Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Mùa cá tháng Tư



Chu Thập
07.04.17
Buổi tối 31 tháng Ba vừa qua, đứng câu cá một mình trong một góc hồ, tôi nghĩ miên man đến “Cá tháng Tư”. Tôi học được cái trò nói dối và gạt gẫm vô hại nhưng dễ thương này kể từ khi bước chân lên bậc trung học hồi cuối thập niên 1950. Nói chung, trước năm 1975, cứ mỗi tối 31 tháng Ba, tôi thường nằm vắt tay lên trán để suy nghĩ và tìm cho bằng được một lời nói dối thật độc đáo để đánh  lừa người khác, thường là những tên ngây ngô dễ tin và dễ mắc bẫy nhứt. Thích thú  nhứt là khi chính mình bị một ông giáo sư gạt. Nhưng sung sướng hơn vẫn là lừa được một ông giáo sư. Có đau cách mấy thày trò cũng chỉ biết nhìn nhau để cười trừ mà thôi.
Là dân câu cá tôi vẫn thắc mắc không biết tại sao ngày tự do nói láo và gạt gẫm lại được gọi là “cá tháng Tư” (Poisson d’ Avril). Có người giải thích rằng sở dĩ cá được nhắc đến vào ngày đầu tháng Tư  vì đây là lúc chấm dứt thời gian chay tịnh của Kitô Giáo. Trong suốt 5 tuần lễ được gọi là “Mùa Chay”, cá phải là món ăn chính của các tín hữu. Dân hảo cá như tôi cứ đến “Mùa Chay” lại mang mặc cảm tội lỗi vì thấy mình chẳng có “chay tịnh” gì cả! Nhưng tại sao lại gắn liền “cá tháng Tư” với chuyện được phép nói dối để lừa người khác thì tôi vẫn không tìm thấy mối liên hệ nào cả.
Về nguồn gốc của “cá tháng Tư”, tôi thích lối giải thích có liên quan đến  chuyện câu cá hơn. Theo lối giải thích này, tại một số nước ở Âu Châu, mùa câu cá bắt đầu vào ngày mùng một tháng Tư hoặc để cho cá sinh sản, mùa câu cá cũng chấm dứt vào ngày này. Để làm  quà cho dân câu cá và cũng để chế diễu họ một chút chăng, người ta biếu họ một con cá mòi. Món quà lại được kín đáo đặt nhẹ lên lưng người câu cá. Vì dân câu thường mặc những bộ quần áo rộng thùng thình cho nên không hề hay biết có con cá ở phía sau lưng. Con cá mòi  dần dần bị phân hủy và thối rã. Nạn nhân bị chọc quê mà không hề hay biết.  Từ đó mới phát sinh thói quen tặng những món quà nhỏ để chọc cười. Thật ra, các văn khố lịch sử tại nhiều nước ở Âu Châu cho thấy mùa câu khai mạc hay chấm dứt không hẳn vào ngày một tháng Tư. Thành ra lối giải thích trên đây về nguồn gốc của “cá tháng Tư”xem ra cũng không có tính thuyết phục. Dù sao, vì câu cá cũng là một thứ ghiền, dân câu có lúc cũng ngớ ngẩn và liều đến độ chẳng màng đến thời tiết, sóng gió nguy hiểm và giờ giấc cho nên bị tổ trác là chuyện thường. Nếu có  xem dân câu là nạn nhân của “cá tháng Tư” thì cũng hợp lý thôi!
Đã lâu lắm rồi tôi không còn là nạn nhân của “cá tháng Tư” và tôi cũng chẳng còn cảm thấy thú vị để tham gia vào cái trò nói dối vô hại và dễ thương này nữa. Trò chơi này có lẽ đã chấm dứt với tôi  kể từ khi cả nước Việt Nam đã trở thành một thứ ao “cá tháng Tư”. Thật ra, phải nói mùa “cá tháng Tư” đã bắt đầu ở Việt Nam từ năm 1945 khi ổng tổ của dối trá  đọc bản tuyên ngôn độc lập. Ngay từ lúc ấy, Cựu hoàng Bảo Đại đã nhận ra điều đó khi ông ngao ngán tâm sự với Thủ tướng Trần Trọng Kim: “Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn” (x. Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn, Nxb Vĩnh Sơn, 1969, trg 146). Không riêng Cựu hoàng Bảo Đại, Thủ tướng Trần Trọng Kim và không biết bao nhiêu người Việt Nam khác, cả thế giới cũng bị “bọn du côn” đánh lừa trong suốt cuộc chiến Việt Nam. Thế giới bị lừa đến độ trao giải Nobel Hòa Bình cho  đại diện của một chế độ chỉ biết cai trị bằng súng đạn, dùi cui, nhà tù và gây đau thương tang tóc cho cả dân tộc. Ngày nay trong chế độ ấy, từng giờ từng phút người dân cứ phải “ăn cá tháng Tư” của dối trá, lọc lừa  đến độ gần như đánh mất khái niệm về sự thật. Thật vậy, trong một chế độ xây dựng trên sự dối trá, sự thật chỉ còn là một danh từ vô nghĩa.
Tôi không biết thế giới này sẽ đi về đâu khi ngày càng có nhiều nhà lãnh đạo “dân túy”. “Dân túy”, nói như Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo, luôn dẫn đến độc tài, bởi lẽ chế độ độc tài nào cũng xây dựng trên dối trá. Tôi không nghĩ rằng một lãnh tụ “dân túy” như Tổng thống Donald Trump có thể thiết lập được một chế độ độc tài tại Hoa Kỳ, cho dẫu qua những lời tuyên bố, cách hành xử của mình, ông luôn tỏ ra không màng đến sự thật.
“Phải chăng Sự Thật đã chết rồi?” Đó là câu hỏi được đăng trên trang bìa của tạp chí Time số ra ngày 3 tháng Tư vừa qua, sau khi ký giả Michael Scherer của tạp chí này đã có cuộc phỏng vấn kéo dài 20 phút đồng hồ với Tổng thống Trump. Trong cuộc phỏng vấn, Tổng thống Trump tự nhận mình là một người “có trực giác rất mạnh” và trực giác của ông luôn luôn đúng. Chẳng hạn, theo ông, ai cũng bảo rằng bà Hilary Clinton sẽ chiến thắng vẻ vang trong cuộc bầu cử vừa qua, nhưng riêng ông, ông tin chắc rằng mình sẽ thắng và ông đã thắng. Ai cũng bảo rằng người dân Anh sẽ không bao giờ bỏ phiếu để tách khỏi Liên Âu, riêng ông đã tuyên bố ngược lại và ông đã đoán đúng. Ông đã mô tả Thủ đô Brussels, Bỉ Quốc như một “lò khủng bố” và sự thật đã xảy ra đúng như thế.
Nhưng nhà “tiên tri” Trump không phải lúc nào cũng tiên đoán đúng. Chẳng hạn ông khăng khăng bảo rằng Tổng thống Barack Obama đã ra lệnh “nghe lén” ông tại tòa nhà Trump Tower của ông khi diễn ra cuộc vận động tranh cử hồi năm ngoái. Nhưng cho tới nay chẳng có ủy ban điều tra nào tìm ra bằng chứng về cáo buộc này. Cả ông lẫn bộ sậu của ông đều tìm cách cãi chày cãi cối mà không hề nhận rằng mình đã đoán mò hoặc tiếp nhận thông tin từ những nguồn không đáng tin cậy.
“Tiên tri” Trump luôn tỏ ra gàn dở khi biện minh cho những lời tuyên bố vô căn cứ của mình. Chẳng hạn, tại một cuộc biểu tình quy tụ những người ủng hộ ông ở Tiểu bang Florida dạo tháng 2 vừa qua, ông khẳng định như đinh đóng cột rằng “mới tối hôm qua đây” (last night) đã xảy ra một cuộc khủng bố tại Thụy Điển do người di dân (Hồi giáo) thực hiện. Sự thật chẳng có bất cứ một biến cố nào như thế đã xảy ra vào hôm tối trước đó tại Thụy Điển. Chính phủ Thụy Điển đã phải yêu cầu Tòa đại sứ Mỹ tại Stockholm đưa ra một lời giải thích thích đáng về chuyện này. Nhưng vài ngày sau, cảnh sát Thụy Điển có bắt giữ một số người sau khi có xảy ra một cuộc bạo động tại một khu ngoại ô có đông người di dân sinh sống. Chộp được cơ hội, nhà “tiên tri” Trump liền bảo: “Thấy chưa, tôi đã báo trước mà!”
Không bao giờ nhà “tiên tri” này nhìn nhận mình lỡ lời hoặc nói gàn nói dở. Chẳng hạn, ông khẳng định một cách chắc nịch rằng có ít nhứt 3 triệu lá phiếu bất hợp pháp của người di dân lậu đã được dồn cho ứng cử viên Clinton khiến ông phải thua bà này đến cả 3 triệu phiếu phổ thông. Đưa ra một con số mà không có bất cứ bằng chứng nào, nhưng ông vẫn không chịu nhìn nhận rằng mình đã “nói bừa”, ông lại gỡ gạc với ký giả Scherer: “Tôi đang thành lập một ủy ban về chuyện này”.
Theo nhận định của ký giả Scherer, cuộc nói chuyện giữa ông và nhà “tiên tri” càng kéo dài,  thì “sự phân biệt giữa sự thật và dối trá càng lu mờ”. Trong cuộc vận động tranh cử, ông khẳng định rằng thân phụ của Thượng nghị sĩ Ted Cruz đã âm mưu để  ám sát cố Tổng thống John F. Kennedy. Ngày nay sau khi được bầu làm tổng thống, tiên tri “Trump”, người luôn xem các tin tức của các cơ quan truyền thông đại chúng là “giả” và coi truyền thông là “Kẻ thù của nhân dân Mỹ”,  lại nói rằng đây là nguồn tin ông đọc được từ báo The National Enquirer. Điều mỉa mai là tại Mỹ ai cũng biết rằng đây  là một tờ báo lá cải không đứng đắn!
Khi ký giả Scherer gợi ý rằng ông phải lên tiếng xin lỗi vì những lời tuyên bố như thế, nhà “tiên tri” liền nói: “Tôi chỉ trích dẫn báo chí mà thôi”.
Theo ghi nhận của ký giả Scherer, lúc còn là một doanh gia, Tổng thống Trump luôn đề cao điều mà ông gọi là “dối trá chiến thuật” (strategic falsehood). Ông luôn cố tình nói lên những điều không thật để thu hút thính giả. Và cũng với tật cố hữu là không bao giờ nhìn nhận mình sai lầm để phải lên tiếng xin lỗi, ông lại ngụy biện và nói quanh co. Chẳng hạn, dưới thời Tổng thống Obama, Bộ Lao Động cho công bố một thống kê cho thấy có sự hạ giảm trong tình trạng thất nghiệp tại Hoa Kỳ. Tổng thống Trump liền nói rằng đây là một con số thống kê giả hiệu. Thế rồi, mới đây khi cũng chính Bộ Lao Động này đưa ra bằng chứng cho thấy nạn thất nghiệp đã giảm, Tổng thống Trump liền nhận định xuyên qua một phát ngôn viên: “Trước kia con số này có thể sai, nhưng nay thì rất đúng”. Đúng như người Việt Nam thường nói, “miệng nhà quan có gan có thép”, nghĩa là muốn nói sao cũng được, muốn lộng giả thành chân cũng được. Nhưng bình luận về việc xem thường sự thật của Tổng thống Trump, báo The Wall Street Journal xem ra đã vẽ ra một chân dung chính xác hơn khi so sánh ông với “một gã say rượu, cố bám vào một chai rượu Gin trống rỗng, nhưng đầy những chuyện bịa đặt”.
Nhưng liệu “tiên tri” Trump có thể tiếp tục cho người dân Mỹ ăn “cá tháng Tư”mãi như thế không? Triết gia Hannah Arendt (1906-1975), như được tạp chí Time trích dẫn, có nói rằng “Sự Thật có tính độc tài”. Chính vì vậy mà Sự Thật luôn bị các bạo chúa thù ghét. Theo ký giả Scherer, “mặc dù Tổng thống Trump chỉ xuất hiện như một bạo chúa trong đầu óc của những người chống đối ông kịch liệt nhứt, trong thực tế ông thường ăn nói chẳng khác nào một bạo chúa”. Bước vào tuần lễ thứ 3 sau khi nhậm chức tổng thống, ông đã bắn đi một thông điệp trên Tweeter như sau: “Bất cứ cuộc thăm dò tiêu cực nào cũng đều là tin giả”. Tỷ lệ  ủng hộ của dân chúng Mỹ dành cho ông như được Viện thăm dò dư luận Gallup công bố đã xuống dưới mức 40 phần trăm sau khi Hạ Viện do Đảng Cộng Hòa của ông kiểm soát đã không thông qua được chương trình bảo hiểm y tế của ông.
Một mức ủng hộ thấp như thế cho thấy người dân Mỹ đã bắt đầu chán “cá tháng Tư” của Tổng thống Trump. Nền tảng vững chắc của quốc gia có nền dân chủ lâu đời nhứt thế giới này vẫn là Sự Thật. Chính vì vậy mà thế hệ người Mỹ nào cũng đều thuộc nằm lòng huyền thoại về cây đào của vị tổng thống tiên khởi của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ là George Washington. Theo câu chuyện được truyền tụng, khi được 6 tuổi, cậu bé Washington đã được tặng cho một chiếc rìu. Một hôm cậu bé đã lỡ tay chặt đứt cây đào của cha cậu. Người cha đã nổi giận. Ông muốn biết ai là thủ phạm. Cậu bé Washington đã đến trước mặt cha và nói: “Con không thể nói dối. Chính con là người đã dùng rìu để đốn cây đào”. Người cha liền ôm cậu con trai vào lòng và nói rằng sự lương thiện của con mình còn có giá trị hơn cả ngàn cây đào.
Trong mắt tôi, lúc nào Hoa Kỳ cũng vĩ đại. Có mất đâu mà phải “làm cho vĩ đại trở lại”! Vĩ đại ở chỗ được xây dựng trên Sự Thật và sự lương thiện, nhứt là của những nhà lãnh đạo đất nước. Mà đâu chỉ có một quốc gia hùng mạnh mới vĩ đại. Con người ai cũng có thể trở thành “vĩ đại” nếu họ sống cho Sự Thật cho đến cùng.









Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Nói lời phải giữ lấy lời…


Chu Thập
10.09.13

Không hiểu tại sao lúc nhỏ tôi thường nghe người lớn nói: “nhà báo nói láo ăn tiền”. Thời tiểu học, vì “bận” trốn học cho nên tôi không có giờ để đọc báo. Lên trung học, nhứt là vào thời Đệ nhị cộng hòa, thỉnh thoảng tôi cũng cầm tờ “nhựt trình” hàng ngày của cha tôi để lướt qua bản tin “từ thành đến tỉnh”. Trước khi Việt cộng đến, Miền Nam Việt Nam cũng có đến cả chục tờ báo. Không biết mấy ông nhà báo thời đó có “nói láo”không. Nhưng ít nhứt báo độc lập và đối lập thì không thiếu. Mãi cho đến sau 75, tôi mới ngộ ra thế nào là “nhà báo nói láo ăn tiền”. Chuyện mấy ông nhà báo Việt cộng ngồi nhà rung đùi, nhậu nhẹt, hút xách mà vẫn có thể viết được phóng sự về các biến cố xảy ra ở đâu đâu là chuyện chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Có ông còn viết phóng sự trước khi xảy ra biến cố nữa là! Mấy ông nhà báo cộng sản nói láo hay đến độ thời mồ ma cộng sản Liên Xô, dân chúng Nga phải kéo nhau đến tòa soạn báo “Pravda” (Sự Thật) để mua thực phẩm. Biết đâu một dạo người dân cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chẳng chạy đến tòa soạn báo “Nhân Dân” để xếp hàng chờ mua thực phẩm theo chế độ tem phiếu!


Ngày nay, ở nước ngoài, tôi thấy “nói láo ăn tiền” đối với nhà báo không phải là chuyện dễ đâu. Có chuyện gì mà người ta không kiểm chứng được. Viết bậy, viết láo, nếu không bị kiện cáo, đòi bồi thường hay đi tù thì cũng bị “treo bút” như chơi. Chắc vì sợ bị kiện mà nhà báo ở Úc cũng không “nói láo” cho lắm nên được xếp hạng 43, cũng đỡ khổ.

Trong các thứ nghề, tôi nhận thấy có lẽ chỉ có nghề quảng cáo là được phép “nói láo ăn tiền” mà thôi. Đây cũng là một thứ nghề được phép quấy rầy người khác mà không sợ bị tẩy chay. Ngày nay, có chạy đàng nào cũng không tránh khỏi phải thấy hay nghe quảng cáo. Cứ bước ra ngõ là đã thấy quảng cáo. Cứ vào Internet ra là bị bao vây bởi quảng cáo. Và nhứt là cứ mở truyền thanh truyền hình ra là bị oanh tạc bởi quảng cáo. Có lúc tôi ngồi tính xem mỗi ngày mình phải “bị” tra tấn bởi quảng cáo bao nhiêu lần: có lẽ không dưới một trăm lần! Chỉ riêng khi ngồi trước màn ảnh truyền hình, đặc biệt là khi theo dõi một chương trình giải trí hay học hỏi, trung bình cứ 5 phút là phải xem và nghe một loạt quảng cáo cũng có một thời lượng tương đương với những gì mình đang thưởng thức. Xem một chương trình kéo dài nửa giờ, mình phải chịu đựng các màn quảng cáo cũng đến nửa giờ hoặc hơn. Ngoại trừ thơ nhi, có lẽ chẳng có ai muốn “thưởng thức” các chương trình quảng cáo cả. “Quảng cáo” đã chẳng đồng nghĩa với “nói láo” hay “ba xạo” đó sao. Thế giới của quảng cáo là thế giới không tưởng trong đó chuyện gì cũng có thể xảy ra được cả. Phục mấy ông bà quảng cáo: họ có óc tưởng tượng phong phú đến độ chuyện gì cũng vẽ ra được. Cái sướng của họ là được quyền nói láo “như thiệt” mà chẳng sợ bị ai tố cáo hay tẩy chay cả.

Dĩ nhiên, vì biết quảng cáo là “nói láo ăn tiền” cho nên chẳng mấy ai tin họ. Chẳng thế mà trong 30 thứ ngành nghề trong xã hội, quảng cáo, bán xe, bán bảo hiểm, bán nhà…là bốn nghề ít được dân chúng Úc tin tưởng nhứt.Nhưng kể cũng lạ. Bất cứ cuộc thăm dò nào về lòng tin của dân chúng Úc đối với các ngành nghề trong xã hội cũng đều xếp các chính trị gia ngang ngửa với quảng cáo và mấy nghề trên đây. Thì ra làm chính trị là phải biết nói láo. Ai nói láo hay, nói láo mà thuyết phục được người nghe thì người đó thắng. Một chính sách được một Đảng chính trị hay một lãnh tụ chính trị đề ra có khác gì với một màn quảng cáo về hàng hóa đâu. Cứ nghe hay đọc thử một cương lĩnh của một ứng cử viên hay một đảng phái trong mùa bầu cử ở bất cứ nơi nào trên thế giới tự do, thì nói như kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa khi nhận định về chương trình hành động của tổng thống Barack Obama trong nhiệm kỳ đầu, người ta cũng có thể mang cả cung trăng ra mà rao bán nữa! Nói theo Á Đông chúng ta thì quảng cáo trong chính trị cũng chẳng khác với “sơn đông mãi võ” bao nhiêu.

Về vị tổng thống người Mỹ gốc Phi Châu đầu tiên này, nhân cuộc khủng hoảng tại Syria, người ta lại bắt đầu nghi ngờ về thiện chí xây dựng hòa bình của ông. Ông đã đắc cử một phần vì đã chống lại chiến tranh Iraq mà ông gọi là một “cuộc chiến ngu xuẩn”. Khai mở nhiệm kỳ đầu tiên, ông đã đi khắp nơi, nhứt là đến thế giới hồi giáo để đưa bàn tay ra để đối phương cũng phải mở rộng bàn tay ra bắt lấy. Những thành tựu về hòa giải của ông đã xứng đáng để mang về cho ông giải thưởng Nobel Hòa Bình. Nhưng nếu con đường nào cũng dẫn ông tổng thống “diều hâu” George Bush Jr đến thủ đô Bagdad của Iraq thì một Obama khôi nguyên của giải thưởng Nobel Hòa Bình cuối cùng cũng đành chọn con đường dẫn đến Damascus của Syria, tức con đường của sức mạnh bạo lực thay cho lý trí. Đa số người dân Mỹ chống lại việc trả đũa hay trừng phạt Syria vì đã xử dụng vũ khí hóa học để sát hại chính dân mình. Nhiều tổ chức dân sự và tôn giáo trên khắp thế giới cũng lên tiếng kêu gọi Hoa Kỳ hãy tự chế. Nhưng cho tới nay, tổng thống Obama vẫn một mực yêu cầu Quốc Hội ủng hộ quyết định của ông nhằm tấn công vào Syria.

Con người “hòa giải” và không ngừng lên án chiến tranh như tổng thống Obama cuối cùng rồi cũng hiện nguyên hình là một người hiếu chiến. Làm chính trị mà tuân giữ cam kết và những lời hứa đâu phải là chuyện dễ. Có lẽ cũng vì vậy mà người dân Úc không đặt niềm tin nơi các chính trị gia. Chỉ cần nhìn lại lịch sử gần đây của quốc gia miệt dưới này, cũng đủ để thấy rằng các lãnh tụ chính trị là người “nuốt lời” dễ hơn bất cứ hạng người nào trong xã hội. Từ ông John Howard đến ông Rudd, rồi bà Gillard, có vị thủ tướng nào mà chẳng hứa hẹn và thề thốt đủ điều, nhưng liền sau đó sẵn sàng quên bẵng đi những gì mình đã cam kết.

Liệu tân thủ tướng Tony Abbott, người đã từng được mệnh danh là “ông thày dòng điên”, có phải là một ngoại lệ không? Ông đã cam kết tái lập niềm tin nơi dân chúng. Dân chúng đã đặt tin tưởng nơi ông. Nhưng tôi vẫn lo ngại rằng trong cái nghề vốn chỉ ngang ngửa hay đứng trên nghề quảng cáo, bán xe hơi, bán bảo hiểm và bán nhà một chút về “chữ tín”, rồi ra ông tân thủ tướng của tôi có lẽ cũng sẽ “xí xóa” để “nuốt lời” và thanh minh rằng vì tình thế không cho phép cho nên buộc lòng phải “nuốt lời” mà thôi.Có những nghề như y tá hay bác sĩ chẳng hạn được dân chúng đặt tin tưởng vào hầu như tuyệt đối. Nhưng lý do hiện hữu của họ không phải là lòng tin của người khác cho bằng chính lương tâm chức nghiệp.  Họ làm việc vì sự đòi hỏi của lương tâm hơn là vì niềm tin của người khác.Trong khi đó, những người phải dùng ba tấc lưỡi của mình để thuyết phục người khác thì chắc chắn chỉ có thể sống còn nhờ vào lòng tin của người khác mà thôi. Người khác tin tưởng, họ được bầu chọn và tưởng thưởng. Người khác không tín nhiệm, họ ngả nghiêng và bị tẩy chay. Đó là số phận tất yếu của những người không đáp trả lại niềm tin tưởng của người khác bằng “chữ tín”.

Tôi liên tưởng đến câu chuyện của một tên trộm bất đắc dĩ phải làm thiền sư. Một phú ông nọ có một ao cá. Ngày nọ, trong cơn túng quẩn, một anh nông dân đã xâm nhập vào vườn của ông để bắt trộm cá trong ao. Không may cho anh, vì nghi ngờ có người lẻn vào lãnh địa của mình cho nên phú ông mới sai gia nhân đi lùng sục khắp trong vườn. Trông thấy đèn đuốc sáng trưng đang tiến về phía mình, tên trộm cá biết mình đang bị săn bắt. Nhưng vốn là một người thông minh, anh liền cởi phăng áo ra và lấy bùn dưới ao trét lên người. Sau đó, anh rón rén đến ngồi dưới một gốc cây bên cạnh bờ ao, mắt nghiền nhắm lại như thể đang ngồi thiền. Sau một hồi tìm kiếm, toán gia nhân của phú ông không nhận ra dấu hiệu nào cho thấy có người xâm nhập gia cư bất hợp pháp hay trộm cắp, mà chỉ thấy có một người đàn ông đang trong tư thế thiền định. Họ về thuật lại cho phú ông nghe. Nghe thế phú ông rất vui mừng vì tin rằng có một tu sĩ “đạo đức” đã chọn dinh cơ của ông làm nơi thiền định. Ông liền chạy ra bờ ao và cung kính dâng lên cho vị tu sĩ những phẩm vật quý giá nhứt để bày tỏ tấm lòng thành kính của mình. Ngày hôm sau, tin tức về “vị tu sĩ vĩ đại” đã được lan truyền đi khắp vùng. Người ta đổ xô đến để kính bái vị tu sĩ và dâng cúng cho ông hoa trái cũng như tiền bạc. Người nông dân nghèo cùng đường bất đắc dĩ phải chọn con đường tu trì nghĩ bụng: “Từ nay mình có thể ngồi yên sống bằng niềm tin của mọi người thay vì phải lao nhọc vất vả như trước”. Và thế là anh tiếp tục ngồi dưới gốc cây bên cạnh ao cá của phú ông để thiền định và tận hưởng sự cung phụng của dân chúng.

Thật ra đâu có riêng gì trong lãnh vực tôn giáo người ta mới sống nhờ niềm tin của người khác. Trong ngành nghề, trong địa vị nào trong xã hội hay trong hoàn cảnh nào, con người cũng cần được người khác tin tưởng. Nhưng bù lại, để được người khác tin tưởng, mình cần phải tỏ ra là người đáng tin tưởng.

Người trọng “chữ tín” là người giữ điều mình hứa hẹn và cam kết. Cha ông chúng ta đã chẳng dạy: “Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay” sao. Trọng chữ tín là một phẩm chất cao quý của con người. Học lõm bõm vài chữ Hán, tôi cũng biết rằng “Chữ Tín” được kết hợp bởi bộ “Nhân” và chữ “Ngôn”, hàm ý rằng lời nói của con người cần phải phù hợp với hành vi, nghĩa là nói sao phải làm vậy mới tạo được lòng tin nơi người khác. Điều này có giá trị đặc biệt trong chính trị, tức việc trị nước. Một quốc gia có thể sụp đổ nếu không được xây dựng trên lòng tin. Giàu có thịnh vượng đến đâu, một quốc gia vẫn đánh mất “linh hồn” của mình nếu không có chữ tín.

Sách Luận ngữ có chép rằng một hôm một trong những đệ tử trung thành của Đức Khổng Tử là Tử Cống hỏi ngài rằng đâu là những yếu tố giúp thành công trong việc cai trị đất nước. Đức Khổng Tử kể ra 3 điểm quan trọng là: phải có đủ lương thực, phải có đủ binh lính và được lòng dân. Tử Cống lại hỏi: Nếu bất đắc dĩ phải bỏ một trong ba yếu tố đó thì thứ nào cần phải bỏ trước. Đức Khổng Tử trả lời: “Bỏ binh lính”. Tử Cống lại hỏi: “Nếu bất đắc dĩ phải bỏ thêm một điều nữa thì phải bỏ điều gì?” Đức Khổng Tử nói: “Bỏ lương thực”. Rồi ngài giải thích: “Từ xưa đến nay, ai cũng phải chết. Nhưng nhân dân mà mất niềm tin thì nước không đứng vững được”.

Bài học của Đức Khổng Tử không chỉ áp dụng vào việc cai trị đất nước, mà cũng có giá trị cho cuộc sống của từng cá nhân. Người bạo động, nghĩa là chỉ biết có sức mạnh của bạo động không phải là người có dũng lực thật sự. Bạo động là dấu hiệu của sợ hãi và yếu nhược. Người giàu có của cải vật chất cũng không đương nhiên là người hạnh phúc. Quyền lực, nhứt là quyền lực do của cải vật chất mang lại, chỉ là thứ quyền lực chóng tàn. Trái lại, người có “chữ tín” sẽ có tất cả. Giữ chữ tín là không để “mất” chính mình.Tôi cứ suy gẫm về câu chuyện của một bà cụ bán rau nghèo ở một gốc phố nào đó tại Hà Nội. Nhiều cô gái “chảnh” dừng lại nhìn các bó rau rồi nói như tát nước vào cụ: “Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn”. Cám cảnh trước hoàn cảnh đáng thương của cụ bà, một người đàn ông tốt bụng đã bỏ ra mười ngàn để mua hết mớ rau của bà. Nhưng vì phải đi làm, ông nhờ bà giữ giùm để chiều về sẽ trở lại lấy mớ rau. Nhưng rồi vì bận việc, ông đã quên trở lại. Vài tuần sau, ông có việc phải đi qua chỗ bà cụ ngồi bán rau, nhưng không thấy cụ đâu cả. Hỏi ra mới biết buổi chiều hôm đó, bà cụ ngồi dưới mưa bên mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng cụ nhứt quyết không bán…Nghe đâu cụ bị cảm lạnh và qua đời.

Cụ đâu biết rằng mình đã vô tình mang cả chữ tín ra khỏi xã hội Việt nam.          

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Nạn tảo hôn tại một vài nơi trên thế giới


07.04.17

Theo một thống kê được báo Spiegel, Đức, trích dẫn, mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 15 triệu thiếu nữ vị thành niên trở thành vợ. Trung bình, cứ mỗi phút có khoảng 28 em bị cưỡng bách phải kết hôn. Đây là số phận được một số thiếu nữ vị thành niên tại các nước Ethiopia, Ấn Độ và Ba Tây chia sẻ với phóng viên Natalia Otero của báo  Spiegel.
Abaynesh là một trong số rất nhiều cô dâu vị thành niên tại Ethiopia. Người vợ trẻ này cho biết: liền sau khi kết hôn, cô muốn được tiếp tục cắp sách đến trường, nhưng gia đình cô và gia đình chồng đều không cho phép cô làm điều đó. Hiện Abaynesh phải sống với chồng trong một ngôi nhà tranh vách đất tại một làng quê nghèo ở Gindero thuộc Tỉnh Ambara, miền Tây Bắc Ethiopia. Tài sản của cập vợ chồng trẻ này gồm vỏn vẹn 2 con lừa. Họ nghèo đến độ chẳng sắm nổi một chiếc đồng hồ để coi giờ. Mỗi buổi sáng, khi mặt trời chưa lên, người vợ 14 tuổi đã phải thức dậy và ra bờ sông để kín nước. Mặc dù bụng mang dạ chửa, cô phải mang trên đôi vai gầy một chum nước nặng hơn 20 ký.
Bị cưỡng bách kết hôn khi chỉ mới được 11 tuổi, tên Abaynesh của cô đã bị gia đình chồng bắt đổi thành Jemata. Cô dâu trẻ rất muốn giữ lại tên Abaynesh vì nó tượng trưng cho khát vọng của cô là muốn được học hành và trở thành một bác sĩ. Nhưng cùng với tên của mình, giấc mộng được học hành của cô cũng đã tan thành mây khói.
Tại Ethiopia, các cô gái vị thành niên thường bị cưỡng bách kết hôn bằng 2 cách. Thông thường nhất là thông qua sự dàn xếp giữa hai gia đình. Cách thứ hai cũng thường xảy ra là bị bắt cóc. Nếu một cô gái vị thành niên không chịu kết hôn, người đàn ông  muốn lấy cô làm vợ sẽ bắt cóc cô. Khi xảy ra một vụ bắt cóc như thế, cha mẹ của cô dâu không còn một chọn lựa nào khác hơn là chấp nhận việc đã rồi, bởi vì truyền thống và danh dự gia đình đòi hỏi họ phải làm như thế.
Có đến 41 phần trăm phụ nữ Ethiopia tuổi từ 20 đến 24 bị cưỡng bách kết hôn khi còn là trẻ con. Cũng theo thống kê, cứ 4 phụ nữ Ethiopia thì có 3 người tuổi từ 15 đến 49 đã phải trải qua một cuộc giải phẩu để cắt âm vật. Abaynesh là một trong số phụ nữ như thế. Cô đã bị giải phẩu để cắt âm vật chỉ vài ngày sau khi chào đời.
Những tập tục như thế hiện vẫn còn tại hơn 20 nước trên thế giới mà phần lớn là Phi Châu. Đôi khi bị cắt âm vật được xem như một điều kiện để kết hôn.
Chuyện bị cưỡng bách phải kết hôn khi còn ở tuổi học trò của Abaynesh ở Ethiopia cũng giống như trường hợp của Ramgani ở Ấn Độ. Chia sẻ câu chuyện của mình với phóng viên của báo Spiegel, Ramgani nói: “Tôi muốn được học xong trung học”. Việc nhà nhiều đến nỗi Ramgani làm không xuể cho nên luôn đến trường trễ. Cô chỉ vừa mới được 18 tuổi, nhưng đã lập gia đình khi vừa tròn 14. Gia đình chồng đã bắt cô phải về ở chung với họ. Câu chuyện của cô là một cuộc chiến đấu triền miên để vượt qua só phận. Đó là số phận của người phụ nữ sinh ra trong một ngôi làng nhỏ thuộc Quận Bilwara, Tiểu bang Rajasthan, miền Tây Ấn Độ.
Trong Tiểu bang Rajasthan có đến 65 phần trăm phụ nữ tuổi từ 20 đến 24 đã phải lập gia đình trước khi được 18 tuổi. Nhìn chung, trên toàn quốc, có khoảng 26 triệu phụ nữ Ấn Độ lập gia đình ở tuổi vị thành niên.
Kailash Brijwash là giám đốc của Jatan, một tổ chức đã từng hoạt động trong 15 năm qua để tìm cách chấm dứt nạn tảo hôn tại Ấn Độ. Ông nói rằng những con số trên đây chỉ phản ảnh những dữ kiện được chính phủ thu thập. Thật ra con số các thiếu nữ lập gia đình ở tuổi vị thành niên tại Ấn Độ còn cao hơn nhiều.
Ramgani thuộc Sắc tộc Jat, phần lớn tập trung tại những vùng nông thôn Bắc Ấn Độ và Pakistan. Theo truyền thống của sắc tộc này, giữa vợ chồng không hề có sự bình đẳng. Chẳng hạn, nếu người chồng ngồi trên ghế thì người vợ phải ngồi dưới đất; trong nhà nếu người chồng đứng thì người vợ cũng phải đứng cho đến khi người chồng ra khỏi nhà. Truyền thống này là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tệ nạn tảo hôn.
Gia đình Ramgani có tất cả 9 chị em gái. Tất cả 9 cô đều lập gia đình theo những nghi thức kéo dài trong nhiều ngày. Một trong những đứa em của Ramgani, tuy mới được 11 tuổi, cũng đã phải đến ở nhà chồng.
Tại Ấn Độ, gia đình cô dâu phải nộp của hồi môn và đứng ra tổ chức hôn lễ. Để bớt tốn phí, các gia đình thường tổ chức đám cưới tập thể cho các cô gái trong gia đình. Nhiều em gái nhỏ cũng đành phải nối gót các chị để về nhà chồng.
Thông thường, vì phải kết hôn lúc còn quá nhỏ, các cô dâu trẻ được phép ở lại với gia đình cho đến tuổi dậy thì. Một khi rời bỏ gia đình, các cô dâu trẻ phải lo việc nhà trong nhà chồng. Rất ít em được tiếp tục học hành như trường hợp Ramgani.
Trong gia đình nhà chồng, Ramgani nhìn thấy các cô em chồng được cắp sách đến trường, còn mình thì thông. Cô không thể chấp nhận số phận ấy cho nên đã nói chuyện với chú của mình. Ông này đã cùng với cha cô thuyết phục gia đình nhà chồng cho phép Ramgani được trở về gia đình và tiếp tục đi học.
Nhưng không phải tất cả mọi cô dâu trẻ ở Ấn Độ đều được may mắn như Ramgani. Arti Khatik, mặc dù chỉ mới 16 tuổi, đã là mẹ của đứa trẻ 10 tháng tuổi. Khatik lập gia đình khi cô chỉ mới được 7 tuổi. 6 hay 7 năm sau cô mới về nhà chồng. Khatik kể lại rằng cô bị chồng cưỡng hiếp và mất trinh năm 14 tuổi. Ngày nay, cô chỉ còn một mơ ước là thoát khỏi tay người chồng này. Suốt ngày anh ta rượu chè be bét mà chẳng màng đến đứa con. Có chăng là mỗi khi anh ta muốn có quan hệ tình dục với người vợ.
Trên nguyên tắc, luật pháp ở Ấn Độ rất nghiêm khắc về vấn đề tảo hôn. Theo luật, phụ nữ  phải được 18 tuổi mới được phép kết hôn. Còn đối với đàn ông, tuổi hợp pháp để lập gia đình phải là 21. Tuy nhiên, một đại diện của Chính phủ Ấn Độ tại Quận Bilwara nói rằng luật này không bao giờ được áp dụng.
Theo ông Brijwash, chỉ có giáo dục may ra mới giúp chấm dứt được tập tục tảo hôn. Tổ chức Jatan mà ông Brijwash là người sáng lập hiện đang gây ý thức nơi giới trẻ Ấn Độ về quyền của phụ nữ. Nhờ được hiểu biết như thế, nhiều thanh niên Ấn Độ đã tranh đấu để ngăn chận việc tảo hôn đối với những người em gái của mình.
Được trở về gia đình cha mẹ để tiếp tục học hành, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất hiện nay của Ramgani. Cô biết rằng gia đình chồng lúc nào cũng muốn cô trở về nhà chồng. Cô nói: “Nếu họ (gia đình chồng) bắt tôi phải trở lại với chồng tôi, tôi sẽ chạy trốn”.
Trong chuyện tảo hôn của Abaynesh ở Ethiopia hay chuyện của Ramgani ở Ấn Độ đều có sự can thiệp và dàn xếp của chính gia đình các cô. Tại Ba Tây, việc cưỡng bách kết hôn đối với các thiếu nữ vị thành niên diễn ra trong một cách thế khác.
Nayane và người em song sinh Nayara của mình hiện đang sống chung với cô trong một căn phòng tồi tàn tại Parque União, trong khu ổ chuột Maré, phía bắc Thành phố Rio de Janeiro. Nayane đang đặt ngồi trên đùi mình đứa con gái nhỏ chỉ mới 10 tháng tuổi.
Hai chị em song sinh Nayane và Nayara hiện chỉ mới được 15 tuổi, nhưng không được cắp sách đến trường. Khi trao đổi với phóng viên của báo  Spiegel, Nayane đang chuẩn bị để tham dự một buổi nhạc kích động. Chính tại một buổi nhạc kích động như thế mà em đã gặp người cha của đứa con của mình. Người mẹ trẻ này vẫn còn in hình của người đàn ông trên chiếc áo thun của cô. Người đàn ông này đã từng tham gia buôn bán ma túy và bị giết chết trong một cuộc bố ráp của cảnh sát Ba Tây cách đây 6 tháng. Cùng sống chung với cô, từ 3 tháng qua, người chị em song sinh của cô là Nayara  không được phép rời khỏi nhà. Đây là lệnh trừng phạt do “Lãnh tụ Đỏ” (Red Command), một  băng đảng ma túy hiện đang kiểm soát trong khu ổ chuột, đề ra. Sở dĩ Nayara bị trừng phạt là vì cô có quan hệ với một người thuộc một băng đảng thù nghịch của “Lãnh tụ Đỏ”.
Ba Tây hiện đang đứng hàng thứ tư trên thế giới về con số các em gái vị thành niên bị cưỡng bách kết hôn. Gần một triệu phụ nữ tuổi từ 20 đến 24 lập gia đình khi chưa được 15 tuổi và 3 triệu phụ nữ kết hôn trước khi đủ 18 tuổi. Tại Ba Tây, tuổi tối thiểu để kết hôn là 16, nhưng với điều kiện phải có sự ưng thuận của cha mẹ. Tuy nhiên, hạn tuổi này có thể hạ thấp trong trường hợp các cô gái có mang.
Mang thai ở tuổi vị thành niên là một lý do để kết hôn tại nhiều nước. Nhưng tại Ba Tây đây là lý do chính. Theo bà Vanessa Fonseca, điều hợp viên của một tổ chức phi chính phủ có tên là Promunda, có hai lý do chính khiến các cô gái vị thành niên muốn kết hôn: một là được ổn định về kinh tế, hai là được tự do.
Khác với các nước khác, như trường hợp Ethiopia hay Ấn Độ, các cuộc kết hôn của các cô gái vị thành niên tại Ba Tây thường không được tổ chức một cách công khai. Các cô gái thường tự động kết hôn và tìm cách “thoát ly”.
Nayane chưa bao giờ chính thức kết hôn với người đàn ông là cha của đứa con của mình. Nhưng cô cho biết các bạn của cô thường tìm cách “thoát ly” để đến sống với người bạn tình của họ. Họ làm như thế để thoát khỏi sự kiểm soát của cha mẹ mình.
Mặc dù không bị cưỡng bách kết hôn như  tại Ấn Độ và Ethiopia, các bé gái Ba Tây cũng phải đối mặt với nhiều hệ lụy do thoát ly và kết hôn trước khi trưởng thành. Các em phải bỏ học, hứng  chịu sự bạo hành của chồng. Ngoài ra vì mang thai ở tuổi vị thành niên, các em cũng gặp nhiều vấn đề về sức khỏe. Đây là vấn đề mà xã hội và các tiểu bang tại Ba Tây không muốn biết đến.
Christiane là một phụ nữ  đã kết hôn sau khi có mang lúc chỉ mới 16 tuổi. Chị hiện đang sống trong cùng một khu ổ chuột như Nayane.  19 năm sau khi kết hôn ở tuổi vị thành niên, người phụ nữ này đã tái hôn và có thêm hai đứa con với người chồng sau. Chị nói rằng đây là một thứ vòng lẩn quẩn cứ tiếp diễn không ngừng. Theo chị, sở dĩ các trẻ em gái bỏ nhà ra đi và kết hôn sớm là vì các em muốn trốn khỏi gia đình trong đó các em bị bạo hành cũng như thiếu tình thương của cha mẹ.
Các bạn của Nayane, người nào cũng phấn son lòe lẹt. Họ đến để đón cô đi dự buổi ca nhạc. Tiếng đàn tiếng trống đã làm rộn cả xóm. Những con đường nhỏ trong khu ổ chuột đầy ứ thanh thiếu niên, có em chỉ mới 12 tuổi. Họ đến đó không chỉ để nghe nhạc, mà còn để uống rượu, hút thuốc và dĩ nhiên cũng sử dụng ma túy. Và có thể họ cũng có cả quan hệ tình dục nữa. Đó là bức tranh điển hình của những khu ổ chuột tại các thành phố lớn ở Ba Tây, nơi các thiếu nữ ở tuổi vị thành niên do có mang phải kết hôn hoặc kết hôn để thoát ly khỏi sự ràng buộc và kiểm soát của gia đình.

(Tổng hợp từ báo Spiegel Online)


Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

Nào ai lấy thước mà đo lòng người


Chu Thập
31.03.17
Mới đây tôi có nghe báo chí ở Việt Nam cũng như của người Việt hải ngoại nhắc đến tên của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Trước năm 1975, những người thuộc thế hệ của tôi, nếu không trực tiếp đọc một số tác phẩm của bà, thì ít nhứt cũng nghe nói đến bà, một trong những ngôi sao sáng trong bầu trời văn học Miền Nam.
Theo một bản tin của báo Tuổi Trẻ trong nước được một số báo của người Việt hải ngoại trích thuật, toàn bộ sự nghiệp của bà, vốn sau năm 1975 bị xếp vào loại văn hóa đồi trụy, nay đã được Công ty Sách Phương Nam mua tác quyền để cho in lại. Điều này có nghĩa là chế độ cộng sản đã “xá giải” cho bà.
Nhưng bản tin trên đây không làm tôi chú ý cho bằng cuộc phỏng vấn qua đó nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ cho biết trước năm 1975, bà “viết văn là để nuôi 4 đứa con, trong đó có một đứa bị tàn tật”. Bà kể: “Mấy đứa con được tôi giao đứa lớn trông đứa nhỏ, đến chiều về nhà, có hôm thấy đứa con bị tàn tật đói nằm trên vũng nước đái, thiệt tôi muốn chết cho rồi”. Sau năm 1975, dù là con gái của một cán bộ kháng chiến, bà không thể tiếp tục cầm bút, mà phải bươn chải với những công việc cực nhọc như buôn bán vặt, làm lơ xe đò, làm rẫy, chăn dê, trồng cà phê để nuôi con, nhứt là đứa con gái đang sống đời thực vật. Điều khiến tôi cảm động và cũng thắc mắc nhiều nhứt là khi nhà văn nay đã ngoài 80 tuổi này  giải thích: “Vậy mà chính đứa con tàn tật này lại là đứa nuôi tôi vào lúc tuổi già”.
Tôi chưa hình dung được người con gái tàn tật và đang sống đời thực vật này “nuôi” mẹ mình như thế nào. Nhưng tôi tin chắc rằng một người tàn tật, dù dưới mắt người khác, nếu không là gánh nặng thì cũng chẳng làm nên tích sự gì, cũng  vẫn có thể mang lại nguồn vui và lẽ sống cho người thân của mình. Tôi rất thường nghĩ đến gương mặt của người con gái bị “đao” (Down Syndrome) mà tôi gặp hầu như mỗi ngày ở ngã ba phía trước nhà. Gọi là “cô gái” vì trông cô chẳng khác nào một thiếu nữ vị thành niên. Nhưng thật ra, theo giải thích của người cha mà tôi đã có dịp trao đổi, ít nhứt cô cũng đã bước vào tuổi tứ tuần. Gương mặt của cô lúc nào cũng tỏa ra niềm vui và sự trong trắng. Nhưng vui hơn có lẽ là cha mẹ của cô. Hầu như ngày nào họ cũng tiễn cô ra đầu ngõ, đứng nhìn theo với ánh mắt trìu mến và chờ cho đến khi cô băng qua đường để đến một hợp tác xã dành cho người khuyết tật ở góc đường mới trở vô nhà. Một cách nào đó, tôi hiểu được ý nghĩa của chữ “nuôi” mà nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ đã sử dụng để nói về mối quan hệ yêu thương, nâng đỡ giữa bà và người con gái tàn tật của bà. Tôi nghĩ: trên thế gian này, chẳng có người nào, dù tàn tật đến đâu, là người vô dụng hay là gánh nặng cho gia đình và xã hội cả. Mỗi người, theo cách thế riêng của mình, đều có chỗ đứng và sự đóng góp riêng của mình cho gia đình và xã hội. Nếu nhân loại có làm được một bước vĩ đại, thì bước vĩ đại đó chính là ngày càng nhìn nhận và tỏ ra tôn trọng người khuyết tật và dành cho họ một chỗ ưu tiên trong xã hội. Bởi lẽ người khuyết tật nào cũng mang lại niềm cảm hứng và dạy cho người khác nhiều bài học.
Đây là điều tôi cảm nhận được khi đọc bài phóng sự của Đài Aljazeera về một cô gái bị “đao” người Panama 19 tuổi tên là Maria Jose Paiz. Cô gái khuyết tật này đã từng xuất hiện trên một chương trình quảng cáo thương mại. Cô cũng đã từng nói chuyện tại Trụ sở Liên Hiệp Quốc và hiện cô cũng có một trang mạng riêng trên một trong những tờ báo có nhiều độc giả nhứt tại Panama.
Nhân Ngày Quốc Tế về Hội chứng Down được thế giới cử hành hôm 21 tháng 3 vừa qua, Maria nói rằng Hội chứng “Đao” không phải là một chứng bệnh, mà chỉ là một tai nạn di truyền. Cô cảm thấy buồn khi người ta bảo cô mắc “bệnh đao”. Cô nhìn nhận rằng cô có nhiều khó khăn hơn người khác. Chẳng hạn kết bạn là một điều khó khăn đối với cô vì cô không luôn hiểu được người khác. Nhưng bù lại, cô vẫn cảm thấy mình có đủ “tài” để làm được rất nhiều điều. Chẳng hạn cô có tài nhảy múa, viết văn và ngay cả làm “cố vấn”. Cô cho biết đã từng nói chuyện với những bậc phụ huynh có con có hội chứng “đao”. Cô khuyên họ hãy cố gắng hiểu và lắng nghe chúng mỗi khi chúng bày tỏ ý kiến.
Tháng 12 năm 2016 vừa qua, cô gái khuyết tật này đã mãn trung học. Cô thổ lộ một số tham vọng của mình. Trước hết là vào đại học để theo ngành truyền thông và sản xuất các chương trình truyền hình. Hiện nay cô đang có mặt tại Madrid, Tây Ban Nha để học nấu ăn cũng như những kỹ năng cần thiết khác cho cuộc sống. Và dĩ nhiên, cũng như rất nhiều cô gái trẻ khác, cô cũng có một người bạn trai mà cô rất mong được làm vợ.
Câu chuyện của cô gái “đao” người Panama trên đây đã mở mắt cho tôi về rất nhiều bí ẩn trong cuộc sống người khuyết tật dồng thời đòi hỏi tôi phải tôn trọng và cảm thông hơn là xem thường hoặc ngay cả khinh miệt. Nếu tôi có bước thêm một bước trong sự trưởng thành thì bước đó trước tiên phải là sự tôn trọng đối với những người khuyết tật và nhìn nhận những khác biệt nơi người khác.
Lúc nhỏ tôi không được giáo dục nhiều về nhân cách và học làm người. Xã hội của tuổi thơ của tôi là một xã hội trọng nam khinh nữ và khinh dể người tàn tật. Trong nhà đứa con trai nào cũng là một ông vua con. Trong lớp học hay ở ngoài đường, cứ gặp người tàn tật là trêu cười và chọc ghẹo. Riêng về phái tính thì mãi cho đến khi tôi trốn khỏi Việt Nam, xã hội, văn hóa và ngay cả “nhà đạo” của tôi lúc nào cũng đều tỏ ra rất “rạch ròi”: con người ta sinh ra hoặc là nam hoặc là nữ, chớ không thể nào là “ái nam ái nữ” được. Thật ra, lúc nhỏ và khi còn ở Việt Nam, họa hiếm lắm tôi mới thấy có một người “lại cái”. Dĩ nhiên một người như thế chỉ có thể là mục tiêu của chế diễu và trêu chọc mà thôi. Ngày nay với sự tiến bộ của nhiều bộ môn khoa học, nhứt là xã hội học và tâm lý học, bộ mặt của xã hội ngày càng đa diện hơn và đòi hỏi phải có sự tôn trọng đối với những dị biệt của người khác. Khác về văn hóa, khác về tôn giáo, khác về sức khỏe thể lý, khác về phái tính, khác về khuynh hướng tính dục. Vũ trụ ngày càng bao la và bí ẩn đã đành, mà con người đối với tôi lại càng bí ẩn hơn.
Tạp chí Time số ra ngày 27 tháng Ba vừa qua đã dành những trang chính để nói đến tính đa diện của xã hội Mỹ ngày nay, cách riêng về phái tính. Bài phóng sự của tạp chí này mở đầu với một cảnh tượng xảy ra tại một trường trung học ở thành phố Park City, Tiểu bang Utah. Các học sinh sắp hàng để nhận chìa khóa hộc tủ cất quần áo và đồ đạc khi sinh hoạt thể thao. Trước đây, hộc tủ cất quần áo và đồ đạc thường được phân chia dựa theo hai phái tính nam hoặc nữ hay cùng lắm đồng tính. Và trong giới đồng tính, người ta chỉ thấy có đồng tính nữ (lesbian), đồng tính nam (gay) lưỡng tính (bisexual) và chuyển giống (transgender). Nhưng nay, trong sân trường trung học Park City, người ta lại thấy có nhiều nhóm khác nữa. Có cả một nhóm gọi là “xuyên giống” (pansexual). Họ là những người mà người ta không thể xếp vào bất cứ sự phân loại nào. Cộng đồng đồng tính tại Hoa Kỳ được gọi tắt là “LGBT” (Lesbian,Gay, Bisexual, Transgender) nay có thêm chữ “Q” (queer). Tra từ điển, tôi mới biết từ này chỉ một nhóm người tự nhận là không thuộc phái tính hay bất cứ khuynh hướng tính dục nào. Trước đây, bản sắc con người thường chỉ được định nghĩa dựa theo hai phái tính nam hay nữ, đồng tính hay không đồng tính. Nay ngày càng có nhiều người xuất đầu lộ diện để nói rằng họ chẳng thuộc về nhóm nào trên đây cả.
Chính vì nhìn nhận và tôn trọng sự khác biệt này mà các nhà lập pháp thuộc nhiều cấp khác nhau tại Hoa Kỳ đã phải làm ra những luật mới để qui định về căn cước cũng như việc sử dụng nhà vệ sinh công cộng. Chẳng hạn tháng Hai vừa qua, Tiểu bang California đã thông qua luật để, ngoài phái nam và phái nữ truyền thống, còn  thêm một phái tính mới vào thẻ căn cước hay bằng lái xe. Các thành phố trên toàn quốc Hoa Kỳ cũng thông qua luật yêu cầu các phòng vệ sinh cá nhân nơi công cộng phải thêm vào hàng chữ “dành cho mọi phái tính” hay “dành cho người không thuộc phái tính nào” (gender neutral). Ngay trong Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Barack Obama cũng cho thiết lập những phòng vệ sinh như thế.
Bộ mặt của xã hội quả thật ngày càng đa diện. Con người ngày càng ý thức về căn tính của mình hơn. Theo tổ chức có tên “GLAAD” chuyên bênh vực quyền của những người đồng tính, nói chung, có đến 20 phần trăm những người sinh ra trong thiên niên kỷ mới tự nhận mình không thuộc phái tính nào. Với thế hệ sinh sau Đệ Nhị Thế chiến, tỷ lệ nào chỉ có khoảng 7 phần trăm.
Những ngày đầu khi mới chân ướt chân ráo bước vào xã hội Tây Phương, tôi cảm thấy ngỡ ngàng và ngay cả khó chịu khi nhìn thấy hoặc nghe nói đến những sinh hoạt công khai của giới đồng tính. Tình cờ xem một cuốn phim mô tả một cách sống sượng quan hệ tình dục giữa hai người đồng tính nam, tôi cảm thấy như muốn ói mửa. Phải mất một thời gian khá lâu tôi mới thấy rằng để thực sự hội nhập vào xã hội Tây Phương, một trong những bài học đầu tiên tôi phải học là tập làm quen với xã hội của người đồng tính và của những người tự nhận không thuộc khuynh hướng tính dục nào. Xét cho cùng đó là một trong những nguyên tắc nền tảng của cuộc sống xã hội: chấp nhận tính đa diện và sự dị biệt của xã hội loài người. Lòng người vẫn mãi mãi là một bí ẩn sâu kín mà người ta không thể áp dụng bất cứ thước đo hay chuẩn mực nào để dò thấu. Lý trí của tôi có thể không hiểu được những bí ẩn của lòng người. Nhưng trái tim tôi lại thúc đẩy tôi phải tỏ ra khoan nhượng và  cảm thông trước những bí ẩn ấy. Kính nghiệm bản thân thường cho tôi thấy rằng chỉ với thái độ khoan nhượng và cảm thông tôi mới nhận ra được giá trị, chỗ đứng và sự đóng góp của người khác cho gia đình và xã hội.
Trong gia đình tôi không có người khuyết tật. Tôi chưa có được kinh nghiệm được “nuôi” bởi một người khuyết tật như nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Nhưng bất cứ một người khuyết tật hay một sự khác biệt nào nơi người khác cũng đều có thể là một thách đố mời gọi tôi thực thi sự khoan nhượng và cảm thông. Một cách nào đó, tôi được họ “nuôi” để lớn lên trong nhân cách và tình người.













Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

Lá phiếu của tôi


Chu Thập
03.09.13

Sống trong một xã hội dân chủ và tự do, mỗi lần có bầu cử, tôi đều đi bỏ phiếu với tất cả ý thức trách nhiệm của một công dân. Tôi tin tưởng rằng lá phiếu của tôi, dù chỉ là một giọt nước trong biển cử tri, cũng thực sự góp phần củng cố nền dân chủ, phát huy những giá trị nhân bản vốn làm nền tảng cho một nền dân chủ đích thực. Tôi rất sung sướng và hãnh diện được thi hành nghĩa vụ công dân của tôi. Tôi luôn trân trọng lá phiếu của mình, bởi vì tôi đã đánh đổi cả mạng sống để được “cầm” nó trong tay.
Gần cuối thập niên 1960, khi tổng thống Ngô Đình Diệm thành lập nền Đệ Nhứt Cộng Hòa, tôi đang học tiểu học. Tuy chưa có một khái niệm nào về dân chủ và tự do, lũ trẻ chúng tôi cũng thuộc nằm lòng bài hát: “Rủ nhau đi bầu, rủ nhau đi bầu. Tay cầm lá phiếu tự do. Phân vân, phân vân…không  biết…Bầu cho ông nào, bầu cho ông nào”. Đây là bài hát mà các ty thông tin ở các địa phương cho quảng bá trên các loa phóng thanh để kêu gọi dân chúng đi bầu Quốc Hội Lập Hiến.
Mãi cho đến năm 1967, khi trung tướng Nguyễn văn Thiệu thành lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa, tôi mới được vinh dự lần đầu tiên thi hành nghĩa vụ công dân của mình qua lá phiếu. Mặc dù ông Nguyễn văn Thiệu chỉ đắc cử với 38 phần trăm số phiếu, tôi tin chắc rằng lá phiếu của tôi đã góp phần đưa ông lên làm tổng thống. Đến năm 1971, Việt Nam Cộng Hòa lại cho tổ chức bầu cử tổng thống một lần nữa. Tôi vẫn còn nhớ rõ, đến giờ chót hai ứng cử viên Nguyễn Cao Kỳ và Dương văn Minh đều bỏ cuộc, cho nên chỉ còn lại ông Nguyễn văn Thiệu “độc diễn” một mình. Dĩ nhiên, vì không có một chọn lựa nào khác cho nên tôi đã bỏ phiếu cho ông Nguyễn văn Thiệu. Năm đó, ông Thiệu đã đắc cử tổng thống với 94 phần trăm số phiếu. Đó là lần cuối cùng tôi đã xử dụng lá phiếu của mình với tất cả tự do và trách nhiệm. Dù cho lịch sử có phán đoán như thế nào về nền Đệ Nhị Cộng Hòa đi nữa, ít nhứt trong giai đoạn này, tôi vẫn thấy mình đã sống như một công dân có tự do và thi hành nghĩa vụ công dân với tất cả trách nhiệm của mình.
Việt cộng đến, tôi mất quyền công dân. Cũng may, vì không được cấp “chứng minh nhân dân” cho nên tôi không phải mất giờ đi đến các thùng phiếu và tốn công “bỏ” (=vứt bỏ) lá phiếu của mình vào những cái thùng rác rưởi thối tha ấy  nữa. Một ông thi sĩ bút tre nào đó đã diễn tả đúng tâm trạng của người dân của cộng hòa xã hội chủ nghĩa, dân chủ gặp triệu lần các nước tư bản: “Ta đi bầu cử tự do. Tìm người xứng đáng mà cho vào hòm”.  Người dân miền Trung của tôi hay người miền Nam, hễ nói đến “hòm” là liên tưởng đến sự chết. Do đó, mỗi lần có bầu cử trong đó kết quả lúc nào cũng đã có sẵn và tỷ lệ đắc cử của các ứng cử viên “độc diễn” của Đảng Cộng Sản lúc nào cũng lên đến 99.9999… phần trăm, là mỗi lần người ta đi “bỏ”, nghĩa là “ném” lá phiếu vào “hòm” để tống táng nền dân chủ và tự do.
Cuối cùng, cũng như hàng triệu người Việt Nam hồi năm 1954 và sau 1975, tôi đã đi bỏ phiếu bằng chân và bằng chính mạng sống của mình. Đi tỵ nạn chính là bỏ phiếu cho dân chủ và tự do. Chính vì thế mà khi đi định cư, tôi không dại gì chọn một chế độ độc tài để đâm đầu vào. Tôi đã chọn một đất nước có dân chủ và tự do thực sự. Song song với việc hội nhập vào xã hội mới, tôi cũng thấy mình cần phải học hỏi rất nhiều về thế nào là dân chủ và tự do. Tôi tin chắc rằng đàng sau bất cứ một nền dân chủ nào cũng đều có những giá trị nhân bản đích thực giúp tôi sống cho ra người trưởng thành, tử tế và có “văn hóa” hơn.
Quả thực có một nền văn hóa gọi là “văn hóa dân chủ”. “Văn hóa ở đây, theo bà Diane Ravitch (người đã từng làm phụ tá bộ trưởng giáo dục Hoa kỳ) không nói đến nghệ thuật, văn học hay âm nhạc mà nên hiểu theo nghĩa là “cách ứng xử, thói quen và các quy phạm nhằm xác định khả năng tự quản của người dân.” (x.Dân chủ là gì, trên trang mạng của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt nam, tháng 9/1998).
Theo bà Ravitch: “Hệ thống chính trị độc đoán khuyến khích một nền văn hóa thụ động và lãnh cảm. Chế độ đó tìm cách tạo ra một tầng lớp công dân dễ bảo và dễ quy phục. Ngược lại, nền văn hóa công dân của một xã hội dân chủ được xây dựng bởi các hoạt động tự do lựa chọn của các cá nhân và các tổ chức. Các công dân trong một xã hội tự do được tự theo đuổi các ham muốn của họ, được thực hiện các quyền và tự chịu trách nhiệm đối với cuộc sống của họ. Họ tự quyết định cho mình mọi vấn đề từ nơi làm việc, cái họ muốn làm, nơi họ sinh sống, có tham gia vào các đảng chính trị hay không, cái họ muốn đọc…Đó là các quyết định mang tính cá nhân chứ không phải là chính trị.” (bài đã dẫn).
Sống theo văn hóa dân chủ, tôi cũng hiểu được rằng dân chủ là một hệ thống trong đó mọi người công dân đều được tự do đưa ra các quyết định chính trị theo nguyên tắc đa số. Nhưng theo giải thích của Tòa Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam, “nguyên tắc đa số cũng chưa phải là dân chủ: ví dụ, không ai có thể gọi một hệ thống là công bằng hoặc bình đẳng nếu hệ thống đó chấp nhận cho 51 phần trăm dân số nhân danh đa số để đàn áp 49 phần trăm dân số còn lại cả. Trong một xã hội dân chủ, nguyên tắc đa số phải được ràng buộc với sự bảo đảm cho các quyền con người của cá nhân, các quyền này, đến lượt nó, lại đóng vai trò bảo vệ quyền lợi cho các nhóm thiểu số như các dân tộc thiểu số, các nhóm tôn giáo hay chính trị hoặc đơn giản là những người thua cuộc trong cuộc tranh luận về một vấn đề lập pháp nào đó.”
Nhìn lại những diễn biến mới đây tại Ai Cập, tôi thấy nhiều người đã hiểu và áp dụng sai các nguyên tắc dân chủ. Sau khi lật đổ nhà độc tài Hosni Mubarak, lần đầu tiên sau gần 40 năm, người dân nước này đã thực sự tham gia vào một cuộc bầu cử tự do. Theo kết quả của cuộc bầu cử được xem là dân chủ và công bằng này, một thành viên của tổ chức tôn giáo có tên là Huynh đệ Hồi giáo lên làm tổng thống. Cả thế giới tự do đều không hết lời để ca ngợi tiến trình dân chủ tại Ai Cập. Nhưng không đầy một năm sau, tổng thống Mohamed Morsi đã hủy bỏ một  nguyên tắc nền tảng của dân chủ là đa nguyên, nghĩa là một chính phủ  đa số cũng phải tôn trọng quyền của nhóm thiểu số. Quốc hội do tổ chức Huynh đệ Hồi giáo kiểm soát đã soạn thảo một Hiến Pháp có chủ trương “hồi giáo hóa” đất nước, áp đặt luật hồi giáo Sharia cho các nhóm thiểu số khác, đặc biệt là các Giáo hội Kitô vốn chiếm đến 10 phần trăm dân số. Đây là lý do chính khiến người dân Ai Cập một lần nữa xuống đường và cuối cùng quân đội đã phải can thiệp để truất phế ông Morsi chỉ vì ông đã không tôn trọng những nguyên tắc nền tảng của dân chủ.
Xét cho cùng, văn hóa dân chủ cũng chính là văn hóa khoan nhượng. Khoan nhượng, hiểu một cách đơn giản nhứt, là biết chấp nhận và tôn trọng những khác biệt của người khác. Đây là bài học mà tôi đã đọc được trên trang mạng của Bộ Di Trú Úc. Theo lời kêu gọi được nhắn gởi đến những người di dân, Bộ Di Trúc Úc viết rằng Úc Đại Lợi đã học được rất nhiều điều từ những làn sóng nhập cư vốn đã làm cho văn hóa nước này thêm phong phú. Một trong những điều đó là giá trị của sự khác biệt.
Bộ Di Trú Úc khẳng định: văn hóa Úc là một văn hóa khoan nhượng. Khoan nhượng là một thái độ nền tảng đối với người dân Úc, bởi vì quốc gia này ngày càng mang bộ mặt đa văn hóa. Có khoảng một nửa dân số Úc hoặc sinh ở một nước khác hoặc có ít nhứt một người cha hay một người mẹ sinh ở nước ngoài.
Chính vì thế mà Bộ Di Trú Úc kêu gọi: “Sự kiện Úc Đại Lợi là một xã hội khoan nhượng dĩ nhiên không có nghĩa là mọi sự đều sẽ giống như lúc bạn còn ở trong nước bạn. Bạn cần phải bỏ giờ ra để giúp cho gia đình bạn thích nghi với những cách sống khác mà bạn sẽ gặp tại Úc Đại Lợi”.
Có lẽ sau những năm tháng sống dưới chế độ cộng sản toàn trị, trong đó mọi thứ quyền tự do căn bản, nhứt là quyền tự do ngôn luận, người Việt tỵ nạn nào cũng hiểu được thế nào là khoan nhượng. Thật vậy, không gì tàn bạo và độc ác bằng cấm người khác không được suy nghĩ bằng chính cái đầu của họ. Văn hào Pháp Voltaire (1694-1778) đã để lại một câu nói đáng suy nghĩ: “Tôi không đồng ý với những gì bạn nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ cho đến chết quyền được phát biểu của bạn”. Ông cũng đã để lại một lời cầu nguyện đầy ý nghĩa:
“Lạy Thượng Đế, Ngài đã không ban cho chúng con một trái tim để chúng con oán thù nhau. Ngài đã không ban cho chúng con những bàn tay để đấm đá nhau. Xin làm cho chúng con biết giúp đỡ nhau để giảm bớt gánh nặng của cuộc sống cơ cực và chóng qua này. Xin đừng để cho những khác biệt giữa quần áo che đậy thân xác hèn yếu của chúng con, giữa những ngôn ngữ bất toàn của chúng con, giữa những phong tục dị hợm của chúng con, giữa những quan niệm ngu dốt của chúng con, giữa tất cả những địa vị tuy khác biệt dưới mắt chúng con nhưng lại giống nhau trước mặt Chúa, giữa những khác biệt không đáng kể….xin đừng để cho những dị biệt ấy trở thành dấu chỉ của hận thù, bách hại lẫn nhau giữa chúng con.
Xin cho những ai thắp lên ngọn nến giữa ban ngày để thờ phượng Chúa cũng biết tỏ ra khoan nhượng với những ai chỉ có ánh sáng mặt trời của Chúa mà thôi. Xin cho những ai mặc áo trắng để thể hiện tình yêu đối với Chúa không khinh dể những ai bảo rằng họ phải yêu mến Chúa bằng áo đen. Xin cho những ai dùng ngôn ngữ xưa để tỏ lòng yêu mến Chúa cũng không khinh dể những người xử dụng ngôn ngữ hiện đại”.
Nếu có một nơi con người cần thực thi lòng khoan nhượng đối với người khác nhiều hơn cả hẳn phải là tôn giáo. Ở cuối thế kỷ 20, thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ của các chế độ độc tài cộng sản. Tại rất nhiều nơi trên thế giới, các ý thức hệ toàn trị đã được thay thế bằng lòng khoan nhượng. Nhưng bước vào thế kỷ 21, hầu như ngày nào chúng ta cũng phải đón nhận tin tức về những cuộc tàn sát mà động lực là thái độ bất khoan nhượng tôn giáo: người ta nhân danh tôn giáo và thượng đế của mình để loại trừ và sát hại người khác.
Tôi là người có niềm tin tôn giáo. Cũng như Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi tin rằng “tôn giáo tốt nhứt là tôn giáo giúp tôi nên một người tốt hơn”. Và nên một người tốt hơn là biết “cảm thông hơn, nhạy cảm hơn, nhân đạo hơn, siêu thoát hơn, trách nhiệm hơn, đạo đức hơn”.
Ngày mai thứ Bảy 7/9/2013 này, tôi sẽ đi bỏ phiếu để bầu Quốc hội liên bang. Dù có cân nhắc đến đâu, có lẽ tôi cũng không chọn mặt gởi vàng cho đúng người như tôi mong muốn. Rất có thể sẽ có rất nhiều vị dân cử không có cùng chính kiến, tôn giáo và nhứt là một hệ thống giá trị đạo đức như tôi. Nhưng đó chính là sự phong phú của một xã hội dân chủ. Xã hội ấy luôn mời gọi tôi thực thi tinh thần khoan nhượng. Chính khi đưa cao lá phiếu lên để trân trọng bỏ vào thùng phiếu là lúc tôi cam kết sống cho ra người khoan nhượng hơn, cảm thông hơn, tử tế hơn và nhân đạo hơn vậy.




Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Ái Nhĩ Lan: mồ chôn tập thể thơ nhi!



31.03.17

Tháng Hai 2017 vừa qua, người ta đã  khám phá  những  mồ chôn tập thể các thơ nhi trong một hầm cầu vệ sinh tại Thành phố Tuam, miền Tây Ái Nhĩ Lan. Đây là kết quả của một cuộc điều tra   về những cáo buộc  liên quan đến những lạm dụng trong các dòng nữ tại quốc gia có đa số dân theo Công giáo này. Cuộc khai quật đã diễn ra tại một địa điểm đã từng là một trung tâm dành cho những thiếu nữ mang thai ngoài ý muốn do các nữ tu điều khiển. Đây là trung tâm do tổ chức từ thiện của Giáo hội Công giáo có tên là “Bons Secours” (Cứu trợ) tài trợ. Ngôi mộ tập thể được khám phá trong hầm cầu vệ sinh có chứa đựng tử thi của trên dưới  800 thơ nhi.
Năm 2014,  một nhà đạo diễn đã muốn thực hiện một cuốn phim tài liệu về vấn đề này. Nhưng một đại diện của tổ chức “Bons Secours” khẳng định rằng không hề có bất cứ một ngôi mồ tập thể nào như thế cả.  Đại diện của “Bons Secours” còn nói rằng ngay cả cảnh sát địa phương cũng đã đến tận nơi để điều tra và họ cũng chỉ tìm thấy một vài nắm xương của một số nạn nhân của nạn đói đã từng xảy ra trong vùng. Tuy nhiên lời giải thích này của tổ chức “Bons Secours” đã không thuyết phục được Ủy ban được Chính phủ Ái Nhĩ Lan thành lập để điều tra về những vụ lạm dụng xảy ra trong các cơ sở công giáo.
Đối với nhiều người Ái Nhĩ Lan, việc khám phá những mồ chôn  tập thể  các thơ nhi tại Tuam đã khơi dậy những kỷ niệm đau buồn về cách đối xử đối với các thiếu nữ có mang ngoài hôn nhân.
Năm 1961, các nữ tu cho đã đóng cửa trung tâm dành cho các thiếu nữ có mang ngoài ý muốn tại Tuam. Nhưng mãi cho đến năm 1988, Louise Gallagher là một trong số rất nhiều thiếu nữ bất hạnh vẫn còn sống trong một trung tâm tương tự như thế. Khi hay tin ngôi mồ tập thể có chứa đựng xương cốt của 800 hài nhi được khám phá tại Tuam, người thiếu phụ 44 tuổi này nói rằng chị sẽ không bao giờ quên được những gì đã diễn ra trong trung tâm nơi chị đã từng tá túc.
Là một thiếu nữ sống tại một miền quê Ái Nhĩ Lan, năm 16 tuổi Louise lâm cảnh “không chồng mà chửa”. Vào thời điểm đó, đối với Giáo hội Công giáo và xã hội Ái Nhĩ Lan nói chung, “không chồng mà chửa” là một vết nhơ không thể tha thứ được.  Với sự dàn xếp giữa mẹ cô, một bác sĩ ở địa phương và “Cura” (Chăm sóc), một tổ chức của Giáo hội Công giáo chuyên đối phó với nạn chữa hoang, Louise  đã được gởi đến một trung tâm có tên là “Ngôi nhà của Mẹ và Con” (Mother and Baby Home) do các nữ tu tại Thành phố Dunboyne, Quận Meath County, điều khiển. Cô đã sống ở đó 2 tháng. Cô cho biết khi cô đặt chân đến đó thì trung tâm đã đầy người. Vì không có đủ giường, cô đã phải ngủ trên sàn nhà.
Trung tâm “Nhà của Mẹ và Con”, tuy do các nữ tu công giáo điều khiển, nhưng vẫn nhận được sự tài trợ của Chính phủ Ái Nhĩ Lan. Để tránh lời ra tiếng vào và nhất là sự nguyền rủa của cộng đồng, các bậc phụ huynh thường đem những cô con gái bất hạnh của mình đến gởi ở đó.
Những người mẹ trẻ bị đối xử tàn tệ bao nhiêu thì những đứa con của họ càng khốn khổ bấy nhiêu. Và nỗi đau của những người mẹ bất hạnh và những đứa con không được Giáo hội và xã hội thừa nhận ấy đã kéo dài trong cả một thế kỷ tại Ái Nhĩ Lan. Vì thiếu dinh dưỡng cũng như không được chăm sóc đầy đủ, đã có hàng ngàn thơ nhi qua đời. Người ta mang xác của chúng vùi xuống những ngôi mồ tập thể trong những mảnh đất do Giáo hội Công giáo sở hữu.
Nhiều thiếu nữ được gởi đến các trung tâm của Giáo hội khi còn là vị thành niên. Bị cưỡng bách phải trao con của mình cho các cha mẹ nuôi, họ phải ký giấy tờ trước mắt các nữ tu và nhân viên xã hội.
Bà Louise kể lại thời gian sống trong trung tâm “Nhà của Mẹ và Con” tại Thành phố Dunboyne. “Họ dùng chúng tôi để làm tiền” bằng nhiều việc làm khác nhau. Ngay cả khi con của những cô gái này bị bắt mang đi, các nữ tu xem đây như một thứ ân huệ và các cô gái phải tỏ ra biết ơn. Riêng về việc “kinh doanh từ thiện”, bà Louise kể lại rằng các nữ tu thương lượng với chính phủ để “ngã giá” về số phận của những cô gái lỡ thì này. Một cô gái nằm cùng phòng với bà Louise cho biết cha mẹ cô đã phải tặng một số tiền lớn cho các nữ tu và những cặp vợ chồng nào nhận con nuôi cũng phải làm như thế.
Câu chuyện của bà Louise gợi lại vô số những thảm cảnh mà các thiếu nữ và thiếu phụ đã phải trải qua trong các trung tâm do Giáo hội Công giáo điều khiển. Theo ước tính có đến 30.000 phụ nữ và thiếu nữ vị thành niên đã bị giam giữ trong các trung tâm như thế vì nhiều lý do khác nhau, nhất là vì mang thai ngoài hôn nhân. Họ đã bị cưỡng bách phải làm việc dài giờ trong những điều kiện tồi tệ mà không nhận được một  đồng lương nào. Đây là một sự bóc lột sức lao động tàn nhẫn chẳng khác nào thời kỳ nô lệ.
Một số phụ nữ đã phải lao động như thế ngay từ khi bị đẩy vào các trung tâm này. Rất nhiều phụ nữ khác, một khi đã rời khỏi các trường dạy nghề, liền được gởi đến các cơ sở làm ăn của các nữ tu, mà giặt ủi là điển hình nhất.
Một trong những cơ sở giặt ủi được chú ý tới nhiều nhất là xưởng giặt ủi “Magdalene Laundries”. Năm 2011, một nhóm bênh vực cho những người còn sống sót từ xưởng giặt ủi này đã đệ đơn tố cáo lên Ủy ban chống Tra tấn  của Liên Hiệp Quốc (UNCAT: United Nations Committee Against Torture). Trong một phiên xử sau đó, Chính phủ Ái Nhĩ Lan đã biện hộ cho các xưởng giặt ủi này với lý do là hầu hết các phụ nữ làm việc tại các cơ sở này đều là những người tình nguyện hoặc được sự đồng ý của cha mẹ họ. Ủy ban chống tra tấn của Liên Hiệp Quốc đã yêu cầu cho mở một cuộc điều tra toàn diện về những xưởng giặt ủi này. Năm 2013, sau cuộc điều tra, Ủy ban Chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc đã cho công bố một bản phúc trình đầy đủ về những lạm dụng và bất công xảy ra trong các xưởng giặt này. Một tổ chức đại diện cho các nạn nhân đã yêu cầu chính phủ Ái Nhĩ Lan xin lỗi các nạn nhân. Nhưng Thủ tướng Enda Kenny đã từ chối lời yêu cầu này.
Các nạn nhân của những xưởng giặt ủi này nói rằng họ đã phải làm việc như những người nô lệ. Nhiều người Ái Nhĩ Lan, bất mãn và mất niềm tin đối với một Giáo hội Công giáo đã bị hoen ố vì các hành động ấu dâm của hàng giáo sĩ, đã tổ chức những cuộc xuống đường để bày tỏ sự nâng đỡ và ủng hộ đối với các nạn nhân. Báo chí cũng tiếp tay phanh phui và lên án các hành động lạm dụng trong các xưởng giặt ủi. Thủ tướng Kenny đã phải lên tiếng xin lỗi và nhận một phần trách nhiệm trong việc đối xử tàn tệ đối với các phụ nữ trong các xưởng giặt ủi này. Tuy nhiên, 3 năm đã trôi qua, một sự đền bù cân xứng cho các phụ nữ nạn nhân trong các xưởng giặt ủi này vẫn chưa được thực hiện như chính phủ đã hứa.
Về phần mình, mặc dù ngôi mồ tập thể các thơ nhi tại Tuam đã được khám phá, các hành vi lạm dụng đã được phơi bày ra ánh sáng và mặc dù Bộ Y Tế Ái Nhĩ Lan  đã có một lập trường cứng rắn về vấn đề này, các dòng nữ tu Ái Nhĩ Lan vẫn chưa chịu đền bù  cân xứng cho những người phụ nữ có con bị chết hay bị mang đi để được nhận làm con nuôi. Theo ước tính, số tiền bồi thường vì những hành vi lạm dụng này có thể lên đến khoảng 1.6 tỷ Mỹ kim. Nhưng cho tới nay, số tiền bồi thường do các dòng nữ chấp nhận đóng góp chỉ mới được khoảng 207 triệu Mỹ kim. Theo một dân biểu độc lập trong Quốc hội, cả Giáo hội Công giáo  lẫn chính phủ Ái Nhĩ Lan đều tìm cách phủi tay trong vấn đề bồi thường.
Ngoài việc lẩn tránh trách nhiệm phải bồi thường cho cân xứng, các dòng nữ cũng bị tố cáo đã tìm cách bịt miệng những ai dám lên tiếng về những vụ lạm dụng trong các trung tâm dành cho các cô nhi và con cái của những người mẹ “không chồng mà chửa”.
Tom Wall, một cô nhi xuất thân từ một trung tâm dành cho các cô gái mang thai ngoài ý muốn, đã được gởi đến một trường dạy nghề do dòng “Các Sư huynh Công giáo” (Christian Brothers) điều khiển. Tom Wall được gởi đến trung tâm dạy nghề này sau khi một thẩm phán đã ký lệnh giao cậu cho Giáo hội chăm sóc. Tom Wall đã ở trong trung tâm dạy nghề này từ năm 1952 đến năm 1965. Đó là năm cậu được 16 tuổi. Trong suốt 13 năm này, Tom Wall cho biết cậu đã bị lạm dụng tình dục và đánh đập tàn nhẫn. Nay Tom Wall đã viết một cuốn sách về giai đoạn này và hiện đang mở một trận chiến pháp lý với “Các Sư huynh Công giáo”, vốn đang tìm cách che đậy các vụ lạm dụng. Tom Wall cho biết: năm 1973, các “Sư huynh Công giáo” đã rời khỏi Thành phố Glin, nơi có trung tâm dạy nghề được Tom Wall theo học. Anh đã được Sư huynh Bề trên tại đây yêu cầu phải đốt hết tất cả mọi tài liệu mà ông đã trao cho anh. Dù vậy, Sư huynh này cũng nói rằng anh có thể giữ lại tài liệu nào anh thấy cần giữ. Năm 2015, Tom Wall đã trao xấp tài liệu anh còn giữ cho Đại học Limerick.
Tom Wall là người thiếu niên cuối cùng được gởi đến trường dạy nghề của các Sư huynh Công giáo. Nhưng cuộc chiến pháp lý giữa anh và các tu sĩ này hiện vẫn chưa kết thúc.
Các Sư huynh Công giáo khẳng định rằng hồ sơ và thư từ của thân nhân gởi cho các thiếu niên thuộc quyền sở hữu của họ và Giáo hội Công giáo chứ không thuộc về văn khố của các đại học. Đây là thái độ mà Tom Wall, nay đã 67 tuổi, không thể hiểu được: một mặt các Sư huynh Công giáo bị tố cáo đã có những hành vi bạo hành và lạm dụng tình dục đối với trẻ em, mặt khác họ lại đòi quyền sở hữu những tài liệu ghi lại cuộc sống của những trẻ em này!
Giáo hội Công giáo tại Ái Nhĩ Lan mà các dòng nữ, các Sư huynh Công giáo cũng như hàng giáo sĩ là những thành phần cốt cán,  là một trong những tổ chức tôn giáo đang phải đối phó với rất nhiều tai tiếng về lạm dụng tình dục đối với trẻ em, nhưng lại tỏ ra rất ít dấu hiệu cho thấy có sự hối tiếc. Cùng với việc khám phá mồ chôn tập thể thơ nhi tại Tuam, những tai tiếng về lạm dụng tình dục trẻ em của các Sư huynh Công giáo và nhất là hàng giáo sĩ Ái Nhĩ Lan đã làm rung chuyển Giáo Hội có tỷ lệ công giáo lớn nhất tại Âu Châu. Và dĩ nhiên, không đâu niềm tin của các tín hữu đối với Giáo hội bị xói mòn cho bằng tại Ái Nhĩ Lan. Mồ chôn tập thể 800 thơ nhi tại Tuam cũng chính là mồ chôn niềm tin của họ.

(nguồn: http://www.aljazeera.com/indepth/features/2017/03/mass-graves-ireland-long-history-church-abuse)