Thứ Tư, 14 tháng 9, 2016

Cũng một kiếp người…


Chu Thập
12.02.13

Chúa nhựt vừa qua, đi lễ, tôi nghe vị linh mục mở đầu bài giảng một cách khác thường. Ông kêu gọi cử tọa hãy thử tưởng tượng đang tham gia một cuộc bầu cử chính trị. Họ sẽ chọn một trong 3 ứng cử viên với những đặc tính cá nhân như sau: ứng cử viên thứ nhứt là một “hũ chìm” tầm cỡ, mỗi ngày ông nốc cả chai Whisky, đó là chưa kể bia; ông thứ hai thì mắc phải tật ngủ li bì, mỗi ngày ông thức dậy sớm nhứt là lúc 10 giờ sáng; ông thứ ba là một con người đức độ, kỷ luật và chẳng hề vướng phải một tật xấu nào. Sau khi công bố lý lịch cá nhân của ba ứng cử viên trên đây, vị linh mục kêu gọi giáo dân hãy bỏ phiếu bầu chọn người nào họ cho là có khả năng và đức độ nhứt để lãnh đạo. Kết quả cuộc bỏ phiếu “tự phát” cho thấy phần lớn cử tọa đã giơ tay ủng hộ ứng cử viên thứ ba. Sau đó, vị linh mục mới tiết lộ danh tánh của ba ứng cử viên. Ứng cử viên có thành tích bê tha rượu chè không ai khác hơn là tổng thống Theodore Roosevelt (1858-1919), một trong những tổng thống nổi tiếng nhứt của Hoa kỳ trong thời Đệ Nhứt thế chiến. Ổng là vị tổng thống trẻ nhứt trong lịch sử Hoa kỳ và đồng thời cũng là tổng thống đầu tiên được trao tặng giải thưởng Nobel Hòa Bình.
Tôi không nghe rõ tên của ứng cử viên thứ hai; có lẽ cũng là một chính trị gia nổi tiếng trong lịch sử thế giới. Nhưng ứng cử viên thứ ba, người luôn sống theo kỷ luật sắt và xem ra trổi vượt hơn cả về đức độ, lại mang một cái tên mà nghe đến có lẽ ai cũng phải khiếp sợ: Adolf Hitler, tên đồ tể đã gây ra Thế chiến thứ hai và sát tế đến 6 triệu người Do thái trên khắp Âu châu. Thì ra, trong lịch sử nhân loại, có khi những con người yếu đuối, bất toàn, đầy dẫy những khuyết điểm lại viết được những trang sử vẻ vang. Trái lại, không thiếu những kẻ giả nhân giả nghĩa lấy bộ mặt đạo đức để lừa mị và che đậy những hành tung bạo ngược, vô đạo của mình.
Cách mở đầu bài giảng của vị linh mục không chỉ gây một ấn tượng mạnh khiến tôi đã chăm chú lắng nghe trọn bài giảng 10 phút. Nó cũng lay động và đảo lộn cách suy nghĩ theo lối “trông mặt mà bắt hình dong” của tôi. Tôi thấy mình dễ bị lóa mắt bởi những thứ hào nhoáng bên ngoài và nhứt là dễ bị đánh lừa bởi những bộ mặt đạo đức hơn là thực chất bên trong. Nếu sinh ra và lớn lên ở ngoài Bắc, có lẽ tôi cũng đã quỳ mọp xuống để tôn thờ con người suốt đời sống đạm bạc, hy sinh ở độc thân vì tổ quốc, đề ra một mẫu mực mà cho tới nay những người cộng sản Việt nam vẫn cứ tiếp tục ra rã đề cao như một “tấm gương đạo đức” để mọi người phải noi theo. Ông “đạo đức” đến độ, sau khi ra lệnh giết người hàng loạt trong vụ Cải cách ruộng đất, đã khóc ròng và lấy khăn lau nước mắt để phủi sạch trách nhiệm của mình trong tội ác. Ông “đạo đức” đến độ đã phát động được cuộc chiến “thần thánh” chống Mỹ cứu nước khiến cho bao nhiêu mạng sống của người dân hai miền phải bị tế sát trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa. Có lẽ cũng như nhiều người ở ngoài Bắc, biết đâu tôi lại chẳng bỏ phiếu để không những bầu con người đó làm lãnh tụ mà còn tôn thờ thành thần tượng là khác.
Là con người phàm tục, tôi thấy mình thích đi tìm thần thánh ở giữa trần gian và trong khi đi tìm thần thánh, có lúc tôi không còn muốn chấp nhận thân phận yếu đuối của con người.
Mới đây, tôi lại cảm thấy sửng sốt đến gần như hụt hẫng khi nghe tin Đức giáo hoàng Benedictô XVI bất thần tuyên bố từ chức. Đây quả là một trong những biến cố lịch sử lớn nhứt trong thế kỷ 21 này. Cách đây hơn 5 thế kỷ cũng đã có một vị giáo hoàng từ chức. Chuyện giáo hoàng từ chức không phải là chuyện chưa từng xảy ra trong  Giáo hội vốn có đến 2 ngàn năm lịch sử và hiện đang qui tụ trên  một tỷ người. Giáo luật của Giáo hội này cũng có một khoản tiên liệu việc một đức giáo hoàng có thể từ chức. Nhưng vốn quen thuộc với danh xưng “Đức thánh cha”, tôi vẫn cứ nghĩ rằng một con người được phong “thánh” ngay từ trần gian này lẽ ra không được phép từ chức, tức tỏ ra yếu đuối, ngay cả về phương diện thể lý. Nhưng trong tuyên ngôn từ chức, vị giáo hoàng này giải thích rằng ngài buộc phải từ chức vì thấy mình không còn đủ sức khỏe, tức khả năng thể lý, để lãnh đạo Giáo hội nữa.
Trong những ngày vừa qua, các cơ quan truyền thông thế giới vẫn chưa cạn lời để ca tụng cũng như chỉ trích vị giáo hoàng mà nhiều người cho là “bảo thủ” này. Riêng tôi, tôi khâm phục vị giáo hoàng này. Ngài quả là một con người can đảm. Và sự can đảm cao cả nhứt chính là nhận ra mình là một con người yếu đuối, với sức lực và khả năng có giới hạn, cộng với tính bất toàn và có thể sai lầm của mình. Tôi không dám so sánh vị giáo hoàng này với người tiền nhiệm của ngài là Đức Gioan Phaolo II. Trong mắt tôi và dĩ nhiên, dưới ống kính của các cơ quan truyền thông thời đại, hình ảnh cuối đời của vị giáo hoàng người Balan đã làm cho mọi người ái ngại: đôi tay ngài lúc nào cũng run lẩy bẩy, hơi thở thều thào, nói hay đọc diễn văn một cách hết sức khó nhọc, bước đi lạng quạng…Có lẽ không thiếu những tiếng nói gợi ý cho ngài từ chức. Nhưng ngài vẫn một mực quyết tâm đi cho đến hết cuộc hành trình dương thế với niềm xác tín rằng nỗi đau đớn trong thân xác mà ngài đang trải qua là một sứ điệp về ý nghĩa của đau khổ được nhắn gởi cho con người thời đại. Tôi không dám phê phán một vị giáo hoàng đã được Giáo hội tôn phong lên bậc chân phước và nay mai sẽ được phong thánh. Nhưng hình ảnh của một Giáo hội mà một vị giáo hoàng già nua, bệnh tật, yếu nhược muốn giới thiệu với thế giới ngày nay không khỏi làm cho tôi ái ngại. Hình ảnh đó nhắc nhở cho tôi rằng dù ở ngôi vị nào, con người thì vẫn là con người với tất cả giới hạn của nó.
Trong khi ngưỡng mộ tài năng, đức độ của Đức Gioan Phaolo II, tôi lại càng khâm phục sự can đảm của Đức Benedictô hơn khi ngài lấy lý do tuổi tác và sức khỏe để tuyên bố từ chức.
Chuyện một vị giáo hoàng làm nên lịch sử khi tuyên bố từ chức lại càng củng cố tôi trong niềm xác tín: “Sai lầm là chuyện thường tình của con người”. Có sai lầm là bởi yếu đuối. Với niềm xác tín ấy, tôi luôn tự nhắc nhở không những chẳng phải tôn thờ bất cứ con người nào lên hàng thần tượng hay thần thánh mà còn phải tỏ ra cảm thông, độ lượng trước những yếu đuối và sai lầm của người khác.
Ý tưởng này đã âm ỉ trong tôi trong thời gian gần đây kể từ khi tin về sự ra đi của nhạc sĩ tài ba Phạm Duy được loan tải rộng rãi trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Có lẽ chưa có cái chết của bất cứ nhạc sĩ Việt nam nào đã tạo được nhiều âm vang cho bằng cái chết của nhạc sĩ Phạm Duy. Đã có không biết bao nhiêu bài viết và phản ứng về sự nghiệp và nhứt là nhân cách của người nhạc sĩ đa tài và cũng đa tình này. Khen cũng nhiều mà chê cũng không ít.
Tôi chẳng có tư cách nào để phê bình ông. Cả đời tôi chẳng bao giờ có tham vọng trở thành nhạc sĩ hay ca sĩ. Biết đủ 7 nốt nhạc để xướng âm và ngâm nga năm ba bài hát là quá sức rồi. Tôi cũng chẳng có bất cứ quan hệ hay kỷ niệm nào với nhạc sĩ Phạm Duy. Tên tuổi ông thì quá cao sang, tôi thì quá thấp bé. Nhưng cũng như hầu hết người Việt nam “baby boomer” (sinh sau thời Đệ nhị thế chiến), tôi hít thở không khí nhạc của ông. Tôi thích nhứt bài “Nha Trang ngày về” của ông, bởi vì nó gợi lên cho tôi nhiều kỷ niệm về thành phố biển nơi tôi đã sống nửa đời người trước khi vượt biên đổi đời. Tôi còn nhớ lần đầu tiên khi về lại Nha Trang sau gần 30 năm xa cách, tôi cũng ra biển, nghe sóng vỗ và ngân nga bài hát ấy, cho dẫu đó chưa phải là tâm tình của mình.
Tôi nhớ về nhạc sĩ Phạm Duy như thế đó. Tôi có theo dõi cuộc hành trình của ông: từ khu kháng chiến “dinh tê” về Hà nội, từ Hà nội trốn chế độ cộng sản để di cư vào Nam, từ Việt nam tỵ nạn sang Hoa kỳ và từ Hoa kỳ lại trở về Việt nam hồi năm 2005. Tại sao ông bỏ Mỹ để trở về Việt nam là nơi ông đã bỏ ra đi? Những người viết về ông đã đưa ra nhiều lối giải thích. Người thì bảo ông về Việt nam vì kế sinh nhai. Người thì nói ông về đó vì “tự ái”: tại sao bao nhiêu bản “nhạc vàng, nhạc sến, nhạc đồi trụy” của một số nhạc sĩ Miền Nam trước kia được chế độ cộng sản cho phổ biến, còn nhạc của ông thì không? Cũng không thiếu người bảo ông mò về Việt nam để kiếm “bồ nhí”. Chỉ có trời mới biết được những lý do sâu kín khiến người nhạc sĩ nổi tiếng đa tình này về nước “phục lụy” chế độ cộng sản.
Tôi chẳng dám làm thày bói để đoán mò hay phân tách gia để mổ xẻ tâm tư của ông. Tôi chỉ biết ông là một nhạc sĩ tài ba và nhạc của ông đã nuôi dưỡng tâm tình của tôi và của không biết bao nhiêu người Việt nam khác trong hằng bao nhiêu năm qua. Tôi chưa một lần tôn ông làm thần tượng. Với tôi, ông cũng chỉ là một con người và nhứt là một con người “yếu đuối”.
Tôi thưởng thức hay hát nhạc của ông cũng như đọc những bài thơ hay những tác phẩm văn chương của một số văn nghệ sĩ Miền Bắc trước khi họ đi theo hay bị bắt buộc phải đi theo chế độ cộng sản như Nguyễn Tuân, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên hay ngay cả Tố Hữu...Phải có những lúc để cho rượu điều khiển một Nguyễn Tuân mới có thể xuất đầu lộ diện với con người thật của mình: “Chính nhờ biết sợ mà tao sống cho đến ngày hôm nay”. Người ta không thể không cảm thông với con người nói lên lời ấy với những giọt nước mắt rơi lả chả “giọt rơi xuống đất, giọt rơi vào lòng”. Thật đáng khâm phục, bởi vì đó là một con người dám nhận mình đã sống một cách hèn nhát.
Có lẽ bất cứ ai nhắm mắt xuôi tay cũng đều để lại tiếc thương. Với nhạc sĩ Phạm Duy, tôi thấy “tiếc”. Tiếc quá. Giả như ông không trở lại Việt nam trong những năm cuối đời thì sự ra đi của ông sẽ để lại biết bao kính phục và thương nhớ nơi người Việt nam hải ngoại. Nhưng tôi vẫn thấy “thương” ông. Thương ở đây là “thương cảm” cho một kiếp người đầy truân chuyên, khi lên voi, lúc xuống chó. Xét cho cùng, cuộc đời của người nhạc sĩ tài ba này là cả một bí ẩn, bí ẩn như kiếp người mà mỗi người mang theo xuống mồ.
Trong một bài viết về nhà văn Mai Thảo, nhà phê bình văn học Nguyễn Mạnh Trinh có trích dẫn một bài thơ tứ tuyệt được khắc trên một bia mộ:
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.
Tác giả giải thích: “Bài thơ nhan đề “Không hiểu”. Mở ra với cái hữu hạn của con người và đóng lại với cái vô hạn của cuộc sống. Có mấy ai thông kim bác cổ hiểu được tất cả sự việc? Dù, cả khi cuối đời, khi đã trải đủ ngọt bùi đắng cay của kiếp nhân sinh? Chỉ, khi đã nằm trong ba tấc đất, nhìn ngôi sao sáng để đọc được cái lẽ huyền vi của đất trời” (Nguyễn Mạnh Trinh, Mai Thảo: Tháng Giêng tưởng niệm, VL18/1/13).
Mỗi người, dù có thông minh, đĩnh đạc, tài ba đến đâu, cũng đều có những giới hạn và thiếu sót. Nhưng cuộc đời, dù là cuộc đời của những con người khốn khổ, nghèo hèn, mạt rệp, đần độn…cũng vẫn là vô hạn. Chính vì cuộc đời vô hạn mà “chẳng sao khi đã nằm trong đất, đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi” cho nên bao lâu còn sống ở dương thế, đứng trước những bất toàn, yếu đuối và lầm lỡ của người khác, chẳng có thái độ nào đúng đắn hơn là sự cảm thông.


Thứ Hai, 12 tháng 9, 2016

Đức Quốc một năm sau cuộc khủng hoảng người tầm trú


09.09.16

Cách đây một năm, với câu nói “Chúng ta có thể làm được” (Wir schaffen das), nữ Thủ tướng Đức Angela Merkel đã mở cửa biên giới để sẳn sàng đón nhận trên một triệu người tỵ nạn mà phần lớn là người Syria.
Biến cố cho đến nay vẫn còn đường gọi là “cuộc khủng hoảng người tỵ nạn” đã bắt đầu vào mùa Xuân năm 2015 khi những  chuyến xe lửa chở người tầm trú đầu tiên xuất phát từ Budapest, Hung Gia Lợi đã đến Munich, dân chúng Đức đã vỗ tay đón chào nồng nhiệt. Ngày 31 tháng 8, thủ tướng Merkel nói lên câu để đời “Chúng ta có thể làm được”. Không những dân chúng ủng hộ bà mà rất nhiều chính trị gia cũng đứng sau lưng bà. Do đó, hai ngày cuối tuần 4-6 tháng 9, khi những chuyến xe lửa chở người tỵ nạn kế tiếp được cho phép đi vào Đức, các chính trị gia ở cấp cao nhất trong chính phủ đã mở rộng vòng tay để đón tiếp họ. Và cuối cùng, ngày 13 tháng 9, chính phủ Đức quyết định không đóng cửa biên giới với Áo Quốc để cho hàng trăm ngàn người tầm trú được phép vào Đức. Mặc dù việc kiểm soát biên giới giữa các nước vẫn được duy trì, người tầm trú đã không bị xua đuổi. Đây là tín hiệu cho thấy Đức vẫn mở cửa để tiếp nhận người tỵ nạn.
Nhưng khẩu hiệu được bà Merkel đưa ra với hy vọng giải quyết được cuộc khủng hoảng người tầm trú hiện đang gây chia rẽ tại Đức. Đức Quốc dưới sự lãnh đạo của bà có thật sự giải quyết được cuộc khủng hoảng không?
Trong một năm qua, nhất là kể từ ngày 2 tháng 9 năm 2015, sau khi hình ảnh của bé trai người Syria 3 tuổi tên là Alan Kurdi chết đuối và trôi dạt vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ được phổ biến trên khắp thế giới, đã có hơn một triệu người tầm trú tìm đến Đức. Họ ra đi từ Syria, A Phú Hãn, Bắc Phi và vùng Vịnh Balkan. Trong vòng 6 tháng vừa qua, đã có khoảng 220.000 người tầm trú được chính thức đón nhận tại Đức. Nhưng con số này hiện ngày càng sút giảm. Tưởng đã có thể giải quyết được cuộc khủng hoảng và mở rộng cửa để đón nhận người tỵ nạn, nay bà Merkel tuyên bố sẽ hạn chế số người tỵ nạn xin vào Đức. Theo thống kê, dạo tháng Giêng, đã có  92.000 ngàn người được cấp quy chế tỵ nạn. Nhưng trong tháng 7 vừa qua, con số này chỉ còn khoảng 16.000 người.
Có hai lý do khiến con số người tỵ nạn tại Đức sút giảm. Một là: tình trạng hỗn loạn do làn sóng người tầm trú tạo ra trong những tháng qua đã khiến cho các nước Đông Nam Âu Châu đóng cửa biên giới của họ. Hai là: do thỏa thuận với Liên Âu, Thổ Nhĩ Kỳ hiện đang tìm cách ngăn ngừa để người tầm trú không thể đến Âu Châu. Nhưng kể từ sau cuộc đảo chính bất thành tại Thổ Nhĩ Kỳ, thỏa thuận mà nước này đã ký với Liên Âu rất có thể sẽ không còn giá trị. Trước cuộc chiến ngày càng khốc liệt, người dân Syria vẫn tiếp tục tìm cách ra đi bằng mọi giá.
Ngay từ  những tháng đầu của cuộc khủng hoảng người tầm trú,  số nhân viên của Văn phòng Di dân và Tỵ nạn của Chính phủ Đức, từ 2300 người đã tăng lên 8000 người. Trong 7 tháng vừa qua, Văn phòng này đã duyệt xét đơn xin tầm trú của trên 330.000 người. So với cùng một thời kỳ vào năm ngoái, con số này đã tăng đến 146 phần trăm. Hiện đơn của trên nửa triệu người vẫn chưa được cứu xét.
Nhưng được công nhận là tỵ nạn hay không, hiện đã có khoảng một triệu người tầm trú được chính phủ Đức cung cấp nơi cư trú. Tại các thành phố và thị trấn nhỏ, người tầm trú tìm được nhà ở dễ dàng hơn tại các đô thị lớn. Tại Bá Linh, hàng chục trung tâm thể dục thể thao vẫn còn được sử dụng để đón nhận người tầm trú. Giới hữu trách cho biết các trung tâm dã chiến trong thành phố này hiện đang là nơi cư trú của trên 5 ngàn người.
Nhưng vấn đề lớn nhất hiện đang được đặt ra cho Chính phủ Liên bang Đức chính là làm thế nào để giúp hàng trăm ngàn người tỵ nạn hội nhập vào cuộc sống mới. Học ngôn ngữ Đức và hội nhập văn hóa là bước đầu quan trọng nhất đối với người tỵ nạn. Dĩ nhiên chỉ có những người tầm trú nào được nhìn nhận là người tỵ nạn và quyết tâm ở lại Đức mới được phép theo học ngôn ngữ và các khóa hội nhập văn hóa. Chẳng hạn tính cho đến cuối tháng 7 vừa qua, đã có khoảng 80.000 người A Phú Hãn nộp đơn xin tỵ nạn, nhưng họ đã không được nhìn nhận là người tỵ nạn và như vậy chưa được phép theo học ngôn ngữ và các khóa hội nhập văn hóa.
Riêng trẻ con tầm trú còn đặt ra một vấn đề khác cho chính phủ Đức. Theo thống kê của Bộ Giáo Dục Liên Bang, đã có 325.000 trẻ em và vị thành niên được hội nhập vào hệ thống giáo dục của Đức trong năm 2014 và 2015. Hiện các em này chiếm khoảng 2 phần trăm tổng số học sinh Đức trên toàn quốc. Để đáp ứng nhu cầu của các em học sinh tỵ nạn này, các trường cần phải có thêm giáo viên và nhân viên xã hội được đào tạo riêng để làm việc với các em bị chấn thương tâm lý. Trên toàn quốc, đã có thêm 12.000 giáo viên mới để đáp ứng với nhu cầu của các học sinh tỵ nạn. Theo một nghiệp đoàn đại diện cho các nhà giáo và khoa học gia, cần phải có thêm 20.000 giáo viên mới có thể đáp ứng với các nhu cầu mới. Chỉ riêng trong lãnh vực giữ trẻ, cần phải có thêm 58.000 nhà giữ trẻ mới có thể lo cho những đứa trẻ đã đến Đức trong năm 2015 vừa qua. Và cùng với các nhà giữ trẻ này cũng cần có thêm 9.400 nhân viên mới  có thể đáp ứng nhu cầu.
Cũng trong nỗ lực giúp người tỵ nạn hội nhập vào cuộc sống mới,  từ vài tháng nay, đã có trên 100 công ty tham gia vào sáng kiến có tên là “Us Together” (chúng ta cùng làm việc với nhau). Cho tới nay đã có 1800 người tỵ nạn được cho tập sự trong các công ty này; trên 500 người đang được huấn luyện và trên 400 người đã có việc làm toàn phần. Nhưng Thủ tướng Merkel cho rằng những con số trên đây vẫn còn quá nhỏ. Nhìn chung, số người tỵ nạn gia nhập vào thị trường lao động của Đức vẫn còn rất ít. Theo Phòng Lao Động Liên Bang, trong tháng 7 vừa qua, đã có 322.000 người tỵ nạn ghi tên tìm việc làm. Đây là những người đã được chính phủ cấp quy chế tỵ nạn. Nhiều người vẫn còn đang thất nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn đều còn trẻ. Thông qua chương trình giáo dục và đào tạo, Chính phủ  Đức hy vọng rằng những người trẻ này sẽ được hội nhập một cách dễ dàng hơn vào thị trường lao động.
Liên quan đến vấn đề hội nhập của người tỵ nạn, nhiều người Đức cũng lo ngại về những hoạt động phạm pháp của họ. Chuyện một số người di dân và tỵ nạn tấn công tình dục các phụ nữ Đức trong đêm giao thừa 2016 đã khiến cho một số người Đức nêu lên câu hỏi: đón rước người tỵ nạn có phải là rước cả tội ác vào đất nước không? Dĩ nhiên, trong số một triệu người làm sao tránh khỏi những thành phần bất hảo. Nhưng các số thống kê của chính phủ cũng cho thấy tình trạng phạm pháp nơi người tỵ nạn chẳng cao hơn so với người dân Đức. Theo các số liệu của cảnh sát, tỷ lệ phạm pháp tại Đức trong năm 2015  đã  tăng 4 phần trăm so với năm trước. Dĩ nhiên, mức gia tăng này được gán cho làn sóng người tầm trú đã đến Đức.
Nhìn dưới một góc cạnh nào đó, cuộc khủng hoảng người tỵ nạn đã khiến cho tỷ lệ phạm pháp gia tăng. Nhưng nếu công bình mà xét thì người tỵ nạn và di dân là nạn nhân hơn là tác nhân. Chỉ trong năm nay đã có không dưới 600 vụ tấn công vào các trung tâm cư trú của người tỵ nạn. Trong năm 2015 vừa qua, con số những vụ tấn công như thế đã lên đến trên 1000 vụ. So với năm trước đó, con số này cao gấp 5 lần.
Một trong những biện pháp mà Chính phủ Đức đề ra để đối phó với làn sóng người tầm trú tìm đến Đức là trục xuất những người không được nhìn nhận là tỵ nạn. Theo thống kê, hiện có trên 220.000 người nằm trong danh sách phải bị trục xuất ra khỏi Đức. Trong số này có 172.000 người được dung chấp để ở lại Đức vì tình trạng chiến tranh tại đất nước của họ. Ngoài ra cũng có một số lý do khác để trì hoãn việc trục xuất người tầm trú. Chẳng hạn một số đặt chân đến Đức mà trên người không còn hay không có bất cứ giấy tờ nào. Rất có thể đất nước của họ không muốn đón nhận họ trở lại. Cũng có trường hợp vì bệnh tật không thể di chuyển, người tầm trú được phép cho lưu lại tại Đức. Cũng không thiếu người tầm trú, một khi nhận được lệnh trục xuất, đã tìm cách đi lẩn trốn.
Nhìn chung, khẩu hiệu “Chúng ta có thể làm được” của Thủ tướng Merkel để đối phó với cuộc khủng hoảng tỵ nạn đã không thành công. Chính phủ Merkel không những đã không giải quyết được cuộc khủng hoảng mà còn tạo ra chia rẽ trong sinh hoạt chính trị cũng như đời sống xã hội. Đảng Dân chủ Kitô giáo đang cầm quyền và Đảng CSU (Liên minh Xã hội Kitô giáo tại Tỉnh bang Bavaria) vốn là một đồng minh của Đảng Dân chủ Kitô giáo, hiện đang kình chống nhau. Đảng đối lập dân túy “The Alternative for Germany” (Một giải pháp khác cho Đức quốc) gọi tắt là AfD, mặc dù chỉ mới được thành lập dạo tháng 4 năm 2013, ngày càng được dân chúng Đức ủng hộ. Thoạt tiên phát sinh như một phong trào chính trị qui tụ những thành phần bất mãn với cách giải quyết cuộc khủng hoảng đồng Âu kim cũng như chính sách di dân và tỵ nạn của Thủ tướng Merkel, đảng này không công khai chống lại dân chủ như đảng Tân Đức Quốc Xã NPD, nhưng cũng có khuynh hướng bài ngoại và chống người tỵ nạn.
Cuộc khủng hoảng người tỵ nạn hiện đang làm đảo lộn chính trường Đức và phân hóa xã hội nước này. Đã và đang có không biết bao nhiêu người Đức xung phong giúp đỡ người tỵ nạn ở những nơi chính phủ hoặc quá chậm trễ hoặc hoàn toàn bất lực. Nhưng bên cạnh đó cũng không thiếu những người Đức lo sợ rằng người tỵ nạn đang làm thay đổi bộ mặt của đất nước họ. Óc bài ngoại ngày càng gia tăng. Nhiều người xuống đường để phản đối điều họ đang nhìn thấy như hiện tượng “Hồi giáo hóa nước Đức”. Hồi tháng 10 năm ngoái, một tổ chức có tên là “Pegida”, tức Phong trào “Người Âu Châu ái quốc chống lại việc Hồi giáo hóa Âu Châu”, đã tổ chức một cuộc xuống đường rầm rộ tại thành phố Dresden. Tại nhiều nơi, dân chúng ngăn cản việc cấp nơi cư trú cho người tỵ nạn và các chính trị gia bị dán cho nhãn hiệu “phản bội”.
Thủ tướng Đức đã không ngừng cố gắng trấn an dân chúng rằng “Đức vẫn mãi mãi là Đức, với tất cả những gì là cốt lõi và thiết thân nhất đối với người Đức”.  Nhưng hiện nay nhiều người Đức vẫn không biết được liệu những rạn nứt mà khẩu hiệu “chúng ta có thể làm được” của Thủ tướng Đức đã tạo ra, có thể được hàn gắn không.
Theo http://www.spiegel.de/international/europe/taking-stock-one-year-after-the-arrival-of-refugees-in-germany



Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2016

Quỷ vương


Chu Thập
2.9.16

“Quỷ vương” là tựa đề của một quyển tiểu thuyết của nhà văn Vũ Ngọc Tiến mà trong một bài điểm sách được đăng trên báo mạng ĐànChimViệt (http://www.danchimviet.info/archives/104204/gioi-thieu-tieu-thuyet-quy-vuong-cua-nha-van-vu-ngoc-tien), nhà địa vật lý nổi tiếng của Việt Nam là ông Nguyễn Thanh Giang đã gọi là một đồng nghiệp. Được  Hội Nhà Văn xuất bản năm 2016, quyển tiểu thuyết mà ông Nguyễn Thanh Giang gọi là “lịch sử đồng hiện” này đã bị nhà nước cộng sản Việt Nam liệt vào danh mục bị “cấm”. Chuyện “Quỷ vương” xoay quanh thời kỳ lịch sử ở Việt Nam vào cuối Thế kỷ 15 và được tác giả cho tái hiện vào một vương quốc có tên là “Bil-Kell”.  Cuối thời Lê sơ đạo đức xã hội suy vi, kỷ cương triều đình mục nát đến thối rữa nên ngồi trên ngai vàng là một thứ “Quỷ Vương”, quan chức trong triều nhung nhúc loại quỷ”. “Quỷ Vương (Uy Mục) – kẻ đã bắt giam tra tấn cực hình đến chết toàn bộ gia quyến chú ruột, đánh anh đập em, thậm chí giết cả bà nội bằng thuốc độc, đốt cung Trường Lạc…; kẻ mắc chứng bạo dâm, mỗi lần phá trinh một phi tần hay cung nữ vua đều nghĩ ra những trò quỷ quái để hành hạ người đẹp trước khi ân ái… (trang 43). Rồi Trư Vương (Tương Dực), kẻ dâm loạn với hết lượt phi tần của các đời vua trước; kẻ giết hại 15 vị vương công không cần xử án; kẻ nghĩ ra nhiều trò tiêu khiển điên rồ quái ác; kẻ sai Vũ Như Tô xây cung điện 100 nóc, xây cửu trùng đài nguy nga tráng lệ… trong lúc ngân khố nước nhà cạn kiệt, dân chúng đói khổ, lầm than”… Phải chăng “Vương quốc Bil-Kell” là từ Lê mạt hồi sinh? và, nhung nhúc những “Quỷ vương” xưa cũng đang tái sinh? Đủ loại: “quỷ vương”, “trư vương”, “thử vương” …
Lần đầu tiên tôi nghe nói đến “Quỷ vương” cũng cách đây hơn cả 60 năm. Vừa mới có trí khôn, tôi thường nghe bà mẹ “đạo đức” của tôi và rất nhiều bậc trưởng thượng trong xóm giáo của tôi nói chuyện “tận thế” vào năm 2000. Không biết có phải do thấm nhuần những lời tiên báo trong Kinh Thánh không, mẹ tôi thường nói rằng trước ngày tận thế sẽ xuất hiện một nhân vật mà Kinh Thánh gọi là “Quỷ vương”. Con Quỷ đội lốt người này sẽ gieo rắc đau thương tang tóc cho nhân loại.
Năm 2000 đã đi qua một cách yên bình. Con bọ “Y2K” đã chẳng gây ra được tai họa nào cho thế giới. “Quỷ vương” cũng không thấy xuất hiện. Nhưng trong  suốt dòng lịch sử nhân loại, nhứt là trong thế kỷ 20 vừa qua, thế giới lại thấy “nhung nhúc những quỷ vương”. Bên Tàu, người ta nói đến những  Kiệt Trụ. Nhắc đến Cam Bốt, thế giới thường liên tưởng đến Pol Pot. Ở Việt Nam, tác giả Vũ Ngọc Tiến nhắc đến Lê Uy Mục; nếu xem nhân vật này như một ẩn dụ thì “Quỷ vương” của ông Vũ Ngọc Tiến có lẽ đang ẩn hiện đàng sau Đảng Cộng Sản Việt Nam. Còn bên Tây, làm sao thế giới quên được một bạo chúa Nero của Đế quốc La Mã hoặc những tên tuổi như Stalin hay Hitler. Nhưng những “quỷ vương” ấy, cũng như mọi chúng sanh, xuất hiện một lần rồi cũng biến mất. Stalin đã bị chính người kế vị là Nikita Khruschev hạ bệ. Hitler, dù đã trở thành lịch sử, vẫn mãi mãi bị thế giới nguyền rủa.
Duy chỉ còn một nhân vật mà hai chữ “Quỷ vương” của tác giả Vũ Ngọc Tiến bắt tôi phải nhớ đến như một nỗi ám ảnh là đồ tể Mao Trạch Đông của Trung Cộng. Ngày 9 tháng 9 tới đây là ngày kỷ niệm đúng 40 năm ông qua đời. Nghe nói trong tuần tới, với sự bảo trợ của Tòa Đại Sứ Trung Cộng tại Úc Đại Lợi, một số người thân Cộng sẽ tổ chức Đại nhạc hội để ca ngợi và vinh danh ông. 40 năm chỉ là một bước quá ngắn để lùi lại trong lịch sử cho nên ngày nay, khi những chuỗi ngày được gọi là thâm cung bí sử trong cuộc đời của Mao Trạch Đông được ánh sáng của sự thật soi rọi vào, thế giới đã thấy hiện ra nguyên hình nguyên trạng của một “quỷ vương” thứ thiệt. Như được bác sĩ riêng của ông là ông Zhisui Li (Lý Chí Thỏa) mô tả trong quyển hồi ký “The Private Life of Chairman Mao” (đời tư của Mao Trạch Đông), Mao Trạch Đông đã sống và cư xử chẳng khác nào một “quân vương” hoang dâm và tàn bạo. Hitler chỉ sát tế trên dưới 6 triệu người Do Thái. Trong khi đó nạn nhân của những chính sách không tưởng và vô đạo của Mao Trạch Đông lên đến không dưới 50 triệu người. Nhưng điều đáng sợ nhứt nơi “quỷ vương” này chính là ông vẫn tiếp tục sống. Bóng tử thần của ông vẫn còn bao phủ khắp Trung Cộng, che khuất cả một quốc gia là Tây Tạng và hiện đang đè nặng không những trên Việt Nam mà còn cả trên Biển Đông và lăm le liếm cả thế giới.  “Bác Mao chẳng ở đâu xa, Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao” và “Bác Mao chẳng ở đâu xa, Bác Tập ta đó chính là Bác Mao”. Sống, ông đã gieo rắc đau thương tang tóc cho hàng triệu triệu đồng bào ruột thịt của ông. Chết, ông lại thành “quỷ vương” vẫn tiếp tục vung lưỡi hái tử thần đi khắp nơi.
Trong văn hóa “nhà đạo” của tôi, “quỷ” là một trong những phạm trù ở trên cửa miệng của mọi tín hữu. “Đồ quỷ sứ”, “thằng quỷ” hay “con quỷ” được tuôn ra để chọc ghẹo, trêu tức cũng có, mà để miệt thị cũng nhiều. Cho nên có lẽ cũng không phải là “thậm xưng” nếu tôi phong tước “quỷ vương ” cho một tên đồ tể tàn bạo nhứt trong lịch sử nhân loại là Mao Trạch Đông. “Quỷ vương”, “Quỷ dữ” hay đơn thuần là “quỷ” hiện đang trở lại trong sinh hoạt và ngôn ngữ của con người thời đại. Mới đây, với thói quen tự cho mình có quyền chửi rủa bất cứ người nào, ứng cử viên Cộng Hòa của Mỹ Donald Trump đã gọi đối thủ của mình, bà Hillary Clinton, là “một con quỷ” (She’s the devil). “Con quỷ” hay “thằng quỷ” trong cách nói quen thuộc hiện nay, được hiểu là hiện thân của cái Ác. Hầu hết các nhà lãnh đạo trên thế giới như Tổng thống Mỹ Barack Obama, như nguyên Thủ tướng Anh David Cameron đều gọi  “Quốc gia Hồi giáo” (IS) là một tổ chức “của cái Ác”. Trước đây, cựu Tổng thống Mỹ George W.Bush cũng đã từng gọi ba quốc gia côn đồ Iraq, Iran và Bắc Hàn là “Trục của cái Ác” (the axis of evil”.
“Cái Ác” là điều chúng ta chứng kiến mỗi ngày. Hầu như tin tức hàng ngày mà chúng ta nghe thấy trên các phương tiện truyền thông từng phút từng giây đều là tin về cái Ác. Đây quả không phải là một bức tranh sáng sủa của nhân loại. Ngày nào, phút nào chúng ta cũng nghe nói đến chiến tranh, những vụ tàn sát tập thể, những vụ hãm hiếp, lạm dụng tình dục, những vụ giết người hàng loạt, những chuyện lường gạt, phản bội,  tham nhũng, dối trá...
Cứ mỗi lần suy nghĩ về cái Ác, tôi luôn tự hỏi: phải chăng cái Ác là một thuộc tính của con người hay nó chỉ là một thứ cỏ dại nhổ hoài không hết? Hay cũng như “quỷ Dữ”, cái Ác là một sức mạnh ngoại tại không ngừng “cám dỗ”, lung lạc, xúi bẫy và lôi kéo con người vào vòng tội ác. Đây là giải thích của nhà đạo của tôi: từ câu chuyện sa ngã của ông bà nguyên tổ loài người trong vườn địa đàng đến những cơn cám dỗ của Chúa Giêsu, rõ ràng có một “Satan”, một “Con Quỷ” là nguyên nhân gây ra tội ác nơi con người. Kinh Coran của người Hồi Giáo cũng thường xuyên nhắc đến đủ loài “quỷ sứ”. “Ngạ quỷ” cũng không phải là một ý niệm xa lạ trong Phật Giáo.
Dường như ở đâu và thời nào con người cũng tin có Quỷ. Trong một xứ sở văn minh như Hoa Kỳ mà theo một cuộc thăm dò do hãng YouGov thực hiện hồi năm 2013, vẫn còn có đến 60 phần trăm dân chúng tin có Quỷ. Một số những kẻ giết người hàng loạt với máu lạnh thường giải thích về hành động tội ác của mình: “Quỷ khiến tôi làm điều đó!”
Nhưng dù tin có Quỷ hay không, hầu hết mọi người, theo sự mách bảo của lương tri và lẽ thường, đều nhìn nhận rằng cái Ác là một thực tại không thể chối cãi được. Dĩ nhiên, tình yêu và niềm vui, danh dự và vinh quang, sự tử tế và lòng vị tha vẫn thường xuyên có mặt trong lịch sử nhân loại. Nhưng song song với những điểm sáng ấy, bóng tối của cái Ác vẫn tiếp tục bao phủ lên cuộc sống con người. Vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, tại Hy Lạp có 7 nhà hiền triết nổi tiếng. Một trong những nhà hiền triết đó là Bias. Có người xin ông tóm tắt triết lý của mình trong một câu ngắn gọn. Ông liền  nói: “Hầu hết mọi người đều xấu”, nghĩa là ai cũng có thể làm điều Ác. Về sau, có rất nhiều nhà tư tưởng cũng nhìn nhận điều đó. Trong tác phẩm nổi tiếng “Quân vương”, Machiavelli (1469 -1527) của Ý dường như cũng đã xây dựng chủ thuyết “mọi phương tiện đều tốt” của ông trên chân lý ấy. Bi quan hơn, cha đẻ của phân tâm học Sigmund Freud (1856-1939) đã trích dẫn câu nói quen thuộc của người La Mã “Người là chó sói của người” (homo homini lupus) để nói về bản tính con người. Trong tác phẩm “Civilization and its Discontents” (Văn minh và trái khoáy), ông viết rằng “Loài người không phải là những tạo vật tử tế muốn được yêu thương và chỉ tự vệ khi bị tấn công. Trái lại, họ là những tạo vật mà bản năng thúc đẩy để tỏ ra hung hãn. Tha nhân đối với họ không chỉ là người có thể giúp đỡ họ hay là một đồ vật để thỏa mãn tình dục, mà cũng là một kẻ xui khiến họ thỏa mãn tính hung hãn của họ, để khai thác người đó, để lạm dụng tình dục người đó, để chiếm hữu của cải của người đó, để hạ nhục, để gây đau khổ, để tra tấn và để giết người đó. Homo homini lupus (người là chó sói của người)”.
Kinh nghiệm cá nhân không cho phép tôi bi quan như thế. Dĩ nhiên, xung quanh tôi lúc nào cũng có người xấu, người ác và cái Ác diễn ra hàng ngày. Nhưng xung quanh tôi lúc nào cũng không thiếu người tử tế, người tốt. Trong cùng một người, có khi tôi nhận ra bóng dáng của thiên thần và cũng có lúc tôi thoáng thấy bộ mặt của “quỷ sứ”. Cái Ác không phải là thuộc tính của con người. Tự bản chất con người là tốt. Trong bất cứ một thiên tai nào hầu như cũng có những thiên thần luôn hy sinh mạng sống của mình để che chắn và cứu thoát người khác. Thiện ác không ngừng song đấu với nhau trong cùng một con người. Cái khả năng phân biệt thiện ác hay lương tâm và mệnh lệnh làm điều thiện tránh điều ác là điều luôn có trong mỗi một con người.
Có lúc tôi cũng muốn bắt chước ông Donald Trump để tặng cho Tổng thống Nga Vladimir Putin tước hiệu “quỷ sứ”, không những vì đường lối cai trị độc tài và độc ác trong nước, mà vì sự can thiệp của ông vào cuộc chiến tại Syria khiến cho máu của người dân vô tội không ngừng chảy. Nhưng mới đây, sau khi Nga bị Ủy ban Thế Vận Hội cho người tàn tật không cho tham dự các cuộc thi đấu tại Rio de Janeiro, ông Putin liền tuyên bố rằng đây là một hành động “vô luân”. Dối trá và độc ác cỡ nào, dường như ý niệm về thiện ác vẫn còn tồn tại trong con người.
Ranh giới giữa ác quỷ và thiên thần trong tâm hồn của bất cứ con người nào cũng rất mù mờ. Nhưng rõ ràng là làm thiên thần hay ác quỷ hoặc quỷ vương là chọn lựa của tôi. Tôi có tự do để chọn lựa và tôi phải  chịu trách nhiệm về chọn lựa đó.







Thứ Tư, 7 tháng 9, 2016

Ở đâu cũng thế…



Chu Thập
29.1.13


Có lẽ người Việt tỵ nạn nào cũng hãnh diện về đất nước mình đã chọn làm quê hương thứ hai. Tôi hãnh diện được làm công dân Úc và tôi thấy đất nước này có nhiều điều đáng ca ngợi. Tôi nghĩ đến trước tiên cuộc sống thanh bình. Tôi không cho rằng mình quá chủ quan khi đề cao khía cạnh này. Rất nhiều người đến thăm Úc một lần cũng nhìn nhận rằng đây là một đất nước thanh bình. Trong trường học, vào siêu thị, ở bãi đậu xe, ngồi trong rạp xi nê…chẳng có ai phải lo sợ bị một kẻ điên loạn nào đó xách súng đến bắn loạn xà ngầu vào đám đông.
Tôi thầm cám ơn cựu thủ tướng John Howard.
Buổi sáng ngày 28 tháng 4 năm 1996 đã trở thành một trong những ngày buồn thảm nhứt trong lịch sử Úc đại lợi. Tại địa điểm du lịch nổi tiếng của tiểu bang Tasmania là Port Arthur, một thanh niên 28 tuổi tên là Martin Bryant đã xông vào một quán cà phê, dùng súng hạ sát 12 người và làm bị thương trên 10 người. Sau đó, tên cuồng sát chạy vào một tiệm bán đồ kỷ niệm gần đó và bắn hạ thêm một số người nữa. Chưa chịu bỏ cuộc, tên sát nhân còn chạy ra chỗ đậu xe gần đó và nổ súng vào một số xe buýt. Chuyện xảy ra như chỗ không người. Tổng cộng có đến 35 người bị sát hại.
Cả Úc đại lợi đã bị chấn động. Phẫn nộ trước cuộc thảm sát, 85 phần trăm dân chúng Úc ủng hộ việc hạn chế và kiểm soát súng ống cá nhân. Chính phủ do Liên Đảng cầm đầu dưới quyền lãnh đạo của Thủ tướng John Howard đã thông qua được một số luật mới nhằm kiểm soát việc sử dụng súng cá nhân một cách chặt chẽ hơn. Những người có súng riêng đã tuân thủ một cách triệt để: đã có khoảng 643.000 khẩu súng tự động và bán tự động được mang trao nộp cho chính phủ.
Riêng về số phận của kẻ sát nhân, phần lớn người dân Úc đều nhìn nhận rằng Martin Bryant là một thanh niên có chỉ số thông minh dưới mức trung bình và mắc bệnh tâm thần phân liệt. Dù vậy, anh vẫn bị kết án 35 năm tù.
Kể từ sau khi Thủ tướng Howard ban hành một số luật mới về việc kiểm soát súng ống cá nhân, Úc đại lợi không còn phải chứng kiến một vụ thảm sát tập thể nào nữa. Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là trong xã hội Úc sẽ không có hay không còn những con người điên loạn có thể làm càn khi có cơ hội và có phương tiện trong tay.
Ở đâu và thời nào mà xã hội loài người không có người bị tâm thần hay điên loạn. Và có lẽ chỉ có những kẻ điên loạn mới cầm súng bắn giết những kẻ không có bất cứ ân oán nào với mình và ngay cả người thân của mình.
Tôi vẫn còn nhớ như in chuyện xảy ra trong làng tôi vào giữa thập niên 1960: một buổi trưa hè nóng bức, một người đàn ông đã từng được chữa trị trong nhà thương điên Chợ Quán, đã đè cổ người cha ruột của mình ra cắt lưỡi và sau đó chạy lên nhà thờ giáo xứ để đâm xối xả vào ông cha sở.
Tôi nhìn vấn đề thật đơn giản: những kẻ cuồng sát, dù ở tuổi nào, cũng đều là những con người điên loạn. Đừng giao trứng cho ác là xong. Để ngăn ngừa những hành động sát nhân phi lý, giải pháp tốt nhứt là đừng để những kẻ điên cuồng có được khí giới độc hại trong tay. Người dân Úc và Chính phủ Úc đã giải quyết được vấn đề ấy. Trong khi đó thì cho tới nay, Hoa kỳ vẫn còn lấn qua cấn lại. Cứ tưởng vụ thảm sát tại một trường tiểu học ở Newtown, tiểu bang Connecticut vào giữa tháng 12 năm vừa qua là tiếng chuông cảnh tỉnh cuối cùng cho Mỹ quốc. Nhưng chỉ không đầy 2 tháng vừa qua, thế giới lại chứng kiến thêm nhiều vụ bắn giết nữa mà thủ phạm dĩ nhiên lại cũng là những người điên loạn hay có tâm lý bất thường. Cho tới nay, Chính phủ Hoa kỳ vẫn chưa thông qua được luật kiểm soát súng ống.
Hai tháng trước khi người học sinh trung học tên là Adam Lanza lấy súng của mẹ, hạ sát bà và chạy đến trường tiểu học Sandy Hook để sát hại 20 em học sinh tiểu học và 8 người khác, người Mỹ cũng đã chứng kiến một vụ bắn giết khác mà thủ phạm cũng là một thanh niên 17 tuổi tên là Jake Evans. Ngày 3 tháng 10 năm 2012, người thanh niên cư dân của tiểu bang Texas này đã xách súng bắn mẹ và em gái của mình. Hôm thứ Năm 21 tháng Giêng vừa qua, trong một bản tự thú dài 4 trang đọc trước tòa, Evans thú nhận rằng cậu đã giết chết mẹ và em gái là do đã coi một cuốn phim ghê rợn.
Tác phẩm điện ảnh mà thủ phạm vị thành niên này nói đến là cuốn phim có tựa đề “Halloween”. Những cảnh giết người ghê rợn trong cuốn phim đã ám ảnh cậu đến độ cậu muốn lập lại những cảnh ấy. Cuốn phim sản xuất năm 2007 nói về một cậu bé tuy chỉ mới 10 tuổi, nhưng đã ám sát nhiều người. 15 năm sau, cậu còn giết thêm nhiều người nữa.
Trong bản tự thú, Evans viết: “Khi xem phim, tôi chới với về chuyện sát thủ ra tay quá dễ dàng và không ân hận gì cả. Tôi nghĩ nếu mình hành động như thế thì cũng vậy thôi”.
Thế là tối hôm đó, khi thấy mẹ và em gái đang ngồi xem hai ông Obama và Romney tranh luận trên truyền hình, Evans nghĩ: “Mình thử tàn sát gia đình để xem như thế nào”. Cậu đã ăn cắp khẩu súng lục của ông ngoại và làm điều mà cậu nói “để thử xem như thế nào”. Bi thảm nhứt trong vụ này là khi thấy ông anh chĩa súng vào người mình, cô em gái Mallory cứ tưởng như đùa. Sau khi bắn vào lưng và đầu cô em gái, Evans xách súng chạy đi tìm bà mẹ và bắn vào người bà 3 phát (x.Calitoday 25/1/2013).
Do ảnh hưởng của phim ảnh và có sẵn khí giới giết người trong tay, những người có tâm lý không bình thường hay bệnh hoạn đã có hành động sát nhân. Nói chung, con người chịu tác động mạnh của xã hội. Tốt cũng có, nhưng xấu thì nhiều hơn. Từ cổ chí kim, các triết gia và các nhà xã hội học cứ phải tranh luận với nhau về bản tính con người. Lạc quan thì cho rằng tự bản chất, con người sinh ra là hoàn toàn tốt, nhưng bị xã hội làm cho bại hoại. Bi quan hơn, có người lại nói rằng con người tự bản chất là xấu xa. Vốn quen suy nghĩ theo niềm tin tôn giáo và nhìn lại kinh nghiệm bản thân, tôi nhận thấy rằng “Con người không là thiên thần mà cũng chẳng là ác quỷ”. Thiện và ác cùng hiện hữu trong mỗi một con người. Trong mỗi người, lúc nào cũng diễn ra cuộc song đấu giữa thiện và ác. Có người, ai mới nhìn vào cũng bảo là thiên thần, nhưng trong phút chốc lại hiện nguyên hình ác quỷ. Có kẻ tưởng chỉ sinh ra để làm điều gian ác, nhưng rồi phút chốc lại hoán cải, hoàn lương. Chính vì có thiện có ác mà mới có tự do và trách nhiệm. Và chính vì có trách nhiệm cho nên mới có trừng phạt và tưởng thưởng.
Chẳng có ai sinh ra đã là kẻ sát nhân cả. Ảnh hưởng của xã hội là điều không thể chối cãi được. Càng văn minh thì càng có nhiều tiếp cận với đủ mọi hình thức bạo động. Theo thống kê, cứ trong năm người Úc thì có một người từng bị tâm thần hay có triệu chứng tâm thần. Bệnh tâm thần giờ đây phát triển rất sớm từ tuổi thanh thiếu niên và đang được các nhà xã hội học coi như một nghịch lý của thời đại (Li, J, McMurray, A, Stanley, F 2008, ‘Modernity’s paradox and the structural determinants of child health and well-being’, Health sociology review, vol 17-1, pp 64-77). Tâm thần hiện đang trở thành một trong 6 bệnh “dịch” và “được” chính phủ Úc xếp loại “ưu tiên” 
(www.aifs.gov.au/institute/pubs/resreport8/ch2.pdf)
Đó là thống kê Úc nơi ít có chuyện giết người hàng loạt, còn ở Mỹ thì tôi không biết.
Tôi liên tưởng đến cuốn phim có tựa đề “Natural born killers” (những kẻ giết người bẩm sinh) do đạo diễn Mỹ nổi tiếng Oliver Stone thực hiện hồi năm 1994. Chuyện phim xoay quanh một cặp tình nhân đi đến đâu giết người đến đó. Trong một cuộc gặp gỡ với một ký giả mà họ báo trước sẽ giết sau cuộc phỏng vấn, cặp tình nhân này khẳng định rằng họ là “những kẻ giết người bẩm sinh”, nghĩa là mang sự độc ác từ trong trứng nước và chỉ biết hành động một cách độc ác. Thật ra, cuốn phim không nói đến quá khứ của người thanh niên. Nhưng riêng về người thiếu nữ có một cảnh hồi tưởng cho thấy cô đã sinh ra và lớn lên trong một gia đình không mấy lành mạnh: lúc nhỏ cô đã bị người cha lạm dụng tình dục và bị người mẹ bỏ bê. Một bối cảnh gia đình như thế như muốn gợi lên rằng gia đình, tức xã hội, đã có tác động không tốt lên sự phát triển tâm lý của người thiếu nữ. Cô đã ngã vào vòng tay của một thanh niên giết người không gớm tay một cách dễ dàng và do đó cũng chiều theo những khuynh hướng độc ác của anh ta.
Có lẽ cuốn phim không muốn đưa ra luận đề cho rằng có những “kẻ giết người bẩm sinh” cho bằng nhấn mạnh đến những ảnh hưởng xấu của xã hội. Thật vậy, một trong những tấm bảng quảng cáo cho cuốn phim có đoạn viết: “Một cuốn phim mới đưa ra một cái nhìn về một xứ sở bị lôi kéo bởi danh vọng, bị ám ảnh bởi tội ác và bị thiêu đốt bởi truyền thông”.
Bảng quảng cáo trên đây diễn tả đúng cái đất nước được nhiều người xem như một “giấc mơ”. Kỳ thật đó cũng là nơi người ta thấy rõ truyền thông và những trào lưu xấu ảnh hưởng đến con người nhiều nhứt.
Thật ra, ở đâu cũng thế thôi. Ý thức hay không, con người không thể tránh khỏi ảnh hưởng của xã hội. Môi trường tốt giúp cho cái thiện trong con người phát triển. Một xã hội đẫy dẫy tệ nạn, bất công và trống rỗng cũng làm cho con  người bại hoại.
Nhiều người dựa vào nguyên tắc “ở đâu cũng thế” để bào chữa cho những tệ nạn và sự hủy hoại con người do một chế độ đồi bại tạo ra. Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã có một bài nhận định về thái độ này. Ông viết: “Kiểu phân bua như vậy có thể thấy ngay trong phần Ý kiến ở blog này. Mỗi khi chúng ta bàn đến một khuyết điểm nào đó ở Việt nam, không thể bào chữa, những người bênh vực cho chế độ thường đưa ra luận điểm: những khuyết điểm như thế ở đâu mà chả có? Việt Nam tham nhũng ư? -Ừ, nhưng ở Nhật, Hàn Quốc, Úc, Pháp, Anh, và ngay cả Mỹ cũng có tham nhũng đấy chứ! Công an Việt nam đánh dân một cách tàn bạo ngay trên đường phố ư? - Ừ, nhưng ở Mỹ, cảnh sát cũng vẫn đánh dân mà!
Cứ thế, họ cho tất cả những gì tệ hại ở Việt nam cũng đều có mặt ở mọi nơi trên thế giới, kể cả những nước giàu có, văn minh và dân chủ nhất. Bằng cách ấy, người ta hy vọng có thể vô hiệu hóa mọi sự phê phán nhắm vào chính quyền Việt nam” (VOA, Blog/Nguyễn Hưng Quốc).
Quả vậy, ở đâu cũng có tệ nạn. Ở đâu cũng có cái xấu, cái ác. Nhưng khác với “cái lỗ hổng đạo đức” không đáy của Việt Nam, ở các nước có dân chủ tự do và nhứt là chủ trương thăng tiến những giá trị đạo đức, xã hội luôn cố gắng tạo điều kiện để điều thiện và những giá trị nhân bản được triển nở hầu thắng được điều ác và những khuynh hướng xấu trong con người. Xây dựng xã hội cũng có nghĩa là phát huy những giá trị đạo đức.
Người Việt Nam da vàng ở đâu cũng vẫn là người Việt nam. Cũng cầm đũa ăn cơm, cũng nói tiếng Việt, cũng cố gắng duy trì truyền thống dân tộc. Nhưng nhìn chung, người ta vẫn thấy có sự khác biệt giữa người Việt đang định cư ở những nước dân chủ tự do và người Việt đang sống dưới chế độ cộng sản. Khác không phải ở sự giàu có hay trong cách ăn mặc, mà có khi ở hai tiếng “xin lỗi” và “cám ơn”. Bởi lẽ hai tiếng đơn giản ấy phản ảnh cả một cung cách, một tâm thức đầy nhân bản và tình người mà nhiều người Việt trong nước đã đánh mất, nhưng người Việt hải ngoại hoặc tiếp tục duy trì hoặc học được từ đất nước và xã hội đã cưu mang họ.
Hai tiếng ấy đã hầu như trở thành một bản năng mới của tôi.Tôi hãnh diện được làm một công dân Úc. Tôi cũng mang ơn cái xã hội đã luôn tạo điều kiện để tôi học hỏi và trau dồi nhiều đức tính nhân bản giúp tôi kềm hãm được phần nào cái ác trong tôi và phát huy tính thiện vốn cũng ẩn trong tôi. Và dĩ nhiên, tôi cũng ý thức rằng mỗi lần tôi cố gắng sống tử tế và tôn trọng công ích là mỗi lần tôi góp phần vào việc làm cho quê hương thứ hai của tôi thành một nơi tốt đẹp và đáng sống hơn cho tôi và cho nhiều người khác.
Ở đâu cũng thế, tôi cần góp phần làm cho xã hội được tốt đẹp hơn bởi sống trong xã hội tốt thì cái tốt trong tôi mới càng dễ triển nở được.




Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

Syria: luật pháp và những kẻ gian ác


2.9.16

Tháng Hai năm 1982, tổng thống Syria, ông Hafez al-Assad ra lệnh tàn sát người dân vô tội tại Hama, cách Thủ đô Damascus về hướng Bắc 213 cây số. Quân đội chính phủ đã bao vây thành phố này 27 ngày để cô lập một cuộc nổi dậy có vũ trang do phong trào Huynh đệ Hồi giáo chủ xướng. Các cuộc dội bom, sát hại hàng loạt và tra tấn đã quét sạch toàn bộ dân cư khỏi thành phố này. Theo ước tính có khoảng từ 10 đến 40 ngàn người, phần lớn là dân sự, bị tàn sát. Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, “cuộc tấn công vào Hama không phải là một biến cố riêng rẻ mà là tột điểm của những căng thẳng kéo dài nhiều năm giữa Chính phủ Assad và các nhà đối lập”. Đây là cuộc tấn công đẫm máu nhất mà một nhà lãnh đạo Á Rập đã thực hiện chống lại chính người dân của mình trong thời hiện đại.
Joan là một thanh niên 27 tuổi, sinh ra và lớn lên tại một thành phố chỉ cách Hama khoảng một giờ lái xe. Mặc dù cuộc tàn sát người dân Hama đã xảy ra hơn ba thập niên trước, người dân ở đây và người dân Syria nói chung vẫn còn lo sợ. Theo Joan, điều đã xảy ra tại Hama là một bài học mà Tổng thống Assad cha muốn dạy cho toàn dân Syria: nổi dậy là chết, chính phủ sẽ không từ bỏ bât cứ một phương tiện nào để tiêu diệt! Đây là bài học mà Joan cho rằng “ông vua con Assad” cũng muốn dạy cho người dân Syria ngày nay.
Kể từ tháng Ba năm 2011, khi những cuộc nổi dậy bùng nổ khắp nơi để chống lại chế độ độc tài của đương kim Tổng thống  Bashar al-Assad, tuổi thọ trung bình của người dân Syria đã từ 70 tụt xuống còn 55. Đã có ít nhất 400.000 người chết vì bom đạn và một nửa dân số 22 triệu người đã phải bỏ nhà cửa ra đi lánh nạn. Cuối năm ngoái, một bản phúc trình của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã nhắc lại bài học ở Hama: Điều khủng khiếp nhất trong cuộc nội chiến tại Syria là Chính phủ Assad cũng tấn công thường dân đang sống trong những vùng do phe nổi dậy kiểm soát. Mục đích của chiến thuật tấn công vào thường dân này chính là tiêu diệt dân chúng và dạy cho người dân Syria ở những vùng khác rằng chính phủ cũng sẽ tấn công họ nếu vùng họ đang ở bị quân nổi dậy chiếm đóng.
Joan trích đọc một khẩu hiệu không chính thức được chính phủ Assad cho quảng bá: “Hoặc là Tổng thống Assad hoặc là chúng tôi sẽ thiêu đốt xứ sở”. Các lực lượng dân quân trung thành với Tổng thống Assad đi đến đâu rao truyền khẩu hiệu này đến đó.
Sau khi tốt nghiệp tại đại học Damascus năm 2010, Joan tiếp tục sống ở thủ đô để tránh không bị nhập ngũ. Anh cho biết cha mẹ anh muốn anh rời bỏ Syria tức khắc sau khi tốt nghiệp đại học, ngay cả trước khi cuộc chiến bùng nổ. Họ không muốn con mình phải mất 2 năm để phục vụ cho một con người như Assad. Tuy nhiên, cũng như hàng trăm ngàn người dân Syria khác, Joan cũng xuống đường để kêu gọi chấm dứt triều đại cha truyền con nối Assad.
Tham gia biểu tình, người dân Syria có thể bị bắn, bị bắt giữ hoặc thủ tiêu. Nhưng ở nhà thì người thanh niên trong độ tuổi quân dịch cũng có thể bị bắt dẫn đi bất cứ lúc nào. Chính vì vậy mà mỗi ngày thứ sáu khi diễn ra cuộc biểu tình, người anh của Joan đều lấy xe đưa cậu em đến Damascus để cậu khỏi tham gia các cuộc biểu tình.
Năm 2012, Joan trốn sang được Liban. Sau đó, bằng nhiều phương tiện di chuyển khác nhau, anh đã đến một nước khác trong khối Á Rập và đang tìm đường để vượt biển sang các nước Tây Phương.
Trong năm 2015, theo Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc, đã có khoảng 3.735 người được tuyên bố mất tích khi tìm cách vượt qua biển Địa Trung Hải để đến Âu Châu. Và chỉ trong 5 tháng đầu của năm 2016, số người chết đuối trên biển cả đã lên đến 2510 người. Người anh của Joan là một trong số trên một triệu người đã tìm cách vượt biển. Anh đã được may mắn đặt chân đến Âu Châu và hiện đang làm đơn xin tỵ nạn.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho hai ký giả Peter Blodau và Elle Kurancid của báo “Le monde diplomatique”, Joan cho biết sở dĩ anh đã quyết định trốn khỏi Syria là để tránh bị gọi nhập ngũ, tránh bị dân quân thân chính phủ và cơ quan tình báo của chính phủ tra tấn và sát hại. Anh nói rằng người bên ngoài không thể nào có thể tưởng tượng được những hình thức tra tấn mà bất cứ người dân Syria nào cũng có thể trải qua. Anh nói: “chính những tên gian ác đang làm luật tại Syria”.
Với anh, tại Syria con đường nào cũng dẫn đến cái chết. Trong một chế độ nhìn đâu cũng thấy kẻ thù thì đương nhiên chế độ đó nhìn người dân như những kẻ “cộng tác với kẻ thù”. Đây là kinh nghiệm mà Joan đã nghe được từ các bậc cha chú của anh. Một số bạn bè của cha anh đã từng bị giam giữ như tù nhân chính trị trên 15 năm. Tất cả đều bị gán cho tội “cộng tác” với kẻ thù sau cuộc tàn sát tại Hama. Một người bạn của Joan kể lại rằng một đêm nọ các nhân viên tình báo và mật vụ ập vào nhà anh. Họ bắt vợ anh phải cởi bỏ quần áo trước mặt anh và yêu cầu anh phải khai ra tên tuổi của những người chống chế độ. Vì anh không  biết phải khai tên người nào, họ đã thay phiên hãm hiếp vợ anh và dùng thuốc lá dí vào người của chị.
Trong một chế độ công an trị, theo Joan, bất cứ một cử chỉ hay lời ăn tiếng nói nào cũng đều bị theo dõi. Anh kể lại câu chuyện của một giáo viên nọ bị thủ tiêu chỉ vì không biết giữ lời. Trong một giờ học nọ, giáo viên này nói với các học sinh của mình rằng người con cả của Tổng thống Assad tên là Bassel, người đã chết trong một tai nạn giao thông, không phải là “một vị tử đạo” mà chỉ qua đời vì một tai nạn mà thôi. Tổng thống Assad cha đã tôn con trai của mình lên hàng “tử đạo của dân tộc” và lấy tên Bassel để đặt cho một phi trường tại một miền duyên hải Syria. Nghe câu chuyện, các phụ huynh học sinh đã đi báo cho ban giám đốc của trường và ban giám đốc của trường đã đi báo cho công an. Ngay hôm sau, người giáo viên nói trên bỗng nhiên biến mất. Joan không biết câu chuyện trên đây có thật không. Nhưng đây có thể là câu chuyện mà bất cứ người mẹ Syria nào cũng muốn kể cho con mình nghe để khuyên con mình đừng xen vào chính trị và nhất là đừng nói chống lại chế độ trong trường học hay bất cứ nơi nào, bởi vì có thể bị thủ tiêu bất cứ lúc nào. Joan nói rằng mẹ anh luôn khuyên anh phải cân nhắc từng lời ăn tiếng nói và phải cẩn trọng khi tiếp xúc với người khác.
Bài học thứ ba trong chế độ công an trị tại Syria, Joan học được từ một quân nhân thi hành quân dịch xuất thân từ làng của anh. Năm 2011, người tân binh này được vài ngày phép ngắn. Anh nói với các bạn của Joan rằng trong tuần lễ trước đó, người chỉ huy đơn vị của anh ra lệnh cho anh phải đi chống lại những tên khủng bố. Nhưng khi đơn vị của người tân binh này đến nơi, họ chỉ thấy một đám biểu tình hô khẩu hiệu chống chính phủ. Vậy mà đơn vị của anh lại được lệnh phải bắn vào đám người này. Nhưng người tân binh này đã không bắn vào đám đông. Không ai nhận ra hành động bất tuân lệnh này của anh. Một tuần lễ sau, đơn vị của anh cũng được gởi đi đối đầu với một đám biểu tình khác. Anh đã từng nói rằng dù được sai đi đâu, anh cũng sẽ không bao giờ bắn vào đám đông. Một tuần lễ sau đó, anh được trở về nhà. Nhưng lần này, anh trở về trong một chiếc quan tài...đầu của anh bị một viên đạn bắn xuyên qua từ phía sau. Mẹ anh đã gào thét bên mộ con: “ Họ (tức chế đô) đã giết con tôi”. Bạn bè và gia đình anh đều biết rõ điều gì đã xảy ra cho anh và đám tang của anh cũng là một cuộc biểu tình.
Những chuyện như thế xảy ra như cơm bữa tại Syria. Nhưng theo Joan, khủng khiếp nhất vẫn là những cuộc tra tấn do các dân quân thân chế độ thực hiện. Joan cho biết đã xem một băng hình trong đó một người nói chống chế độ bị các dân quân thân chính phủ tra tấn và sát hại như thế nào. Họ trói tay chân người này như một con thú. Họ bắt anh ta phải quỳ gối trước mắt họ và đấm đá vào mặt, đầu cổ anh ta và la lên: “Mày muốn tự do hả? Tự do của mày đây”. Nói xong, họ tiếp tục đấm đá anh ta. Một lúc sau họ dừng lại và ra lệnh: “Mày hãy nói: Assad là Thượng đế của tôi!” Trong đơn đau tột cùng, nạn nhân cũng đành thều thào: “Assad là Thượng Đế của tôi”. Nhưng họ lại lên: “Mày nói láo”, rồi giáng xuống người anh ta những cú đánh mạnh hơn nữa. Nhưng những kẻ tra tấn không dừng lại ở đó. Họ tròng vào đầu nạn nhân một bánh xe, rồi chích lửa vào tóc của anh. Ngay cả sau khi nạn nhân tắt thở, họ vẫn còn đánh đấm và đâm chém vào người anh ta.
Joan nói rằng những hành động dã man như thế như đinh nhọn chọc thủng lòng ruột anh, nhất là khi chúng xảy ra tại chính nơi anh sinh ra và lớn lên. “Bạn không còn cảm thấy là người nữa. Bạn không thể thấy được ngay cả vẻ đẹp của một cánh hoa”.
Theo Joan, từ bên ngoài nhìn vào Syria, thế giới cho rằng chế độ Assad là một điều xấu ít tệ hại hơn tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo”. Thật ra, với Joan, “Quốc gia Hồi giáo” chỉ là một con cờ trong tay của Assad. Trước khi “Quốc gia Hồi giáo” xuất hiện, chế độ Assad, từ cha đến con, đều đã có chủ trương tiêu diệt chính người dân của mình. Ngày nay, với sự “hà hơi tiếp sức” của Nga, chế độ này lại càng tỏ ra hung hãn và tàn bạo hơn. Tại Aleppo chẳng hạn, thị tứ, trường học và bệnh viện đều đầy dẫy thường dân và đều là mục tiêu tấn công của chế độ Assad. Joan nói rằng đây là “một chế độ khủng bố trước khi “Quốc gia Hồi giáo” xuất hiện”. Cả hai đều gây ra tội ác, nhưng với những phương tiện đang có trong tay, chế độ Assad, được hậu thuẫn của Nga, gây nhiều tộc ác hơn “Quốc gia Hồi giáo”.
Trong bản phúc trình với tựa đề “Death Everywhere - War Crimes and Human Abuses in Aleppo, Syria” (Chết chóc khắp nơi - Tội ác chiến tranh và vi phạm nhân quyền tại Aleppo, Syria), được cho phổ biến hồi năm ngoái, Tổ chức Ân xá Quốc tế cho biết: từ tháng Giêng 2014 đến tháng Ba năm 2015,  các lực lượng chính phủ đã liên tục ném bom xuống các vùng có đông dân cư, trong đó có 14 chợ, 12 trạm giao thông, 23 đền thờ, 17 bệnh viện và 3 trường học. Phần lớn nạn nhân của những vụ ném bom này là thường dân.
Kết thúc cuộc phỏng vấn dành cho báo “Le monde diplomatique”, Joan khẳng định rằng những người Syria đang tìm đường đến Âu Châu hay những nơi khác, là những người chỉ muốn trốn khỏi chế độ Assad và chiến tranh; họ là những người cũng có hy vọng và ước mơ, chỉ mong được tắm biển và sau đó thưởng thức một tách trà hay một ly bia.








Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2016

Ánh mắt trẻ thơ


Chu Thập
26.8.16

Thế Vận Hội Rio de Janeiro đã kết thúc. Những kỷ lục mới, những hình ảnh của lễ nghi khai mạc và kết thúc Thế Vận Hội có lẽ vẫn còn đọng lại trong tâm trí nhiều người. Riêng tôi, lạ quá, trong những ngày vừa qua tôi chỉ nghĩ đến hình ảnh của cậu bé Syria ngồi bất động như một pho tượng trên một chiếc xe cứu thương. Cậu bé tên là Omran Dagneesh 5 tuổi này quả là một “thiên thần ở một nơi không có hòa bình”.
Trong một bài phóng sự dành cho Đài Truyền Hình BBC, nhà văn kiêm kiến trúc sư Mỹ gốc Syria, Lina Sergie Attar đã theo dõi và ghi lại những chuyển động của pho tượng sống ấy. Cậu bé ngồi trên chiếc ghế của xe cứu thương, hoàn toàn bất động. Cậu nhìn về phía trước mà không hề nháy mắt. Nhưng rồi bức tượng lại cử động. Cậu sờ vầng trán ướt đẫm máu me của mình, rồi nhìn hai bàn tay cũng vấy máu của mình. Sau một phút do dự, cậu bé chùi tay vào thành ghế, một cách vô tư như thể đang tìm kiếm một đồ chơi.
Một lần nữa thế giới lại sửng sốt về hình ảnh của một đứa bé. Hình ảnh của em đã tràn ngập trang bìa của tất cả những tờ báo lớn trên thế giới cũng như các trang mạng xã hội. Hình như gần đây cứ mỗi dạo cuối hè thì thế giới lại chú ý đến thảm kịch của Syria xuyên qua những hình ảnh của những đứa trẻ đang đau khổ. Cách đây 3 năm, thế giới đã nhìn thấy hình ảnh của những đứa trẻ bị nghẹt thở vì bom hơi ngạt tại vùng ngoại ô Ghouta của Thủ đô Damascus. Những đứa trẻ này trông chẳng khác nào những con búp bê bằng sành được xếp thành hàng dài để tô lên một lớp phấn sáp.
Cách đây một năm, thế giới cũng đã bị chấn động bởi  bức hình của một bé trai Syria khác tên là Alan Kurdi, chết đuối và trôi dạt vào một bờ biển của Thổ Nhĩ Kỳ khi cùng với gia đình vượt biển sang Hy Lạp như hàng triệu người tỵ nạn khác. Alan Kurdi đã trở thành biểu tượng của số phận của triệu triệu người tỵ nạn trên khắp thế giới trong năm 2015.
Cuối hè năm nay dường như biểu tượng ấy lại được kế tục trong “pho tượng” Omran Daqneesh. Nhưng tiếc thay, theo nhà văn Lina Sergie Attar, mỗi năm những hình ảnh như thế đã được hàng triệu triệu “dân cư mạng” “thích” (like) và tức khắc gợi lên cơn phẫn nộ,  lòng trắc ẩn, sự cảm thương cũng như thúc đẩy những cuộc quyên góp và trao tặng cho các tổ chức cứu trợ và từ thiện, nhưng chỉ vài tuần hay vài ngày sau đó, dưới ánh mặt trời chẳng có gì mới mẻ, mọi sự đều trở lại như cũ, người ta quên đi hình ảnh của thảm kịch của người dân Syria và trên 65 triệu người đang quằn quại trong các trại tỵ nạn trên khắp thế giới. Những cuộc không kích của Chính phủ Syria và Đồng minh Nga vẫn cứ tiếp tục trút xuống trên người dân vô tội. Tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” vẫn cứ tiếp tục hành hạ và tàn sát người dân trong những vùng họ kiểm soát. Số người chết ngày càng nhiều và cuộc khủng hoảng tỵ nạn ngày càng leo thang. Cộng đồng thế giới và Liên Hiệp Quốc cũng đành bó tay chào thua. Một năm nữa sắp kết thúc. Một mùa hè nữa lại đến. Rồi đây có lẽ một hình ảnh đau thương khác của trẻ thơ cứ đến hẹn lại xuất hiện.
Các cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học, cảnh  người dân tan tác chạy trốn, những trái bom dội xuống, những cuộc tra tấn...kể từ năm 2011 đến nay, bất cứ một hành động tàn bạo nào của chiến tranh cũng đều trực tiếp ảnh hưởng đến trẻ thơ. Bởi lẽ tất cả mọi trẻ thơ như cậu bé Omran, kể từ lúc mở mắt chào đời với tiếng khóc cho đến nay chỉ biết có mỗi một thực tại  là chiến tranh. Đối với hàng triệu trẻ em chào đời và lớn lên trong cuộc nội chiến tại Syria, cuộc sống hàng ngày lúc nào cũng u ám, nhưng tương lai của các em lại càng ảm đạm hơn. Ở trong nhà, các em là mục tiêu của những cuộc không kích và hỏa tiễn. Sống trong những vùng bị bao vây, dù từ bên nào, các em cũng chỉ biết đói khát và bệnh tật. Cắp sách đến trường là điều chỉ có trong trí tưởng tượng của nhiều em. Còn nếu có được đi học thì trường học hay con đường dẫn đến trường lúc nào cũng có thể biến thành tử địa. Nếu cùng với gia đình trốn sang biên giới của một nước khác, rất có thể các em sẽ bị cưỡng bách phải lao động để giúp đỡ gia đình. Đó là chưa kể đến vô số những hiểm nguy đang chờ đợi trước mắt như chết chìm giữa đại dương, bị nhốt trong các trại giam...Và cuối cùng, nếu được may mắn đặt chân đến một nơi an toàn tại một nước khác ở Tây Phương, các em có thể trở thành nạn nhân của kỳ thị và ngay cả thù hận. Đi đâu, ở đâu các em cũng đều bị ruồng bỏ.
Đó là sự thật mà có lẽ “pho tượng sống” Omran Daqneesh muốn nói lên bằng cái nhìn thinh lặng và cam chịu của em. Em nhìn vào ống kính truyền hình. Em nhìn vào lương tâm của bất cứ ai nhìn em để nói lên chính sự thinh lặng của thế giới trước nỗi khổ đau tột cùng của trẻ con và người dân Syria cũng như tất cả mọi người tỵ nạn trên khắp thế giới. Gần gũi với Omran Daqneesh hơn cả có lẽ là số phận của trên 700 ngàn trẻ em Yemen đang chết dần chết mòn vì bom đạn và thiếu ăn trong cuộc chiến tranh vô nghĩa mà có lẽ thế giới gần như không muốn nhắc đến.
Kể từ ngày thứ Tư 17 tháng 8 vừa qua, khi bức hình của “pho tượng sống Omran Daqneesh” được phổ biến đi khắp thế giới, ánh mắt của cậu bé đã không ngừng theo đuổi tôi để tra vấn và cảnh cáo tôi về một trong những hiểm nguy khủng khiếp nhứt trong cuộc sống con người. Đó là thái độ dửng dưng, bất động, sự vô cảm và xem thường cái ác. Một cách nào đó, đó là cái chết của lương tâm. Đó là thông điệp mà có lẽ cậu bé Omran Daqneesh muốn gởi đến cho riêng tôi bằng cái nhìn thinh lặng của cậu.
Năm 1960, Adolf Eichmann, người được xem là kiến trúc sư của cuộc diệt chủng người Do Thái do Đức Quốc Xã chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế chiến, đã bị cơ quan tình báo Do Thái Mossad bắt giữ và đưa về Jerusalem để xét xử. Trong chiến tranh, Eichmann được Hitler bổ nhiệm làm giám đốc đặc trách việc chuyên chở người Do Thái vào các trại tập trung. Ông là người phối hợp tất cả mọi chuyến xe lửa chở người Do Thái đến các lò sát sinh ở Đông Âu. Khi Đức Quốc Xã sụp đổ, Eichmann trốn sang Á Căn Đình, Châu Mỹ La Tinh. Tại đây ông làm đốc công trong một xưởng ráp xe Mercedes Benz của Đức. Ông hy vọng sẽ sống “yên lành” và vô danh  trong quãng đời còn lại.
Nhưng một người nổi tiếng như ông làm sao có thể qua mắt được cơ quan tình báo Mossad. Dù vậy, họ cũng đã phải bỏ ra suốt một  thập niên mới bắt được ông. Tháng 5 năm 1960, Eichmann đã bị bắt và dẫn độ về Jerusalem để chịu xét xử. Đây có lẽ là một trong những vụ án nổi tiếng nhứt của thế kỷ. Báo The New Yorker của Mỹ đã cử một phóng viên nổi tiếng là bà Hannah Arendt (1906-1975) đến Jerusalem để theo dõi và tường thuật về vụ án.
Hannah Arendt chào đời trong một gia đình Do Thái tại Wilhelmine, Đức năm 1906. Trong thời kỳ theo học thần học tại Đại học Marburg, bà đã từng gặp gỡ và làm quen với triết gia nổi tiếng Martin Heidegger. Năm 1933, bà bị cơ quan mật vụ Gestapo của Đức Quốc Xã bắt giữ vì tội thu thập tài liệu về cuộc tuyên truyền bài Do Thái. Bà trốn sang Paris, nhưng bị bắt lại và đưa về một trại giam ở Đức. Nhưng một lần nữa, bà đã may mắn đào thoát được và cùng với chồng di dân sang Hoa Kỳ và hành nghề ký giả. Năm 1951, bà đã cho xuất bản tác phẩm “Nguồn gốc của các chế độ toàn trị” (The Origins of Totalitarianism) trong đó bà so sánh Đệ tam Đế chế của Đức Quốc Xã với Chế độ Cộng sản của Stalin.
Cuộc xét xử đồ tể Eichmann được Ký giả Arendt theo dõi và tường thuật đã kéo dài 14 tuần lễ. Ông đã bị kết án với 15 tội ác chống lại nhân loại. Tháng 5 năm 1962, Eichmann đã bị treo cổ. Đây là vụ xử tử duy nhứt trong quốc gia Israel kể từ khi nước này được thành lập hồi năm 1948.
Bài phóng sự về vụ xét xử Eichmann do bà Arendt thực hiện có tựa đề “ Eichmann in Jerusalam: A Report on the Banality of Evil” (Eichmann tại Jerusalem: phóng sự về việc xem thường cái Ác). Kết thúc bài phóng sự, bà Arendtd đã để lại một thuật ngữ rất thường được nhắc đến mỗi khi nói đến cái Ác là “The Banality of Evil” (xem thường cái Ác). Theo nữ ký giả này, Eichmann đã phạm tội ác khi tham dự vào cuộc diệt chủng người Do Thái với tất cả ý muốn tự do và quyết tâm của ông. Sau Hitler, ông là nhân vật chủ chốt trong cuộc diệt chủng. Nhưng Ký giả Arendt cho rằng ông tham gia vào cuộc diệt chủng không vì theo chủ trương bài Do Thái, cũng chẳng vì ác ý và cũng chẳng vì bất cứ một ý thức hệ nào. Ông phạm tội ác chỉ vì muốn tuyệt đối tuân lệnh cấp trên là Hitler và vì muốn được thăng tiến trong sự nghiệp mà thôi. Hiểu một cách đơn giản về thuật ngữ  “xem thường cái Ác” của Ký giả Arendt, nơi đồ tể Eichmann không có khả năng phân biệt thiện ác, không có ý thức về tội ác hay đúng hơn, lương tâm hoàn toàn bị tê liệt. Ông có thể là một “quái vật” vì đã phạm tội ác tày đình, nhưng ông là một mẫu người bình thường như mọi người Đức bình thường khác, những người đang sống vui vẻ và hài hòa với những người láng giềng Do Thái, bỗng một hôm biến thành đồ tể để đi săn lùng họ.
Ngày nay, nếu muốn đi tìm những con người “xem thường cái Ác” như đồ tể Eichmann, có lẽ người ta chỉ cần tìm đến với tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo”. Với tổ chức khủng bố này, bất cứ một con người vô tội nào cũng có thể là đối tượng để tàn sát và tàn sát bằng những cách thế mà có khi thế giới văn minh không dám tưởng tượng tới: lạnh lùng, dửng dưng, vô cảm như máy móc! Trước đây, tổ chức này “cực đoan hóa” thành phần thanh niên thiếu nữ. Nay như vừa mới xảy ra tại Thổ Nhĩ Kỳ hay tại Iraq, những kẻ ôm bom tự sát để giết hại những người vô tội lại là trẻ con. Làm sao có thể tưởng tượng được trường hợp một chiến binh của tổ chức này tại Iraq đã cài bom vào cậu con trai mới 12 tuổi của mình và sai đi tự sát để giết hại những người vô tội?
Nghĩ đến điều mà ký giả Arendt gọi là “xem thường cái Ác”, tôi không thể không nghĩ đến một Tổng thống Assad của Syria và ngay cả một tổng thống Nga Vladimir Putin, những người đã có thể nhẫn tâm sai ném bom vô tội vạ xuống những khu dân cư ở Aleppo để tạo ra một pho tượng sống như Omran Daqneesh.
Dĩ nhiên, nói đến những kẻ “xem thường cái Ác”, trong một mức độ nào đó, tôi cũng nghĩ đến điều thường được gọi là thái độ “vô cảm” trong các xã hội cộng sản như Trung Cộng hay Việt Nam: vô cảm trước tội ác, vô cảm trước nỗi khổ đau của người đồng loại.
Nhưng càng ngắm nhìn “pho tượng sống Omran Daqneesh” tôi lại càng nghĩ đến chính mình và lời cảnh cáo của cậu bé với cái nhìn câm lặng này. Ánh mắt thơ dại ấy như trách móc tôi rằng trong cuộc sống, biết bao  lần tôi cũng đã “xem thường cái Ác” và nhứt là vô cảm trước nỗi khổ đau của người đồng loại.