Thứ Tư, 14 tháng 12, 2016

Giáng Sinh: niềm vui trao ban, niềm vui nhận lãnh.


Chu Thập
18.12.12

Năm nào ông bạn chí cốt của tôi bên Mỹ cũng đều nhớ đến tôi nhân dịp Lễ Giáng Sinh và sinh nhựt của tôi. Năm nay, kèm với công thức cầu chúc thông thường, bạn tôi thòng thêm một câu: “Đến tuổi này rồi bây giờ mới thấy ngày giờ nó bay qua mau quá”. Tôi hiểu bạn tôi muốn nói gì. Khi người ta bước vào cái tuổi 6 bó rưỡi, “thời gian qua mau” cũng có nghĩa là chuyện xảy ra xa lơ xa lắc mà tưởng như mới hôm qua thôi.
Tôi gặp lại bạn tôi lần cuối cùng cách đây 4 năm, nhân dịp đám cưới của cô con gái rượu của bạn tôi. Thời gian ở bên nhau một tuần lễ chẳng thấm vào đâu cả. Chúng tôi ôn lại đủ chuyện mà phần lớn là chuyện tuổi thơ. Trời cho tuổi già một sự may mắn là chỉ nhớ toàn chuyện tuổi thơ. Mà chuyện tuổi thơ nào cũng đẹp cả.
Là bạn nối khố, nhưng chúng tôi không sinh ra trong cùng một làng với nhau. Làng tôi ở về hướng Tây, bên ngoài và sát với Thành Diên Khánh. Bạn tôi ở cách Thành khoảng ba cây số về hướng nam và cách Suối Đổ chừng một cây số. Đi trên Quốc lộ 1, vừa qua khỏi Cầu Lùng, có lẽ ít có ai mà không ngoái cổ nhìn lên ngọn thác với nước chảy trắng xóa này. Tính linh thiêng của Suối Đổ gắn liền với Tháp Bà ở Nha Trang.
Lúc nhỏ, tôi thường nghe truyền tụng về Nữ thần Poh Nagar của người Chàm, được người Việt nam “rửa tội” lại thành  Bà Thiên Y A Na. Người Chàm tin rằng Nữ thần Poh Nagar do bọt nước biển và áng mây trời sinh ra ngoài biển khơi. Là nữ thần cho nên dĩ nhiên bà có đủ mọi quyền phép. Bà hóa phép cho có cung điện nguy nga và cưới đến gần cả trăm ông chồng. 38 người con của bà cũng có đủ phép tắc vô song.
Khi đất của người Chàm thuộc về người Việt, thì Nữ thần Poh Nagar biến thành Thánh mẫu Thiên Y A Na. Người dân địa phương giải thích rằng ở núi Đại An, nay là Đại Điền, phía Tây Bắc Diên Khánh, có hai vợ chồng tiều phu già không con. Hai ông bà có trồng một rẫy dưa. Dưa bị mất trộm, ông bà rình bắt được một cô gái nhỏ xinh đẹp và nhận về làm con nuôi. Ông bà không ngờ rằng đây là một tiên nữ bị đày xuống trần gian. Tên của tiên nữ là Thiên Y A Na. Chán cuộc sống với vợ chồng người tiều phu, tiên nữ bám vào một khúc gỗ kỳ nam và lưu lạc mãi sang Trung Hoa và gặp một thái tử. Họ lấy nhau và có được hai người con. Nhưng một hôm, nhớ cảnh cũ người xưa, tiên nữ dắt hai con trở về Đại An. Nhưng cha mẹ nuôi đã qua đời. Tiên nữ liền xây cất mồ mả cho hai ông bà và dạy dỗ dân chúng biết cách cày cấy, kéo sợi, dệt vải. Một thời gian sau, tiên nữ và hai con trở về cõi tiên. Nhớ ơn đức, người dân địa phương cùng nhau xây tháp tạc tượng để phụng thờ.
Về phần mình, Thái Tử cũng tìm đến Đại An. Không tin Thiên Y A Na đã rời bỏ cõi tục, ông sai bộ hạ tra khảo người dân, vì cho rằng họ đang che dấu mẹ con bà. Bị oan ức, nhiều người đã thắp hương cúng vái bà. Liền đó cuồng phong nổi dậy và toàn bộ đoàn tùy tùng của thái tử từ Phương Bắc đều bị cát vùi (x.Wikipedia, Thiên Y A Na). Dù cho truyền thuyết của người Chàm có khác với truyền thuyết của người Việt, Nữ thần Poh Nagar hay Bà Thiên Y A Na hiện vẫn đang được thờ ở Tháp Bà, Nha Trang. Thỉnh thoảng, những đêm trời trong, có một luồng ánh sáng chạy dài từ Nha Trang vào Suối Đổ, kèm theo một tiếng nổ. Người dân địa phương của tôi giải thích rằng đây là điềm báo hiệu chính nữ thần Poh Nagar hay Bà Thiên Y A Na từ Tháp Bà ngự giá vào thăm Suối Đổ. Trước năm 1975, có một dạo, người ta đồn về linh dược kỳ diệu của nước Suối Đổ và lá cây mọc xung quanh vùng đó. Dân chúng từ các nơi đổ xô đến như trẩy hội.Người ta lội qua mấy cánh đồng mới đến chân Suối Đổ. Kẻ lấy nước, người hái lá. Có người còn leo lên tận nguồn ngọn Suối. Một người giáo dân của giáo xứ tôi, không biết do hiếu kỳ hay dị đoan, cũng bon chen leo lên đỉnh Suối, nhưng chẳng may trợt chân té xuống chết tại chỗ. Người “lương” thì bảo anh bị Bà Thiên Y A Na phạt. Người “có đạo” như tôi thì lại nghĩ rằng anh “chết tươi ăn năn tội chẳng kịp”, bị Chúa phạt vì cái tội dị đoan.
Nhà bạn tôi ở cách Suối Đổ không quá một cây số bằng đường chim bay. Vì ở địa phương không có trường đạo cho nên bạn tôi được gởi đi “du học” trong giáo xứ của tôi. Cứ mỗi ngày thứ Năm, sau một giờ giáo lý hay đúng hơn “kinh bổn” mà chúng tôi phải “tụng” cho thuộc lòng, lũ nhóc chúng tôi theo bạn làm một cuộc “dã ngoại” bỏ túi về đến nhà bạn. Chúng tôi không trang bị bằng một thứ gì khác ngoài chiếc ná thun. Phải nói ngay rằng khung cảnh nhà bạn tôi là chốn thần tiên. Bao bọc xung quanh nhà là ruộng, dừa, cau và hai cái ao, được đào dọc theo một con sông nhỏ bắt nguồn từ Sông Dinh. Con Sông có nước trong nhìn thấy đáy này lại uốn khúc dọc theo Quốc lộ 1, chạy thẳng lên đồn điền cao su Suối Dầu, nơi có mộ của Bác sĩ Yersin và dừng lại ở Suối Tiên, một thắng cảnh nổi tiếng của Khánh Hòa.
Đoạn đường dài khoảng ba cây số, nhưng với sự háo hức của tuổi thơ, chúng tôi vừa đi vừa chạy cho nên không mất quá một tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng, chúng tôi dừng lại nhìn lên Suối Đổ huyền hoặc, tưởng tượng ra khuôn mặt của Thánh mẫu Thiên Y A Na cũng có, mà lo sợ vì bóng dáng của mấy ông du kích Việt cộng thì nhiều hơn.
Đến nơi, chúng tôi được bạn hướng dẫn vào vườn xoài nhà ở Ga Cây Cày. Tại đây chúng tôi tha hồ tảo thanh. Chim chóc, trái cây...thứ gì cũng có. Trưa đến chúng tôi kéo nhau về nhà bạn. Tôi không bao giờ quên được những bữa cơm thanh đạm, ngon với gạo lúa mới gặt, cá bắt lên từ dưới ao, môn bạc hà muối chua và nhứt là tình thương đầy ắp của ông bà Sáu Sình, thân phụ mẫu của bạn tôi.
Có lẽ vì sợ phạm húy cho nên chúng tôi chỉ gọi ông thân của bạn tôi là ông Sáu Sình. “Sình” không phải là tên của ông mà là một địa danh mà có lẽ chỉ có dân nhà đạo chúng tôi mới sử dụng. Phía sau nhà bạn tôi là núi rừng. Sát bìa rừng có một khu đất sinh lầy. Nhìn ở bề mặt là cỏ, nhưng bên dưới là cả một khối bùn. Lỡ chân bước lên đó coi như bị trời trồng, không thể nào thoát ra được. Chính vì là người tiên phong đi lập nghiệp ở vùng này cho nên ông Sáu, cha của bạn tôi, được tặng cho biệt danh “Sáu Sình”. Ông Sáu Sình cũng lãnh đạo một cộng đồng giáo dân gồm đâu 5, 10 gia đình sống rải rác trong vùng đất mới này, cho nên cũng được nhiều người kính cẩn gọi là ông Câu.
Tôi vẫn giữ mãi hình ảnh của một ông cụ khỏe mạnh, quắc thước, da dẻ lúc nào cũng hồng hào và lúc nào cũng có sẵn nụ cười trên môi. Không biết bí quyết sống khỏe của ông có phải là cái vò rượu đế lúc nào cũng có sẵn trong nhà không. Lên tới trung học, tôi mới được ông cho thưởng thức thứ rượu “nước một”, tức nước rượu đầu tiên do chính tay ông cất lấy. Nhưng khi biết suy nghĩ sâu xa hơn một chút, tôi mới nghiệm ra rằng sở dĩ ông Sáu Sình lúc nào cũng khỏe mạnh là bởi lúc nào ông cũng vui vẻ và sống cho người khác. Khách đến nhà, dù là khách con nít như tụi tôi, ông cũng trân trọng đón tiếp như khách quý. Ngoài cá nuôi dưới ao hoặc do ông đi lưới về và rộng trong ao, ông Sáu Sình còn đi đánh bẫy heo rừng, nai, cheo hay nhử cuốc. Cái món chả giò độn thịt cuốc băm là món độc đáo của ông Sáu.
Bàn ăn là nơi thực khách, nhứt là trẻ con, học được nhiều bài học. Bài học nhớ đời mà ông Sáu Sình đã dạy cho tôi trên bàn ăn chính là cung cách tiếp khách của ông. Ngồi vào bàn ăn, ông ít khi cầm đũa, mà chỉ nhìn người khác ăn. Có ai thắc mắc, ông liền giải thích: “Nhìn tụi con ăn ngon là ông Sáu ăn rồi” hoặc “thấy tụi con vui là ông vui”.
Trong đám bạn bè tiểu học, còn gắn bó với nhau mãi cho đến năm 1974 chỉ còn lại tôi và bạn tôi. Chúng tôi chơi với nhau như bóng với hình. Bạn tôi xem nhà tôi như nhà bạn. Tôi thì ăn dầm nằm dề ở nhà bạn suốt mùa hè. Có những đêm chúng tôi bắc ghế bố nằm giữa sân, ngắm trăng sao xuyên qua mấy hàng cau. Sáng vừa mới mở mắt đã được ông Sáu mời vào ăn cơm với cá ông vừa mới thả lưới bắt được. Lại nhìn nụ cười nhân hậu của ông Sáu và nghe ông lập lại cái triết lý sống đơn giản, nhưng thâm sâu của ông: “Thấy tụi con vui là ông vui rồi”. Sẽ không bao giờ tôi có lại được những bữa ăn sáng ngon và ý vị như thế!
Năm 1974, bạn tôi xuất ngoại. Sau khi lưu lạc vài năm ở Phi luật tân và Âu châu, bạn tôi chọn Mỹ làm quê hương thứ hai. Trước khi đi vượt biên, thỉnh thoảng tôi có ghé lại thăm ông bà Sáu. Thời mà cánh cửa nhà tù nhỏ lúc nào cũng mở ra chờ sẵn, tôi đến thăm và an ủi ông bà thì ít, mà được ông bà nâng đỡ thì nhiều hơn.
Mãi cho đến năm 1989, tôi mới gặp lại ông bạn vàng của tôi lần đầu tiên sau 15 năm xa cách. Tuy chưa biết “già ơi, chào mi”, suốt cả tháng, chúng tôi ôn lại không biết bao nhiêu chuyện cũ để nhắc nhớ đến cái triết lý sống đơn sơ của ông Sáu Sình. Những lúc như thế, tôi thấy ông bạn tôi thật giống ông Sáu. Trong những thứ mà bạn tôi thừa hưởng được từ thân phụ, tôi nghĩ nổi trội nhứt có lẽ là tính hiếu khách và niềm vui vì thấy và làm cho người khác vui.
Mùa Giáng Sinh năm nay, khi cố gắng sống một mùa lễ cho có ý nghĩa, tôi không thể không nghĩ đến ông Sáu Sình và bạn tôi. Mùa Giáng Sinh là Mùa vui nhứt trong năm. Có tin Thiên Chúa nhập thể làm người không, khó có ai mà không hòa nhập vào niềm vui chung này. Dĩ nhiên, vui cũng có trăm vạn niềm vui khác nhau.
Người tín hữu kitô, tôi luôn được nhắc nhở để đi tìm niềm vui đích thực. Chúa Nhựt vừa rồi, mà vị linh mục chủ tế thánh lễ gọi bằng tiếng Latinh là “Gaudete” (Hãy vui lên), đã được cố giáo sư Nguyễn Ngọc Lan đặt tên là “Chúa nhựt hồng giữa màu tím”. Thông thường mầu tím gợi lên sự mất mát, nỗi buồn hơn là niềm vui. Chen vào giữa màu tím một chút sơn hồng, Kitô giáo có lẽ muốn chỉ ra niềm vui đích thực mà người tín hữu phải tìm kiếm. Trong suốt buổi lễ hôm đó, tôi miên man nghĩ đến 20 trẻ em và một số nạn nhân của vụ thảm sát tại một trường tiểu học ở Newtown, Tiểu bang Connecticut, Hoa kỳ. Tôi cứ nghĩ: liệu mình có thể vui được khi nghĩ đến thân nhân của các em học sinh và những người bị sát hại, nhứt là trong Mùa Giáng Sinh này không? Không đưa tay quẹt nước mắt như Tổng thống Barack Obama, nhưng có lúc trong nội tâm sâu kín, tôi chợt nhận ra mình cũng đã thổn thức.
Vui như người ta đang vui chơi trong lúc này thì có lẽ tôi chưa có. Nhưng “vui” vì biết mình vẫn còn có một trái tim biết thổn thức, biết xót xa, biết cảm thông, biết đau trước nỗi đau của người khác, biết tưởng nghĩ và chia sẻ nỗi đau và niềm vui của người khác, đó là “niềm vui” mà tôi vẫn cầu mong cho mình luôn có được. Bởi lẽ xét cho cùng, chỉ có một niềm vui như thế mới thực sự thánh thiện, bởi vì chỉ có một niềm vui như thế mới làm cho tôi đến gần với Thiên Chúa, Đấng mà chẳng có danh hiệu nào xứng đáng và đúng đắn hơn là Tình Yêu.
Có cả một bản Kinh Tin Kính để tôi phải tuyên xưng mỗi ngày Chúa Nhựt. Nhưng tôi sẽ chỉ là một con vẹt nếu như bản Kinh ấy không được dịch ra thành những hành động yêu thương đối với người khác, mà cụ thể như ông Sáu Sình và bạn tôi luôn thể hiện, là vui vì làm cho người khác vui. Nghĩ như thế mà thấy Mùa Giáng Sinh năm nay có lẽ có ý nghĩa hơn đối với tôi.




Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

Đảo san hô Midway: thiên đàng rác rưởi




09.12.06

Đảo san hô Midway, nằm giữa Thái Bình Dương, với một khoảng cách bằng nhau giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng, lẽ ra phải là một thiên đàng, nay đã biến thành một bãi rác khổng lồ.
Từ trên máy bay nhìn xuống, Phóng viên Nick Walsh của Đài CNN nói rằng trên bãi biển ông đã có thể nhận diện được một chiếc mũ an toàn, một cái đầu của người nộm thời trang, một cánh dù và một đôi dép nhựa. Người phóng viên này khẳng định: những vật dụng này chắc chắn đã không rơi từ một chiếc máy bay hay trôi dạt từ một chiếc tàu bị đắm ngoài khơi. Và dĩ nhiên, trên hòn đảo đẹp như thiên đàng này chẳng hề có bất cứ con người nào đã từng sống để mà xả rác.
Vậy thì những vật thể ấy xuất phát từ đâu? Theo Phóng viên Nick Walsh, phần lớn xuất phát từ Trung cộng hay Hoa Kỳ là hai nước thải rác rưởi nhiều nhất xuống Thái Bình Dương.
Các sản phẩm làm bằng nhựa (plastic) là một thành phần chính trong cuộc sống tiện nghi của con người. Nhưng từ cái nắp đậy ly cà phê bằng nhựa, những chai nước bằng nhựa cho đến những cái bao bằng nhựa...một khi “đã qua sử dụng” đã được vứt đi vào một nơi nào đó. Nếu không được chôn trong những bãi rác giữa sa mạc thì cũng lọt vào đại dương. Theo ước tính, có hơn 5 ngàn tỷ vật dụng bằng nhựa hiện đang nằm dưới hay lênh đênh trên đại dương và theo Sáng hội Ellen MacArthur (The Ellen MacArthur Foundation), vào khoảng năm 2050, đại dương sẽ có nhiều vật dụng bằng nhựa hơn là cá. Mỗi năm có thêm khoảng 8 triệu tấn đồ phế thải bằng nhựa được tống xuống biển. Tình trạng này lại ngày càng trầm trọng hơn. Riêng người dân Mỹ mỗi giờ tiêu thụ 2.5 triệu chai nhựa.
Đảo san hô Midway hay Midway Atoll chỉ là một điểm nhỏ trên bản đồ thế giới. Nhìn kỹ lắm mới thấy. Mặc dù nằm trong quần đảo Hawaii, Đảo san hô Midway lại không thuộc Tiểu bang Hawaii. Dù vậy, Midway lại được Cơ quan Ngư nghiệp và Thú rừng của Hoa Kỳ quản lý.  Đã từng là một bãi chiến trường trong thời Đệ nhị Thế chiến, nay Midway đã trở thành một điểm nóng vì trở thành một nơi đầy rác rưởi.
Phóng viên Nick Walsch nói rằng phải đến Midway vào ban đêm. Chỉ khi nào màn đêm buông xuống thì hàng triệu chim chóc, cư dân của hòn đảo, mới để cho phi đạo được yên. Và dĩ nhiên, du khách chỉ có thể đến đây với sự cho phép của Chính phủ Hoa Kỳ và bằng một máy bay riêng.
Vừa đặt chân xuống đảo, du khách sẽ tức khắc phải ngửi ngay mùi hôi thối. Đây là mùi hôi thối bốc lên từ hàng ngàn xác chim đã thối rữa. Đặc biệt vào tháng 6, mùi hôi thối lại càng nồng nặc và khó thở hơn. Đây là mùa chim hải âu con (albatross) nở. Nếu tập bay được, chúng sẽ sống còn. Bằng không chúng sẽ phải chết và thối rữa. Dĩ nhiên, sống chết là tiến trình đào thải tự nhiên. Nhưng nếu nhìn kỹ vào xác của những con chim không thể cất cánh bay lên và phải chết, người ta mới thấy được tác động và trách nhiệm của loài người. Bên trong bộ xương của một con chim hải âu yểu mệnh, người ta có thể nhìn thấy một số những vật dụng của con người như nắp chai hoặc hộp quẹt máy hoặc vô số những vật dụng bằng nhựa khác. Cứ như thể loài chim này phải sống bằng nhựa! Đây là những vật dụng mà khi đi tìm mồi trên bờ biển hay trong lòng biển, chim cha và chim mẹ đã hớt lấy vì tưởng đó là thức ăn để rồi sau đó mớm cho chim con. Dĩ nhiên, dù có một bộ tiêu hóa tốt đến đâu, chim con cũng không thể nào tiêu hóa được nhựa. Thiếu dinh dưỡng mà còn rước vào người chất độc, chết là chuyện đương nhiên!
Thỉnh thoảng cũng có những đoàn thiện nguyện đến Midway để lượm rác rưởi và làm sạch bãi biển. Nhưng công việc này xem ra cũng chỉ là công dã tràng, bởi vì không thể nào đếm xuể được  số lượng rác rưởi ập vào bờ mỗi ngày. Đó là chưa kể vô số đồ nhựa mà vì lầm lẫn, chim hải hâu nuốt vào bao tử và thải ra trên đảo.
Bờ biển phía Đông của Đảo Midway hiện đang chứa đầy những mảnh nhựa nhỏ. Chim chết và thối rữa, nhưng nhựa bên trong chúng vẫn mãi mãi nằm trên bãi cát. Do hiện tượng trái đất hâm nóng và thời tiết thay đổi, mực nước biển ngày càng cao có thể sẽ làm cho Midway biến mất khỏi bản đồ thế giới, nhưng các vật dụng bằng nhựa vẫn còn đó.
Matthew Brown, một chuyên gia thuộc Cơ quan Ngư nghiệp và Thú rừng của Hoa Kỳ, đưa ra nhận định: “Loài chim hải âu hoàn toàn dựa vào đại dương để sống còn, cũng như 3 tỷ người trên thế giới hiện nay. Nếu như chim con phải chịu tác hại như thế vì chất nhựa, thì đây cũng sẽ là một điềm báo về những gì sẽ xảy ra cho loài người chúng ta”.
Điều đáng lo ngại là nhìn thoáng qua, người ta khó thấy sự tác hại ấy. Nhưng theo Phóng viên Nick Walsh, nếu bạn quỳ xuống trên Đảo Midway và thọc tay vào cát nóng trên bãi biển, bạn sẽ thấy lấm tấm trên tay những vật li ti đủ mầu sắc. Đó là điều mà các nhà chuyên môn gọi là “cát mới”. “Cát mới” chính là chất nhựa đã vỡ vụn thành những mảnh càng ngày càng nhỏ và hòa nhập vào cát. Những vật li ti này cuối cùng sẽ trộn lẫn với thức ăn. Các nhà chuyên môn giải thích rằng những vật li ti này sẽ chìm sâu trong đại dương và cuối cùng trở thành vi sinh vật. Còn những vật lớn hơn thì nổi trên nước và được cá ăn. Đến lượt cá lại bị các “loài thú săn mồi” khác ăn và cứ thế điểm cuối cùng của giây chuyền thực phẩm lại chính là con người. Trong các loài thú săn mồi, hải cẩu là giống vật bị tác hại nhiều nhất bởi chất nhựa. Theo bà Jessica Bohlander, một nhà sinh vật học hải dương thuộc Viện Hải dương và Khí quyển học Hoa Kỳ, hải cẩu là động vật bị tác hại nhiều nhất bởi nhựa và các chất gây ô nhiễm khác. Vì nuốt phải chất nhựa, hải cẩu có nguy cơ vô sinh.
Hải sản hay “đồ biển” là thức ăn rất cần thiết cho cơ thể con người. Nhưng ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy rằng cá biển lại thích ăn nhựa hơn là thực phẩm. Mới đây các nhà khoa học Thụy Điển đã chứng mình rằng loại cá chẽm được nuôi trong nước có chứa đựng chất nhựa “chỉ ăn nhựa và quên mất nguồn thực phẩm tự nhiên của chúng”. Theo cuộc nghiên cứu của các nhà khoa học này, vì cá chẽm thích  ăn chất nhựa, trứng của chúng khó nở hoặc nếu có nở thì cá con lại có những động thái bất thường.
Đương nhiên các nhà khoa học cũng đã chứng minh rằng chất nhựa tác hại đến sức khỏe của con người. Các chuyên gia Mỹ nói rằng chất “Styrene”, một trong những thành tố của nhựa, có thể là nguyên nhân gây ung thư nơi con người cũng như sự hình thành của phôi thai người.
Kết quả của một cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng qua việc tiêu thụ hải sản, các thứ rác rưởi do con người thải xuống biển gây nguy hại cho sức khỏe của con người. Một cuộc nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng vì ăn các loại đồ biển có vỏ như tôm cua, ngao, sò, ốc...người dân Âu Châu có thể bị tác hại bởi 11.000 mãnh chất nhựa mỗi năm.
Điều khoa học chưa chứng minh được là liệu chất nhựa có chứa đựng trong cá có trực tiếp tác hại đến sức khỏe của chúng ta hay không mà thôi. Nhưng muốn hay không, qua đồ biển, chất nhựa đã thực sự đi vào cơ thể của chúng ta. Nhưng theo giáo sư Matthew Brown, chất nhựa thường thu hút những chất độc khác. Do đó khi ăn đồ biển,  ít hay nhiều chúng ta cũng rước vào cơ thể một số chất độc khác vốn có sẵn trong đại dương. Rõ ràng là đồ biển, vốn là nguồn thực phẩm chính của con người, hiện đang bị ô nhiễm cách này hay cách khác qua trung gian chất nhựa.
Theo mô tả của Phóng viên Nick Walsh, tại một bãi san hô của Đảo Midway, ông thấy nổi lềnh bềnh trên mặt nước một tảng xốp Styrofoam. Xung quanh tảng xốp là vô số những mảnh xốp đã vỡ vụn. Không rõ từ bao giờ, những mảnh xốp này đã có mặt ở đây.
Phóng viên Nick Walsh nói rằng cảm nhận đau đớn nhất của ông khi đến thăm đảo Midway chính là thấy mình hoàn toàn bất lực. Đại dương đã bị ô nhiễm từ nhiều thập niên qua. Nhưng tình trạng đã không suy giảm mà ngày càng trở nên tồi tệ hơn, nhất là khi nhân loại đã ngày càng ý thức hơn về những hiểm họa của môi sinh. Muốn chận đứng thảm trạng này cần phải thay đổi cách hành xử hàng ngày của 7 tỷ con người trên mặt đất này.
Hiện nay, theo một cuộc nghiên cứu được đăng  trên tạp chí “Science”, Trung Cộng, Nam Dương, Phi Luật Tân, Việt Nam và Sri Lanka bị xem là 5 quốc gia gây ô nhiễm vì thải chất nhựa nhiều nhất thế giới. Theo các số liệu được Đài CNN phổ biến, mỗi năm Trung Cộng thải xuống biển 8.82 triệu tấn chất nhựa. Ít dân số hơn như Việt Nam vậy mà mỗi năm cũng thải ra 1.83 triệu chất nhựa. Tồi tệ hơn, mỗi năm Nam Dương thải 3.22 triệu tấn, Phi Luật Tân 1.88 triệu tấn. Riêng Sri Lanka, mặc dù dân số ít hơn, cũng đổ xuống biển 1.59 triệu tấn.
Làm thế nào để gây ý thức về tình trạng ô nhiễm của môi sinh nơi người dân của mỗi nước? Dĩ nhiên đó là chuyện của mỗi chính phủ. Nhưng chính phủ sẽ không làm được gì nếu không có sự hợp tác của người dân.
Tại một số quán cà phê dọc đường bên Mỹ, thỉnh thoảng người ta đọc được câu: “Xin lỗi bạn. Chúng tôi không bán cà phê cho bạn nếu bạn không mang theo ly tách riêng của bạn”.
Theo lời khuyên của Phóng viên Nick Walsh, mặc dù rất ít, nhưng mỗi người nên góp một bàn tay vào việc làm sạch và giữ sạch môi trường sống. Hàng năm Úc Đại Lợi có một ngày “Làm sạch nước Úc” (Clean up Australia Day). Ngày “ Làm sạch nước Úc” năm 2017 sẽ là ngày 28 tháng Hai. Lượm rác thôi chưa đủ. Trong ý thức và cô gắng mỗi ngày, mỗi người nên giảm tối đa việc sử dụng chất nhựa. Như phóng viên Nick Walsh đề nghị: mỗi khi đi ra ngoài, mang theo chai đựng nước riêng của mình, vào quán cà phê cũng mang theo ly tách riêng của mình hoặc đi mua sắm yêu cầu người bán hàng đừng dùng bao nhựa để gói hàng. Mỗi khi vào quán cà phê, ai cũng thích sự tiện lợi bằng cách uống cà phê trong ly nhựa. Ít có ai nghĩ đến nguy hại về lâu về dài của chất nhựa được sử dụng để chứa đựng cà phê.
Thay đổi một thói quen không phải là điều không thể thực hiện được. Trong hàng bao nhiêu thế kỷ, có ai nghĩ rằng thuốc lá gây nguy hại cho sức khỏe của con người . Ai cũng cho đó là một phần bình thường của cuộc sống hạnh phúc, văn minh và “sành điệu”. Vậy mà cuối cùng, cái nhìn và thói quen ấy hiện đang được thay đổi.
Dù chỉ là một tia hy vọng nhỏ, nhưng Phóng viên Nick Walsh tin rằng rồi đây cơn ghiền chất nhựa của con người sẽ được chữa trị, ý thức về việc “làm sạch” và “giữ sạch” môi sinh, cách riêng chận đứng việc thải chất nhựa vào đại dương, cũng sẽ lớn mạnh nơi người dân của mọi quốc gia.
(theo : http://edition.cnn.com/interactive/2016/12/world/midway-plastic-island/)



Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

Xin cho người nằm xuống được nghỉ yên


Chu Thập
02.12.16
Cái chết của ông Fidel Castro xảy ra ở mãi bên Cuba. Đó là nơi mà, nói như cựu chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam Nguyễn Minh Triết, “Cuba ngủ Việt Nam thức”. Vậy mà ở nơi miệt dưới này, trong những ngày vừa qua, tự nhiên tôi cũng thấy mình “thức”. Đúng hơn, tôi thao thức. Thao thức vì những tâm sự lộn xộn, ngổng ngang.
Với sự ra đi của ông Castro, tôi thấy mình bị dằn vặt vì lẽ minh triết “nghĩa tử nghĩa tận” của người Á Đông và lời khuyên của người Tây Phương “Nếu có nói điều gì về người chết thì chỉ nên nói tốt” (De mortuis nil nisi bonum dicendum). Tôi không biết đương kim Thủ tướng Gia Nã Đại, ông Justin Trudeau có hành xử theo kim chỉ nam trên đây không. Ông đã bị búa rìu dư luận chế diễu và ngay cả chửi bới thậm tệ vì đã hết lời ca ngợi ông Castro như một lãnh tụ vĩ đại. Còn tổng thống Mỹ Barack Obama, mặc dù rất dè dặt trong lời chia buồn, cũng lãnh nguyên một búa tạ, chỉ vì rụt rè đến độ  không dám đá động đến những thành tích vi phạm nhân quyền tồi tệ của ông Castro trong suốt gần nửa thế kỷ cai trị với bàn tay sắt trong thiên đàng cộng sản Cuba. Riêng mấy ông cộng sản Việt Nam thì lại bắt chước người anh em xã hội chủ nghĩa Bắc Hàn để làm một chuyện ruồi bu là tổ chức “quốc tang” cho ông Castro. Có buồn đến đâu đi nữa trong tình huynh đệ đại đồng cộng sản, cùng lắm tổ chức “đảng tang” là chuyện riêng của mấy ông. Ai lại đi bắt cả nước phải để tang cho một người chẳng có liên hệ gì đến dân tộc và tiền đồ đất nước.
Trong cố gắng chia sẻ niềm vui nỗi khổ của người khác, tôi hiểu được tại sao người dân Cuba thương tiếc ông Castro, cũng như người dân Bắc Hàn vật vã khóc lóc khi chủ tịch vô vàn kính yêu Kim Jong-il của họ đi chầu Các Mác, Lenine. Với người dân Cuba, cái bóng dài gần 50 năm của ông Castro đã che phủ bầu trời Cuba đến độ 3 thế hệ người dân nước này, dù có cố gắng ngước nhìn đi đâu cũng chỉ thấy toàn một bức màn sắt. Cảm thông với nỗi niềm thương tiếc của người dân Cuba trước sự ra đi của ông Castro, một người tỵ nạn cộng sản như tôi  lại càng  hiểu hơn tại sao 2 triệu người Mỹ gốc Cuba tại Tiểu bang Florida đã nhảy múa ăn mừng  khi hay tin ông nằm xuống. Đừng bảo người Do Thái hãy tỏ ra “nghĩa tử nghĩa tận” với Hitler. Cũng đừng bảo người Việt tỵ nạn hay người Cuba lưu vong ở Mỹ hãy áp dụng câu châm ngôn “Nếu có nói điều gì về người chết hãy nói điều tốt” đối với các đồ tể cộng sản. Với một người tỵ nạn cộng sản như tôi, cứ có một bạo chúa hay đồ tể nằm xuống thì thế giới này lại bớt ngột ngạt, dễ thở và dễ sống hơn.
Tôi tin rằng Cuba không có Castro và thế giới không có Castro chắc chắn sẽ là một nơi tốt đẹp hơn. Cứ nhắc đến tên ông, không riêng người dân Cuba mà rất nhiều người trên thế giới, đều trầm trồ ca ngợi di sản vĩ đại mà ông đã để lại cho Cuba là hệ thống giáo dục và y tế miễn phí. Quả thật, so với một số nước nghèo trên thế giới, sau gần 50 năm xây dựng “xã hội chủ nghĩa”, Cuba đã đạt được một thành kích đáng kể về giáo dục và y tế. Nhưng để đạt được thành tích ấy, Cuba đã trả một giá quá đắt: không nói đến bao nhiêu mạng người đã bị ông Castro mang ra sát tế trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa, Cuba ngày nay đã tụt xuống hạng những nước nghèo nàn lạc hậu nhất thế giới. Năm 1959, khi Castro cướp chính quyền, tổng sản lượng theo đầu người của người dân Cuba là 2.067 Mỹ kim một năm. Kinh tế Cuba đứng hàng thứ 3 ở Châu Mỹ La Tinh. Castro đã đưa ra khẩu hiệu: “Xã hội chủ nghĩa hay là chết” (Socialismo o muerte). Ngày nay, sau khi chỗ dựa là Liên Xô sụp đổ, người ta mới thấy rằng ở Cuba “xã hội chủ nghĩa là chết”. Kinh tế Cuba hoàn toàn kiệt quệ. Cuba “xã hội chủ nghĩa” của Castro rơi vào gần cuối bảng của những nước nghèo nhất thế giới. Bài ca khải hoàn về một ý thức hệ điên cuồng và nhứt là về một nhà cách mạng cũng điên cuồng mà những người cộng sản hay nói theo ngôn ngữ của Lenine, “những tên ngu dốt cần thiết” (useful idiots) đồng ca trong bài điếu văn dành cho ông Castro làm sao có thể khỏa lấp được sự kiện 11 triệu người dân Cuba ngày nay đang chia đều sự nghèo nàn lạc hậu từ di sản của ông.
Nhiều người đã vẽ lên đầu ông Castro hào quang sáng chói của một nhà cách mạng vĩ đại. Chính ông Castro lúc nào cũng tự hào là một nhà cách mạng chân chính. Nhưng với tôi, một cuộc cách mạng chân chính trước tiên phải là một cuộc cách mạng bản thân. Tôi hoàn toàn không nhận ra điều đó nơi ông Castro. Gần 50 năm cai trị đất nước bằng bàn tay sắt, tàn sát không thương tiếc bất cứ một nhà bất đồng chính kiến nào, ông Castro đã biểu lộ bản chất vĩ cuồng, ích kỷ,  tàn bạo, độc tài và tham quyền hơn là một nhà cách mạng vì dân vì nước.
Ông cứ ra rả trước mặt dân chúng Cuba rằng ông chỉ sống bằng một đồng lương chết đói. Nhưng sự giàu có của ông đã không qua mắt được tạp chí Forbes. Trong bản xếp hạng những người giàu có trên thế giới hồi năm 2006, tạp chí này đã ước tính tài sản của ông lên đến 900 triệu Mỹ kim. Tài sản này phần lớn được thu tóm từ các công ty quốc doanh.
Trong một đất nước mà thu nhập hàng tháng của người dân chỉ có khoảng 20 Mỹ kim và thực phẩm thì hầu như lúc nào cũng khan hiếm thì nhà cách mạng “vĩ đại” vì dân vì nước này lại sống một cuộc sống đế vương . Mới đây, tạp chí L’Express của Pháp đã giới thiệu cuốn sách có tựa đề “Cuộc sống che đậy của Fidel Castro” (La Vie Cachée de Fidel Castro) do một sĩ quan cận vệ và cũng là đầu bếp của ông là ông Juan Reinaldo Sanchez viết hồi năm 2014. Sau 17 năm cúc cung phục vụ nhà “cách mạng”, ông Sanchez đã vạch trần bộ mặt lưu manh, giả nhân giả nghĩa của ông Castro.
Castro đã từng tuyên bố không có một đồng xu dính túi và cả đời ông không có một  tài sản nào ngoài một chiếc lều câu cá. Thật ra, chiếc lều câu cá hay tài sản bỏ gọn trong túi áo của ông  là cả một hệ thống biệt thự sang trọng chiếm trọn cả một hòn đảo. Ngoại trừ một số khách mời đặc biệt, Castro hiếm khi mời ai đến khu biệt thự này. Theo mô tả của viên sĩ quan cận vệ kiêm đầu bếp Sanchez, cách ăn uống của lãnh tụ Castro cũng chẳng khác nào một bậc vua chúa đời xưa.
Tôi không tin rằng một nhà cách mạng chân chính lại có một cuộc sống đế vương như thế. Giả nhân giả nghĩa đối với tiền của, ông Castro cũng là “trùm” dối trá và che đậy trong đời sống hôn nhân. Ông luôn khẳng định rằng ông chỉ có một người vợ. Quả thật, ông chỉ có một bà vợ, nhưng lại có vô số người tình. Năm 2008, tạp chí Mỹ The New York Post đã tặng cho ông danh hiệu: “Người đàn ông với 35.000 phụ nữ” (Fidel Castro bedded 35.000 women). Có lẽ người ta không thể đếm xuể con số người tình của ông. Cuộc sống hoang dâm của đồ tể Mao Trạch Đông chẳng là gì so với thói trăng hoa của Castro. Cứ theo “cái quan định luận”, tức luận xét về một con người nào đó sau khi đóng nắp quan tài lại, thì một khi bộ mặt thật của ông Castro được phơi bày, điều được gọi là “cuộc cách mạng vĩ đại” mà ông đã đeo đuổi suốt cuộc đời, chỉ có thể là một cuộc cách mạng thất bại: thất bại ê chề cho cả đất nước, thất bại thê thảm cho chính bản thân ông.
Sau năm 1975, do mối quan hệ giữa “các nước xã hội chủ nghĩa anh em”, tôi bắt đầu làm quen với loại nhạc làm cho đinh tai nhức óc từ Nga và Trung Cộng. Nhưng phải nhìn nhận rằng từ nước  anh em cộng sản Cuba, tôi lại nghe được một ca khúc thật dễ thương là bài “Guantanamera”. Sau này tìm hiểu tôi mới thấy ca khúc này chẳng  ăn nhập gì với mấy ông cộng sản hay ý thức hệ cộng sản. Ca khúc này đã được sáng tác hoặc ít nhứt được Nhạc sĩ Joseito Fernandez phổ biến ngay từ thập niên 1920. Và ngày nay, mặc dù được viết lại dưới nhiều dạng và ca từ khác nhau, nhưng nội dung chính vẫn còn phản ảnh bài thơ của nhà cách mạng José Marti (1853-1895). Là một thi sĩ, ký giả, triết gia, giáo sư, ông José Marti đã đi khắp nơi, cách riêng Tây Ban Nha, Châu Mỹ La Tinh và Hoa Kỳ để gây ý thức và yểm trợ cho cuộc tranh đấu dành độc lập của Cuba khỏi sự đô hộ của Tây Ban Nha. Tự do và dân chủ là những chủ đề nổi bật trong các sáng tác của ông. Ca khúc “Guatanamera” được sáng tác dựa theo một bài thơ trong thi  tập  nổi tiếng của ông với tựa đề “Versos Sencillos” (Những vần thơ đơn sơ).
Bài thơ và ca khúc “Guantanamera” được mở đầu với những câu: “Tôi là một người chân thành/ Tôi xuất thân từ nơi cây dừa mọc lên/ Và trước khi tôi chết, tôi muốn để cho những vần thơ trào dâng từ tâm hồn tôi”. Và thỉnh thoảng người ta cũng thêm vào ca khúc một số câu khác cũng được trích từ tập thơ “Versos Sencillos” như sau: “Tôi chăm sóc một cây hồng trắng/ Tháng Bảy cũng như tháng Giêng/ Để tặng cho người bạn chân thành/ Người đã tự nguyện giúp tôi một tay. Và cũng để tặng kẻ tàn bạo đang xé nát trái tim đã mang lại cho tôi sự sống/ Tôi không chăm cây thảo nhi (thistle) hay cây tầm ma (nettle) (hai loại dược thảo có gai, chú thích của người viết)/Tôi chỉ chăm một cây hồng trắng”.
Hồng và đặc biệt hồng trắng là biểu tượng của sự trong trắng, chân thành và lòng vị tha. Trong những giây phút cuối đời, thi sĩ José Marti đã muốn gởi gắm lại cho dân tộc và đất nước kho tàng cao quý nhứt từ tấm lòng ông. Đó là sự chân thành và vị tha của ông. Vị tha đến độ sẵn sàng chìa ra cánh hồng của tha thứ đến kẻ thù của mình. Ông thực sự xứng đáng với danh hiệu “anh hùng dân tộc” và nhứt là nhà cách mạng vĩ đại. Vĩ đại không những vì đã giành được độc lập cho xứ sở, mà vì đã thực sự sống với lý tưởng tự do và dân chủ và nhứt là trở thành biểu tượng của những đức tính nhân bản cao quý nhứt trong con người.
Fidel Castro lúc nào cũng tự nhận là một người theo lý tưởng của ông Marti. Đảng Cộng sản Cuba sẽ dành cho ông một chỗ đứng bên cạnh nhà anh hùng dân tộc José Marti trong nghĩa trang Santa Ifigenia. Họ muốn đặt ông lên địa vị ngang hàng với vị anh hùng này. Ông Castro đã từng tuyên bố rằng ông muốn được xem như một người đã tiếp tục sự nghiệp của ông José Marti, mặc dù ông biết quá rõ ràng rằng những lý tưởng tự do, dân chủ và nhứt là nhân bản của ông José Marti chẳng ăn nhập gì với những “cuồng tín dị đoan” của Các Mác và Lenine. Với những người Cuba lưu vong, đặt ông Castro nằm nghỉ bên cạnh anh hùng dân tộc José Marti quả là một hành động đánh tráo để tiếp tục lừa đảo cả dân tộc và thế giới.
Về phần mình, bên kia thế giới, tôi nghĩ có lẽ nhà cách mạng chân chính José Marti  sẽ chìa một cành hồng cho ông Castro. Tôi không tin rằng trong suốt cuộc đời lừa đảo, dối trá và tàn ác, ông đã có được sự bình an. Nhưng giờ đây, với cành hồng của nhân ái mà ông José Marti sẽ chìa ra, tôi cũng cầu mong cho ông Castro được nghỉ yên muôn đời hầu bóng ma của ông sẽ không còn chập chờn ám ảnh những trang sử mới của dân tộc Cuba.







Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

Tình yêu: ngưỡng cửa một thế giới mới




Chu Thập
11.12.12

Thế giới này sẽ qua đi. Đó là điều mà một người tín hữu Kitô như tôi phải tuyên xưng mỗi khi tham dự Thánh lễ Ngày Chúa Nhựt. Thật ra, đây không phải là niềm tin “độc quyền” của các tín hữu Kitô.
Một dạo, như được phản ảnh qua ca khúc “Năm 2000 năm” rất thịnh hành trước năm 1975, nhiều người Việt nam cũng đã có một thời tin rằng thế giới sẽ tận cùng vào năm 2000. Mà đâu riêng gì người Việt nam. Cả thế giới đã gần như lên cơn sốt vì sự đe dọa của con “Bọ Y2 K” (Y2K bug). Chẳng ai biết tận thế sẽ xảy ra vào ngày giờ nào. Nhưng lo sợ về một ngày tận cùng do chính con người tạo ra là điều dễ hiểu.  Kỹ thuật của con người, dù có tiến bộ đến đâu, cũng vẫn đầy dẫy những bất trắc không lường trước được. Một chút sơ sẩy trong kỹ thuật, một thiên tai, một dịch bịnh vuột tầm kiểm soát và nhứt là sự ngông cuồng của một tên đồ tể đang nắm trong tay vũ khí giết người hàng lọat, cũng đủ khiến cho loài người biến khỏi mặt đất này. Ngày nay, hiện tượng trái đất bị hâm nóng và thời tiết thay đổi mà bị coi là do chính con người tạo ra cũng đang là một mối lo cho nhân loại. Thiên tai, bão lụt, hạn hán...có thể là một điềm báo cho một thảm họa không lường trước được.  Đứng trước thân phận mong manh bất toàn của con người mà một “cơn gió thoảng cũng làm nó biến đi, nơi nó mọc sẽ không còn mang vết tích”, viễn ảnh của một ngày thế tận hay một cuộc tự hủy lúc nào cũng rình rập đâu đó.
Nhưng ngay cả khi không phải suy nghĩ về thân phận mong manh của con người và tính bất toàn của văn minh kỹ thuật, những lời “tiên tri” vô căn cứ về một ngày thế tận lúc nào cũng có sức hấp dẫn đối với nhiều người. Như mới đây chẳng hạn, nhiều người đã dựa vào lịch của người Maya (một nền văn minh đã xuất hiện tại Châu Mỹ Latinh cách đây trên 4 ngàn năm) để loan báo một cách chắc nịch rằng  ngày thứ Sáu 21 tháng 12 tới đây sẽ là ngày tận thế. Đã bảo là tận thế, nhưng vẫn có nhiều người tin là còn có “lối thoát” cho nên   mới phóng tin rằng ngọn núi Pic de Bugarach nào đó ở miền Tây Nam nước Pháp sẽ là nơi trú ẩn an toàn để tránh khỏi cuộc diệt vong. Báo hại, số người tìm đến nơi trú ẩn này đông quá khiến cảnh sát Pháp và chính quyền địa phương phải làm việc mệt nghỉ.  Những tin đồn đại loại như thế năm nào cũng trở lại và cũng có khối người tin. Dĩ nhiên, tin càng nhảm thì càng được đồn thổi nhanh cho nên số người tin và sợ hãi lại càng đông . Ngay cả ở một nước Úc đại lợi “khô đạo” này, tin về ngày tận thế gây xôn xao đến nỗi ngay cả bà thủ tướng Julia Gillard cũng phải lên tiếng “bông đùa” cho vui trong gần một phút đồng hồ.
Thật ra, về ngày thế tận, không chỉ có những lời tiên tri nhảm. Chính các nhà khoa học cũng đã báo trước về một thảm họa sẽ xảy ra cho nhân loại trong năm 2013 sắp tới. Chẳng hạn cơ quan nghiên cứu không gian NASA của Hoa kỳ mới đây đã chính thức thông báo rằng trong năm 2013, trái đất của chúng ta sẽ bị chấn động bởi một vụ nổ trong mặt trời. Cơn bão mặt trời này dĩ nhiên tạo ra những cơn sóng điện từ mạnh và bất ngờ có khả năng phá hủy bất cứ dụng cụ điện tử nào. Nếu không được chuẩn bị để đối phó, các hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh sẽ bị phá hủy hoàn toàn; hệ thống máy tính toàn thế giới sẽ bị tê liệt; nhiều vùng sẽ mất điện; các hệ thống an ninh của các quốc gia sẽ bị tê liệt trong một thời gian không xác định, hệ thống ngân hàng cũng sẽ ngưng hoạt động.
Theo các nhà khoa học, vụ nổ hay cơn bão mặt trời này có sức công phá tương đương với 100 quả bom khinh khí Hydrogen.
Dĩ nhiên, các nhà khoa học không bảo rằng thảm họa này sẽ là ngày tận thế. Dù sao, bằng chứng và luận cứ khoa học lúc nào cũng đáng tin.
Đọc các bản tin khoa học, một người tín hữu Kitô như tôi cảm thấy vững tin hơn khi đến nhà thờ tuyên xưng niềm tin vào ngày thế tận. Trước kia, các nhà vật lý học cho rằng sự vận hành của các ngôi sao và hành tinh diễn tiến theo một trật tự thường hằng, bất biến, vô tận. Ngày nay, dựa vào những khám phá mới về  một “khởi đầu” của vũ trụ, một cách cụ thể dựa vào thuyết Big Bang (tức vụ “nổ nguyên thủy” cách đây trên dưới 14 tỷ năm) các khoa học gia đã có một cái nhìn mới về sự vật. Điều gì có khởi đầu ắt phải có cùng. Giữa khởi đầu và kết thúc có một quan hệ mật thiết. Trước kia, triết gia Hegel của Đức vào thế kỷ 18 bảo rằng “thiên nhiên không có lịch sử”, nghĩa là chẳng có khởi đầu và cũng chẳng có tận cùng. Nhưng nay khoa học lại chứng minh rằng không những thiên nhiên, tức thế giới của sự sống có một lịch sử, tức lịch sử của tiến hóa, mà ngay cả trong lãnh vực vật lý, lịch sử của vũ trụ cũng là lịch sử của sự thoái biến, tuy  rất chậm rãi, nhưng không thể đảo ngược được. Nói cách khác, năng lượng thoát ra từ Big Bang đang nguội dần. Mà đã có nguội thì đương nhiên sẽ đến lúc phải tắt lịm. Cái khối lửa mặt trời mà sự sống trên trái đất của chúng ta tùy thuộc vào rồi cũng sẽ có ngày tàn lụi. Hiện tượng “nguội dần” ấy của vũ trụ cũng có giá trị cho tất cả mọi sinh vật, nhất là con người. Sinh diệt là một trong những điểm căn bản trong giáo lý Nhà Phật. Có sinh ra thì đương nhiên phải chết. Đó là quy luật muôn đời mà tạo vật nào cũng phải tuân theo. Bước vào tuổi già như tôi, người ta dễ chấp nhận quy luật ấy. Ngày nay, tuổi thọ con người càng lúc càng được kéo dài. Cái chết và sự lão hóa được đẩy lùi thêm vài bước. Nhưng mầm mống của tuổi già và sự chết đã nằm ngay trong bản chất của sự sống. Đâu phải trên 6 bó như tôi mới là già. Mới đây, tôi đọc được đâu đó một vài dữ kiện đáng suy nghĩ như: não và phổi của con người bắt đầu già khi bạn chỉ mới 20 tuổi, xương và ruột thì bắt đầu già khi bạn 35, vú của người phụ nữ lão hóa ở tuổi 35, mắt tim nối gót ở tuổi 40, thận cầm cự đến 50 thì bước qua bên kia đồi, dẫn theo bàng quang vào tuổi 65. Chỉ có gan là “gan lỳ” cho nên chỉ chịu già ở tuổi 70. Da vốn là biểu hiệu của tuổi trẻ lại già đi ở tuổi 20, tóc có khá hơn một chút, nhưng cũng không bước sang tuổi 30...Đâu cần phải đợi đến lúc đầu bạc răng long, bước vào tuổi đôi mươi người ta đã có quyền cất tiếng “già ơi, chào mi” rồi. Còn nếu muốn có giọng triết gia một chút thì có lẽ tôi phải bắt chước ai đó để than thở “con người sinh ra là để chết”. Đó là một sự thực không thể chối cãi được: càng thêm tuổi, càng tiến gần đến cái chết! Tôi càng lớn các tế bào trong thân thể tôi càng giảm chớ không tăng. Dưới ánh sáng khoa học, thân thể tôi là một thứ vũ trụ nhỏ đang nguội dần. Thế tận của thế giới thì không đoán được nhưng của chính bản thân của tôi thì không cần làm thầy bói, tôi cũng biết chắc không thể hơn 100 năm nữa.
Khoa học quả thật soi sáng cho niềm tin của tôi, bởi vì lý trí của một người có niềm tin tôn giáo như tôi không hề và không được phép đi ngược lại hay chối bỏ khoa học. Tuy nhiên, đã nói đến “tin” thì không cần phải “thấy”. Nói cách khác, tôi tin có thế tận không phải vì những khám phá và luận cứ khoa học, mà vì Đấng Cứu Độ của tôi đã phán dạy như thế.
Trong các lời giảng dạy của Ngài, thế tận có một chỗ đứng quan trọng. Hẳn Ngài đã nói đến điều này rất nhiều lần và các môn đệ của Ngài đã rao truyền điều đó cho nên cuộc sống của các tín hữu tiên khởi được xây dựng và xoay quanh niềm tin ấy.
Trong 4 chúa nhựt trước Lễ Giáng Sinh, đến nhà thờ, tôi thường nghe bài thánh ca có một câu bằng tiếng Hy Bá Lai, tức tiếng Do thái cổ dùng nói vào thời Chúa Giêsu, như sau: “Marana tha!”  Theo giải thích thì đây là một lời van nài khẩn thiết của các tín hữu Kitô tiên khởi: “Lạy Chúa, xin hãy đến!” Vào thời đó, người ta tin rằng ngày thế tận sắp xảy ra và Chúa sẽ trở lại. Tin tưởng như thế cho nên họ mới bán nhà cửa, của cải, gom chung lại và sống như một gia đình lấy tình huynh đệ, yêu thương làm mối giây ràng buộc duy nhứt. Một cuộc sống như thế quả là lý tưởng, nhưng không phải dễ. Chính vì thế mà mới sinh ra tệ trạng ăn không ngồi rồi, rỗi hơi dài chuyện, xía vô chuyện người khác. Các môn đệ của Chúa Giêsu đã phải lên tiếng cảnh cáo và giải thích cho các tín hữu tiên khởi hiểu rằng sống như thế không phải là chờ đợi Chúa. Các ngài dạy rằng cần phải có thái độ tích cực trong chờ đợi, nghĩa là cần phải thực thi bác ái và đón nhận Chúa đang đến trong từng biến cố và từng phút từng giây của cuộc sống.
Đây cũng chính là lời giảng dạy mà tôi cũng thường nghe các linh mục lập lại trong những ngày chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh. Ngày thế tận gắn liền với sự trở lại của Chúa. Mà bởi thế tận lại đang diễn ra trong bản thân tôi và trong cuộc sống hằng ngày của tôi cho nên thật là hợp lý để bao lâu còn sống tôi đều phải đón nhận Ngài trong mọi khoảnh khắc của cuộc sống của tôi. Tôi tin rằng số phận của tôi bên kia cõi chết tùy thuộc vào thái độ ấy.
Trong các thánh lễ, tôi thường nghe linh mục nhắc đến một số “linh hồn” mà người thân dâng một số tiền để xin cầu nguyện cho được chóng về thiên quốc. Tôi liên tưởng đến một giai thoại của Nhà Phật đọc được đâu đó. Một ngày nọ, có một người thanh niên đến gặp Đức Phật và trình lên Ngài: “Bạch Thế Tôn, cha con vừa mới chết. Xin mời Đức Phật đến và cầu nguyện cho cha con được siêu thoát. Những người Bà La Môn cử hành nghi thức này. Bạch Thế Tôn còn mạnh hơn nhiều. Nếu Ngài làm điều đó thì chắc chắn linh hồn của cha con sẽ thẳng về nơi cực lạc”.
Đức Phật trả lời: “Rất tốt, hãy đi ra chợ và mua về cho ta hai cái bình đất và một ít bơ”. Người thanh niên tỏ vẻ sung sướng vì được Đức Phật hạ cố thi hành một số thần thông để cứu linh hồn của cha mình. Anh ta vội vã ra phố và mua các thứ mà Đức Phật dặn. Khi người thanh niên trở lại, Đức Phật bảo anh ta nhét bơ vào một bình và cho đá vào một bình khác. Sau đó, Ngài ra lệnh cho anh ném cả hai cái bình xuống ao. Người thanh niên làm theo và nhận thấy cả hai bình đều chìm xuống ao. Rồi Đức Phật bảo: “Bây giờ con hãy lấy một cái gậy và đập vỡ cả hai bình đang chìm dưới nước”. Người thanh niên làm theo. Hai cái bình đều bị đập vỡ: bơ thoát ra và nổi trên mặt nước, còn đá thì chìm lỉm dưới đáy ao.
Đức Phật liền dạy: “Bây giờ con hãy mau mau đi gặp các thày tu Bà la môn, mời họ đến và xin họ tụng kinh để bơ chìm xuống và viên đá được nổi lên”. Người thanh niên sửng sốt nhìn Đức Phật và thắc mắc: “Bạch Đức Thế Tôn, Ngài có nói thật không ạ. Chắc chắn Ngài không thể trông chờ bơ nhẹ mà chìm và đá nặng thì nổi. Điều đó ngược lại với quy luật tự nhiên”.
Lúc bấy giờ Đức Phật mới mỉm cười giải thích: “Này con, con đã thấy: nếu cha con có một cuộc đời lương thiện thì những hành vi của ông cũng nhẹ như bơ. Cho dù thế nào đi nữa, thì ông cũng được siêu thoát; không ai có thể cản được, ngay cả đến ta. Không ai có thể chống lại Nghiệp luật thiên nhiên. Nhưng nếu cha con có một cuộc đời bất thiện thì cũng giống như hòn đá nặng kia, cha con sẽ bị chìm vào địa ngục. Dù tụng kinh nhiều đến đâu đi nữa bởi tất cả các thày tu trên thế này cũng không thể đảo lộn được.”
Tôi không có ý ghi lại câu chuyện trên đây để tẩy chay truyền thống “xin lễ” cầu nguyện cho người quá cố trong Giáo hội công giáo. Câu chuyện chỉ gợi lên cho tôi một suy nghĩ: niềm tin vào ngày thế tận gắn liền với niềm tin vào sự sống vĩnh cửu. Tận thế không phải là chấm hết và chết cũng không phải là hết đời! Mọi sự đều qua đi. Duy chỉ có tình yêu thương mà tôi thể hiện trong cuộc sống hằng ngày mới làm cho tôi trở thành bất diệt và nói như linh mục dòng tên kiêm nhà khảo cổ sinh vật học Pierre Teilhard de Chardin (1881-1955) “tình yêu là ngưỡng cửa dẫn vào một vũ trụ khác”.


Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

Cuba: một nhà độc tài, ba thế hệ


02.12.16
Ngày 8 tháng Giêng năm 1959, khi ông Fidel Castro khải hoàn dẫn đoàn quân cách mạng tiến vào Thủ đô Havana thì người thanh niên Juan Montes Torre vui mừng chạy ra các ngã phố để đón chào người anh hùng cách mạng. Là một nông dân nghèo, thất học, Juan đã rời bỏ một vùng quê ở mạn Đông Cuba để về thủ đô tìm việc làm cách đó vài năm. Và cũng như hầu hết những người láng giềng của anh, anh không thể nào tin được điều đang xảy ra trước mắt mình.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo The New York Times, ông Juan kể lại rằng chiến thắng của ông Fidel Castro vừa tạo ra ngạc nhiên vừa làm cho nhiều người cảm động. Dưới con mắt của Juan, tất cả những đồng chí của ông Castro cũng như ông, đều ăn mặc rách rưới và để râu ria. Nhưng ông nói: “Nhân danh giai cấp nghèo, họ đã chiến thắng!”
Kể từ lúc đó, người thanh niên 25 tuổi đã trung thành với lãnh tụ muôn vàn kính yêu của mình cho đến khi khi ông trút hơi thở cuối cùng hôm thứ Sáu 25 tháng 11 vừa qua, hưởng thọ 90 tuổi. Với Juan, cuộc cách mạng của ông Castro đã giúp ông được ăn học,  có một ngôi nhà và trở thành một cảnh sát viên và nhất là đôi khi được vinh dự canh gác cho lãnh tụ vĩ đại.
Ông Juan Montes Torre nghe nói đến những nhà cách mạng “để râu” lần đầu tiên khi ông đi hái cà phê và trái cây tại một vườn cây ăn trái ở tỉnh Guantanamo, miền Đông Cuba. Đó là khoảng đầu thập niên 1950. Lúc đó, những người nông dân nghèo đã bắt đầu liên kết với nhau để chống lại giới địa chủ giàu có. Ông Castro là một trong nhiều lãnh tụ đã đứng lên tranh đấu cho giới lao động có được những điều kiện sống và làm việc tốt đẹp hơn.
Ngày 26 tháng 7 năm 1953, Castro đã lãnh đạo một cuộc tấn công mạnh vào các trại binh sĩ tại Santiago de Cuba. Hiện nay Santiago de Cuba là thành phố lớn thứ hai của Cuba. Cuộc tấn công đã thất bại. 3 tháng sau ông bị đưa ra tòa để xét xử. Là một luật sư, ông Castro đã tự biện hộ cho mình bằng một bài diễn văn dài trong đó có một câu để đời: “Lịch sử sẽ xá tội cho tôi”. Kể từ lúc nghe được bài diễn văn ấy, người thanh niên nghèo Juan đã quyết định rời bỏ vùng quê nghèo của mình để lên Thủ đô Havana. Dĩ nhiên để âm thầm ủng hộ ông Castro và các du kích quân của ông.
Ông Juan giải thích rằng vào thời đó, Cuba là một nước ngập tràn bất công. Tội ác xảy ra khắp nơi. Nhưng chính phủ hoàn toàn không màng đến dân chúng.
So sánh với các nước láng giềng, Cuba vẫn còn là một nước khá giả. Lợi tức đầu người của người dân Cuba vào năm 1958 cao hàng thứ 3 tại Châu Mỹ La Tinh, chỉ thua Argentina và Venezuela. Nhưng kinh tế Cuba lại dậm chân tại chỗ và khập khiễng vì bất công. Tại những vùng nông thôn như nơi ông Juan sinh ra và lớn lên, hơn 90 phần trăm căn nhà không có điện. Còn tại Thủ đô Havana thì bên cạnh những chiếc xe Cadillac sang trọng là cả một đám người ăn xin.
Sau khi cướp được chính quyền hồi năm 1959, lãnh tụ Castro hứa hẹn sẽ làm những cuộc thay đổi tận gốc rễ. Vài ngày sau khi tiến vào Thủ đô Havana, ông Castro đã dõng dạc tuyên bố: “Chúng tôi đã chiến đấu để mang lại dân chủ và tự do cho dân chúng”. Và theo ông Juan, nhà cách mạng đã làm được điều đó. 5 tháng sau, Chính phủ Castro đã loan báo các chương trình cải cách điền địa để người nghèo được làm chủ đất đai, bắt những người có những chiếc xe đắt tiền phải đóng thuế đến 80 phần trăm. Ngoài ra chính phủ còn dành một ngân sách lớn để giảm thiểu nạn thất nghiệp.
Tháng 12 năm đó, ông Juan được tuyển mộ vào ngành cảnh sát. Kể từ khi đặt chân đến Havana, đây là lần đầu tiên ông có được một nghề nghiệp vững chắc. Sau đó, ông được ăn học miễn phí và học hết chương trình trung học 4 năm. Niềm hãnh diện của một người được nâng lên giai cấp trung lưu có thể đọc được xuyên qua những bức hình của gia đình, đặc biệt là hình của người vợ đang mang các sợi giây chuyền óng ánh mỉm cười bên cạnh người chồng. Mặc dù đã bước vào tuổi bát tuần, người môn đệ trung thành của lãnh tụ kính yêu vẫn nói về những năm đầu khi bước chân vào ngành cảnh sát với tất cả niềm hăng say của một thanh niên.
Nhìn từ bên ngoài, cách riêng từ Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Chủ tịch Castro xem ra đã đảo lộn hệ thống tư pháp tại Cuba. Ông ra lệnh xử tử các đối thủ mà không cần một cuộc xét xử nào. Nhà tù không còn chỗ chứa những người bất đồng chính kiến. Tuy nhiên, ông Juan lại nói rằng lực lượng cảnh sát mà ông là nhân viên, trước kia gồm toàn một lũ đầu trộm đuôi cướp, dưới thời ông đều trở thành chuyên nghiệp. Theo ông, từ năm 1959 đến năm 1962, tất cả mọi người dân Cuba đều sẵn sàng phục tùng ông Castro. Ông nói rằng chỉ có những người giàu có bị chính phủ Castro truất hữu mới bất mãn mà thôi. Những người này đã đi lưu vong. Được sự yểm trợ của Hoa Kỳ, ngày 17 tháng Tư năm 1961, họ đã mở một cuộc tấn công thường được mệnh danh là “Cuộc tấn công tại Vịnh Con Heo”. Lúc đó, ông Juan đang canh gác tại biệt thự của nữ du kích và người tình của ông Castro là bà Celia Sanchez. Nhưng cuộc tấn công đã hoàn toàn thất bại. Lãnh tụ Castro và người tình của ông chẳng hề hấn gì. Thật ra, trong suốt 50 năm cầm quyền với bàn tay sắt của ông, lãnh tụ Castro cũng đã thoát đến hơn 600 cuộc ám sát do Hoa Kỳ chủ mưu.
Cuộc khủng hoảng về phi đạn hạt nhân do Liên Xô bố trí tại Cuba và cuộc cấm vận kinh tế do Hoa Kỳ áp đặt lại càng khiến cho ông Castro siết chặt an ninh và kìm kẹp dân chúng Cuba hơn. Vừa mất tự do vừa túng thiếu, nhưng ông Juan không hề phàn nàn về chế độ cai trị hà khắc của ông Castro. Trái lại, ông lại càng góp một bàn tay vào việc thực thi chính sách ấy. Năm 1970, khi chính phủ Castro tung ra chiến dịch “Cuba phải thu gặt được 10 triệu tấn đường”, chính Juan là người đã canh gác 300 tù nhân chính trị khi họ bị cưỡng bách phải đi chặt mía.
Mặc dù không hề thù ghét các tù nhân chính trị, ông Juan vẫn cho rằng đây là thành phần bất mãn và sai lầm. Ông cũng nghĩ như thế về bà con họ hàng của ông đang sống tại Hoa Kỳ. Ông khẳng định: “Cách mạng là một tiến trình”. Ông vẫn tin tưởng rằng cách mạng mang lại cho mọi người cơ hội để được học hành.
Nhưng cái nhìn của ông Juan về cách mạng không được người con trai của ông là ông Juan Carlos hoàn toàn chia sẻ. Cách đây một thập niên, ông Juan Carlos làm chủ một tiệm ăn. Ông cũng có dư phòng để cho khách du lịch thuê. Sau đó ông nhập quốc tịch Tây Ban Nha. Với sổ thông hành của nước này, ông đã đến Panama để mua một số hàng hóa như quần áo để mang về bán lại tại Havana.
Cũng như bất cứ người dân nào đang sống trong thiên đàng cộng sản, để sống còn Juan Carlos cũng biết luồn lách để làm ăn. Nếu cái nhìn của cha ông về lãnh tụ Castro và cuộc cách mạng do ông này khởi xướng đã được hình thành từ những thay đổi trong thập niên 1960 thì cái nhìn của ông Juan Carlos lại được đánh dấu bởi giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ bao cấp của thập niên 1980 đến thời kỳ đói khổ của thập niên 1990. Đây là lúc chế độ xã hội chủ nghĩa Cuba phải bơ vơ  sau khi Liên Xô sụp đổ. Cuba đã mất đi một quan thày đã cung cấp cho mình mỗi năm khoảng 4 tỷ Mỹ kim vừa tiền mặt vừa hiện vật. Thiếu nhiên liệu, thiếu xà phòng, thiếu thực phẩm, thiếu hầu như mọi sự, kinh tế Cuba đã giảm đi đến 34 phần trăm. Thay vì nhìn nhận tình trạng đói khổ, các viên chức cộng sản Cuba cứ gọi thập niên 1990 là một “giai đoạn đặc biệt”. Bị đặt vào chân tường, Cuba đành phải để cho đồng tiền của đế quốc tư bản là Mỹ kim được tự do lưu hành trong nước và cho phép người dân được tự do kinh doanh trong một số ngành nghề, nhất là kỹ nghệ du lịch. Đây chính là lúc ông Juan Carlos nhảy ra “làm ăn”.
Năm đó ông chỉ mới 31 tuổi. Được tự do kinh doanh và dĩ nhiên suy nghĩ bằng cái đầu của mình, ông Juan Carlos mới nhận ra rằng Chế độ Castro không ổn. Bước vào đời ở tuổi đôi mươi, ông làm việc cho quan thuế. Nhưng trái với cha mình, ông nhận thấy rằng chế độ cộng sản là một chế độ không dân chủ. Chế độ này chỉ thưởng công cho những kẻ câm miệng chứ không phải những người dám lên tiếng để trình bày sáng kiến của mình.
Vì không chấp nhận bị bịt miệng, ông đã rời sở quan thuế. Vài năm sau, ông xin được một việc làm trong các khách sạn. Khi chủ tịch Castro hợp thức hóa các tiệm ăn nhỏ của tư nhân, ông quyết định cùng với vợ mở một tiệm ăn. Nhưng vấn đề là: ông cần phải có giấy phép của điều được gọi là “Ủy ban Bảo vệ Cách mạng” địa phương. Từ nhiều năm nay, Ủy ban này chẳng có nhóm họp gì cả. Do đó, ông ra tranh cử và được dân chúng dồn phiếu cho. Chính vì trở thành chủ tịch “Ủy ban Bảo vệ Cách mạng” ở địa phương mà ông mới có thể mở tiệm ăn.
Nhưng chế độ cộng sản Cuba chuyển mình như rùa. Lên cầm quyền thay anh mình, ông Raul Castro cũng tỏ ra rất dè dặt trong việc cải tổ. Chính phủ vẫn ban hành đủ mọi thứ luật để hạn chế các tiểu thương và hạn chế việc thu mướn nhân viên. Thiết bị nào cũng phải mua của chính phủ và chuyện kiểm soát để đóng cửa xảy ra như cơm bữa. Ông ví von rằng chế độ cộng sản Cuba cũng giống như “một chiếc đàn Accordeon. Họ chỉ hé mở một chút rồi đóng lại, chứ không bao giờ chịu mở hết cỡ”.
Nếu ông Juan Carlos có một cái nhìn không mấy tích cực về chế độ cộng sản thì con gái của ông là cô Rocio cũng có một cái nhìn riêng của mình. Rocio mơ trở thành một sử gia. Trong mắt cô, Cuba là một thứ “luyện ngục”, tức một nơi để thanh luyện và ngay cả trước khi nhắm mắt  đời, Chủ tịch Castro cũng chỉ là một con mọt sách, nghiên cứu trong sách vở hơn là thấy và cảm nghiệm bằng chính con mắt của mình. Cô nhìn nhận: “Fidel Castro đã có một viễn kiến vĩ đại”. Ông cũng đã mang lại một số thành tựu tích cực: người dân Cuba hưởng được giáo dục và y tế miễn phí, tệ nạn xã hội tương đối thấp.
Nhưng chiêm ngắm bức tranh đẹp của Hoa Kỳ do những người bà con ở Miami, Tiểu bang Florida vẽ ra như các trung tâm thương mại, các đại học...Rocio mơ ước càng thoát khỏi Cuba càng sớm. Cô nói rằng thế hệ của cô không màng đến chính trị hay lý tưởng nào cả. Họ chỉ muốn ra khỏi nước. Họ không muốn nghe những bài diễn văn dài đến cả 5,7 tiếng đồng hồ của ông Castro. Họ chẳng màng đến ý thức hệ hay bất cứ cuộc đối đầu nào với thế giới tư bản. Họ chỉ muốn Cuba theo kịp đà tiến của thế giới. Rocio luôn tự hỏi: “Tại sao không được tự do vào Internet? Tại sao không thể vào Facebook để chào hỏi người chị ruột đang ở Tây Ban Nha? Tại sao không được viếng thăm bảo tàng viện Louvre, ngay cả trên  Internet?
Cô cháu nội của ông Juan nói: “Tôi nghĩ rằng tất cả mọi người đều có quyền có được thông tin mà họ muốn để suy nghĩ và để học hỏi”.
Cũng như ông nội của cô và ngay cả ông Fidel Castro khi họ còn trẻ, cô mong muốn có những thay đổi tận gốc rễ ở Cuba, nhất là sau khi nhà độc tài Castro đã ra đi.
(theo:http://www.nytimes.com/2016/11/27/world/americas/fidel-castro-revolution-50-years-three-generations-one-family)


Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Từ hỏa ngục đến thiên đàng



Chu Thập
25.11.16
Bất cứ người di dân và tỵ nạn nào cũng có một câu chuyện đẹp để kể lại. Câu chuyện của người y tá tên là Khaled Naanaa, 31 tuổi, đến từ Syria là một trong những câu chuyện đáng được lắng nghe và chia sẻ.
Anh bắt đầu câu chuyện bằng một lời tán dương dành cho quê hương mới của mình: “Với tôi, Úc Đại Lợi cũng giống như thiên đàng trên Trái Đất”. Cách đây không lâu, người y tá này phải ngày đêm sống dưới những cuộc dội bom, những viên đạn bắn sẻ và những cuộc giải phẫu để cắt cụt chân của các nạn nhân. Anh nói: “Tôi đã đi từ địa ngục đến thiên đàng. Đây quả là một cảm nghiệm kỳ diệu”.
Cách đây 9 tháng, Khaled bị kẹt lại trong một thành phố bị vây hãm có tên là Madaya, một thành phố cao nguyên cách Thủ đô Damascus khoảng 40 cây số về hướng Tây Bắc và sát biên giới Liban. Trong tư thế chẳng đặng đừng, người y tá này trở thành nhân viên y tế duy nhứt phải trông coi bệnh viện duy nhứt trong một thành phố mà trẻ con đang chết dần chết mòn vì đói khát.
Cùng với vợ và đứa con gái được đến Úc Đại Lợi an toàn, Khaled hy vọng rằng câu chuyện mà anh muốn kể lại sẽ là một bằng chứng để tố cáo tội ác chiến tranh của Chính phủ Syria. Nhưng dĩ nhiên, xuyên qua câu chuyện, anh cũng muốn nhắn gởi một thông điệp: thiên đàng mở ra khi con người biết mở rộng vòng tay để đón nhận người khác!
Khaled lớn lên ở Thủ đô Damascus. Tại đây anh đã tốt nghiệp đại học với bằng cử nhân y tá. Sau khi ra trường, anh hành nghề như một y tá chuyên về giải phẫu và gây tê mê trong các bệnh viện công. Một buổi tối tháng Tư năm 2011, khi anh đang trực tại Quân y viện Tishreen thì một chiếc xe tải  dừng lại trước cửa bệnh viện. Người ta lần lượt đưa xuống những người bị thương trong một cuộc biểu tình chống chính phủ. Cách đó hai tháng, một cuộc nổi dậy chống nhà độc tài Assad đã bùng nổ và nay bất cứ một người biểu tình ôn hòa nào cũng đều có thể bị quân đội chính phủ bắn. Nhưng bệnh viện cũng không còn là một nơi an toàn. Trước sự chứng kiến của Khaled, thay vì chữa trị những người bị thương, các đồng nghiệp của anh lại bắt đầu đánh đập họ và tra tấn họ. Khaled đã không hùa theo cách cư xử độc ác ấy. Anh đã bí mật gia nhập vào một mạng lưới nhân viên y tế “chui” tại Damascus để chữa trị cho những người bị thương trong các cuộc biểu tình chống chính phủ. Với mạng lưới này, việc chữa trị có thể diễn ra bất cứ nơi nào, ngay cả trong nhà bếp. Các thành viên của mạng lưới này không cho ai, kể cả người thân, biết hoạt động của họ.
Năm  2012, Khaled di chuyển đến Thành phố Madaya là nơi đang được phe nổi dậy kiểm soát. Tại đây, anh mở một trung tâm điều dưỡng và một phòng giải phẫu dã chiến. Phụ tá của anh là một sinh viên nha khoa và một bác sĩ thú y. Tại đây, không có ngày nào mà không có pháo kích, oanh tạc và các cuộc tàn sát. Khaled làm việc không ngừng nghỉ. Nhờ các băng hình được quảng bá trên YouTube, người y tá này đã tự học để thực hiện các cuộc giải phẫu. Với 40.000 cư dân của Madaya, anh đã trở thành “Bác sĩ Khaled”.
Tháng 7 năm 2015, tình hình tại Madaya trở nên tồi tệ hơn. Thành phố đã từng được phe nổi dậy kiểm soát bị quân đội chính phủ và đồng minh là các nhóm dân quân Liban thuộc phong trào Hezbollah bao vây. Thành phố hoàn toàn rơi vào tình trạng nội bất xuất ngoại bất nhập. Quân đội chính phủ và đồng minh Hezbollah xây đài quan sát, gài mìn và đặt người bắn sẻ xung quanh thành phố. Không còn bất cứ một lối thoát nào cho người dân Madaya. Lương thực tiếp tế ngày càng hiếm. Trẻ con không có đủ  thực phẩm và ngay cả nước uống, chớ đừng nói đến sữa. Dạo đầu tháng 10, một đoàn xe cứu trợ của Liên Hiệp Quốc vào được Madaya. Nhưng lương thực chỉ đủ cho vài tuần lễ. Cũng như mọi người đang bị vây hãm, mỗi ngày Khaled chỉ được ăn một bữa gồm toàn đậu hoặc cháo lỏng. Đã mệt lả vì thiếu ăn, Khaled lại phải làm việc gấp đôi vì số người bị thương tích ngày càng nhiều do tìm cách trốn khỏi thành phố và bị quân đội chính phủ bắn xối xả vào người. Do thương tích và nhứt là đói khát, số người chết ngày càng nhiều. Nạn nhân đầu tiên chính là các trẻ em. Khaled nói rằng anh sẽ không bao giờ quên được những ánh mắt trên khuôn mặt trẻ thơ.
Thế giới bên ngoài đã nhìn thấy được những gương mặt trẻ thơ tại Madaya được các Đài truyền hình CNN và BBC phổ biến. Đó chính là những bức hình do Khaled chụp và gởi đi. Tại New York, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, bà Samantha Power đã nhắc đến những bức hình ấy trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Bà nói: “Hãy nhìn những bức hình đầy ám ảnh của những thường dân, kể cả trẻ con, ngay cả thơ nhi, tại Madaya, Syria. Nhưng đây không chỉ là những bức ảnh, mà là hàng trăm ngàn con người đang bị vây hãm, bỏ đói có kế hoạch”.
Trước áp lực của cộng đồng thế giới, Chính phủ Assad đành cho phép Liên Hiệp Quốc và Hồng Thập Tự chuyển thức ăn đến Madaya. Khi nhìn thấy đoàn xe cứu trợ xuất hiện, Khaled nói: “Đây là ngày hạnh phúc nhứt  trong đời tôi. Tôi không nghĩ là mình sẽ có lại một hạnh phúc như thế”.
Sau khi phơi bày cho thế giới thấy kế hoạch bỏ đói người dân mà Chính phủ Syria đang thực hiện tại Madaya, Khaled đã bị đe dọa giết chết. Chính vì vậy mà một đêm giá rét của tháng Giêng vừa qua, anh đã cùng với vợ con trốn thoát khỏi Madaya. Họ đã phải đi bộ suốt hai đêm xuyên qua những bãi mìn để đến được biên giới Liban. Sau tám tháng chờ đợi và sống chui nhủi, Khaled và vợ con anh đã được đến Úc theo chương trình tỵ nạn của chính phủ nước này dành cho người Syria. Mặc dù đang có cuộc sống ổn định và an toàn tại Perth và xem Úc Đại Lợi như thiên đàng tại thế, người tỵ nạn Syria này nói rằng không có ngày nào, giờ nào, phút nào anh không hướng về Madaya và tự hỏi: “Khi tôi đang ăn  uống (ở đây), người dân Madaya đang sống như thế nào?” (x. http://www.abc.net.au/news/2016-11-21/newest-australian-tells-of-life-under-siege-in-madaya).
Câu chuyện trên đây của người tỵ nạn Khaled đã được đăng trên trang mạng của Đài ABC với tựa đề “Từ hỏa ngục đến thiên đàng” (From hell to heaven). Đây là một cuộc hành trình với một kết thúc có hậu. Với tôi, đó là một câu chuyện đẹp. Thay cho một lời tạ ơn với đất nước đã đón nhận mình, Khaled đã nhìn nhận: “Với tôi, Úc Đại Lợi cũng giống như thiên đàng trên Trái đất”. Là một người tỵ nạn như Khaled, tôi cũng đã từng nói như thế về quê hương mới của mình. Và tôi nghĩ rằng câu chuyện có hậu của Khaled cũng là câu chuyện của bất cứ một người tỵ nạn nào. Có lẽ bất cứ một người Việt tỵ nạn nào cũng có thể kể lại một cuộc hành trình “từ hỏa ngục đến thiên đàng” như Khaled. Và với rất nhiều người, cuộc hành trình từ hỏa ngục cộng sản đến thiên đàng của một đất nước tự do có khi còn bi thảm gấp trăm lần so với cuộc hành trình của Khaled.
Trong “Câu chuyện buồn ngày Tạ Ơn”, được đăng trên báo Người Việt tại Mỹ, người viết tạp ghi Huy Phương nhắc đến hai người bạn cũ mà ông cho là đã “mất”. Mất không phải vì khuất núi, mà vì do hoàn cảnh gia đình đổ vỡ hoặc vì theo tiếng gọi của con tim đã trở về Việt Nam cho nên không còn liên lạc với tác giả. Tác giả Huy Phương gọi đây là một “câu chuyện buồn ngày Tạ Ơn” bởi vì “trong bữa ăn sum họp cuối tháng 11 tại Hoa Kỳ, những người chồng, người cha này không có mặt”. Nhưng nếu lấy Hoa Kỳ là điểm đến của một cuộc hành trình “từ hỏa ngục đến thiên đàng” thì ở khởi đầu câu chuyện của hai người này đều là một câu chuyện đẹp. Sau một thời gian tù đày dưới chế độ Cộng Sản, họ đã được đón nhận vào “Đất Hứa” Hoa Kỳ. Một người tâm sự: “Không có nước Mỹ, thì giờ này con trai tôi đang ôm bình cà rem ở chợ Cồn, làm sao mà trở thành kỹ sư như hôm nay”. Còn người kia, mỗi khi nói đến cuộc đổi đời trên quê hương mới, cũng đều nghĩ đến “những ngày đạp xe đi giao mối cà phê giữa Sài Gòn nắng gắt, bữa đói bữa no”. Sang Mỹ trong vòng hơn mười năm, anh nào cũng khá giả, có một ngôi nhà tươm tất, và mới chục năm trở lại đây, về hưu, ai cũng có đồng lương cao...
Chắc chắn đây là một phần của câu chuyện đẹp mà mỗi năm nhân Ngày Tạ Ơn tại Hoa Kỳ, trong bữa cơm sum họp gia đình, rất nhiều người Việt tỵ nạn đều muốn nhắc lại. Nhắc lại để, cũng như mọi người dân Mỹ từ thời lập quốc đến nay, tạ ơn Thượng Đế đã cho họ có cơ hội làm lại cuộc đời hay cho họ được sống trong một đất nước mà rất nhiều người dân từ hầu hết các nước trên thế giới, kể cả những nước tự xưng là thù nghịch của Hoa Kỳ, đều xem như một “Đất Hứa” hay như “ một giấc mơ”. Nhắc lại để mãi mãi ghi nhớ rằng Hoa Kỳ là một đất nước của người tỵ nạn và di dân nói chung. Nhắc lại để tự hào rằng sự vĩ đại đích thực của Hoa Kỳ không chỉ đến từ sự phồn thịnh vất chất, sức mạnh kinh tế hay quân sự, mà chính là từ nét đa văn hóa và tinh thần khoan nhượng giữa mọi sắc dân làm nên bản sắc dân tộc. Với tôi, Hoa Kỳ quả là một đất nước vĩ đại, bởi vì họ có Ngày Tạ Ơn.
Quê hương thứ hai của tôi là Úc Đại Lợi không có Ngày Tạ Ơn. Người Việt tỵ nạn ở Úc có lẽ không có cơ hội để mỗi năm một lần sum họp bên bàn ăn gia đình và ôn lại cuộc hành trình từ “hỏa ngục đến thiên đàng” và bày tỏ lòng  biết ơn đối với đất nước đã cưu mang mình, nhứt là với các nhà lãnh đạo đã mở rộng cánh cửa để đón nhận người tỵ nạn. Cố Thủ tướng Malcolm Fraser chắc chắn đã không phạm bất cứ sai lầm nào khi mở cửa đón nhận người tỵ nạn Việt Nam hồi thập niên 1970. Tôi cũng không nghĩ rằng vị thủ tướng thứ 22 của Úc này đã sai lầm khi mở cửa đón nhận người tỵ nạn và di dân từ Liban vào cùng một thời kỳ như đương kim Tổng trưởng di trú Peter Dutton đã lên án (x. http://www.sbs.com.au/news/article/2016/11/21/peter-dutton-says-it-was-mistake-bringing-lebanese-refugees-australia). Cũng như Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi cũng là một đất nước của người di dân. Đất nước này có vĩ đại hay không là do chính sách đa văn hóa mà linh hồn chính là tinh thần khoan nhượng.
Không có một Ngày Tạ Ơn để tôi công khai bày tỏ lòng biết ơn đối với quê hương mới của mình. Nhưng cũng như người tỵ nạn Khaled đến từ Syria, lúc nào tôi cũng xem quê hương mới là “thiên đàng trên Trái Đất”. Đó là cách tôi nói lên lòng biết ơn của tôi. Là một trong những đức tính cao quý làm nên nhân cách, lòng biết ơn giúp tôi biết sống nên người tử tế hơn. Với tư cách là người tỵ nạn, lòng biết ơn giúp tôi biết sống khoan nhượng hơn trong quan hệ giữa người với người và nhứt là trong một đất nước đa văn hóa như quê hương mới của tôi.
Ứơc sao tất cả mọi người đang ở địa ngục trần gian đều được vào “thiên đàng trên Trái đất” như tôi.