Thứ Hai, 13 tháng 3, 2017

Mễ Tây Cơ: những người con lưu lạc trở về!



10.03.17

Romulo Avelica Gonzalez, 48 tuổi, là một người Mễ Tây Cơ đã sống và làm việc tại Hoa Kỳ hơn 25 năm. Anh là một trong số trên 11 triệu người bị xếp vào hạng những người di dân “lậu”, nghĩa là không được phép cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.
Mới đây, khi đưa đứa con gái 12 tuổi đến trường tại khu phố Pasadena, Los Angeles, Tiểu bang California, Romulo đã bị cảnh sát di trú bắt giữ và đưa về một trung tâm tạm giam gần đó. Sở di trú đã thông báo cho gia đình anh là anh sẽ bị trục xuất ngay trong ngày hôm đó. Tuy nhiên, nhờ sự can thiệp của mạng lưới có tên là “National Day Laborer Organizing Network” (mạng lưới bảo vệ người công nhân), lệnh trục xuất Romulo đã được tạm hoãn. Nhưng anh bị đưa tới một trại tạm giam khác.
Romulo là một trong số rất nhiều người Mễ phải bị trục xuất theo lệnh của Tổng thống Donald Trump nhắm vào những thành phần cư trú bất hợp pháp và có án hình sự. Romulo đã bị phạt vì say rượu mà lái xe cách đây 10 năm. Ngoài ra, cách đây hai thập niên, anh cũng bị phạt vì lái một chiếc xe không có đăng bộ.
Cho tới nay mỗi ngày có khoảng 500 người Mễ phải từ bỏ công việc và từ giã gia đình của họ tại Hoa Kỳ để trở về quê hương của mình. Ngày 23 tháng Hai vừa qua, đã có 135 người đáp chuyến bay từ El Paso, Tiểu bang California để trở về Mễ Tây Cơ. Tại phi trường quốc tế ở Thủ đô Mễ Tây Cơ, nhân viên chính phủ đã ra chào đón, trao cho họ một ít thức ăn cũng như một tấm thẻ căn cưới mới và hướng dẫn họ đến các văn phòng xã hội ở thủ đô.
Đây là những người Mễ đã từng sinh sống tại Hoa Kỳ 20 năm qua. Kể từ khi ông Donald Trump nhậm chức tổng thống Mỹ ngày 20 tháng Giêng vừa qua, con số những chuyến bay của Chính phủ Mỹ chở những người Mễ bị trục xuất về xứ sở của họ ngày càng nhiều. Dưới thời Tổng thống Barack Obama, mỗi tuần chỉ có 2 chuyến. Nay con số này đã tăng lên 3 chuyến. Các chuyến bay này chở về Mễ Tây Cơ không chỉ những thành phần bất hảo mà cũng mang theo rất nhiều người không có bất cứ một hồ sơ tội phạm nào.
Tổng thống Trump xem việc bảo vệ biên giới Mỹ, cụ thể là thắt chặt chính sách di trú như quan tâm hàng đầu trong chiến dịch vận động bầu cử của ông. Ông đã tuyên bố rõ ràng rằng những người di dân bất hợp pháp không những đe dọa cho nền an ninh của Hoa Kỳ mà còn cướp mất việc làm của dân Mỹ.
Rất nhiều người trong số những người Mễ bị trục xuất về lại xứ sở của họ cảm thấy hoàn toàn xa lạ trên chính đất nước của mình. Theo bà Amalia Garcia, một nhân viên Bộ Lao Động của Mễ Tây Cơ đặc trách về việc đón tiếp những người bị trục xuất, nhiều người không nói được tiếng Tây Ban Nha vốn là ngôn ngữ chính của Mễ Tây Cơ. Họ cảm thấy cay đắng, nhục nhã và rất đau khổ khi bị trục xuất về lại Mễ Tây Cơ.
Những người bị cưỡng bách hồi hương hay tự nguyện hồi hương này ít hay nhiều đặt ra nhiều vấn đề cho Chính phủ Mễ Tây Cơ. Các chuyên gia kinh tế cho rằng càng có nhiều người Mễ trở về quê hương thì càng có nhiều cạnh tranh hơn trong thị trường lao động, nhất là trong ngành xây dựng và chế tạo xe hơi.
Ngoài ra, Mễ Tây Cơ cũng sẽ mất đi một số thu nhập lớn từ các di dân lao động tại Hoa Kỳ. Theo ước tính, hồi năm ngoái, người Mễ sống và làm việc tại Hoa Kỳ gởi về nước khoảng 25 tỷ Mỹ kim. Đây là nguồn thu nhập lớn thứ 2 của Mễ Tây Cơ. Với số người Mễ bị trục xuất  ngày càng nhiều, nguồn thu nhập này sẽ giảm và kinh tế Mễ Tây Cơ sẽ bị ảnh hưởng. Nông thôn là nơi sẽ bị nhiều thiệt thòi hơn cả, bởi vì đây là nơi xuất cảng ra nước ngoài  nhiều di dân lao động hơn cả.
Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, một số chuyên gia lại cho rằng số người Mễ bị trục xuất về lại xứ sở cũng có thể là một “vốn quý” lớn. Đã từng học được nhiều kỹ năng tại Hoa Kỳ và nhất là có thể sử dụng Anh Ngữ một cách dễ dàng, họ sẽ là một nguồn nhân lực mới cho Mễ Tây Cơ. Các nhà phân tách cho rằng về lâu về dài, họ sẽ giúp cho Mễ Tây Cơ có được một chỗ đứng quan trọng hơn trong nền kinh tế toàn cầu.
Andrew Selee, giám đốc Viện Mễ Tây Cơ tại Trung tâm Woodrow Wilson ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, cho biết trong hàng ngũ những người Mễ bị trục xuất, có rất nhiều người đã từng kinh doanh thành công tại Hoa Kỳ. Theo ông, nếu đã từng có cả một làn sóng người Mễ đã hòa nhập vào văn hóa Mỹ và làm thay đổi nền văn hóa này thì cũng có một làn sóng người Mễ trở về xứ sở để mang nền văn hóa Mỹ về hòa nhập vào  Mễ Tây Cơ.
Đây là lý do khiến Chính phủ Mễ Tây Cơ đặt nhiều hy vọng vào làn sóng người Mễ bị trục xuất về lại xứ sở của họ. Chính phủ Mễ hy vọng rằng những người bị trục xuất sẽ không tìm cách thử lại thời vận bằng cách vượt qua biên giới là nơi mà Chính phủ Trump sẽ cho xây một bức tường.
Năm 2014, Chính phủ Mễ đã khởi xướng một chương trình lấy tên là “Somos Mexicanos” (chúng ta là người Mễ) nhằm giúp những người hồi hương tìm việc làm, kinh doanh và vượt qua được nỗi đau vì phải bỏ lại gia đình bên Mỹ.
Theo chương trình này, những người bị trục xuất sẽ được cung cấp lương thực, cho khám nghiệm y tế và được di chuyển miễn phí đến bất cứ nơi nào họ muốn sinh sống. Chính quyền địa phương giúp họ liên lạc với các văn phòng xã hội và hướng dẫn tìm việc làm. Trong một số trường hợp, chương trình này cũng giúp đỡ để họ được đoàn tụ với gia đình.
Bà Gabriela Garcia Acoltzi, giám đốc của chương trình “Somos Mexicanos” cho biết việc đầu tiên mà rất nhiều người Mễ hồi hương nghĩ tới là việc làm. Nhưng liệu Chính phủ Mễ có thể đáp ứng được ưu tiên hàng đầu này của những người hồi hương không. Trong một đất nước mà nạn thất nghiệp vẫn còn cao, bảo đảm được việc làm cho những người hồi hương không phải là điều dễ dàng. Hiện đồng Peso của Mễ Tây Cơ cũng sụt giá một cách thê thảm, nhất là kể từ khi ông Trump nhậm chức tổng thống Mỹ. Kể từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu hồi năm 2008, đây là lần thứ hai nhiều người lo sợ rằng Mễ Tây Cơ lại phải trải qua một nạn lạm phát trầm trọng hơn. Lo sợ là phải bởi vì một cuộc chiến tranh thương mại mà Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Trump có thể gây ra có thể ảnh hưởng đến cán cân thương mại giữa 2 nước vốn lên đến 1.5 tỷ Mỹ kim mỗi ngày.
Trong khi đó thì giá sinh hoạt, đặc biệt là loại bánh mì “Tortillas”, thịt và các nhu yếu phẩm khác, lại gia tăng sau khi Chính phủ Mễ tăng giá xăng thêm 20 phần trăm. Những người Mễ nghèo lại nghèo thêm. Liệu những người hồi hương có thể thích nghi với một cuộc sống đầy khó khăn và thử thách đang chờ đợi họ không?
Tại phi trường quốc tế ở Thủ đô Mễ Tây Cơ, người ta thấy những người bị trục xuất vẫn còn mặc bộ quần áo nhăn nheo và cũ xì khi họ bị cảnh sát di trú Mỹ bắt giữ. Một số khác vẫn còn mang trên người chiếc quần màu xanh của các tù nhân. Một số vì chẳng thấy bất cứ một tương lai tốt đẹp nào trước mắt cho nên thay vì chờ đợi được nhân viên Chính phủ Mễ giúp đỡ để tái hội nhập vào cuộc sống ở quê nhà, đã chạy đến xếp hàng ở một trạm xe buýt để tìm đường trở lại biên giới.
Luis Enrique Castillo, 47 tuổi, nói rằng cuộc sống ở quê nhà xem ra không tốt đẹp đối với ông. Ông cho biết sẽ tìm cách trở lại với vợ, 4 đứa con và hai đứa cháu tại Chicago là nơi mà ông đã từng sống 20 năm nhưng không có được bất cứ giấy tờ tùy thân nào. Người đàn ông kém may mắn này nói rằng cảnh sát di trú Mỹ đã gõ cửa để tìm kiếm một trong những người con trai của ông vốn đã có tên trong danh sách những người phải bị trục xuất. Họ đã không tìm thấy người con trai của ông. Thay vào đó, sau khi kiểm soát giấy tờ của ông, họ đã bắt giữ và mang ông đi.
Một người đàn ông khác tên là José Armando Lopez Garcia, 50 tuổi, kể lại rằng ông đã bị trục xuất cách đây một năm. Ông đã phải bỏ lại vợ và 5 đứa con tại Las Vegas, sau khi bị cảnh sát bắt giữ vì sử dụng bằng lái xe giả.
Là một người thợ mộc, ông Garcia đã được chương trình “Somos Mexicanos” trợ cấp cho 1.260 Mỹ kim để mở một xưởng mộc tại nhà của mẹ ông hiện đã 92 tuổi. Tiền kiếm được chỉ vừa đủ cho cá nhân ông. Cứ mỗi lần nhìn thấy trẻ con, ông lại nhớ đến con mình tại Mỹ. Cuộc sống khó khăn cộng với nỗi nhớ thương gia đình khiến người Mễ hồi hương này bị trầm cảm nặng nề. Nhớ con, ông cũng thương những đứa trẻ hàng xóm. Người đàn ông đã từng hưởng được cuộc sống đẩy đủ tiện nghi và an ninh ở Mỹ đã phải thổn thức và tự hỏi: làm sao con cái ông có thể sống và cấp sách đến trường  trong một tình trạng thiếu an ninh như vầy?
Bà Jill Anderson, giám đốc của tổ chức “Otros Dreams en Acción” chuyên giúp đỡ những người di dân bất hợp pháp đã lớn lên tại Hoa Kỳ, nói rằng khi trở về Mễ Tây Cơ nhiều học sinh gặp phải nhiều vấn đề khi làm đơn nhập học vào các trường công. Việc đòi hỏi phải nộp học bạ từ các trường Mỹ và nhất là nạn bàn giấy khiến cho nhiều học sinh từ Mỹ trở về phải mất đến hơn cả năm mới được nhập học. Vốn theo học tại Mỹ và chỉ biết Anh Ngữ, nhiều học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc hội nhập vào các trường trung học ở Mễ Tây Cơ. Dù sao, do thông thạo Anh Ngữ và đã từng hấp thụ văn hóa Mỹ, các thanh niên hồi hương vẫn được xem là một nguồn nhân lực đầy triển vọng cho xứ sở của họ.
Một kinh tế gia Mễ cho rằng trong đoản kỳ, vì ngày càng có nhiều tay nghề cao hơn nhưng việc làm lại hiếm cho nên đồng lương trung bình có thể hạ giảm. Tuy nhiên kinh tế gia này cho rằng về lâu về dài kinh tế Mễ sẽ có nhiều triển vọng hơn vì nguồn nhân lực mới này. Chuyên gia kinh tế này nói: “Đất nước đã mất mát nhiều vì đã gởi những người thợ giỏi sang Hoa Kỳ...Khi họ trở về Mễ Tây Cơ và một khi đã được huấn luyện đầy đủ, họ sẽ đóng góp nhiều cho xứ sở”.

 (theo: https://www.washingtonpost.com/world/the_americas/mexico-prepares-to-absorb-a-wave-of-deportees-in-the-trump-era/2017/03/03)




Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017

Lữ thứ



Chu Thập
03.03.17
Port Arthur 02/2017
Khởi hành từ Sydney, sau hai đêm và một ngày lênh đênh trên biển, chiếc tàu du lịch Carnival Legend cặp bến gần Port Arthur. Đây là lần thứ hai tôi tham dự một cuộc hải trình như thế. Mục đích của chuyến đi này là để được tháp tùng một số người thân chưa bao giờ có kinh nghiệm về du lịch bằng đường thủy hơn là để hưởng thụ hay nghỉ ngơi. Nhưng với tôi, cứ đi được một ngày đàng là học được một sàn khôn. Lần này, cuộc hành trình dường như đưa tôi về căn cội bản sắc tỵ nạn của mình.
Port Arthur là một địa danh mà tôi thường liên tưởng đến mỗi khi xảy ra một vụ bắn giết ở bất cứ một nơi nào trên thế giới. Nằm ở cực nam tiểu bang Tasmania, Port Arthur là nơi mà ngày 28-29 tháng Tư năm 1996, một người đàn ông bị bệnh tâm thần đã xách súng bắn loạn xạ vào một đám đông khiến cho 36 người bị chết và 23 người bị thương. Kể từ đó, chính phủ dưới thời Thủ tướng Howard đã ban hành lệnh thu hồi súng ống và kể từ đó đến nay ở Úc Đại Lợi không hề xảy ra bất cứ một vụ bắn giết nào như thế nữa. Đó là một bài học quý giá mà có lẽ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ không bao giờ muốn học hỏi.
Tôi đến Port Arthur để tưởng niệm biến cố đau thương ấy. Nhưng Port Arthur không chỉ có thế. Đập vào mắt tôi trước tiên chính là ngôi nhà  3 tầng đổ nát, nơi đã từng là nhà tù giam giữ các tù nhân được đưa từ Anh Quốc sang Úc Đại Lợi trong đợt di dân và định cư đầu tiên của người Anh tại vùng đất mới này. Trên một bản hướng dẫn du lịch, tôi đọc được một lời giải thích theo đó nhà tù ở Port Arthur là nơi mà người Anh muốn mang ra áp dụng triệt để  chế độ nhà tù tại Anh Quốc như được triết gia, nhà luật học và cách mạng xã hội tên là Jeremy Bentham (1748-1749) phát minh. Khi cho xây dựng một nhà tù bên cạnh dòng sông Thames, ông Bentham tuyên bố rằng đây là “một cỗ máy để nghiền nát những tên côn đồ thành những người lương thiện” (A machine to grind rogues honest). Một kỷ luật hà khắc đã được mang ra áp dụng cho các tù nhân bị đày sang Úc Đại Lợi để vừa được thanh luyện và uốn nắn vừa để làm nô lệ trong các công trình khai khẩn và xây dựng ở vùng đất mới. Như ông Bentham đã dự đoán, kỷ luật sắt đã biến một số tù nhân thành những người thợ giỏi trong một số ngành nghề như thợ mộc, thợ nề, thợ rèn...Chính họ là tổ tiên của rất nhiều người dân Úc gốc Anh hiện nay. Nhưng trong số các tù nhân bị đày sang Úc Đại Lợi, nhiều người, kể cả các thiếu niên chỉ mới 9, 10 tuổi đã ngã gục dưới sự bóc lột và những hình phạt độc ác của các cai tù. Ngay tại Hobart, thủ phủ của Tiểu bang Tasmania, người hướng dẫn viên du lịch còn cho biết rằng sau khi một nữ tù nhân sinh con, người ta liền mang đứa con đi. Hầu hết những thơ nhi bị tách khỏi người mẹ như thế đều chết do thiếu hơi ấm của người mẹ và nhất là không được chăm sóc đầy đủ.
Hình ảnh của những thơ nhi, người mẹ mất con và nhất là các tù nhân bị giam giữ và bắt lao động trong những điều kiện vô nhân đạo nhất cứ lẩn quẩn trong trí tôi mỗi khi tôi nhìn hay bắt chuyện với các nhân viên đang phục vụ trên chiếc tàu du lịch. Một vài công thức chào hỏi học được trong trại tỵ nạn ở Galang, Nam Dương vào đầu thập niên 1980 và trong những năm làm việc tại Phi Luật Tân cũng như trong một chuyến đi Thái Lan đã cho phép tôi  làm quen được một cách dễ dàng với một số nhân viên trên tàu, nhất là những người phục vụ trên bàn ăn và dọn dẹp trong phòng ngủ. Ngoài người Nam Dương, Phi Luật Tân, Thái Lan, tôi còn nhận diện được một số sắc dân khác như Thái Bình Dương và ngay cả Đông Âu như Ba Lan, Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi...
Màu da có khác, ngôn ngữ có khác, nhưng tất cả những nhân viên phục vụ trên chiếc tàu du lịch đều nối kết với nhau bằng một mẫu số chung: tất cả đều vì gia đình và vì một tương lai tốt đẹp hơn! Hầu hết đều có một câu chuyện giống nhau để kể cho du khách: hợp đồng làm việc của họ thường là một năm hay ít nhất 6 tháng; họ chỉ mong kiếm được một số tiền, về quê xây một ngôi nhà hay buôn bán làm ăn. Một người thanh niên Nam Dương mà tôi đoán chỉ mới 25 tuổi khoe ngón tay có đeo nhẫn và cho biết đã có một đứa con 2 tuổi. Tôi không thể tưởng tượng được ở tuổi đó, mặc dù không phải trong thời chiến tranh hay tù đày, người ta có thể xa vợ con trong một thời gian dài như thế.
Tiếp xúc mỗi ngày với các nhân viên phục vụ trên tàu rồi nhìn vào biển cả mênh mông, tôi không thể không nhớ lại cuộc vượt biển của tôi và của hàng triệu người Việt Nam sau năm 1975. Trốn khỏi chế độ cộng sản là để được tự do và nhất là có được một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân cũng như người thân. Đó là mục đích chính mà dù cho ngày nay người ta có định nghĩa như thế nào về tỵ nạn, người Việt tỵ nạn nào cũng tìm kiếm. Một người tỵ nạn như tôi do đó dễ đồng cảm và dễ cảm thấy gần gũi với bất cứ một người di dân nào, dù là di dân để tỵ nạn chính trị hay di dân để có tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn.
Mới đây, tôi đọc được một bản tin về một linh mục công giáo Mỹ gốc Việt đã viết thư gởi cho tổng thống Donald Trump để xin “nhường lại” quốc tịch Mỹ của mình cho một người tỵ nạn Syria. Nhiều người cho đây là chuyện không tưởng. Làm gì có chuyện nhường quốc tịch cho một người khác và có lẽ còn lâu ông Trump mới bỏ giờ ra để đọc hay cứu xét một thỉnh nguyện như thế.
Điều khiến tôi cảm động là vị linh mục này tự nhận mình lúc nào cũng là một người tỵ nạn và cho biết đã đến Mỹ cách đây 42 năm khi còn là một cậu bé chưa hiểu được thế nào là tỵ nạn.
Thái độ của vị linh mục này không thể không làm tôi nghĩ đến một số người trẻ gốc Việt khác rải rác khắp nơi trên thế giới. Mặc dù rời bỏ Việt Nam lúc chỉ mới một hai tuổi, họ vẫn mãi mãi nhìn nhận mình là người tỵ nạn. Như trường hợp Nam Lê, tác giả nổi tiếng của tập truyện ngắn có tựa đề “The Boat” (được dịch sang tiếng Việt là “Con Thuyền”, Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam). Tác phẩm này đã mang về cho Nam Lê giải thưởng danh giá Dylan Thomas. Nam Lê sinh năm 1978. Anh đã cùng với cha mẹ vượt biển và đến Úc Đại Lợi khi anh chưa đầy một tuổi. Nhưng đọc chuyện “Con Thuyền”, người ta thấy văn sĩ với cử nhân Luật này vẫn tự nhận là một người tỵ nạn và muốn là tiếng nói của những người tỵ nạn.
Đây cũng là trường hợp của Anh Đỗ, tác giả, diễn viên, họa sĩ được rất nhiều người Úc mộ mến. Anh Đỗ sinh năm 1977. Anh đã cùng với gia đình vượt biển năm năm 1980, nghĩa là khi anh chỉ mới được 3 tuổi. Trong quyển tự thuật “The Happiest Refugee” (người tỵ nạn hạnh phúc nhất), anh đã kể lại 5 ngày lênh đênh trên biển cả trên một chiếc thuyền con dài 9 thước, rộng 2 thước cũng như phải đối đầu với 2 vụ cướp biển. Tác phẩm đã đoạt được nhiều giải thưởng, trong đó có giải “Australian Book of the Year” (Sách của năm tại Úc) năm 2011. Câu chuyện được kể lại trong “The Boat” của Nam Lê hay “The Happiest Refugee” của Anh Đỗ không phải là chuyện mới lạ đối với một người vượt biển như tôi hay hàng triệu người Việt vượt biển khác. Có chăng là vì hai tác giả này đã nhận mình là người tỵ nạn và đã muốn trở thành tiếng nói của người tỵ nạn để khẳng định rằng, dù có đổi đời, những người Việt đã từng vượt biển đều vẫn mãi mãi là người tỵ nạn. Đây chính là tâm trạng hầu như thường xuyên của tôi.
Có thể đó không phải là tâm trạng chung của rất nhiều người Việt và nhiều người di dân hoặc con cháu của họ. Nhưng dù xa hay gần, đa số người Úc hiện nay chẳng hạn không thể chối bỏ được giây mơ rễ má của họ với người tỵ nạn và di dân. Không là hậu duệ của các tù nhân thì ít ra cũng là con cháu của rất nhiều người tỵ nạn và di dân đến Úc trong nhiều đợt khác nhau trong suốt lịch sử của một quốc gia chỉ mới có hơn 200 tuổi này.
Khi vừa yên vị trên một chuyến xe buýt đi vòng quanh thành phố Hobart và vùng phụ cận, tất cả mọi hành khách đều được người hướng dẫn viên du lịch hỏi: “Có ai là người Mỹ không?” Chỉ có một người đàn ông giơ tay cho biết mình đến từ Mỹ. Ngoại trừ một số người da trắng chính cống, tất cả mọi người, mặc dù rõ ràng là da vàng mũi tẹt hay da mầu, đều hãnh diện nhìn nhận mình là dân Úc. Không thể chối cãi được rằng Úc Đại Lợi ngày nay là một quốc gia đa chủng tộc, đa văn hóa. Đất nước này được xây dựng bởi người di dân. Mỗi lần cảm thấy khó khăn khi đọc tên bà Gladys Berejiklian, đương kim Thủ hiến của Tiểu bang New South Wales hay tên của bà Annastacia Palaszczuk, Thủ hiến Tiểu bang Queensland  hoặc tập làm quen với tên tuổi của một số chính trị gia hàng đầu của Úc khác như Penny Wong, như Anthony Albanese, như Nick Xenophon....tôi đều xác tín rằng Úc Đại Lợi là đất nước của di dân và tỵ nạn.
Xét cho cùng có đất nước nào mà chẳng là đất nước của người di dân. Bài học lịch sử đầu tiên mà tôi còn nhớ được há chẳng phải là có một dòng giống Bách Việt từ bờ sông Dương Tử di dân xuống phía Nam để rồi dần dần xâm chiếm đất đai của người Chàm và Chân Lạp?  Đọc Kinh Thánh của người Do Thái, tôi cũng nhận thấy một hiện tượng tương tự: tổ phụ Abraham của họ đã di dân từ Iraq sang Palestine, con cháu của ông đã di dân sang Ai Cập rồi trở về lại Palestine để rồi cuối cùng tản mác đi khắp nơi. Lịch sử loài người, nhìn chung, cũng là một cuộc di dân triền miên. Khoa học ngày càng trưng các bằng chứng để nói rằng cách đây từ 150 ngàn đến 200 ngàn năm, loài người đã từ lục địa Phi Châu dần dần tản mác và  di chuyển đến các vùng khác nhau.
Nhìn lại lịch sử di dân của nhân loại, tôi thường nghĩ đến hình ảnh “lữ thứ trần gian” được “nhà Đạo” của tôi sử dụng để không những nhắc nhở về “quê hương trên trời” mà còn để kêu gọi sự đồng cảm với người đồng thuyền đồng hội. Thật ra đâu chỉ có “nhà Đạo” của tôi mới dạy điều đó. Những người du mục nay đây mai đó giữa sa mạc luôn tuân giữ một truyền thống tốt đẹp: lúc nào họ cũng tỏ ra hiếu khách đối với khách lạ.  Có chung một hoàn cảnh con người thường dễ dàng cảm thông và chấp nhận nhau. Và dĩ nhiên cuộc sống cũng dễ thở và tốt đẹp hơn khi con người biết lấy sự cảm thông và chia sẻ để đối xử với nhau.
Đó là lý do tại sao càng ý thức về thân phận tỵ nạn và “lữ thứ” của mình, tôi thấy mình dễ cảm thông với người di dân và tỵ nạn hơn.










Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

Hoàng tử nhỏ




Chu Thập
30.07.13


Sáng sớm thứ bảy nào cũng thế, cứ mỗi lần chạy bộ ngang qua cái “ga xếp” gần nhà, tôi đều bắt gặp một cảnh tượng thật dễ thương. Ở một góc sân ga, một thiếu phụ trẻ đang chơi đùa với đứa con trai khoảng 3 tuổi. Thỉnh thoảng thằng bé bỏ mẹ, chạy đi nhìn về hướng chiếc xe lửa sắp tới. Ai cũng biết nó đang nôn nao chờ đợi một điều gì đó. Khi đoàn tàu dừng lại và từ một toa xe một người đàn ông cỡ tuổi của tôi bước xuống, thằng bé chạy ùa tới, ngả vào lòng. Tôi đoán người đàn ông là ông ngoại của đứa bé. Tôi nghĩ những hành khách trên con tàu buổi sáng, dù có ngái ngủ đến đâu, có lẽ cũng phải thức giấc để nhìn cho bằng được cảnh tượng ấy. Cháu mừng. Ông vui. Đôi mắt người mẹ cũng sáng lên vì tình thương chan hòa cả cái sân ga. Tôi nghĩ không riêng tôi, mà có lẽ ai cũng chia sẻ niềm vui ấy.
Sau đó, cả ba người kéo nhau qua phía sân ga đối diện. Một chuyến xe lửa khác dừng lại. Ông cháu lại bước lên tàu. Người mẹ đi về một mình. Tuy chưa một lần nói chuyện với người thiếu phụ, nhưng tôi biết chắc rằng mỗi sáng thứ bảy người cha của chị đều đến đón đứa bé để đưa về nhà hoặc đi chơi cuối tuần với ông, để chị được đi làm thêm vào ngày cuối tuần.
Thứ bảy nào cũng thế, vừa chạy bộ tôi vừa ngẫm nghĩ về những niềm vui mà trẻ thơ có thể mang lại cho người thân và những người xung quanh. Tôi không thể không nhớ lại bài thơ có tựa đề “Lorsque l’enfant parait” (khi trẻ thơ xuất hiện) của văn hào Pháp Victor Hugo (1802-1885). Trong bài thơ có mấy câu thật dễ thương: “Khi trẻ thơ xuất hiện, thì dẫu có buồn bã nhăn nheo đến đâu, những vầng trán cũng bất thần giãn nở để nhìn nó xuất hiện trong sự ngây thơ và hớn hở…Đôi khi chúng ta bàn luận về tổ quốc, về Thượng Đế, về các nhà thơ…nhưng khi trẻ thơ xuất hiện, thì thôi cũng xin tạm quên trời đất, tổ quốc và các nhà thơ!”
Kết thúc bài thơ, văn hào Victor Hugo cầu xin Thượng Đế cho ông, những người thân của ông và ngay cả kẻ thù của ông đừng bao giờ phải nhìn thấy một mùa hè không có hoa, cái lồng không có chim chóc, cái tổ không có ong và ngôi nhà không có trẻ thơ!
Nhà thơ vĩ đại của Pháp này không chỉ yêu mến trẻ thơ nói chung, ông còn dành cho những trẻ em khốn khổ một tình thương đặc biệt như được phản ảnh qua tác phẩm “Les Misérables” (những kẻ khốn khổ). Trong một bài thơ có tựa đề “Les Enfants Pauvres” (những đứa trẻ khốn khổ), ông viết rằng “Thượng Đế đặt sự khôn ngoan của Ngài trong nụ cười của trẻ thơ và lòng tha thứ của Ngài trong nụ hôn của chúng”.
Ôn lại những bài thơ này, tôi không thể không liên tưởng đến ông hoàng tử nhỏ của Vương Quốc Anh vừa mới chào đời cách đây hơn một tuần. Ở thời đại này mà còn được cả thế giới  ngóng trông chờ  đợi từng giờ từng phút ngày chào đời thì chỉ có thể là hoàng tử và công chúa của quốc gia đã từng là đế quốc hùng mạnh nhất thế giới này mà thôi. Nhưng riêng tôi, tôi cảm thấy như thể bị oanh tạc và tra tấn bởi lượng tin tức phải nói là quá tải và không cân bằng về cậu con trời này. Cái cảnh các phó nhòm chờ chực đến cả tuần lễ trước cửa bệnh viện nơi cậu chào đời, cái cảnh thần dân Anh nhảy mừng đến trào nước mắt và cả thế giới cũng phải nhốn nháo lên khi hoàng tử nhỏ được ông hoàng Williams và công nương Catherine bồng trên tay ra mắt trước cửa bệnh viện St Mary’s Hospital…khiến tôi cảm thấy ái ngại khi nghĩ đến vô số những trẻ thơ khốn khổ trên khắp thế giới. Cùng ngày ông hoàng tử nhỏ của vương quốc Anh chào đời, chỉ riêng tại nước này thôi cũng đã có ít nhứt trên 2 ngàn thơ nhi khác được sinh ra trong những điều kiện khác nhau, mà khốn khổ thiếu thốn về vật chất cũng như tinh thần không phải là ít. Cùng ngày ấy, trên khắp thế giới có biết bao nhiêu trẻ thơ ra đời, trong số ấy có biết bao em chỉ nhìn thấy ánh mặt trời xuyên qua khung cửa chật hẹp và oi bức của các trại tỵ nạn, có biết bao nhiêu em không được người cha biết mặt và bị người mẹ ruồng bỏ, có biết bao nhiêu em góp mặt với đời trong tấm thân gầy yếu vì thiếu ăn khi còn trong lòng mẹ hay phải mang trên người những căn bệnh hiểm nghèo do cha mẹ truyền cho…Cũng ngày hôm đó, tôi biết có những em chào đời nhưng không được người mẹ ôm ấp trong vòng tay vì người mẹ phải quay trở lại nhà tù. Khi hoàng tử nhỏ của nước Anh chào đời, có ai dành một phút thôi để nghĩ đến những em bé khốn khổ này không?
Ai đó đã nói rằng con người ta thường chỉ thấy những gì họ muốn thấy. Những người mù đi xem voi đã “thấy” sẵn trong đầu một con đỉa, một cây cột nhà hay một cái quạt…cho nên con voi chỉ được họ “nhìn thấy” xuyên qua những hình tượng có sẵn ấy. Nếu người ta chỉ muốn nhìn thấy sự hào nhoáng, tiếng tăm, danh vọng, quyền lực, sự giàu sang…mắt họ chỉ mở ra để chỉ nhìn thấy những thứ đó mà thôi. Một khóe mắt của họ có thể bị khép lại để không còn nhìn thấy những thứ có thể nhìn thấy và đáng nhìn thấy hơn.
Sau cuộc diệt chủng dã man trong điều thường được gọi là “những cánh đồng giết người” (killing fields) tại Cambốt do đồ tể cộng sản Pol Pol chủ xướng hồi cuối thập niên 1970, một số người sống sót đã được định cư tại Hoa Kỳ. Trong số những người tỵ nạn này, người ta nhận thấy một hiện tượng kỳ lạ nơi rất nhiều người phụ nữ: mắt họ vẫn còn sáng, nghĩa là không hề bị bất cứ một thương tật nào, nhưng họ nói rằng họ không còn thấy hoặc thấy rất lờ mờ. Đây là một chứng bệnh mà nguyên nhân được một số chuyên gia tâm lý gán cho những nỗi kinh hoàng mà những người tỵ nạn này đã trải qua dưới thời cộng sản tại Cambốt. Giáo sư tâm lý học Patricia Kozee-Koker, thuộc Đại học Long Beach, tiểu bang California, giải thích rằng “những phụ nữ này vẫn còn nhìn thấy những cảnh hãi hùng mà tâm trí họ không muốn chấp nhận. Có đến 70 phần trăm những phụ nữ này có người thân gần gũi nhứt bị sát hại ngay trước mắt họ. Cho nên mắt họ vẫn mở, nhưng tâm trí họ lại khép kín và họ không muốn nhìn thấy nữa, bởi vì họ sợ thấy cái chết, những cảnh tra tấn, hãm hiếp và chết đói”.
Sự khiếm thị mà những phụ nữ Cam bốt này trải qua quả là chuyện hạn hữu. Nhưng có mắt mà không nhìn thấy, có tai mà không nghe cũng là hiện tượng vốn thường xảy ra cho con người. Nhất là khi đôi mắt và tâm trí của họ bị che khuất bởi đam mê, quyền lực, danh vọng, sự thù hận, tính ích kỷ hay ngay cả những thành kiến.
Hoàng tử nhỏ của nước Anh lại làm tôi nhớ lại chuyện “Hoàng tử nhỏ” (Le Petit Prince) của văn hào Pháp Antoine de St Exupéry (1900-1944). Khi bàn về cái tánh có thành kiến của con người, nhà văn này đã tưởng tượng ra một hành tinh được đặt tên là B-612, quê hương của hoàng tử nhỏ. Theo Antoine de St Exupéry, hành tinh này đã được một nhà thiên văn học Thổ Nhĩ Kỳ khám phá năm 1909. Sau khi khám phá hành tinh này, nhà thiên văn học đã đến giới thiệu tại Hội Nghị Quốc Tế Thiên Văn Học. Nhưng bởi vì ông ăn mặc như một người Thổ Nhĩ Kỳ cho nên chẳng ai tin những gì ông nói.
Tác giả của “hoàng tử nhỏ” đưa ra nhận xét: “người lớn là như thế đó…”
“Người lớn là như thế đó…” là một kết luận rất thường được nhân vật “hoàng tử nhỏ” đưa ra mỗi khi người lớn không chịu hiểu cái thế giới của trẻ con. Trong câu chuyện “trao đổi” với viên phi công gặp nạn giữa sa mạc hoang vắng bên Phi Châu, hoàng tử nhỏ thường nói: “Ông nói chuyện như người lớn! Ông pha trộn mọi sự với nhau…Ông lẫn lộn mọi sự.”
Trước khi đến Trái Đất, hoàng tử nhỏ đã phiêu lưu qua rất nhiều hành tinh khác. Hành tinh đầu tiên mà cậu đặt chân đến là vương quốc không có lấy một ai ngoại trừ một ông vua đơn độc cai trị. Vậy mà khi thấy cậu xuất hiện, ông vua này liền thốt lên: “Đây là một thần dân của ta”. Ông vua đơn thương độc mã này định bổ nhiệm cậu làm đại sứ. Nhưng cậu bỏ đi và nghĩ thầm: “Những người lớn thật lạ lùng!”
Hành tinh thứ hai được hoàng tử nhỏ viếng thăm lại cũng chỉ có một người và người này là một kẻ tự phụ. Sau khi trao đổi với người này, cậu bé cũng đưa ra kết luận: “Người lớn thật kỳ quặc”. Đến hành tinh thứ ba, cậu cũng chỉ gặp có đúng một người và là một tên nát rượu. Nhận xét của hoàng tử nhỏ cũng vẫn là: “Người lớn chắc chắn rất kỳ quặc”. Sang đến hành tinh thứ tư, cậu lại gặp một doanh gia. Ông này chỉ biết những con số và quy tất cả mọi sự thành số. Cậu bé lại thốt lên: “Người lớn quả là khác thường”…Mà đâu chỉ có doanh gia này mới nhìn mọi sự bằng những con số. Văn hào St Exupéry viết rằng “người lớn thích những con số. Khi bạn nói với họ rằng bạn vừa mới có một người bạn mới, họ sẽ không bao giở hỏi bạn bất cứ câu hỏi nào về những vấn đề quan trọng. Họ không bao giờ nói với bạn: “Giọng nói của người đó như thế nào? Người đó có sưu tầm bướm không?” Thay vào đó, họ lại hỏi: “Người đó bao nhiêu tuổi? Người đó có bao nhiêu anh em? Người đó cân nặng bao nhiêu? Cha người đó làm được bao nhiêu tiền?”…Nếu bạn nói với người lớn: “Tôi thấy có một ngôi nhà đẹp làm bằng gạch hồng, với hoa “phong lữ” (geranium) bên cửa sổ và chim bồ câu trên mái nhà”, họ sẽ không thể hiểu được ngôi nhà đó như thế nào cả. Bạn phải nói với họ: “Tôi thấy có một ngôi nhà giá 4000 bảng Anh”. Lúc đó họ sẽ thốt lên: “Ồ, ngôi nhà đẹp biết chừng nào!”.
Triết lý mà văn hào St Exupéry muốn đưa ra trong tác phẩm “Hoàng tử nhỏ” có lẽ đã được ông tóm gọn trong câu nói của con chồn khi từ giã cậu bé: “Và đây là bí quyết của tôi, một bí quyết rất đơn giản: chỉ với trái tim con người mới nhìn thấy đúng đắn; mắt thường không thể nhìn thấy điều thiết yếu”.
Tôi vẫn thường đọc lại và nghiền ngẫm về sứ điệp của “Hoàng tử nhỏ”. Chỉ với trái tim ngây thơ, không thành kiến, không vướng bận với những đam mê, quyền lực, tiền của, danh vọng, tiếng tăm…tôi mới có hy vọng được nhìn thấy những điều mà đôi mắt thường của tôi không nhìn thấy. Mà quả như St Exupéry đã nói qua miệng của “hoàng tử nhỏ”, điều quan trọng là điều không nhìn thấy được. “Các ngôi sao đẹp là bởi vì có một cánh hoa trên đó không thể nhìn thấy được…Sa mạc đẹp bởi vì đâu đó có ẩn dấu một giếng nước”.
Bước vào bóng xế của cuộc đời, tôi thường nhớ lại chuyện tuổi thơ. Tuổi thơ của tôi vất vả, thiếu thốn, nhưng đẹp.Tuổi thơ nào mà chẳng là tuổi thần tiên. Sau một thời gian lưu lạc, dường như “ông hoàng tử nhỏ” của tuổi thơ đã trở về với tôi để không ngừng nhắc nhở tôi nhìn thấy đâu là điều quan trọng trong cuộc đời. “Ông hoàng tử nhỏ” mở con mắt trái tim của tôi để tôi nhìn thấy bao nhiêu vẻ đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc sống và trong tâm hồn của mỗi một người. Nhưng quan trọng hơn cả, “ông hoàng tử nhỏ” cũng luôn sát cánh bên tôi để tra hỏi tôi về bao nhiêu nỗi khốn khổ mà bao nhiêu người trên khắp thế giới, bên cạnh tôi, xung quanh tôi đang trải qua. Xét cho cùng, quan trọng hơn cả trong những điều mà “ông hoàng nhỏ” trong tôi không ngừng mách bảo tôi chính là ánh mắt cảm thông mà tôi phải luôn có khi đứng trước những thiếu sót và nhứt là nỗi khổ đau của người đồng loại.





Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

Nam Phi: khi các bà nội ngoại là những người kiếm cơm cho gia đình


03.03.17

Eastern Cape là một tỉnh đặc biệt nằm ở mạn Đông Nam Nam Phi. Đây là nơi có rất nhiều người đàn bà, tuy đã là bà nội bà ngoại, vẫn tiếp tục là những người kiếm cơm cho gia đình. Họ cũng đóng cả vai trò làm mẹ cho những đứa cháu nhỏ, vì cha mẹ chúng phải rời bỏ làng mạc hay các thị trấn nhỏ để đi tìm việc ở những thành phố lớn.
Xuyên qua những ngọn đồi của tỉnh Eastern Cape, các bầy dê và bò đang gặm cỏ giữa những mái nhà đất truyền thống của người isiXhosa. Mây đang vần vũ trên một ngôi nhà của cộng đồng. Gần 20 người phụ nữ đã tập trung lại trong ngôi nhà này để chia sẻ câu chuyện của họ với phóng viên của Đài Aljazeera. Tất cả đều gặp nhau ở một mẫu số chung: mặc dù đã có tuổi, họ phải đứng ra kiếm cơm cho gia đình và nuôi dạy các cháu.
Theo kết quả của một cuộc kiểm kê dân số của chính phủ Nam Phi hồi năm 2011, cho đến tuổi 60, hầu hết đàn ông nước này đều là những người gánh vác việc gia đình. Nhưng vào năm 2015, các số liệu của một cuộc  điều tra khác lại cho thấy phụ nữ ngày càng nắm giữ vai trò này trên toàn 9 tỉnh của Nam Phi. Hiện nay có đến 11 phần trăm các  gia đình Nam Phi đều do các phụ nữ trên 60 tuổi làm chủ. Với số tiền còm được chính phủ trợ cấp mỗi tháng khoảng 113 Mỹ kim, cộng với khoảng 27 Mỹ kim phụ cấp cho trẻ con, các phụ nữ tuy đã là bà nội và bà ngoại này lại phải làm mẹ một lần nữa. Họ vừa phải chạy cơm chạy gạo cho những người con đã lớn nhưng không thể tìm được việc làm, lại vừa phải chăm sóc cho các cháu nội ngoại.
Hiện nay, số người phụ nữ trên 60 tuổi, tức tuổi được hưởng trợ cấp của chính phủ, chiếm đến 11 phần trăm dân số Nam Phi. Họ đang làm chủ khoảng 1.5 triệu gia đình trên toàn quốc. Sở dĩ có tình trạng này là vì chồng của những người phụ nữ này hoặc đã qua đời hoặc đang là phế nhân vì bệnh viêm phổi do hít phải chất độc trong các hầm mỏ. Có người là nạn nhân của bạo động hoặc rơi vào nghiện ngập và thất nghiệp.
Những thống kê về tội ác do bạo động vẽ lên một bức tranh rất u ám về Nam Phi. Trong năm 2016, tại thị trấn Mthatha thuộc tỉnh Eastern Cape, đã xảy ra 122 vụ sát nhân. Đây là tỷ lệ sát nhân cao thứ nhì tại tỉnh này.
Bà Nonzezile Mkunga là một trong số rất nhiều phụ nữ trên 60 tuổi hiện đang là người chạy cơm chạy gạo từng bữa cho gia đình. Bà đã cho phóng viên của đài Aljazeera biết: chồng bà đã hoàn toàn mất trí sau một thời gian làm việc trong một hầm mỏ. Bệnh mất trí của người đàn ông này là một trường hợp điển hình của vô số thợ mỏ tại Nam Phi. Họ phải làm việc trong những điều kiện vô cùng nghiệt ngã, nhưng chỉ lãnh được một đồng lương chết đói.
Sau một thời gian mắc bệnh tiểu đường nhưng không được chữa trị, chồng bà Mkunga qua đời. Công ty khai thác hầm mỏ nơi chồng bà làm việc đã không đền bù cho gia đình bà một đồng xu nào. Bà Mkunga đành phải gia nhập lực lượng những bà nội ngoại để thay chồng gánh vác việc gia đình.
Sinethemba Sidloyi là một nhà xã hội học thuộc trường Đại học KwaZulu-Nadal. Cô đã lớn lên trong thị trấn Mthatha. Đây là vùng nghèo nhất của tỉnh Eastern Cape. Cô cũng đã từng được chính bà nội của mình nuôi nấng. Chứng kiến cảnh nhiều thiếu nữ dưới 18 tuổi phải lâm cảnh bụng mang dạ chửa, nghiện ngập và bỏ học trong thị trấn của mình, Sidloyi đã bắt đầu nêu lên nhiều câu hỏi. Cô đã trở thành một trong 23 phần trăm học sinh trong thị trấn học xong bậc trung học và 2 phần trăm tốt nghiệp đại học trong toàn tỉnh Eastern Cape. Ý thức về tình trạng này, cô đã dọn luận án tiến sĩ xã hội học về cuộc sống của những người già, đặc biệt là các phụ nữ hiện đang là những người kiếm cơm cho gia đình.
Trong rất nhiều lý do khiến các bà nội ngoại tại thị trấn Mthatha phải đứng ra gánh vác gia đình, theo Sidloyi , chính là “chế độ phân biệt chủng tộc (apartheid) và những chính sách kinh tế-xã hội hiện đang tiếp tục ảnh hưởng đến cuộc sống của người da đen tại Nam Phi, nhất là những người hiện đang ở tầng đáy của cơ sở kinh tế”. Chế độ phân biệt chủng tộc hay Apartheid là một hệ thống cai trị dựa theo chủng tộc được người Hòa Lan áp dụng tại Nam Phi từ cuối Thế kỷ 18. Được độc lập năm 1948, Nam Phi vẫn tiếp tục bị cai trị theo chính sách này. Mãi cho đến năm 1991, chế độ này mới được bãi bỏ và cố Tổng thống Nelson Mandela đã trở thành người da đen đầu tiên được bầu lên làm tổng thống nước này. Mặc dù chế độ phân biệt chủng tộc đã bị bãi bỏ, những hệ lụy của nó vẫn còn tiếp tục âm ỉ và kéo dài cho tới ngày nay.
Theo cô Sidloyi, chính sự rạn nứt gia đình do chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và các chính sách kinh tế-xã hội phát xuất từ chủ nghĩa này tạo ra đã khiến cho cơ cấu gia đình của người Nam Phi bị lung lay. Thật vậy, các chính sách kinh tế-xã hội dựa trên chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã khiến cho người đàn ông Nam Phi phải bung ra khắp nơi để tìm kế sinh nhai. Ở đâu họ cũng tìm kiếm những người bạn tình mới và do đó đi vào các quan hệ đa thê. Điều đó có nghĩa là những gia đình mà những người đàn ông xa nhà này bỏ lại đàng sau phải gặp khó khăn về kinh tế. Tiến sĩ Sidloyi cho rằng chính tình trạng bị bỏ rơi này đã khiến cho người phụ nữ phải đảm nhiệm vai trò kiếm cơm cho gia đình.
Hiện nay, trẻ hay già, người phụ nữ tại thị trấn Mthatha, nếu không bị chồng bỏ, thì cũng “mất” chồng vì nạn thất nghiệp. Các số liệu của cuộc kiểm kê dân số năm 2011 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp tại tỉnh  Easten Cape lên đến 26 phần trăm. Một người phụ nữ tại thị trấn Mthatha cho phóng viên của đài Aljazeera biết: “Con cái của chúng tôi đã bỏ lên các thành phố lớn, nhưng vẫn chưa tìm được việc làm. Chúng tôi cần phải mượn tiền để đỡ đần cho chúng và con cái của chúng”. Có đến 58 phần trăm phụ nữ đã là bà nội và bà ngoại mà vẫn chăm sóc cho các cháu dưới 17 tuổi.
Nhưng dĩ nhiên, với chút tiền còm do chính phủ trợ cấp, cộng với sự bương chải của mình, các bà nội ngoại hiện đang gánh vác gia đình vẫn không đủ khả năng để chi trả cho mọi thứ chi phí của gia đình. Đã thế, những người phụ nữ này còn trở thành mục tiêu tấn công của giới trẻ thất nghiệp. Những cuộc cướp bóc có bạo động thường xảy ra vào những ngày các phụ nữ này bước ra khỏi phòng xã hội để nhận tiền trợ cấp. Thỉnh thoảng chính những phần tử trong gia đình cũng tham gia vào những vụ cướp bóc này.
Theo bà Nozukhile Hadi, “tuần nào cũng có một thành viên của cộng đồng chết vì nạn cướp bóc”. Một trong những biện pháp để đối phó với tình trạng bạo động này là thỉnh thoảng các ông cũng phải đảm nhận vai trò bảo vệ an ninh cho cộng đồng: họ thay nhau canh gác mỗi đêm!
Theo các phụ nữ đang phải gánh vác gia đình này, chỉ có công ăn việc làm may ra mới làm hạ giảm được tình trạng bạo động và tội ác. Thỉnh thoảng chính quyền địa phương cũng cho sửa chữa hay xây cất đường sá, nhưng người dân trong cộng đồng lại không được thuê mướn. Nạn thất nghiệp và tình trạng bạo động vẫn không được giải quyết. Ngoài ra, ngay cả khi bắt được những tên tội phạm, chỉ vài tháng sau cảnh sát lại trả tự do cho họ, viện cớ không có đủ bằng chứng.
Mặc dù phải đương đầu với cuộc sống khó khăn, các bà nội ngoại hiện đang gánh vác gia đình tại thị trấn Mthatha cũng như trên toàn quốc Nam Phi  vẫn chứng tỏ được rằng chính họ là những người đang tranh đấu để bảo đảm cho các cháu của họ có được một tương lai tươi sáng hơn và thay đổi được bộ mặt của chính cộng đồng xã hội.
Bên ngoài một hợp tác xã có tên là Sinovuyo, người ta thấy cả một dãy hàng khoai tây và đủ mọi loại rau xanh khác. Gần đến giờ cơm trưa, các phụ nữ tiến vào nhà bếp để chuẩn bị món cháo được nấu từ rau quả trong vườn. Món cháo này giúp họ cầm hơi khi tiền trợ cấp hay vay mượn khô dần. Thật vậy, theo một cuộc điều tra về tình trạng các gia đình trên toàn quốc, có đến 60 phần trăm các phụ nữ có tuổi hiện đang làm chủ gia đình, nếu có một vườn rau xanh phía sau nhà, đều không sợ đói.
Một trong những thành viên của hợp tác xã Sinovuyo giải thích rằng ngay cả khi không được trợ cấp, các bà đều tìm đến với nhau để giúp đỡ nhau. Chẳng hạn nếu tiền trợ cấp không đủ, họ chia sẻ với nhau bột mì. Và dĩ nhiên, họ cũng chia sẻ cho nhau tất cả những gì họ trồng được trong khu vườn sau nhà như hành tỏi, rau dền, bắp cải, cà rốt và khoai tây.
Bên cạnh những gì họ trồng được trong khu vườn sau nhà, những người phụ nữ có tuổi này cũng gia nhập vào lực lượng thủ công nghệ để sản xuất các món đồ trang sức như vải lụa, giây chuyền v.v...Tất cả các phụ nữ này nói rằng họ muốn làm việc chứ không phải ngồi lê đôi mách. Các bà nói: “Khi chúng tôi ngồi lại với nhau để làm việc, điều tốt có thể xảy đến”.
Đây là điều mà nhà xã hội học Sidloyi đã tìm thấy. Theo cô, dù cho hoàn cảnh có khó khăn đến đâu, các phụ nữ này không bao giờ là nạn nhân của  hoàn cảnh. Trái lại họ không ngừng dấn thân để thách thức và thay đổi hoàn cảnh.
Những người phụ nữ có tuổi ở thị trấn Mthatha cũng như trên toàn quốc Nam Phi không những tranh đấu để sống còn, họ còn “đầu tư” cho tương lai của con cháu họ, một tương lai mà họ tin tưởng sẽ không đen tối như cuộc sống hiện tại của họ.
Cô Sidloyi nói rằng hiểu được giá trị và vai trò của những người phụ nữ có tuổi trong các cộng đồng là chìa khóa để soạn thảo những chính sách có thể nâng đỡ họ và gia đình họ.
Nam Phi hay còn được chính thức gọi là Cộng Hòa Nam Phi hiện có nền kinh tế mạnh thứ nhì tại Phi Châu và đứng hàng thứ 34 trên thế giới. Tính theo thu nhập đầu người, Nam Phi đứng hàng thứ 7 tại Phi Châu. Tuy nhiên, nghèo đói và bất bình đẳng hiện vẫn còn rất sâu đậm. Khoảng một phần tư dân số Nam Phi đang thất nghiệp và sống với thu nhập không tới 1.25 Mỹ kim một ngày. Dù vậy, Nam Phi vẫn duy trì được một ảnh hưởng đáng kể trong vùng.


(theo: http://interactive.aljazeera.com/aje/2017/south-africa-grandmothers)

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Chỉ còn lại một chữ Tình




Chu Thập
24.02.17
Ở tuổi già, mỗi sáng khi thức dậy và nhứt là trong giờ chạy bộ, tôi thường tự hỏi: đâu là điều quan trọng nhứt trong cuộc sống?
Mới đây, trên báo Người Việt số ra ngày 16 tháng Hai vừa qua, tôi có đọc được một bài viết về nhạc sĩ Trúc Giang, tác giả của những “ca khúc ấm tình quê hương”. Người nhạc sĩ tài hoa này có lẽ đã trả lời cho câu hỏi của tôi khi ông nói: “Tôi thấy cuộc đời cái tồn tại là chữ “Tình”. Dù ở hoàn cảnh nào cũng nhớ chữ “Tình”, đừng quên nó”. Ông giải thích: “Tôi giờ già yếu, lại thêm bệnh tật, đâu có ăn uống gì được đâu, nhưng khi được cho, được giúp người khác rồi thì thấy người mình khỏe lắm, còn hơn ăn đồ bổ nữa. Có lẽ ai cũng vậy hết, khi già rồi mới thấy quý đời sống, quý ở chỗ tình người, nên khi giúp được người ta thì tâm mình an vui lắm”.
Tôi cảm thấy phấn khởi và được an ủi khi đọc được những lời nhắn nhủ của người nhạc sĩ thường tham gia tổ chức các buổi dạ tiệc gây quỹ “Tình Yêu Tình Người” để giúp đỡ người nghèo ở Việt Nam.

Không biết tại sao ý tưởng này cứ cuốn xoáy trong đầu tôi khi xem cuốn phim có tựa đề “Silence” (sự thinh lặng) do đạo diễn nổi tiếng Martin Scorsese thực hiện và hiện đang được trình chiếu tại một số rạp nhỏ ở Úc Đại Lợi. Cuốn phim đã gợi lên trong tôi nhiều cảm xúc và lay động tận gốc rễ niềm tin tôn giáo của tôi. Cuộc bách hại tàn bạo đối với các tín hữu Kitô Nhựt Bản vào Thế kỷ 17 như được mô tả gần như một cách trung thực trong cuốn phim đã đưa tôi trở về với thời cấm cách ở La Mã trong những thế kỷ đầu của Kitô Giáo cũng như làm sống lại những trang sử đau thương nhứt của các tín hữu  Kitô tiên khởi tại Trung Hoa, Đại Hàn và nhứt là Việt Nam. Nhưng cùng với cuộc bách hại dã man ấy, cuốn phim cũng làm dấy lên trong tôi một câu hỏi luôn đeo đuổi tôi hầu như suốt cả cuộc đời: Đâu là cốt lõi của Kitô Giáo? “Đạo” là gì? Điều gì là quan trọng nhứt trong cuộc đời?
Như đạo diễn Scorsese đã nhìn nhận, (x.The Light Touch, tạp chí Time 20/2/2017), nội dung của phim “Silence” dựa vào quyển tiểu thuyết giã sử cùng tên của văn sĩ nổi tiếng Nhựt Shusaku Endo (1923-1996) mà ông đã đọc được cách đây 28 năm. Với cuốn tiểu thuyết này, ông Endo không chỉ  ghi lại một trong những trang sử đau thương và vinh quang nhứt của cộng đồng tín hữu Kitô tại Nhựt Bản, mà cũng muốn nói lên chính cuộc hành trình tinh thần của ông. Chào đời và lớn lên tại Mãn Châu trong thời kỳ Nhựt Bản chiếm đóng Trung Hoa, ông bị người dân bản xứ xem như một kẻ xâm lăng đáng khinh bỉ. Trở về Nhựt Bản là nơi Giáo hội Công giáo không chiếm đến quá một phần trăm dân số, một người công giáo như ông lại phải âm thầm gậm nhấm nỗi đau khổ của một người xa lạ ngay chính trên đất nước của mình. Đệ nhị Thế chiến bùng nổ, Endo lại càng cảm thấy xa lạ và bị kỳ thị hơn vì niềm tin tôn giáo của mình. Là một người Nhựt, nhưng lúc nào ông cũng hướng về Tây Phương như quê hương tinh thần của mình. Sau chiến tranh, ông qua Pháp để nghiên cứu về một số văn sĩ công giáo nổi tiếng của Pháp như Francois Mauriac và George Bernanos. Cứ tưởng tại quê hương tinh thần này, ông sẽ được niềm nở đón tiếp. Nhưng người sinh viên Endo đã  bị người Pháp kỳ thị vì chủng tộc của mình. Là con dân của một đất nước đã từng gây đau thương tang tóc cho cả thế giới, Endo đã trở thành mục tiêu của kỳ thị chủng tộc đối với  chính những người đồng đạo của mình. Chính vì vậy mà sau 3 năm sống ở Pháp, Endo rơi vào trầm cảm nặng nề. Tệ hơn, cũng chính  tại Pháp mà ông đã rước vào thân một căn bệnh hiểm nghèo là lao phổi. Bị cắt đi một lá phổi, Endo đã phải trải qua nhiều tháng buồn bã và tủi nhục trong các bệnh viện. Từ đó, ông kết luận rằng chính Kitô Giáo đã làm cho ông trở thành một người bệnh hoạn: bị đẩy ra bên lề xã hội tại quê nhà, bị ruồng rẫy tại quê hương tinh thần, Endo phải trải qua một cuộc khủng hoảng trầm trọng về niềm tin tôn giáo.
Có lẽ trong chính tâm trạng đó mà Endo đã khám phá ra điều mà ông cho là “mâu thuẫn” của Kitô Giáo: trong khi Chúa Giêsu đã được các tiên tri loan báo và chính Ngài cũng đã từng sống như một “Người Tôi Tớ Đau Khổ” thì chân dung của Ngài, như được thể hiện trong thời Đế quốc La Mã , kế đó qua các cuộc Thập tự Viễn chinh và nhứt là  trong các ngôi thánh đường nguy nga tráng lệ  ở Âu Châu...lại là một Vị Vua vinh hiển khải hoàn hơn là một người tôi tớ đau khổ.
Để tìm kiếm gương mặt đích thực của Chúa Giêsu, Endo đã sang tận Palestine, quê hương của Ngài. Tại đây, ông mới thực sự nhận ra được dung mạo  đích thực của Chúa Giêsu, người bị từ chối và ruồng rẫy ngay trên quê hương của mình!
Có lẽ dưới ánh sáng của cuộc khám phá đó mà Endo đã viết cuốn tiểu thuyết “Silence”. Nội dung tác phẩm được đặt vào bối cảnh của đầu thế kỷ 17. Đây là cao điểm của cuộc bách hại Kitô Giáo tại Nhựt Bản. Nhân vật chính trong chuyện là một linh mục trẻ Bồ Đào Nha. Ông được cử đến Nhựt Bản để tìm kiếm một vị linh mục già, người đã từng là giáo sư của ông. Có tin cho biết sau 20 năm truyền giáo tại Nhựt Bản, vị linh mục già này đã “chối đạo” và lẩn tránh ở một nơi nào đó. Trên đường đi tìm người thày của mình, vị linh mục trẻ đã phải len lỏi vào các cộng đồng tín hữu bị bách hại đang phải sống chui sống nhủi giữa chốn rừng sâu. Những nơi nào các tín hữu bị bắt, vị linh mục lại phải đau lòng chứng kiến những cuộc hành quyết dã man. Cuối cùng chính ông cũng bị bắt giữ và giam tù. Từ trong tù, hình phạt khủng khiếp nhứt mà vị linh mục trẻ phải trải qua chính là bị cưỡng bách phải chứng kiến những cảnh hành quyết. Ngoài ra, vị phán quan và các lý hình còn đặt vị linh mục trước một chọn lựa khủng khiếp hơn: nếu ông không dùng chân để chà đạp lên bức ảnh có hình Chúa Giêsu, các lý hình sẽ giết thêm một tín hữu. Cuối cùng, để cứu mạng các tín hữu, vị linh mục đã chà đạp lên bức ảnh của Chúa Giêsu. Với cử chỉ ấy, ông đã “chối đạo” , nhưng  cứu được các tín hữu. Trong lúc chuẩn bị làm hành động chối đạo ấy, vi linh mục như nghe được tiếng nói của chính Chúa Giêsu: “Cứ chà đạp lên Ta”. Cuốn phim đã chấm dứt với cảnh vị linh mục “hồi tục”, ở lại Nhựt Bản, lập gia đình và chết trong tuổi già. Lúc an táng ông , nhìn kỹ, người ta thấy có một bức tượng nhỏ của Chúa Giêsu trong tay ông.
Chi tiết ấy như muốn nói với tôi rằng vị linh mục này đã không thực sự “chối đạo”, mà trái lại đã “sống đạo”, nghĩa là đã sống chính cái cối lõi của Kitô Giáo là sống cho người khác và sống vì người khác. Phải chăng, ông đã chẳng muốn nói rằng trong cuộc đời, điều quan trọng nhứt chính là sống cho người khác hay như nhạc sĩ Trúc Giang đã nói “trong cuộc đời chỉ tồn tại chữ Tình”.
Năm 1966, khi cuốn tiểu thuyết “Silence” được xuất bản, cộng đồng công giáo ở Nhựt đã phẫn nộ. Nhiều người xem đây như một hành động “chối đạo” và xúc phạm đến Thiên Chúa.
Thật ra, trong lịch sử nhân loại, “Danh” Chúa hay danh dự của Thiên Chúa rất thường bị xúc phạm và bị xúc phạm không phải khi con người dẫm đạp lên một biểu tượng tôn giáo hoặc ngay cả gọi tên Ngài để phỉ báng, mà chính là  lúc họ nhân danh Ngài để làm điều ác, nhứt là để chối bỏ, chà đạp và tàn sát người đồng loại. Kinh Thánh Cựu Ước của người Do Thái không thiếu những trang sử như thế. “Danh” Chúa được nại đến trong rất nhiều hành động cướp đất, tàn sát đối với các dân tộc khác. Thiên Chúa mà có lẽ người ta đã “tạo dựng” thường đứng về phía tội ác hơn là bênh vực và sống cho người khác. Tựu trung, bất cứ một thái độ cực đoan nào nhân danh Thiên Chúa cũng đều là một hành động xúc phạm đến Thiên Chúa hơn là tôn vinh Ngài. Khi những người Hồi giáo cực đoan và cuồng tín sát hại người khác, nhứt là những người vô tội, họ luôn tung hô “Allahu Akbar” (Thiên Chúa vĩ đại). Không gì xúc phạm đến Thiên Chúa cho bằng một tội ác như thế!
Ở thời đại nào cũng có những người nhân danh Thiên Chúa để tàn sát, hãm hại hay loại bỏ người đồng loại của mình. Và dĩ nhiên, cũng không thiếu những người lên tiếng ca tụng họ như những nhà lãnh đạo được Thiên Chúa tuyển chọn. Khi vị mục sư nổi tiếng Franklin Graham bắt đầu lên tiếng cầu nguyện trong lễ tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống Donald Trump ngày 20 tháng Giêng vừa qua, trời đổ mưa. Vị mục sư liền nói rằng đây là một dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa chúc lành cho tân tổng thống. Ngoài ra, trước đó vài giờ, một nhà lãnh đạo tinh thần khác là mục sư Robert Jeffress cũng nói với tân tổng thống Mỹ rằng “chính Thiên Chúa là Đấng loại bỏ và chọn các nhà lãnh đạo”
Chính tổng thống Trump cũng tự nhận mình là người bảo vệ Kitô Giáo tại Hoa Kỳ mà ông cho là đang bệnh hoạn và sa đà. Việc ông quyết tâm bảo vệ Kitô Giáo lại càng rõ ràng hơn khi ông ký ban hành sắc lệnh hành chính để  cấm người Hồi giáo từ một số quốc gia Hồi giáo tại Trung Đông và Phi Châu, ngay cả những người Hồi giáo Syria đang đau khổ vì bàn tay tàn bạo của nhà độc tài Bashar al-Assad, được vào Hoa Kỳ: ông chỉ đón nhận vào Mỹ các tín hữu Kitô đang bị bách hại tại Trung Đông mà thôi!
Khi Tổng thống Nga Vladimir Putin đem quân sang yểm trợ nhà độc tài Bashar al-Assad để tiếp tục tàn sát người dân Syria, cũng có người cho rằng nhà độc tài này “bảo vệ các tín hữu Ki Tô chống lại sự bành trướng của tổ chức khủng bố Quốc gia Hồi giáo”.
Tôi không biết ông Putin và Tổng thống Trump có thật sự là những người bảo vệ Kitô Giáo không. Nhưng bảo vệ Kitô Giáo bằng cách loại trừ  và chà đạp phẩm giá của người khác không thể được xem là một hành động bảo vệ Kitô Giáo, lại càng không phải là một hành động tôn vinh Thiên Chúa, mà ngược lại.
Thật ra, có lẽ Thiên Chúa chẳng cần được con người tôn vinh và cũng chẳng quan tâm về chuyện danh dự bị sứt mẻ vì những hành động xúc phạm của con người. Một người bạn của tôi đã chí lý khi cho rằng “vai vế” của con người đối với Thiên Chúa còn thua xa “vai vế” của một con kiến đối với con người. Vậy thì làm sao mà con người có thể xúc phạm Thiên Chúa được. Có chăng là khi con người xúc phạm nhau khi chối bỏ, chà đạp hay loại trừ người đồng loại của mình. Trong khi Thiên Chúa là Đấng “ cho mặt trời mọc lên soi sáng người tốt cũng như kẻ xấu”( x.Mt 5, 45) thì nhân danh Ngài để  loại bỏ người đồng loại chỉ vì niềm tin tôn giáo hay sự khác biệt của họ chỉ có thể coi như một hành động phản Kitô giáo mà thôi.
Xét cho cùng, quan hệ giữa con người và Thiên Chúa dường như chỉ được đánh giá dựa trên Tình Người mà thôi. Tôi xem đó như cốt lõi của Kitô Giáo. Tôi  nghĩ rằng “Đạo” nào cũng chỉ dạy có thế. Và như nhạc sĩ Trúc Giang đã cảm nghiệm, “giúp được người ta thì tâm mình an vui lắm”. Ngoại trừ những kẻ bệnh hoạn lúc nào cũng chỉ nghĩ đến việc loại trừ và hãm hại người khác, có ai mà chẳng mong cho cái tâm của mình được an vui.
Ai đó đã nói thật chí lý: “Một chữ tình làm nên thiên hạ, một chữ hận đảo lộn càn khôn”.







Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Lành cho sạch, rách cho thơm



Chu Thập
23.07.13

Thời còn làm việc tại Phi Luật Tân, thỉnh thoảng tôi cũng bắt chước mấy ông cộng sản Việt Nam để thực hiện những chuyến đi gọi là “xâm nhập thực tế” vào những sinh hoạt của người Việt tỵ nạn rải rác khắp nơi tại quốc gia hải đảo này. Đó là khoảng đầu thập niên 1990. Thế giới bắt đầu mỏi mệt với các thuyền nhân Việt Nam cho nên mới nghĩ ra chuyện phân biệt giữa tỵ nạn chính trị và tỵ nạn kinh tế. Người tỵ nạn phải trải qua một cuộc thanh lọc phải nói là đầy dẫy bất công: nếu không phải là cựu quân nhân, viên chức của Việt Nam Cộng Hòa và nếu không có tiền đút lót cho các nhân viên được Cao Ủy Tỵ Nạn phái đến các trại tỵ nạn để thực hiện cuộc thanh lọc, thuyền nhân không được cấp quy chế tỵ nạn và như vậy phải bị cưỡng bách hồi hương. Sau đợt thanh lọc này, tất cả các trại tỵ nạn tại Đông Nam Á đều đóng cửa. Riêng tại Phi Luật Tân, do áp lực của Giáo hội Công giáo cũng như chính sách nhân đạo của nhà cầm quyền, người tỵ nạn không bị cưỡng bách hồi hương. Một số ít tự nguyện trở lại nhà tù lớn là Việt Nam. Nhưng phần lớn chọn lựa ở lại đất nước đang dung chấp mình, chấp nhận cuộc sống bấp bênh nhưng đầy tình người, hơn là chui đầu trở lại cái rọ khốn khổ thiếu tự do ở quê nhà. Cánh cửa trại tỵ nạn khép lại, người Việt tỵ nạn tại Phi Luật Tân bung ra khắp nơi để kiếm sống. Làm gì có đất để cày cuốc. Tay nghề cũng không. Vậy mà với chút vốn liếng tiếng Anh ba cọc ba đồng, tất cả mọi người Việt đều thành công trên “thương trường”. Mở đầu sự nghiệp với một giỏ “dầu nóng”, “dầu thơm” và nữ trang dỏm, các con buôn Việt Nam tiến lên ngành buôn bán quần áo, đồ gia dụng. Có người trúng lớn nhờ thầu cung cấp vải may đồng phục cho thày cô và học sinh trong các trường học. Có người trở thành những ông bà chủ “ngân hàng” chuyên cho người Phi vay trả góp. Tôi biết có cặp vợ chồng, sau mười mấy năm buôn bán tại Phi, cuối cùng nhờ luật sư Trịnh Hội giúp đỡ, đã đặt chân đến Mỹ với một túi tiền không dưới nửa triệu đô. Nói chung, từ hai bàn tay trắng, người Việt tỵ nạn nào tại Phi nếu không ăn nên làm ra thì cũng tự túc và khấm khá hơn người dân Phi nhiều. Những “bậc thang xã hội” mà người Việt tỵ nạn tại Phi từ từ bước lên được thể hiện qua các phương tiện di chuyển. Năm đầu tiên, ai cũng đi bộ. Năm sau, phần lớn sắm được xe gắn máy. Vài năm sau, đa số đều có xe hơi, phương tiện vốn được người Phi đánh giá  như một “bước tiến” lên trong xã hội. Nhiều người còn mướn cả người Phi làm “Osin” trong nhà.
Trong cách làm ăn, người Việt học được lối buôn bán “trả góp” của người Ấn Độ và chữ tín của người Hoa. Người Ấn được người Phi đặt cho cái tên bằng con số là dân “Five-Six”, nghĩa là bỏ ra 5 đồng và từ từ thu về 6 đồng. Họ thường đi “bỏ hàng” trong những khu nghèo của người Phi và mỗi ngày đến thu lại từng đồng. Trong khi đó, người Việt chơi sang hơn: trong vòng một tháng, cho người Phi trả góp 3 lần. Người bán kẻ mua, ai cũng đều có lợi cả. Chỉ có vấn đề thường được đặt ra cho người Việt là: phải “ăn lời” bao nhiêu cho hợp với lẽ công bình và không bị lương tâm cắn rứt. Khổ nỗi, khách hàng Phi lại thích chuộng hàng hiệu. Mà hàng hiệu thứ thiệt thì làm gì có nhiều ở Phi Luật Tân. Tôi thường nghe kể rằng người dân Phi ở thôn quê rất thích các loại đồng hồ Omega, Longines, Rolex…Dĩ nhiên, hàng hiệu này thuộc loại “Made in Hongkong” nhưng là “HongKong bên hông Chợ lớn”: ruột là ruột điện tử, chạy cũng đúng giờ, nhưng mẫu mã bên ngoài thì trông chẳng khác gì hàng hiệu. Giá rẻ bèo. Vì không muốn mang tiếng lừa gạt cho nên người Việt mình bán ra với giá phải chăng. Khách hàng Phi chê hàng rẻ không chịu mua. Nhưng cũng thứ hàng đó mà tăng giá lên gấp 5, 7 lần thì người ta lại đua nhau mua. Có lẽ các con buôn người Việt “sống” được là vì dân Phi thích chơi hàng hiệu dỏm.
Tôi đi “xâm nhập thực tế” vào cuộc sống của người Việt tỵ nạn tại Phi, nhưng rốt cục lại hiểu được óc chuộng hàng ngoại và tính thích tỏ ra “sành điệu” của người Phi. Người Phi ăn mặc đơn sơ. Nhưng nhìn kỹ mới thấy họ mặc toàn hàng hiệu và dĩ nhiên hàng hiệu dỏm hay nhái.
Kể từ lúc sang Phi làm việc, tôi cũng học được cái thói trưởng giả học làm sang ấy. Chẳng có thứ hàng hiệu dỏm hay hàng “nhái” nào mà không có trong các siêu thị ở Phi Luật Tân. Phẩm chất không đến nỗi tệ mà giá lại rẻ mạt. Khoác lên người chiếc áo Polo hiệu Raph Laurent, Benetton hay Lacoste (hàng nhái), diện vào chiếc quần hiệu Dockers hay D&G (dĩ nhiên cũng hàng dỏm)…có thay đổi được con người của mình chút nào đâu. Vậy mà có lúc tôi cũng ưỡn ngực nhìn mọi người và cũng bắt chước cựu chủ tịch nhà nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết để vượt qua cái mặc cảm tự ti và “ăn nói cũng như người ta” chớ có sợ thằng tây nào đâu! Ngẫm nghĩ mà tức cười!
Có lẽ con người ta ai cũng thích “làm sang”. Hễ no cơm ấm cật một chút thì người ta lại thích đua đòi và chơi nổi. Trong các xã hội văn minh, nghèo giàu thường khó phân biệt: nếu ông tỷ phú ngồi trên xe Mercedes thì người thợ làm “neo” cũng leo lên được chiếc BMW hay Lexus như ai! Chẳng ai thắc mắc hay đặt vấn đề gì cả. Còn ở một nước nghèo như Việt Nam chẳng hạn, hễ có tiền một chút là người ta lại thường thích học làm sang. Trước kia, nghe nói ở một vùng quê nghèo nào đó ở Miền Trung, cái ăn cái mặc hàng ngày lúc nào cũng thiếu thốn, vậy mà hễ nhận được đồng bạc nào từ nước ngoài gởi về, cả làng đều đua nhau xây “lăng tẩm” cho người thân đã qua đời. Tưởng nhớ người chết cũng có, mà “vinh danh” mình thì nhiều hơn. Nay tại nhiều nơi lại còn rộ lên  chuyện bắt chước người Tây phương xây nghĩa trang cho chó mèo. Vào nghĩa trang, người ta cũng mang theo những thứ đồ ăn mà lúc “sinh thời ”, các cô cậu chó mèo thích. Người ta cũng đốt nhang, cầu khẩn và bật khóc trước tro cốt của các cô cậu. Có nơi còn rước cả thày đến để cầu siêu cho các cô cậu. Trong khi xung quanh nhan nhản những người đói ăn, khốn khổ, chẳng ai nghĩ tới thì người ta lại “đua nhau” chăm sóc cho những con thú chết!
Thật ra, ở đâu và thời nào cũng thế thôi. Hễ cứ phú quý thì lại sinh lễ nghĩa. Thể diện là thứ mà ai cũng muốn tạo ra và bám vào bằng mọi cách. Nếu người dân Phi nghèo thích chơi hàng hiệu…dỏm, người Việt trong nước thích học làm sang, mấy ông lãnh tụ cộng sản chuộng bằng cấp…giả, thì nghe đâu ở các nước Tây Phương và  Úc Đại Lợi này người ta cũng thích tỏ ra là người “sành sõi” khi đi mua rượu vang. Năm 2001, một nhà nghiên cứu thuộc Đại Học Bordeaux, Pháp Quốc đã thực nghiện  hai cuộc nghiên cứu về cách uống rượu của dân Pháp. Kết quả thật buồn cười. Thoạt tiên nhà nghiên cứu này lấy cùng một thứ rượu Bordeaux, vốn là một trong những thứ rượu vang nổi tiếng nhứt của Pháp và cho vào hai chai khác nhau. Một chai được trình bày với một mẫu mã “bắt mắt” của loại rượu hảo hạng. Chai kia, ông cho vào một chai không có nhãn hiệu. Dân “sành điệu” hay đúng hơn tự nhận là “sành điệu”, sau khi thưởng thức chai rượu có dán nhãn hiệu hạng sang tấm tắc khen lấy khen để và đưa ra những lời bình luận mà chỉ có người chuyên môn mới làm được. Còn chai không có nhãn hiệu thì bị cũng chính những vị khách “sành điệu” này chê thậm tệ.
Trong cuộc thử nghiệm thứ hai, ông giáo sư mời 54 “chuyên gia” thử rượu đánh giá một loại rượu đỏ do ông pha chế. Thật ra đây không phải là rượu đỏ thứ thiệt mà chỉ là rượu trắng được nhuộm đỏ bằng các loại thuốc mầu được xử dụng trong thức ăn . Các “chuyên gia” lại trầm trồ khen ngợi cái hương vị hiếm có của loại rượu đỏ này.
Sau hai cuộc thử nghiệm trên đây, ông giáo sư của trường đại học Bordeaux đưa ra kết luận: “Đây là một hiện tượng tâm lý khá phổ biến: người ta nếm cái thứ quý mà người ta muốn nếm”. Nói cách khác, theo vị giáo sư này, cái khẩu vị của người nếm rượu là một hỗn hợp của ý nghĩ, ảo tưởng và vị giác. Nói chung, ai cũng muốn tỏ ra mình là người “sành điệu”; ai cũng muốn cho người khác thấy mình là người phong lưu lịch lãm.
Người đi mua rượu như thể bị điều kiện hóa bởi giá tiền: hễ thấy giá tiền cao thì nghĩ là rượu ngon, hễ thấy giá tiền thấp thì lại cho là rượu xoàng. Tiền nào của nấy mà.
Học viện Kỹ thuật California (California Institute of Technology) cũng đã thí nghiệm và tìm ra một kết luận tương tự. Hai mươi người tình nguyện được mời tham gia một cuộc thử rượu. Cùng một thứ rượu nhưng nếu bỏ trong chai có đề giá 45 đô thì ai cũng cho là ngon. Nhưng nếu bỏ trong chai chỉ đề giá 5 đô thì chẳng thấy ai khen tiếng nào cả!
Chính vì nắm bắt được tâm lý phổ thông này mà ông Ernest Gallo, một nhà sản xuất rượu vang nổi tiếng tại tiểu bang California, Hoa Kỳ đã hái ra tiền. Người ta kể lại một giai thoại: ngày nọ, ông Gallo đến New York để quảng cáo rượu do ông sản xuất. Cùng một bình rượu, nhưng ông lại rót ra hai ly khác nhau: ly thì ông giới thiệu với giá 5 xu, ly thì ông bán với giá 10 xu. Kết quả cho thấy khách hàng đã chọn ly rượu giá 10 xu. Ông chủ của công ty rượu vang lớn nhứt thế giới này đã làm giàu nhờ biết được tâm lý phổ thông ấy của người uống rượu. Khi mua một ly rượu để uống, không ai muốn người khác đánh giá mình là loại người chỉ biết “uống rượu 5 xu”. Khi vào tiệm rượu, ít có ai muốn người khác nhìn mình như hạng người “đi mua rượu mà phải khom lưng xuống”. Đây không phải là một hình ảnh, mà là một thực tế mà các tiệm rượu rất rành: họ để rượu đắt tiền trên kệ cao, còn thứ xoàng thì để dưới thấp.
Bình luận về “sĩ diện” của người mua rượu, báo The Wine Economist viết: “Rõ ràng là khách hàng muốn mua một thứ thể diện, mua hình ảnh của một người không hạ mình uống ly rượu 5 xu ngay cả khi anh ta không thể nói lên sự khác biệt” (Phạm Hiếu, Rượu ngon và rượu đắt, VL 9/7/2013;The Sydney Morning Herald 2.7.2013).
Lúc nhỏ, tôi vẫn thường được cha mẹ và các thày giáo giảng giải câu châm ngôn: “Lành cho sạch, rách cho thơm”. Hai chữ “thể diện” lúc nào cũng đi kèm là một lời khuyên dạy rằng dù sống trong hoàn cảnh nào, dù có thiếu thốn đến đâu cũng phải giữ gìn tư cách, không để bị tha hóa, không đánh mất chính mình, không chà đạp danh dự, không bán đứng lương tâm của mình.
Từ đó tôi hiểu rằng “thể diện” hay “sĩ diện” là thứ mà con người không thể mua bằng tiền bạc hay đạt được qua những thứ hào nhoáng bên ngoài như nhà cửa, xe cộ, quần áo, nữ trang và những thứ vật ngoại thân khác, nhứt là tấm bằng giả. Hiểu được như thế thì ngay cả chiếc áo dòng cũng chẳng làm nên ông thày tu.
Vào lúc bóng xế của cuộc đời, nhìn lại đoạn đường đã đi qua, tôi mới nghiệm thấy rằng mình đã đánh mất quá nhiều thời giờ để miệt mài tìm kiếm và bảo vệ một thứ “thể diện hão”. Biết bao nhiêu lần mình đã đánh mất cái tôi. Càng chạy đi tìm thứ “thể diện” ấy càng thấy mình nghèo nàn trống rỗng. Quả thật, cái thùng rỗng thì lúc nào cũng kêu to. Trái lại mỗi khi vượt qua được cái tâm lý thông thường “con gà hơn nhau tiếng gáy” để trở về với chính mình, tự biết mình, tự hiểu mình và vô cảm trước tiếng đời thị phi, khen chê, tôi lại thấy mình trở nên thảnh thơi và giàu có sung mãn hơn.