếp tục đàn áp những nhà ái quốc. Năm 1956, nhiều nhà ái quốc Albani tại Kosovo đã bị đem ra xét xử vì tội gọi là gián điệp và phản động.
Cũng như các chế độ cộng sản khác trên khắp thế giới, Liên bang Nam Tư không tránh khỏi những cuộc khủng hoảng về chính trị và nhất là kinh tế. Tháng Sáu năm 1968, các cuộc biểu tình của sinh viên tại Thủ đô Belgrade đã tràn xuống Kosovo. Thống chế Tito đành phải nhượng bộ trước một số đòi hỏi của sinh viên. Riêng tại Kosovo, tiếng Albani được công nhận và Đại học Pristina được thành lập, sau một thời gian dài chỉ được xem như một chi nhánh của Đại học Belgrade.
Năm 1969, Giáo hội Chính thống, vốn là tôn giáo của đa số dân Serbia, đã yêu cầu hàng giáo sĩ phải điều tra về những vấn đề của người Serbia tại Kosovo. Giáo hội này tạo áp lực lên chính phủ trung ương để bảo đảm quyền lợi của người Serbia tại Kosovo, châm ngòi cho những xung đột vốn đã âm ỉ giữa hai sắc dân.
Năm 1970, quy chế chính trị của Kosovo được cải thiện phần nào khi hiến pháp mới của Nam Tư dành cho vùng này một số quyền chính trị. Được nhìn nhận là một tỉnh trong liên bang, Kosovo có được một ghế trong quốc hội liên bang cũng như có riêng một nghị viện, một lực lượng cảnh sát và một ngân hàng riêng.
Năm 1980, Thống chế Tito qua đời. Những thành phần cực đoan trong Đảng Cộng sản Nam Tư ngăn cấm mọi biểu hiện của tinh thần ái quốc. Tất cả những cuộc biểu tình đều bị đè bẹp. Theo ước tính, có đến gần 6 trăm ngàn người Kosovo bị bắt giữ, thẩm vấn, giam giữ. Nhiều người bị đuổi khỏi các công sở, nhất là cơ sở giáo dục. Bên cạnh đó, mối căng thẳng giữa 2 cộng đồng Albani và Serbia tại Kosovo cũng gia tăng.
Tình hình kinh tế của Kosovo lại càng tồi tệ hơn. Bị số đông người Albani kỳ thị nhiều người Serbia đã rời bỏ Kosovo để đến Belgrade tìm việc làm.
Đây cũng là thời kỳ người kế vị Thống chế Tito là Slobodan Milosevic bắt đầu cai trị bằng bàn tay sắt. Là người Serbia, ông đã tỏ ra thiên vị hẳn với người Serbia tại Kosovo. Ông ra lệnh giải tán Nghị viện Kosovo. Năm 1990, bất chấp lệnh của ông Milosevic và những cuộc đàn áp dã man của chính phủ trung ương, Nghị viện Kosovo cho công bố Hiến pháp của Cộng hòa Kosovo. Theo báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc, năm 1993, cảnh sát đã gia tăng các cuộc đàn áp nhắm vào người Kosovo.
Đây là giai đoạn nổ ra các cuộc chiến giành độc lập của các cộng hòa trong Liên bang Nam Tư như Slovenia, Croatia và Bosnia. Năm 1997, Milosevic được bầu làm tổng thống của Liên bang Nam Tư.
Bị dồn vào bước đường cùng, các lãnh tụ của Kosovo thấy không còn con đường tranh đấu nào khác hơn là chiến tranh vũ trang. Dưới danh nghĩa “quân đội giải phóng Kosovo”, du kích quân Albani đã giáng những đòn chí tử xuống các lực lượng an ninh liên bang.
Trước các cuộc đụng độ ngày càng gia tăng cường độ, cộng đồng thế giới đã can thiệp. Tình hình Liên bang Nam Tư ngày càng rối ren. Chiến tranh không chỉ diễn ra giữa Kosovo và Chính phủ liên bang, mà còn giữa liên bang và các cộng hòa khác trong liên bang. Với Hiệp ước Dayton đạt được dạo tháng Mười Hai năm 1997, Liên Hiệp Quốc đã yêu cầu Chính phủ liên bang phải đáp ứng những đòi hỏi của cộng đồng Albani tại Kosovo. Nhưng phái đoàn Nam Tư đã bỏ ra về và không chịu tôn trọng hiệp ước.
Cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Tháng Năm năm 1998, quân dội Nam Tư bắt đầu mở một cuộc hành quân tại biên giới để tiêu diệt quân đội giải phóng Kosovo. Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương NATO đã đáp trả hành động này bằng chiến dịch được mệnh danh là Falcon: máy bay của Liên minh đã biểu dương lực lượng ngay tại nơi Nam Tư truy lùng các du kịch quân Kosovo.
Trong thời gian này, qua trung gian của Tổng thống Nga Boris Yeltsin, Milosevic đã đạt được một thỏa thuận để chấm dứt các cuộc hành quân và chuẩn bị thương thuyết với Kosovo. Với thỏa thuận này, đại diện Liên Hiệp Quốc cũng được  gởi đến Kosovo để theo dõi tình hình. Nhưng cuộc chiến vẫn tiếp tục leo thang.
Tháng Sáu năm 1998, do mối đe dọa của Nam Tư và Serbia đối với an ninh và chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên bố tình trạng khẩn trương. Ba tháng sau, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết 1199 qua đó bày tỏ mối quan ngại sâu xa về sự kiện 230.000 người dân Kosovo phải di tản trước việc sử dụng bạo lực của quân đội Nam Tư và các lực lượng an ninh của Serbia. Cũng qua nghị quyết này, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc yêu cầu Nam Tư (gồm có Serbia và Montenegro) chấm dứt sự thù nghịch và ngưng bắn. Ngoài ra nhiều nỗ lực cũng được thực hiện nhằm thuyết phục Tổng thống Milosevic cho phép quân đội gìn giữ hòa bình của NATO được vào Kosovo.
Nhưng Milosevic không tôn trọng và cũng không chấp nhận bất cứ một thỏa hiệp nào. Quân đội Nam Tư vẫn tiếp tục các cuộc hành quân. Tháng Giêng năm 1999, quân đội Nam Tư đã tàn sát 45 người Albani tại làng Racak. Các nước Tây Phương và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã mạnh mẽ lên án hành động dã man này. Và đây cũng chính là giọt nước tràn ly khiến NATO quyết định can thiệp bằng quân sự. Tháng Sáu năm 1999, NATO đã bắt đầu các cuộc không tạc. Hàng ngàn oanh tạc cơ của Liên Minh từ các căn cứ ở Ý và các hạm đội trong Biển Adriatic đã dội bom xuống Thủ đô Belgrade. Trong khi đó các nhà thương thuyết của Phần Lan và Nga vẫn tiếp tục thuyết phục Milosevic ngưng các cuộc hành quân và rút ra khỏi Kosovo, nhưng ông vẫn cương quyết tử thủ. Cuối cùng khi nhận thậy Nga, đồng minh lúc nào cũng chống lại Liên minh NATO, không chịu can thiệp để bảo vệ Nam Tư, Milosevic mới đồng ý để cho quân đội NATO được vào Kosovo.
Ngày 3 tháng Sáu năm 1999, nhà độc tài này mới chấp nhận những điều khoản của một kế hoạch hòa bình do cộng đồng thế giới đề ra để chấm dứt cuộc chiến và ra lệnh cho quân đội rút ra khỏi Kosovo.
Cuộc chiến đã khiến cho từ 1.2 triệu đến 1.45 triệu người Albani tại Kosovo phải di tản. Sau chiến tranh gần một triệu người  tỵ nạn từ các nước láng giềng đã trở về Kosovo.
Tháng Mười Một năm 2001, Tổ chức An ninh và Hợp tác Âu Châu đã giám sát các cuộc bầu cử đầu tiên tại Kosovo. Nhưng mãi cho đến tháng Hai năm 2008, Kosovo mới chính thức tuyên bố độc lập khỏi Serbia. Tính đến tháng Hai năm 2018, đã có 113 nước trên thế giới nhìn nhận Kosovo như một quốc gia độc lập. Riêng Serbia, cho tới nay vẫn chưa chịu nhìn nhận nền độc lập này.
Không nhìn nhận Kosovo như một quốc gia độc lập, Serbia cũng tìm cách ngăn cản không để cho các đội thể thao của Kosovo được tham gia vào các cuộc thi đấu quốc tế. Tuy nhiên áp lực của Serbia đã không có hiệu quả. Kosovo đã được Ủy ban Thế Vận Quốc Tế chính thức nhìn nhận năm 2014 và 2 năm sau được nhận vào Hiệp hội Túc cầu Âu châu UEFA cũng như Hiệp hội Túc cầu Thế giới FIFA.
Dạo tháng Năm vừa qua, Serbia đã không cho đội lực sĩ Thái cực đạo của Kosovo được đến nước mình để tranh giải Vô địch Âu Châu.
Nhưng thái độ thù nghịch của Serbia đối với Kosovo đã không ngăn được làn sóng ủng hộ của thế giới dành cho Kosovo qua sự hiện diện của hai tuyển thủ Xhaka và Shaqiri trong đội tuyển quốc gia Thụy Sĩ. Nhiều người Kosovo nói rằng “Khi Thụy Sĩ thi đấu thì Kosovo cũng thi đấu”.
Một ngôi làng nhỏ tại miền đông Kosovo tự nhận là “Thụy Sĩ nhỏ”, bởi vì tất cả 450 gia đình tại đây đều có bà con đang sinh sống tại Thụy Sĩ. Một ký giả Kosovo nói: “Dân mê túc cầu tại đây sẽ vui mừng vì chiến thắng của Thụy Sĩ còn hơn cả người Thụy Sĩ”.