Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

Quà mùa Đông


Chu Thập
07/07/17
Phần lớn các tiểu bang Úc Đại Lợi thuộc vùng Ôn đới. Mùa đông cũng khá lạnh. Nhưng so với Bắc Mỹ hay Âu Châu, cái lạnh của Úc chẳng thấm vào đâu. Từ nhiều năm nay, ở vào cao điểm mùa đông ở Úc, tôi đã tập được thói quen ngủ mà không cần mở sưởi. Không những chịu đựng được mà còn thích thú nữa là khác. Nhưng, kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng, nhiều lúc nghĩ đến những người vô gia cư, không có nệm ấm chăn êm và một mái nhà như tôi, không biết họ có được giấc ngủ khoan khoái như tôi mỗi khi mùa đông trở về không.
Thỉnh thoảng vào mùa hè tôi cũng tập làm “homeless”. Chất cần câu lên xe, chuẩn bị lương thực và nhiều thứ cần thiết khác cho một chuyến đi vài ngày, tôi lái đến bất cứ nơi nào có nước và dừng lại quăng câu. Tối đến nằm trên nệm xe trong tư thế không thoải mái chút nào, nhưng vẫn ngủ được. Tháng Bảy, vào những đêm lạnh cóng, tôi cũng vẫn mặc đồ lội nước để rình mấy con cá hanh. Gặp lúc cá cắn câu, tay chân hoạt động liên tục, tôi cũng quên hẳn cái lạnh của mùa đông. Thật ra, cũng có lúc cảm nhận được cái lạnh của mùa đông, nhưng tôi vẫn chưa thực sự “cảm” được cái lạnh mà những người vô gia cư phải trải qua. Bên cạnh cái lạnh thấu xương khi phải ngủ lăn lóc trên vỉa hè, còn có cái lạnh khác chạy xuyên qua trái tim. Đó là cái lạnh của cô đơn, của tâm trạng bị xã hội đẩy ra bên lề và bao nhiêu vết thương không bao giờ lành khác. Quả thật, tôi chưa thực sự “cảm” được cái lạnh như thế của những người vô gia cư.
Có phải vì chưa “cảm” được một cái lạnh như thế chăng mà mới đây một số người giàu có ở Úc đã tình nguyện tham gia một chương trình truyền hình thực tế của Đài SBS có tựa đề là “Filthy Rich and Homeless” (người giàu “đi bụi” và người vô gia cư). Một trong những người giàu có này là Tim Guest. Tim Guest là một nhà đầu tư thành công tương đối trẻ. Ông được biết đến qua những hướng dẫn về tài chính và giáo dục cũng như những đóng góp cho  công tác từ thiện.
Là một trong 5 người giàu có tham gia chương trình “Filthy Rich and Homeless”, ông  Guest đã quyết định từ bỏ cuộc sống xa hoa của mình để cảm nghiệm được thế nào là sống như một người vô gia cư thực sự, nghĩa là không có một chỗ ở thường xuyên đáng được gọi là “mái nhà”.
Bước vào chương trình, người đàn ông giàu có này thú nhận rằng mình là một trong rất nhiều người Úc không hề quan tâm  đến sự hiện diện của những người vô gia cư xung quanh mình. Sau chuyến đi “thực tế”, Guest đã bỏ ra 10 phần trăm lợi nhuận của công ty do ông làm chủ để trợ giúp các công tác từ thiện dành cho người vô gia cư.
Trong chuyến đi “thực tế”, Guest đã ngủ trên một vỉa hè và tận mắt chứng kiến những vụ cãi cọ đánh nhau vì nghiện ngập tại một trung tâm tạm cư dành cho người vô gia cư.
Sau vài đêm lăn lộn trên đường phố, nhà triệu phú trẻ này đã thấm được cái lạnh giữa mùa đông mà những kẻ không nhà phải nếm trải quanh năm ngày tháng. Nhưng đó không phải là khám phá chính trong chuyến đi “thực tế” của ông. Trọng tâm của những khám phá chính là những câu chuyện xé lòng của những người vô gia cư. Guest kể lại rằng trong những ngày tham gia chương trình “Filthy Rich and Homeless”, ông đã kết thân với một người đã đi vào cuộc sống “đường phố” kể từ năm lên 12 tuổi. Người đàn ông này cho biết lúc còn nhỏ đã từng bị lạm dụng tình dục; cha ông và một người anh của ông đã tự tử khi ông còn học tiểu học.
Kể lại câu chuyện này, Guest đã không cầm được nước mắt. Trước khi tham gia chương trình, ông nói rằng ngày nào ông cũng chạm mặt với những người vô gia cư ở trung tâm thành phố Perth, Tây Úc. Nhưng cũng như nhiều người khác, ông chọn thái độ ngoảnh mặt làm ngơ. Sau khi tham gia chương trình, ông đã có một cái nhìn hoàn toàn khác về họ. Ông chia sẻ: “Bây giờ, tôi đã biết hỏi họ ngủ ở đâu, họ có được an toàn không, lần cuối cùng họ được tắm gội ở đâu. Dù chỉ là 5 hay 10 phút, ngồi xuống với họ và nói chuyện với họ, điều đó làm cho họ cảm thấy mình cũng là những “con người” (x.http://www.smh.com.au/entertainment/tv-and-radio/filthy-rich-and-homeless-reduced-contestant-to-tears-over-and-over-again).
Quả đúng như người Tây phương thường nói, có xỏ chân vào giày của người khác mới hiểu được họ.
Bày tỏ sự cảm thông, gạt bỏ thành kiến sai lầm về một người hay một nhóm người, kinh nghiệm bản thân cho tôi thấy đó không phải là điều dễ làm. Nếu không có một chấn động mạnh hay không luyện tập để biết suy nghĩ và làm chủ các cảm xúc, cảm thông với người khác và dẹp bỏ thành kiến về họ không tự nhiên mà đến.
Dạo cuối tháng Sáu vừa qua, trong một bài thuyết trình tại Hiệp hội Thư viện Mỹ (The American Library Association) ở Chicago, bà Hillary Clinton, cựu ngoại trưởng và ứng cử viên tổng thống Mỹ thuộc Đảng Dân Chủ trong cuộc bầu cử năm 2016 vừa qua, có nói rằng bộ sách Harry Potter là một cây đũa thần giúp xây dựng sự cảm thông nơi độc giả trẻ.
Tháng Sáu vừa qua, quyển đầu tiên trong bộ sách Harry Potter là “Harry Potter và Hòn Đá Phù Thủy” (Harry Potter and the Sorcerer’s Stone) đã kỷ niệm đúng 20 năm chào đời. Tên Harry Potter đã hầu như trở thành bất tử trong thế giới ngày nay. Bà J.K Rowling, tác giả của bộ sách gồm 7 quyển, đã nói rằng khi viết bộ sách này, bà không chỉ nhắm đến tuổi thơ hay giới trẻ, mà cho mọi lứa tuổi. Biết vậy cho nên, tuy muộn màng, tôi cũng tập làm quen với nhân vật Harry Potter. Tập truyện quả là hấp dẫn. Cầm lên là không muốn bỏ xuống!
Về bài học cảm thông của truyện Harry Potter, bà Clinton trích dẫn một cuộc nghiên cứu theo đó những người trẻ nào đọc  xong Harry Potter cũng đều tỏ ra cảm thông hơn với người di dân, tỵ nạn và nhóm người mà người Mỹ gọi tắt là LGBT (Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender: đồng tính nam nữ, lưỡng tính, chuyển giống).
Cuộc nghiên cứu được bà Clinton trích dẫn có tựa đề “Ma thuật vĩ đại nhứt của Harry Potter là: làm giảm thành kiến” (The Greatest Magic of Harry Potter: Reducing Prejudice). Những người thực hiện cuộc nghiên cứu này khẳng định rằng những độc giả trẻ nào đã đọc truyện Harry Potter và xem nhân vật này như thần tượng đều ít hay nhiều gạt bỏ thành kiến đối với các nhóm thiểu số.
Thực hiện cuộc nghiên cứu này là một nhóm chuyên gia người Ý. Họ đã làm những cuộc thử nghiệm tại một số trường tiểu học, trung học và đại học tại Ý và Anh Quốc. Trưởng nhóm nghiên cứu, Giáo sư Loris Vezzali, thuộc trường Đại học Modena và Reggio Emilia, Ý, giải thích rằng sự cảm thông chính là yếu tố  làm giảm thành kiến. Theo ông, thế giới của Harry Potter là một thế giới giai cấp do đó đẩy dẫy thành kiến. Harry Potter đã có những cuộc tiếp xúc đầy ý nghĩa với những người thuộc những nhóm bị ức hiếp và đẩy ra bên lề. Cậu đã tìm cách cảm thông với họ, đón nhận những khó khăn của họ khi bị kỳ thị để rồi chiến đấu hầu xây dựng một thế giới không còn bất bình đẳng xã hội.
Trong phần đầu của cuộc nghiên cứu, các nhà tâm lý đã mời 34 học sinh lớp Năm bậc tiểu học ở Ý trả lời cho một bản câu hỏi về thái độ của các em đối với người di dân. Sau đó, trong vòng 6 tuần lễ, các em được cho đọc một số trích đoạn từ bộ sách Harry Potter có liên quan đến cái nhìn đầy thành kiến xấu đối với người khác. Sau khi đọc sách, các em học sinh tiểu học Ý trả lời cho một bản câu hỏi cũng liên quan đến người di dân. Kết quả cho thấy các em đã thay đổi thái độ đối với người di dân, nhứt là những em nào tự đồng hóa với nhân vật Harry Potter.
Trong phần thứ hai của cuộc nghiên cứu, các chuyên gia tâm lý đã làm việc với một nhóm sinh viên ở Anh. Cuộc nghiên cứu cũng đã cho thấy sau khi đọc sách Harry Potter, các sinh viên Anh đã có cái nhìn thiện cảm hơn đối với người tỵ nạn (x.https://www.psychologytoday.com/blog/the-athletes-way/201505/does-reading-harry-potter-books-reduce-prejudice).
Bà J.K Rowling cho biết tập truyện Harry Potter của bà, ngoài sự chết và bất tử, còn  gồm nhiều chủ đề chính như quyền lực, lạm dụng quyền lực, bạo động, hận thù và thành kiến. Đối lại với những sức mạnh của sự dữ ấy, tác giả đã mặc cho nhân vật chính tinh thần khoan nhượng. Theo bà, đó là một trong những ý nghĩa luân lý nổi bật trong tập truyện.
Tôi đoán chừng đó là niềm xác tín của bà. Có lẽ bà muốn bày tỏ niềm xác tín ấy qua một số phản ứng gần đây trước những Tweet đầy miệt thị của Tổng thống Donald Trump đối với giới truyền thông. Chẳng hạn, một lần bà trích dẫn câu nói của Tổng thống Abraham Lincoln: “Hầu như tất cả mọi người đều có thể đương đầu với nghịch cảnh. Nhưng nếu bạn muốn trắc nghiệm tính tình của một người, bạn chỉ cần trao quyền lực cho người đó”. Và mới đây, cũng phản ứng về các Tweet của ông Trump, bà trích  lời khuyên của của Tổng thống George Washington: “Kiên trì trong nhiệm vụ và giữ thinh lặng là sự đáp trả tốt nhứt trước sự vu khống”.
Một số học giả và ký giả cho rằng bà J.K Rowling có lẽ cũng muốn gói ghém một thông điệp chính trị trong tập truyện Harry Potter. Nhìn vào chính trường thế giới hiện nay, tôi cũng đọc Harry Potter dưới nhãn quan ấy. Chưa bao giờ dân tộc chủ nghĩa và bóng ma của độc tài lại đe dọa thế giới cho bằng ngày nay. Không nói đến các chế độ độc tài đảng trị tại một số nước cộng sản còn rơi rớt lại trên thế giới, ngay tại một số nước đã từng có một nền dân chủ lâu đời, dân tộc chủ nghĩa và độc tài đang lăm le tước đoạt những quyền tự do căn bản của con người. Tựu trung, dân tộc chủ nghĩa hay độc tài cũng đều là thể hiện của sự bất khoan nhượng và cuồng tín: người ta không muốn chấp nhận tính dị biệt của xã hội và để cho người khác được suy nghĩ bằng cái đầu của họ cũng như bày tỏ ý kiến của họ. Đâu chỉ có những tổ chức khủng bố như Al-Qaeda, như Boko Haram, như “Quốc gia Hồi giáo” mới có cái nhìn đầy cực đoan, cuồng tín  về những người không đồng đạo với họ. Các chế độ độc tài đảng trị như Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, như Trung Cộng, như Bắc Hàn cũng cực đoan và cuồng tín đâu khác gì các tổ chức khủng bố. Và ở những nước dân chủ tự do, những nhà lãnh đạo đang bị quyền lực quyến rũ và làm cho mù quáng cũng muốn đi theo con đường đó cực đoan ấy. Chỉ có khoan nhượng và cảm thông mới có thể cứu vãn thế giới khỏi cơn mê muội ấy. Harry Potter là bộ sách không chỉ dành cho thiếu nhi hay giới trẻ. Những nhà lãnh đạo thế giới có lẽ cần học thứ “ma thuật” của sự cảm thông nơi Harry Potter.
Ở Úc, mùa đông năm nào tổ chức từ thiện Salvation Army của Giáo hội Anh giáo cũng đều mở chiến dịch kêu gọi quyên góp để giúp đỡ những người nghèo khổ, đặc biệt là những người vô gia cư. Kèm với một chút tiền và hiện vật, món quà có giá trị và ý nghĩa nhứt dành cho họ vẫn là sự cảm thông.
Và dĩ nhiên, với riêng tôi, món quà đặc biệt nhứt mà chính những người vô gia cư và khốn khổ dành cho tôi chính là sự hiện diện của họ: sự hiện diện ấy gợi lên trong tôi sự cảm thông. Cuộc sống của tôi chắc chắn sẽ có ý nghĩa hơn nếu tôi luôn biết sống cảm thông!









Thứ Tư, 12 tháng 7, 2017

Mùa Xuân và Cách mạng

Chu Thập
22/01/14
Tôi không hiểu tại sao những cuộc cách mạng thường được lịch sử nhắc đến lại diễn ra trong mùa Xuân. Cuộc cách mạng mùa Xuân mà trước năm 1975 tôi nghe nói đến nhiều nhất là cuộc cách mạng mùa Xuân Tiệp Khắc năm 1968. Thời bấy giờ, qua những thước phim được bộ Thông tin của Việt Nam Cộng Hòa cho phổ biến, tôi thấy hình ảnh tàn bạo của những chiếc xe tăng Liên Xô cày xéo trên đất nước Tiệp Khắc. Sau này khi tìm hiểu lịch sử, tôi mới biết rằng sau khi được bầu làm Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Tiệp Khắc, ông Alexander Dubcek đã cho tiến hành một loạt cải tổ nhằm bãi bỏ nền kinh tế tập trung, dân chủ hóa đất nước và tháo g những hạn chế về các quyền tự do căn bản của người dân như tự do  báo chí, tự do phát biểu và tự do đi lại. Nhưng công cuộc cải cách của ông Dubcek chỉ diễn ra từ đầu tháng Giêng cho đến tháng 8 năm 1968 là năm mà Liên xô và các nước cộng sản thành viên trong Khối Warsaw đã đưa quân sang xâm lăng Tiệp Khắc và chận đứng mọi cuộc cải tổ. Bức màn sắt đã hoàn toàn chụp phủ lên toàn lãnh thổ Tiệp Khắc mãi cho đến năm 1989, là năm mà người dân nước này, một lần nữa thực hiện điều mà lịch sử sẽ mãi mãi ghi đậm như “Cuộc cách mạng êm như nhung”, nghĩa là lật đổ chế độ cộng sản mà không tốn một viên đạn và một giọt máu.
Thật ra, cuộc cách mạng lật đổ chế độ cộng sản tại Tiệp Khắc và hiệu ứng “Domino” của nó tại các nước cộng sản Đông Âu khác không phải là “cuộc cách mạng êm nhu nhung” đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Cũng xứng đáng là một “cuộc cách mạng êm nhu nhung” là cuộc cách mạng lật đổ nhà độc tài Ferdinand Marcos tại Phi Luật Tân năm 1986. Diễn ra trong tháng 2 cho nên cuộc cách mạng thường được gọi là “Sức mạnh của quần chúng” (people’s power) cũng xứng danh là một cuộc “cách mạng Mùa Xuân”. Như tôi đã tận mắt chứng kiến, dù không có trong tay một tấc sắt, hơn một triệu người dân Phi đã xuống đường và đã đẩy lui được một quân đội hùng mạnh và buộc nhà độc tài phải ra đi.
Tôi tin chắc rằng chính cuộc cách mạng “Sức mạnh quần chúng” tại Phi Luật Tân năm 1986 và cuộc cách mạng “êm như nhung” tại Tiệp Khắc năm 1989 đã trở thành nguồn cảm hứng cho phong trào “Mùa Xuân Á Rập” mà cuộc “Cách mạng Hoa Lài” tại Tunisia, Bắc Phi từ giữa tháng 12 năm 2010 đến giữa tháng Giêng năm 2011 là một khởi đầu. Làn gió Xuân đã nhẹ nhàng thổi qua Ai Cập để buộc tổng thống Hosni Mubarak phải từ chức sau đúng 30 năm cai trị với bàn tay sắt. Cũng trong năm đó, Mùa Xuân Á Rập lại được trải dài đến Lybia, nơi mà người ta tưởng sẽ không có bất cứ một làn gió nào có thể làm lung lay ngai vàng của đại tá Muamar Gadhafi, người được thế giới mệnh danh là “con chó điên của Trung Đông”. Vậy mà cuối cùng, cái chết thảm thiết của ông đã cho thấy không một quyền lực nào có thể đứng vững trước sức mạnh của người dân.
Nhưng Mùa Xuân không chỉ dừng lại ở Trung Đông. Tại Miến Điện, thế giới cũng nói đến một Mùa Xuân khi đầu năm 2011, tướng Thein Sein được bầu vào chức vụ tổng thống nước này. Vị tướng này đã từ bỏ đường lối độc tài quân phiệt, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của bá quyền Trung Quốc, công nhận Đảng Đối Lập và cho tổ chức cuộc bầu cử bổ sung vào mùa Xuân năm 2012, phóng thích hàng loạt tù nhân chính trị và cho phép tự do báo chí. Cuộc “cách mạng”  mà tổng thống Thein Sein đang thực hiện, có lẽ người dân Miến Điện chẳng bao giờ dám mơ tưởng. Thật ra, phép lạ này chỉ có thể diễn ra là nhờ một nhân vật vĩ đại khác mà thế giới đều nhìn vào như một biểu tượng của quá trình dân chủ hóa tại Miến Điện. Bậc vĩ nhân đó là bà Aung San Suu Kyi. Năm 1990, mặc dù chiến thắng áp đảo với 82 phần trăm số phiếu trong cuộc bầu cử , bà đã bị nhóm quân phiệt tước quyền và giam lỏng trong hàng bao nhiêu năm trời. Vậy mà đầu năm 2011, khi được trả tự do, bà đã chấp nhận quyền cai trị của tổng thống Thein Sein, vận động thế giới xóa bỏ cấm vận với chính quyền đương nhiệm để xây dựng dân chủ và hòa giải cho dân tộc.
Cùng với bà Aung San Suu Kyi, thế giới hẳn cũng sẽ nhớ mãi hình ảnh của cố tổng thống Nelson Mandela của Nam Phi, người đã ra đi vào ngày 5 tháng 12 năm vừa qua. Vị tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi này đã thực hiện một cuộc cách mạng vĩ đại, đó là cuộc cách mạng trong chính bản thân ông. Từ một con người có chủ trương bạo động, ông đã biến thành sứ giả của hòa bình, tha thứ và hòa giải. Trước khi Nam Phi được giải thoát khỏi ách nô lệ của chế độ phân biệt chủng tộc của người da trắng, Nelson Mandela đã được giải thoát khỏi những xiềng xích của nô lệ trong chính bản thân ông là sự ích kỷ và lòng hận thù. Chính sự thật đã giải thoát ông trước khi ông thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Nam Phi.
Trong những ngày đầu Xuân, nghĩ về Mùa Xuân Tiệp Khắc, cuộc cách mạng “êm như nhung” tại nước này và kế đó là Mùa Xuân Á Rập, Mùa Xuân Miến Điện và hình ảnh của những nhà cách mạng hào hùng đã thực hiện cách mạng ngay từ chính bản thân mình, tôi cũng cầu mong cho một Mùa Xuân theo ý nghĩa ấy được diễn ra trên quê hương của mình.
Trong những ngày đầu năm Dương lịch vừa qua, có nhiều biến chuyển liên quan đến tình hình trong nước khiến tôi mong mi một Mùa Xuân như thế. Tôi chú ý đến ba cuộc biểu tình chống Trung Quốc nhân dịp kỷ niệm đúng 40 năm ngày 74 chiến sĩ của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa quyết tử để bảo vệ Hoàng Sa ngày 19 tháng Giêng năm 1974. Trước hết là cuộc biểu tình của một số người Việt Nam đang sinh sống tại Nhựt Bổn. Nhìn trong bức hình với những biểu ngữ có nội dung chống Trung Quốc xâm chiếm Biển Đông, tôi thấy phất phới nhiều lá cờ đỏ sao vàng. Nhìn sang cuộc biểu tình cùng ngày tại Hamburg, Cộng Hòa Liên Bang Đức, tôi cũng thấy những lá cờ máu ấy, chen lẫn với vài lá cờ vàng ba sọc đỏ.
Nhìn những lá cờ máu ấy, tôi không thể không cảm thấy xót xa. Nếu những người Việt Nam giương cao lá cờ máu ấy biết rằng đó là lá cờ của Đảng Cộng Sản Việt Nam, những người đã công khai tuyên bố “ta đánh Mỹ là đánh cho Nga cho Tàu” thì hẳn họ sẽ nhận ra mấu chốt của vấn đề. Không có cuộc chiến “đánh thuê cho Nga Tàu” và không có chuyện thủ tướng Phạm Văn Đồng ký công hàm nhìn nhận chủ quyền của Trung Cộng trên Trường Sa, Hoàng Sa hồi năm 1958 thì làm gì có chuyện năm 1974, Trung Cộng đem quân xuống xâm chiếm Hoàng Sa và làm gì có chuyện ngày nay nước cộng sản bá quyền này muốn thâu tóm cả Biển Đông. Nói cho cùng, không có lá cờ máu ấy, không có những kẻ rước voi về dày mả tổ, không có những con người đặt sự lệ thuộc và tồn tại của Đảng và quyền lợi cá nhân lên trên tổ quốc, thì làm gì có chuyện Trung Cộng ngang nhiên lấn chiếm lãnh hải đất nước như thế. Thành ra, có lẽ chẳng phải ngạc nhiên khi người dân trong nước lên tiếng phản đối việc Trung Cộng xâm lăng bờ cõi, họ đã bị chính những người cộng sản Việt Nam đàn áp một cách dã man.
Trái với hình ảnh của lá cờ máu được giương cao trong cuộc biểu tình tại Nhựt Bổn và Đức, trong cuộc tưởng niệm 74 chiến sĩ bỏ mình trong trận hải chiến tại Hoàng Sa được tổ chức tại vườn hoa Lý Thái Tổ ở  Hà Nội như được giáo sư Nguyễn Huệ Chi ghi lại (x.Đàn Chim Việt online), tôi cố tình tìm kiếm nhưng không hề thấy có bất cứ một lá cờ máu nào. Có chăng là những bó hoa dành cho 74 tử sĩ đã hy sinh trong trận hải chiến chống lại quân xâm lăng. Không những không trương lá cờ máu, những người tham gia cuộc tưởng niệm còn trương một biểu ngữ đy ý nghĩa: “không được bán Hoàng Sa”.Tôi nhận ra được ý nghĩa của sự vắng bóng của lá cờ máu và thông điệp mà những người tham gia cuộc tưởng niệm muốn nhắn gởi với người dân trong nước: Đảng Cộng Sản Việt Nam mà lá cờ máu là linh hồn chính là thủ phạm bán nước. Những người tham gia cuộc tưởng niệm tại Hà Nội đã nhận ra và muốn cho mọi người thấy được cốt lõi của vấn đề: họ đã nhận ra được bộ mặt thật của Đảng Cộng Sản Việt Nam; Đảng Cộng Sản Việt Nam chính là những kẻ bán nước; giải thể Đảng này là một bước tiên quyết trong việc đòi lại Hoàng Sa. Nói cho cùng, sự thật nền tảng mà thế giới tự do ngày nay, nhứt là Nghị Viện Âu Châu, muốn phổ biến cho toàn thế giới là: chủ nghĩa cộng sản hay đúng hơn các chế độ cộng sản là thảm họa tột cùng của nhân loại. Và như cố tổng thống Vaclav Havel đã kêu gọi trong khảo luận chính trị có tựa đề “The Power of the Powerless” (sức mạnh của những người không có quyền lực) được lén lút phổ biến tại Tiệp Khắc năm 1978 và nay được dịch sang Việt Ngữ, chỉ có một thứ vũ khí có thể đánh bại được chủ nghĩa và chế độ đồi bại này là “Sống cho sự thật”, bởi lẽ chế độ này chỉ có thể tồn tại nhờ dối trá được xây dựng trên khủng bố. Một khi người dân dám đứng thẳng lên để “sống cho sự thật”, nghĩa là không còn sợ hãi nữa thì quyền lực thống trị của chế độ cộng sản phải sụp đổ tức khắc. Đó là điều đã từng xảy ra trong cuộc cách mạng “êm như nhung” năm 1989.
Cuộc cách mạng Mùa Xuân như đã từng diễn ra đó đây trên thế giới và cũng được tôi mong nhìn thấy trên quê hương trong những ngày này hẳn chỉ có thể là một cuộc cách mạng của sự thật. Và dĩ nhiên đó cũng là cuộc cách mạng Mùa Xuân đích thực mà tôi muốn được thấy thực hiện từng ngày  trong chính bản thân tôi.
Với quyết tâm đổi mới trong Mùa Xuân, tôi đọc lại bài khảo luận có tựa đề “Live Not By Lies” (Đừng sống bằng dối trá) của cố văn hào Nga Alexandr Solzhenitsyn (1918-2008). Bài viết này đã được lén lút phổ biến trong giới trí thức tại Moscow năm 1974. Ông đã bị bắt giữ và ngày hôm sau bị trục xuất qua Tây Đức. Nội dung của bài viết là một lời kêu gọi hãy sống can đảm và nâng đỡ tất cả những ai trân quý sự thật. Tôi đặc biệt ghi nhớ và tâm niệm đoạn sau đây: “Chìa khóa đơn giản nhứt và dễ dàng nhứt để đạt được sự giải thoát cá nhân là: không tham dự vào dối trá. Dối trá có bao trùm lên mọi sự đi nữa cũng không nhờ sự tiếp tay của tôi. Thái độ của tôi sẽ tạo ra một rạn nứt trong cái vòng vay tưởng tượng do sự bất động của tôi tạo ra. Đây là điều dễ dàng nhứt mà chúng ta có thể làm, nhưng lại có sức tàn phá nhứt đối với dối trá. Bởi lẽ khi con người khước từ dối trá, thì sự hiện hữu của nó sẽ bị cắt đứt. Như một thứ ung nhọt, dối trá chỉ có thể hiện hữu trong một sinh vật”.
Tôi đang sống trong một xã hội tự do. Tôi đang có tất cả những quyền tự do căn bản nhứt của con người. Nhưng tôi sẽ là một kẻ ngu ngốc và khờ dại để bảo rằng xung quanh tôi không hề có dối trá. Ở đất nước này, dối trá không được định chế hóa, nhưng tôi biết rằng lúc nào tôi cũng bị bao vây bởi dối trá và cạm bẫy và tôi cũng tin tưởng rằng bao lâu tôi không tham gia vào dối trá và lừa mị dưới bất cứ hình thức nào, tôi mới thực sự là một con người tự do.
Một con én không làm nên mùa Xuân, nhưng nó báo hiệu mùa Xuân đến. Khi một người từ chối tiếp tay và sống với dối trá, họ quay về với sự thật. Cuộc cách mạng nội tâm quay về với sự thật của một cá nhân không làm thay đổi tình trạng đáng buồn của đất nước nhưng chắc chắn nó báo hiệu làn gió Xuân của cách mạng đang thổi đến.   








Thứ Hai, 10 tháng 7, 2017

Israel-Palestine: 50 năm sau cuộc chiến 6 ngày!


07/07/17

Cách đây đúng 50 năm, 1967 Israel đã làm cho cả thế giới sửng sốt khi đem quân chiếm trọn những lãnh thổ của Palestine tại Tây Ngạn, Phía Đông Jerusalem, Dải Gaza cũng như Đồi Golan của Syria và Bán đảo Sinai của Ai Cập. Tất cả chỉ diễn ra trong vòng 6 ngày cho nên thường được mệnh danh là Cuộc chiến Sáu Ngày hay Cuộc chiến Tháng Sáu.
Cuộc chiến Sáu Ngày đã diễn ra giữa Israel và ba nước Á Rập là Ai Cập, Jordan và Syria. Cuộc chiến này là cao điểm của một cuộc chiến dai dẳng đã bùng nổ từ năm 1948. Đây là năm Israel tuyên bố lập quốc sau một chuỗi những hành động tàn bạo nhằm thanh lọc chủng tộc Palestine. Với sứ mệnh thành lập quốc gia Israel, những người Do Thái tản mác trên khắp thể giới đã trở về Palestine. Những người Do Thái thường được mệnh danh là “Những người trở về Sion” (Zionist) đã trục xuất khoảng 750.000 người Palestine ra khỏi quê hương của họ. Không biết bao nhiêu làng mạc của người Palestine bị phá hủy. Dĩ nhiên, liền sau khi Israel tuyên bố lập quốc, quân đội của các nước Á Rập láng giềng đã tham gia chiến đấu để bảo vệ dân tộc Palestine. Nhưng không có quân đội và ngay cả quốc gia, người Palestine là những kẻ chịu thiệt thòi nhiều nhất. Khi cuộc chiến năm 1948 kết thúc, quân đội Israel đã chiếm đến 78 phần trăm lãnh thổ của người Palestine. 22 phần trăm lãnh thổ còn lại rơi vào tay Ai Cập và Jordan.
Đến năm 1967, Israel lại nuốt trọn lãnh thổ của Palestine cũng như một phần đất của Ai Cập và Syria. Sau cuộc chiến 1967, Israel đã trục xuất thêm 430.000 người Palestine ra khỏi quê hương của họ và làm cho lãnh thổ của riêng họ tăng thêm ba phần tư so với phần đất họ đang có.
Về cuộc chiến 1967 hay Cuộc chiến Sáu Ngày, trong quan hệ phức tạp giữa khối Á Rập và Israel, mỗi bên đều đưa ra một trình thuật riêng. Tuy nhiên, không thể phủ nhận một số nguyên nhân khách quan khiến cho cuộc chiến bùng nổ.
Trước hết phải kể đến những cuộc đụng độ thường xuyên sau hiệp định đình chiến giữa Israel và Syria cũng như giữa Israel và Jordan. Hàng trăm ngàn người tỵ nạn Palestine tìm cách vượt biên giới để tìm kiếm thân nhân của họ cũng như trở về nhà và tìm lại tài sản đã mất. Theo ước tính, từ năm 1949 đến năm 1956, đã có khoảng từ 2000 đến 5000 người Palestine tìm cách vượt biên giới để trở về nhà.
Năm 1953, một cuộc tàn sát dã man đã xảy ra tại  Qibya, một làng Palestine tại Tây Ngạn. Trong một cuộc hành quân được đặt tên  là “Shoshana” dạo tháng 10 năm 1953, quân đội Israel đã thiêu hủy 45 ngôi nhà và tàn sát ít nhất 69 người Palestine.
Ba năm sau, tức năm 1956 lại diễn ra điều thường được gọi là Cuộc khủng hoảng Kinh đào Suez. Cùng với Pháp và Anh, Israel đã đem quân xâm chiếm Ai Cập với hy vọng lật đổ tổng thống nước này là ông Gamal Abdel Nasser sau khi ông tuyên bố quốc hữu hóa Công ty Kinh đào Suez. Trong thực tế đây là một công ty chung của Anh và Pháp.
Tuy nhiên, sau đó lực lượng của Israel, Pháp và Anh bị buộc phải triệt thoái khỏi Ai Cập để  nhường lại cho lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc nhiệm vụ giám sát biên giới giữa Israel và Ai Cập.
Trước cảnh nước mất nhà tan, vào khoảng giữa hai thập niên 1950 và 1960, người Palestine đã tổ chức được một phong trào  “Fedayeen”, tức phong trào kháng chiến chống lại Israel.
Năm 1966, tức một năm trước khi Cuộc chiến Sáu Ngày bùng nổ, quân đội Israel đã tảo thanh và càn quét tại làng As Samu của người Palestine trong vùng Tây Ngạn. Đây là cuộc hành quân qui mô nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng Kinh đào Suez cách đó 10 năm. Sở dĩ quân đội Israel mở cuộc hành quân vào làng As Samu là vì một nhóm thuộc phong trao kháng chiến Fatah của người Palestine đã giết  một số binh sĩ Israel. Trong cuộc tảo thanh, quân đội Israel đã thiêu hủy hàng chục ngôi nhà, tàn sát 18 người và làm bị thương trên 100 người.
Song song với những cuộc hành quân của Israel  nhắm vào người Palestine, quan hệ của nước này với nước láng giềng Jordan cũng ngày càng căng thẳng thêm vì những tranh chấp về việc sử dụng nước của Sông Jordan và việc canh tác của người Israel dọc theo dòng sông. Đây là một trong những nguyên nhân châm ngòi cho Cuộc chiến Sáu Ngày.
Tình hình đã căng thẳng, ngày 13 tháng Năm 1967, Liên Xô lại nhào vô thọc gậy bánh xe khi tung tin thất thiệt cho Ai Cập rằng Israel đang huy động lực lượng để xâm lăng Syria. Theo một hiệp ước được ký kết giữa Ai Cập và Syria năm 1955, hai nước cam kết sẽ bảo vệ nhau nếu một trong hai nước bị một nước khác tấn công.
Chính vì được Liên Xô báo động “giả” mà Ai Cập đã ra lệnh cho các lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc phải triệt thoái ra khỏi Sinai và đem quân đến trú đóng ở đó. Vài ngày sau, Tổng thống Ai Cập Abdul Nasser cũng ra lệnh phong tỏa tàu bè của Israel trong Biển Đỏ.
Vào khoảng cuối tháng Năm, Ai Cập và Jordan ký thỏa hiệp bảo vệ hỗ tương giữa hai nước. Với hiệp ước này, quân đội Jordan được đặt dưới quyền chỉ huy của Ai Cập. Không bao lâu sau đó, Iraq cũng gia nhập vào liên minh này.
Nhưng liên minh do Ai Cập lãnh đạo không ngờ rằng sáng sớm ngày 5 tháng Sáu, Israel đã bất thần tung ra một cuộc tấn công nhắm vào các căn cứ không quân của Ai Cập. Cuộc tấn công bất ngờ này khiến cho không lực của Ai Cập hầu như hoàn toàn bị tê liệt. Nhờ vậy mà chỉ trong một ngày bộ binh Israel đã xâm chiến Dải Gaza và Bán đảo Sinai của Ai Cập. Ngoài ra cũng trong buổi tối ngày 5 tháng Sáu, Israel cũng tấn công các căn cứ không quân của Syria. Ngày hôm sau, bộ binh Israel đã đánh bại lực lượng Jordan để chiếm miền Đông Jerusalem vốn do Jordan kiểm soát. Rạng ngày 7 tháng Sáu, Chỉ huy trưởng lực lượng Israel, tướng Moshe Dayan đã ra lệnh cho quân đội tiến chiếm luôn Cổ Thành nằm ở phía Đông Jerusalem. Ngày hôm đó, Liên Hiệp Quộc đã kêu gọi ngưng chiến. Nhưng các nhà ngoại giao của Israel tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn tìm cách thuyết phục Hoa Kỳ làm ngơ trước lời kêu gọi ngưng chiến của Liên Hiệp Quốc để họ có thêm thời giờ hầu thanh toán trọn bộ lãnh thổ của người Palestine.
Vào giữa trưa ngày 7 tháng Sáu, các lực lượng Israel đã chiếm lấy  Cổ Thành khỏi tay Jordan. Và một ngày sau đó, những thành phố lớn tại Tây Ngạn như Nablus, Bethlehem, Hebron và Jericho của người Palestine đều rơi vào tay quân đội Israel.
Sau khi chiếm được Cổ Thành, quân đội Israel đã phá hủy toàn bộ khu vực của người Morocco vốn đã có từ trên 700 năm. Họ mở rộng biên giới về Bức Tường Phía Tây mà người Hồi giáo quen gọi là Bức tường Al-Buraq. Đây là một linh địa nổi tiếng đối với cả người Do Thái lẫn người Hồi giáo. Khoảng 100 gia đình người Palestine đang sinh sống trong khu vực bị ra lệnh phải di tản; quân đội Israel đã dội bom bình địa khu vực. Israel đã cho xây lên khu “Western Wall Plaza” để người Do Thái có thể trực tiếp đến Bức Tường Phía Tây.
Trong suốt cuộc chiến và thừa lệnh của ông Yitzhak Rabin, người sau này trở thành thủ tướng Israel, các lực lượng Israel đã thanh lọc chủng tộc và phá hủy nhiều làng mạc của người Palestine, trục xuất cả chục ngàn người.
Tại hai thành phố Qalqilya và Tulkaren, cũng nằm trong vùng Tây Ngạn của người Palestine, quân đội Israel phá hủy toàn bộ nhà cửa của họ. Trong hồi ký của mình, Tướng Moshe Dayan viết rằng để gọi là “trừng phạt” họ, hàng chục ngàn người Palestine bị đuổi ra khỏi nhà cửa của họ.
Riêng Đồi Golan của Syria, quân đội Israel đã mở cuộc tấn công vào ngày 9 tháng Sáu và ngày hôm sau, Đồi này thất thủ, đưa quân đội Israel đến sát nách Thủ đô Damascus của Syria.
Cuộc chiến chỉ diễn ra đúng 6 ngày. Ngày 9 tháng Sáu, Ai Cập và Israel đã đồng ý ngưng chiến. Hai ngày sau, Syria và Israel cũng chấp nhận hưu chiến và với sự vận động của Liên Hiệp Quốc, một cuộc đình chiến đã chính thức chấm dứt cuộc chiến Sáu ngày.
Tổng cộng đã có khoảng 430.000 người Palestine bị bứng ra khỏi nhà cửa và làng mạc của họ. Phần lớn xin tỵ nạn tại Jordan. Trước đó, khoảng một nửa số người tỵ nạn Palestine đã bị trục xuất ra khỏi làng mạc của họ từ năm 1948.
Cuộc chiến Sáu ngày đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của Trung Đông. Từ 50 năm qua, vết thương lòng của người Palestine và ngay cả người Á Rập vẫn không bao giờ lành và niềm tin của họ đối với các chính phủ trong khối Á Rập cũng không bao giờ được tái lập.
Trong 6 ngày, Israel đã đưa hơn một triệu người Palestine tại Tây Ngạn, Đông Jerusalem và Dải Gaza vào vòng kiểm soát chặt chẽ của họ. Cuộc chiến cũng đã biến Israel thành một quốc gia có đông người Palestine nhất. Riêng với người Palestine, cuộc chiến đã làm phát sinh phong trào kháng chiến với quyết tâm dùng vũ lực để giành lại đất nước của mình trong hai thập niên 1970 và 1980.
Với người Israel, việc chiếm đóng lãnh thổ của người Palestine dã mang lại cho họ phấn khởi. Hàng chục ngàn người Do Thái đã đổ xô về Bức Tường Phía Tây để cảm tạ Thượng Đế vì đã thực hiện phép lạ cho họ và cũng để bày tỏ niềm xác tín rằng toàn bộ lãnh thổ Palestine là Đất đã được Thượng Đế hứa ban cho họ.
Với niềm tin tưởng ấy, lãnh thổ của người Palestine bị họ cưỡng chiếm đã biến thành một vùng định cư mới: nhiều người đã đến lập nghiệp, xây cất nhà cửa tại Tây Ngạn và Dải Gaza.
Nhưng quan trọng hơn, Cuộc chiến Sáu ngày cũng đã đặt ra vấn đề về phong trào thực dân của người Do Thái. Sau cuộc chiến, Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị quyết 242 để kêu gọi Israel từ bỏ lãnh thổ chiếm đóng của Palestine để đổi lấy hòa bình với các nước láng giềng. Nhưng bất chấp nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, Israel khuyến khích dân chúng sang định cư tại những vùng được chiếm đóng. Chỉ một năm sau cuộc chiến, đã có 6 vùng định cư của Israel được thành lập tại Đồi Golan. Riêng tại Tây Ngạn và Dải Gaza, tính đến năm 1973, Israel cũng đã thành lập tổng cộng 20 khu định cư cho người Do Thái.
Quốc gia Do Thái, tức Israel, được thành lập vào năm 1948. Chủ quyền của nước này được hầu hết các nước trên thế giới nhìn nhận. Nhưng cho tới nay, việc chiếm đóng lãnh thổ của người Palestine vẫn tiếp tục bị cộng đồng thế giới lên án. Đây là cuộc chiếm đóng dài nhất trong lịch sử hiện đại.
Trong Dải Gaza và Tây Ngạn hiện vẫn còn khoảng trên 5 triệu người Palestine sinh sống. Nại đến lý do an ninh, quân đội Israel được trao trọn quyền kiểm soát. Họ đã dựng lên hàng trăm trạm kiểm soát trong 2 vùng này. Ngoài một thứ thẻ thông hành đặc biệt để đi lại, người Palestine còn bị ngăn cách với thân nhân của họ bởi một Bức tường Ngăn cách.
Trong một bản phúc trình được cho công bố dạo đầu tháng Sáu vừa qua, bà Sarah Leah Whitson, Giám đốc Phân bộ Trung Đông của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói rằng “Dù là một đứa trẻ bị một tòa án quân sự giam giữ hay bị bắn chết một cách bất công, dù là một ngôi nhà bị phá hủy vì cho là không có giấy phép, dù là những trạm kiểm soát mà chỉ có người (Do Thái) định cư mới được phép đi qua, ít có người dân Palestine nào tránh khỏi những vụ vi phạm nhân quyền trong những vùng bị chiếm đóng kéo dài từ 50 năm qua”.
50 năm bị đọa đày và tỵ nạn ngay chính trên quê hương của mình, có lẽ ít có dân tộc nào có một số phận đau thương như người Palestine.

Nguồn: (http://www.aljazeera.com/indepth/features/2017/06/50-years-israeli-occupation-longest-modern-history)









Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2017

Xin đừng hỏi tại sao tôi nghèo


Chu Thập
30/06/17
Năm nào ở Úc cũng có một bảng xếp hạng những người được tin tưởng nhứt. Đứng đầu danh sách của 30 ngành nghề chính  được dân chúng Úc tin tưởng nhứt lúc nào cũng là các y tá và đội sổ lúc nào cũng là dân bán xe. Riêng các chính trị gia, nhứt là các ông bà dân biểu và nghị sĩ lại không được dân chúng Úc tín nhiệm mấy: xếp hạng 23 là các nghị viên tiểu bang; ở cấp liên bang thì những vị đại diện của dân lại tụt xuống hạng 25.
Theo dõi sinh hoạt trong nghị trường Úc, nhứt là trong các phiên họp Quốc hội Liên bang, tôi thường liên tưởng  đến những hoạt cảnh trên sân khấu. Chính trường cũng là một thứ sân khấu và các chính trị gia cũng là những diễn viên. Mỗi lần “ngồi” họp (sitting) trong Quốc hội, các vị đấu võ mồm nghe chan chát. Nhưng ra ngoài thì các vị cũng tay bắt mặt mừng hể hả.
Mới đây, vui nhứt trên sân khấu chính trị là những nụ cười tươi rói của các ông bà nghị khi Tòa Ân Thưởng (Remuneration Tribunal) loan báo tăng lương cho các vị đến 2 phần trăm, cùng với nhiều thứ giảm thuế khác nữa. Như đương kim Thủ tướng Malcolm Turnbull chẳng hạn, vốn đã là một triệu phú tầm cỡ ở Úc, sẽ lãnh được mỗi năm 517.000 Úc kim, nghĩa là tăng thêm 17.000 Úc kim. Các ông bà nghị ngồi ở ghế sau, dù chỉ để “gật đầu” hay “de de” (hear, hear) thôi, mỗi người cũng sẽ lãnh hơn 200.000 Úc kim mỗi năm. Nếu so với mức lương tối thiểu của người dân Úc là 36.134 Úc kim thì lương của các vị này cao hơn 453.5 phần trăm.
Dĩ nhiên các ông bà nghị không tự ý tăng lương cho mình đâu. Đây là quyết định của một cơ quan độc lập là Tòa Ân Thưởng. Tuy nhiên điều khiến tôi thấy “vui vui” như đi xem kịch là khi được tăng lương, không có một ông bà nghị nào lên tiếng đặt vấn đề, cãi cọ hay chửi rủa nhau như thường xảy ra trong Quốc hội mỗi khi các vị thảo luận một dự luật. Tôi thấy “vui vui” nhưng  cũng thấy buồn thấm thía là bởi vì quyết định tăng lương cho các ông bà nghị lại được Tòa Ân Thưởng loan báo vào chính ngày mà Quốc hội thông qua luật bãi bỏ việc trả lương phụ trội cho những người làm việc cuối tuần. Phần lớn những người chấp nhận làm cuối tuần là những người có thu nhập thấp và dĩ nhiên làm việc cuối tuần là một hy sinh lớn đối với nhiều người. Họ đâu có kém xứng đáng để được “ân thưởng” như các ông bà nghị!
Tôi thấy buồn khi quyết định tăng lương cho các ông bà nghị lại được loan báo vào chính ngày họ quyết định tước đoạt một phần lương của những người làm cuối tuần. Tôi thấy buồn, nhưng Ký giả Stuart Marsh lại bày tỏ một cảm xúc mạnh hơn khi ông viết trên Nine.com.au: “Chúng ta hoàn toàn có đủ lý do để phẫn nộ” (it’s perfectly reasonable for us to be outraged).
Tôi hiểu được tại sao dân Úc không dành cho các chính trị gia, nhứt là các ông bà nghị ở cấp liên bang, một chỗ đứng cao trong trái tim của họ. Thời nào và ở đâu các chính trị gia cũng tuyên bố  “vì dân” cả, nhứt là dân nghèo. Nhưng con người ta dễ có khuynh hướng suy nghĩ bằng cái bụng hơn cái đầu hay trái tim. Đồng tiền liền khúc ruột. Đụng tới đồng tiền hay quyền lợi của mình thì dĩ nhiên người ta nghĩ đến mình trước tiên. Với đồng lương mỗi năm trên 200.000 Úc kim, cộng với đủ thứ phụ cấp khác, chính trị gia phải thuộc giai cấp giàu có thôi. Nếu chỉ biết lo cho người dân, nhứt là dân nghèo, thì hẳn bậc thang tín nhiệm của các chính trị gia phải ở trên tầng cao nhứt của 30 ngành nghề tại Úc Đại Lợi này.
Tại Hoa Kỳ, mức độ  tín nhiệm của các chính trị gia lại còn tệ hơn. Trong bảng xếp hạng về sự tin tưởng được dân chúng Mỹ dành cho 22 ngành nghề chính tại nước này,  năm nào viện thăm dò dư luận có thế giá nhứt tại Mỹ là Viện Gallup cũng  đều xếp các dân biểu Hạ Viện vào cuối bảng, thua cả mấy người bán xe. Các thượng nghị sĩ liên bang có đứng cao một chút nhưng chỉ hơn được một số nghề như quảng cáo và bán bảo hiểm mà thôi!
Chính trị gia nào cũng ra rả vì dân nghèo cả. Nhưng nếu ở Mỹ đang có một cuộc khủng hoảng đáng nói hơn cả thì đó chính là cuộc khủng hoảng về niềm tin đối với các chính trị gia. Xét cho cùng tôi nghĩ  đó cũng là cuộc khủng hoảng do cuộc chiến giữa giàu nghèo tạo ra.
Ông Donald Trump là một doanh gia giàu có đã trở thành tổng thống Mỹ. Cũng như mọi ứng cử viên khác, trong cuộc vận động tranh cử ông cũng hứa hẹn lo cho dân nghèo, những thành phần được ông nhắc đến trong bài diễn văn nhậm chức như “những người bị bỏ quên”. Mới đây, trước một đám đông những người ủng hộ, ông đã giải thích lý do tại sao ông chọn vào nội các của ông toàn là tỷ phú hay những người đang ở ngưỡng cửa của tỷ phú. Với kinh nghiệm làm giàu, họ sẽ làm cho nước Mỹ giàu và như vậy người dân mới giàu. Tôi hiểu một cách đơn giản như thế.
Một cách nào đó, cách chọn người vào nội các của Tổng thống Trump đã phản ảnh cái nhìn chung của Đảng Cộng Hòa. Theo một bài phân tích của Chuyên gia Samantha Smith thuộc Trung tâm Pew Research Center hôm đầu tháng Năm 2017 vừa qua, hầu hết các đảng viên Cộng hòa liên kết hầu bao của một người với sự cần cù làm việc của họ; người ta giàu có là nhờ siêng năng làm việc; còn nghèo đói là do làm biếng mà thôi!
Trong khi đó, ngoài những khác biệt về các chính sách kinh tế, các đảng viên của Đảng Dân Chủ thì lại cho rằng giàu hay nghèo là do những hoàn cảnh và những thuận lợi hay bất thuận lợi trong cuộc sống. Thành ra, với Dân Chủ, giàu nghèo là chuyện nằm ngoài tầm kiểm soát của con người.
Sự thành công trong kinh doanh hoặc thành đạt trong học vấn của người Việt tỵ nạn khắp nơi là một bằng chứng biện minh cho cái nhìn của Đảng Cộng Hòa về giàu nghèo. Chính sự cương quyết, những nỗ lực vươn lên đã mang lại thành đạt và thịnh vượng cho rất nhiều người Việt tỵ nạn.
Nhưng nói qua thì cũng phải nói lại. Nếu còn kẹt lại trong chế độ cộng sản hoặc khi đến một quê hương mới không được tạo điều kiện để làm việc và học hành thì liệu người Việt tỵ nạn có đạt được một sự thành công như thế không. Thành ra, tôi cũng hoàn toàn đồng ý với Đảng Dân Chủ về ảnh hưởng của hoàn cảnh sống đối với tình trạng giàu nghèo của con người. Không cần phải là một người  tỵ nạn, giả như Tổng thống Trump không sinh ra trong một gia đình giàu có và không thừa hưởng một gia tài kết xù do cha ông để lại, liệu ông có trở thành một doanh gia giàu có như hiện nay không.
Có khác biệt trong cái nhìn của các Đảng phái chính trị về giàu nghèo đã đành, mà chính người giàu và người nghèo có lẽ cũng không có cùng một cách suy nghĩ. Có người cho rằng người giàu  tin tưởng và lạc quan, còn người nghèo thì lúc nào cũng bi quan. Người nghèo luôn nhìn thấy vấn đề mà không đi tìm giải pháp. Người giàu thì lúc nào cũng nhắm đến sự thành công. Người giàu luôn đặt vấn đề để tìm cách giải quyết, còn người nghèo thì cứ ngồi đó mà than vãn, phê bình và kết án. Người nghèo nghĩ đến tiền bạc nhiều hơn thời giờ. Người giàu thì trái lại xem thời giờ quan trọng hơn tiền bạc. Trong khi người giàu vào thư viện để đọc sách thì người nghèo chỉ biết suốt ngày chúi mũi vào màn ảnh của những chiếc máy truyền hình lớn (x.http://www.businessinsider.com/major-differences-between-rich-and-poor-people).
Tôi không hoàn toàn đồng ý với những nhận định trên đây về cách suy nghĩ của người giàu và người nghèo. Với tôi, giàu nghèo là một vấn đề vô cùng phức tạp. Tôi ngưỡng mộ những người trở nên giàu có nhờ tài trí, quyết tâm, nỗ lực và cần cù của họ và dĩ nhiên tôi cũng lên án những người làm giàu trên xương máu của người khác hoặc bằng những cách làm ăn bất chính. Những hạng nhà giàu ấy đâu chỉ có trong những chế độ độc tài hay những nước nghèo. Họ cũng nhan nhản trong những xã hội văn minh.  
Tôi ngưỡng mộ những người lương thiện trở nên giàu có. Nhưng tôi cũng cảm thông với người nghèo và khốn khổ. Ngoài những người tự nguyện chọn cuộc sống nghèo như các tu sĩ hay các nhà hiền triết, chẳng có ai muốn sống nghèo hay khốn khổ cả. Tôi phục sát đất cựu Tổng thống Jose Mujica của xứ Uruguay: ông đã trao tặng 90 phần trăm tiền lương của ông cho các công cuộc từ thiện; ông không bao giờ khoác vào người một bộ “com lê” hay đeo chiếc cà vạt nào cả; còn đi lại thì ông chỉ sử dụng chiếc xe con cóc cà tàng Volkwagen đời 1987; từ tiền lương mỗi năm ông chỉ giữ lại cho mình đúng 12.000 Mỹ kim, vừa đủ để trả các hóa đơn.
Nghe nói Tổng thống Trump cho biết sẽ không nhận lương tổng thống của ông, mà trao tặng hoàn toàn cho Tòa Bạch Ốc. Đúng hay không tôi không biết, nhưng tiền lương 527.000 Mỹ kim của một tổng thống Mỹ đối với tỷ phú Trump có lẽ cũng chỉ là một thứ tiền túi không đáng kể.
Trong một nước nhỏ và nghèo như Uruguay, chọn sống nghèo như Tổng thống  Jose Mujica thật là một thái độ đáng khâm phục. Nhưng dù có chọn sống nghèo, cuộc sống của nhà lãnh đạo này   vẫn chưa phải là bần cùng. Ông chỉ nghèo ở mức vẫn còn đủ để sống xứng với phẩm giá của con người. Trong khi đó tại những nước nghèo, có biết bao nhiêu người phải lâm cảnh nghèo đói hay màn trời chiếu đất. Và ngay trong những nước giàu có như Úc Đại Lợi chẳng hạn cũng có biết bao nhiêu người nghèo hay vô gia cư không có đủ điều kiện để sống xứng với phẩm giá con người. Dù có nghèo đói vì làm biếng hay làm gì đi nữa như tự hủy hoại cuộc sống bằng những con đường sa đọa khác nhau, chẳng có ai thực sự muốn rơi vào cảnh khốn cùng cả.
Với tôi, sự hiện diện của những người nghèo và nhứt là những người nghèo phải rơi vào con đường nghiện ngập luôn là một  trắc nghiệm về sự cảm thông của tôi. Có những người không còn đủ sức cầm nổi một con cá thì đừng trao cho họ một chiếc cần câu để bảo họ tự câu cá lấy mà ăn. Đứng trước một người nghèo hay khốn khổ, là một tín hữu Kitô, tôi không thể không nghĩ tới bài dụ ngôn về người Samaria nhân lành được ghi lại trong Sách Tin Mừng Luca 10. 29-37. Đây chính là cốt lõi của Kitô Giáo.  Với tôi đây cũng là một trong những  câu chuyện đẹp nhứt trong kho tàng minh triết của loài người. Gặp người hoạn nạn, người Samaria không đặt bất cứ một câu hỏi nào: tại sao anh phải ra nông nỗi như thế này? Tại sao anh đi vào một con đường nguy hiểm như thế này?...Người Samaria chỉ thinh lặng. Đó là sự thinh lặng của cảm thông và sự cảm thông đã thúc đẩy anh ra tay giúp đỡ người bị hoạn nạn.
Từ câu chuyện này, mỗi khi đứng trước một người nghèo hay một kẻ khốn khổ vì nghiện ngập, tôi nghe như có tiếng tra vấn: xin đừng hỏi tại sao tôi nghèo mà hãy cảm thông với hoàn cảnh của tôi!







Thứ Tư, 5 tháng 7, 2017

Già đầu nhưng chưa già dặn


Chu Thập
14/01/14
Đức Khổng Tử đã kể lại các giai đoạn thành đạt của cuộc đời ngài như sau: “Ta tới mười lăm tuổi mới chuyên chú việc học, ba mươi tuổi mới tự lập, bốn mươi tuổi mới thấu hiểu hết lý sự ở đời, năm mươi tuổi mới biết mệnh trời, sáu mươi tuổi mới có kiến thức và kinh nghiệm hoàn hảo để có thể phán đoán ngay được mọi sự và con người mà không thấy có điều gì chướng ngại khi nghe được và bảy mươi tuổi mới có thể nói hay làm những điều đúng theo ý muốn của lòng mình mà không ra ngoài khuôn khổ đạo lý”.
Tôi không biết mình có “lết” nổi  đến tuổi “thất thập” hay không. Nhưng đã bước vào tuổi “lục thập” từ mấy năm nay mà tôi vẫn chưa bao giờ thấy mình đạt đến mức độ hoàn hảo về mặt tri hành, kiến văn và kinh nghiệm về cuộc sống để có thể cư xử thật sự cho ra người. So với năm trước, năm nay cứ mỗi sáng thức dậy nhìn vào trong gương, tôi thấy mình già hẳn đi. Tôi có “già dịch” không thì chưa nghe ai nói thẳng vào mặt hay sau lưng. Nhưng “già đầu” thì đúng một trăm phần trăm trong trường hợp của tôi: tóc vừa bạc vừa thưa, trán mặt chỗ nào cũng có nếp nhăn, cần cổ thì có chích cả lít “botox” cũng chẳng kéo cho thẳng được. Nhìn vào trong gương thấy mình già, nhưng rời tấm gương thì chẳng còn nhớ mặt mũi của mình ra sao cho nên thích làm “già gân” hay “già không nên nết”, nghĩa là hành động theo cảm tính nhiều hơn lý trí; mà có dùng lý trí để suy nghĩ thì lại tính toán hơn thiệt cho mình hơn là nghĩ đến người khác. Tựu trung, tôi thấy mình có “già đầu” thiệt, nhưng “già dặn” thì chưa. Bước vào cái tuổi thích nhìn lui hơn ngó tới, mỗi dịp đầu năm tôi luôn ôn lại và tính sổ để xem mình có “già dặn” thêm chút nào không. Bên cạnh niềm vui khi thấy mình còn có đủ sức khỏe để tự lo liệu cho cuộc sống, tôi lại thấy dấy lên đôi chút ngậm ngùi, tiếc xót vì thấy mình vẫn để cho thời gian trôi qua mà chưa “lớn lên” theo với số tuổi mình đang có. Mỗi năm thêm kiến thức, thêm kinh nghiệm, thêm hiểu biết nhưng vẫn cứ dậm chân tại chỗ trong sự trưởng thành nhân cách. Ôi, trường học làm người sao mà lê thê quá. Học mãi mà vẫn không bao giờ tốt nghiệp!
Cũng như mọi năm, ở khởi đầu năm nay, tôi cũng lần dở lại những bài học vỡ lòng về làm người. Một trong những cuốn sách mà tôi vẫn thường đem ra “tụng niệm” là cuốn “How to Live 365 Days A Year” (Sống 365 ngày một năm) của bác sĩ John A. Schlindler, xuất bản từ  đầu thập niên 1960, nhưng vẫn tiếp tục được tái bản và đã được dịch ra 13 thứ tiếng.  Riêng ấn bản Việt Ngữ đã được xuất bản trước năm 1975. Trong một chương nói về sự trưởng thành, tác giả nhấn mạnh đến một trong những nét chính của người trưởng thành là “thích cho nhiều hơn là nhận lãnh”. Bác sĩ Schindler viết: “Một khuynh hướng đặc biệt ấu trĩ là lòng ham muốn được một đồ vật thèm muốn. Người đã lớn tuổi mà vẫn còn giữ khuynh hướng đó, khi gặp bất kể việc gì, cũng tự hỏi: “Liệu việc đó có mang lại lợi ích gì cho ta không?” Những người như thế đang đứng trên con đường dốc của sự nhỏ mọn, thường dẫn tới những  đòi hỏi quá mức và rốt cuộc, tới lòng hờn giận” (Sống 365 ngày một năm, bản dịch Việt Ngữ, in lại tại Hoa Kỳ, trg 142). Theo tác giả, một trong những kết quả tốt đẹp nhứt của sự trưởng thành là nghệ thuật làm cho cuộc đời của người khác được tươi đẹp. Tựu trung, người trưởng thành thật sự là người luôn biết tưởng nghĩ đến người khác cũng như sẵn sàng trao tặng và chia sẻ một cách vô vị lợi.
Dù ở tuổi nào và địa vị nào trong xã hội, con người cũng sẽ mãi mãi ấu trĩ nếu vẫn “thích nhận lãnh hơn là trao ban”. Tính ích kỷ do đó còn có một tên gọi rất gợi hình là “nhỏ mọn”. Con người có thể “to đầu”, đầu óc có thể chất chứa cả kho tàng kiến thức và hiểu biết, của cải vật chất có thể dư đầy nhưng chưa hẳn đã có một tâm hồn cao thượng, một trái tim “lớn” khi họ giam mình trong ngục tù ích kỷ của mình.
Sự quảng đại và vô vị lợi được bác sĩ Schindler xem như nét nổi bật trong một nhân cách trưởng thành, tôi cũng tìm thấy trong một phân tách của tâm lý gia người Mỹ Tim Elmore. Tim Elmore là người đã sáng lập “Growing Leaders” (Trồng người lãnh đạo), một tổ chức phi lợi nhuận giúp phát huy tư cách lãnh đạo của giới trẻ dựa trên niềm xác tín “mỗi một đứa trẻ đều được sinh ra với những đức tính lãnh đạo”.
Trong một bài phân tách về những đặc điểm của một nhân cách trưởng thành, tiến sĩ Elmore ghi nhận một nghịch lý nơi giới trẻ ngày nay: họ rất tiến bộ về mặt tri thức, nhưng lại yếu kém về mặt cảm xúc. Nói cách khác, theo ông Elmore, giới trẻ ngày nay có thể biết mọi sự trước khi tốt nghiệp trung học, nhưng lại không trưởng thành đủ để ra đời. Cũng giống như hàng hóa tràn ngập thị trường, họ chẳng khác nào những con gà công  nghiệp được nuôi thúc cho mau lớn để được tiêu thụ nhưng trong bản chất vẫn là một con gà con hoặc chẳng  khác nào những trái cây chín háp.
Trong những đặc điểm của một nhân cách trưởng thành, tiến sĩ Elmore đặc biệt đề cao đến lòng vị tha. Theo ông, người trưởng thành là người mà chương trình hành động xoay quanh và hướng về tha nhân, chứ không đặt trọng tâm nơi bản thân. Vị tha, tức luôn tưởng nghĩ đến người khác, đặt nhu cầu và quyền lợi của người khác lên trên bản thân, là con đường để thoát ra khỏi sự ấu trĩ.
Bên cạnh tính vị tha, tiến sĩ Elmore cũng nhấn mạnh đến lòng khiêm tốn trong con người trưởng thành. Theo ông, lòng khiêm tốn luôn sánh vai với sự trưởng thành. Khiêm tốn thật sự không có nghĩa là xem thường bản thân, mà là ít tưởng nghĩ đến mình. Người trưởng thành là người không màng đến chuyện lôi kéo người khác chú ý đến mình. Đây là bài học mà trong năm vừa qua tôi học được từ hai bậc vĩ nhân của thế giới. Trước tiên là cố tổng thống Nelson Mandela của Nam Phi. Theo tôi, đức khiêm nhu là nét nổi bật nhứt trong dung mạo của ông Mandela. Trong 27 năm tù đày cũng như sau khi được trả tự do và trở thành vị tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, cố tổng thống Mandela lúc nào cũng tỏ ra khiêm tốn để không những nhìn nhận những sai lầm của mình, mà còn để bày tỏ sự cảm thông trước những sai lầm của đối phương để từ đó mới có thể tha thứ và thực thi sự hòa giải.
Tôi cũng nghĩ rằng sự khiêm tốn là hào quang sáng chói nhứt trong con người của Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo của Giáo hội công giáo. Khi bầu chọn vị giáo hoàng này làm nhân vật của năm 2013 vừa qua, tạp chí Time đã đề cao thái độ khiêm tốn luôn được thể hiện qua sự cảm thông ngài dành cho những thành phần yếu kém, dễ bị tổn thương và bị đẩy ra bên lề xã hội. Tôi nghĩ chưa từng có nhà lãnh đạo công giáo nào có đủ khiêm tốn và can đảm để đưa ra một lời tuyên bố về những người đồng tính luyến ái như sau: “Tôi là ai để xét đoán họ?” (Who am I to judge them?). Vị giáo hoàng này gây được sự chú ý của thế giới không phải vì những tư tưởng cao siêu hay những cải tổ về cơ cấu trong Giáo hội. Ngài chỉ sống và cư xử với tất cả tấm lòng khiêm tốn. Sự bầu chọn của tạp chí Time cho thấy thế giới ngày nay không chỉ chạy theo những thần tượng trên sân khấu, trong sân cỏ hay trong nghệ thuật. Con người thời đại vẫn khao khát hình tượng của những con người dám cởi bỏ tất cả những hào nhoáng bên ngoài để sống thật với lòng mình. Đó mới thật sự là những con người trưởng thành.
Bên cạnh thái độ khiêm tốn, tiến sĩ Elmore cũng nói đến một nét nổi bật khác trong dung mạo của người trưởng thành là lòng biết ơn. Trưởng thành là người không ngừng bày tỏ lòng biết ơn. Càng trưởng thành, con người càng thấy mình mang ơn người khác. Năm nào cũng thế, cứ vào dịp Tết Âm Lịch, các bạn cùng trường của tôi ngày xưa hiện còn ở trong nước, tổ chức đi chúc tết các vị ân sư. Qua cử chỉ này, tôi hiểu được giá trị của lời dạy của người xưa: “một chữ cũng là thày, mà nửa chữ cũng là thày”. Hiểu rộng ra, tôi thấy trong trường đời, ai cũng đều là thày tôi cả. Một cách nào đó, mỗi người ít hay nhiều, đều góp phần vào việc nhào nặn nên nhân cách của tôi ngày nay. Và bởi, trường học làm người vẫn luôn mở rộng cho nên bất cứ ai cũng đều có thể là thày dạy của tôi. Họ có thể là người khuyến khích tôi bắt chước và học hỏi những đức tính mà tôi chưa có. Họ cũng có thể là những người giúp tôi ý thức được những điều tránh không làm. Để tiến tới trong sự trưởng thành, tôi thấy mình phải không ngừng học hỏi và tìm kiếm sự khôn ngoan.
Xét cho cùng, tìm kiếm và tôn trọng sự thật cũng là đặc điểm không thể thiếu trong nhân cách của người trưởng thành. Trong những năm sống dưới chế độ cộng sản, tôi thấy rõ ràng nhân cách của mình bị thui chột và một trong những bước thụt lùi rõ nét nhứt trong trường học làm người của tôi chính là thói quen dối trá. Trong một xã hội mà để sống còn ai cũng phải nói dối, tôi cũng đành buông theo dòng đời. Thù ghét chủ nghĩa cộng sản, nhưng rốt cuộc chính mình lại tự nô lệ hóa bằng sự dối trá. Con người sẽ mãi mãi “ấu trĩ” bao lâu không dám nói lên sự thật và sống cho sự thật. Các chế độ cộng sản thành công là nhờ biết khủng bố để con người phải sợ hãi và vì sợ hãi mà cứ phải dối trá. Trái lại, một khi người dân dám nói lên sự thật và sống cho sự thật thì chế độ cộng sản sẽ không còn bất cứ một chỗ dựa nào để tồn tại. Đây là lời kêu gọi mà những con người thực sự trưởng thành như văn hào Aleksandr Solzhenitsyn của Nga hay nhà văn Vaclav Havel của Tiệp Khắc đã từng ngỏ với dân chúng. Riêng với nhà văn Vaclav Havel, tác giả của cuốn sách “The Power of the Powerless” (sức mạnh của những người bất lực) vừa đươc chuyển sang tiếng Việt, sức mạnh vĩ đại nhứt của những người bị đàn áp chính là sự thật. Một khi họ dám nói lên sự thật và sống cho sự thật thì mọi xích xiềng đều bị bẻ gẫy.
Ôn lại những nét chính trong dung mạo của một người trưởng thành, tôi thấy mình còn lâu mới xứng đáng để được gọi là một con người thực sự trưởng thành. Tuổi đời thì chồng chất nhưng sức nặng của nhân cách thì vẫn nhẹ tênh. Cứ một bước tiến lên thì có đến hai bước vấp ngã. “Sống cho ra cái giống người” như cụ Tú Xương đã từng cầu chúc cách đây cả trăm năm, sao mà khó quá. Nhưng dù sao, mỗi dịp đầu năm vẫn thấy mình còn cố gắng ngoi lên từng bước trong biển học làm người, cũng đủ là một niềm an ủi lớn lao rồi!







Thứ Hai, 3 tháng 7, 2017

Maldives : thiên đàng du lịch và nguy cơ cực đoan hóa


30/06/17

Nằm trong Ấn Độ dương và hướng nhìn về Ấn Độ và Sri Lanka từ phía Tây Nam, Maldives được nhiều người Tây Phương xem như một thiên đàng của du lịch. Bao gồm 1.200 đảo, Cộng hòa Maldives chỉ có một diện tích khoảng 298 cây số vuông và với dân số chưa tới nửa triệu người, quốc gia hải đảo này được xem là một trong những nước nhỏ nhất thế giới. Ngoài ra, gần như chìm giữa đại dương, quốc gia hải đảo này là nước thấp nhất so với mực nước biển. Chính vì thế mà Maldives được thế giới nhắc tới nhiều nhất mỗi khi nói đến mối đe dọa của mực nước biển ngày càng dâng cao do hiện tượng hâm nóng của trái đất.
Mới đây Maldives lại được truyền thông thế giới đề cập tới khi nước này gia nhập liên minh chống Qatar do Á Rập Saudi lãnh đạo. Nhưng đáng lo ngại nhất là dạo tháng Tư 2017 vừa qua, một nhà báo chuyên viết trên Blog tên là Yameen Rasheed , 29 tuổi, đã bị một nhóm người tấn công và đâm chết. Được biết Rasheed là người đã từng lên tiếng cảnh cáo về hiện tượng cực đoan hóa tại Maldives. Theo nhà báo tự do này, hiện tượng cực đoan hóa tại Maldives gây thiệt hại rất nhiều cho kinh tế vốn lệ thuộc  vào kỹ nghệ du lịch. Rasheed đã có lý để lên tiếng cảnh cáo về hiện tượng cực đoan hóa, bởi vì Maldives là nước có tỷ lệ cao nhất về con số chiến binh tham gia chiến đấu cho các tổ chức khủng bố tại Syria và Iraq.
Mùa hè năm ngoái, Chính phủ Maldives đã ban hành luật chống khủng bố và kêu gọi gia tăng an ninh tại các khu du lịch cũng như hải cảng và phi trường.
Tháng Giêng vừa qua, bộ trưởng của “Bộ hồi giáo” của Maldives đã cho công bố một số quy định để nhắc nhở các công ty du lịch phải hướng dẫn du khách biết cách “cư xử” đúng cách trong một nước Hồi giáo. Tuy nhiên một số người cho rằng những sáng kiến trên đây chỉ như “dầu cạo gió”, chứ không phải là những biện pháp an ninh thực sự. Những người chỉ trích Chính phủ Maldives cũng nói rằng những sáng kiến này chỉ được đưa ra sau khi bị các nhà đầu tư ngoại quốc cảnh cáo về mối đe dọa cực đoan đối với du khách.
Maldives là một địa điểm du lịch nổi tiếng thế giới. Năm ngoái đã có 1.2 triệu du khách viếng thăm nước này. Dân cư chỉ sống trên 185 trong số 1200 đảo của Maldives. Các đảo không người ở được hoàn toàn sử dụng cho những mục đích kinh tế trong đó nông nghiệp và du lịch là hai yếu tố chính. Kỹ nghệ du lịch chiếm đến 28 phần trăm tổng sản lượng quốc gia và hơn 60 phần trăm nguồn  ngoại tệ. Hơn 90 phần trăm thu nhập của chính phủ đến từ thuế đánh trên du lịch và hàng nhập cảng. Ngoài ra kỹ nghệ du lịch cũng tạo ra công ăn việc làm và gia tăng thu nhập cho các kỹ nghệ có liên hệ với du lịch. Như một số nhà báo tự do cảnh cáo, kỹ nghệ du lịch của Maldives sẽ chịu thiệt thòi nhiều và như vậy cũng sẽ làm suy yếu kinh tế của nước này nếu hiện tượng cực đoan hóa đe dọa an ninh của du khách.
Trước đây, Maldives đã  được cai trị trong 3 thập niên liền với bàn tay sắt của tổng thống Maumoon Abdul Gayoom. Dù vậy Maldives vẫn được thế giới xem như một nước Hồi giáo ôn hòa. Mãi đến năm 2008, Maldives mới thực sự bước vào thể chế dân chủ. Nhưng với chế độ dân chủ, tự do phát biểu được nới lỏng và đây cũng chính là lúc các ý thực hệ bảo thủ như Hồi giáo Salafi len lỏi vào. Thật ra, tự nó,  Salafi không phải là một hệ phái Hồi giáo cực đoan. Nhưng đây là một hình thức Hồi giáo được du nhập vào Maldives và nhiều nơi khác từ Á Rập Saudi. Vấn đề là hiện nay tất cả mọi đại học và Bộ Hồi giáo của Maldives đều “tuyên xưng” hệ phái Hồi giáo Salafi này. Người ta không ngạc nhiên tại sao ngày nay Maldives đã sản xuất một tỷ lệ chiến binh Hồi giáo cực đoan cao nhất thế giới.
Salafi là một nhánh của hệ phái Hồi giáo Sunni. Những người theo Hồi giáo Salafi chủ trương trở về những truyền thống tiên khởi của Hồi giáo. Không những bảo thủ, họ cũng tỏ ra bất khoan nhượng đối với những người ngoài Hồi giáo và ngay cả những người Hồi giáo không cùng hệ phái. Phần lớn các tín đồ Hồi giáo tại những nước như Qatar, các vương quốc Á rập thống nhất và Á Rập Saudi đều theo Salafi. Riêng tại Á Rập Saudi, mặc dù chỉ là một thiểu số, Hồi giáo Salafi có một ảnh hưởng lớn.
Hồi giáo tại Maldives theo hệ phái Salafi cho nên dễ có khuynh hướng bảo thủ và ngay cả cực đoan.Trong những năm gần đây, bất cứ ai lên tiếng cảnh cáo về hiện tượng cực đoan hóa tại Maldives cũng đều bị đe dọa. Năm 2014, một ký giả Maldives nổi tiếng là ông Ahmed Rilwan Abdulla đã bị bắt cóc vì đã có những bài viết lên án chủ nghĩa cực đoan và kêu gọi thiết lập một thể chế thế tục.
Dạo tháng Năm vừa qua, cảnh sát Maldives cho biết đã bắt giữ 7 nghi phạm trong vụ sát hại nhà báo Rasheed. Tuy nhiên những người thân của ông Rasheed nói rằng họ không hy vọng là vụ án của ông sẽ được giải quyết nếu không có áp lực từ bên ngoài Maldives.
Tháng trước, luật sư đại diện cho gia đình của ông Rasheed đã viết thư gởi cho Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc để kêu gọi mở một cuộc điều tra độc lập.
Cuộc tấn công cuối cùng nhắm vào du khách ngoại quốc đã xảy ra cách đây một thập niên. Một nhóm cực đoan đã cho nổ một trái bom tự chế tại một công viên ở Thủ đô Malé. Nhiều du khách bị thương. Hiện nay, du khách vẫn không được bảo đảm an ninh.
Năm ngoái, có hai khu du lịch đã bị một nhóm người bịt mặt tấn công và trói chặt các nhân viên bảo vệ. Tuy nhiên chính phủ Maldives vẫn luôn lên tiếng khẳng định rằng lực lượng an ninh quốc gia được huấn luyện rất kỹ để đối phó với bất cứ tình huống nào. Chính phủ Maldives cũng cho rằng các nhân viên an ninh trong các khu du lịch không cần phải mang khí giới. Chính các lực lượng an ninh cũng nói rằng không có bằng chứng nào cho thấy có một cuộc tấn công có tổ chức sắp xảy ra trong nước. Tuy nhiên, một cảnh sát viên, xin được dấu tên đã nói với phóng viên của báo The New York Times rằng sự kiện một nữ giáo viên bị cho nghỉ việc vì đã mặc y phục trùm kín từ đầu xuống chân (niqab) và việc Tổng thống Donald Trump ký sắc lệnh không cho công dân của một số nước Hồi giáo vào Mỹ, đã tạo ra náo loạn tại Maldives, là một điều đáng lo ngại. Những diễn tiến như thế có thể đổ thêm dầu vào  ngọn lửa cực đoan hóa hiện đang âm ỉ cháy tại Maldives. Đáng lo ngại hơn nữa khi các chiến binh cực đoan từ các nước Iraq và Syria trở về. Đây là những người rất ghét kỹ nghệ du lịch!
Sự kiện Maldives gia nhập liên minh chống Qatar do Á Rập Saudi lãnh đạo có thể giúp rọi một chút ánh sáng vào hiện tượng cực đoan hóa ngày càng gia tăng tại nước này. Trước khi trở thành một nước Hồi giáo, Maldives đã từng chịu ảnh hưởng lớn lao của Phật Giáo và trước Phật Giáo là Ấn Độ Giáo. Phật Giáo có lẽ đã được du nhập vào Maldives vào Thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Đây là thời kỳ Hoàng đế Ashoka cai trị hầu như toàn lãnh thổ Ấn Độ. Được người dân Maldives đón nhận một cách tích cực, Phật Giáo đã trở thành quốc giáo của Maldives trong suốt một thời kỳ kéo dài cho đến Thế kỷ thứ 12 sau Công nguyên. Các cuộc khảo cổ đã cho thấy di tích Phật Giáo đã có mặt tại rất nhiều đảo của Maldives.
Kể từ Thế kỷ 12 sau Công nguyên, cái lái buôn Á Rập bắt đầu mở rộng thị trường sang Ấn Độ Dương và dĩ nhiên đã đặt chân đến Maldives. Đây là một trong lý do tại sao vị vua Phật giáo cuối cùng của Maldives là Dhovemi đã cảo đạo sang Hồi giáo năm 1153. Sau khi cải đạo, ông đã trở thành một quốc vương Hồi giáo với tên mới là Muhammad al Adill. Ông đã khai mở một loạt sáu triều đại Hồi giáo kéo dài cho đến năm 1932. Người đã khuyến dụ vua Dhovemi cải đạo sang Hồi giáo là một người Hồi giáo thuộc hệ phái Sunni tên là Abu al Barakat. Hiện các sử gia vẫn đang tranh luận với nhau về nguồn gốc của người khách quý này. Người thì nói ông đến từ Bắc Phi. Kẻ lại bảo ông là người Somali. Chỉ có một điều chắc chắn là hiện mộ của ông vẫn còn tại Thủ đô Malé. So với một số khu vực khác tại Nam Á, việc cải đạo của Maldives sang Hồi Giáo tương đối trễ.
Năm 1558, sau khi đặt chân đến Maldives, người Bồ Đào Nha đã cho xây dựng một pháo đài tại đây. Ngoài ra họ cũng tìm cách áp đặt Kitô Giáo lên người dân Maldives. Hành động này đã làm bùng nổ một cuộc nổi dậy của dân chúng Maldives. 15 năm sau, người Bồ Đào Nha đã hoàn toàn bị đẩy ra khỏi Maldives. Người Maldives đã kỷ niệm biến cố này như ngày quốc khánh của họ.
Vào giữa Thế kỷ 17, người Hòa Lan nhào vào thế chân người Bồ Đào Nha để rồi đến năm 1796 lại bị người Anh hất chân ra khỏi Maldives và biến nước này thành một khu vực bảo hộ của họ.
Maldives nằm dưới sự bảo hộ của Anh Quốc cho đến năm 1953. Đây là năm thể chế quân chủ tại nước này bị gián đoạn và trở thành Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của tổng thống tiên khởi là ông Muhammad Amin Didi. Lúc còn làm thủ tướng, ông này đã có công quốc hữu hóa kỹ nghệ xuất cảng hải sản. Khi lên làm tổng thống ông đã có công cải tổ hệ thống giáo dục và thăng tiến quyền của phụ nữ. Tuy nhiên, những người Hồi giáo bảo thủ tại Thủ đô Malé đã lật đổ ông và trong một cuộc nổi loạn vì tình trạng khan hiếm thực phẩm, ông đã bị một nhóm côn đồ hành hung. Ông đã qua đời trên một hòn đảo bên cạnh.
Với chính sách bãi bỏ chế độ thực dân, năm 1965 Anh Quốc đã ký thỏa hiệp với Maldives để chuẩn bị trao trả độc lập cho nước này. Quốc vương Muhammad Fareed Didi tái lập chế độ quân chủ. Nhưng 2 năm sau, Quốc hội nước này đã thảo luận về việc có nên duy trì chế độ quân chủ hay thiết lập Cộng hòa không. Kết quả cuộc biểu quyết cho thấy đa số dân biểu bỏ phiếu ủng hộ việc thành lập cộng hòa. Một năm sau, kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý đã chấm dứt chế độ quân chủ vốn đã kéo dài hơn 8 thế kỷ tại Maldives.
Nền Đệ nhị Cộng hòa do Tổng thống Mamoon Abdul Gayoom lãnh đạo kéo dài trong 3 thập niên. Đây là thời kỳ tương đối ổn định nhất tại nước này. Chính dưới thời của vị tổng thống này mà kỹ nghệ du lịch của Maldives phát triển mạnh và quan hệ ngoại giao của nước này với các nước khác cũng được đẩy mạnh.
Năm 2008, một hiến pháp mới được thông qua và một cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp đã được tổ chức. Lãnh tụ của Đảng Dân Chủ là ông Mohamed Nasheed đắc cử. Nhưng năm 2011, nại đến việc bảo vệ Hồi Giáo, phe đối lập đã mở nhiều chiến dịch chống lại ông và xách động quân đội và cảnh sát đảo chính. Tổng thống Nasheed đành phải từ chức. Không những thế ông còn bị bắt giữ và bị kết án vì tội khủng bố. Nhờ sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc, ông Nasheed mới được trả tự do. Năm 2013, ông Nasheed tái tranh cử và đắc cử. Nhưng Tối cao Pháp viện Maldives đã bác bỏ kết quả bầu cử và cho bỏ phiếu lại. Kết quả cuộc bầu cử đã đưa một người em cùng mẹ khác cha với cựu Tổng thống Gayoom là ông Abdulla Yameen lên làm tổng thống. Ông này có chủ trương kết thân với Trung Cộng và đưa ra chính sách lấy Hồi Giáo làm thuẩn đỡ chống lại các nước Tây Phương. Cánh cửa cực đoan hóa đã từ từ mở rộng. Mây mù đã bắt đầu che phủ trên thiên đàng du lịch của Maldives vì con số các chiến binh người Maldives hiện đang chiến đấu cho “Quốc gia Hồi giáo” tại Trung Đông.

Nguồn: (https://www.nytimes.com/2017/06/18/world/asia/maldives-islamic-radicalismhttps://en.wikipedia.org/wiki/Maldives)