Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

Đảo Rottnest: nhà tù biến thành khu du lịch!


11.11.16
Mới đây, Rodney Kelly, một hậu duệ của một chiến binh thổ dân bị đoàn thám hiểm của Thuyền trưởng Cook hạ sát đã yêu cầu Bảo tàng viện Anh phải trả lại một cái thuẫn mà ông cho là thuộc về dân tộc ông.
Người chiến binh thổ dân mà ông Rodney Kelly tự nhận là hậu duệ tên là Cooman, thuộc Bộ lạc Gweagal. Người chiến binh này đã bị đoàn thám hiểm người Anh bắn vào chân năm 1770 khi chiếc tàu thám hiểm HMS Endeavour tiến vào Vịnh Botany.
Một chiếc thuẩn và vài cái đao đã bị người Anh lấy đi và hiện đang được trưng bày trong Bảo tàng viện Anh.
Ông Rodney Kelly đã đến London để yêu cầu người Anh phải hoàn trả lại chiếc thuẩn cho dân tộc ông. Theo ông, Bảo tàng viện Anh không có quyền chiếm giữ báu vật này.
Dĩ nhiên, Bảo tàng viên Anh sẽ không bao giờ thỏa mãn yêu cầu của người hậu duệ thổ dân này. Cùng lắm, Ban giám đốc của Bảo tàng viện chỉ cho Úc Đại Lợi “mượn lại” chiếc thuẩn này mà thôi.
Chuyện kỳ kèo về một báu vật trên đây hẳn đã gợi lên những trang sử đau thương của người Thổ dân Úc kể từ khi hòn đảo lớn nhất thế giới này bị Anh Quốc chiếm giữ. Cho đến nay, hậu duệ của những người thổ dân đã từng bị người Anh săn lùng, giam giữ và tiêu diệt vẫn không bao giờ quên được tội ác ấy. Rottnest Island, nằm ở ngoài khơi tiểu bang Tây Úc là một trong những dấu tích của tội ác ấy.
Glen Stasiuk, một giảng viên và nhà nghiên cứu thổ dân thuộc Đại học Murdoch, kể lại rằng khi còn là một thiếu niên ông đã có dịp cùng với một số bạn đi cắm trại tại Rottnes Island. Đó là khoảng thập niên 1980.
Không hiểu tại sao lúc lặn xuống biển, người thiếu niên cảm thấy đau yếu và mệt mỏi  đến độ người ta phải dùng máy bay để đưa cậu về đất liền. Một năm sau, cậu trở lại và lần này cũng vậy, cậu cũng thấy một triệu chứng như thế. Mẹ cậu nói với cậu rằng có lẽ đã đến lúc cậu phải đi gặp bà ngoại của cậu. Bà ngoại cậu liền nói với cậu rằng Rottnest Island là một chỗ bệnh hoạn.
Stasiuk đã từng đi cắm trại tại Tentland. Trong hàng bao năm trời, Tentland là một chỗ cắm trại nổi tiếng tại Rottnest Island. Đây là chỗ mà các gia đình và thanh thiếu niên dựng lều, nướng thịt và ăn nhậu với nhau.
Điều mà những người cắm trại không hề biết là họ đang ngủ trên những nấm mồ không tên của ít nhất 373 người thổ dân. Đây là “nghĩa trang” lớn nhất của người thổ dân tại Úc.
Tiến sĩ Stasiuk chỉ tay về hướng nghĩa trang và giải thích cho khách du lịch: đây là nơi mà năm 1971, lần đầu tiên người ta đã tìm thấy các hài cốt của các tù nhân. Và đây cũng chính là nơi mà người thiếu niên Stasiuk đã từng dựng lều cắm trại.
Rottnest Island, một hòn đảo nằm cách Perth 18 cây số, từng là một trong những nhà tù lớn nhất dành cho thổ dân. Các tù nhân được chôn cất ở đây là một số nhỏ trong 4000 người gồm đàn ông và thanh thiếu niên từ khắp Tiểu bang Tây Úc bị giam giữ tại Rottnest Island từ năm 1838 đến năm 1931.
Khoảng tháng 6 năm 1829, khi đợt định cư người da trắng đầu tiên đi thuyền ngược lên dòng sông Derbarl Yerrigan hay sông Swan, người thổ dân Whadjuk thuộc Bộ lạc Noongar nghĩ rằng những người da trắng này là tổ tiên họ trở về từ bên kia thế giới để bảo vệ họ.
Tiến sĩ Noel Nannup, một trưởng lão thổ dân tại Đại học Edith Cowan giải thích rằng lần đầu tiên thấy người da trắng, người thổ dân tưởng rằng họ đến từ lòng biển, da của họ đã được tẩy trắng.
Nhưng những người khách không được mời đã không bỏ đi. Dọc suốt từ Fremantle đến thượng nguồn sông Swan, người thổ dân đã gọi nhau: “Worra! Hãy tập trung gia đình lại và tìm cách tự vệ”. Không mấy chốc, người thổ dân thấy hàng rào được dựng lên, họ bị xua đuổi ra khỏi đất đai của họ và đẩy ra bên lề. Và mặc dù đã có luật lệ riêng của họ từ cả ngàn năm trước, người thồ dân lại bị buộc phải tuân thủ luật mới của những người định cư da trắng.
Bà Karen Jacobs, một cựu thành viên của Hội đồng Quản trị tại Rottnest Island kể lại rằng người da trắng bắt đầu khai khẩn đất đai, chận đứng mọi nguồn nước ngọt vốn đã từng nuôi sống người thổ dân. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi cây thuốc đông y, mọi loại thảo mộc truyền thống và súc vật đều bị bứng đi hết. Chỉ trong 3 năm sau khi người da trắng định cư, khu rừng săn bắn của người thổ dân cũng biết mất.
Vì nguồn thực phẩm ngày càng cạn dần cho nên người thổ dân thuộc Bộ lạc Noongar liền săn bắn bất cứ loại thú nào họ thấy trước mắt từ trừu, gà đến bò. Họ không hiểu rằng theo luật của người da trắng súc vật là sở hữu của người khác. Với người thổ dân, súc vật thuộc về đất đai và như vậy cũng thuộc về mọi người.
Hậu quả của sự hiểu lầm ấy thật khốc liệt. Người thổ dân bị bắt giữ vì tội ăn trộm, vì vượt qua hàng rào của nhà người khác. Không bao lâu nhà tù đầy ắp người thổ dân.
Trước khi người da trắng đặt chân đến Úc Đại Lợi, người thổ dân không bao giờ có bất cứ ý niệm nào về việc bị người khác giam giữ. Chính quyền Thuộc địa hẳn đã nhận ra tức khắc nỗi khốn khổ của họ khi bị giam giữ. Con số người bị bắt giữ vì những tội không ra gì ngày càng cao. Vấn đề ngày càng nghiêm trọng. Do đó Chính quyền Thuộc địa mới quyết định thiết lập một nhà tù tại Rottnest Island.
Lúc đầu, còn có chút cảm thương, người da trắng nghĩ rằng giam giữ người thổ dân tại Rottnest Island để họ còn có chút tự do đi lại và giết thời giờ bằng việc săn bắn. Trong vài năm đầu có lẽ người tù thổ dân vẫn còn được chút tự do như thế.
Chiếc thuyền đầu tiên đến Wadjemup trên đảo Rottnest Island khoảng tháng 7 năm 1838, mang theo 6 tù nhân. Lúc bấy giờ chưa có nhà tù. Các tù nhân phải tự tay đi kiếm đá để xây nhà tù. Họ phải ngủ trong những hang động trên đảo. Trong những tháng đầu, tù nhân làm vườn và dọn cỏ. Buổi chiều, họ được phép đi săn bắn. Nhưng điều kiện sống của tù nhân ngày càng tồi tệ khi một cai tù tên là Henry Vincent bắt đầu chính sách cai trị hà khắc của ông. Tù nhân phải làm việc giữa nắng nóng. Quần áo đã thiếu thốn, họ còn bị xiềng lại với nhau.
Tiến sĩ Stasiuk nói rằng “Henry Vincent là một cai tù dã man. Ông đấm đá tù nhân không chút xót thương. Ông đã từng dùng xâu chìa khóa để đánh chết một tù nhân. Trước khi được trả tự do và trở về đất liền, tù nhân buộc phải chứng kiến cảnh các tử tù bị treo cổ. Bất cứ người nào không làm theo lệnh ông cũng đều có thể bị bắn ngay tức khắc. Ban đêm, các tù nhân bị xiềng vào một hệ thống cột trong trại.”
Oái oăm thay, tên của viên cai tù độc ác này lại được đặt cho một ngôi nhà và một con đường trên đảo!
Cuộc sống của các tù nhân trên đảo ngày càng đen tối thì khi được trở về đất liền số phận của người thổ dân cũng chẳng sáng sủa hơn. Ranh giới thuộc địa ngày càng nới rộng từ Perth chạy xuyên suốt tiểu bang Tây Úc thì số người thổ dân bị bắt đưa vào tù ngày càng nhiều. Đã vậy, càng đi xa khỏi Perth thì luật lệ càng lỏng lẻo. Tại những vùng xa xôi hẻo lánh, người da trắng tự cho mình có quyền đánh đập, bắn giết hay bịa ra đủ mọi thứ cáo buộc để bắt giữ người thổ dân. Mục đích của những hành động độc ác này là để bẻ gẫy mọi sức chống cự của người thổ dân.
Theo Tiến sĩ Stasiuk, hình ảnh thường thấy nhất là cảnh đàn ông và con trai thổ dân bị bắt giữ, tay chân và cổ bị trói lại để áp tải  đến trạm cảnh sát gần nhất. Tàn nhẫn nhất là cảnh 40 người, gồm đàn ông và đàn bà, bị xiềng lại với nhau tại Bidyadanga và buộc phải đi bộ 700 cây số  về hướng Roebourne.
Các tù nhân thổ dân phải đối diện với một hệ thống pháp luật mà họ hoàn toàn không hiểu gì: không có đại diện hay trợ giúp pháp lý. Hơn nữa, là những người quanh năm ngày tháng chỉ biết sống trong nội địa, lần đầu tiên thấy sóng to gió lớn giữa biển khơi, hẳn phải sợ hãi.
Vào khoảng những năm 1880, số tù nhân được đưa ra Rottnest Island nhiều hơn bao giờ hết và điều kiện sống trên đảo dĩ nhiên cũng tồi tệ hơn. Tình trạng chật chội trong nhà tù dẫn đến đủ thứ bệnh tật. Một phòng nhỏ lẽ ra chỉ dành cho một người phải nhốt đến 10 người. Không có nhà vệ sinh, cũng chẳng có giường ngủ, sàn nhà toàn là bùn. Mùa Đông lại khắc nghiệt. Bệnh tật, nhất là cảm cúm và đậu mùa lây lan nhanh chóng. Có mùa Đông, số người chết lên đến 60 người. Giáo sư Len Collard thuộc Phân khoa Thổ dân học của trường Đại học Tây Úc giải thích rằng, trước khi người da trắng đến Úc Đại Lợi, người thổ dân không hề biết đến một số bệnh như cảm cúm, kiết lỵ hoặc những chứng bệnh khác.
Ký giả Kirsti Melville của đài ABC kể lại rằng hơn 100 năm sau, một người bạn của bà đã đến nghỉ tại một trong những khu nghỉ mát sang trọng nhất có tên là “The Rottnest Lodge”. Nửa đêm, người khách du lịch đã bị đánh thức vì một cơn ác mộng khủng khiếp: bà thấy máu chảy lai láng trên tường của phòng ngủ. Thì ra người khách du lịch này đã ngủ trong một phòng giam của nhà tù nổi tiếng dành cho thổ dân tại Rottnest Island.
Theo Giáo sư Len Collard, du khách không hề hay biết về nguồn gốc của khu nghỉ mát sang trọng này. Ông tự hỏi: tại sao chính quyền tiểu bang, giới chức địa phương tại Rottnest Island thiếu trách nhiệm đến độ  không chịu giải thích cho du khách biết về nguồn gốc của khu du lịch này?
Bên cạnh khu nghỉ mát là một bệnh viện cũ đã biến thành nhà xác. Đây là nơi đã từng giữ xác chết của hàng trăm tù nhân thổ dân. Ngày nay nhà này đã biến thành một nhà bếp  dành cho các nhân viên đang làm việc trên đảo. Liệu họ có bao giờ biết đến những điều khủng khiếp đã từng xảy ra ở đó không.
Đây chính là một trong những “nghịch cảnh” lớn nhất của Úc Đại Lợi: bên cạnh một bãi biển với cát trắng và làn nước trong vắt là một lịch sử vô hình và đen tối của những hành độc độc ác khó tưởng tượng được!
Giáo sư Stasiuk ngậm ngùi đưa ra nhận xét: “Trên khắp thế giới, đã có Hiroshima, Auschwitz, đài tưởng niệm 9/11 ở New York, Porth Arthur (Tasmania) để nhìn nhận rằng  những gì đã xảy ra trong quá khứ là khủng khiếp”. Nhưng Úc Đại Lợi vẫn chưa có được một đài tưởng niệm nào, ngay cả tại Rottnest Island để nhắc nhớ về một trong những trang sử đen tối nhất không những đối với người thổ dân, mà còn đối với người Úc nói chung nữa.
Giáo sư Stasiuk cho biết: 5 người bên phía mẹ của ông và 2 người bên phía cha ông đã từng bị giam giữ và chôn ở Rottnest Island. Ông đã kể lại chuyện này cho các con của ông. Rất tiếc là nhiều người không muốn nhìn nhận điều đó.
(theo: http://www.abc.net.au/news/2016-10-25/rottnest-island-black-prison-to-white-playground/)




Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2016

Trái tim rạn vỡ, trái tim rộng mở


Chu Thập
4.11.16

Một trong những điều khiến cho thế giới phải ngạc nhiên là mặc dù đang bị chiến tranh xâu xé như Iraq hoặc đã từng bị một chế độ quân phiệt cai trị bằng những chính sách hà khắc nhứt như Miến Điện, hai nước này lại là những nơi dân chúng tỏ ra quảng đại nhứt thế giới. Đây là kết quả của một cuộc khảo sát mới nhứt  về Chỉ số Trao tặng (CAF: World Giving Index 2016).
Cuộc khảo sát được thực hiện hồi tháng trước cho thấy cứ 10 người Iraq thì có 8 người đã giúp đỡ một người mà họ không hề quen biết. Một tỷ lệ tương tự  cũng được tìm thấy trong một nước khác đang chìm ngập trong máu lửa là Libya.
Theo cuộc khảo sát cũng được thực hiện cùng một thời kỳ tại Miến Điện, có đến 91 phần trăm dân chúng tại nước này đã hiến tặng tiền bạc cho các hoạt động từ thiện.
Người Mỹ cũng tiếp tục được xếp vào hàng ngũ những người quảng đại nhứt nhì thế giới. 63 phần trăm dân chúng Mỹ đã trao tặng tiền bạc và 73 phần trăm đã giúp đỡ người khác cách này hay cách khác.
Nhìn chung, liên tiếp trong 3 năm liền, người dân Miến Điện lúc nào cũng đứng đầu danh sách về sự trao tặng. So sánh giữa các lục địa, những người thực hiện cuộc khảo sát nói rằng Anh Quốc đứng đầu bảng tại Âu Châu, các Vương quốc Á rập Thống nhứt nổi bật nhứt tại Trung Đông. Còn tại Phi Châu, người dân Kenya được xem là những người quảng đại nhứt. Riêng Guatemala dẫn đầu tại Châu Mỹ La Tinh về sự trao tặng.
Nhưng theo cuộc khảo sát, đáng ca ngợi nhứt là hai nước Iraq và Libya. Mặc dù phải trải qua nhiều năm trong  xung đột và bạo động, người dân của hai nước này lại vô địch về sự tử tế đối với những người hoàn toàn không quen biết. Các phóng viên của Đài BBC đã không tỏ ra ngạc nhiên về kết quả của cuộc khảo sát trên đây tại hai nước này, bởi lẽ cả hai quốc gia này đều có những truyền thống lâu dài về sự hiếu khách đối với người lạ mặt.
Riêng phóng viên Rana Jawad của Đài BBC đặc trách về Bắc Phi cũng khẳng định rằng “người dân Libya có một truyền thống “tự bản chất” là quảng đại”. Theo phóng viên này, hơn 40 năm bị cai trị với bàn tay sắt của Gaddafi, hình ảnh của Libya bị bóp méo và lòng hiếu khách của người dân nước này bị nghi ngờ. Nhưng sau cuộc cách mạng, thế giới bên ngoài mới thấy được sự hiếu khách và lòng quảng đại của người Libya (http://www.bbc.com/news/world-asia-37762753).
Riêng tôi không ngạc nhiên chút nào khi bản tin của Đài BBC viết: “Trung Quốc được xem là quốc gia ít quảng đại nhứt”. Tôi không ngạc nhiên là bởi vì lòng quảng đại không thể tồn tại trong xã hội cộng sản. Người Trung Hoa cũng như mọi dân tộc trên trái đất này, tự bản chất, cũng là những con người quảng đại. Thời xa xưa, các nhà hiền triết của đất nước này luôn lấy “nhân nghĩa” làm đầu. Nhưng kể từ khi Mao Trạch Đông thực hiện điều được gọi là “Cuộc Cách mạng Văn hóa”, tất cả các bậc thánh hiền như Đức Khổng Tử đều bị mang ra đấu tố thì đương nhiên chuyện nhân nghĩa không thể có chỗ đứng trong Xã hội Cộng sản.
Cuộc khảo sát về Chỉ số Trao tặng không nhắc đến Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng nếu người Việt Nam xã hội chủ nghĩa có đứng mấp mé bên cạnh Trung Cộng về chỉ số trao tặng thì cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên. Trong cái xã hội mà hai tiếng “vô cảm” được xem là chính xác nhứt để mô tả  mối quan hệ giữa người với người thì hẳn sự quảng đại đã trở thành một ý niệm rất xa lạ. Chẳng thế mà mới đây khi, “lòng từ bi chợt đến bất ngờ”, một MC Phan Anh nào đó đã bỏ ra một số tiền túi rất lớn và kêu gọi quyên góp cho nạn nhân bão lụt ở Miền Trung, anh được tức khắc tán dương lên chín tầng mây vì chỉ trong một thời gian ngắn đã thu góp được vài chục tỷ bạc Việt Nam. Nhiều người trong nước đã có lý để gọi đây là một “hiện tượng kỳ lạ”, bởi vì lâu nay lòng quảng đại vốn đã bị người cộng sản làm cho hoàn toàn bị tê liệt nay bỗng trồi dậy một cách thật hào sảng.
Không ngạc nhiên về thứ hạng của Trung Cộng trong  Chỉ số Trao tặng, tôi cũng không ngạc nhiên tại sao người dân Miến Điện luôn đứng đầu danh sách thế giới về lòng quảng đại. Đây là một nước theo Phật Giáo. Những người thực hiện cuộc khảo sát về lòng quảng đại giải thích rằng tấm lòng rộng rãi của người Miến Điện phản ảnh giáo lý “Sangha Dana” của Phật Giáo Tiểu Thừa. Các tín đồ không những dâng cúng cho các vị tu sĩ mà cũng luôn tỏ ra quảng đại với mọi người. Dù cho mục đích của việc trao tặng có nhắm tới Niết Bàn hay phần thưởng trong cuộc sống mai hậu đi nữa, tấm lòng quảng đại của người dân lúc nào cũng là một đóng góp lớn lao cho việc xây dựng xã hội trần thế. Xã hội nào cũng sẽ lành mạnh và tốt đẹp khi con người biết đối xử tốt với nhau.
Ngày nay, người ta thường nói đến thời đại “hậu Kitô giáo” tại các nước Tây Phương. Nhà thờ và các nơi thờ phượng của các Giáo hội ngày càng trống vắng. Đó là sự thật không thể chối cãi được. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng con người Tây Phương lúc nào cũng quảng đại trong việc chia sẻ với người khác. Có thể họ không đến nhà thờ, nhưng lại sống cái cốt lõi của Kitô giáo là san sẻ và trao tặng cho người khác, nhứt là những người cần được giúp đỡ. Nói chung, Phật Giáo ở Á Đông, Hồi Giáo ở Trung Đông hay Kitô Giáo ở Tây Phương...tôn giáo nào cũng dạy con người ăn ngay ở lành, nghĩa là biết sống tử tế và quảng đại với mọi người. Tôn giáo nào cũng khơi gợi và vun xới tâm tình cao quý ấy nơi con người. Chối bỏ, bách hại, gạt bỏ tôn giáo ra khỏi xã hội, như người cộng sản vẫn tiếp tục chủ trương, cũng chính là muốn bứng ra khỏi lòng người một trong những đức tính cao quý nhứt là lòng quảng đại.
Thời đại này mà mới đây tôi còn đọc được một bản tin theo đó chính quyền tại Tỉnh Tân Cương tự trị bên Trung Quốc đã ban hành một luật mới cấm chỉ cha mẹ, các bậc phụ huynh không được “tổ chức, thúc đẩy con cái tham dự các sinh hoạt tôn giáo” (http://eglasie.mepasie.org/asie-du-nord-est/chine/2016-10-31-le-gouvernement-du-xinjiang-interdit-aux-parents-de-transmettre-leur-religion-a-leurs-enfants). Đây không phải là một hình thức bách hại tôn giáo là gì. Mặc dù Trung Quốc chính thức nhìn nhận tự do tôn giáo, trong thực tế cho tới nay quốc giáo của nước này cũng vẫn là ý thức hệ cộng sản và các tôn giáo, nếu không bị công khai bách hại, thì cũng bị hạn chế trong các sinh hoạt tôn giáo. Không lạ gì nếu Trung Cộng là nước ít quảng đại nhứt thế giới!
Ít quảng đại nhứt cho nên Trung Quốc cũng là nước đáng sợ nhứt. Vô cảm, thiếu quảng đại, con người đương nhiên cũng dễ tỏ ra hung hăng và dễ gây hấn. Đâu có lạ gì khi cả nước Trung Cộng đang đứng sau lưng đổ tể Tập Cận Bình để thò cái lưỡi bò ra liếm cả Biển Đông. Với sự phát triển bừa bãi, Trung Cộng đang là nước bị ô nhiễm và gây ô nhiễm nhứt thế giới. Dù cho nước này có ngày càng giàu mạnh và người dân nước này có sung túc đến đâu, nếu họ đứng chót trong bản Chỉ số Trao tặng, tôi vẫn nghi ngờ về tình trạng sức khỏe của họ. Cả thể xác lẫn tinh thần.
Một cuộc nghiên cứu do trường Đại học Michigan, Hoa Kỳ thực hiện hồi năm 2003 cho thấy những tác dụng tích cực của sự quảng đại đối với sức khỏe thể lý và tinh thần cũng như gia tăng tuổi thọ của con người. Trong một cuộc nghiên cứu khác cũng do trường đại học này thực hiện, các nhà nghiên cứu đã theo dõi sức khỏe của gần 3 ngàn người trong suốt 10 năm. Họ nhận thấy rằng những người thường xuyên làm việc thiện nguyện có nguy cơ tử vong thấp gấp hai lần so với những người không làm việc thiện nguyện. Thật vậy, lòng quảng đại có sức hạ giảm sự căng thẳng, tăng cường hệ thống miễn nhiễm và gia tăng ý thức về cuộc sống có mục đích. Do đó, lòng quảng đại cũng mang lại sự tự tin dẫn đến thành công trong cuộc sống.
Quảng đại là trao tặng. Nhưng dĩ nhiên, tiền bạc hay của cải vật chất không chỉ là những thứ duy nhứt để trao tặng. Trao tặng thời giờ, trao tặng tình bạn, trao tặng sự cảm thông, trao tặng một nụ cười...Trao tặng thiết yếu chính là trao tặng chính con người của mình. Mà nếu mỗi người, dù nghèo hèn đến đâu, cũng đều có một phẩm giá bất khả di nhượng và như vậy là có một giá trị nằm bên ngoài mọi thứ thước đo, thì có ai nghèo nàn đến độ không có gì để trao tặng cho người khác. 
Kinh nghiệm bản thân cũng luôn nhắc nhở tôi rằng trao tặng là vun xới lòng biết ơn. Sống là mang nợ. Chẳng có ai giàu có đến độ không mang nợ với người khác cách này hay cách khác. Chính vì vậy mà trao tặng chính là thể hiện lòng biết ơn và cũng khơi dậy lòng biết ơn nơi người khác. Trong xã hội, lòng quảng đại chết thì cũng kéo theo cái chết của lòng biết ơn. Tôi hiểu được tại sao trong xã hội Việt Nam dưới chế độ cộng sản hiện nay, hai chữ “cám ơn” đã hầu như tắt lịm trên môi miệng của rất nhiều người Việt Nam. Người Việt Nam xã hội chủ nghĩa không biết và cũng chẳng còn muốn thể hiện lòng biết ơn là bởi vì họ ít cảm nhận được sự quảng đại của người xung quanh. Quan hệ giữa người với người chỉ còn là một cuộc giành giựt, chen lấn, dẫm đạp lên nhau mà sống. Tôi thường có ý nghĩ ấy mỗi khi nhìn cảnh luồn lách của dòng xe hai bánh giữa đường phố.
Khốn khổ thì ở đâu cũng có. Nhưng tại sao ở Iraq , Libya và Miến Điện, vốn là những nước vẫn còn nghèo đói và bị xâu xé triền miên vì chiến tranh, người dân vẫn còn tỏ ra tử tế và quảng đại với những người xa lạ?
Sự quảng đại của người dân Iraq, Libya  và Miến Điện làm tôi nhớ đến ca từ trong ca khúc Cedarwood Road của ban U2 (https://www.youtube.com/watch?v=Svj0eqx90Y0). Bono, ca sĩ chính trong ban, trong ca khúc này đã đưa người nghe nhạc của anh trở về nơi anh đã lớn lên vào thập niên 1960-1970. Đây cũng là thời điểm xảy ra những cuộc nội chiến triền miên vì tôn giáo ở Ái nhĩ lan. Anh đã hát: “A heart that is broken is a heart that is open” (tạm dịch: Một trái tim rạn vỡ là một trái tim rộng mở). Chính giữa những tan vỡ của chiến tranh mà người nhạc sĩ tài ba này đã cảm nhận được tình bạn và tình người như anh đã hát: “And friendship once it’s won. It’s won...It’s won” (Và tình bạn đã từng lên ngôi).
Câu hát này gợi lên cho tôi ý tưởng: trao tặng thật sự là trao tặng  chính mình, chớ không chỉ  “bố thí” hay vất đi những thứ thừa mứa mình không cần dùng đến nữa. Trao tặng thật sự như vậy cũng có nghĩa là trao tặng cho đến lúc trái tim bị tổn thương hay rạn vỡ. Nhưng đó cũng là một trong những nghịch lý lớn nhứt trong cuộc sống: càng trao tặng và trao tặng cho đến lúc bị tổn thương, con người càng làm chủ được chính mình và càng cảm thấy được tự do và trưởng thành hơn.
Quảng đại là con đường vương giả để tiến đến trưởng thành!




Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016

Bình an trong từng bước đi



Chu Thập
23.04.13

Bước vào mùa thu ở Úc, tôi có cái thú mỗi sáng thức dậy, nhâm nhi ly cà phê nóng, đi dạo trong vườn và ngắm cảnh. Đây là những lúc tôi thực sự cảm thấy Úc là một đất nước thanh bình, một nơi đáng sống.
So với các nước văn minh tiến bộ khác, Úc chưa phải là một nước giàu. Nhưng cái cảm giác được sống trong một đất nước an toàn thì chắc chắn người dân Úc nào cũng cảm nhận được.
Giàu có nhưng không có an toàn là một điều bất hạnh. Đây là trường hợp của Trung Quốc. Nhiều chuyên gia cho rằng rất có thể vào năm 2016, tức chỉ còn 3 năm nữa, quốc gia cộng sản đông dân số nhứt thế giới này sẽ bóp còi qua mặt Hoa Kỳ để nắm giữ vị trí đệ nhứt cường quốc kinh tế thế giới. Kể từ khi mở cửa, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản Mao để chạy theo kinh tế thị trường, Trung Quốc đã thành công trong việc lấp đầy cái bụng đói của 1.3 tỷ dân. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn chưa tạo được cho người dân một cảm giác an toàn về phẩm chất của cuộc sống.
Trong một bài viết có tựa đề “The Poisoned Rice Bowl” (chén cơm tẩm thuốc độc), thông tín viên Hannah Beech đã viết trên tạp chí Time số ra ngày 22 tháng 4 vừa qua rằng một triệu phú kinh doanh về địa ốc tại Trung Quốc nói với bà rằng “tất cả bạn bè của ông đều đã có sẵn kế hoạch bỏ nước ra đi”. Lý do mà triệu phú này đưa ra thật đơn giản: “sống ở đây không còn an toàn nữa”.
Bà Beech đã đến sống tại Trung Quốc từ 3 năm nay. Những điều bà viết về Trung quốc thật ra chẳng có gì là mới mẻ cả. Trước hết là chuyện không khí ô nhiễm. Hầu như thành phố nào của Trung Quốc cũng đều bị bao phủ bởi một lớp khói mù. Mỗi năm có đến một triệu người Trung Quốc chết yểu vì không khí ô nhiễm. Học sinh đến trường phải mang khẩu trang và nhiều ngày không thể ra chơi ngoài trời. Bà Beech nói rằng ô nhiễm là chuyện “thường ngày ở huyện” đối với người Trung Quốc. Ở đâu người dân cũng than phiền về ô nhiễm đến độ tiếng Hoa đầu tiên mà đứa con trai 3 tuổi của bà học được là “ô nhiễm”.
Nguồn nước uống tại Trung Quốc thì khỏi nói. Dạo tháng 3 vừa qua, một trong những con sông chính cung cấp nước uống cho thành phố Thượng Hải đã bị tắc nghẽn bởi trên 16 ngàn xác heo chết. Cúm heo, cúm gà…có lẽ cúm gì cũng có thể xuất phát từ cái quốc gia mà sự phát triển không theo bất cứ một chuẩn mực vệ sinh và đạo đức nào cả.
Nhưng an toàn thực phẩm mới là điều đáng nói nhứt tại Trung Quốc. Bà Beech kể lại ngày nọ bà đi chợ ở Bắc Kinh. Thấy cam tươi bà định mua một ít. Nhưng người bán hàng thú nhận: cam vừa được nhuộm cho vàng. Tại Shandong, nơi sản xuất táo nổi tiếng của Trung Quốc, tác giả có dịp nói chuyện với một nông gia. Người này tiết lộ với bà rằng ông vừa mới hối lộ các viên chức địa phương để họ nhắm mắt làm ngơ trước những tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm. Ngay cả táo mà cũng nằm trên danh sách “đen”. Tác giả đã chơi chữ một cách mỉa mai khi dùng câu nói quen thuộc của người Tây phương: “An apple a day keeps the doctor away” để kết luận “Vậy thì chúng ta có thể ăn cái gì tại Trung Quốc để có thể không cần đến bác sĩ nữa?” Dĩ nhiên, đàng sau tình trạng không an toàn về thực phẩm và phẩm chất của cuộc sống nói chung, là lỗ hổng to lớn về đạo đức và nhân cách trong xã hội Trung Quốc ngày nay.
Trung Quốc không phải là một nơi an toàn để sống. Vậy thì đi đâu? Đương nhiên ai mà chẳng mơ được đến Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Đây là đất nước của ước mơ, đây là đất nước của cơ hội mà! Thú thật, có một dạo tôi cũng đã từng mơ được làm công dân của quốc gia giàu có và văn minh nhứt hành tinh này. Nhưng giờ đây, sau bao nhiêu vụ khủng bố và nhứt là bạo động chết người xảy ra liên tục tại Hoa kỳ, tôi thấy rõ ràng đây không phải là một nơi an toàn để sống nữa.
Trong những ngày vừa qua, sau vụ đánh bom của hai anh em Tamerland và Dzhokhar Tsarnaev tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, tôi không ngừng suy nghĩ về tình trạng bạo động trong xã hội Mỹ. Đây là một xã hội không an toàn vì bạo động có thể xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào.
Đâu là động lực đã thúc đẩy hai anh em Hồi giáo gốc Chechen này tự chế bom và cho nổ để giết người vô tội. Các ký giả và các nhà điều tra hẳn phải điên đầu trong việc xác định những động lực thúc đẩy vụ đánh bom. Phải chăng, hai anh em này đã phẫn nộ đối với quốc gia đã cưu mang họ? Phải chăng họ là những chiến sĩ của cuộc thánh chiến hồi giáo? Phải chăng họ có tâm lý bất ổn? Phải chăng họ đã chịu ảnh hưởng của những trò chơi điện tử? Phải chăng họ trở nên bạo động vì thất bại trong việc học hành?
Có nhiều động lực thúc đẩy hai người thanh niên này đặt bom sát hại người vô tội. Nhưng đâu là nguyên nhân đưa họ vào con đường bạo động khi họ lớn lên và được giáo dục trong xã hội Mỹ, có lẽ đây là câu hỏi cần được đặt ra hơn cả.
Tôi nghĩ đến một cách trả lời của tác giả Charles Colson (1931- 2012). Ông Colson đã từng là một cố vấn đặc biệt của cố tổng thống Richard Nixon. Có dính líu trong vụ “Watergate” và bị giam tù 7 tháng vì tội cản trở công lý, sau khi mãn tù, ông Colson đã gia nhập Kitô giáo và trở thành mục sư làm tuyên úy nhà tù. Là một diễn giả hùng biện,  đã từng nhận 15 bằng tiến sĩ danh dự và giải thưởng Templeton vì có công trong việc thăng tiến tôn giáo, ông đã viết trên 30 cuốn sách, mà phần lớn là những thu thập từ những bài nói chuyện của ông trên đài phát thanh. Trong một tuyển tập có tựa đề “Dance with deception” (Khiêu vũ với sự lừa dối) xuất bản năm 1993, ông Colson có kể lại một câu chuyện thật xảy ra trong một giờ toán tại một trường trung học ở Chicago. Buổi sáng hôm đó, thay vì học hình học, các học sinh được dạy cho một bài học đắt giá về bạo động.
Khi giáo sư đang thu bài làm, có hai học sinh không rõ từ đâu đi vào lớp. Hai cậu rút dao ra và tấn công một học sinh trong lớp. Chỉ trong giây lát, nạn nhân té xuống sàn nhà, mình mẩy đầy máu me. Chuyện thanh toán giữa các học sinh như thế rất thường xảy ra trong các trường học ở Mỹ.
Mục sư Colson cho biết: theo một cuộc nghiên cứu có tựa đề “National Education Goals” (những mục tiêu của nền giáo dục toàn quốc), có đến một phần ba học sinh lớp 8 không biết làm tính cộng khi đọc giá các món ăn trên thực đơn; một phần ba học sinh lớp 11 không thể viết được một đoạn văn cho đàng hoàng để nói về mình, chứ đừng nói đến chuyện lịch sử hay văn chương.
Nhưng ở lớp nào, học sinh Mỹ cũng đều rất giỏi về đánh lộn. Cuộc nghiên cứu nói trên cho thấy một tỷ lệ đáng báo động về tình trạng bạo động trong trường học. Vào thập niên 1990, cứ 5 học sinh lớp 12 thì có một em bị thương tích vì nạn bạo động trong trường. Trong nhiều trường hợp, những người tham gia vào cuộc bạo động có xử dụng vũ khí. Ngày nay, dường như rất nhiều học sinh Mỹ khi đến trường đều mang theo trong cặp dao nhọn, dao lam hay vỏ chai bia. Nhiều trường đã phải xử dụng kiểm soát an ninh khi học sinh vào trường.
Theo ông Colson, sở dĩ học sinh ngày càng bạo động và trường học phải gia tăng các biện pháp kỷ luật là vì tại Hoa kỳ quan niệm về quyền và quyền bính đã hoàn toàn thay đổi. Trước kia, theo cái nhìn truyền thống, trường học được xem như một cánh tay nối dài của gia đình: thày cô cũng có quyền trên học sinh như chính cha mẹ các em. Nhưng kể từ đầu thập niên 1960, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã đưa ra một loạt quyết định dành cho học sinh nhiều quyền như người trưởng thành. Chẳng hạn năm 1967, Tối Cao Pháp Viện đưa ra phán quyết rằng bất cứ trường nào muốn có biện pháp kỷ luật đối với một học sinh, trường đó cần phải thông báo và nhìn nhận quyền của học sinh được có luật sư bào chữa. Dĩ nhiên, phán quyết này giúp ngăn ngừa được một số lạm quyền của trường học, nhưng đồng thời lại cổ võ cho việc thả lỏng kỷ luật trong trường học. Các cuộc tranh tụng giữa học sinh và thày cô ngày càng nhiều. Và trong nhiều trường hợp, thày cô bị trói tay. Sợ bị lôi kéo vào những vụ kiện tụng tốn kém, các thày cô không dám áp dụng kỷ luật. Học sinh lúc nào cũng dám nói thẳng với thày cô: “thày cô không thể cho tôi nghỉ học đâu!”
Theo mục sư Colson, một khi trường học thả lỏng kỷ luật, không quan tâm đến việc dạy dỗ về những giá trị nhân bản nền tảng như phép lịch sự, sự tôn trọng phải có đối với người khác và nhứt là sự phân biệt giữa thiện và ác, giữa phải và trái thì dĩ nhiên học sinh có rơi vào con đường bạo động cũng là chuyện đương nhiên. Cuộc sống nào cũng có khó khăn và thách đố. Với những người được giáo dục để cư xử như một con người bình thường thì việc giải quyết các khó khăn và vấn đề trong cuộc sống luôn đòi hỏi phải có phấn đấu và hy sinh. Nhưng với những người không màng đến bất cứ một giá trị đạo đức và nhân bản nào thì bạo động là con đường duy nhứt để giải quyết vấn đề. Một cách cụ thể, cứ gặp bế tắc trong cuộc sống thì xách súng đến trường học, chợ búa hay chỗ đông người để bắn loạn xà ngầu, ai có chết cũng thây kệ! Cứ gặp thất bại thì cứ đổ lỗi cho người khác và gài bom để giết người, bất kể họ là ai!
Mahatma Gandhi (1869-1948), cha đẻ của chủ trương tranh đấu bất bạo động có nói: “Cội rễ của bạo động là: giàu có mà không làm việc, thụ hưởng mà không có lương tâm, có kiến thức mà thiếu nhân cách, buôn bán mà thiếu đạo đức, khoa học mà thiếu nhân tính, thờ phượng mà thiếu hy sinh, chính trị mà không có nguyên tắc”. Lẽ ra, các chính trị gia và các nhà giáo dục tại Hoa kỳ nên lấy những lời trên đây để nghiền ngẫm khi muốn giải quyết tận gốc rễ nạn bạo động trong xã hội. Khi xảy ra cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, chính phủ Hoa kỳ dưới thời tổng thống G.W Bush đã đáp trả theo nguyên tắc “mắt đền mắt răng thế răng”. Cuộc xâm lăng Iraq không những tốn kém, gây tổn thất về vật chất lẫn nhân mạng cho nhiều phía mà còn trở thành mảnh đất mầu mỡ cho phong trào Al Qaeda chiêu dụ thêm chiến sĩ. Cho đến nay cuộc truy lùng Al Qaeda cho đến tận sào huyệt ở Afghanistan cũng vẫn chưa thực sự tiêu diệt được phong trào khủng bố quốc tế. Sau vụ thảm sát tại trường tiểu học Sandy Hook, thành phố Newtown, tiểu bang Connecticut dạo tháng 12 năm ngoái, giải pháp được đưa ra  lại cũng là “lấy bạo động chống bạo động” bằng cách trang bị súng ống cho các trường học. Bao lâu cội rễ của bạo động trong xã hội chưa được nhận diện, thì có lẽ cuộc chiến chống bạo động tại Hoa kỳ còn lâu mới chấm dứt và đất nước này khó có thể trở thành một nơi an toàn để sống.
Liền sau cuộc đánh bom trong cuộc chạy việt dã tại thành phố Boston, tổng thống Barack Obama có lẽ đã nhìn ra vấn đề chăng khi ông đến tham dự một buổi lễ cầu nguyện liên tôn tại nhà thờ chính tòa Holy Cross ở Boston. Cùng với ông, các vị lãnh đạo tôn giáo đều nhấn mạnh đến sức mạnh của tình thương. Tình thương đã được thể hiện qua tình liên đới của người dân Boston liền sau cuộc khủng bố. Chỉ có tình thương mới có thể chiến thắng được bạo động. Có lẽ đó là sứ điệp mà bên kia thảm kịch đau thương, người Mỹ nào cũng đều có thể lắng nghe được.
Sự thịnh vượng giàu có và các tiện nghi vật chất không đương nhiên làm cho cuộc sống con người được an toàn. An toàn đích thực trong xã hội và trước tiên trong con người là khi con người cảm nhận được tình thương và thể hiện tình thương đối với mọi người xung quanh.
Tôi vẫn luôn tự nhủ phải sống như thế để trong từng bước đi, dù ở đâu và trong hoàn cảnh nào, cũng có thể cảm thấy an bình và an toàn.




Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016

Thái Lan và tội khi quân


4.11.16

Toàn dân Thái Lan đang thương khóc Quốc vương Bhumipol Adulyadei, người vừa băng hà hôm 13 tháng 10 vừa qua, hưởng thọ 88 tuổi. Với 70 năm trị vì, ông được xem là quốc vương có thời gian cai trị lâu nhất thế giới và dĩ nhiên cũng chi phối mọi khía cạnh trong cuộc sống của người dân Thái. Nhiều người tôn thờ ông gần như một vị thần. Trong  bản tin chính thức về sự băng hà của nhà vua được phổ biến trên tất cả mọi đài truyền hình tại Thái Lan loan báo rằng nhà vua đã “về trời”. Xuất hiện sau bản tin, Thủ tướng Thái Prayut Chan-o-cha, một tướng lãnh đã lên cầm quyền sau cuộc đảo chính hồi năm 2014, công bố một năm để tang cho nhà vua và yêu cầu người dân Thái ngưng mọi cuộc vui trong vòng 30 ngày.
Ngày hôm sau, long thể của Vua Bhumipol được di chuyển từ Bệnh viện Siriraj ở Thủ đô Bangkok về cung điện để được tẩm liệm theo nghi thức truyền thống của dân tộc. Dân chúng sắp hàng trong các đường phố, ngồi hàng giờ dưới nắng nóng để chờ đón xe chở thi thể nhà vua về cung điện. Với sắc phục màu đen, hầu như người dân Thái nào cũng bày tỏ sự thương khóc về sự ra đi của vị quốc vương kính yêu của họ. Nhưng trong khi đa số khóc thương một cách âm thầm lặng lẽ thì cũng không thiếu những thành phần cực đoan phẫn nộ và lên án tất cả những ai không bày tỏ sự thương tiếc một cách công khai và mãnh liệt như họ. Họ xem đó như một thái độ thiếu tôn trọng đối với nhà vua. Hầu như ngày nào cũng có những người muốn “kiếm chuyện” để tấn công những ai không có cùng một cung điệu thương khóc đối với nhà vua như họ.
Ngày 14 tháng 10 vừa qua, tức một ngày sau khi quốc vương Bhumipol băng hà, khi màn đêm vừa buông xuống, một đám đông giận dữ đã tập trung bên ngoài một tiệm buôn ở Phuket, một trung tâm du lịch nổi tiếng của Thái Lan. Mặc toàn màu đen, họ yêu cầu phải bắt giữ một người thanh niên đang có mặt trong cửa tiệm. Sở dĩ đám đông này muốn bắt giữ người thanh niên vì anh bị tố cáo đã phổ biến trên các trang mạng xã hội những lời lẽ bất kính đối với hoàng gia. Cảnh sát đã phải can thiệp để đám đông không ùa vào bên trong cửa tiệm. Cuộc giằng co giữa cảnh sát và đám đông đã kéo dài đến 3 giờ sáng. Bị tố cáo có hành vi phạm thượng đối với hoàng gia, người thanh niên chỉ được trả tự do vì không có chứng cớ rõ rệt. Những người tổ chức cuộc săn lùng những kẻ phạm tội khi quân không hài lòng với kết quả trên đây. Họ thề thốt sẽ không bỏ cuộc.
Theo luật “khi quân” hiện hành của Thái Lan, những người xúc phạm đến hoàng gia có thể bị phạt tù đến 15 năm. Năm 2015, bị truy tố về 6 tội phạm thượng một lúc, một người đàn ông phải đối diện với một bản án 60 năm tù. Sau khi người này đã nhận tội, bản án giảm xuống còn 30 năm. Luật chống khi quân bị nhiều người trong nước cũng như thế giới chỉ trích vì không được định nghĩa một cách chính xác và giải thích một cách mơ hồ. Những vụ xét xử lại không diễn ra một cách công khai.
Sau vụ Phuket, một chuyện tương tự cũng xảy ra tại tỉnh Phang Nga. Một đám đông “bảo hoàng hơn vua” đã bao vây một tiệm buôn và yêu cầu người con trai của người chủ tiệm phải xin lỗi vì người thanh niên đã có thái độ bất kính đối với nhà vua. Thật vậy, trên một trang mạng xã hội, người thanh niên này đã bình luận rằng việc thương khóc nhà vua vừa mới băng hà là thái quá. Người thanh niên tự hỏi là liệu người dân Thái có bày tỏ một sự thương khóc như thế đối với cha của họ không. Một lần nữa, cảnh sát phải can thiệp để giải tán đám đông.
Sau hai vụ trên đây, hàng loạt biến cố như thế cũng tiếp diễn tại nhiều nơi khác. Tại Koh Samui, một phụ nữ 43 tuổi bị tố cáo phỉ báng hoàng gia đã bị cảnh sát buộc phải phủ phục trước chân dung của nhà vua trước sự chứng kiến của một đám đông đầy phẫn nộ.
Tại Thủ đô Bangkok, một phụ nữ có tuổi đã bị hành khách xua đuổi khỏi một chuyến xe buýt vì bà bị tố cáo có thái độ bất kính đối với hoàng gia. Khi xuống xe, bà còn bị một kẻ qua lại tát cho một cú nẩy lửa. Khi cảnh sát và quân đội đến, người vừa tấn công người phụ nữ và hành khách trên chuyến xe buýt yêu cầu phải bắt giữ bà. Sau này, người ta mới biết người phụ nữ cao niên này mắc bệnh thần kinh.
Tại Chonburi, một đội dân phòng cũng săn đuổi một thanh niên vì người này đã phổ biến trên Facebook những lời lẽ xúc phạm đến hoàng gia. Đám dân phòng đã kéo người thanh niên ra khỏi nhà, đánh đập anh và buộc anh phải khấu đầu trước một bức chân dung của nhà vua rồi sau đó đá vào mặt anh.
Nhiều người Thái đã bày tỏ sự ủng hộ đối với những đám đông “bảo hoàng” trên đây. Họ đồng hóa hoàng gia với tinh thần dân tộc. Ái quốc là bày tỏ sự tôn kính đối với nhà vua và hoàng gia. Trên các trang mạng xã hội, nhiều người xúi dục đám đông tấn công những người phạm tội khi quân. Có người còn gợi ý nên đốt các cửa tiệm nào chứa chấp những người có thái độ bất kính đối với hoàng gia. Một số khác yêu cầu họ rời khỏi Thái Lan.
Sự đồng hóa tinh thần dân tộc với hoàng gia không phải là một não trạng chỉ mới phát sinh gần đây trong lịch sử Thái Lan.
6 tháng 10 vừa qua là ngày kỷ niệm 40 năm cuộc thảm sát sinh viên thuộc trường Đại học Thammasat. Đây là một trong những biến cố đen tối nhất trong lịch sử Thái Lan. Cuộc thảm sát đã diễn ra do có những tin đồn về thái độ bất kính của các sinh viên đối với hoàng gia. Được trang bị tận răng và được các nhóm bán quân sự bảo hoàng yểm trợ, lực lượng an ninh chính phủ đã tấn công và bao vây các phân khoa đại học trong khu lịch sử của Thủ đô Bangkok.
Theo các số liệu chính thức, cuộc tấn công đã làm cho 46 sinh viên thiệt mạng. Trong thực tế, số người bị sát hại lên đến hơn cả trăm người. Một số sinh viên bị bắn chết ngay trong các khu học xá; một số khác thoát thân nhờ nhảy xuống sông Chao Phraya bên cạnh, nhưng lại bị các lực lượng hải quân bắn chết. Một số khác nữa bị các toán dân phòng đánh chết khi họ tìm cách trốn chạy; thi thể của họ bị dày xéo và thiêu đốt. Kéo dài hàng giờ, cuộc thảm sát chỉ chấm dứt khi những đám mây đen tạo ra những trận mưa tầm tả.
Một trong những tấm hình ghi lại cuộc thảm sát cho thấy một sinh viên đã bị đánh đập, thi thể vô hồn của anh bị treo lên cây, chiếc cổ bị kéo dài ra. Một đám thanh niên và thiếu niên đứng nhìn với vẻ đắc thắng. Trên mặt họ nở ra nụ cười đầy hoan hỉ. Đối với nhiều người Thái, bức hình thô bỉ này đã trở thành một biểu tượng hùng hồn nói lên sự bạo động dưới bề mặt có vẻ yên lành của họ.
Bạo động thường xảy ra khi dân chúng tin rằng ý thức hệ chính thức của quốc gia là “Dân tộc, Tôn giáo và Nhà vua là một” bị đe dọa. Năm 2005, một người đàn ông bị bệnh thần kinh đã dùng búa đập phá một bức tượng Bà La Môn tại Đền thờ Erawan ở trung tâm thủ đô. Một đám côn đồ đã tấn công bệnh nhân và đánh đập ông đến chết.
Tinh thần dân tộc và óc bảo hoàng đã được phong trào “Áo Vàng” khai thác triệt để trong cuộc tranh đấu chống lại Thủ tướng Thaksin Shinawatra. Ông cựu thủ tướng này bị chỉ trích vì “bán đứng quốc gia” khi bán các cổ phần của gia đình ông trong công ty viễn thông Shin Corporation cho công ty Temasek Holdings có trụ sở tại Tân Gia Ba. Ông cũng bị tố cáo có thái độ bất kính đối với nhà vua. Quân đội đã chộp lấy cơ hội này để tiến hành đảo chính và lật đổ ông hồi năm 2006.
Sau đó, khi phong trào “Áo Đỏ” vốn ủng hộ ông Thaksin tổ chức xuống đường, họ liền bị chụp cho cái mũ chống hoàng gia. Tuy không có nền tảng, lời cáo buộc này đã được sử dụng tối đa để bôi nhọ phong trào “Áo Đỏ” và kêu gọi dân chúng tẩy chay họ.
Trong cái nhìn chung của nhiều người Thái, hoàng gia và tinh thần dân tộc gắn liền với nhau đến độ bất cứ ai không bảo hoàng đều bị xem như không phải là người Thái. Vì bị dán cho nhãn hiệu “không phải là người Thái”, những người đấu tranh trong phong trào “Áo Đỏ” đã bị đè bẹp. Đã có khoảng 90 người của phong trào này bị giết chết trong những cuộc hành quân của quân đội để giải tán các cuộc biểu tình của họ hồi năm 2010. Một số người bị một nhóm bắn sẻ bắn vào đầu. Những người không ủng hộ phong trào “Áo Đỏ” không biểu lộ bất cứ sự phẫn nộ nào.
Năm 2014, những người “bảo hoàng và ái quốc” đã tổ chức những cuộc biểu tình chống lại chính phủ của nữ Thủ tướng Yingluck Shinawatra. Chiếc “Áo Vàng” bảo hoàng được thay thế bằng chiếc áo “ái quốc” với ba màu đỏ, trắng và xanh. Phong trào này đưa ra những lời kêu gọi đồng hóa hoàng gia với tinh thần dân tộc. Cuộc đụng độ giữa phe “bảo hoàng & ái quốc” và những người bị chụp mũ “không phải là người Thái” đã khiến cho 28 người bị thiệt mạng.
Vua Bhumipol băng hà sau một thập niên đầy sóng gió và chia rẽ chính trị tại Thái Lan. Vai trò của hoàng gia và óc bảo hoàng tại đất nước được mệnh danh là “Thái bình” này là những khía cạnh quan trọng trong cuộc xung đột. Đây là một sự kiện mà người dân Thái không được phép thảo luận công khai. Không những vì luật chống khi quân, mà còn vì sự nhiệt tình của phe bảo hoàng.
Chính phủ quân phiệt luôn kiểm soát các nhóm dân phòng và cảnh cáo dân chúng không được phép tự động giải quyết các cuộc xung đột, mà phải trình báo lên chính quyền những hành vi chống lại hoàng gia. Tuy nhiên, chính phủ lại đưa ra những tín hiệu hoàn toàn trái ngược. Bộ trưởng Tư pháp xem ra bật đèn xanh cho đám côn đồ “tự phát” khi tuyên bố rằng bất cứ ai thóa mạ hoàng gia đều phải bị “xã hội” trừng trị. Ông cũng kêu gọi người Thái sống ở nước ngoài hãy xách nhiễu những người bị xem là có lập trường chống lại hoàng gia.
Lời lẽ mà những người bảo hoàng tung ra thật đáng lo ngại. Aum Neko là một người phụ nữ Thái hiện sống lưu vong tại Pháp. Trên các trang mạng xã hội, bà đã nhận được những lời đe dọa sẽ bị thủ tiêu bằng súng. Một nhóm bảo hoàng tự xưng là “Tổ chức thu dọn rác rưởi” đã tung ra lời kêu gọi hạ sát ông Neko. Vì an toàn, bà Neko đã phải rời bỏ nước Pháp.
Một băng hình được phổ biến trên Internet ghi lại hình ảnh của một người đàn ông đang lái xe, vừa thương khóc Quốc vương Bhumipol vừa đe dọa sẽ bắn giết bất cứ ai tỏ ra bất kính với nhà vua.
Cuộc xung đột chính trị đầy “màu sắc” tại Thái Lan trong 10 năm qua đã xé nát các quan hệ giữa các cộng đồng, bè bạn và ngay cả gia đình. Người Thái nhìn vào màu áo “ Đỏ” hay “Vàng”  để phân biệt bạn thù.
Với sự ra đi của nhà vua, màu đen của tang chế hiện đang bao phủ lên toàn xứ sở và nguồn cảm xúc đang dâng cao. Nhiều người lo sợ rằng đất nước “Thái bình” này sẽ sống lại những giờ phút đen tối nhất của họ.
(theo: http://thediplomat.com/2016/10/the-darker-side-of-thai-royalism)



Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2016

Khi sự tử tế trở thành “hiện tượng lạ”


Chu Thập
28.10.16
Mới đây, Đài truyền hình SBS của Úc Đại Lợi đã phỏng vấn một cặp vợ chồng tự nhận là thành viên của một đội tử thần trong chiến dịch bài trừ ma túy của tổng thống Phi Luật Tân, ông Rodrigo Duterte. Tính đến nay, số người buôn bán và nghiện ma túy bị cảnh sát và các đội dân phòng hạ sát đã lên đến gần 3000 người. Riêng cặp vợ chồng được Đài SBS phỏng vấn cho biết đội tử thần mà họ thành viên đã bắn hạ gần 800 người.
Trong một băng hình được cho chiếu lại trên chương trình Dateline của Đài SBS, với khuôn mặt được che kín, cặp vợ chồng này nói rằng họ hành động như những tên giết mướn. Chỉ cần một tấm hình có ghi địa chỉ, họ liền xách súng đến nơi và hạ thủ mà không cần biết nạn nhân là ai. Giá của mỗi mạng người mà cặp vợ chồng này nhận được là 100 Mỹ kim.
Người vợ giải thích về “nghề” mới của mình: “Người mà tôi đã hạ sát là một kẻ tồi tệ. Nếu để cho hắn sống, hắn sẽ phá hoại nhiều cuộc đời. Do đó, hắn phải chết và đây không phải là lỗi của tôi”. Tuy nhiên, mặc dù tiền bạc có rủng rỉnh nhờ nghề giết mướn này, cặp vợ chồng này cũng nhìn nhận rằng họ mang mặc cảm tội lỗi vì hành động của mình. Người vợ thú nhận: “Về nhà, bạn nhìn thấy con cái bạn và bạn cảm thấy có lỗi”.
Trong khi những người như cặp vợ chồng này ăn nên làm ra và được Tổng thống Duterte cam kết bảo vệ tối đa, thì kể từ tháng 6 tới nay, hầu như ngày nào cũng có những gia đình phải chịu cảnh tang chế vì mất người thân. Giữa cảnh bắn giết vô tội vạ, biết bao nhiêu khách qua đường cũng bị hạ sát. Ngay cả trẻ con cũng không được tha. Dạo tháng 8 vừa qua, một bé gái 5 tuổi đã bị hạ sát khi mẹ em đang giặt quần áo. Mục tiêu mà sát thủ của đội tử thần nhắm tới là ông ngoại của đứa bé. Nhưng ông này đã tẩu thoát và đứa bé đã chết thay cho ông của mình. Thà bắn lầm hơn bỏ sót, những tên giết mướn của Tổng thống Duterte có lẽ đã hành động theo lệnh ấy. Sẽ chẳng có thứ công lý nào được áp dụng với họ vì ông tổng thống muốn đứng trên pháp luật này đã từng cam kết với họ: “Hãy làm bổn phận của bạn và trong khi thừa hành nếu bạn có giết 1000 người đi nữa, tôi sẽ bảo vệ bạn”.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ xem ra chẳng còn hào hứng nữa. Ông trùm “Trump” ngày càng thua và thua đậm. Ngoại trừ phép lạ, cứ đà này thì có phải bỏ ra một đồng để ăn một ngàn đồng, tôi cũng không dại gì mà “bắt” ông Trump. Tạm nghỉ chơi với ông và nước Mỹ, tôi quay về Phi Luật Tân là nơi tôi đã sống và làm việc hơn 15 năm. Câu chuyện của cặp vợ chồng giết mướn trên đây khiến tôi thấy thương người dân Phi hơn bao giờ hết. Tôi thương họ vì tôi mang nợ với họ rất nhiều.
Hơn nửa cuộc đời lưu lạc ở xứ người, tôi sống theo nguyên tắc “nhập gia tùy tục”. Ở La Mã thì sống như người La Mã. Ở Ba Lê thì cũng cố gắng làm như người Ba Lê. Ở Phi Luật Tân trên 15 năm, tôi cũng đã cố gắng sống như người Phi. Sống ở đây là tìm hiểu văn hóa, phong tục tập quán để hòa nhập với họ và nhứt là học những điều tốt đẹp của họ. Trong xã hội nào mà chẳng có người tốt, kẻ xấu. Thành ra, một ông tổng thống  Duterte có thói côn đồ, xem mạng người như rác, ăn nói sảng...chắc chắn không đại diện cho đa số người dân Phi mà tôi đã từng sống với. Dù đến Bắc Kinh mới đây ông có long trọng tuyên bố “tôi ly khai với Mỹ” và bắt tay với Trung Cộng và Nga để hình thành một “cái trục” chống lại các nước Tây Phương đi nữa, đó cũng chỉ là một lời tuyên bố sảng được ông đưa ra trong một cơn lên đồng hơn là tiếng nói chung  đại diện cho 98 triệu người dân Phi. Người Phi mà tôi đã từng quen biết và sống với là những con người có những đức tính “cao quý” như trước năm 1975 ai đó đã dùng danh nghĩa của một tác giả ngoại quốc để viết về “người Việt cao quý”.
Đức tính đầu tiên mà tôi muốn đề cao nơi người dân hải đảo này là sự vui tính, hồn nhiên, yêu đời, lạc quan. Họ thích ca hát. Ở đâu họ cũng có thể cười đùa được. Ngay ở nghĩa địa, người ta cũng đờn ca xướng hát được. “Bahala na” (Tới đâu hay tới đó) quả là một triết  lý sống dễ thương. Hơi đâu mà lo chuyện bò trắng răng!
Vui vẻ lạc quan và thích đùa cợt, người Phi như tôi biết phần đông đều là những người lương thiện. Cứ thử leo lên phương tiện di chuyển công cộng thông dụng nhứt ở Phi Luật Tân là chiếc xe “Jeepney”, du khách sẽ chứng kiến sự lương thiện của dân tộc này. Đa số tài xế của loại xe này đều là những người nghèo. Một mình ông làm đủ mọi thao tác trên xe, từ việc hỏi xem hành khách đi đâu, xuống nơi nào đến việc thối tiền. Người tài xế “Jeepney” nào cũng có một trí nhớ phi thường. Ông nhớ rõ từng khuôn mặt ngồi phía sau để cho ai xuống chỗ nào và thối tiền lại không thiếu một xu. Nhưng đáng khâm phục nhứt là hành khách. Lên xe người ta không giành giựt, lấn lướt hay dẫm đạp lên nhau đã đành, mà cũng chẳng có bất cứ ai tìm cách qua mặt người tài xế để ăn quịt. Khi người tài xế thối tiền lại cho ai đó, người phía trước sẽ từ từ chuyền đến cho người ngồi ở phía sau.
Ngày 20 tháng 9 vừa qua, báo The Inquirer, một trong những tờ báo có đông độc giả tại Phi Luật Tân, phản ánh đúng tâm trạng của đa số dân Phi khi đặt câu hỏi: “Ai bảo không có người lương thiện trong Quốc hội?” Rồi báo này lại trả lời: cũng có ít nhứt hai người lương thiện trong Quốc hội và hai người này lại là hai người lau dọn trong tòa nhà Quốc hội. Hai người này đã lượm được khoảng 20 ngàn tiền Phi mà có lẽ một nhà lập pháp nào đó đã đánh rơi trên sàn nhà. Cả hai đã trao lại cho vị dân biểu.
Theo Đài CNN, dịp Giáng Sinh năm ngoái, một tài xế Taxi tại một tỉnh lẻ đã lượm được một số tiền Phi trị giá khoảng gần 10 ngàn Mỹ kim trên ghế sau của chiếc Taxi. Người tài xế 53 tuổi này đã bằng mọi giá dò la để tìm cho bằng được người hành khách và đã trao lại số tiền này cho họ. Những câu chuyện “lượm được và trao lại” cho khổ chủ không phải là hiếm trong xã hội Phi. Dĩ nhiên, du khách đến Phi Luật Tân thường được cảnh cáo phải luôn đề cao cảnh giác để không bị móc túi, trấn lột hay lường gạt. Nghèo nàn sinh ra đạo tặc là chuyện khó tránh khỏi trong bất cứ xã hội nào. Nhưng nhìn chung, như là một nhân chứng sống, tôi nhận thấy đa số người dân Phi đều tỏ ra lương thiện.
Người Phi như tôi biết cũng tỏ ra dễ dãi và cảm thông. Tôi nhận thấy đức tính cao quý này qua cách lái xe của họ. Đường sá chật chội, luật lệ giao thông lỏng lẻo. Nhưng người Phi lại tỏ ra nhẫn nhục, chịu đựng, chớ không hung hăng và ăn miếng trả miếng như tôi thường thấy ở Úc. Xe có chết máy, nổ lốp, bạn dừng lại giữa đường để sửa, người đến sau nhẫn nại chờ đợi chớ không la ó hay nguyền rủa ai cả. Đặc biệt là những nơi mà luật giao thông buộc phải nhường đường, bạn có từ từ ló đầu ra, chẳng có ai “nộ khí xung thiên” hay  lợi dụng cơ hội để tung vào bạn hầu kiếm tiền bảo hiểm cả!
Nhưng trong những đức tính cao quý của người Phi, nổi bật nhứt theo tôi có lẽ là tấm lòng tử tế. Tất cả những người tỵ nạn Việt Nam nào đã từng tấp vào một làng đánh cá của người Phi, đã từng sống trong các trại tỵ nạn Palawan và Bataan và nhứt là những người sau năm 1990 bị rớt thanh lọc và được Phi Luật Tân cho ở lại để buôn bán làm ăn...đều đã cảm nhận được tấm lòng tử tế ấy.
15 năm sống và làm việc tại Phi và với người Phi, tôi đã học được nhiều điều tốt đẹp nơi họ. Một cách nào đó, nhân cách của tôi đã được nhào nặn và uốn nắn một phần nhờ những năm sống ở quốc gia hải đảo này. Đó là món nợ ân tình của tôi đối với người dân Phi. Chính vì vậy mà tôi cảm thấy thương và lo ngại cho tương lai của đất nước này khi họ bị cai trị bởi một ông tổng thống xem việc bắn giết như một cuộc săn bắn vốn là thú tiêu khiển ưa thích của ông. Tôi lo sợ cho dân tộc Phi là bởi nhìn vào xã hội Việt Nam ngày nay. Chính sách cai trị  độc tài bằng bàn tay sắt, nhứt là bàn tay sắt đi kèm với dối trá và tham nhũng, đương nhiên chỉ làm cho xã hội ra bại hoại mà thôi. Nói đến xã hội Việt Nam hiện nay, ai mà không nghĩ ngay đến những cụm từ như “khủng hoảng nhân cách”, “lỗ hổng đạo đức”, sự “vô cảm”. Còn nếu so sánh với các nước khác, nhứt là với nước láng giềng Phi Luật Tân, những người đã từng sống ở Phi như tôi không thể không nói rằng sự tử tế không những đã trở thành quý hiếm mà còn biến mất khỏi từ điển của người Việt Nam.
Chính vì quý hiếm mà mới đây, theo Đài Á Châu Tự Do(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/lack-of-honest-) khi có một MC Phan Anh nào đó chỉ trong vòng một, hai ngày đã quyên góp được một số tiền kỷ lục để cứu trợ nạn nhân bão lụt ở miền Trung, nhiều người đã xem đây như “một hiện tượng lạ”. “Một hiện tượng lạ” là bởi vì, theo Đài Á Châu Tự Do, “rất nhiều nhà bình luận, nhà văn hóa từng có những bài viết trong đó nêu ra ý kiến rằng có vẻ như sự tử tế đang mất dần trong xã hội Việt Nam. Sự vô cảm, bàng quang trước những mất mát, khó khăn của người khác dường như cũng bắc cầu với sự sợ hãi và mất niềm tin. Cái xấu và cái tốt, thiện và ác cũng khó có được sự phân ranh rạch ròi”. Như Tiến sĩ Nguyễn Quang A, được Đài Á Châu Tự Do trích dẫn, đã nhận định: sự kiện MC Phan Anh đã tạo ra một hiện tượng trong xã hội Việt Nam là bởi vì “đất nước này là một đất nước kỳ quái. Vì nó thiếu thần tượng. Người ta muốn có những thần tượng, muốn có những người tử tế. Có nghĩa là cái tử tế không có. Đó là một điều đáng buồn”.
Cũng theo Đài Á Châu Tự Do, “một cư dân mạng khác thì gọi đây là “hội chứng thèm khát người tử tế” vì dân chúng lâu nay hiếm thấy một tấm gương đủ trong mà soi. Nhìn hệ thống lãnh đạo từ trên xuống dưới chỉ thấy tham nhũng và vụ lợi nên Phan Anh xuất hiện như một vì sao sáng chói giữa bầu trời tối đen nên được tung hô và kỳ vọng”.
Theo dõi “hiện tượng lạ” này, ít ra tôi cũng còn cảm thấy có chút  lạc quan cho tương lai của xã hội Việt Nam. Tôi hy vọng vết dầu loang của tử tế  vốn là sức mạnh cải  tạo xã hội sẽ từ từ thấm vào tâm khảm của nhiều người Việt nam để, cũng như tôi đã từng chứng kiến tại Phi Luật Tân, sự cao quý sẽ được trả lại cho dân tộc Việt Nam. Xét cho cùng, cả một dân tộc hay từng cá nhân chỉ thực sự cao quý hoặc để mượn lại khẩu hiện của ông “trùm” Trump,  chỉ thực sự “vĩ đại” khi biết lấy sự tử tế làm bản sắc của mình.




Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

Ở sao cho vừa lòng người…



Chu Thập
16.04.13

M. Thatcher 1925-2013
Trong những ngày vừa qua, tôi cảm thấy như chính mình bị xúc phạm mỗi khi nghĩ đến những phản ứng của một số người Anh trước sự ra đi của cựu thủ tướng Margaret Thatcher. Người reo hò, kẻ mở rượu champagne để ăn mừng. Không thiếu những người chửi bới, nguyền rủa. Bài ca “Ding-Dong! The Witch is dead” (Ding-Dong, mụ phù thủy đã chết) lại được dịp cho phát đi phát lại, ngay cả trên đài BBC. Có người còn tuyên bố sẽ nhảy nhót trên mộ của bà.
Dù có bị nguyền rủa đến đâu, trong sự yên giấc nghìn thu, có lẽ bà Thatcher chẳng còn màng đến lời khen tiếng chê. Nhưng quan tài của bà còn đó. Con cháu và người thân của bà còn đó. Họ đau khổ biết chừng nào! Trước sự ra đi của bất kỳ con người nào, người Việt Nam chúng ta vẫn luôn bày tỏ sự tôn trọng qua câu nói “nghĩa tử nghĩa tận”. Người Tây Phương cũng có một cách cư xử tương tự. Ngay từ thế kỷ thứ Tư trước Công Nguyên, ngạn ngữ Latinh mà người Tây Phương vốn thấm nhuần cũng nói rằng “Về người chết, nếu có nói điều gì thì chỉ nên nói tốt mà thôi” (De mortuis nil nisi bene dicendum). Nhiều người Anh có lẽ đã quên mất câu nói tương tự trong Anh Ngữ: “Speak no ill of the dead”.
Sở dĩ tôi cảm thấy buồn về cách cư xử “thiếu văn minh” của một số người Anh là vì, cho dẫu không tôn bà Thatcher lên hàng “thần tượng”, tôi vẫn thấy nơi bà có nhiều điều đáng tôn trọng và học hỏi. Hẳn phải là một chính trị gia có thực tài, bà mới được dân chúng Anh tín nhiệm để bầu làm thủ tướng đến 3 nhiệm kỳ liên tiếp. Người ta có thể không đồng ý về đường lối cai trị và các chính sách của bà. Người ta cũng có thể không đồng ý trước sự cứng rắn của bà. Nhưng không ai dám bảo bà là một nhà độc tài. Chính bà đã can đảm đối đầu với nhà độc tài Galtieri của Á Căn Đình khi ông này ngang nhiên đưa quân xâm chiếm đảo Falkland của Anh Quốc. Chính bà là người đã tích cực hợp tác với Hoa Kỳ dưới thời cố tổng thống Ronald Reagan để giựt sập bức tường Berlin, giải thế các chế độ cộng sản tại Đông Âu và Liên Xô và chấm dứt chiến tranh lạnh.
Bà xứng đáng để được mệnh danh là “Bà Đầm Sắt”. Như cựu ngoại trưởng Úc Alexander Downer đã giải thích về thái độ cứng rắn của bà, “cứng rắn không phải là một đức tính nếu bạn sai lầm và bất tài. Cứng rắn như thế là ích kỷ và cứng đầu” (x.The Sydney Morning Herald 13-14/4/2013). Theo ông Downer, cứng rắn nơi bà Thatcher là một đức tính, bởi vì bà đưa ra những chính sách đúng đắn. Đa số người Anh đã biểu đồng tình với các chính sách của bà cho nên mới tín nhiệm bà và để bà lãnh đạo đất nước trong ba nhiệm kỳ liên tiếp.
Cứng rắn nơi bà Thatcher cũng đồng nghĩa với can đảm. Bà không bao giờ đưa lá bài “phái tính” của bà ra mỗi khi bị tấn công. Bà chưa một lần gọi các đối thủ của mình là những người kỳ thị và khinh miệt phụ nữ. Bà chỉ nói rằng họ sai lầm. Vậy thôi.
Với tôi, sau thủ tướng Winston Churchill, bà Thatcher là một trong những thủ tướng vĩ đại nhứt trong lịch sử Anh Quốc. Vĩ đại là bởi lúc còn sống bà chấp nhận bị chống đối miễn là hành động theo sự thật, lẽ phải và lương tri, chứ không mị dân để tìm kiếm sự ủng hộ nhất thời.
Tôi thích nhận định của ký giả Catherine Mayer trên tạp chí Time số ra 22 tháng 4 này: Bà Thatcher “am hiểu điều mà người dân thường chờ đợi nơi các lãnh tụ chính trị: đó là họ phải ý thức rằng sống cuộc sống tử tế là điều đáng sống”.
Di sản mà cố thủ tướng Thatcher để lại sẽ được người dân Anh và thế giới tiếp tục mang ra mổ xẻ, tranh luận và ngay cả bôi bác. Nhưng riêng tôi, nếu có một bài học mà tôi cần rút ra từ triết lý sống, cách hành xử của người đàn bà này, thì bài học đó là: trong cuộc sống, chẳng ai có thể làm vừa lòng mọi người. Thánh thiện như Chúa Giêsu hay Đức Thích Ca vẫn có người thù ghét. Từ bi nhân ái như Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng không thiếu người không ưa thích. Có suốt một đời hy sinh phục vụ cho những người nghèo cùng khốn khổ nhứt như Mẹ Terexa Calcutta mà cũng không tránh khỏi những lời chỉ trích. Có khi càng sống theo lương tâm thì lại càng bị chê ghét và bỏ rơi. Bá nhân bá tính. Làm sao có thể làm vừa lòng mọi người một lúc. Có ai trên trần gian này mà chẳng có kẻ thù.  Người Việt Nam nào mà chẳng thuộc lòng câu ca dao:
“Ở sao cho vừa lòng người,
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.
Cao chê ngỏng thấp chê lùn,
Béo chê béo trục béo tròn,
Gầy chê xương sống xương sườn phơi ra”.
Chợt nhớ lại điển tích về cha con người buôn ngựa:
“Nhà họ Mã ngày trước chuyên nghề nuôi dạy ngựa và bán ngựa. Có một dạo gia đình ông suy sụp vì con ông bị bệnh nặng, đã vét hết tiền trong nhà mà con ông vẫn không khỏi. Ông bán hết số ngựa nuôi để thang thuốc cho con. Con ông sống được. Từ đó ông bắt đầu dành dụm, tằn tiện được một số tiền.
Ngày nọ Mã ông nghe ở Hương Lâm có bán một giống ngựa quý, ông đến nơi đó xem tướng ngựa thật kỹ, biết đó là giống ngựa hay, thuộc loại Hoàng Phiêu, mặc dù nó có phần hơi gầy. Mã ông thích quá, nên chịu mua với giá đắt. Ông về nhà bàn lại với con:
 -Phụ thân xem biết nó rất quý, dù hơi gầy, thuộc giống Hoàng Tuyết Phiêu của người Khương. Nhà ta gây được giống này sẽ làm giàu không mấy hồi. Ngặt vì xa ngót ngày đường, qua đèo truông e có cướp, nên cha con ta cùng đi.
Hai cha con họ Mã thử ngựa và ngả giá xong, tra yên cương, cha con đồng lên ngựa ra về, lòng thấy hoan hỉ.
Họ đi qua một xóm nhà, Mã ông khiêm tốn cho ngựa đi nước kiệu, dân làng đón ông lại nói:
 - Mã lão! Ông là người nuôi ngựa, sao không biết thương ngựa? Con ngựa gầy thế kia, còn cha con ông cọp ăn bảy ngày không hết, nỡ nào cả hai lại đè trên mình nó?
Ông Mã nói với con mình:
 - Họ nói phải đấy con ạ! Vậy cha nhường cho con cưỡi. Cha cầm cương cho. 
Thế là một mình Mã công tử ngồi ngựa, ông Mã đi bộ theo. Họ yên tâm đi xóm nhà khác, bây giờ trời đã khá trưa, những người ngồi mát trên đường thấy cảnh cha con họ Mã như vậy, họ kéo ra đón đầu ngựa, xỉ vả người con:
 - Ai dạy công tử về cách hiếu đạo như thế? Con thì ngồi ngựa kênh kiệu, để cha chạy bộ theo đổ mồ hôi! Qua cánh đồng kia có học hiệu Khổng Môn, chắc họ đánh công tử trào máu ra mất!
Mã công tử lật đật nhảy xuống ngựa, chắp tay thưa với cha:
- Họ nói phải đấy cha ạ! Nãy giờ con cũng khỏe rồi, cha hãy cưỡi nó cho đỡ mệt. Người cha lên ngựa đi, ngang qua "Khổng Môn học hiệu", một số học trò ở đó biết mặt ông già, chúng chạy lại đón ông nói: 
- Mã lão bá! Lão bá lâu nay mạnh giỏi chứ? Nghe nói lệnh lang lâu nay bệnh thập tử nhất sinh, nay mới vừa hơi bình phục lão bá để lệnh lang nhọc nhoài cho đành.
Mã lão nhảy xuống ngựa nhìn con rồi thì thầm:
- Kể ra họ nói cũng phải. Kể không còn bao xa, ta dắt ngựa đi vậy.
Hai cha con xuống ngựa dắt bộ, hồi lâu đến xóm khác, có ai đó nhìn ngựa rồi chửi:
 - Đúng là cha con một lão vô học. Đây là giống Hoàng Tuyết Phiêu, một loại thiên lý mã, mua về để cưỡi hoặc làm giống, nào phải mua về để thờ, sao có ngựa lại không cưỡi?
Cha con họ Mã thiếu điều muốn khóc. Lão nói với con:
- Cưỡi ngựa cũng bị chửi, mà không cưỡi cũng bị chửi! Ta chịu hết nổi! Thôi thả quách cho xong!
 Hai người dắt đi một đoạn cho khuất mắt mọi người, rồi tháo cương, cởi yên, đánh một roi, ngựa dong tuốt vào rừng mất dạng. Về đến nhà, bà cụ nghe đón đầu ngõ. Ông cụ thuật lại mọi chuyện. Bà cụ nghe qua đấm vào đầu bình bịch, vừa khóc vừa nói: 
- Ngu sao là ngu! Có bao nhiêu vét đi mua ngựa, rồi thả ngựa đi! Xưa nay miệng lưỡi thế gian. Việc mình mình cứ làm, chiều ý, nghe lời họ làm gì? Rồi đây lấy gì mà sinh sống, lấy gì mà cưới vợ cho con? Ngu ơi là ngu!...” 
(Theo Ngô Nguyên Phi, Thuật Xử thế của Người Xưa)
Dư luận thường hà khắc và ngay cả độc ác. Các chính trị gia đều biết rõ điều đó. Hầu như tuần nào kết quả các cuộc thăm dò về phản ứng của dân chúng đối với chính phủ và các đảng phải chính trị cũng đều được công bố. Trong một mức độ nào đó, đây là thước đo lòng dân. Các chính trị gia không thể nhắm mắt bịt tai trước sự phán xét của dư luận. Nhưng cũng có khi dư luận chỉ là một phản ứng “bầy đàn”: con người bị lèo lái và chạy theo đám đông hơn là suy nghĩ bằng chính cái đầu của mình. Nếu muốn thấy điển hình của một phản ứng bầy đàn và có điều kiện, có lẽ chúng ta chỉ cần nhìn vào tiếng khóc hay tiếng hoan hô ngợp trời của một đám đông ở Bắc Hàn. Trong trường hợp này, đạp trên dư luận mà bước tới quả là một thái độ can đảm. Chó sủa mặc chó, đường ta ta cứ đi!
Thực ra, lời khen và tiếng chê sẽ không có giá trị nếu như thiếu sự chính xác. Mà mức độ chính xác thì chỉ có thâm tâm của người nhận mới phán đoán được. Vì vậy, khen chưa hẳn tốt mà chê chưa hẳn xấu. Sự phê bình của người khác không phải để tôi kiêu ngạo hay dằn vặt chính mình mà để giúp tôi nhìn lại chính mình. Bởi lẽ, phê bình đúng giúp tôi kiện toàn những gì đang có trong khi phê bình sai giúp tôi trưởng thành hơn. Và trong một cách nhìn lạc quan với chút khôi hài thì khi còn là đối tượng để bị phê bình, thì có nghĩa là người khác còn “nhớ” đến mình, và mình vẫn còn có một chỗ “đứng” trên trái đất này.
Nói cho cùng, khi con người luôn sống cho sự thật, lẽ phải và lương tri, họ chẳng phải sợ người đời xa lánh, khinh chê hay thù ghét. Ở cốt lõi của lối sống ấy chính là tấm lòng từ bi và bác ái. Chỉ có lối sống ấy mới giúp cho ta được bình tâm trước tiếng đời thị phi hay khen chê của người khác.
Tôi thường đọc lại và suy ngẫm về lời kêu gọi của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong chương cuối cùng của cuốn sách “Đạo lý cho Thiên Niên Kỷ Mới” (Ethics for the New Millennium). Nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng nhắn nhủ: “Cách tốt nhất để bảo đảm rằng khi cận kề cái chết chúng ta sẽ không hối tiếc là hãy làm sao để trong phút giây hiện tại ta hành xử với trách nhiệm và với tâm từ bi đối với tha nhân…Từ bi là một trong những điều thiết yếu mang lại ý nghĩa cho cuộc đời. Đó là suối nguồn của mọi thứ hạnh phúc và niềm vui lâu bền. Đó là nền tảng của tâm thiện lành, tâm của một người hành xử từ ước vọng được giúp đỡ tha nhân. Qua lòng hảo tâm, qua sự thân ái, qua tánh liêm khiết, qua chân lý và công lý dành cho tất cả mọi người khác, chúng ta tạo được phúc lợi cho bản thân. Đây không phải là chuyện lý thuyết xa vời. Hạnh phúc của chúng ta ràng buộc vào hạnh phúc của tha nhân. Xã hội đau khổ, chúng ta đau khổ. Khi tâm và trí ta càng bị phiền nhiễu bởi tà ý, thì ta càng khốn khổ”.
Tôi rất tâm đắc với lời khẳng định của nhà lãnh đạo tinh thần này: “Do đó, chúng ta có thể ném bỏ mọi thứ khác: tôn giáo, lý tưởng, tất cả mọi thứ mà trí tuệ có thể lãnh hội được. Nhưng chúng ta không thể tránh khỏi sự cần thiết của tình thương và tâm từ bi. Đây chính là tôn giáo thật sự của tôi. Đây là đức tin đơn thuần của tôi”.
Xét cho cùng đây cũng chính là Đạo của tình thương vô vị lợi, Đạo của vô chấp. Nếu tôi luôn sống vô vị lợi và vô chấp, không những tôi sẽ biết cảm thông trước những yếu đuối bất toàn của người khác, mà tôi cũng sẽ “bình chân như vại” trước những lời khen hay tiếng chê của người đời. Bởi chính khi có thể “vô cảm” trước những tiếng chê và nhứt là lời khen, thì tôi mới có thể sống cho đến cùng trong tâm tình từ bi nhân ái. Tâm của tôi sẽ an bình biết chừng nào nếu tôi đạt được sự “vô cảm” đích thực ấy!