Thứ Hai, 21 tháng 5, 2018

Đức Quốc và chiến dịch “Phần Thư” cách đây 85 năm



18/05/18
Năm 1933, cách đây đúng 85 năm, Đức quốc xã đã phát động chiến dịch đốt sách trên toàn quốc. Nhiều sinh viên đại học đã phấn khởi tham gia chiến dịch này.
Trước đó 100 năm, trong tác phẩm có tựa đề “Almansor”, thi sĩ Heinrich Heine (1797-1856) đã báo trước: “Đây mới chỉ là màn giáo đầu. Bất cứ nơi nào người ta đốt sách thì cuối cùng họ cũng sẽ thiêu sống con người”. Điều này đã ứng nghiệm với chủ trương “phần thư khanh nho” dưới thời nhà Tần bên Tàu. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau khi thống nhất Trung Hoa, một trong những việc làm đầu tiên của bạo chúa Tần Thủy Hoàng (259-210 trước Công nguyên) đã ra lệnh đốt tất cả các sách, của bất cứ nhà tư tưởng nho giáo hay bậc thông thái nào có tư tưởng khác với ông.
Không rõ Hitler có học được “sách” của Tần Thủy Hoàng không. Chỉ vài tháng sau khi lên cầm quyền, đồ tể Hitler cũng đã ra lệnh đốt sách. Và như thi sĩ Heine đã báo trước, tiếp theo cuộc đốt sách, không biết bao nhiêu tác giả hoặc đã bỏ trốn hoặc phải trả giá bằng cái chết của họ.
Người đứng ra thực hiện chiến dịch đốt sách của Đức quốc xã là ông Joseph Goebbels, Bộ trưởng Thông tin và “tuyên truyền” của chế độ. Ông này lại được một số tổ chức sinh viên tích cực tiếp tay. Với Hitler, nắm được bộ máy cai trị thôi chưa đủ, cần phải làm chủ được bộ óc của đất nước là các đại học.
Nhưng không chỉ có các sinh viên mới tích cực tham gia chiến dịch đốt sách. Chính hiệp hội các nhà nhà bán sách cũng góp một phần không nhỏ trong chiến dịch. Alexnder Skipis, người đã từng làm giám đốc của Hiệp hội Xuất bản và Nhà sách Đức vào thời đó đã nhìn nhận rằng chính họ là người đã lập danh sách những sách cần phải đốt, cũng như kêu gọi các tiệm sách không nên trưng bày một số sách. Ông nói: “Xét cho cùng, chính chúng tôi là những người đã ủng hộ Chế độ Đức quốc xã và những chủ trương của họ”.
Theo lệnh của Bộ trưởng Thông tin và “tuyên truyền” Goebbels, người ta đã đua nhau lập ra danh sách những tác giả và tác phẩm nào bị xem là có tinh thần “chống Đức”. Đương nhiên, đứng đầu danh sách đen của Đức quốc xã là các tác giả Do Thái và tác phẩm của họ. Kế đó là những người bị xem là có đầu óc quá tả khuynh, cầu hòa hay phê bình ý thức hệ Đức quốc xã. Bên cạnh các văn thi sĩ nổi tiếng của Đức còn có một số khoa học gia như Albert Einstein và Sigmund Freud. Tổng cộng có khoảng 100 tác giả người Đức và trên 40 tác giả ngoại quốc trong đó có tên của hai văn sĩ nổi tiếng là Ernest Hemingway của Mỹ và André Gide của Pháp bị nằm trong danh sách đen.
Buổi đốt sách chính đã diễn ra tại Công trường Hí viện ở Thủ đô Bá Linh, nay có tên là Công trường Babel, vào buổi tối ngày 10 tháng Năm năm 1933. Đã có trên 20.000 cuốn sách được mang đến công trường. Khoảng 5000 sinh viên đại học đã cầm đuốc sáng trong tay. Tham dự buổi đốt sách có cả trăm ngàn người. Vào giữa khuya, Bộ trưởng Goebbels nói: “Kỷ nguyên của Cá nhân Chủ nghĩa quá lố của bọn Do Thái đã qua...Hỡi các bạn sinh viên, nếu các bạn đảm nhận quyền được ném sự đồi trụy trí thức vào ngọn lửa, các bạn cũng phải nhận lấy trách nhiệm phải làm sạch thứ rác rưởi này và dọn đường cho những tác phẩm thực sư có tính cách “Đức”.
Sau lời tuyên bố của ông Goebbels, lửa đã được đốt lên. Dưới cơn mưa tầm tả, người ta phải huy động đội cứu hỏa đến để đổ dầu vào ngọn lửa.
Chiến dịch đốt sách không chỉ giới hạn ở Thủ đô Bá Linh và cũng không chỉ diễn ra trong đêm mùng 10 tháng Năm. Trong những tuần lễ trước và sau đó, nhiều đại học đã tổ chức những cuộc đốt sách rầm rộ hơn. Điều không ngờ là tân chủ tịch của Đại học Freiburg, triết gia nổi tiếng Martin Heidegger (1889-1976) đã kêu gọi các sinh viên như sau: “Các ngọn lửa nói với chúng ta, soi sáng cho chúng ta, chỉ đường để chúng ta không quay lại phía sau! Các ngọn lửa sáng rực, trái tim bùng cháy!” Có lẽ học được câu nói trên đây của triết gia Heidegger chăng văn nô Tố Hữu đã ca ngợi chủ nghĩa cộng sản với những câu thơ như “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chiếu qua tim”.
Trong chiến dịch đốt sách của Hitler, nhiều tác giả đã phải dở khóc dở cười. Văn sĩ Oskar Maria Graf đã sửng sốt khi thấy tên mình trong danh sách “trắng” của những tác phẩm được chế độ Đức quốc xã khuyên đọc. Vừa đọc được tên mình trong danh sách, nhà văn đã thốt lên: “Hãy đốt tôi đi”. Một số văn sĩ khác như Thomas Mann chẳng hạn, mãi sau này mới được đưa tên vào danh sách phải bị tế thần. Năm 1933, nhiều tác giả bị chế độ Đức quốc xã bách hại đã rời khỏi Đức. Văn sĩ duy nhất chứng kiến chiến dịch đốt sách của Hitler tại Bá Linh là ông Erich Kastner. Âm thầm đứng trong đám đông để nhìn sách của mình bị đốt, nhưng ông vẫn bị một số người nhận diện. Dù vậy, đêm đó ông chẳng bị hề hấn gì. Ông là một trong rất ít tác giả có tên trong danh sách đen đã chọn ở lại Đức dưới thời Đức quốc xã.
Cũng chọn ở lại Đức như ông Kastner, nhưng một số văn sĩ như Carl von Ossietzky và Erich Muhsam bị bắt giam. Một số bị xử tử hoặc chết rũ tù. Những nhà văn trung thành với Đức quốc xã dĩ nhiên đã lợi dụng thời cơ để trám lấy chỗ trống của những người đã bị chế độ trù dập. Nhà văn Kurt Tucholsky đã trốn sang Thụy Điển. Ông gọi các văn nô bồi bút của chế độ là bọn đĩ điếm đã chuồi ra khỏi hang động của chúng.
Cũng như bất cứ một nhà độc tài nào trong lịch sử nhân loại, Hitler không muốn có bất cứ tư tưởng nào đi ngược lại với suy nghĩ và chủ trương của ông. Là một người chưa học xong trung học, Hitler tự bản chất là một người chống trí thức. Đối với Hitler, người Đức đích thực với đầu óc kỳ thị chủng tộc và thượng tôn quân sự lâu nay đang ngủ vùi. Đánh thức những đặc tính “Đức” ấy là điều còn quan trọng hơn bất cứ một nền giáo dục truyền thống nào.
Trước Hitler, các đại học Đức là những trung tâm khoa học và văn chương có thế giá vào bậc nhất thế giới. Dưới thời Hitler, sức sống trí thức bắt đầu tàn lùi. Chân lý, óc suy luận và kiến thức khách quan, nền tảng của nền văn minh Tây Phương, bị các sinh viên và giáo sư do chế độ Đức quốc xã cực đoan hóa xem như “đồi trụy”. Thay vào đó là một thứ chủ nghĩa dân tộc mù quáng chỉ nghĩ tới một tương lai sáng lạn của đất nước và dân tộc Đức.
Những gì đã diễn ra trong cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Cộng do Mao Trạch Đông chủ xướng cũng đã từng xảy ra dưới thời Hitler tại Đức. Trước áp lực của các sinh viên, phần lớn các giáo sư Đức đều chối bỏ sự lương thiện của nhà trí thức để tuyên thệ trung thành với chế độ. Nhiều người vui sướng được chiếm lấy những ghế giáo sư do các giáo sư và phân khoa trưởng gốc Do Thái bỏ trống.
Từ cấp tiểu học đến đại học, người ta không còn thấy bóng của bất cứ một giáo viên hay giáo sư gốc Do Thái hay bất cứ người nào bị tình nghi có đầu óc phản động và chống chế độ, bất luận khả năng và thành tích của họ. Trong số những giáo sư bị loại trừ hay bách hại, người ta tính có đến 20 người được trao tặng Giải Nobel. Trong hai năm 1933 và 1934, khoảng 10 phần trăm đội ngũ giáo sư đại học Đức bị cho nghỉ việc. Đây là một thiệt hại vô cùng lớn lao cho Đức, bởi vì phần lớn các giáo sư và khoa học gia nổi tiếng trong hai ngành toán học và vật lý lượng tử đều là người Do Thái. Nhà bác học nổi tiếng nhất của Thế kỷ 20 là Albert Einstein, người Đức gốc Do thái đã xin tỵ nạn tại Hoa Kỳ cùng với nhiều nhà trí thức khác.
Những người yêu chuộng chân lý và tự do nào không thể trốn thoát khỏi Đức chỉ còn biết trú ẩn trong chính cõi lòng của họ. Nhưng tự giam mình trong tòa nhà tư tưởng riêng của mình cũng là một thứ tù ngục đáng sợ.
Dĩ nhiên, vẫn còn một số ít giáo sư và sinh viên chống lại chế độ. Họ tập trung thành những nhóm nhỏ và lén lút gặp nhau. Một trong những nhóm như thế lấy tên là “Hoa hồng trắng” và đặt trụ sở tại Đại học Munich. Họ rải truyền đơn kêu gọi Hitler phải “trả lại tự do cá nhân vốn là tài sản quý giá nhất của mỗi người Đức. Đây là thứ tài sản mà ông đã tước đoạt bằng một cách đồi bại nhất”. Nhưng trong một xã hội mà ai cũng có thể là nhân viên mật vụ, một hoạt động như thế không thể qua mắt được chế độ. Hai người trong nhóm “Hoa hồng trắng” đã bị cơ quan mật vụ Gestapo bắt và xử tử.
Trong các lớp học, các giáo sư vừa giảng bài vừa nom nớp lo sợ vì có thể bị một trong các sinh viên của mình tố cáo vì bất cứ lý do gì và bị đưa vào trại tập trung. Để kiếm điểm, một số giáo sư chấp nhận làm điểm chỉ viên để tố cáo các đồng nghiệp của mình. Trong một bầu khí đầy nghi kỵ và lo sợ như thế, trình độ học vấn của sinh viên  đương nhiên ngày càng xuống dốc.
Trong các trường trung học trên toàn quốc, những giáo viên thực thụ được thay thế bằng những giáo viên “Đức quốc xã” với trình độ rất đáng nghi ngờ. Thay vì truyền thụ kiến thức cho học sinh, họ chỉ biết suốt ngày lập lại khẩu hiệu: “Nhiệm vụ cao cả của trường học là giáo dục giới trẻ biết phục vụ Nhân Dân và Nhà nước theo tinh thần Đức quốc xã”. Với các học sinh, chỉ có một chân lý duy nhất là Chân lý Đức quốc xã.
Trong những năm chiến tranh, tất cả các giáo viên tiểu học và trung học Đức đều là những người xuất thân từ Đoàn Thanh Niên Hitler. Phẩm chất giáo dục ngày càng xuống cấp. Học sinh từ những trường tuyển Hitler là những người có thể lực rất tốt và thấm nhuần ý thức hệ Đức quốc xã, nhưng lại rất kém về toán học và khoa học.
Các nhà khoa học cộng tác với chế độ, vốn được đào tạo trước khi Hitler lên cầm quyền, than phiền rằng những người được tuyển chọn từ các lò đào tạo của Hitler hoàn toàn không có khả năng để nghiên cứu. Các nhà lãnh đạo quân sự cũng than phiền rằng các sinh viên sĩ quan trẻ xuất thân từ các trường Hitler thiếu những kiến thức tối thiểu. Nhưng với Hitler, những thiếu sót đó không quan trọng. Hệ thống giáo dục do ông thiết lập đã cung cấp cho ông những gì ông cần: đó là những người trẻ sẵn sàng phục vụ Tổ quốc cho đến chết và sống hết mình với khẩu hiệu “Tin tưởng, Tuân phục, Chiến đấu!” Ông đã từng tuyên bố: “Trong các trường đặc biệt của tôi, một người thanh niên sẽ lớn lên thành một người làm cho thế giới phải run sợ. Tôi muốn có một lớp thanh niên tàn bạo, không biết sợ hãi...Đây chính là Trật Tự Mới mà tôi muốn thiết lập”.
Tất cả những ai chối bỏ Trật Tự Mới ấy đều bị đưa vào các trại tập trung. Trại tập trung đầu tiên là Dachau, gần Thành phố Munich. Trại này “thành công” đến độ đã trở thành mẫu mực cho tất cả những trại khác rải rác tại Đức và Ba Lan.
Lời tiên báo của thi sĩ Heine đã thành sự thật: “Bất cứ nơi nào người ta đốt sách thì cuối cùng họ cũng sẽ thiêu sống con người”.

(nguồn:
- http://www.dw.com/en/when-books-were-burned-in-germany
-http://www.historyplace.com/worldwar2/triumph/tr-bookburn.htm)

Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018

Đường đi hỏa ngục



Chu Thập
Thứ Bảy mùng Năm tháng Năm vừa qua là ngày kỷ niệm sinh nhựt thứ 200 của Karl Marx (1818-1883), ông tổ của chủ nghĩa Cộng sản. Nhân dịp này, Thành phố Trier nằm ở miền tây nước Đức, gần Lục Xâm Bảo, nơi chào đời của ông, đã quyết định đón nhận một món quà đặc biệt của Trung Cộng. Đó là bức tượng bằng đồng cao 4.5 thước của Karl Marx do một nhà điêu khắc nổi tiếng của Trung Cộng là ông Wu Weishan thực hiện. Các viên chức của Thành phố Trier cho biết họ đã mất hai năm để thảo luận và tranh cãi với nhau về việc có nên đón nhận món quà này không. Nhiều người đã lên tiếng phản đối vì cho rằng đón nhận món quà này là đồng lõa với những vi phạm nhân quyền tại Trung Cộng.
Hôm thứ Sáu vừa qua, Chi nhánh Đức của Hội Văn Bút Quốc Tế nói rằng không nên trưng bày bức tượng bao lâu bà Lưu Hà, quả phụ của ông Lưu Hiểu Ba, người đã được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình hồi năm 2010, vẫn còn bị quản thúc tại gia. Bà Hà đã bị giam giữ trong nhà từ năm 2010 mà không hề được mang ra xét xử vì bất cứ hành vi phạm pháp nào.
Về phần mình, thị trưởng Thành phố Trier, ông Wolfram Leibe giải thích rằng đón nhận và trưng bày bức tượng của Karl Marx là một cử chỉ tỏ tình thân thiện với Trung Cộng, đồng thời là cơ hội để mọi người lượng định lại chỗ đứng lịch sử của ông. Thật ra, bức tượng Karl Marx do Trung Cộng tặng không phải là tượng đài duy nhất về ông tổ của chủ nghĩa cộng sản này. Ngôi nhà nơi ông sinh ra đã trở thành một di tích lịch sử và tại Thủ đô Bá Linh hiện cũng có một bức tượng của ông. Đây là một trong những khu du lịch nổi tiếng của Đức với lượng du khách mỗi năm lên đến 4.5 triệu người.
Karl Marx vẫn tiếp tục là một nhân vật lịch sử gây nhiểu tranh cãi và chia rẽ. Những người bênh vực ông thì cho rằng các chế độ cộng sản đã hiểu và áp dụng sai các lý thuyết của ông. Còn những người chống ông thì lại áp dụng nguyên tắc “trông quả biết cây”. Chính tư tưởng của ông là nền tảng để xây dựng chủ nghĩa Cộng sản là thứ chủ nghĩa đã và đang tiếp tục gây ra không biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho nhân loại.
Dĩ nhiên, những người cộng sản vẫn tiếp tục biện minh cho di sản của Karl Marx. Hôm thứ Sáu vừa qua, Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Cộng đã ca tụng ông như “nhà tư tưởng vĩ đại nhứt của thời hiện đại”. Chủ tịch Tập Cận Bình kêu gọi các đảng viên cộng sản hãy trở về với cội nguồn của Chủ nghĩa Mác xít. Ông khẳng định rằng đảng cộng sản vẫn mãi mãi là “người bảo tồn và thực hiện” chủ nghĩa Mác xít. Ở Việt Nam, những người cộng sản cũng chỉ biết lập lại có thế, mặc dù có thể rất nhiều người, ngay cả đương kim Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là người lấy tiến sĩ về chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô, cũng chẳng biết được mặt mũi của “xã hội xã hội chủ nghĩa” được Karl Marx vẽ ra như thế nào.
Tôi không phải là đồ đệ của ông Karl Marx và nhứt là tôi chỉ có một sự hiểu biết rất mơ hồ về tư tưởng của ông. Thời còn đi học, giữa lúc đang diễn ra cuộc chiến ý thức hệ khốc liệt trên quê hương, tôi đã cố gắng học hỏi về chủ nghĩa Mác xít. Nhưng với trình độ quá non kém, tôi chẳng hiểu biết được bao nhiêu. Có nghe nói đến hai tác phẩm chính của Karl Marx là “Tư bản luận” (Das Kapital) và “Tuyên ngôn của chủ nghĩa cộng sản” (Manifest der Kommunistischen Parte), nhưng tôi không có khả năng và cũng chẳng có đủ can đảm để đọc được một dòng nào trong hai tác phẩm này. Nhưng qua sự dẫn giải của các vị giáo sư của tôi, tôi hiểu một cách khái quát rằng chủ nghĩa Tư bản vừa mới phát sinh tại Âu Châu cùng với cuộc cách mạng kỹ nghệ là đối tượng phê bình của Karl Marx. Ông cho rằng chính chủ nghĩa Tư bản là nguyên nhân đẻ ra bất công xã hội, tạo ra giai cấp trong xã hội. Vậy thì để xóa bỏ chủ nghĩa Tư bản, cần phải san bằng xã hội, trả lại công lý cho giai cấp vô sản đang bị bóc lột. Thiên đàng trên trần gian mà Karl Marx hằng mơ tưởng là một xã hội không còn giai cấp, không còn cảnh người bóc lột người, một xã hội trong đó mọi người sẽ làm việc theo khả năng và hưởng theo nhu cầu. Một xã hội như thế thì ai mà chẳng mơ ước. Kitô Giáo tin tưởng rằng loài người có thể xây dựng được trên trần gian này một xã hội như thế. Nhưng trong khi Kitô Giáo xây dựng một xã hội như thế trên tình yêu thương thì Karl Marx chủ trương chỉ có thể tiến tới một xã hội như thế bằng bạo lực và hận thù.
Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Karl Marx có viết: “Tôn giáo là hạnh phúc ảo tưởng của con người. Dẹp bỏ tôn giáo là một đòi hỏi để cho con người được hạnh phúc thật sự”. Khi tuyên bố rằng tôn giáo “là tiếng thở dài của những người bị áp bức, là thuốc phiện ru ngủ quần chúng”, Karl Marx muốn lập ra một tôn giáo mới và tôn giáo mới ấy trong cốt lõi chính là tôn giáo của hận thù.
Có thể sự hiểu biết của tôi về chủ nghĩa Mác xít chỉ là một ý niệm khái quát. Nhưng sau năm 1975, khi nhìn tận mặt mấy ông cộng sản, chứng kiến tận mắt hành động của họ và “sờ” được chủ nghĩa Cộng sản bằng chính đôi tay của mình, tôi mới ngộ ra điều mà các giáo sư của tôi đã dẫn giải về chủ nghĩa Mác xít. Karl Marx có thể đã để lại cả một kho tàng tư tưởng trừu tượng cao siêu và khó hiểu, nhưng di sản cụ thể nhứt của ông mà ngay cả một người thất học cũng có thể nhìn thấy hay cảm nhận được chính là sự thù hận. Đồ tể Hitler đã xây dựng Đức quốc xã trên thù hận. Nhưng sự thù hận của Đức quốc xã chỉ nhắm vào người Do Thái. Còn sự thù hận mà Karl Marx đã rao giảng đã không loại trừ một người nào. Không cần phải đến Tây Bá Lợi Á để nhìn thấy sự hận thù trong các Quần đảo Gulag. Không cần phải đọc tài liệu để cảm nhận được thế nào là thù hận trong cuộc cách mạng văn hóa của Mao Trạch Đông. Cũng chẳng cần phải quay ngược kim đồng hồ để trở lại Cam Bốt dưới thời Pol Pot để nhìn thấy sự thù hận của người cộng sản...Nhiều người Việt Nam đã là nạn nhân của thù hận trong cuộc cải cách ruộng đất do Hồ Chí Minh chủ xướng ngoài Bắc từ năm 1953 đến năm 1956. Thực chất của cuộc cải cách ruộng đất chính là lò lửa của thù hận được trút xuống trên những người vô tội. Sau năm 1975, người Việt Nam nào cũng có thể tự hào tuyên bố trước thế giới rằng họ đã thực sự nhìn thấy được linh hồn của chủ nghĩa Mác xít là sự thù hận.
Riêng tôi không thể nào quên được  một tấm bia ở dưới chân Tháp Bà, Cầu Bóng, Nha Trang. Chuyện xảy ra vào những ngày đầu tháng Tư năm 1975, sau khi thành phố Nha Trang bỏ ngỏ. Trên đường rút quân về phía nam, để chận đường tiến của Việt Cộng, không lực Việt Nam Cộng Hòa đã thả bom xuống Cầu Bóng. Một trái bom lạc mục tiêu đã rơi xuống dưới chân Tháp Bà khiến cho một số người bị thiệt mạng. Liền sau đó, một tấm bia đã được dựng lên, không phải để tưởng niệm các nạn nhân xấu số, mà để kêu gọi “căm thù” đối với “Mỹ Ngụy”. Tôi không nhớ rõ hàng chữ nhỏ phía dưới tấm bia. Nhưng ba chữ “Bia Căm Thù” thì không bao giờ phai nhạt trong ký ức của tôi, kể từ khi thành phố Nha Trang lọt vào tay cộng sản. Lúc còn ở trong nước, cứ mỗi lần đạp xe đi ngang qua “Bia Căm Thù” ấy, tôi thấy nhói lên trong tim. Đau buồn vì mất nước đã đành, nhưng xót xa nhiều hơn khi thấy cả nước chìm ngập trong sự thù hận.
Có lẽ trong các chế độ cộng sản, không ai tin tưởng ở sức mạnh của sự thù hận cho bằng chủ tịch “vĩ đại và vô vàn kính yêu” của Bắc Hàn là ông Kim Il-sung. Ông đã từng tuyên bố: “Điều quan trọng nhất trong việc chuẩn bị chiến tranh của chúng tôi là dạy cho mọi người thù ghét đế quốc Mỹ. Nếu không thì chúng tôi không thể nào đánh bại được đế quốc Mỹ là những người luôn khoe khoang về những kỹ thuật siêu vượt của họ”. Dù có chủ động ngồi vào bàn thương thuyết với Mỹ cách nào đi nữa, có lẽ người cháu nội của ông Kim Il-sung là chủ tịch Kim Jong-un sẽ không bao giờ quên được “khuôn vàng thước ngọc” ấy. Kho vũ khí nguyên tử mà ông đã xây dựng được cũng chính là lò lửa của hận thù. Đất nước có nghèo nàn đến đâu cũng được, xã hội có bệ rác cỡ nào cũng không quan trọng. Với dòng họ Kim, bao lâu hận thù còn đó thì bấy lâu chế độ cha truyền con nối vẫn tồn tại.
Một xã hội không có giai cấp, không còn cảnh người bóc lột người, một xã hội trong đó con người làm việc theo khả năng và hưởng theo nhu cầu...được Karl Marx “rao giảng” như một thứ tin mừng của Kitô Giáo, đã không bao giờ đến. “Bảy mươi năm lẻ ” ở Liên Xô, như ai đó ở Hà Nội đã nhìn vào tượng của Lenin để làm bài thơ tức cảnh, “mà có ra cái đếch gì”. Còn ở Trung Cộng và Việt Nam thì càng “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, khoảng cách giữa giai cấp thống trị và người bị trị, giữa giàu và nghèo còn sâu hơn cả vực thẳm.
Người ta có thể dành cho Karl Marx vinh dự của một người có viễn kiến khi ông “lên đồng” để loan báo về một xã hội bình đẳng, huynh đệ đại đồng,  không giai cấp. Nhưng khi ông thổi hơi thù hận vào xã hội, tôi liên tưởng đến một câu nói quen thuộc của người Pháp: Con đường dẫn xuống hỏa ngục được lát đầy bằng những thiện ý” (le chemin vers l’enfer est pavé de bonnes intentions). Tôn giáo nào cũng nói đến hỏa ngục trong cuộc sống mai hậu. Nhưng cái hỏa ngục ấy như thế nào thì chẳng có ai từ bên kia thế giới về nói cho tôi biết cả. Với tôi, nơi nào sự thù hận ngự trị thì nơi đó là hỏa ngục. Hỏa ngục chẳng chờ ở cuộc sống mai hậu mà xuất hiện ngay trên cõi đời này mỗi khi con người để cho lò lửa của hận thù thiêu đốt trái tim của mình.
Thật ra, kinh nghiệm bản thân cho tôi thấy thù hận đâu chỉ có trong các chế độ cộng sản. Nó “nằm vùng” ngay trong chính con người tôi. Nó có tên là đố kỵ, kỳ thị, bạo động dưới mọi hình thức và ngay cả sự dửng dưng trước nỗi khổ của người đồng loại. Ai sinh ra mà chẳng mang theo mình cái khả năng vừa biết cảm thông lại cũng vừa thích gây hấn. Còn sống là còn học làm người và còn phải chiến đấu với chính mình. Học để biết yêu thương, tha thứ, cảm thông cũng như học để biết dập tắt ngọn lửa của thù hận trong tâm hồn. Một xã hội bình đẳng, không có giai cấp không biết bao giờ mới đến, nhưng ít ra con người có thể cảm nhận được thế nào là thiên đàng trên trần gian mỗi khi ngọn lửa của thù hận được dập tắt trong tâm hồn.
Một xã hội bình đẳng và nhân ái chỉ có thể bắt đầu từ những tâm hồn biết tôn trọng sự bình đẳng và thực thi lòng nhân ái.








Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Nga dưới thời Putin và nữ quyền


11/05/18
Tháng Hai năm 2017, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký ban hành đạo luật nhằm “xá giải” cho nạn bạo hành trong gia đình. Luật đã được Quốc hội Duma thông qua với 380 phiếu thuận và 3 phiếu chống.
Theo luật mới này, bạo hành trong gia đình mà không làm cho “gẫy xương” và không xảy ra mỗi năm hơn một lần, thì không bị phạt tù lâu dài. Luật mới quy định rằng hình phạt nặng nhất mà người có hành vi bạo động trong gia đình có thể đối diện là phải đóng đến 530 Mỹ kim, cộng với từ 10 đến 15 ngày tù hay phải làm việc cộng đồng. Dĩ nhiên, hình phạt này chỉ được áp dụng nếu tòa án đứng về phía nạn nhân của bạo hành. Nhưng điều đó lại ít khi xảy ra.
Bà Natalia Pankova, giám đốc của một tổ chức đặc trách về bạo hành gia đình do chính phủ tài trợ có tên là “Cánh buồm Hy vọng”, nói rằng luật mới này làm cho các nạn nhân của bạo hành, vốn đã đau khổ, lại đau khổ thêm. Bà Pankova hiện đang điều hành 5 trung tâm tại Thành phố Vladivostok và các vùng phụ cận. Cũng như các nhân viên đặc trách về việc bảo vệ phụ nữ bị bạo hành, bà Pankova đã tỏ ra ngạc nhiên về luật mới này. Tuy nhiên, là nhân viên chính phủ, bà chỉ biết gật đầu và gỡ gạc bằng cách nhìn nhận rằng vấn đề bạo hành trong gia đình đã được các vị dân cử “quan tâm” tới.
Về phần mình, các luật sư gia đình và những người tranh đấu cho quyền của người phụ nữ cho rằng luật mới về bạo hành gia đình là một bước thụt lùi  đối với các quyền tự do cơ bản của người phụ nữ Nga. Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, mỗi năm có đến 12.000 phụ nữ Nga chết vì bàn tay thô bạo của những kẻ bạo hành. Trong thực tế, con số này có thể cao hơn.
Trong năm vừa qua, Phong trào có tên “#MeToo” (Tôi cũng vậy) đã thổi một luồng gió mạnh xuyên qua Bắc Mỹ, Âu Châu và một số vùng ở Á Châu và Phi Châu. Nhưng nhiều người tranh đấu cho quyền của người phụ nữ Nga sợ rằng ngọn gió ấy đã không thổi đến Nga.
Phong trào nữ quyền tại Nga có một lịch sử phức tạp và đầy nghịch lý. Cho tới gần đây, người phụ nữ Nga, ngay cả những người tin ở sự bình đẳng giới tính, cũng vẫn tỏ ra nghi kỵ đối với hai chữ “nữ quyền”. Nhiều người xem nó như một thứ vũ khí mà người Tây Phương sử dụng để tấn công vào nữ tính và truyền thống lâu đời của Nga theo đó làm mẹ mới thực sự là chức năng cao cả và là ưu tiên hàng đầu  của người phụ nữ. Nhiều người phụ nữ Nga cũng cho rằng những quyền mà người phụ nữ Tây Phương hiện vẫn còn tranh đấu để đòi hỏi, họ đã có từ lâu rồi.
Quyền đi bầu chẳng hạn, người phụ nữ Nga đã có ngay cả trước khi diễn ra Cuộc Cách Mạng Tháng Mười. Sau khi nắm chính quyền, những người Cộng sản Bolchevik còn nhìn nhận thêm nhiều quyền khác mà phụ nữ ở những nước khác không bao giờ nghĩ tới. Một trong những quyền đó là quyền được phá thai. Hiến Pháp Nga năm 1936 tuyên bố rằng đàn ông và đàn bà đều sinh ra bình đẳng. Hiến Pháp Nga lúc đó còn cho người phụ nữ được trả lương hậu sản cũng như được miễn phí khi gởi con vào nhà trẻ ở chỗ làm.
Nhưng trong nước Nga hiện đại dưới thời Tổng thống Putin, sự bình đẳng của người phụ nữ dường như đã bị tước đoạt. Hồi đầu năm nay, Yevgenia Albatz, chủ bút của tờ báo tự do New Times, đã nhận định rằng người phụ nữ Nga hiện “chỉ còn có mỗi một vai trò: đó là phục tùng và thinh lặng”.
Được sự hậu thuẫn của một Giáo hội Chính thống đang hồi sinh, tổng thống Nga đang đưa nước Nga trở lại con đường bảo thủ bằng nhiều cách. Dân biểu Oksana Pushkina, thuộc Đảng Thống Nhất đang cầm quyền, hiện đang là chủ tịch của Ủy ban Quốc hội về gia đình, phụ nữ và trẻ em, giải thích rằng theo cái nhìn chung của xã hội Nga về sự khác biệt giữa nam nữ thì  “đàn ông cần phải tỏ ra có nam tính và mạnh mẽ, còn đàn bà thì phải là hiền mẫu”. Theo bà, chính cái nhìn này là một “cản ngại lớn cho sự phát huy các quyền của người phụ nữ và đẩy lui sức mạnh và vị trí của người phụ nữ Nga trong xã hội”. Bà cho biết đã không bỏ phiếu cho luật mới về nạn bạo hành trong gia đình. Hiện bà đang vận động các chính trị gia và các nhà tranh đấu để tìm cách đảo ngược luật này và tìm kiếm một biện pháp mới để chống lại nạn bạo hành gia đình.
Tổng thống Putin là người luôn muốn khẳng định và phô bày nam tính của mình: ông thích để mình trần, cỡi ngựa, bắn súng, câu cá...Tại một cuộc họp thượng đỉnh với các nhà lãnh đạo của khối Liên Âu tại Phần Lan hồi năm 2006, khi đề cập đến những cáo buộc về hãm hiếp mà Tổng thống Israel Moshe Katsav phải đối diện, ông Putin nói đùa: “Nhờ vậy mà ông ta (tổng thống Israel) là một người đầy uy quyền. Ông đã hãm hiếp 10 người phụ nữ! Tất cả chúng ta đều ganh với ông”. Với kiểu đùa cợt ấy, ông Putin để lộ sự miệt thị của ông đối với phụ nữ. Mới đây, ông lại khoe rằng các cô gái điếm của Nga là “nhất” thế giới. Ông cũng có thái độ khinh miệt đối với phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt. Trong Ngày Quốc tế Phụ nữ năm nay, ông đã kêu gọi bình đẳng trong chỗ làm, nhưng lại nói rằng ông tin tưởng ở những vai trò “truyền thống” của đàn ông và đàn bà, theo đó “đàn bà phải là đàn bà và đàn ông phải là đàn ông”.
Dù có thái độ miệt thị đối với phụ nữ, Tổng thống Putin vẫn được đa số dân Nga ủng hộ. Không lạ gì khi vụ tai tiếng về xâm hại tình dục của nhà đạo diễn Mỹ Harvey Weinstein nổ ra dạo tháng Mười năm ngoái, phản ứng của dân chúng Nga, đàn ông cũng như đàn bà, là lên án chính các nạn nhân. Một nhóm phụ nữ Nga còn thoát y gần tòa Đại sứ Mỹ ở Mạc Tư Khoa. Một người giơ cao một tấm biểu ngữ với hàng chữ: “Xin đón chào ông Harvey Weinstein đến Nga”.
Tất cả những  người tìm cách gia nhập phong trào #MeToo để kể lại chuyện họ bị xách nhiễu hay xâm hại tình dục đều bị chế diễu hay ngay cả bị đe dọa bị hành hung. Dạo tháng Giêng năm vừa qua, một cô gái 17 tuổi tên là Dian S. đã xuất hiện trên một chương trình truyền hình và kể lại việc cô bị một thanh niên 21 tuổi hãm hiếp. Tức khắc các bình luận viên trên mạng, các nhà viết Blog và nhất là các cơ quan truyền thông của chính phủ trút lên cô gái  tất cả trách nhiệm của vụ hãm hiếp. Chi nhánh Burger King tại Nga còn dựa vào câu chuyện của cô gái để tung ra một màn quảng cáo theo đó trong đêm trước khi bị hãm hiếp, cô đã uống quá nhiều rượu để rồi kết luận: một bữa ăn ở Burger King rẻ hơn nhiều! Sau đó, Burger King cho rút lại màn quảng cáo, nhưng vẫn không chịu lên tiếng xin lỗi cô gái. Tháng Mười vừa qua, một cô gái 12 tuổi tên là Anastasia đã xuất hiện trên một chương  trình truyền hình thực tế về “hẹn hò” để ủng hộ người cha đơn chiếc của em. Em nói với khán giả rằng cha em và em thường thảo luận với nhau về những vấn đề liên quan đến nữ quyền. Chỉ có vậy thôi cô gái này cũng bị đe dọa giết chết.
Mặc dù bị hăm dọa, một số phụ nữ Nga, nhất là các thiếu nữ sinh sau năm 2000 tại Mạc Tư Khoa và St. Petersburg, vẫn tiếp tục chiến đấu. Sau khi cô gái 19 tuổi tên là Tatiana Strakhova bị  người bạn trai cũ giết chết hồi tháng Giêng vừa qua, hàng trăm phụ nữ Nga chụp hình chỉ với đồ lót và đưa lên các trang mạng xã hội kèm với lời thách thức: “Không có lý do gì để sát hại”.
Hiện nay, các hoạt động của phong trào #MeToo tại Nga còn trong giai đoạn phôi thai. Hồi tháng Hai vừa qua, một số nữ ký giả lên tiếng tố cáo Dân biểu Leonid Slutsky đã xách nhiễu họ ngay trong tòa nhà Quốc hội. Không những không có vị dân biểu nào đứng lên yêu cầu ông Slutsky phải từ chức, mà Phó Chủ tịch Quốc hội là ông Igor Lebedev còn kêu gọi cấm các ký giả này vào Quốc hội để làm phóng sự. Sau đó, ông và một số đồng nghiệp khác còn lên Facebook để khoe rằng họ muốn chiếm đoạt bao nhiêu nữ ký giả cũng được.
Ký giả Farida Rustamova, hiện đang làm việc cho chương trình Nga của Đài BBC cũng có một kinh nghiệm tương tự như ba ký giả Nga trên đây. Nữ ký giả này kể lại rằng dạo tháng Ba vừa qua, cô đến gặp ông Slutsky tại văn phòng của ông. Trong lúc nói chuyện, ông này bảo cô phải cho hôn phu của cô “leo cây”, rồi đưa tay vào váy cô...Ký giả Rustamova cho biết cô đã thu âm những lời nói thô lỗ của ông. Đài BBC không cho phát buổi thu âm mà chỉ ghi lại nguyên văn những lời nói của ông Slutsky. Ký giả Rustamova không dám kể lại câu chuyện cho hãng tấn AP, mà chỉ lên Facebook để bày tỏ nỗi lo sợ của cô, vì Slutsky là một chính trị gia có nhiều quyền lực và có nhiều người bạn có thế lực.
Trước ký giả Rustmova, một phóng viên làm việc cho đài truyền hình Dozhd là cô Daria Zhuk cũng đã gởi đến cho ông Slutsky một băng hình trong đó cô tố cáo ông đã sử dụng ngôn ngữ thô tục cũng như tìm cách sờ mó và hôn hít cô ngay trong phòng thu hình của đài hồi năm 2014. Trong bằng hình gởi cho ông Slutsky, cô nói: “Tôi chỉ có một câu hỏi: ông vẫn tiếp tục phủ nhận điều này phải không? Ông không biết xấu hổ khi làm việc trong Quốc hội và hành động như vậy sao?”
Trước đó, cô Yekaterina Kotrikadze, phó chủ biên của đài truyền hình RTVI cũng tiết lộ rằng năm 2011 ông Slutsky đã đẩy cô vào chân tường và tìm cách hôn cô trong phòng làm việc của ông.
Theo  phóng viên này, nhiều nữ ký giả cũng đã từng bị xách nhiễu tình dục như thế không những trong tòa nhà Quốc hội, mà còn cả trong các cơ quan chính phủ khác nữa. Theo cô các nạn nhân của xâm hại tình dục không bao giờ dám lên tiếng tố cáo “vì họ sợ rằng làm như thế họ chỉ bị chỉ trích và nhục mạ mà thôi”.
Dĩ nhiên trong vụ này, Chủ tịch Quốc hội Nga, ông Vyacheslav Volodin, cũng đứng về phía ông Phó Chủ tịch Quốc hội. Lên tiếng về những lời tố cáo về xách nhiễu tình dục trong Quốc hội, ông Volodin thẳng thừng bác bỏ những lời tố cáo. Ông còn khuyên các nữ ký giả: “Quý vị cảm thấy nguy hiểm khi làm việc trong Quốc hội ư? Vậy thì hãy tìm một công việc khác”.
Điều mỉa mai là nhiều phụ nữ có thế lực trong chính phủ đều lên tiếng bênh vực ông Slutsky. Bà Tamara Pletnyova, Chủ tịch Ủy ban Quốc hội về Gia đình, nói với Đài Ekho Moskvy rằng các nữ ký giả “nên ăn mặc chỉnh tề hơn và không nên để hở bụng để đi quanh quẩn”.
Mặc dù tại Nga cũng có một số phụ nữ nắm giữ những chức vụ quan trọng, như giám đốc ngân hàng hay chủ tịch thượng viện, Nga vẫn còn là một nước do đàn ông thống trị. Hạ viện có tất cả  450 dân biểu, trong số này chỉ có 67 người là phụ nữ.

(nguồn:
-http://foreignpolicy.com/2018/04/09/putins-war-on-women
-https://www.bloomberg.com/news/articles/2018-03-07/russian-parliament-faced-with-sex-harassment-complaints)

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2018

Hòa bình đích thực từ tâm hồn



Chu Thập
04/05/18
Tháng Năm 1975, bên cạnh nỗi buồn mất nước, tôi thấy buồn cười nhứt là cảnh mấy ông bà “cách mạng 30” chạy rong ngoài đường để “rao giảng” về cách mạng và chủ nghĩa cộng sản. Nhưng đau buồn hơn cả vẫn là sự xuất đầu lộ diện của mấy ông bà nằm vùng. Thật không ngờ họ ở ngay trong hàng ngũ bạn bè và ngay cả người thân của mình. Nhân vật Hồng Hương trong truyện “chiếc nhẫn”, một trong những chuyện buồn nhứt  trong tập truyện “Cuối hai con đường” của nhà văn Phạm Tín An Ninh là một điển hình về mấy ông bà nằm vùng: họ không chỉ “bán mình”, mà còn bán cả vợ con và người thân của mình cho cộng sản. Nhưng nhìn dưới một khía cạnh khác, phải công nhận rằng những người nằm vùng là những kịch sĩ tài ba: họ đóng kịch tài tình đến độ ngay cả vợ con và người thân của họ cũng không biết được tông tích của họ.
Trước năm 1975, lúc còn học ở Đà Lạt, tôi có biết một ông phó nhòm rất nổi tiếng. Là một người Bắc “54”, ông lập gia đình với một người phụ nữ thuộc một gia đình công giáo thuần thành ở Đà Lạt. Hai vợ chồng mở một tiệm chụp ảnh khá ăn khách. Nhờ cái nhãn “công giáo” và “đạo đức”cho nên ông luôn được mời đến để độc quyền chụp ảnh trong các buổi lễ lớn của Giáo hội Công giáo. Ông có khuôn mặt hiền lành, dễ mến. Mới gặp, bảo ông là một nhà tu, ai cũng tin ngay. Đùng một cái, năm 1975 Việt Cộng vô. Ông biến khỏi Đà Lạt. Sau này, có người biết chuyện cho tôi hay rằng ông là một tay nằm vùng thứ dữ. Ông đã từng đứng ra tổ chức một cuộc gặp gỡ bí mật cho Tổng bí thư Lê Duẩn với một số cán bộ gộc ở Đà Lạt.
Thật ra ông phó nhòm mà tôi biết trên đây có lẽ cũng chỉ là một tay nằm vùng cắc ké. Chuyện của những ông Đại tá Tỉnh trưởng Phạm Ngọc Thảo, ông “cố vấn” ba đời tổng thống Vũ Ngọc Nhạ mới đáng sợ: cả hai đều là người công giáo “thuần thành” và đều  được sự tín cẩn, tiến cử và che chở của các giới chức công giáo.   Chỉ sau năm 1975, khi “lá bài đã được lật ngửa”, người ta mới biết được bộ mặt thật của họ.
Tôi không rành và cũng chẳng thích chơi cờ tướng. Có học chơi và thử chơi mấy lần, nhưng chẳng bao giờ “sạch nước cản”. Nhưng tôi thích theo dõi cuộc đấu trí của các cao thủ. Phải chờ cho đến cuối ván cờ mới thấy và hiểu được đường đi nước bước của những tay cao cờ. Mấy hôm nay, khi bước vào tháng Năm, nhìn lại “ván bài lật ngửa” của mấy ông cộng sản, tôi cũng nghĩ đến một ván cờ đang diễn ra ở Bán đảo Triều Tiên. Và Chủ tịch Kim Jong-un không phải là một “tay vừa”.
Cách đây 6 năm, khi lên ngôi kế vị “vua cha” ở tuổi chưa tròn 30, cậu Kim Jong-un bị thế giới xem thường như một nhà lãnh đạo “trẻ người non dạ”. Riêng Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tặng cho cậu đủ thứ “hỗn danh” trong đó “điên khùng” là chính.  Nhưng nếu chú ý, có lẽ thế giới phải nghe lại bài diễn văn đầu tiên của ông nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của ông nội ông, chủ tịch “muôn năm” Kim Il-sung. Với bài diễn văn này, người cháu nội của ông Kim Il-sung đã vạch ra chương trình đầy tham vọng của ông, mà cốt lõi chính là thống nhất Triều Tiên. Kim Jong-un nói: “Chúng ta đã đau khổ vì sự chia cách gần 70 năm qua. Chúng ta đã từng sống như một dân tộc trên cùng một mảnh đất từ hàng ngàn năm qua. Thật là đau lòng khi phải chịu đựng như thế. Đảng ta và chính phủ ta sẽ bắt tay làm việc với bất cứ ai muốn thấy đất nước thống nhất. Thật không thể diễn tả hết nỗi đau vì chia cách của nhân dân Triều Tiên. Có những gia đình ly tán vì chiến tranh. Họ đã không được gặp nhau từ hơn nửa thế kỷ nay. Nhiều người đã chết mà giấc mơ thống nhất vẫn chưa được thực hiện”. Nghe đâu có khác gì giọng điệu của “Bác Hồ vĩ đại và vô vàn kính yêu” của mấy ông cộng sản Miền Bắc. Họ giành nỗi đau chia cách đất nước cho riêng họ và họ cũng muốn giành lấy việc thống nhất đất nước cho riêng họ. Dĩ nhiên thống nhất bằng súng đạn và thống nhất dưới lá cờ cộng sản!
Chủ tịch Kim Jong-un đã lập lại lời thề non nước của ông nội ông. Chính trong viễn tượng thống nhất đất nước bằng súng đạn và dưới lá cờ cộng sản ấy mà cũng trong bài diễn văn đầu tiên của ông, ông đã đề cao quân đội Bắc Hàn như một “quân đội có đủ khả năng để tấn công và phòng thủ trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào trong thời đại”. Ông nói với các binh sĩ Bắc Hàn: “Các thế lực ngoại bang không còn là những sức mạnh quân sự duy nhất nữa và những ngày mà họ đe dọa và kháo láo về vũ khí nguyên tử của họ đã qua rồi”.
Kể từ lúc đó, mặc cho cộng đồng thế giới, nhứt là Hoa Kỳ có cảnh cáo, đe dọa và trừng phạt, họ Kim vẫn cứ liên tục thực hiện  các cuộc thử nghiệm vũ khí nguyên tử và hỏa tiễn tầm xa có khả năng bay tới bất cứ thành phố nào của Hoa Kỳ. Tình báo Hoa Kỳ đã ước tính hiện Bắc Hàn đang có trong tay khoảng 60 trái bom nguyên tử.
Chủ tịch Kim Jong-un đã học được bài học lịch sử: chính vì không có vũ khí nguyên tử trong tay mà những nhà độc tài như Saddam Hussein của Iraq hay Muammar Gaddafi của Lybia đã bị Hoa Kỳ và các nước đồng minh lật đổ. Nay sau khi đã nắm trong tay vũ khí nguyên tử, Kim Jong-un mới nói đến chuyện ngồi vào bàn hội nghị và thương lượng: một nước cờ kéo dài 6 năm! Và ông cũng đã đi những nước cờ rất ngoạn mục: cho cô em gái cầm đầu phái đoàn lực sĩ Bắc Hàn sang Nam Hàn để thi đấu dưới chung một lá cờ, kế đó sang “triều yếu” thiên triều Trung Cộng để cho thế giới thấy rằng lúc nào ông cũng được sự hậu thuẫn của đàn anh và cuối cùng bước qua biên giới, vào lãnh thổ Nam Hàn để bắt tay, ôm hôn và dung dăng dung dẻ bước đi bên cạnh nhà lãnh đạo Nam Hàn. Cùng với những lời tuyên bố về giải trừ vũ khí hạt nhân, xây dựng hòa bình và mưu cầu thịnh vượng, Chủ tịch Kim Jong-un dĩ nhiên cũng nhấn mạnh đến mục tiêu thống nhất đất nước.
Dĩ nhiên, người ta chỉ hiểu được  ý nghĩa của hai chữ “thống nhất” của ông khi nhìn lại nhân dáng của ông: với mái tóc “độc đáo” và bộ quần áo đại cán giống y chang ông nội của ông, Chủ tịch Kim Jung-un quả là một sự đầu thai hoàn hảo của ông nội Kim Il-sung của ông. Giấc mơ của ông nội Kim Il-sung là thống nhất đất nước dưới lá cờ cộng sản. Người cháu nội Kim Jong-un nhận lấy sứ mệnh hoàn thành giấc mơ ấy.
Trên bàn cờ, Chủ tịch Kim Jong-un chỉ còn một bước cuối cùng là gặp gỡ Tổng thống Mỹ Donald Trump. Ông đã chứng tỏ mình là một cao thủ luôn trong thế chủ động, biết mình muốn gì và tính toán hơn thiệt từng đường đi nước bước, ngay cả cho đối phương ăn bánh vẽ và uống nước đường!
Nhiều người đã phân tách nước cờ của Chủ tịch Kim Jong-un. Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in xem ra là người “hồ hởi” nhứt. Nhưng ông lại giành mọi thắng lợi cho tổng thống Trump khi nói rằng chính nhờ đường lối cứng rắn của tổng thống Mỹ mà Chủ tịch Kim Jong-un mới chịu xuống nước để ngồi vào bàn hội nghị. Tổng thống Nam Hàn còn tán tụng Tổng thống Trump đến độ đề nghị Ủy ban Nobel trao giải Hòa Bình cho ông Trump, một người đã từng đe dọa cho Bắc Hàn nếm “nộ khí và lửa”. Từ Hoa Kỳ, một số thượng nghị sĩ và dân biểu liên bang thuộc Đảng Cộng Hòa cũng cho rằng Tổng thống Trump xứng đáng được trao giải Nobel Hòa Bình. Một người luôn thích được ca ngợi và đề cao như Tổng thống Trump chắc chắn chỉ mong có thế. Tại một cuộc vận động cho Đảng Cộng Hòa tại Tiểu bang Michigan mới đây, Tổng thống Trump đã nhắc đến công trạng của ông trong tiến trình “hòa bình” tại Bán đảo Triều Tiên. Đám đông những người ủng hộ ông đã hò hét “Nobel Hòa Bình cho Tổng thống Trump!”.
Ủy ban Nobel thường làm những quyết định bất ngờ, nhứt là khi trao tặng Giải Nobel Hòa Bình. Nếu Tổng thống Trump được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình thì Tổng thống Moon Jae-in của Nam Hàn cũng phải được chia phần và đương nhiên Chủ tịch Kim Jong-un cũng phải được chia chác.
Người Việt Nam không thể nào quên giải Nobel Hòa Bình năm 1973 đã được trao tặng cho Ngoại trưởng Mỹ Henri Kissinger và cố vấn cao cấp của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris là Lê Đức Thọ. Ông Thọ đã từ chối giải này viện lý do  phía Việt Nam Cộng Hòa vi phạm Hiệp định và Việt Nam không có hòa bình. Dù cho ông Thọ có nhận giải này hay không, Giải Nobel Hòa Bình năm 1973 đã được trao tặng không phải bằng danh dự và hiện kim mà bằng chính xương máu của người Việt Nam. Với tôi, trao tặng giải Nobel Hòa Bình cho một người đại diện cho một chế độ độc tài khát máu gây ra không biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho dân tộc, là một hành động bôi bác đối với chính người đã để lại tài sản để lập ra giải này. Khi nhà lãnh đạo Miến Điện là bà Aung San Suu Kyi, người đã được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình năm 1991, đã có thái độ im lặng đồng lõa trước hành động tội ác của quân đội Miến đối với sắc dân Rohingya, tôi nghĩ đó cũng là một hành động bôi nhọ đối với giải thưởng cao quý này.
Tôi không biết rồi đây, sau cuộc họp thượng đỉnh của Chủ tịch Kim Jong-un và Tổng thống Trump, Bắc Hàn có thực sự giải trừ kho vũ khí hạt nhân của mình không và hòa bình có trở lại trên bán đảo Triều Tiên không...Chỉ có một điều chắc chắn trước sau như một  là: chế độ độc tài cha truyền con nối ở Bắc Hàn vẫn tồn tại và Chủ tịch Kim Jong-un vẫn mãi mãi là một bạo chúa khát máu. Liệu có thể tin được hai chữ “hòa bình” từ cửa miệng của một tên sát nhân khát máu, giết người không trừ một ai, từ người chồng của cô mình cho đến người anh cùng cha khác mẹ với mình cũng như vô số đồng bào ruột thịt của mình và hiện đang giam giữ hàng trăm ngàn người trong các trại lao động khổ sai không ?
Phật Giáo dạy: bỏ dao xuống là thành Phật! Chủ tịch Kim Jong-un sẽ là người xứng đáng nhứt để được trao tặng giải Nobel Hòa Bình nếu sau cuộc họp thượng đỉnh với Tổng thống Trump, ông trở về nước tuyên bố giải thể chế độ cộng sản cha truyền con nối, thả hết tù nhân, cho tổ chức bầu cử tự do và nhứt là lên tiếng xin lỗi và sám hối vì tội ác của mình trong 6 năm qua...
Mới đây, nhân dịp kỷ niệm đúng 50 năm ngày cố Mục sư Mục sư Martin Luther King bị ám sát, Tổng thống Trump đã công bố ngày 15 tháng Giêng là Ngày Martin Luther King để đề cao công đức, sự hy sinh, gương tranh đấu bất bạo động của người đã từng được trao tặng giải Nobel Hòa Bình năm 1964. Tôi tưởng tượng và cầu mong trong cuộc gặp gỡ sắp tới với Chủ tịch Kim Jong-un, ông sẽ lấy lại câu nói của cố Mục sư King để ngỏ với nhà lãnh đạo Bắc Hàn: “Hòa bình không thể được duy trì bằng vũ lực. Hòa bình chỉ có thể đạt được nhờ sự cảm thông. Bóng tối không thể xua đuổi bóng tối. Chỉ có ánh sáng mới làm được việc đó. Hận thù không thể đẩy lui hận thù. Chỉ có tình yêu mới làm được việc đó”. Hiểu như thế, hòa bình đích thực chỉ có thể xuất phát từ tâm hồn con người mà thôi.








Thứ Hai, 7 tháng 5, 2018

Nam-Bắc Triều Tiên: tương đồng và cách biệt



04/05/18
Chưa bao giờ thế giới chú ý đến Bán đảo Triều Tiên cho bằng lúc này, nhất là sau cuộc họp thượng đỉnh của hai nhà lãnh đạo Nam Bắc Triều Tiên hôm thứ Sáu 27 tháng Tư vừa qua. Hai miền Nam Bắc Triều Tiên gắn liền với nhau bằng những tương đồng về văn hóa và lịch sử, nhưng đồng thời lại xa cách nhau vì ý thức hệ.
Trong những ngày cuối cùng của Đệ Nhị Thế chiến, khi Nhật Bản chuẩn bị đầu hàng, vấn đề được đặt ra cho các nhà lãnh đạo Tây Phương cũng như phe cộng sản là: số phận của bán đảo Triều Tiên sẽ như thế nào sau khi Nhật Bản đầu hàng và rút ra khỏi vùng đất này?
Bán đảo Triều Tiên đã bị Nhật Bản chiếm đóng và cai trị từ năm 1910. Tháng Tám năm 1945, một ngày sau khi Thành phố Nagasaki của Nhật Bản bị bình địa bởi một trái bom nguyên tử của Hoa Kỳ, Liên Xô đã tuyên chiến với Nhật Bản. Nhật Bản đầu hàng và rút ra khỏi Triều Tiên. Tháng Tám năm 1945, Hoa Kỳ và Liên Xô đã đồng ý chia đôi Triều Tiên từ vĩ tuyến 38. Hoa Kỳ kiểm soát Nam Hàn, Liên Xô chiếm Bắc Hàn. Trên nguyên tắc, thỏa hiệp giữa 2 cường quốc chỉ có tính cách tạm thời, nghĩa là sẽ rút ra khỏi vùng đất bị chiếm đóng càng sớm càng tốt và để cho người Triều Tiên tự giải quyết lấy vấn đề của họ. Năm 1948, Liên Hiệp Quốc đã cố gắng dàn xếp để chính người dân Triều Tiên bỏ phiếu và quyết định về việc có nên thống nhất đất nước không.
Nhưng khoảng cách ý thức hệ giữa 2 miền quá lớn, khiến cho việc thống nhất đất nước bằng lá phiếu của người dân 2 miền bất thành. Cũng như Cộng sản Miền Bắc Việt Nam, Bắc Hàn cũng muốn thống nhất đất nước, nhưng thống nhất bằng vũ lực và theo ý thức hệ cộng sản. Do đó, Ngày 25 tháng Sáu năm 1950, sau nhiều cuộc đụng độ ở biên giới, Bắc Hàn Cộng Sản đã đưa quân sang xâm chiếm Nam Hàn. Với sự yểm trở của Hoa Kỳ, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã cho phép thành lập và gởi quân đội sang giúp Nam Hàn. Có trên 20 quốc gia tham gia vào lực lượng của Liên Hiệp Quốc. Bắc Hàn thì  lại được 2 nước đàn anh Trung Cộng và Liên Xô hậu thuẫn.
Trong 2 tháng đầu tiên của cuộc chiến, quân đội Mỹ và Nam Hàn bị buộc phải rút lui về Pusan, ở miền Nam Nam Hàn. Tháng Chín năm 1950, quân đội Liên Hiệp Quốc phản công, chận đứng đà tiến của quân đội Bắc Hàn và tiến đến Yalu là con sông nằm ở  biên giới Trung Quốc và Triều Tiên. Nhưng tháng Mười năm đó, Trung Cộng dùng chiến thuật biển người, xua quân vượt qua sông Yalu và tràn vào Triểu Tiên. Và đây cũng là tử huyệt của Trung Cộng và Bắc Hàn. Chiến thuật biển người của Trung Cộng đã thất bại nặng nề trước những cuộc dội bom rải thảm của Hoa Kỳ.
Những trận giao chiến đã chấm dứt ngày 27 tháng Bảy năm 1953 bằng một một thỏa ước đình chiến. Với thỏa ước này, một vùng phi quân sự đã được vẽ ra để chia đôi Triều Tiên và cho 2 bên được trao trả tù binh. Nhưng trên nguyên tắc cuộc chiến Triều Tiên vẫn chưa được chính thức kết thúc, nghĩa là vẫn chưa bao giờ có một hòa ước nào đã được ký kết. Trong cuộc họp thượng đỉnh tại vùng phi quân sự hôm thứ Sáu vừa qua, 2 nhà lãnh đạo của Nam và Bắc Hàn đã đồng ý ký một hòa ước vào cuối năm nay để chính thức kết thúc cuộc chiến.
Dù cho hòa ước có được ký kết đi nữa, vẫn có một khoảng cách   vời vợi giữa hai bên.
Bắc Hàn vẫn còn là một quốc gia cộng sản theo mô hình Stalin và hiện vẫn còn bị tố cáo về việc giam giữ hàng trăm ngàn người dân, kể cả trẻ con, trong các trại tù khổ sai và vô số nhà tù trên toàn quốc. Từ bao nhiêu năm qua, người dân Bắc Hàn không hề có một ý niệm nào về tự do ngôn luận và báo chí.
Những năm tự cô lập và bưng bít đã khiến cho nền kinh tế của Bắc Hàn hoàn toàn kiệt quệ. Nghèo đói là tình trạng bình thường của người dân Bắc Hàn. Theo các bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc, trên một phần ba dân số Bắc Hàn đang thiếu dinh dưỡng và phần lớn không hưởng được một nền y tế lành mạnh.
Trong khi đó Nam Hàn ngày càng chứng tỏ là một chế độ dân chủ thực sự. Sự phồn thịnh và cuộc sống của người dân Nam Hàn được xem là rất cao so với các nước phát triển khác trên thế giới. Dĩ nhiên, ở Nam Hàn vẫn còn có những tù nhân chính trị và lương tâm. Vì an ninh quốc gia, Nam Hàn hiện còn xem việc tỏ bày thiện cảm với Bắc Hàn như một hành động phản quốc. Nhưng so với Bắc Hàn, Nam Hàn là một quốc gia ít tham nhũng hơn nhiều.
Vì là một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ cho nên Nam Hàn vẫn còn được bảo vệ bởi 30.000 binh sĩ Mỹ và hàng năm Nam Hàn và Hoa Kỳ vẫn còn tổ chức những cuộc tập trận chung.
Một trong những dấu hiệu cho thấy sự cách biệt giữa 2 miền Nam Bắc Triều Tiên là dân số và kích thước của người dân. Mặc dù 2 miền có một diện tích bằng nhau, dân số Nam Hàn nhiều gấp đôi dân số Bắc Hàn: Nam Hàn có 51 triệu dân, Bắc Hàn chỉ có 25 triệu dân. Vì thiếu dinh dưỡng cho nên người dân Bắc Hàn nhỏ con hơn người dân Nam Hàn nhiều. Điều này được nhìn thấy rõ nơi học sinh tiểu học của 2 miền. Theo Giáo sư Daniel Schwekendiek, thuộc trường Đại học Hán Thành, trẻ con Nam Hàn cao hơn trẻ con Bắc Hàn cùng tuổi đến cả 4 centimét. Khoảng cách về tuổi thọ của người dân 2 miền cũng rất rõ: tuổi thọ trung bình của người dân Nam Hàn là 82, trong khi tuổi thọ của người dân Bắc Hàn chỉ có 70.
Cùng chung một văn hóa cho nên người dân 2 miền có chung với nhau nhiều món ăn vốn đã được truyền thụ từ nhiều thế hệ trước. Chẳng hạn, cả 2 miền đều có bánh tráng Dduk được làm bằng gạo. Học sinh của cả 2 miền đều ăn loại bánh ngọt Yeot trước khi làm bài thi vì cho rằng loại bánh này mang lại sự may mắn. Riêng món Kim chi thì lúc nào cũng là món ăn thuần túy của cả 2 miền.
Các cuộc lễ truyền thống của dân tộc mà người dân 2 miền cử hành hàng năm cũng giống nhau. Cả hai miền đều mừng Ngày Tết Nguyên đán, Ngày Tạ Ơn và Ngày Daeboreum, tức ngày rằm tháng Giêng. Cũng như người Việt Nam hay người Trung Hoa, dù sống ở đâu, người dân Bắc và Nam Hàn luôn xem trọng chữ Hiếu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.
Nhưng kể từ khi ý thức hệ cộng sản xâm nhập vào cuộc sống của người dân Bắc Hàn và nếp sống văn minh và dân chủ Tây Phương được du nhập vào Nam Hàn, khoàng cách văn hóa giữa hai miền cũng ngày càng lớn. Ngày nay, Nam Hàn ngày càng trở thành một “Trung  tâm Điện ảnh Hollywood ở Á châu”. Kỹ nghệ giải trí của Nam Hàn đã chiếm lĩnh nhiều thị trường tại Á Châu, kể cả Nhật Bản. Với khoảng 400 cơ sở sản xuất phim ảnh và âm nhạc, thị trường giải trí của Nam Hàn ngày càng mở rộng. Nhạc “K-pop”, phim tình cảm và các trò chơi điện thử của Nam Hàn đã tràn ngập Á Châu.
Trong chế độ Cộng sản Bắc Hàn, không những kỹ nghệ giải trí dậm chân tại chỗ đã đành, mà thời trang cũng không có đất sống. Tất cả mọi sinh hoạt của người dân đều bị kiểm soát. Quần Jeans, váy ngắn bị cấm. Ngay cả kiểu tóc của đàn ông con trai cũng được quy định.
Đám cưới ở Bắc Hàn dĩ nhiên cũng khác với đám cưới ở Nam Hàn. Ở Nam Hàn, cô dâu chú rể muốn tổ chức lễ cưới của họ như thế nào tùy ý thích của mỗi người. Tại Bắc Hàn, đám cưới phải được tổ chức đơn giản bao nhiêu có thể.
Kể từ khi tôn thờ các ông tổ Các Mác, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông... Bắc Hàn chính thức tự tuyên bố là một chế độ vô thần. Trong khi đó, tại Nam Hàn, trong những thập niên vừa qua, ngày càng có nhiều người theo Tin Lành và Công Giáo. Rất nhiều người đào tỵ khỏi Bắc Hàn cũng gia nhập Kitô Giáo.
Người dân Nam Hàn cũng hoàn toàn được tự do với thứ “tôn giáo” mới là Hệ thống Thông tin Toàn cầu Internet. Không có người dân Nam Hàn nào bị ngăn cản hay giới hạn trong việc sử dụng hệ thống Internet. Trong khi đó tại Bắc Hàn, chỉ có công chức cán bộ và giáo chức mới được phép nối kết với mạng lưới Internet và dĩ nhiên với sự theo dõi và kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan an ninh. Chính vì vậy mà tại Bắc Hàn hiện đang có một hiện tượng được gọi là “Du lịch Wi-Fi”: người dân Bắc Hàn tìm cách mua nhà gần các tòa đại sứ để dễ vào mạng lưới Internet. Chính vì vậy mà giá nhà ở Thủ đô Bình Nhưỡng ngày càng gia tăng.
Dĩ nhiên Bắc Hàn cũng có một hệ thống Internet riêng của mình gọi là Kwangmyong. Tuy nhiên,  hệ thống này không nối liền với hệ thống thông tin toàn cầu. Nó chỉ được thiết lập để cho người dân được “thông tin” về  “vinh quang” và sự “ vĩ đại” của triều đại cha truyền con nối Kim.
Cuộc gặp gỡ lịch sử của 2 nhà lãnh đạo Nam Bắc Triều Tiên đã mang lại một niềm hy vọng lớn lao cho thế giới. Bầu khí lạc quan và hy vọng cũng đã từng được nhen nhúm từ lâu trước khi có cuộc họp thượng đỉnh của 2 nhà lãnh đạo này. Trong nhiều tuần lễ, thế giới đã nghe tin Chủ tịch Kim Jong-un của Bắc Hàn hứa hẹn làm rất nhiều nhượng bộ. Ông hứa sẽ ngưng thử nghiệm vũ khí hạt nhân và cho đóng cửa Punggye-ri, trung tâm thử nghiệm nguyên tử của Bắc Hàn.
Thật ra chẳng có gì mới mẻ trong những lời hứa hẹn của Chủ tịch Kim Jong-un. Năm 1994, Chủ tịch Kim Jong-il, cha ông, cũng đã từng hứa hẹn chấm dứt chương trình hạt nhân và sẽ cho đóng cửa các trung tâm nguyên tử năng vào năm 2007. Ông còn để cho Cơ quan Giám sát Năng lượng Hạt nhân của Liên Hiệp Quốc được đến Bắc Hàn để theo dõi việc đóng cửa trung tâm nguyên tử Yongbyon. Tuy nhiên, tiến trình hòa bình đã hoàn toàn sụp đổ, bởi vì sau đó Bắc Hàn vẫn tiếp tục tinh luyện Uranium.
Vừa qua, tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in đã phấn khởi loan báo rằng Chủ tịch Kim Jong-un không còn đặt vấn đề về sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Nam Hàn nữa. Tổng thống Nam Hàn trích dẫn hầu như nguyên văn câu nói của Chủ tịch Kim Jong-un: “Chúng ta bị bao vây bởi các cường quốc là Nga, Nhật Bản và Trung Quốc, do đó, vì sự ổn định và hòa bình tại Đông Á, Hoa Kỳ cần phải tiếp tục ở lại (Triều Tiên)”. Mới nghe tưởng đây là một tuyên bố hoàn toàn mới mẻ từ miệng của một nhà lãnh đạo Bắc Hàn. Kỳ thực, trước đó cũng có người đã từng nói như thế và người đó không ai khác hơn là Chủ tịch Kim Jong-il, cha của Kim Jong-un. Thật vậy, năm 2000, trong cuộc họp thượng đỉnh với Tổng thống Nam Hàn lúc bấy giờ là ông Kim Dar-jung, Chủ tịch Kim Jong-il cũng đã từng đưa ra một lời tuyên bố tương tự như thế.  Cũng trong cuộc họp thượng đỉnh này, Tổng thống Kim Dae-jung và Chủ tịch Kim Jong-il đã đồng ý “chấm dứt sự thù nghịch và mở ra một kỷ nguyên mới của hòa giải và hợp tác” giữa hai miền Nam Bắc. Hồi năm 2007, sau cuộc họp thượng đỉnh giữa Tổng thống Nam Hàn Roh Moo -hyun và Chủ tịch Kim Jong-il, một tuyên ngôn chung về đẩy mạnh quan hệ Nam Bắc, Hòa bình và Thịnh vượng cũng đã được đưa ra.
Dưới ánh mặt trời ở Bắc Hàn, có lẽ chẳng có gì mới. Chế độ này thích cho thế giới ăn bánh vẽ và vẫn sẽ mãi mãi là một chế độ độc tài. Chủ tịch Kim Jong-un có thể hứa hẹn đủ thứ, nhưng thay đổi chế độ thì tuyệt nhiên không. Và bao lâu Bắc Hàn vẫn còn là một chế độ độc tài thì cuộc sống của người dân Bắc Hàn sẽ ngày càng lầm than khốn khổ hơn vì những tham vọng không đáy của các chủ tịch “đáng kính yêu” của họ.


(nguồn:
-http://www.dw.com/en/north-and-south-korea-how-different-are-they
-https://thediplomat.com/2018/04/after-the-moon-kim-summit-a-time-for-hope/)

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

Lưỡi không xương



Chu Thập
27/04/18
Tạp chí Time vừa cho công bố danh sách 100 người được xem là có nhiều ảnh hưởng nhứt trên thế giới hiện nay. Có tên trong danh sách những nhà lãnh đạo quốc gia năm nào mà chẳng có  Tổng thống Donald Trump, chủ tịch “mãn đời” Tập Cận Bình của Trung Cộng, chủ tịch “cha truyền con nối” Kim Jong-un của Bắc Hàn. Không hiểu sao năm nay, tên của tổng thống Nga Vladimir Putin lại lọt ra khỏi danh sách. Dĩ nhiên, chẳng có ai ngạc nhiên về “ảnh hưởng”  của Tổng thống Trump. Nhưng “tốt hay xấu còn tùy người đối diện”. Như bên Đức chẳng hạn, một cuộc thăm dò mới đây do Viện Forsa Institute thực hiện cho thấy hơn 75 phần trăm những người được hỏi ý kiến cho rằng Tổng thống Trump là người  đe dọa  hòa bình thế giới còn hơn cả tổng thống Nga  Putin. Không biết có phải vì vậy mà một người gây sóng gió khắp nơi như ông Putin lại không được Tạp chí Time chiếu cố tới không. Nhưng riêng về Tổng thống Trump, điều gây ngạc nhiên cho độc giả của báo Time là  năm nay, người viết lời giới thiệu về ông lại là Thượng nghị sĩ Ted Cruz.
Thượng nghị sĩ này đã từng cùng với Tổng thống Trump chạy đua vào Tòa Bạch Ốc trong cuộc bầu cử hồi tháng Mười Một năm 2016. Đây là hai đối thủ được xem là nặng ký nhứt trong nội bộ Đảng Cộng Hòa. Trong cuộc bầu cử sơ bộ ở cấp tiểu bang, họ đã không từ một mánh khóe hay lời lẽ nào để hạ bệ nhau. Với biệt tài sáng chế ra các thứ hỗn danh để tặng cho đối thủ của mình, ứng cử viên Trump đã gọi ông Cruz là “Ted dối trá” (Lyin’ Ted). Không dừng lại ở đó, ông Trump còn mang cả gia đình của ông Cruz ra tấn công và nhạo báng. Không những ông chê thậm tệ bà Heidi Cruz, vợ ông Cruz, mà còn đào mả cả cha ông Cruz lên để chửi khi khẳng định rằng ông này đã tham gia vào âm mưu sát hại cố tổng thống J.F Kennedy. Thật ra, đâu có riêng gì Thượng nghị sĩ Cruz, hầu như đối thủ chính trị nào của ông Trump cũng đều bị ông xem  là những kẻ dối trá cả. Tội nghiệp bà Hillary Clinton. Cho đến nay, cứ mỗi lần nhắc đến tên  bà, tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ lúc nào cũng kèm theo hai chữ “lươn lẹo” (Crooked Hillary).
Riêng ứng cử viên Cruz cũng không vừa gì. Ông cũng ăn miếng trả miếng đâu có thua gì ông Trump. Tại một cuộc vận động ở Tiểu bang Indiana, ông gọi ông Trump là một đứa con nít và nói với các phóng viên: “Người này (ông Trump) là một kẻ dối trá bệnh hoạn. Hắn ta không biết phân biệt sự thật và dối trá...Bất cứ điều dối trá nào hắn nói ra, hắn đều tin ngay tức khắc...Người này là một kẻ cực kỳ vô đạo (utterly amoral). Donald là một kẻ chuyên bắt nạt...Hành động bắt nạt không đến từ sức mạnh, mà đến từ sự yếu đuối”.
Thượng nghị sĩ Cruz đã chống ứng cử viên Trump đến độ tại Đại hội Đảng Cộng Hòa để chính thức đề cử ông Trump làm ứng cử viên của Đảng, ông đã bị đám đông la ó khi  tuyên bố dứt khoát không ủng hộ ông Trump và  kêu gọi mọi người hãy bỏ phiếu theo lương tâm.
Người ta tưởng ông Cruz sẽ không bao giờ tha thứ cho kẻ đã nhạo báng vợ mình và nhục mạ thân phụ của mình. Vậy mà trong lời  giới thiệu về Tổng thống Trump trong danh sách 100 người có nhiều ảnh hưởng nhứt trên thế giới hiện nay, Thượng nghị sĩ Cruz đã quay đúng 180 độ để ca ngợi đối thủ của mình. Trong một cuộc song đấu công bằng diễn ra trong tinh thần thượng võ, đây có thể là một hành động đáng ca ngợi. Nhưng trong chính trường, vốn là sân đấu mà sự dối trá và bôi bác thường được xem là luật chơi, quên thù riêng để tâng bốc đối thủ của mình như Thượng nghị sĩ Cruz đã làm là một thái độ khiến cho nhiều người phải đặt câu hỏi và hoài nghi về sự lương thiện của các chính trị gia.
Có lẽ chưa bao giờ ở Mỹ và trên thế giới, người ta nói đến sự dối trá cho bằng kể từ khi nhà tỷ phú địa ốc Donald Trump trở thành tổng thống của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Hai chữ “tin giả” do ông bỏ công quảng bá đã trở thành thời thượng. Hễ cứ phê bình hay chống lại ông là “tin giả”. Cái mũ “tin giả” được ông chụp lên hầu hết các cơ quan truyền thông chính tại Hoa Kỳ. Vì “bịa đặt” cho nên truyền thông Mỹ đã bị ông xếp vào hàng ngũ “kẻ thù của nhân dân”.
Nói chung, với Tổng thống Trump, hễ cứ đụng tới cá nhân ông là “dối trá”. Cựu giám đốc Cơ quan Điều tra Trung ương FBI James Comey  bị ông dán cho một cái nhãn “dối trá” to tướng lên người  vì dám cả gan viết hồi ký để bêu diễu ông như một “người nói dối bẩm sinh” (congenital liar), “không còn bị ràng buộc bởi sự thật” (untethered  to Truth) và “cực kỳ vô luân” (utterly amoral). Dường như cuộc “nội chiến” ở Mỹ hiện nay là cuộc chiến giữa Sự Thật và Dối Trá. Làm gì thì làm, hễ cứ có đụng độ nhau thì người ta lại lôi hai chữ “dối trá” ra như một thứ võ khí  để tấn công nhau.
Dù sao, cuộc chiến ấy cũng chẳng làm chết ai cả. Có chết chăng là cái chết trong lương tâm tập thể của cả một quốc gia mà thôi. Chưa bao giờ ở Mỹ người ta nói đến thời “hậu sự thật” (post truth era) cho bằng hiện nay. Như thể hai chữ “Sự Thật” đã biến mất khỏi từ điển Anh ngữ đang được sử dụng tại Hoa Kỳ. Chỉ tội cho một số nước nơi một số nhà lãnh đạo đang để lòi cái đuôi độc tài của họ ra. Trong khi ở Mỹ, dù cho truyền thông có loan “tin giả” cỡ nào đi nữa, cho tới nay chẳng có ký giả nào bị bỏ tù và cũng chẳng có tờ báo độc lập nào bị đóng cửa thì tại một số quốc gia như Phi Luật Tân, Thổ Nhĩ Kỳ hay ngay cả Miến Điện là quốc gia hiện đang được lãnh đạo bởi một người đã từng được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình chẳng hạn, kể từ khi cái mũ “tin giả” bị chụp xuống các cơ quan truyền thông độc lập, nhiều nhà báo đã khốn đốn và một số cơ quan ngôn luận đã bị đóng cửa hay phải tự ý đóng cửa. Ngay cả tại một nước thành viên của Liên Âu như Hung Gia Lợi, “tin giả” không còn nữa, bởi vì mọi cơ quan ngôn luận đều nằm gọn trong tay của chính phủ.
Suy nghĩ về hai chữ “dối trá” trên thế giới hiện nay, dĩ nhiên tôi không thể không liên tưởng đến Việt Nam của tôi, nhứt là khi người Việt tỵ nạn đang chuẩn bị tưỏng niệm ngày 30 tháng Tư. Với tôi, cuộc chiến tại Việt Nam không chỉ là cuộc chiến bằng súng đạn, mà thiết yếu là cuộc chiến giữa Sự Thật và Dối Trá và cuối cùng, sự thất thủ của Miền Nam Việt Nam thiết yếu cũng là chiến bại của chính Sự Thật. Chế độ cộng sản nào cũng đều được xây dựng trên dối trá. Chế độ cộng sản nào cũng tồn tại dựa trên dối trá.
Mới đây, tại Cuba,  Chủ tịch Raul Castro rút lui để nhường ngôi cho một  đảng viên cộng sản khác là ông Miguel Diaz-Canel. Cũng như trong các chế độ cộng sản khác, ông Diaz-Canel đã  “đắc cử” chủ tịch với 99.83 phần trăm số phiếu của Quốc hội Cuba. Ông Diaz-Canel chỉ mới 57 tuổi, nghĩa là sinh sau năm 1959, tức năm ông Fidel Castro thực hiện cuộc cách mạng “vô sản” và lên cầm quyền cho đến năm 2008 và truyền ngôi lại cho em ông là ông Raul Castro. Nhiều người hy vọng sẽ có sự thay đổi tại quốc gia cộng sản này: ông Diaz-Canel chào đời sau cuộc cách mạng năm 1959 và dòng họ Castro coi như đã cáo chung. Thật ra, bao lâu đảng cộng sản vẫn còn đó thì sự dối trá vẫn tiếp tục ngự trị và bao lâu sự dối trá vẫn còn là cột sống của chế độ, thì không cần phải là một nhà tiên tri, ai cũng có thể thấy trước khó có thể có sự thay đổi thật sự ở quốc gia hải đảo nghèo nàn lạc hậu này.
Cũng mới đây, nhiều người đã tỏ ra lạc quan khi nghe tin Chủ tịch Kim Jong-un của Bắc Hàn tuyên bố giải trừ vũ khí hạt nhân. Những người ủng hộ Tổng thống Trump, như Thượng nghị sĩ Ted Cruz đã viết trong lời giới thiệu về ông Trump, tin rằng  chính vì “Tổng thống Trump tỏ ra cứng rắn với Bắc Hàn mà Kim Jong-un mới chịu nhượng bộ ”. Tuy nhiên, nhận định về lời tuyên bố giải trừ võ khí hạt nhân của Kim Jong-un, nhà báo Ngô Nhân Dụng của báo Người Việt bên Mỹ đã có lý để khuyên Tổng thống Trump nên nhớ lại lời cảnh cáo của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”. Trong bài giới thiệu về Kim Jong-un trong danh sách 100 người có nhiều ảnh hưởng nhứt trên thế giới, ông Hyeonsed Lee, một người đã đào thoát khỏi Bắc Hàn năm 1997, đã đưa ra một lời cảnh cáo đáng sợ. Theo ông, mặc dù đã tiếp cận với nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản khi theo học tại Thụy Sĩ, Kim Jong-un lại tỏ ra tồi tệ hơn cha ông. Ông Lee cho biết: “Tại Bắc Hàn, hiện có trên 100.000 người phải đối diện với sự tra tấn và cái chết trong các trại tập trung lao động khổ sai. Đây là nơi mà một người đào tẩu đã chứng kiến cảnh một người mẹ bị buộc phải nhận nước đứa con thơ của mình. Để tỏ ra trung thành với chế độ, người ta phải tỏ ra câm điếc, mù lòa trong các trại khổ sai và trước các cuộc hành hình công khai. Các vệ binh có võ trang đang tuần tiễu tại dòng sông nơi mà tôi đã trốn qua Trung Cộng hồi năm 1997. Mới đây họ đã bắn gục một người phụ nữ khi bà tìm cách bơi qua giữa ban ngày. Tôi đã không bao giờ đào thoát được dưới chế độ Kim Jong-un. Hắn ta là người nguy hiểm nhứt trên trái đất”.
Có người nại đến sức mạnh kinh tế hiện nay của Trung Cộng để biện minh cho các chế độ cộng sản. Với sức mạnh kinh tế, Trung Cộng hiện đang muốn lãnh đạo thế giới về mọi mặt, dĩ nhiên kể cả trong việc kiểm soát chặt chẽ các cơ quan truyền thông xã hội và bóp nghẹt mọi tiếng nói của Sự Thật. Dù có hùng cường cỡ nào, trong thực chất, Trung Cộng vẫn là một chế độ xây dựng trên dối trá và tồn tại nhờ dối trá.
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã và đang đi theo con đường phát triển của Trung Cộng. Nhờ cởi mở về kinh tế, Việt Nam đã làm được những bước phát triển đáng kể. Nhưng song song với sự phát triển đó, chế độ cộng sản Việt Nam ngày càng siết chặt truyền thông, bóp nghẹt mọi tiếng nói của Sự Thật, giam giữ và đàn áp dã man tất cả những ai dám nói lên Sự Thật. Sau 43 năm áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên Miền Nam, người cộng sản ngày càng củng cố chế độ bằng sự dối trá. Ngoại trừ một số ít những nhà bất đồng chính kiến và những người dám nói lên Sự Thật, để sống còn trong chế độ dối trá, phần lớn đều cam chịu và ít hay nhiều thỏa hiệp với sự dối trá. Sự xuống cấp và băng hoại xã hội nói lên thái độ thỏa hiệp ấy.
Là người tỵ nạn cộng sản, tôi bỏ nước ra đi để mong được sống tự do và tìm một cuộc sống tốt đẹp xứng với phẩm giá con người. Bao lâu còn là người tỵ nạn, bấy lâu tôi vẫn còn là người chống cộng. Và chống cộng đối với tôi trên hết chính là chống lại dối trá, lươn lẹo, lường gạt và lừa bịp người khác.
Cuộc chiến chống Dối trá không ở đâu xa cả. Nó ở ngay trong chính bản thân tôi.