Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

Được nuôi dưỡng bởi chó sói



Chu Thập
10.03.17

Không hiểu sao trong các ca sĩ ngoại quốc nổi tiếng hiện nay tôi chỉ thích nghe Bono của ban U2. Với tôi ca khúc nào của người ca nhạc sĩ Ái Nhĩ Lan tài hoa này cũng đều hay và thâm thúy cả. Một trong những ca khúc của anh mà lúc nào lên xe tôi cũng đều nghe  là bản “Raised by Wolves” (được nuôi dưỡng bởi chó sói) trong sưu tập “Songs of Innocence” (những ca khúc về sự ngây thơ). Anh ngữ của tôi thuộc loại ăn đong cho nên tôi chỉ nghe được lõm bõm vài câu trong các ca từ. Phải mở Google, đọc lại từng chữ tôi mới hiểu được phần nào ý nghĩa sâu xa của các ca khúc của Bono.
Ca khúc “Raised by Wolves” ghi lại một cảnh tượng hãi hùng xảy ra tại Thủ đô Dublin Ái Nhĩ Lan hồi năm 1974. Đây là cuộc đánh bom do những người công giáo cực đoan thực hiện nhắm vào người tin lành. Bono kể lại rằng lúc còn là một thiếu niên mỗi chiều thứ Sáu anh thường có mặt tại khu phố nơi xảy ra cuộc khủng bố. Nhưng chiều hôm đó, anh lại đạp xe đến trường. Anh thoát chết, nhưng một người bạn thân của anh và cha của người bạn này đã có mặt tại chỗ khi xảy ra cuộc đánh bom. Cuộc khủng bố được thực hiện bằng 3 chiếc xe có cài bom nổ cùng một lúc vào lúc 5 giờ 30 chiều đã làm cho 33 người chết. Hầu hết là phụ nữ. Trong số các nạn nhân, có nguyên một gia đình chết thê thảm. Một người đàn ông bị lòi ruột. Một người đàn bà ngồi cạnh chiếc xe cài bom đã bị đứt đầu. Đang ngồi trên một chiếc xe gần chỗ xảy ra cuộc thảm sát, người thiếu niên bạn của Bono cũng bị thương. Cậu còn tỉnh táo để thấy cả một “biển đỏ” bao trùm mặt đất và nghe tiếng kim loại hỗn loạn va chạm nhau. Cậu đã nhìn thấy và vô cùng hối tiếc vì đã phải nhìn thấy cảnh tượng ấy. Cậu nhớ lại: “Máu văng trong nhà, máu văng trên đường phố”. Người thiếu niên kết luận: “Những điều tệ hại nhứt trên thế giới đều được biện minh bởi niềm tin (tôn giáo)” (The worst things in the world are justified by belief) . Và suốt ca khúc, điệp khúc luôn được lập lại là “Raised by Wolves” và “I don’t believe anymore” (Tôi không còn tin nữa).
Trong cố gắng trau dồi Anh Ngữ, mở từ điển để truy tìm ý nghĩa của thuật ngữ “Raised by Wolves”, tôi mới biết rằng đây là một kiểu nói thường được sử dụng để chỉ một cung cách “rừng rú”, thiếu lịch sự hay ngay cả độc ác nữa.
Tôi không biết người sáng chế ra thuật ngữ “Raised by Wolves” có nghĩ đến câu chuyện huyền thoại về nguồn gốc của thành La Mã không. Nhưng đọc lại câu chuyện này tôi mới thấy ý nghĩa thâm sâu của kiểu nói. Người La Mã thời cổ tin rằng kinh thành muôn thuở và ngay cả đế quốc hùng mạnh một thời của họ được hai nhân vật song sinh huyền thoại là Romulus và Remus thành lập. Cặp sinh đôi này là con của công chúa Rhea Silvia, ái nữ của Numitor, vua xứ Alba Longa. Chuyện kể rằng  chú của nàng Rhea Silvia là Amulius đã thoán đoạt ngôi vua sau khi giết cha nàng và tàn sát tất cả nam nhân có tên trong danh sách có thể kế vị vua Numitor. Ngoài ra để chận đứng mọi đường kế tự, Amulius còn cưỡng bách công chúa Rhea Silvia phải giữ trinh tiết suốt đời. Nhưng điều trớ trêu đã xảy ra là nàng công chúa này lại có mang và người ta cho rằng tác giả của bào thai chính là thần Mars. Người La Mã thời cổ xem thần Mars như biểu trưng của sức mạnh quân sự và sức mạnh này được sử dụng để mang lại hòa bình.
Công chúa Rhea Silvia đã hạ sinh được hai bé trai và đặt tên cho chúng là Romulus và Remus. Được tin này, Amulius liền ra lệnh quăng hai đứa trẻ vào một nơi hoang vắng bên bờ sông Tevere để chúng chết dần chết mòn. Nhưng không ngờ một con con sói cái đã khám phá ra chúng và đưa về nuôi nấng như con của nó. Sau đó, một người mục tử đã nhìn thấy cảnh tượng ấy. Ông đã xua đuổi con chó sói và mang hai đứa trẻ về nhà. Cặp song sinh đã lớn lên và trở thành hai chàng trai đầy sức mạnh và dũng lược. Sau khi đã khám phá ra nguồn gốc của mình và quy tụ được một đạo binh hai người thanh niên đã giết Amulius và cùng nhau tái lập ngôi báu. Nhưng vì bất đồng với nhau, hai người đã chia tay và mỗi người thiết lập một thành phố riêng cho mình. Một ngày nọ vì không tôn trọng thỏa ước, Remus đã vượt qua biên giới của Romulus. Remus đã bị Romulus giết chết. Kể từ đó, Romulus, con của thần chiến tranh, đã dẹp loạn và xây dựng một thành phố mới được đặt theo tên của mình. Kinh thành Roma đã ra đời từ sự tích ấy.
Dĩ nhiên đây chỉ là một huyền thoại, nhưng là một huyền thoại nói lên triết lý của người La Mã thời cổ. Theo triết lý này, khi xem thần Mars như thần hộ mạng của họ, người La Mã quan niệm rằng hòa bình không hề có nghĩa là không có chiến tranh. Họ cho rằng hòa bình là một đoạn cuối khi mà tất cả mọi nước khác đều bị thu tóm, đè bẹp và phải tùng phục Đế quốc La Mã. Họ gọi đó là “Hòa bình La Mã” (Pax Romana): hòa bình đã  đạt được bằng con đường bạo động, chiến tranh, thống trị, đàn áp, nô lệ hóa và khủng bố. Triết lý này cũng được diễn tả qua câu nói quen thuộc của họ: “nếu muốn có hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh” (Si vis pacem, para bellum). Đứa trẻ  từng được “nuôi dường bởi chó sói” đã trở thành ông tổ của một đế quốc chủ trương xem bạo động, chiến tranh và khủng bố như phương tiện để xây dựng hòa bình.
Tôi không biết ca nhạc sĩ Bono có nghĩ đến huyền thoại về nguồn gốc của thành La Mã không khi anh viết ca khúc “Raised by Wolves”. Nhưng khi viết rằng “tất cả những điều tệ hại nhứt trên thế giới đều được biện minh bằng niềm tin (tôn giáo)”, anh hẳn đã nghĩ đến hận thù, bạo động, khủng bố vốn chìm sâu trong lòng người và được nhiều người nhân danh tôn giáo để triệt để khai thác hầu loại trừ hay thống trị trên người khác.
Ngày nay, mỗi khi nói đến những điều tệ hại nhứt được biện minh bằng niềm tin, có lẽ nhiều người chỉ nghĩ đến những người Hồi giáo cực đoa và cuồng tín, những kẻ nhân danh Đấng Allah vĩ đại để thực hiện những hành động khủng bố. Thật ra, khi nhìn vào cuộc đặt bom khủng bố tại Dublin năm 1974, ca nhạc sĩ Bono trước tiên nghĩ đến những hành động khủng bố trong chính Kitô Giáo. Kể từ Thế kỷ thứ Tư, khi Hoàng đế La Mã Constantinus (272-337 trước Công nguyên) gia nhập Kitô Giáo, chấm dứt các cuộc bách hại đối với các tín hữu Kitô và biến Kitô Giáo thành quốc giáo, chủ trương  “Hòa bình La Mã” của Đế quốc La Mã lại càng được củng cố. Kitô Giáo không còn bị bách hại, nhưng để gọi là xây dựng và bảo vệ “hòa bình” trong toàn đế quốc, tất cả mọi thần dân của đế quốc đều phải theo Kitô Giáo. Không phải vô lý hay quá khích mà ai đó đã bảo rằng lưỡi gươm của đế quốc và thập giá luôn song hành với nhau. Có lẽ hình ảnh này rõ nét hơn trong các cuộc Thập tự Viễn chinh vào thời Trung cổ do các nước theo Kitô Giáo Tây Phương thực hiện nhằm chiếm lại “Đất Thánh Gierusalem”. Thứ “Hòa bình La Mã” ấy đã gây ra không biết bao nhiêu cảnh máu đổ thịt rơi. Ngay cả tại Âu Châu Kitô Giáo, chính vì muốn bảo vệ một thứ hòa bình xây dựng trên hận thù, bạo động và chiến tranh ấy mà kể từ cuộc cải cách Tin Lành vào Thế kỷ 16, các nước theo Kitô Giáo cũng sát phạt lẫn nhau. Niềm tin, thập giá luôn được giương lên để chém giết và loại trừ lẫn nhau.
Đó là cảnh tượng mà khi ghi lại cuộc khủng bố tại Dublin năm 1974 và lập lại điệp khúc “Raised by Wolves”, ca nhạc sĩ Bono hẳn đã nghĩ tới.
Với tôi một trong những bí ẩn lớn nhứt trong lòng người chính là hận thù. Đó là hạt giống chìm sâu trong lòng người. Trong mỗi một con người luôn diễn ra cuộc chiến giữa tình yêu và hận thù. Trong mỗi một con người luôn có một con chó sói lúc nào cũng gầm gừ chực sổ chuồng.  Chó sói chỉ thắng thế khi con người lấy hận thù và bạo động như phương tiện để đeo đuổi những lý tưởng mà họ cho là cao đẹp nhứt như  niềm tin tôn giáo, dân tộc và ngay cả hòa bình. Trái lại, dòng sữa của loài chó sói trong lòng người sẽ khô cạn, lò lửa của hận thù sẽ tắt dần nếu con người biết lấy tình thương để đối xử với mọi người.
Chuyện xảy ra tại một quán rượu tại Olathe, Thành phố Kansas, Tiểu bang Missouri, Hoa Kỳ  vào buổi tối thứ Tư ngày 22 tháng Hai 2017  vừa qua quả là một câu chuyện buồn. Cuộc bắn giết đã khiến cho hai người Ấn Độ, một thiệt mạng và một bị thương. Điệp khúc “Raise by Wolves” lại văng vẳng bên tai tôi khi tôi theo dõi cuộc bắn giết ấy. Chắc chắn phải được thúc đẩy bởi hận thù chủng tộc mà kẻ sát nhân đã thốt lên “Hãy cút khỏi nước tao” khi bắn xối xả vào những người Ấn Độ có mặt trong quán rượu. Nhưng với tôi cuộc thảm sát không chỉ dừng lại ở điệp khúc “Raised by Wolves”. Âm thanh của súng đạn và hận thù có lẽ đã bị át đi bởi nghĩa cử của một người Mỹ da trắng tên là Ian Grillot. Khi tìm cách chận đứng hành động bạo tàn của tên sát nhân, anh đã lãnh đủ hai viên đạn, một chọc thủng bàn tay và một đâm vào ngực. Khi được tuyên dương như một anh hùng và được hỏi cảm tưởng, anh đã cả quyết rằng bất cứ ai cũng sẽ hành động như anh trong một hoàn cảnh như thế.
Quả thật, trong một hoàn cảnh tương tự, phản ứng thông thường của những người bình thường chính là tỏ tình liên đới và tìm cách giúp đỡ người hoạn nạn. Ian Grillot không phải là người duy nhứt đã hứng đạn vì nghĩa cử của mình. Một người Ân Độ còn sống sót trong cuộc thảm sát đã kể lại rằng một người lạ có mặt trong quán rượu cũng đã xé áo của mình để băng bó vết thương cho ông. Ông tin rằng hành động này đã cứu mạng ông.
Kể từ khi ông Trump được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ, người ta không chỉ nghe thấy ngôn ngữ bài ngoại. Hận thù vẫn mãi mãi  không phải là ngôn ngữ nổi trội tại Hoa Kỳ. Sau khi xảy ra cuộc thảm sát, nhiều người kể lại rằng trong một buổi tối trước đó, khi 2 người kỹ sư Ấn Độ này bị một người Mỹ tấn công bằng những lời lẽ kỳ thị chủng tộc, một nhà kinh doanh có mặt trong quán rượu đã an ủi họ và trả tiền ăn và tiền rượu cho họ. Nhà kinh doanh này muốn cho thấy rằng hận thù không phải là ngôn ngữ chung của mọi người Mỹ hiện nay.
Sự tử tế và tình người đã không hoàn toàn chết hay bị tê liệt tại Hoa Kỳ kể từ khi Tổng thống Trump nhậm chức. Cảm động nhứt có lẽ là sự đáp trả của một số người Hồi giáo Mỹ trước hiện tượng đập phá các nghĩa trang của người Do Thái. Nhiều người Hồi giáo đã tình nguyện đến các nghĩa trang và nơi tụ họp của người Do Thái để canh phòng. Họ cũng đã tổ chức quyên góp để sửa chữa các nghĩa trang của người Do thái đã bị đập phá. Đối lại khi một đền thờ Hồi giáo ở Tiểu bang Florida bị đốt cháy, nhiều người Do Thái cũng đã đóng góp để chỉnh trang lại đền thờ.
Tình người quả không có biên giới. Bên kia biên giới, bên kia các giáo điều của các tôn giáo, có lẽ chỉ tình người mới có đủ sức mạnh để vô hiệu hóa nanh vuốt của loài chó sói đang ẩn hiện trong lòng người.




Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

Người bạn câu của tôi



Chu Thập
06.08.13


Mùa đông, cá mắm chỗ tôi kéo nhau đi “nghỉ hè” hết cho nên tôi thất nghiệp. Thỉnh thoảng, ghiền quá, xách cần đi, rồi lại mang cần về không. Ba tháng mùa Đông đối với tôi cũng giống như 3 tháng ở cái thời còn hát bài “mỗi năm đến Hè lòng man mác buồn”: nhớ trường, nhớ lớp, nhớ ghế và nhứt là nhớ bạn bè! Chỉ mong cho hết Hè để gặp lại bạn bè.
Trong “trường câu”, tôi có một người bạn mà tôi cũng chỉ mong cho hết mùa Đông để được gặp lại. Tên của anh là Brett. Sáng thứ Bảy nào chúng tôi cũng gặp nhau ở bãi câu. Lúc nào anh cũng cười. Nhìn hàm răng với một số “cửa ngỏ” bỏ trống, tôi biết chắc Brett không phải là dân “cổ trắng” và trong giới “cổ xanh” thì có lẽ thứ bậc của anh cũng chẳng cao lắm. Còn đánh giá về cách chọn chỗ câu hay quăng cần, tôi nghĩ anh không phải là dân chuyên nghiệp. Không câu được cá, nhưng “câu người” thì tôi nghĩ ở cái bãi câu quen thuộc nơi chúng tôi thường gặp nhau, chẳng ai có thể qua mặt được anh.
Hừng đông vừa ló dạng, dân chạy bộ tấp nập kẻ qua người lại. Vậy mà hầu như người nào cũng được ông bạn câu của tôi chào hỏi và ai cũng dừng lại trao đổi năm ba câu với anh. Đứng bên cạnh, nhưng nghe cái giọng tiếng Anh “Miệt Dưới” rặc của họ, tôi không nắm bắt hết câu chuyện. Nhưng cả ông bạn tôi lẫn người khách qua đường đều cười dòn tan. Một ngày mới được đánh dấu bằng những nụ cười như thế  hẳn phải là một khởi đầu tốt đẹp.
Có lần tôi “bốc thơm” Brett: “Này ông bạn, nói cho tôi biết bí quyết nào giúp ông bạn trở thành người “nổi tiếng” (popular) trong vùng này như thế?” Vẫn với nụ cười rất hồn nhiên và dường như không bao giờ tắt trên môi, anh giải thích rằng lúc nào anh cũng cười và chào hỏi người ta trước, bất luận là quen biết hay xa lạ.
Mỗi sáng cuối tuần, dù đầu óc có bị căng thẳng đến đâu, cứ gặp lại Brett là tôi cảm thấy như trút bớt được một gánh nặng và nạp vào đầu óc một ít năng lượng, một chút cảm hứng để tiếp tục sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn. Brett lúc nào cũng mang lại cho tôi nguồn cảm hứng. Tôi tin rằng một người lúc nào cũng nở nụ cười trên môi và gặp bất kỳ ai cũng có thể chào hỏi, chỉ có thể là một người hạnh phúc và có cái tâm an bình mà thôi. Tôi mong lúc nào cũng được như thế.
Qua người bạn câu này, tôi xác tín rằng hạnh phúc nằm trong cái tâm của con người hơn là những điều kiện vật chất. Ai cũng đi tìm hạnh phúc. Sách vở báo chí, văn chương, nghệ thuật và ngay cả khoa học tốn không biết bao nhiêu công sức và giấy mực để bàn về đề tài này. Nhưng dường như người ta đi “vòng vòng” chung quanh vấn đề hơn là đi vào cốt lõi của nó.
Trong hai số nhập một ngày 8 và 15 tháng 7 vừa qua, tạp chí Time lại bàn đến vấn đề này một lần nữa. Sau khi trích dẫn nhiều cuộc nghiên cứu, cuối cùng tạp chí này cũng chỉ lập lại một luận đề cũ rích về hạnh phúc: “Muốn hạnh phúc hãy làm giàu”. Tiền bạc có thể mua hạnh phúc. Đây là khẩu hiệu mà tôi đã từng học được khi vừa đặt chân đến trại tỵ nạn ở Galang, Nam Dương hồi đầu thập niên 1980. Để khuyến khích người tỵ nạn học Anh ngữ (bởi vì hầu hết các nước được người tỵ nạn chọn làm quê hương mới đều nói tiếng Anh), người ta giăng khắp nơi khẩu hiệu: “No English, no Job. No Job no Money. No Money no Happiness” (Không biết tiếng Anh, không có việc làm. Không có việc làm, không có tiền. Không có tiền không có hạnh phúc). Trong một mức độ nào đó và trong một số hoàn cảnh nào đó, tiền bạc quả thật mang lại hạnh phúc cho con người. Thiếu những điều kiện vật chất tối thiểu, con người khó có thể sống xứng với phẩm giá con người. Mà bần cùng thì dễ sinh ra đạo tặc. Một cuộc sống nghèo đói có thể đẩy con người vào đường cùng, làm điều thất đức và như vậy khó có được an vui và hạnh phúc. Nhưng cuộc sống cũng không ngừng chứng minh rằng ngay cả trong những hoàn cảnh túng cực nhất, vẫn có những người sống hạnh phúc và an lạc. Cứ đến những nước nghèo nàn, mạt rệp như Việt Nam chẳng hạn, để phỏng vấn dân chúng, người ta sẽ thấy rằng người dân ở đây có khi lại cảm thấy hạnh phúc hơn tại những nước giàu. Trong chốn tù đày khốn khổ, đâu thiếu những người vẫn giữ được cái tâm an bình và niềm vui sống. Như bản tuyên ngôn độc lập của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã khẳng định, đi tìm hạnh phúc là quyền của mỗi người. Các chế độ độc tài có thể tước đoạt những quyền cơ bản nhứt của con người như quyền tư hữu, quyền đi lại, quyền tự do ngôn luận và phát biểu…nhưng quyền được hạnh phúc thì chẳng có quyền lực nào trên trần gian này có thể cướp đoạt của con người, bởi vì quyền này nằm sâu kín trong tâm hồn con người. Đó là kho tàng quý giá nhứt còn lại của con người sau khi tất cả mọi thứ quyền khác bị tước đoạt. Tôi có thể mất tất cả mọi sự mà vẫn có thể cảm thấy hạnh phúc! Có một yếu tố khác có thể làm cho tôi hạnh phúc chớ không phải chỉ có tiền bạc hay những điều kiện vật chất. Tiền bạc có thể mang lại hạnh phúc mà cũng là nguyên nhân gây ra bao nỗi khốn khổ cho con người.
Bàn về hạnh phúc, trên báo The Sydney Morning Herald, số ra ngày 25 tháng 7 vừa qua, tôi cũng đọc được một bài viết có tựa đề “Happiness: not to be taken for granted” (hạnh phúc: không phải tự nhiên mà có). Tác giả của bài báo, ký giả Amy Gray nêu lên câu hỏi: “Người dân Úc bỏ ra hàng triệu triệu đồng cho việc học hỏi, chữa trị, dinh dưỡng…để được hạnh phúc hơn. Nhưng liệu họ có thực sự tìm kiếm những điều làm cho họ hạnh phúc không?”
Tác giả nhắc đến một cuộc nghiên cứu nổi tiếng về hạnh phúc có tên là “The Grant Study”. Cuộc nghiên cứu tìm hiểu cuộc sống của những người đã từng tốt nghiệp từ Đại học danh giá Harvard của Hoa Kỳ kể từ năm 1937. Qua một loạt những trắc nghiệm và câu hỏi về sức khỏe thể lý và tâm lý, người thực hiện cuộc nghiên cứu là chuyên gia tâm lý George Valiant đi đến kết luận: có một con đường dẫn đến hạnh phúc! Và con đường đó, theo ông Valiant, chính là tuổi thơ! Sinh viên nào đã có được một tuổi thơ tốt đẹp, nghĩa là được lớn lên trong những quan hệ gia đình ấm cúng, đều có một công việc tốt với thu nhập trung bình cao hơn người khác đến trên 80 ngàn đồng mỗi năm. Họ có cuộc sống hạnh phúc và ít có nguy cơ bị bệnh “lú lẫn” (dementia) hơn người khác. Vivek Wagle là một trường hợp điển hình. Từ một gia đình nghèo bên Ấn Độ, nay ông Wagle đã có một cuộc sống sung túc tại Hoa Kỳ. Ông giải thích rằng sở dĩ ông thành công trong học vấn và nghề nghiệp là bởi vì ông đã được sinh ra và lớn lên trong một gia đình đầy ắp tình thương và sự bao bọc lẫn nhau.
Nhưng theo ký giả Gary, đối với những người không được may mắn sinh ra và lớn lên trong một gia đình đầm ấm, hạnh phúc cũng không bao giờ là điều nằm ở ngoài tầm tay với. Có biết bao nhiêu người đã từng trải qua một tuổi thơ bất hạnh nhưng vẫn có thể thành đạt, có được cuộc sống hạnh phúc. Chính khả năng thích ứng với những khó khăn trong cuộc sống mới tạo ra cơ may thành công và mang lại hạnh phúc cho họ.
Ký giả Gary trích dẫn trường hợp của bà J’aimée Skippon Volke, người chuyên tổ chức Liên hoan phim nổi tiếng Byron Bay, NSW. Bà Volke cho biết: ở tuổi thiếu niên, bà đã có lần toan tự tử. Theo bà, cách thế con người thích ứng với những hoàn cảnh khác nhau trong cuộc sống quyết định về hạnh phúc của họ.
Cuộc nghiên cứu “Grant Study” của ông Valiant cho thấy cuộc sống của chúng ta được quyết định từ cách chúng ta đáp ứng với những căng thẳng hay chấn thương trong cuộc sống. Những phản ứng thiếu trưởng thành sẽ dẫn đến những khó khăn trong quan hệ của chúng ta với người khác. Trái lại, khi đứng trước những khó khăn của cuộc sống, nếu chúng ta luôn phản ứng với óc khôi hài, lòng vị tha và lạc quan…chúng ta dễ cảm thấy hạnh phúc hơn.
Tựu trung, theo ông Valiant, tất cả mọi yếu tố mang lại hạnh phúc cho con người đều quy về một mối là quan hệ của họ với người khác. Kết quả của cuộc nghiên cứu “Grant Study” được tóm gọn trong câu: “Happiness is love. Full stop.” (Hạnh phúc là yêu thương. Chỉ đơn giản có thế).
Đây là “kinh tin kính” của tôi: có sống yêu thương, con người mới hạnh phúc! Tôi tin như thế khi nhìn nụ cười và lời chào hỏi mà ông bạn Brett của tôi lúc nào cũng trao tặng cho người khác. Con người chỉ có thể trao tặng điều mình có. Có an bình và hạnh phúc trong tâm hồn, con người mới muốn trao tặng cho người khác. Và như nguồn nước ở đáy giếng, càng được khai mạch, nước càng tuôn ra. Càng được trao ban, niềm hạnh phúc càng tuôn trào.
Tôi cảm nghiệm được điều đó trong cuộc chạy bộ mỗi ngày. Bắt chước ông bạn câu của tôi, gặp bất cứ ai quen biết hay xa lạ, tôi cũng đều nhìn vào mắt họ, gật đầu chào, “say hello” và dĩ nhiên với nụ cười đi kèm. Đa số đều đáp lại lời chào và nụ cười của tôi. Tôi nghĩ rằng người nào được tôi chào hỏi mà vẫn cúi gầm mặt hay nhìn đi chỗ khác, nếu không phải là một người kỳ thị chủng tộc thì cũng không thể là người có được niềm an bình và hạnh phúc trong tâm hồn.
Về phần tôi, tôi nghĩ rằng khi tôi biết ra khỏi bản thân để tìm đến với người khác, dù chỉ bằng một ánh mắt hay một nụ cười thân thiện, đó là lúc tôi cố gắng tìm kiếm niềm an bình và hạnh phúc. Người khác, nhứt là người xa lạ, là tấm gương soi của tâm hồn tôi. Nếu tôi luôn nghĩ rằng người xa lạ cũng giống như tôi và cần được tôi tôn trọng và đối xử tử tế bằng ánh mắt hay nụ cười thân thiện, thì lúc đó sẽ có sự thay đổi tốt đẹp trong bản thân tôi. Tôi sẽ nhận ra rằng hầu hết mọi người cũng đều giống như tôi. Họ cũng có gia đình, những người họ thương yêu, những khó khăn, những trăn trở, những sở thích, những điều họ không ưa thích, những nỗi lo sợ, những kỳ vọng, những ước mơ . v.v… Tôi cũng sẽ nhận thấy rằng họ cũng dễ thương và biết ơn khi tôi tìm đến với họ. Khi tôi nhìn thấy người khác cũng giống như tôi như thế, tôi sẽ bắt đầu nhận ra “thiện tính”, sự ngay lành trong mỗi một con người. Chỉ với cái nhìn lạc quan và cảm thông như thế tôi mới cảm nhận được an bình và hạnh phúc trong tâm hồn.
Nữ hoàng hội thoại của Mỹ Oprah Winfrey đã nói một câu thật chí lý: “Hạnh phúc mà bạn nhận được tỷ lệ thuận với tình yêu thương bạn trao ban”. Thật vậy, ai cũng có một kho tàng hạnh phúc được chôn dấu trong thẩm cung của tâm hồn. Nhưng không phải do ngẫu nhiên mà con người tìm thấy được kho tàng ấy. Cần phải tìm kiếm, đào bới từng ngày bằng những cử chỉ yêu thương chúng ta mới khám phá và tận hưởng được kho tàng ấy. Kho tàng hạnh phúc ấy sẽ không bao giờ được tìm thấy nếu tầm hồn con người lúc nào cũng chỉ được nuôi dưỡng bằng hận thù, đố kỵ hay cay đắng. Hạnh phúc tự nó cũng là một kho tàng luôn mời gọi được chia sẻ. Anne Frank( 1929-1945), cô gái Đức gốc Do Thái, trước khi bị đưa vào trại tập trung Đức Quốc Xã Bergen-Belsen, đã trốn trong một gia đình tại Hòa Lan. Trong thời gian này, mỗi ngày cô đều ghi lại một trang nhựt ký. Năm 1952, cuốn nhựt ký của cô đã được xuất bản.Trong cuốn nhựt ký, Anne Frank đã để lại một câu đáng được những ai đang đi tìm hạnh phúc mang ra nghiền ngẫm: “Bất cứ ai hạnh phúc sẽ làm người khác hạnh phúc”.
Cám ơn Brett, ông bạn câu của tôi. Niềm hạnh phúc đơn giản của anh luôn là nguồn cảm hứng thúc đẩy tôi đi tìm niềm hạnh phúc trong chính bản thân tôi.









Thứ Hai, 13 tháng 3, 2017

Mễ Tây Cơ: những người con lưu lạc trở về!



10.03.17

Romulo Avelica Gonzalez, 48 tuổi, là một người Mễ Tây Cơ đã sống và làm việc tại Hoa Kỳ hơn 25 năm. Anh là một trong số trên 11 triệu người bị xếp vào hạng những người di dân “lậu”, nghĩa là không được phép cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.
Mới đây, khi đưa đứa con gái 12 tuổi đến trường tại khu phố Pasadena, Los Angeles, Tiểu bang California, Romulo đã bị cảnh sát di trú bắt giữ và đưa về một trung tâm tạm giam gần đó. Sở di trú đã thông báo cho gia đình anh là anh sẽ bị trục xuất ngay trong ngày hôm đó. Tuy nhiên, nhờ sự can thiệp của mạng lưới có tên là “National Day Laborer Organizing Network” (mạng lưới bảo vệ người công nhân), lệnh trục xuất Romulo đã được tạm hoãn. Nhưng anh bị đưa tới một trại tạm giam khác.
Romulo là một trong số rất nhiều người Mễ phải bị trục xuất theo lệnh của Tổng thống Donald Trump nhắm vào những thành phần cư trú bất hợp pháp và có án hình sự. Romulo đã bị phạt vì say rượu mà lái xe cách đây 10 năm. Ngoài ra, cách đây hai thập niên, anh cũng bị phạt vì lái một chiếc xe không có đăng bộ.
Cho tới nay mỗi ngày có khoảng 500 người Mễ phải từ bỏ công việc và từ giã gia đình của họ tại Hoa Kỳ để trở về quê hương của mình. Ngày 23 tháng Hai vừa qua, đã có 135 người đáp chuyến bay từ El Paso, Tiểu bang California để trở về Mễ Tây Cơ. Tại phi trường quốc tế ở Thủ đô Mễ Tây Cơ, nhân viên chính phủ đã ra chào đón, trao cho họ một ít thức ăn cũng như một tấm thẻ căn cưới mới và hướng dẫn họ đến các văn phòng xã hội ở thủ đô.
Đây là những người Mễ đã từng sinh sống tại Hoa Kỳ 20 năm qua. Kể từ khi ông Donald Trump nhậm chức tổng thống Mỹ ngày 20 tháng Giêng vừa qua, con số những chuyến bay của Chính phủ Mỹ chở những người Mễ bị trục xuất về xứ sở của họ ngày càng nhiều. Dưới thời Tổng thống Barack Obama, mỗi tuần chỉ có 2 chuyến. Nay con số này đã tăng lên 3 chuyến. Các chuyến bay này chở về Mễ Tây Cơ không chỉ những thành phần bất hảo mà cũng mang theo rất nhiều người không có bất cứ một hồ sơ tội phạm nào.
Tổng thống Trump xem việc bảo vệ biên giới Mỹ, cụ thể là thắt chặt chính sách di trú như quan tâm hàng đầu trong chiến dịch vận động bầu cử của ông. Ông đã tuyên bố rõ ràng rằng những người di dân bất hợp pháp không những đe dọa cho nền an ninh của Hoa Kỳ mà còn cướp mất việc làm của dân Mỹ.
Rất nhiều người trong số những người Mễ bị trục xuất về lại xứ sở của họ cảm thấy hoàn toàn xa lạ trên chính đất nước của mình. Theo bà Amalia Garcia, một nhân viên Bộ Lao Động của Mễ Tây Cơ đặc trách về việc đón tiếp những người bị trục xuất, nhiều người không nói được tiếng Tây Ban Nha vốn là ngôn ngữ chính của Mễ Tây Cơ. Họ cảm thấy cay đắng, nhục nhã và rất đau khổ khi bị trục xuất về lại Mễ Tây Cơ.
Những người bị cưỡng bách hồi hương hay tự nguyện hồi hương này ít hay nhiều đặt ra nhiều vấn đề cho Chính phủ Mễ Tây Cơ. Các chuyên gia kinh tế cho rằng càng có nhiều người Mễ trở về quê hương thì càng có nhiều cạnh tranh hơn trong thị trường lao động, nhất là trong ngành xây dựng và chế tạo xe hơi.
Ngoài ra, Mễ Tây Cơ cũng sẽ mất đi một số thu nhập lớn từ các di dân lao động tại Hoa Kỳ. Theo ước tính, hồi năm ngoái, người Mễ sống và làm việc tại Hoa Kỳ gởi về nước khoảng 25 tỷ Mỹ kim. Đây là nguồn thu nhập lớn thứ 2 của Mễ Tây Cơ. Với số người Mễ bị trục xuất  ngày càng nhiều, nguồn thu nhập này sẽ giảm và kinh tế Mễ Tây Cơ sẽ bị ảnh hưởng. Nông thôn là nơi sẽ bị nhiều thiệt thòi hơn cả, bởi vì đây là nơi xuất cảng ra nước ngoài  nhiều di dân lao động hơn cả.
Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, một số chuyên gia lại cho rằng số người Mễ bị trục xuất về lại xứ sở cũng có thể là một “vốn quý” lớn. Đã từng học được nhiều kỹ năng tại Hoa Kỳ và nhất là có thể sử dụng Anh Ngữ một cách dễ dàng, họ sẽ là một nguồn nhân lực mới cho Mễ Tây Cơ. Các nhà phân tách cho rằng về lâu về dài, họ sẽ giúp cho Mễ Tây Cơ có được một chỗ đứng quan trọng hơn trong nền kinh tế toàn cầu.
Andrew Selee, giám đốc Viện Mễ Tây Cơ tại Trung tâm Woodrow Wilson ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, cho biết trong hàng ngũ những người Mễ bị trục xuất, có rất nhiều người đã từng kinh doanh thành công tại Hoa Kỳ. Theo ông, nếu đã từng có cả một làn sóng người Mễ đã hòa nhập vào văn hóa Mỹ và làm thay đổi nền văn hóa này thì cũng có một làn sóng người Mễ trở về xứ sở để mang nền văn hóa Mỹ về hòa nhập vào  Mễ Tây Cơ.
Đây là lý do khiến Chính phủ Mễ Tây Cơ đặt nhiều hy vọng vào làn sóng người Mễ bị trục xuất về lại xứ sở của họ. Chính phủ Mễ hy vọng rằng những người bị trục xuất sẽ không tìm cách thử lại thời vận bằng cách vượt qua biên giới là nơi mà Chính phủ Trump sẽ cho xây một bức tường.
Năm 2014, Chính phủ Mễ đã khởi xướng một chương trình lấy tên là “Somos Mexicanos” (chúng ta là người Mễ) nhằm giúp những người hồi hương tìm việc làm, kinh doanh và vượt qua được nỗi đau vì phải bỏ lại gia đình bên Mỹ.
Theo chương trình này, những người bị trục xuất sẽ được cung cấp lương thực, cho khám nghiệm y tế và được di chuyển miễn phí đến bất cứ nơi nào họ muốn sinh sống. Chính quyền địa phương giúp họ liên lạc với các văn phòng xã hội và hướng dẫn tìm việc làm. Trong một số trường hợp, chương trình này cũng giúp đỡ để họ được đoàn tụ với gia đình.
Bà Gabriela Garcia Acoltzi, giám đốc của chương trình “Somos Mexicanos” cho biết việc đầu tiên mà rất nhiều người Mễ hồi hương nghĩ tới là việc làm. Nhưng liệu Chính phủ Mễ có thể đáp ứng được ưu tiên hàng đầu này của những người hồi hương không. Trong một đất nước mà nạn thất nghiệp vẫn còn cao, bảo đảm được việc làm cho những người hồi hương không phải là điều dễ dàng. Hiện đồng Peso của Mễ Tây Cơ cũng sụt giá một cách thê thảm, nhất là kể từ khi ông Trump nhậm chức tổng thống Mỹ. Kể từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu hồi năm 2008, đây là lần thứ hai nhiều người lo sợ rằng Mễ Tây Cơ lại phải trải qua một nạn lạm phát trầm trọng hơn. Lo sợ là phải bởi vì một cuộc chiến tranh thương mại mà Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Trump có thể gây ra có thể ảnh hưởng đến cán cân thương mại giữa 2 nước vốn lên đến 1.5 tỷ Mỹ kim mỗi ngày.
Trong khi đó thì giá sinh hoạt, đặc biệt là loại bánh mì “Tortillas”, thịt và các nhu yếu phẩm khác, lại gia tăng sau khi Chính phủ Mễ tăng giá xăng thêm 20 phần trăm. Những người Mễ nghèo lại nghèo thêm. Liệu những người hồi hương có thể thích nghi với một cuộc sống đầy khó khăn và thử thách đang chờ đợi họ không?
Tại phi trường quốc tế ở Thủ đô Mễ Tây Cơ, người ta thấy những người bị trục xuất vẫn còn mặc bộ quần áo nhăn nheo và cũ xì khi họ bị cảnh sát di trú Mỹ bắt giữ. Một số khác vẫn còn mang trên người chiếc quần màu xanh của các tù nhân. Một số vì chẳng thấy bất cứ một tương lai tốt đẹp nào trước mắt cho nên thay vì chờ đợi được nhân viên Chính phủ Mễ giúp đỡ để tái hội nhập vào cuộc sống ở quê nhà, đã chạy đến xếp hàng ở một trạm xe buýt để tìm đường trở lại biên giới.
Luis Enrique Castillo, 47 tuổi, nói rằng cuộc sống ở quê nhà xem ra không tốt đẹp đối với ông. Ông cho biết sẽ tìm cách trở lại với vợ, 4 đứa con và hai đứa cháu tại Chicago là nơi mà ông đã từng sống 20 năm nhưng không có được bất cứ giấy tờ tùy thân nào. Người đàn ông kém may mắn này nói rằng cảnh sát di trú Mỹ đã gõ cửa để tìm kiếm một trong những người con trai của ông vốn đã có tên trong danh sách những người phải bị trục xuất. Họ đã không tìm thấy người con trai của ông. Thay vào đó, sau khi kiểm soát giấy tờ của ông, họ đã bắt giữ và mang ông đi.
Một người đàn ông khác tên là José Armando Lopez Garcia, 50 tuổi, kể lại rằng ông đã bị trục xuất cách đây một năm. Ông đã phải bỏ lại vợ và 5 đứa con tại Las Vegas, sau khi bị cảnh sát bắt giữ vì sử dụng bằng lái xe giả.
Là một người thợ mộc, ông Garcia đã được chương trình “Somos Mexicanos” trợ cấp cho 1.260 Mỹ kim để mở một xưởng mộc tại nhà của mẹ ông hiện đã 92 tuổi. Tiền kiếm được chỉ vừa đủ cho cá nhân ông. Cứ mỗi lần nhìn thấy trẻ con, ông lại nhớ đến con mình tại Mỹ. Cuộc sống khó khăn cộng với nỗi nhớ thương gia đình khiến người Mễ hồi hương này bị trầm cảm nặng nề. Nhớ con, ông cũng thương những đứa trẻ hàng xóm. Người đàn ông đã từng hưởng được cuộc sống đẩy đủ tiện nghi và an ninh ở Mỹ đã phải thổn thức và tự hỏi: làm sao con cái ông có thể sống và cấp sách đến trường  trong một tình trạng thiếu an ninh như vầy?
Bà Jill Anderson, giám đốc của tổ chức “Otros Dreams en Acción” chuyên giúp đỡ những người di dân bất hợp pháp đã lớn lên tại Hoa Kỳ, nói rằng khi trở về Mễ Tây Cơ nhiều học sinh gặp phải nhiều vấn đề khi làm đơn nhập học vào các trường công. Việc đòi hỏi phải nộp học bạ từ các trường Mỹ và nhất là nạn bàn giấy khiến cho nhiều học sinh từ Mỹ trở về phải mất đến hơn cả năm mới được nhập học. Vốn theo học tại Mỹ và chỉ biết Anh Ngữ, nhiều học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc hội nhập vào các trường trung học ở Mễ Tây Cơ. Dù sao, do thông thạo Anh Ngữ và đã từng hấp thụ văn hóa Mỹ, các thanh niên hồi hương vẫn được xem là một nguồn nhân lực đầy triển vọng cho xứ sở của họ.
Một kinh tế gia Mễ cho rằng trong đoản kỳ, vì ngày càng có nhiều tay nghề cao hơn nhưng việc làm lại hiếm cho nên đồng lương trung bình có thể hạ giảm. Tuy nhiên kinh tế gia này cho rằng về lâu về dài kinh tế Mễ sẽ có nhiều triển vọng hơn vì nguồn nhân lực mới này. Chuyên gia kinh tế này nói: “Đất nước đã mất mát nhiều vì đã gởi những người thợ giỏi sang Hoa Kỳ...Khi họ trở về Mễ Tây Cơ và một khi đã được huấn luyện đầy đủ, họ sẽ đóng góp nhiều cho xứ sở”.

 (theo: https://www.washingtonpost.com/world/the_americas/mexico-prepares-to-absorb-a-wave-of-deportees-in-the-trump-era/2017/03/03)




Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017

Lữ thứ



Chu Thập
03.03.17
Port Arthur 02/2017
Khởi hành từ Sydney, sau hai đêm và một ngày lênh đênh trên biển, chiếc tàu du lịch Carnival Legend cặp bến gần Port Arthur. Đây là lần thứ hai tôi tham dự một cuộc hải trình như thế. Mục đích của chuyến đi này là để được tháp tùng một số người thân chưa bao giờ có kinh nghiệm về du lịch bằng đường thủy hơn là để hưởng thụ hay nghỉ ngơi. Nhưng với tôi, cứ đi được một ngày đàng là học được một sàn khôn. Lần này, cuộc hành trình dường như đưa tôi về căn cội bản sắc tỵ nạn của mình.
Port Arthur là một địa danh mà tôi thường liên tưởng đến mỗi khi xảy ra một vụ bắn giết ở bất cứ một nơi nào trên thế giới. Nằm ở cực nam tiểu bang Tasmania, Port Arthur là nơi mà ngày 28-29 tháng Tư năm 1996, một người đàn ông bị bệnh tâm thần đã xách súng bắn loạn xạ vào một đám đông khiến cho 36 người bị chết và 23 người bị thương. Kể từ đó, chính phủ dưới thời Thủ tướng Howard đã ban hành lệnh thu hồi súng ống và kể từ đó đến nay ở Úc Đại Lợi không hề xảy ra bất cứ một vụ bắn giết nào như thế nữa. Đó là một bài học quý giá mà có lẽ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ không bao giờ muốn học hỏi.
Tôi đến Port Arthur để tưởng niệm biến cố đau thương ấy. Nhưng Port Arthur không chỉ có thế. Đập vào mắt tôi trước tiên chính là ngôi nhà  3 tầng đổ nát, nơi đã từng là nhà tù giam giữ các tù nhân được đưa từ Anh Quốc sang Úc Đại Lợi trong đợt di dân và định cư đầu tiên của người Anh tại vùng đất mới này. Trên một bản hướng dẫn du lịch, tôi đọc được một lời giải thích theo đó nhà tù ở Port Arthur là nơi mà người Anh muốn mang ra áp dụng triệt để  chế độ nhà tù tại Anh Quốc như được triết gia, nhà luật học và cách mạng xã hội tên là Jeremy Bentham (1748-1749) phát minh. Khi cho xây dựng một nhà tù bên cạnh dòng sông Thames, ông Bentham tuyên bố rằng đây là “một cỗ máy để nghiền nát những tên côn đồ thành những người lương thiện” (A machine to grind rogues honest). Một kỷ luật hà khắc đã được mang ra áp dụng cho các tù nhân bị đày sang Úc Đại Lợi để vừa được thanh luyện và uốn nắn vừa để làm nô lệ trong các công trình khai khẩn và xây dựng ở vùng đất mới. Như ông Bentham đã dự đoán, kỷ luật sắt đã biến một số tù nhân thành những người thợ giỏi trong một số ngành nghề như thợ mộc, thợ nề, thợ rèn...Chính họ là tổ tiên của rất nhiều người dân Úc gốc Anh hiện nay. Nhưng trong số các tù nhân bị đày sang Úc Đại Lợi, nhiều người, kể cả các thiếu niên chỉ mới 9, 10 tuổi đã ngã gục dưới sự bóc lột và những hình phạt độc ác của các cai tù. Ngay tại Hobart, thủ phủ của Tiểu bang Tasmania, người hướng dẫn viên du lịch còn cho biết rằng sau khi một nữ tù nhân sinh con, người ta liền mang đứa con đi. Hầu hết những thơ nhi bị tách khỏi người mẹ như thế đều chết do thiếu hơi ấm của người mẹ và nhất là không được chăm sóc đầy đủ.
Hình ảnh của những thơ nhi, người mẹ mất con và nhất là các tù nhân bị giam giữ và bắt lao động trong những điều kiện vô nhân đạo nhất cứ lẩn quẩn trong trí tôi mỗi khi tôi nhìn hay bắt chuyện với các nhân viên đang phục vụ trên chiếc tàu du lịch. Một vài công thức chào hỏi học được trong trại tỵ nạn ở Galang, Nam Dương vào đầu thập niên 1980 và trong những năm làm việc tại Phi Luật Tân cũng như trong một chuyến đi Thái Lan đã cho phép tôi  làm quen được một cách dễ dàng với một số nhân viên trên tàu, nhất là những người phục vụ trên bàn ăn và dọn dẹp trong phòng ngủ. Ngoài người Nam Dương, Phi Luật Tân, Thái Lan, tôi còn nhận diện được một số sắc dân khác như Thái Bình Dương và ngay cả Đông Âu như Ba Lan, Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi...
Màu da có khác, ngôn ngữ có khác, nhưng tất cả những nhân viên phục vụ trên chiếc tàu du lịch đều nối kết với nhau bằng một mẫu số chung: tất cả đều vì gia đình và vì một tương lai tốt đẹp hơn! Hầu hết đều có một câu chuyện giống nhau để kể cho du khách: hợp đồng làm việc của họ thường là một năm hay ít nhất 6 tháng; họ chỉ mong kiếm được một số tiền, về quê xây một ngôi nhà hay buôn bán làm ăn. Một người thanh niên Nam Dương mà tôi đoán chỉ mới 25 tuổi khoe ngón tay có đeo nhẫn và cho biết đã có một đứa con 2 tuổi. Tôi không thể tưởng tượng được ở tuổi đó, mặc dù không phải trong thời chiến tranh hay tù đày, người ta có thể xa vợ con trong một thời gian dài như thế.
Tiếp xúc mỗi ngày với các nhân viên phục vụ trên tàu rồi nhìn vào biển cả mênh mông, tôi không thể không nhớ lại cuộc vượt biển của tôi và của hàng triệu người Việt Nam sau năm 1975. Trốn khỏi chế độ cộng sản là để được tự do và nhất là có được một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân cũng như người thân. Đó là mục đích chính mà dù cho ngày nay người ta có định nghĩa như thế nào về tỵ nạn, người Việt tỵ nạn nào cũng tìm kiếm. Một người tỵ nạn như tôi do đó dễ đồng cảm và dễ cảm thấy gần gũi với bất cứ một người di dân nào, dù là di dân để tỵ nạn chính trị hay di dân để có tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn.
Mới đây, tôi đọc được một bản tin về một linh mục công giáo Mỹ gốc Việt đã viết thư gởi cho tổng thống Donald Trump để xin “nhường lại” quốc tịch Mỹ của mình cho một người tỵ nạn Syria. Nhiều người cho đây là chuyện không tưởng. Làm gì có chuyện nhường quốc tịch cho một người khác và có lẽ còn lâu ông Trump mới bỏ giờ ra để đọc hay cứu xét một thỉnh nguyện như thế.
Điều khiến tôi cảm động là vị linh mục này tự nhận mình lúc nào cũng là một người tỵ nạn và cho biết đã đến Mỹ cách đây 42 năm khi còn là một cậu bé chưa hiểu được thế nào là tỵ nạn.
Thái độ của vị linh mục này không thể không làm tôi nghĩ đến một số người trẻ gốc Việt khác rải rác khắp nơi trên thế giới. Mặc dù rời bỏ Việt Nam lúc chỉ mới một hai tuổi, họ vẫn mãi mãi nhìn nhận mình là người tỵ nạn. Như trường hợp Nam Lê, tác giả nổi tiếng của tập truyện ngắn có tựa đề “The Boat” (được dịch sang tiếng Việt là “Con Thuyền”, Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam). Tác phẩm này đã mang về cho Nam Lê giải thưởng danh giá Dylan Thomas. Nam Lê sinh năm 1978. Anh đã cùng với cha mẹ vượt biển và đến Úc Đại Lợi khi anh chưa đầy một tuổi. Nhưng đọc chuyện “Con Thuyền”, người ta thấy văn sĩ với cử nhân Luật này vẫn tự nhận là một người tỵ nạn và muốn là tiếng nói của những người tỵ nạn.
Đây cũng là trường hợp của Anh Đỗ, tác giả, diễn viên, họa sĩ được rất nhiều người Úc mộ mến. Anh Đỗ sinh năm 1977. Anh đã cùng với gia đình vượt biển năm năm 1980, nghĩa là khi anh chỉ mới được 3 tuổi. Trong quyển tự thuật “The Happiest Refugee” (người tỵ nạn hạnh phúc nhất), anh đã kể lại 5 ngày lênh đênh trên biển cả trên một chiếc thuyền con dài 9 thước, rộng 2 thước cũng như phải đối đầu với 2 vụ cướp biển. Tác phẩm đã đoạt được nhiều giải thưởng, trong đó có giải “Australian Book of the Year” (Sách của năm tại Úc) năm 2011. Câu chuyện được kể lại trong “The Boat” của Nam Lê hay “The Happiest Refugee” của Anh Đỗ không phải là chuyện mới lạ đối với một người vượt biển như tôi hay hàng triệu người Việt vượt biển khác. Có chăng là vì hai tác giả này đã nhận mình là người tỵ nạn và đã muốn trở thành tiếng nói của người tỵ nạn để khẳng định rằng, dù có đổi đời, những người Việt đã từng vượt biển đều vẫn mãi mãi là người tỵ nạn. Đây chính là tâm trạng hầu như thường xuyên của tôi.
Có thể đó không phải là tâm trạng chung của rất nhiều người Việt và nhiều người di dân hoặc con cháu của họ. Nhưng dù xa hay gần, đa số người Úc hiện nay chẳng hạn không thể chối bỏ được giây mơ rễ má của họ với người tỵ nạn và di dân. Không là hậu duệ của các tù nhân thì ít ra cũng là con cháu của rất nhiều người tỵ nạn và di dân đến Úc trong nhiều đợt khác nhau trong suốt lịch sử của một quốc gia chỉ mới có hơn 200 tuổi này.
Khi vừa yên vị trên một chuyến xe buýt đi vòng quanh thành phố Hobart và vùng phụ cận, tất cả mọi hành khách đều được người hướng dẫn viên du lịch hỏi: “Có ai là người Mỹ không?” Chỉ có một người đàn ông giơ tay cho biết mình đến từ Mỹ. Ngoại trừ một số người da trắng chính cống, tất cả mọi người, mặc dù rõ ràng là da vàng mũi tẹt hay da mầu, đều hãnh diện nhìn nhận mình là dân Úc. Không thể chối cãi được rằng Úc Đại Lợi ngày nay là một quốc gia đa chủng tộc, đa văn hóa. Đất nước này được xây dựng bởi người di dân. Mỗi lần cảm thấy khó khăn khi đọc tên bà Gladys Berejiklian, đương kim Thủ hiến của Tiểu bang New South Wales hay tên của bà Annastacia Palaszczuk, Thủ hiến Tiểu bang Queensland  hoặc tập làm quen với tên tuổi của một số chính trị gia hàng đầu của Úc khác như Penny Wong, như Anthony Albanese, như Nick Xenophon....tôi đều xác tín rằng Úc Đại Lợi là đất nước của di dân và tỵ nạn.
Xét cho cùng có đất nước nào mà chẳng là đất nước của người di dân. Bài học lịch sử đầu tiên mà tôi còn nhớ được há chẳng phải là có một dòng giống Bách Việt từ bờ sông Dương Tử di dân xuống phía Nam để rồi dần dần xâm chiếm đất đai của người Chàm và Chân Lạp?  Đọc Kinh Thánh của người Do Thái, tôi cũng nhận thấy một hiện tượng tương tự: tổ phụ Abraham của họ đã di dân từ Iraq sang Palestine, con cháu của ông đã di dân sang Ai Cập rồi trở về lại Palestine để rồi cuối cùng tản mác đi khắp nơi. Lịch sử loài người, nhìn chung, cũng là một cuộc di dân triền miên. Khoa học ngày càng trưng các bằng chứng để nói rằng cách đây từ 150 ngàn đến 200 ngàn năm, loài người đã từ lục địa Phi Châu dần dần tản mác và  di chuyển đến các vùng khác nhau.
Nhìn lại lịch sử di dân của nhân loại, tôi thường nghĩ đến hình ảnh “lữ thứ trần gian” được “nhà Đạo” của tôi sử dụng để không những nhắc nhở về “quê hương trên trời” mà còn để kêu gọi sự đồng cảm với người đồng thuyền đồng hội. Thật ra đâu chỉ có “nhà Đạo” của tôi mới dạy điều đó. Những người du mục nay đây mai đó giữa sa mạc luôn tuân giữ một truyền thống tốt đẹp: lúc nào họ cũng tỏ ra hiếu khách đối với khách lạ.  Có chung một hoàn cảnh con người thường dễ dàng cảm thông và chấp nhận nhau. Và dĩ nhiên cuộc sống cũng dễ thở và tốt đẹp hơn khi con người biết lấy sự cảm thông và chia sẻ để đối xử với nhau.
Đó là lý do tại sao càng ý thức về thân phận tỵ nạn và “lữ thứ” của mình, tôi thấy mình dễ cảm thông với người di dân và tỵ nạn hơn.










Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

Hoàng tử nhỏ




Chu Thập
30.07.13


Sáng sớm thứ bảy nào cũng thế, cứ mỗi lần chạy bộ ngang qua cái “ga xếp” gần nhà, tôi đều bắt gặp một cảnh tượng thật dễ thương. Ở một góc sân ga, một thiếu phụ trẻ đang chơi đùa với đứa con trai khoảng 3 tuổi. Thỉnh thoảng thằng bé bỏ mẹ, chạy đi nhìn về hướng chiếc xe lửa sắp tới. Ai cũng biết nó đang nôn nao chờ đợi một điều gì đó. Khi đoàn tàu dừng lại và từ một toa xe một người đàn ông cỡ tuổi của tôi bước xuống, thằng bé chạy ùa tới, ngả vào lòng. Tôi đoán người đàn ông là ông ngoại của đứa bé. Tôi nghĩ những hành khách trên con tàu buổi sáng, dù có ngái ngủ đến đâu, có lẽ cũng phải thức giấc để nhìn cho bằng được cảnh tượng ấy. Cháu mừng. Ông vui. Đôi mắt người mẹ cũng sáng lên vì tình thương chan hòa cả cái sân ga. Tôi nghĩ không riêng tôi, mà có lẽ ai cũng chia sẻ niềm vui ấy.
Sau đó, cả ba người kéo nhau qua phía sân ga đối diện. Một chuyến xe lửa khác dừng lại. Ông cháu lại bước lên tàu. Người mẹ đi về một mình. Tuy chưa một lần nói chuyện với người thiếu phụ, nhưng tôi biết chắc rằng mỗi sáng thứ bảy người cha của chị đều đến đón đứa bé để đưa về nhà hoặc đi chơi cuối tuần với ông, để chị được đi làm thêm vào ngày cuối tuần.
Thứ bảy nào cũng thế, vừa chạy bộ tôi vừa ngẫm nghĩ về những niềm vui mà trẻ thơ có thể mang lại cho người thân và những người xung quanh. Tôi không thể không nhớ lại bài thơ có tựa đề “Lorsque l’enfant parait” (khi trẻ thơ xuất hiện) của văn hào Pháp Victor Hugo (1802-1885). Trong bài thơ có mấy câu thật dễ thương: “Khi trẻ thơ xuất hiện, thì dẫu có buồn bã nhăn nheo đến đâu, những vầng trán cũng bất thần giãn nở để nhìn nó xuất hiện trong sự ngây thơ và hớn hở…Đôi khi chúng ta bàn luận về tổ quốc, về Thượng Đế, về các nhà thơ…nhưng khi trẻ thơ xuất hiện, thì thôi cũng xin tạm quên trời đất, tổ quốc và các nhà thơ!”
Kết thúc bài thơ, văn hào Victor Hugo cầu xin Thượng Đế cho ông, những người thân của ông và ngay cả kẻ thù của ông đừng bao giờ phải nhìn thấy một mùa hè không có hoa, cái lồng không có chim chóc, cái tổ không có ong và ngôi nhà không có trẻ thơ!
Nhà thơ vĩ đại của Pháp này không chỉ yêu mến trẻ thơ nói chung, ông còn dành cho những trẻ em khốn khổ một tình thương đặc biệt như được phản ảnh qua tác phẩm “Les Misérables” (những kẻ khốn khổ). Trong một bài thơ có tựa đề “Les Enfants Pauvres” (những đứa trẻ khốn khổ), ông viết rằng “Thượng Đế đặt sự khôn ngoan của Ngài trong nụ cười của trẻ thơ và lòng tha thứ của Ngài trong nụ hôn của chúng”.
Ôn lại những bài thơ này, tôi không thể không liên tưởng đến ông hoàng tử nhỏ của Vương Quốc Anh vừa mới chào đời cách đây hơn một tuần. Ở thời đại này mà còn được cả thế giới  ngóng trông chờ  đợi từng giờ từng phút ngày chào đời thì chỉ có thể là hoàng tử và công chúa của quốc gia đã từng là đế quốc hùng mạnh nhất thế giới này mà thôi. Nhưng riêng tôi, tôi cảm thấy như thể bị oanh tạc và tra tấn bởi lượng tin tức phải nói là quá tải và không cân bằng về cậu con trời này. Cái cảnh các phó nhòm chờ chực đến cả tuần lễ trước cửa bệnh viện nơi cậu chào đời, cái cảnh thần dân Anh nhảy mừng đến trào nước mắt và cả thế giới cũng phải nhốn nháo lên khi hoàng tử nhỏ được ông hoàng Williams và công nương Catherine bồng trên tay ra mắt trước cửa bệnh viện St Mary’s Hospital…khiến tôi cảm thấy ái ngại khi nghĩ đến vô số những trẻ thơ khốn khổ trên khắp thế giới. Cùng ngày ông hoàng tử nhỏ của vương quốc Anh chào đời, chỉ riêng tại nước này thôi cũng đã có ít nhứt trên 2 ngàn thơ nhi khác được sinh ra trong những điều kiện khác nhau, mà khốn khổ thiếu thốn về vật chất cũng như tinh thần không phải là ít. Cùng ngày ấy, trên khắp thế giới có biết bao nhiêu trẻ thơ ra đời, trong số ấy có biết bao em chỉ nhìn thấy ánh mặt trời xuyên qua khung cửa chật hẹp và oi bức của các trại tỵ nạn, có biết bao nhiêu em không được người cha biết mặt và bị người mẹ ruồng bỏ, có biết bao nhiêu em góp mặt với đời trong tấm thân gầy yếu vì thiếu ăn khi còn trong lòng mẹ hay phải mang trên người những căn bệnh hiểm nghèo do cha mẹ truyền cho…Cũng ngày hôm đó, tôi biết có những em chào đời nhưng không được người mẹ ôm ấp trong vòng tay vì người mẹ phải quay trở lại nhà tù. Khi hoàng tử nhỏ của nước Anh chào đời, có ai dành một phút thôi để nghĩ đến những em bé khốn khổ này không?
Ai đó đã nói rằng con người ta thường chỉ thấy những gì họ muốn thấy. Những người mù đi xem voi đã “thấy” sẵn trong đầu một con đỉa, một cây cột nhà hay một cái quạt…cho nên con voi chỉ được họ “nhìn thấy” xuyên qua những hình tượng có sẵn ấy. Nếu người ta chỉ muốn nhìn thấy sự hào nhoáng, tiếng tăm, danh vọng, quyền lực, sự giàu sang…mắt họ chỉ mở ra để chỉ nhìn thấy những thứ đó mà thôi. Một khóe mắt của họ có thể bị khép lại để không còn nhìn thấy những thứ có thể nhìn thấy và đáng nhìn thấy hơn.
Sau cuộc diệt chủng dã man trong điều thường được gọi là “những cánh đồng giết người” (killing fields) tại Cambốt do đồ tể cộng sản Pol Pol chủ xướng hồi cuối thập niên 1970, một số người sống sót đã được định cư tại Hoa Kỳ. Trong số những người tỵ nạn này, người ta nhận thấy một hiện tượng kỳ lạ nơi rất nhiều người phụ nữ: mắt họ vẫn còn sáng, nghĩa là không hề bị bất cứ một thương tật nào, nhưng họ nói rằng họ không còn thấy hoặc thấy rất lờ mờ. Đây là một chứng bệnh mà nguyên nhân được một số chuyên gia tâm lý gán cho những nỗi kinh hoàng mà những người tỵ nạn này đã trải qua dưới thời cộng sản tại Cambốt. Giáo sư tâm lý học Patricia Kozee-Koker, thuộc Đại học Long Beach, tiểu bang California, giải thích rằng “những phụ nữ này vẫn còn nhìn thấy những cảnh hãi hùng mà tâm trí họ không muốn chấp nhận. Có đến 70 phần trăm những phụ nữ này có người thân gần gũi nhứt bị sát hại ngay trước mắt họ. Cho nên mắt họ vẫn mở, nhưng tâm trí họ lại khép kín và họ không muốn nhìn thấy nữa, bởi vì họ sợ thấy cái chết, những cảnh tra tấn, hãm hiếp và chết đói”.
Sự khiếm thị mà những phụ nữ Cam bốt này trải qua quả là chuyện hạn hữu. Nhưng có mắt mà không nhìn thấy, có tai mà không nghe cũng là hiện tượng vốn thường xảy ra cho con người. Nhất là khi đôi mắt và tâm trí của họ bị che khuất bởi đam mê, quyền lực, danh vọng, sự thù hận, tính ích kỷ hay ngay cả những thành kiến.
Hoàng tử nhỏ của nước Anh lại làm tôi nhớ lại chuyện “Hoàng tử nhỏ” (Le Petit Prince) của văn hào Pháp Antoine de St Exupéry (1900-1944). Khi bàn về cái tánh có thành kiến của con người, nhà văn này đã tưởng tượng ra một hành tinh được đặt tên là B-612, quê hương của hoàng tử nhỏ. Theo Antoine de St Exupéry, hành tinh này đã được một nhà thiên văn học Thổ Nhĩ Kỳ khám phá năm 1909. Sau khi khám phá hành tinh này, nhà thiên văn học đã đến giới thiệu tại Hội Nghị Quốc Tế Thiên Văn Học. Nhưng bởi vì ông ăn mặc như một người Thổ Nhĩ Kỳ cho nên chẳng ai tin những gì ông nói.
Tác giả của “hoàng tử nhỏ” đưa ra nhận xét: “người lớn là như thế đó…”
“Người lớn là như thế đó…” là một kết luận rất thường được nhân vật “hoàng tử nhỏ” đưa ra mỗi khi người lớn không chịu hiểu cái thế giới của trẻ con. Trong câu chuyện “trao đổi” với viên phi công gặp nạn giữa sa mạc hoang vắng bên Phi Châu, hoàng tử nhỏ thường nói: “Ông nói chuyện như người lớn! Ông pha trộn mọi sự với nhau…Ông lẫn lộn mọi sự.”
Trước khi đến Trái Đất, hoàng tử nhỏ đã phiêu lưu qua rất nhiều hành tinh khác. Hành tinh đầu tiên mà cậu đặt chân đến là vương quốc không có lấy một ai ngoại trừ một ông vua đơn độc cai trị. Vậy mà khi thấy cậu xuất hiện, ông vua này liền thốt lên: “Đây là một thần dân của ta”. Ông vua đơn thương độc mã này định bổ nhiệm cậu làm đại sứ. Nhưng cậu bỏ đi và nghĩ thầm: “Những người lớn thật lạ lùng!”
Hành tinh thứ hai được hoàng tử nhỏ viếng thăm lại cũng chỉ có một người và người này là một kẻ tự phụ. Sau khi trao đổi với người này, cậu bé cũng đưa ra kết luận: “Người lớn thật kỳ quặc”. Đến hành tinh thứ ba, cậu cũng chỉ gặp có đúng một người và là một tên nát rượu. Nhận xét của hoàng tử nhỏ cũng vẫn là: “Người lớn chắc chắn rất kỳ quặc”. Sang đến hành tinh thứ tư, cậu lại gặp một doanh gia. Ông này chỉ biết những con số và quy tất cả mọi sự thành số. Cậu bé lại thốt lên: “Người lớn quả là khác thường”…Mà đâu chỉ có doanh gia này mới nhìn mọi sự bằng những con số. Văn hào St Exupéry viết rằng “người lớn thích những con số. Khi bạn nói với họ rằng bạn vừa mới có một người bạn mới, họ sẽ không bao giở hỏi bạn bất cứ câu hỏi nào về những vấn đề quan trọng. Họ không bao giờ nói với bạn: “Giọng nói của người đó như thế nào? Người đó có sưu tầm bướm không?” Thay vào đó, họ lại hỏi: “Người đó bao nhiêu tuổi? Người đó có bao nhiêu anh em? Người đó cân nặng bao nhiêu? Cha người đó làm được bao nhiêu tiền?”…Nếu bạn nói với người lớn: “Tôi thấy có một ngôi nhà đẹp làm bằng gạch hồng, với hoa “phong lữ” (geranium) bên cửa sổ và chim bồ câu trên mái nhà”, họ sẽ không thể hiểu được ngôi nhà đó như thế nào cả. Bạn phải nói với họ: “Tôi thấy có một ngôi nhà giá 4000 bảng Anh”. Lúc đó họ sẽ thốt lên: “Ồ, ngôi nhà đẹp biết chừng nào!”.
Triết lý mà văn hào St Exupéry muốn đưa ra trong tác phẩm “Hoàng tử nhỏ” có lẽ đã được ông tóm gọn trong câu nói của con chồn khi từ giã cậu bé: “Và đây là bí quyết của tôi, một bí quyết rất đơn giản: chỉ với trái tim con người mới nhìn thấy đúng đắn; mắt thường không thể nhìn thấy điều thiết yếu”.
Tôi vẫn thường đọc lại và nghiền ngẫm về sứ điệp của “Hoàng tử nhỏ”. Chỉ với trái tim ngây thơ, không thành kiến, không vướng bận với những đam mê, quyền lực, tiền của, danh vọng, tiếng tăm…tôi mới có hy vọng được nhìn thấy những điều mà đôi mắt thường của tôi không nhìn thấy. Mà quả như St Exupéry đã nói qua miệng của “hoàng tử nhỏ”, điều quan trọng là điều không nhìn thấy được. “Các ngôi sao đẹp là bởi vì có một cánh hoa trên đó không thể nhìn thấy được…Sa mạc đẹp bởi vì đâu đó có ẩn dấu một giếng nước”.
Bước vào bóng xế của cuộc đời, tôi thường nhớ lại chuyện tuổi thơ. Tuổi thơ của tôi vất vả, thiếu thốn, nhưng đẹp.Tuổi thơ nào mà chẳng là tuổi thần tiên. Sau một thời gian lưu lạc, dường như “ông hoàng tử nhỏ” của tuổi thơ đã trở về với tôi để không ngừng nhắc nhở tôi nhìn thấy đâu là điều quan trọng trong cuộc đời. “Ông hoàng tử nhỏ” mở con mắt trái tim của tôi để tôi nhìn thấy bao nhiêu vẻ đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc sống và trong tâm hồn của mỗi một người. Nhưng quan trọng hơn cả, “ông hoàng tử nhỏ” cũng luôn sát cánh bên tôi để tra hỏi tôi về bao nhiêu nỗi khốn khổ mà bao nhiêu người trên khắp thế giới, bên cạnh tôi, xung quanh tôi đang trải qua. Xét cho cùng, quan trọng hơn cả trong những điều mà “ông hoàng nhỏ” trong tôi không ngừng mách bảo tôi chính là ánh mắt cảm thông mà tôi phải luôn có khi đứng trước những thiếu sót và nhứt là nỗi khổ đau của người đồng loại.





Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

Nam Phi: khi các bà nội ngoại là những người kiếm cơm cho gia đình


03.03.17

Eastern Cape là một tỉnh đặc biệt nằm ở mạn Đông Nam Nam Phi. Đây là nơi có rất nhiều người đàn bà, tuy đã là bà nội bà ngoại, vẫn tiếp tục là những người kiếm cơm cho gia đình. Họ cũng đóng cả vai trò làm mẹ cho những đứa cháu nhỏ, vì cha mẹ chúng phải rời bỏ làng mạc hay các thị trấn nhỏ để đi tìm việc ở những thành phố lớn.
Xuyên qua những ngọn đồi của tỉnh Eastern Cape, các bầy dê và bò đang gặm cỏ giữa những mái nhà đất truyền thống của người isiXhosa. Mây đang vần vũ trên một ngôi nhà của cộng đồng. Gần 20 người phụ nữ đã tập trung lại trong ngôi nhà này để chia sẻ câu chuyện của họ với phóng viên của Đài Aljazeera. Tất cả đều gặp nhau ở một mẫu số chung: mặc dù đã có tuổi, họ phải đứng ra kiếm cơm cho gia đình và nuôi dạy các cháu.
Theo kết quả của một cuộc kiểm kê dân số của chính phủ Nam Phi hồi năm 2011, cho đến tuổi 60, hầu hết đàn ông nước này đều là những người gánh vác việc gia đình. Nhưng vào năm 2015, các số liệu của một cuộc  điều tra khác lại cho thấy phụ nữ ngày càng nắm giữ vai trò này trên toàn 9 tỉnh của Nam Phi. Hiện nay có đến 11 phần trăm các  gia đình Nam Phi đều do các phụ nữ trên 60 tuổi làm chủ. Với số tiền còm được chính phủ trợ cấp mỗi tháng khoảng 113 Mỹ kim, cộng với khoảng 27 Mỹ kim phụ cấp cho trẻ con, các phụ nữ tuy đã là bà nội và bà ngoại này lại phải làm mẹ một lần nữa. Họ vừa phải chạy cơm chạy gạo cho những người con đã lớn nhưng không thể tìm được việc làm, lại vừa phải chăm sóc cho các cháu nội ngoại.
Hiện nay, số người phụ nữ trên 60 tuổi, tức tuổi được hưởng trợ cấp của chính phủ, chiếm đến 11 phần trăm dân số Nam Phi. Họ đang làm chủ khoảng 1.5 triệu gia đình trên toàn quốc. Sở dĩ có tình trạng này là vì chồng của những người phụ nữ này hoặc đã qua đời hoặc đang là phế nhân vì bệnh viêm phổi do hít phải chất độc trong các hầm mỏ. Có người là nạn nhân của bạo động hoặc rơi vào nghiện ngập và thất nghiệp.
Những thống kê về tội ác do bạo động vẽ lên một bức tranh rất u ám về Nam Phi. Trong năm 2016, tại thị trấn Mthatha thuộc tỉnh Eastern Cape, đã xảy ra 122 vụ sát nhân. Đây là tỷ lệ sát nhân cao thứ nhì tại tỉnh này.
Bà Nonzezile Mkunga là một trong số rất nhiều phụ nữ trên 60 tuổi hiện đang là người chạy cơm chạy gạo từng bữa cho gia đình. Bà đã cho phóng viên của đài Aljazeera biết: chồng bà đã hoàn toàn mất trí sau một thời gian làm việc trong một hầm mỏ. Bệnh mất trí của người đàn ông này là một trường hợp điển hình của vô số thợ mỏ tại Nam Phi. Họ phải làm việc trong những điều kiện vô cùng nghiệt ngã, nhưng chỉ lãnh được một đồng lương chết đói.
Sau một thời gian mắc bệnh tiểu đường nhưng không được chữa trị, chồng bà Mkunga qua đời. Công ty khai thác hầm mỏ nơi chồng bà làm việc đã không đền bù cho gia đình bà một đồng xu nào. Bà Mkunga đành phải gia nhập lực lượng những bà nội ngoại để thay chồng gánh vác việc gia đình.
Sinethemba Sidloyi là một nhà xã hội học thuộc trường Đại học KwaZulu-Nadal. Cô đã lớn lên trong thị trấn Mthatha. Đây là vùng nghèo nhất của tỉnh Eastern Cape. Cô cũng đã từng được chính bà nội của mình nuôi nấng. Chứng kiến cảnh nhiều thiếu nữ dưới 18 tuổi phải lâm cảnh bụng mang dạ chửa, nghiện ngập và bỏ học trong thị trấn của mình, Sidloyi đã bắt đầu nêu lên nhiều câu hỏi. Cô đã trở thành một trong 23 phần trăm học sinh trong thị trấn học xong bậc trung học và 2 phần trăm tốt nghiệp đại học trong toàn tỉnh Eastern Cape. Ý thức về tình trạng này, cô đã dọn luận án tiến sĩ xã hội học về cuộc sống của những người già, đặc biệt là các phụ nữ hiện đang là những người kiếm cơm cho gia đình.
Trong rất nhiều lý do khiến các bà nội ngoại tại thị trấn Mthatha phải đứng ra gánh vác gia đình, theo Sidloyi , chính là “chế độ phân biệt chủng tộc (apartheid) và những chính sách kinh tế-xã hội hiện đang tiếp tục ảnh hưởng đến cuộc sống của người da đen tại Nam Phi, nhất là những người hiện đang ở tầng đáy của cơ sở kinh tế”. Chế độ phân biệt chủng tộc hay Apartheid là một hệ thống cai trị dựa theo chủng tộc được người Hòa Lan áp dụng tại Nam Phi từ cuối Thế kỷ 18. Được độc lập năm 1948, Nam Phi vẫn tiếp tục bị cai trị theo chính sách này. Mãi cho đến năm 1991, chế độ này mới được bãi bỏ và cố Tổng thống Nelson Mandela đã trở thành người da đen đầu tiên được bầu lên làm tổng thống nước này. Mặc dù chế độ phân biệt chủng tộc đã bị bãi bỏ, những hệ lụy của nó vẫn còn tiếp tục âm ỉ và kéo dài cho tới ngày nay.
Theo cô Sidloyi, chính sự rạn nứt gia đình do chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và các chính sách kinh tế-xã hội phát xuất từ chủ nghĩa này tạo ra đã khiến cho cơ cấu gia đình của người Nam Phi bị lung lay. Thật vậy, các chính sách kinh tế-xã hội dựa trên chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã khiến cho người đàn ông Nam Phi phải bung ra khắp nơi để tìm kế sinh nhai. Ở đâu họ cũng tìm kiếm những người bạn tình mới và do đó đi vào các quan hệ đa thê. Điều đó có nghĩa là những gia đình mà những người đàn ông xa nhà này bỏ lại đàng sau phải gặp khó khăn về kinh tế. Tiến sĩ Sidloyi cho rằng chính tình trạng bị bỏ rơi này đã khiến cho người phụ nữ phải đảm nhiệm vai trò kiếm cơm cho gia đình.
Hiện nay, trẻ hay già, người phụ nữ tại thị trấn Mthatha, nếu không bị chồng bỏ, thì cũng “mất” chồng vì nạn thất nghiệp. Các số liệu của cuộc kiểm kê dân số năm 2011 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp tại tỉnh  Easten Cape lên đến 26 phần trăm. Một người phụ nữ tại thị trấn Mthatha cho phóng viên của đài Aljazeera biết: “Con cái của chúng tôi đã bỏ lên các thành phố lớn, nhưng vẫn chưa tìm được việc làm. Chúng tôi cần phải mượn tiền để đỡ đần cho chúng và con cái của chúng”. Có đến 58 phần trăm phụ nữ đã là bà nội và bà ngoại mà vẫn chăm sóc cho các cháu dưới 17 tuổi.
Nhưng dĩ nhiên, với chút tiền còm do chính phủ trợ cấp, cộng với sự bương chải của mình, các bà nội ngoại hiện đang gánh vác gia đình vẫn không đủ khả năng để chi trả cho mọi thứ chi phí của gia đình. Đã thế, những người phụ nữ này còn trở thành mục tiêu tấn công của giới trẻ thất nghiệp. Những cuộc cướp bóc có bạo động thường xảy ra vào những ngày các phụ nữ này bước ra khỏi phòng xã hội để nhận tiền trợ cấp. Thỉnh thoảng chính những phần tử trong gia đình cũng tham gia vào những vụ cướp bóc này.
Theo bà Nozukhile Hadi, “tuần nào cũng có một thành viên của cộng đồng chết vì nạn cướp bóc”. Một trong những biện pháp để đối phó với tình trạng bạo động này là thỉnh thoảng các ông cũng phải đảm nhận vai trò bảo vệ an ninh cho cộng đồng: họ thay nhau canh gác mỗi đêm!
Theo các phụ nữ đang phải gánh vác gia đình này, chỉ có công ăn việc làm may ra mới làm hạ giảm được tình trạng bạo động và tội ác. Thỉnh thoảng chính quyền địa phương cũng cho sửa chữa hay xây cất đường sá, nhưng người dân trong cộng đồng lại không được thuê mướn. Nạn thất nghiệp và tình trạng bạo động vẫn không được giải quyết. Ngoài ra, ngay cả khi bắt được những tên tội phạm, chỉ vài tháng sau cảnh sát lại trả tự do cho họ, viện cớ không có đủ bằng chứng.
Mặc dù phải đương đầu với cuộc sống khó khăn, các bà nội ngoại hiện đang gánh vác gia đình tại thị trấn Mthatha cũng như trên toàn quốc Nam Phi  vẫn chứng tỏ được rằng chính họ là những người đang tranh đấu để bảo đảm cho các cháu của họ có được một tương lai tươi sáng hơn và thay đổi được bộ mặt của chính cộng đồng xã hội.
Bên ngoài một hợp tác xã có tên là Sinovuyo, người ta thấy cả một dãy hàng khoai tây và đủ mọi loại rau xanh khác. Gần đến giờ cơm trưa, các phụ nữ tiến vào nhà bếp để chuẩn bị món cháo được nấu từ rau quả trong vườn. Món cháo này giúp họ cầm hơi khi tiền trợ cấp hay vay mượn khô dần. Thật vậy, theo một cuộc điều tra về tình trạng các gia đình trên toàn quốc, có đến 60 phần trăm các phụ nữ có tuổi hiện đang làm chủ gia đình, nếu có một vườn rau xanh phía sau nhà, đều không sợ đói.
Một trong những thành viên của hợp tác xã Sinovuyo giải thích rằng ngay cả khi không được trợ cấp, các bà đều tìm đến với nhau để giúp đỡ nhau. Chẳng hạn nếu tiền trợ cấp không đủ, họ chia sẻ với nhau bột mì. Và dĩ nhiên, họ cũng chia sẻ cho nhau tất cả những gì họ trồng được trong khu vườn sau nhà như hành tỏi, rau dền, bắp cải, cà rốt và khoai tây.
Bên cạnh những gì họ trồng được trong khu vườn sau nhà, những người phụ nữ có tuổi này cũng gia nhập vào lực lượng thủ công nghệ để sản xuất các món đồ trang sức như vải lụa, giây chuyền v.v...Tất cả các phụ nữ này nói rằng họ muốn làm việc chứ không phải ngồi lê đôi mách. Các bà nói: “Khi chúng tôi ngồi lại với nhau để làm việc, điều tốt có thể xảy đến”.
Đây là điều mà nhà xã hội học Sidloyi đã tìm thấy. Theo cô, dù cho hoàn cảnh có khó khăn đến đâu, các phụ nữ này không bao giờ là nạn nhân của  hoàn cảnh. Trái lại họ không ngừng dấn thân để thách thức và thay đổi hoàn cảnh.
Những người phụ nữ có tuổi ở thị trấn Mthatha cũng như trên toàn quốc Nam Phi không những tranh đấu để sống còn, họ còn “đầu tư” cho tương lai của con cháu họ, một tương lai mà họ tin tưởng sẽ không đen tối như cuộc sống hiện tại của họ.
Cô Sidloyi nói rằng hiểu được giá trị và vai trò của những người phụ nữ có tuổi trong các cộng đồng là chìa khóa để soạn thảo những chính sách có thể nâng đỡ họ và gia đình họ.
Nam Phi hay còn được chính thức gọi là Cộng Hòa Nam Phi hiện có nền kinh tế mạnh thứ nhì tại Phi Châu và đứng hàng thứ 34 trên thế giới. Tính theo thu nhập đầu người, Nam Phi đứng hàng thứ 7 tại Phi Châu. Tuy nhiên, nghèo đói và bất bình đẳng hiện vẫn còn rất sâu đậm. Khoảng một phần tư dân số Nam Phi đang thất nghiệp và sống với thu nhập không tới 1.25 Mỹ kim một ngày. Dù vậy, Nam Phi vẫn duy trì được một ảnh hưởng đáng kể trong vùng.


(theo: http://interactive.aljazeera.com/aje/2017/south-africa-grandmothers)