Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016

Thành tích để đời


 Chu Thập 
19.8.16
Ở Thế Vận Hội nào cũng có những người làm nên lịch sử. Lực sĩ điền kinh của Jamaica, Usain Bolt được vinh danh như người chạy nhanh nhất sau khi đã đoạt được liên tiếp 3 huy chương vàng. Tên tuổi của “kình ngư” người Mỹ, Michael Phelps, sau khi tuyên bố giải nghệ, cũng sẽ được mãi mãi nhắc nhớ với 23 huy chương vàng, một kỷ lục chưa từng có ở thế vận hội.
Nhưng riêng tôi lại có cái nhìn ngược đời hơn khi chỉ chú ý đến những thành tích “không giống ai” của một số lực sĩ. Tôi sẽ nhớ mãi hình ảnh của nữ lực sĩ điền kinh Ethiopia, cô Etenesh Diro. Trong cuộc chạy đua nước rút 3000 thước với chướng ngại, nữ lực sĩ 25 tuổi này bị một đối thủ vấp té và đè lên người khiến cô cũng ngã xuống đất. Chiếc giày ở chân phải của cô bị tuột ra. Cô cố gắng đứng dậy và xỏ giày vào chân. Nhưng dây giày lại bị rối khiến cô không thể nào xỏ chân vào giày và chiếc vớ cũng đã không cánh mà bay đâu mất. Không chấp nhận bỏ cuộc, Etenesh Diro đã đứng lên và đuổi theo các lực sĩ khác với một bàn chân không. Vậy mà cô đã bỏ được một số đối thủ để về hạng 7. Với tôi đây là một  trong những thành tích thế vận hội  đáng được tán dương hơn cả. Đó là thành tích chiến đấu của một người không chịu bỏ cuộc.
Về chót trong cuộc thi đấu có khi cũng là một khoảnh khắc đáng ghi nhớ trong các cuộc thi đấu tại Thế Vận Hội. Đó là trường hợp của Eric Moussambani, một lực sĩ bơi lội của Guinea Xích Đạo. Nhờ một đặc ân dành cho các nước đang phát triển, Moussambani đã có thể tham gia các cuộc thi đấu tại Thế Vận Hội Sydney năm 2000. Trước đó 8 tháng, người lực sĩ này chỉ mới tập tễnh bước vào hồ bơi mà không có được một huấn luyện viên nào hướng dẫn. Đến Sydney, anh mới biết thế nào là một hồ bơi theo tiêu chuẩn của thế vận hội. Trước đó, anh chỉ tự tập dượt trong một hồ bơi với chiều dài không quá 50 thước. Vậy mà bước vào hồ bơi để thi đấu 100 thước bơi tự do, anh đã tỏ ra rất tự tin, nhứt là ở 15 giây đầu tiên. Nhưng rồi sau đó, anh đã hoàn toàn bị các đối thủ bỏ lại xa tít đằng sau. Anh về đến đích sau đúng một phút 53 giây trước sự hoan hô cổ võ của đám đông. Đây là “kỷ lục” chậm nhứt trong lịch sử Thế Vận Hội về bộ môn 100 thước bơi tự do. Với thời gian một phút 53 giây, “kình ngư” Ian Thorpe của Úc Đại Lợi đã có thể bơi được đến cả 200 thước! Nhưng  với sự kiên trì và lòng quả cảm, Moussambani  đã  được chọn làm huấn luyện viên của đội bơi lội của Guinea Xích Đạo trong Thế Vận Hội Rio de Janeiro năm nay. Ian Thorpe đã đưa ra nhận xét: “Thế Vận Hội là như thế đó!” Anh có ý nói đến tinh thần thể thao đích thực của Moussambani.
Trong rất nhiều giây phút thần diệu của Thế Vận Hội, tạp chí Reader’ s Digest trong số ra tháng 8 này còn ghi lại một hình ảnh tạo ra nhiều cảm xúc hơn. Đó là hình ảnh của nữ lực sĩ điền kinh Á Rập Saudi, cô Sarah Attar, người đã tham dự các cuộc thi đấu tại Thế Vận Hội London năm 2012. Trong cuộc chạy nước rút 800 thước, người nữ lực sĩ của vương quốc Hồi giáo này không những về chót, cô còn về chậm hơn cả đến nửa phút so với người kế chót. Nhưng khi chân cô vừa chạm vào điểm đến thì cả đám đông đều đứng lên hoan hô. Lý do: đầu trùm khăn, toàn thân được che kín với bộ áo hijab của người phụ nữ Hồi giáo, Sarah Attar là người phụ nữ đầu tiên của vương quốc Á Rập Saudi tham gia tranh tài tại Thế Vận Hội. Chính sự cương quyết của cô đã được xem như một chiến thắng đầy ý nghĩa cho quyền của người phụ nữ tại một quốc gia trong đó hầu như mọi quyền căn bản của người phụ nữ đều bị chối bỏ.
Tôi trân quí những hình ảnh trên đây bởi vì chúng đã thể hiện được tinh thần thể thao đích thực như đã từng được bá tước Pierre de Coubertin (1863-1937), cha đẻ của Thế Vận Hội hiện đại, đề cao khi ông nói: “Điều quan trọng nhứt trong Thế Vận Hội không phải là  đoạt giải mà là tham gia; điều thiết yếu trong cuộc sống không phải là chinh phục mà là kiên trì chiến đấu”. Họ là những viên ngọc làm sáng tỏ tinh thần đích thực cần được nêu cao tại Thế Vận Hội.
Cơn cám dỗ của tiếng tăm, danh vọng, quyền lực, sĩ diện và ngay cả tiền bạc đã và đang làm lu mờ tinh thần thể thao trong các cuộc thi đấu, cách riêng tại Thế Vận Hội và như vậy cũng khiến cho nhiều người đánh mất chính ý nghĩa của cuộc sống. Chuyện Chính phủ Nga đưa việc khuyến khích các lực sĩ sử dụng thuốc kích thích trong các cuộc thi đấu thể thao lên hàng “chính sách” đã cho thấy mục đích cao đẹp của thể thao đã bị đánh tráo với sĩ diện và uy thế quốc gia. Những huy chương vàng rực rỡ mà các lực sĩ Nga có dành được không thể nào sánh được với  không biết bao nhiêu lực sĩ, dù không đạt được bất cứ thành tích nào, vẫn kiên trì chiến đấu cho đến cùng.
Theo dõi các cuộc thi đấu ở Thế Vận Hội, lúc nào trong đầu tôi cũng vụt lên ý nghĩ: sống là một cuộc chiến đấu liên lỉ và nếu như trong bất cứ cuộc thi đấu nào cũng có người thắng kẻ thua, thì trong cuộc sống cũng thế, thất bại là chuyện bình thường. Chuẩn bị vào đời mà không chịu nghiền ngẫm chân lý ấy thành ra khi gặp thất bại con người dễ nản chí và bỏ cuộc. Nhiều khi vì thất vọng mà làm những hành động liều lĩnh, thiếu suy nghĩ, hại cả một đời người.
Thất bại là chuyện bình thường trong cuộc sống. Đó là bài học tôi hằng tâm niệm mỗi khi theo dõi bất cứ một cuộc tranh tài thể thao nào. Nữ lực sĩ Anna Meares là người được Úc Đại Lợi đặt vào nhiều kỳ vọng nhứt. Tay đua xe đạp nữ này đã được vinh dự cầm lá cờ Úc trong cuộc diễn hành trong nghi thức khai mạc Thế Vận Hội Rio de Janeiro. Với 6 lần đoạt huy chương, trong đó có hai huy chương vàng xuyên qua bốn Thế Vận Hội cũng như 11 lần vô địch thế giới và 5 lần vô địch tại các cuộc thi đấu trong Khối Thịnh Vượng Chung, ai cũng tưởng rằng thất bại sẽ không có trong từ điển của cô. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Tại Thế Vận Hội lần này, không những cô đã không bảo vệ được chức vô địch của mình, mà còn tụt xuống hạng 9 trên 12. Đây có lẽ là lần đầu tiên người nữ lực sĩ 32 tuổi này biết khóc và biết thế nào là thất bại.
Đọc truyện “Tam Quốc Diễn Nghĩa” của La Quán Trung, ai cũng thích nhân vật Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông là hiện thân của mưu lược và thành công, đánh đâu thắng đó. Nhưng tài giỏi đến đâu cũng không tránh khỏi một lần thất bại. Trong trận chiến ở Kỳ Sơn, Khổng Minh đã lừa được Tư Mã Ý vào hang Hồ Lô để tiêu diệt. Nào ngờ trời Kỳ Sơn vào tháng Sáu bỗng nổi mưa to gió lớn, lửa của Khổng Minh bị tắt sạch. Tư Mã Ý nhờ đó mà thoát chết. Lúc bấy giờ Khổng Minh chỉ còn biết ngửa mặt nhìn trời mà than: “Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”. Khổng Minh Gia Cát Lượng đã không được “trời giúp” nên đã để xổng mất Tư Mã Ý. Sau này, nhà Thục mà Khổng Minh đã từng giúp Lưu Bị dựng lên đã bị chính cha con Tư Mã Ý diệt.
Tài ba lỗi lạc hay nhìn xa thấy rộng đến đâu con người cũng không bao giờ học được chữ ngờ và tiên đoán được những bất trắc trong cuộc sống. Ngoài câu ngạn ngữ tương đương với câu nói “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên” của Khổng Minh, người Tây Phương, cách riêng người Đức còn có một câu nói mỉa mai hơn: “Mưu sự tại nhân và Thượng Đế cười” (Mann tracht und Gott lacht). Có lẽ câu nói này bắt nguồn từ một đoạn trong Kinh Thánh của Do Thái và Ki Tô Giáo: “Thượng Đế đảo lộn chương trình muôn nước. Người phá tan ý định chư dân” (Thánh Vịnh 33, 10). Từ những kinh nghiệm ê chề của cuộc sống, Đông Tây đã gặp nhau khi nhìn nhận thân phận bất toàn của con người và từ đó biết tỏ ra khiêm tốn khi gặp thất bại trong cuộc sống.
Những bất trắc và rủi ro trong cuộc sống là điều không bao giờ có thể tránh được. Những thay đổi và biến cố bất ngờ luôn xảy ra trong cuộc hành trình của mỗi người. Cứ tưởng con đường đang trải dài trước mắt là một con đường thẳng. Nào ngờ ở một đoạn nào đó lại phải đi vào một khúc quanh hay ngay cả một ngõ cụt. Chúng ta bối rối nếu không tìm được lối thoát. Nhưng vui và nhẹ nhõm biết chừng nào nếu chúng ta tìm lại được con đường thẳng trước mặt.
Tôi có quen một trạng sư trẻ. Sau một thời gian hành nghề luật sư chuyên về di trú, anh học thêm và tốt nghiệp trạng sư. Nhưng còn trẻ, không thân thế, chen chân vào thế giới trạng sư không phải là dễ. Thỉnh thoảng anh mới có dịp ra tòa và kiếm được chút tiền còm. Lo lắng cho sức khỏe tinh thần của con, mẹ anh thường thăm hỏi và nâng đỡ. Có lần khi được mẹ hỏi “đã thấy thích nghề trạng sư chưa”, anh chơi chữ khi trả lời: “Không phải là “thích” mà là “thích nghi”.
Quả thật, sống là một cuộc thích nghi không ngừng. Chúng ta tập sống với những bất trắc và tương lai vô định. Làm sao biết chắc điều gì sẽ xảy ra ngày mai?  Có người luôn đóng vai tiên tri để chỉ nhìn thấy bầu trời u ám trước mặt. Có người buông xuôi với cái “nghiệp” không thể thay đổi của mình. Có người đặt niềm tin nơi một Đấng Tối Cao luôn che chở và độ trì họ trong mọi cơn gian nan, thử thách.
Tuy nhiên phần lớn trong chúng ta đều không chấp nhận buông xuôi bỏ cuộc. Chúng ta cố gắng dẹp bỏ những căng thẳng ra khỏi tâm trí. Chúng ta cũng  đề phòng các vấn đề và khó khăn của cuộc sống. Chúng ta gìn giữ cho ngôi nhà của chúng ta được an toàn. Chúng ta tìm cách ăn uống một cách lành mạnh để tránh bệnh tật. Nhưng bôn ba cũng không qua thời vận. Chúng ta vẫn biết rằng dù có đề phòng và dự phòng đến đâu, chúng ta không thể nào tránh khỏi tai nạn và thiên tai.
Thảm trạng là một phần đáng buồn, nhưng là một phần tự nhiên trong những thăng trầm của cuộc sống. Nhưng mất mát không bao giờ là thất bại tận cùng cũng như thành công không bao giờ là khải hoàn tối hậu. Như bá tước Pierre de Coubertin đã nói: “điều thiết yếu trong cuộc sống không phải là chinh phục mà là chiến đấu”. Thành công không tự mãn mà thất bại cũng không bỏ cuộc. Bao lâu còn hít thở không khí là bấy lâu còn chiến đấu.
Đó là bài học mà tôi thường cảm nhận được khi ngưỡng mộ những kỷ lục của các lực sự cũng như ngậm ngùi cảm thông trước những thất bại của họ. Thành công hay thất bại của các lực sĩ nói với tôi rằng những thay đổi bất thường là điều luôn xảy ra trong cuộc hành trình. Điều quan trọng trong cuộc sống chính là vẫn tiếp tục kiên trì chiến đấu. Chiến đấu với ngoại cảnh đã đành, những quan trọng hơn chính là chiến đấu với bản thân. Như văn hào Anh Rudyard Kipling (1865-1936) đã khuyên trong bài thơ “Nếu” (If) của ông: “Nếu con có thể bình chân trước vinh quang cũng như tai họa, nếu con có thể đối xử như nhau với cả hai thứ đó, con sẽ là thật sự là Một Người, con ạ.”




Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

Cha chung cũng có người khóc



Chu Thập
7.1.13


Kỳ nghỉ Giáng Sinh và đầu năm Dương lịch vừa qua, tôi theo người thân làm một chuyến du ngoạn lên miền Bắc tiểu bang NSW. Với tôi, có đi là có học. Một sàng khôn thì chưa hẳn đã có, nhưng ít nhứt tôi cũng đã học được một số điều nhỏ để tự nhắc nhở phải sống tốt đẹp và ra người tử tế hơn.
Úc đại lợi vốn có vô số thắng cảnh để ngắm. Nhưng trong chuyến đi vừa qua, đập vào mắt tôi lại không phải là những cảnh núi rừng, ao hồ hùng vĩ mà là những chuyện nhỏ. Chẳng hạn như tại thị trấn Antiene, nơi có hai nhà máy phát điện được giải nhiệt bằng một hồ nước nhân tạo khá lớn, tôi thấy có một cái trụ nhỏ được dựng lên ở cổng ra vào của một bãi cắm trại (caravan park) có ghi vài điều kiện đại khái như: mỗi chiếc xe phải trả 5 đô, lấy ticket và bỏ tiền vào hộp “honesty box”. Những “cửa tiệm” không có người đứng bán hàng nhưng được thay thế bằng một cái hộp kêu gọi tự giác như thế thì tôi rất thường thấy dọc đường ở vùng quê Úc đại lợi. Nay thì tôi lại thấy một cái hộp như thế ngay ở cổng ra vào của một bãi cắm trại được hội đồng thành phố quản lý. Quả là chuyện hiếm thấy. Nhìn xung quanh tôi không thấy có bất cứ chiếc máy thu hình tự động nào để theo dõi những người ra vào cả. Bên trong thì lại có đủ mọi tiện nghi tối thiểu cho một cuộc cắm trại như nhà vệ sinh, nhà tắm v.v.
Tôi cứ tưởng chuyện tự giác trả tiền khi vào bãi cắm trại là sáng kiến riêng của trị trấn nhỏ Antiene. Nhưng đi xa hơn về hướng Bắc, tôi cũng thấy một hiện tượng tương tự tại một bãi cắm trại lớn xung quanh Đập Chaffey ở gần Tamworth. Cũng với giá cả tương tự, cũng với cái hộp “honesty box”. Riêng trong cái bãi cắm trại rộng lớn này, ngoài những tiện nghi tối thiểu, những người cắm trại còn được hưởng thêm một thứ xa xỉ khác là nước nóng trong các phòng tắm. Chỉ cần một người bỏ vào một lỗ khóa nhỏ một đô là 5 phòng tắm đều có nước nóng!
Một chuyện nhỏ khác cũng khiến tôi suy nghĩ không ít về tinh thần tự giác và tôn trọng công ích của người dân Úc. Một bữa trưa, chúng tôi mua một ít lương khô và lái xe lên một nơi được xem là đỉnh cao của vùng có một tên gọi nghe rất hùng vĩ là “hanging rocks” (những tảng đá treo). Có lẽ không phải là một địa điểm du lịch nổi tiếng được nhiều du khách tìm đến, cho nên nơi này chỉ được trang bị sơ sài bằng vài ba cái bàn và một số ghế. Sau bữa cơm trưa dã chiến, tôi tìm cái thùng rác để ném các đồ thừa vào. Thấy thiếu một “thiết bị” tượng trưng cho văn minh, tôi định “vô tư” như người Hà nội thời xã hội chủ nghĩa để ném đại rác rưởi vào rừng, nhưng lại nhìn thấy một tấm bảng có hàng chữ viết đủ rõ để ai cũng có thể đọc được: xin vui lòng mang rác về nhà để tránh cho chim chóc và thú rừng không bị nhiễm độc! Tôi cảm thấy hổ thẹn vì cái thói quen bừa bãi thiếu trách nhiệm của mình. Nhìn xung quanh, tôi không thấy có bất cứ một dấu hiệu nào cho thấy có người đã vô tư “xả rác” ở nơi công cộng này. Hình ảnh của cái hộp “honesty box” ở những bãi cắm trại tôi vừa mới đi qua, cộng với tình trạng sạch sẽ ở một nơi vắng vẻ như thế này khiến tôi thầm phục người Úc.  Họ dạy cho tôi bài học về tự giác, tự trọng và dĩ nhiên tinh thần tôn trọng công ích. Ai bảo “cha chung không ai khóc”! Thật ra, tôn trọng công ích cũng chính là nghĩ đến quyền lợi riêng tư của mình. Chính vì mọi người đều biết tôn trọng công ích mà ai cũng được hưởng những điều mà công ích mang lại cho mỗi người.
Nghĩ về công ích, tôi cũng liên tưởng đến quyền tư hữu. Chỉ trong những xã hội trong đó công ích được tôn trọng thì quyền tư hữu mới được thực sự nhìn nhận. Giàu có bao nhiêu cũng được. Chiếm hữu bao nhiêu cũng được. Quyền tư hữu không có giới hạn. Tôi có ý nghĩ ấy khi được vào “ tham quan” một khu rừng nơi chúng tôi có ý định qua đêm và săn bắn. Từ lâu nay tôi cứ nghĩ hễ “rừng” thì phải là lâm viên quốc gia. Nhưng khu rừng trong đó chúng tôi phải dùng chiếc Hilux để đi một phần ba chu vi mà đã mất hơn cả tiếng đồng hồ, lại thuộc về một tư nhân. Người chủ của nông trại, vốn là một người Nam Phi đến Úc lập nghiệp từ hơn 2 thập niên qua,  hãnh diện nói rằng đây là công lao mồ hôi nước mắt của ông chứ không phải là tài sản của ông bà để lại. Rộng gần 2 ngàn mẫu tây, nông trại này chỉ để nuôi khoảng 1500 con bò. Trung bình, mỗi con bò chiếm được một không gian hơn cả mẫu. Thật ra, cơ ngơi này chỉ là trung bình. Có những nông trại còn rộng gấp 5,10 lần khu rừng mà chúng tôi đã thăm viếng.
Thấm mệt và xương cốt hầu như muốn rớt ra khỏi thân thể sau hơn một tiếng đồng hồ ngồi lắc lư trên chiếc xe Ute, tôi chợt có ý nghĩ:  người ta chiếm hữu một khu rừng rộng lớn như thế có lẽ không phải để khai thác hay thu lợi, mà chỉ để nhìn ngắm cho thỏa thích mà thôi. Không thiếu những người chỉ cảm thấy hạnh phúc vì chiếm hữu được nhiều hơn người khác.
Có lẽ văn hào Leo Tolstoy của Nga đã muốn mỉa mai cái niềm “hạnh phúc” ấy qua câu chuyện ngắn kể về một tá điền nghèo được ông chủ cho chạy được bao nhiêu thì được bấy nhiêu đất đai. Từ sáng tinh sương, con người suốt đời không có được một tấc đất làm của riêng đã hăm hở chạy. Ông chạy cho đến kiệt sức và ngã quỵ xuống. Mắt ông hoa lên để không còn có thể quay nhìn lại và thấy được phần đất mình đã chiếm hữu được. Cuối cùng, người tá điền nghèo đã nhắm mắt xuôi tay trước khi còn đủ sức để cắm dùi và thể hiện quyền làm chủ đất đai của mình. Có lẽ chỉ có người điên mới hành động một cách ngu xuẩn như nhân vật tá điền trong câu chuyện của văn hào Tolstoy. Thật ra, tôi cho rằng chiếm hữu hay đắc thủ của cải vật chất đến độ “quên ăn quên ngủ” chỉ vì đam mê chiếm hữu hay vì quyền lực thống trị có lẽ cũng là một thái độ khờ dại.
Tôi có ý nghĩ ấy khi nhìn vào cách tiêu xài của võ sĩ quyền anh nổi tiếng nhứt thế giới hiện nay là Floyd Mayweather. Trước đây, người võ sĩ 36 tuổi này được người ta đặt cho cái tên là “Pretty Boy”. Nay nhiều người đã có lý để gọi anh là ông “Money” (Tiền!). Ai mà chẳng tham tiền. Nhưng tay vô địch quyền anh này muốn tỏ rõ cho nhiều người thấy rằng anh “đấm đá” là để có nhiều tiền và được tạp chí Forbes “vinh danh”.Với 5 lần vô địch thế giới, năm vừa qua, anh  đã được tạp chí này bầu chọn làm lực sĩ có doanh thu cao nhứt thế giới. Đây là tước hiệu mà danh thủ đánh Golf Tiger Wood đã chiếm giữ trong 11 năm liên tiếp.
Với tài sản lên đến 115 triệu đô, Mayweather không biết làm gì khác hơn là khoe ra cho mọi người thấy. Anh ít khi dùng thẻ tín dụng mà chỉ thích xài  tiền mặt. Mỗi lần mua sắm, anh tung ra từng cuộn giấy bạc $100. Trong các hộp đêm, anh có thói quen rải tiền cho đám đông. Trong các cận vệ của anh, có một người chuyên mang theo từng bao tiền để anh đánh cá, thường là trong các trận thể thao và trong các sòng bài tại Las Vegas. Dạo tháng 9 năm ngoái, anh “nổi tiếng” hơn khi bỏ ra $2.9 triệu để đánh cá trong một trận Football của Mỹ (x. The Australian, phụ trương thể thao, 5-6/1/2013).
Đúng là xài tiền như nước. Dĩ nhiên, người ta sẽ bảo: tiền của tôi tôi xài, mắc mớ gì đến các người mà thắc mắc! Quả vậy, đồng tiền liền khúc ruột. Quyền tư hữu gắn liền với quyền được xử dụng của cải. Tiền của tôi, tôi muốn làm gì mặc tôi. Tôi cất giữ khư khư cho riêng tôi cũng được, mà phung phí cũng được.
Thật ra, lương tri và lẽ thường dường như không cho phép tôi suy nghĩ như thế. Liệu tôi có thể “yên tâm” để khư khư ôm lấy tài sản của tôi hay phung phí tiền của khi xung quanh tôi có vô số người đang đói khát không? Có thể đây là suy nghĩ mà cứ sau mỗi mùa nghỉ Giáng Sinh và Đầu Năm Dương Lịch, báo chí thường gợi lên cho chúng ta khi nhìn lại cách mua sắm thức ăn trong một năm qua. Theo báo The Sydney Morning Herald, mỗi năm người dân Úc phung phí khoảng 8 tỷ Úc kim về thức ăn. Ông John Dee, người sáng lập tổ chức “Do Something” (Hãy làm một cái gì đi!) cho biết: trung bình, mỗi năm, mỗi một gia đình Úc phí phạm khoảng $1036 tiền thức ăn. Một cách cụ thể, trên toàn quốc, mỗi năm có khoảng 4 triệu tấn lương thực bị quăng vào thùng rác. Nếu biết tính toán và tiết kiệm, số tiền dùng để mua số thức ăn bị quăng vào thùng rác có thể đủ để nuôi sống một gia đình trong một tháng và đủ để trả tiền điện cho một gia đình trong 6 tháng. Chỉ riêng tại tiểu bang New South Wales, số thực phẩm bị quăng vào thùng rác chiếm đến 38 phần trăm lượng rác rưởi trong mỗi gia đình.
Theo ông Dee, sở dĩ người dân Úc hiện nay phung phí thức ăn là vì họ đã đánh mất những kỹ năng mà các thế hệ trước đã đắc thủ được. Ông cũng nói rằng phung phí thức ăn cũng ảnh huởng đến cả nền kinh tế: ném một ký lô thịt bò vào thùng rác chẳng hạn, là phí phạm cả ngàn lít nước dùng để sản xuất ra một ký thịt bò! (x.SMH, 23/12/2012)
Trên đây chỉ là cái nhìn kinh tế. Nhìn rộng hơn, có lẽ cũng phải nói rằng phí phạm thức ăn, một cách nào đó, cũng có nghĩa là sống mà  không nghĩ đến vô số những người nghèo trên thế giới hằng đêm phải đi ngủ với cái bụng trống rỗng. Đây là thực tế mà ở mỗi độ cuối năm, khi nhìn lại núi lương thực bị quăng vào thùng rác tại Úc đại lợi, tôi thường mang ra để suy nghĩ và tự vấn lương tâm. Sống mà dửng dưng trước sự đói khát và khốn khổ của người đồng loại thì có khác gì thú vật, bởi vì nói như ông tổ của chủ nghĩa cộng sản, chỉ có thú vật mới “quay mặt làm ngơ trước nỗi khổ của đồng loại để chăm sóc cho bộ da riêng của mình”.  Thật là đau lòng khi nhìn vào cách ăn xài của giai cấp “tư bản đỏ” thường được gọi là đại gia tại Việt nam hiện nay. Theo báo “Người Đưa Tin” trong nước được báo mạng Calitoday trích dẫn, trong khi đại đa số người dân Việt nam hiện nay phải thắt lưng buộc bụng để chống chọi với cơn khủng hoảng kinh tế thì vẫn có những đại gia vung tay để hưởng thụ những bữa ăn trị giá bằng thu nhập cả năm của một người lao động. Đó là chưa so sánh với cảnh khốn khổ của những người nghèo cùng trong xã hội.
Chỉ có một xã hội trống rỗng những giá trị tinh thần mới sản sinh ra một hạng người vô tâm như thế. Có lẽ trên thế giới và trong ngôn ngữ của các dân tộc, không đâu người ta xử dụng từ “sở hữu” nhiều cho bằng ở Việt nam hiện nay. Động từ đơn giản và dễ hiểu nhứt là “có” đã hầu như được thay thế bằng cái chữ bự này. Nói rằng một cô người mẫu “sở hữu” một đôi chân dài tới…nách, nghe còn tạm chấp nhận được. Đàng này, người ta lại còn bảo một đại gia nào đó “sở hữu” một cô vợ là người mẫu. Trong một xã hội trong đó ngay cả con người cũng có thể trở thành sự vật để chiếm hữu và dĩ nhiên để xử dụng thì còn đâu là nhân phẩm và những giá trị tinh thần như tình liên đới, sự chia sẻ.
Nhân một chuyến đi về hướng Bắc tiểu bang New South Wales, ghi nhận một vài lời nhắc nhở về tự giác và tự trọng, học được bài học về sự tôn trọng công ích nơi người Úc, tôi  nghiệm ra rằng công ích đích thực đòi hỏi con người cũng phải tưởng nghĩ đến người khác, nhứt là những người cần được giúp đỡ. Quê hương thứ hai của tôi chưa phải là thiên đàng tại thế. Nhưng ít ra ở đây, cứ đi một ngày đàng là tôi học thêm một bài học về làm người và làm một người “hạnh phúc” thực sự chứ không chỉ trên khẩu hiệu được ghi ở đầu mỗi công văn, đơn từ hay giấy tờ hành chánh. Và niềm hạnh phúc mà tôi có thể cảm nhận được và luôn được thúc đẩy để tìm kiếm chính là trong mọi sự luôn biết tưởng nghĩ đến người khác.


Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

Thân phận lực sĩ thế vận của Bắc Hàn


19.8.16

Có tất cả 31 lực sĩ Bắc Hàn tham dự các cuộc thi đấu tại Thế Vận Hội Mùa Hè Rio de Janeiro 2016. Cả thế giới đều biết Bắc Hàn là một “Vương Quốc Đóng Kín”. Đây là một quốc gia mà các công dân hoàn toàn hay rất ít được liên lạc với thế giới bên ngoài và chính phủ thì có thái độ bế quan tỏa cảng với hầu hết các chính phủ khác. Tuy nhiên, mặc dù Bắc Hàn tự cô lập hay bị cô lập như thế, kể từ năm 1972 đến nay, các lực sĩ của nước này đã tham dự hầu hết các Thế Vận Hội Mùa Hè, ngoại trừ hai Thế Vấn Hội bị nước này tẩy chay là Los Angeles, Hoa Kỳ năm 1984 và Seoul, Nam Hàn năm 1988.
Tại bất cứ Thế Vận Hội Mùa Hè nào, Bắc Hàn cũng đã đạt được huy chương. Tính đến nay, vương quốc cộng sản này đã dành được tất cả 49 huy chương. Cử tạ và đô vật là 2 bộ môn mà Bắc Hàn thành công nhất.
Theo Christopher Green, một nhà phân tách về Bắc Hàn làm việc tại Thủ đô Seoul Nam Hàn, Thế Vận Hội là một cơ hội quan trọng để mọi quốc gia nói lên chỗ đứng của mình trên sân khấu thế giới. Với Bắc Hàn thì bộ mặt của quốc gia tại Thế Vận Hội lại càng quan trọng hơn. Lãnh tụ tối cao của nước này, Kim Jong Un, đã từng tuyên bố rằng ông hãnh diện về các thành quả của nước ông tại Thế Vận Hội và ông cho biết muốn thấy có thêm nhiều thành quả hơn nữa.
Trong một điện thư gởi đi từ Nam Hàn, ông Green cho biết hồi năm 2012, phái đoàn lực sĩ Bắc Hàn đã dành được 4 huy chương vàng tại Thế Vận Hội London, Anh Quốc. Khi trở về thủ đô Bình Nhưỡng, phái đoàn lực sĩ Bắc Hàn đã được đón tiếp như những bậc anh hùng. Lần này, lãnh tụ Kim Jong Un ra lệnh cho phái đoàn lực sĩ phải bằng mọi giá mang về cho đất nước 5 huy chương vàng.
Mặc dù không được liên lạc với thế giới bên ngoài, nhưng người dân Bắc Hàn cũng  được phép theo dõi các cuộc thi đấu trên đài truyền hình nhà nước. Dĩ nhiên chỉ những trận thi đấu nào có mặt các lực sĩ Bắc Hàn mà thôi và trước khi trình chiếu cho người dân xem những cảnh thi đấu, bộ máy thông tin nhà nước luôn duyệt qua trước và cắt xén tất cả những gì không có lợi cho bộ mặt của đất nước.
Tại các cuộc thi đấu, các lực sĩ Bắc Hàn lúc nào cũng cư xử khác với các lực sĩ của các nước khác. Tại Thế Vận Hội Mùa Hè Bắc Kinh năm 2008 chắng hạn, các lực sĩ Bắc Hàn không được phép giao du hay tiếp xúc với người khác. Theo tường thuật của chương trình Đại Hàn thuộc Đài Á Châu Tự Do, công ty bảo trợ Thế Vận là Samsung đã có nhã ý tặng cho tất cả các lực sĩ mỗi người một chiếc điện thoại “tinh khôn” Galaxy 7. Được biết công ty Samsung đã tặng  trên 12.500 chiếc điện thoại Galaxy 7 cho 11.200 lực sĩ và các phái đoàn của 206 quốc gia. Các lực sĩ và phái đoàn các nước đã sử dụng điện thoại này trong cuộc diễn hành trong nghi thức khai mạc Thế Vận Hội. Nhưng các viên chức trong phái đoàn lực sĩ Bắc Hàn đã tịch thu những chiếc điện thoại được tặng cho các lực sĩ. Ai cũng thấy rằng các lực sĩ Bắc Hàn luôn bị nhà nước theo dõi và kiểm soát gắt gao. Ngay cả tại Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008, mặc dù Trung Cộng là nước đàn anh luôn đỡ đầu cho Bắc Hàn, các lực sĩ Bắc Hàn cũng không được phép rời khỏi khu vực dành riêng cho họ, ngoại trừ những lúc đi tập dượt. Đi phố, ngắm cảnh hay tham dự các buổi trình diễn văn hóa vẫn còn là điều cấm kỵ đối với họ.
Một trong những lý do khiến Bắc Hàn theo dõi chặt chẽ các lực sĩ của mình là để đề phòng việc họ tìm cách đào thoát. Các lực sĩ từ các chế độ độc tài tìm cách đào thoát là chuyện rất thường xảy ra tại các Thế Vận Hội. Trong những năm gần đây, đã có ít nhất 45 cầu thủ của đội túc cầu quốc gia Eritrea đào thoát trong những chuyến đi thi đấu ở nước ngoài. Tại Thế Vận Hội London năm 2012, nhiều lực sĩ của nước này bỗng nhiên mất tích và về sau được biết đã đào thoát. Sau Thế Vận Hội London 2012, nhiều lực sĩ từ Cameroon và Sudan đã tìm cách xin tạm trụ tại Anh Quốc. Năm 2008, 5 cầu thủ của đội tuyển quốc gia Cuba đã đào thoát tại Tampa, Florida, Hoa Kỳ. Năm 1996, một lực sĩ cử tạ Iraq đã bỏ trốn khỏi khách sạn để xin tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Và  năm 1999, cả đội lực sĩ đô vật của Lỗ Ma Ni đã xin tỵ nạn tại Úc Đại Lợi.
Tuy nhiên, cho tới nay, thế giới chưa từng chứng kiến hay nghe nói đến một trường hợp đào thoát nào từ phái đoàn lực sĩ Bắc Hàn. Sở dĩ không có lực sĩ nào của Bắc Hàn dám đào thoát là vì luôn bị mật vụ theo dõi và kiểm soát rất chặt chẽ. Ngoài ra, một lý do khác khiến các lực sĩ của nước này không dám nghĩ tới chuyện đào thoát là vì sợ gia đình còn lại trong nước sẽ bị liên lụy và trừng phạt nặng nề.
Ngoài ra, theo dõi các cuộc thi đấu, người ta cũng thấy các lực sĩ Bắc Hàn luôn cố gắng để vinh danh đất nước của mình. Riêng những ai dành được huy chương vàng sẽ được nhà nước tưởng thưởng rất bội hậu. Trong những năm vừa qua, lực sĩ nào đạt được huy chương cũng đều được nhà nước cấp cho những căn hộ sang trọng tại Bình Nhưỡng cũng như nhận được nhiều món quà khác.
Tại Thế Vận Hội Rio de Janeiro năm nay, thế giới bên ngoài đặc biệt chú ý đến một bức hình chụp một nữ lực sĩ Bắc Hàn đứng chung với một nữ lực sĩ Nam Hàn. Trong bức hình “tự chụp”, người ta thấy nữ lực sĩ Bắc Hàn Hong Un Jong, 27 tuổi, tươi cười bên cạnh nữ lực sĩ Nam Hàn Lee Eun Ju 17 tuổi. Chủ tịch Ủy ban Thế Vận, ông Thomas Bach mô tả bức hình như một “cử chỉ vĩ đại”. Thật ra đây không phải là lần đầu tiên nữ lực sĩ này chụp hình chung với một lực sĩ Nam Hàn hay một nước khác. Năm 2014, cô cũng đã chụp hình chung với nữ lực sĩ thể dục thẩm mỹ Simone Biles. Đặc biệt trong bức hình này, người ta thấy cô ôm người nữ lực sĩ Mỹ. Lúc đó có người đã lo sợ cho tính mạng hay số phận của cô Hong Un Jong, bởi vì cô đã ôm một lực sĩ của một nước được Bắc Hàn xem như “kẻ thù không đội trời chung”. Nhưng người nữ lực sĩ này vẫn tiếp tục được xem là một ngôi sao trong sinh hoạt thể thao của Bắc Hàn.
Với quốc gia cộng sản đóng kín này, nhất cử nhất động của các lực sĩ tại các cuộc thi Thế Vận đều được theo dõi và tính toán cả. Nếu không vì “bộ mặt” của đất nước thì còn lâu nữ lực sĩ Hong Un Jong mới được phép cho chụp hình chung với các lực sĩ “thù địch” như thế.
Thật ra, có lẽ các lực sĩ Bắc Hàn không quan tâm đến “bộ mặt” của đất nước và cũng chẳng nghĩ tới phần thưởng cho bằng hình phạt đang chờ đợi họ nếu họ không đạt được thành tích nào tại các cuộc thi đấu. Trước khi lên đường tham dự Thế Vận Hội London năm 2012, lực sĩ Lee Chang Soo đã đào thoát. Anh cho hãng thông tấn Reuters biết: anh đã bị đày đi làm việc tại một mỏ than chỉ vì đã bị một võ sĩ nhu đạo của Nam Hàn đánh bại tại Á Vận Hội Bắc Kinh hồi năm 1990.
Theo tường thuật của Đài Á Châu Tự Do, sau khi đội tuyển quốc gia thua tất cả 3 trận tại Giải Túc Cầu Thế Giới năm 2010, trong đó “đậm” nhất là bị Bồ Đào Nha hạ với tỉ số 7-0, Chính phủ Bắc Hàn đã công khai “biêu diễu” nhiều cầu thủ và cho huấn luyện viên của đội đi lao động.
Jung Gwang Il, người đã từng sống sót từ một trại tù trở về và sáng lập Tổ chức phi chính phủ có tên là “No Chain” (bẻ gẫy xiềng xích) đã cho tạp chí The Diplomat biết: “Lực sĩ nào dành được huy chương, nhất là huy chương vàng, được chế độ thưởng cho những món quà lớn như căn hộ sang trọng, xe hơi, đồ gia dụng, tiền bạc và được danh tiếng ở Bắc Hàn. Trái lại, những lực sĩ nào không dành được huy chương hoặc thua trong các cuộc thi đấu, đều bị buộc phải trải qua những buổi tự phê để nói rõ tại sao họ thất bại. Tệ hại hơn nữa, nếu đã quen sống ở Bình Nhưỡng, họ sẽ bị tống cổ ra khỏi thủ đô và đưa về vùng quê”.
Từ nỗi sợ hãi bị trừng phạt vì không đạt được thành tích, các lực sĩ Bắc Hàn luôn tâm nguyện phải chiến đấu để làm vừa lòng lãnh tụ Kim Jong Un. Tại Thế Vận Hội Rio de Janeiro năm nay, lực sĩ Bắc Hàn đầu tiên đạt được huy chương vàng là nữ lực sĩ Rim Jong Sim với bộ môn cử tạ dành cho nữ lực sĩ 75 ký. Sau khi được tin dành được huy chương vàng, người nữ lực sĩ này tuyên bố: “Điều đầu tiên tôi nghĩ đến khi biết mình đã chiến thắng là: tôi đã làm cho chủ tịch kính yêu của chúng tôi hài lòng”. Dạo tháng 7 năm trước, tại cuộc thi vô địch thế giới “World Aquatics Championship” (phóng xuống nước từ bệ cao 10 thước)  Kim Kuk Hyang, một lực sĩ Bắc Hàn mới 16 tuổi đã đoạt huy chương vàng. Ràn rụa nước mắt khi nhận giải, người thiếu niên đã nói: “Tôi rất vui mừng vì thỏa mãn được những chờ đợi của chính phủ và lãnh tụ vĩ đại của tôi”.
Nhưng tại Thế Vận Hội Rio de Janeiro năm nay, có lẽ các lực sĩ Bắc Hàn đã không làm hài lòng lãnh tụ vô vàn kính yêu của họ. Lực sĩ cử tạ Om Yun Chul đã dành được huy chương bạc. Đây là huy chương đầu tiên của Bắc Hàn tại Thế Vận Hội Rio de Janeiro. Tuy nhiên, người lực sĩ này đã cảm thấy như có lỗi và cho rằng mình đã thất bại. Anh nói: “Tôi không phải là một anh hùng tại Bắc Hàn vì tôi đã không dành được huy chương vàng”. Trong 31 lực sĩ Bắc Hàn tham dự Thế Vận Hội lần này, Om Yun Chul là người nổi bật hơn cả và được Bắc Hàn đặt nhiều kỳ vọng hơn cả. Kể từ năm 2012, anh luôn là vô địch trong bộ môn cử tạ với hạng 56 ký. Anh đã đoạt huy chương vàng tại Thế Vận Hội London năm 2012. Huy chương vàng cũng đã thuộc về anh liên tiếp tại giải vô địch Á Châu năm 2013 và tại Á Vận Hội năm 2014.
Sau khi thất bại tại Thế Vận Hội Rio de Janeiro, Om Yun Chul đã phải đối đầu với hàng loạt câu hỏi của các ký giả. Anh chỉ lập lại một câu trả lời: “Tôi không có gì phải nói nữa, thành tích của tôi đã nói hết cả rồi”.
Trước khi các lực sĩ Bắc Hàn lên đường sang Rio de Janeiro, lãnh tụ tối cao Kim Jong Un đã ra lệnh cho họ phải mang về nước ít nhất là 5 huy chương vàng. Ông đã yêu cầu ông Choe Ryong Hae, phó chủ tịch Đảng Lao Động Bắc Hàn kiêm chủ tịch Văn hóa và Thể thao lượng giá về số huy chương mà phái đoàn lực sĩ Bắc Hàn sẽ dành được tại Thế Vận Hội Rio de Janeiro. Khi nhân vật số 2 của chế độ cộng sản Bắc Hàn này trả lời rằng may lắm các lực sĩ Bắc Hàn mới dành được 3 huy chương vàng, 6 huy chương bạc và 6 huy chương đồng,  lãnh tụ tối cao Kim Jong Un đã tỏ ý bất bình. Ông ra chỉ tiêu phải đạt được là  5 huy chương vàng!
Số huy chương vàng cao nhất mà Bắc Hàn đã dành được là 4 tại Thế Vận Hội Barcelona, Tây Ban Nhà năm 1992 và London năm 2012.
Với hình phạt dành cho những lực sĩ nào không dành được huy chương tại các cuộc thi đấu, thế giới có thể lo sợ cho số phận của các lực sĩ Bắc Hàn tham dự Thế Vận Hội Rio de Janeiro năm 2016 này.


Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Chọn lương tâm

Chu Thập
12.8.16

Những giây phút tuyệt vời tại Thế Vận Hội không chỉ là lập được một thành tích, phá được một  kỷ lục hay thắng một đối thủ. Đôi khi các lực sĩ được nhắc đến không phải vì một tấm huy chương mà vì một cử chỉ vị tha. Đây là trường hợp của lực sĩ đua thuyền Gia Nã Đại Lawrence Lemieux, người được tạp chí Reader’s Digest đề cao trong số ra tháng 8 này.
Sau cuộc thi đấu tại Thế Vận Hội Seoul, Nam Hàn hồi năm 1988, Lemieux đã mang về nước một huy chương mà anh không bao giờ mong đợi. Đó là huy chương của lòng quả cảm và vị tha. Được biết khi cuộc thi đấu bắt đầu thì gió thổi mạnh đến 35 hải lý một giờ, sóng biển ào ạt dâng cao. Lemieux đang dẫn đầu trong cuộc đua. Bỗng nhiên anh nhận thấy đàng sau mình thuyền của hai lực sĩ đại diện cho Tân Gia Ba bị lật úp. Cả hai đều bị thương. Một người đang chới với trong dòng nước, một người đang cố bám vào thuyền. Nhanh như chớp, Lemieux đã quyết định ngưng  cuộc đua để cứu  hai lực sĩ Tân Gia Ba: anh đã kéo hai người lên thuyền của mình. Sau khi đã trao họ cho tàu cứu hộ, anh trở lại cuộc đua và về đến đích với hạng 22 trên 32.
Lemieux đã được trao tặng Huy chương Thế Vận Pierre de Coubertin vì tinh thần thể thao và lòng vị tha quên mình của anh.  Anh nói về hành động của mình: “Điều tôi đã làm, ai cũng có thể làm được và phải làm mà thôi. Nó chẳng khác gì khi lái xe thấy có một người đang lâm nạn trong một chiếc xe bên vệ đường cần được giúp đỡ”.
Hành động vị tha của Lemieux là một trong những cử chỉ tuyệt vời nhứt trong Thế Vận Hội Seoul 1988 và là một trong những hình ảnh đẹp nhứt của Thế Vận Hội.
Tôi đã theo dõi nghi thức khai mạc Thế Vận Hội Rio de Janeiro. Nghe nói kể từ năm 1992 đến nay, đây là nghi thức khai mạc thế vận hội ít được theo dõi nhứt trên màn ảnh truyền hình hay trên mạng. Có lẽ vì bóng ma của dịch bệnh Zika, vì tiện nghi dành cho các lực sĩ không được đầy đủ hay vì tình trạng bất ổn và thiếu an ninh tại Ba Tây chăng. Riêng tôi lúc nào cũng “mê” Ba Tây. Không phải vì túc cầu, không phải vì lễ hội Carnival, không phải vì điệu nhạc Lambada, mà vì dòng sông Amazone. Không hiểu tại sao cứ nói đến Ba Tây là tôi mơ ngay tức khắc đến dòng sông này. Nếu như ở cuối đời được làm một chuyến du lịch để đời, thì chắc chắn điểm đến của tôi phải là dòng sông Amazone. Buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội Rio de Janeiro tối thứ Sáu tuần qua đã thực sự đưa tôi đến đó. Ở đó, không chỉ có những dòng nước uốn khúc thơ mộng, không chỉ có những khu rừng già xanh tươi quanh năm suốt tháng, mà là sự hiện diện của những bộ lạc bán khai với bản sắc văn hóa đặc thù và nguyên sơ luôn được bảo tồn.
So với các nghi thức khai mạc Thế Vận Hội trước, nếu xét về kỹ thuật và sự “hoành tráng”, Rio de Janeiro thua xa. Nhưng với riêng tôi, đây là nghi thức khai mạc đẹp và có ý nghĩa nhứt. Đẹp và có ý nghĩa bởi vì với hình ảnh của một thiếu niên cầm trên tay một cây non đi theo mỗi phái đoàn và chiếc xe đạp chở đầy cây xanh và hoa, buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội Rio de Janeiro đã gởi đi một thông điệp rõ ràng: tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên cũng như bản sắc của từng dân tộc là chìa khóa của hòa bình.
Thật vậy, buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội Rio de Janeiro đã cho tôi thấy được sự hài hòa của dân tộc Ba Tây. Từng lớp người đã làm nên dân tộc này. Đầu tiên là những người thổ dân, kế đó là người Bồ Đào Nha, rồi đến lớp người nô lệ từ Phi Châu và cuối cùng  là người Hồi giáo từ Trung Đông và người Nhật Bản...Đủ thứ màu da chen lẫn và pha trộn với nhau, nhưng chưa hề có chuyện kỳ thị chủng tộc ở nước này. Ba Tây chưa phải là một quốc gia phát triển. Tham nhũng và nghèo đói  vẫn còn dẫn đến bất ổn và bạo động. Nhưng bạo động vì kỳ thị hay hận thù chủng tộc là điều ít nghe nói đến ở Ba Tây. Ít ra Ba Tây cho tôi thấy được hình ảnh đẹp của sự hài hòa giữa các màu da, chủng tộc và văn hóa.
Tôi mới xem cuốn phim có tựa đề “ Roots” (cội nguồn) được chiếu thành 4 tập trên Đài SBS. Tôi đã đọc nhiều cuốn sách và xem nhiều cuốn phim nói về thảm kịch của người nô lệ Phi Châu tại Hoa Kỳ. Nhưng  có lẽ  chưa có tài liệu nào khiến tôi phải ray rứt cho bằng cuốn phim “Roots” này. Xoáy trong đầu tôi nhiều ngày là câu hỏi: tại sao những người da trắng tại Hoa Kỳ vào thế kỷ 18 đã có thể đối xử  tàn bạo và vô nhân đạo đối với người Phi Châu như thế? Quả thật, tôi không thể hiểu được tại sao những người da trắng thời đó, những người mỗi ngày chúa nhựt đến nhà thờ cầu nguyện, hát thánh ca, trên tay cầm quyển Kinh Thánh...lại xem người đồng loại của mình như súc vật để có thể hành hạ, hãm hiếp, sát hại và mang ra mua bán đổi chác.
Ngày nay, khi theo dõi cuộc vận động tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ, tôi cũng không hiểu được tại sao sự thù hận và óc kỳ thị chủng tộc vẫn còn âm ỉ trong lòng nhiều người và oái oăm thay lại được tung hê trong một ứng cử viên như ông Donald Trump. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã lên tiếng bày tỏ lo ngại về sự ngông cuồng của ứng cử viên Trump. Ngay trong Đảng Cộng hòa, theo tin của báo The New York Times, cũng  có đến 50 viên chức hàng đầu trong lãnh vực an ninh quốc gia đã ký tên vào một lá thư để tuyên bố thẳng thừng rằng họ không ủng hộ ông Trump. Theo các viên chức này, ông Trump “sẽ là một tổng thống liều lĩnh nhứt trong lịch sử Hoa Kỳ”. Theo lá thư, ông Trump đã không ngừng chứng tỏ rằng ông ít hiểu biết về quyền lợi sinh tử của Hoa Kỳ và những vấn đề ngoại giao phức tạp. Trầm trọng hơn, những người ký tên vào lá thư còn cho rằng ông Trump là người không có khả năng hay không muốn phân biệt chân giả, phải trái và nhứt là luôn tỏ ra thiếu tự chủ.
Có lẽ hai chữ “cà khịa” mà ai đó đã dùng để mô tả tư cách của ông Trump là đúng nhứt. Còn  nếu bảo ông là một Chí Phèo thì cũng chẳng quá đáng. Ai ông cũng chê. Ai ông cũng chửi. Ngay cả một trẻ thơ vô tội, ông cũng không tha.  Một số chuyên gia tâm lý đã gọi ông là một thứ “Narcisse” chỉ biết ngắm chiếc bóng của mình trong nước và xem trời bằng vung. Nói cho cùng, như tổng thống Barack Obama đã nhận xét, ông Trump không có đủ tư cách để làm một tổng thống của Hoa Kỳ.
Hai chữ  “tư cách” thường gợi lên trong tôi đức độ.Trong sinh hoạt chính trị, tôi thường bỏ phiếu theo trái tim. Tôi chọn những nhà lãnh đạo có trái tim, biết tôn trọng sự thật, biết thương người. Trong giao tế hàng ngày cũng thế, gặp bất cứ ai có tấm lòng, nghĩa là lương thiện, tử tế, vị tha...tôi bị thu hút ngay. Tôi cho rằng đức độ là yếu tố nền tảng trong sự đánh giá về người khác. Tôi hiểu được tại sao rất nhiều người Mỹ đã không “thích” cả ông Trump lẫn bà Clinton: họ đã không nhận ra một trong những đức tính nền tảng trong nhân cách là sự lương thiện nơi hai ứng cử viên này!
Sống lương thiện không phải là điều dễ dàng. Nó đòi hỏi phải chiến đấu liên lỉ và có khi phải hy sinh cả mạng sống. Tôi nghĩ đến nhà văn Dương Nghiễm Mậu vừa mới qua đời tại Sài Gòn hôm 2 tháng 8 vừa qua. Trước năm 1975, ông là một trong những nhà văn Việt Nam được nhiều người biết đến. Nhưng kể từ năm 1975, ít ai biết đến ông. Các tác phẩm của ông bị rơi vào quên lãng. Sau khi ra tù cộng sản, phần lớn các nhà văn hóa đều bỏ nước ra đi tìm tự do. Riêng ông, chọn ở lại. Và trong một chế độ mà chỉ có giới văn nô bẻ cong ngòi bút mới có thể phè phỡn tồn tại, ông đã chọn sự thinh lặng. Trước năm 1975, tôi có đọc vài cuốn sách của ông. Đọc để giải trí hơn là học hỏi. Nhưng chỉ mới đây, qua bài tưởng niệm của nhà văn Viên Linh ở Mỹ, tôi “biết” ông nhiều hơn và cảm phục đức độ của ông nhiều hơn. Đức độ của ông đã được bày tỏ qua một lá thư ngắn viết cho nhà văn Viên Linh năm 1982, trong đó ông tóm tắt cuộc sống của ông dưới chế độ cộng sản như sau: “Ta lo làm thợ cho con ăn cơm sống lương thiện”. Có lẽ không đến nỗi bị đày đọa và khốn khổ như thi sĩ Nguyễn Hữu Loan ngoài Bắc, nhưng nhà văn Dương Nghiễm Mầu hẳn cũng đã trải qua những năm tháng “vất vả”, tả tơi trong chế độ cộng sản. Nhưng họ giống nhau ở chỗ luôn biết giữ tấm lòng lương thiện và dạy con biết sống lương thiện. Tôi thực sự học được ở nhân cách của những con người như thế nhiều hơn qua các tác phẩm của họ.
Viết về nhà văn Dương Nghiễm Mậu, tác giả Lâm Bình Duy Nhiên đã đưa ra một nhận xét rất chính xác về đức độ của ông: “Ở lại trong nước, viết không được. Phải bẻ cong ngòi bút, phải hèn mới có thể sống. Nhưng Dương Nghiễm Mậu chọn lương tâm” (x. Đàn chim việt online 6/8/2016).
Lương tâm là kho tàng quý giá nhứt trong con người. Chọn lương tâm con người có thể mất tất cả, kể cả mạng sống, nhưng họ không đánh mất chính mình. Suy nghĩ về lương tâm, tôi thường liên tưởng đến một giai thoại về danh họa Pablo Picasso. Chuyện kể rằng một hôm có một người giàu có tìm đến một họa sĩ “quèn” để nhờ vẽ cho ông một bức chân dung. Hai bên đã đồng ý với một cái giá phải chăng. Nhưng đến ngày nhận hàng, người nhà giàu lại muốn bắt chẹt người họa sĩ. Thay vì trả đúng số tiền như hai bên đã đồng ý, ông chỉ đưa cho người họa sĩ một số tiền còm. Biết mình bị lừa, người họa sĩ liền giữ lại bức tranh và nói một cách cương quyết: Tôi không chịu bán bức tranh nữa! Hôm nay ông đã nuốt lời và bất tín với tôi, thì trong tương lai chắc chắn ông sẽ trả giá gấp 20 lấn!
Trời không phụ lòng người. Mười mấy năm sau, người họa sĩ đã dành được một chỗ đứng khá quan trọng trong giới hội họa. Một hôm có người đến mách cho người nhà giàu biết: “Trong một cuộc triển lãm tranh của một họa sĩ nổi tiếng, tôi thấy có một bức chân dung y hệt như ông. Bức tranh được đề giá rất cao và có một tiêu đề ngộ nghĩnh là “Bandito” (tên đạo tặc)”.
Người nhà giàu đã âm thầm đến gặp người họa sĩ và mua lại bức tranh với giá gấp 20 lần. Về sau, ai cũng biết rằng tên của người họa sĩ vẽ bức chân dung của tên “đạo tặc” chính là Paolo Picasso.
Người kể lại giai thoại trên đây kết luận: không ai có thể đánh bại và làm nhục ta ngoại trừ chính ta.
Theo dõi các cuộc thi đấu của Thế Vận Hội, nghĩ đến chuyện Chính phủ Nga khuyến khích các lực sĩ của mình sử dụng thuốc kích thích để bằng mọi giá đoạt huy chương trong các cuộc thi đấu, tôi cũng có một ý nghĩ tương tự: chỉ có một cuộc thi đấu đáng để tranh tài, đó là cuộc thi đấu của lương tâm; lương tâm chiến thắng, con người được tất cả, lương tâm chiến bại, con người mất tất cả.



Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016

Đoạn trường ai có qua cầu mới hay





Chu Thập
27.11.12

Thời trung học, thỉnh thoảng tôi nghe một số giáo sư kêu gọi đề phòng điều mà các vị gọi là “phán đoán sai lầm” (faux jugement).  Học sinh nào bị dán cho nhãn hiệu “phán đoán sai lầm” coi như hết thuốc chữa. Đại khái, theo các vị này, người có phán đoán sai lầm là người có suy nghĩ, nói năng và hành động ngược lại với lẽ thường và những chuẩn mực thông thường. Thời đó, “phán đoán sai lầm” được tôi hiểu một cách nôm na là “chẳng giống ai”. Hai chữ “sái trí” của người Miền Nam có lẽ dễ hiểu hơn cả. Trong lớp học nói riêng và ngoài xã hội nói chung, ở đâu tôi cũng thấy có hạng người có phán đoán sai lầm.
Nhưng càng tiến tới trong tuổi đời, tôi lại càng nghiệm ra rằng có khi do sai lầm tập thể và thấy người khác không suy nghĩ và hành động giống mình mà người ta lại gán cho họ cái nhãn hiệu “phán đoán sai lầm”. Vào Thế kỷ 17, khi nhà bác học người Ý Galileo Galilei tuyên bố “trái đất quay xung quanh mặt trời”, đảo ngược cái “lẽ thường” và nhất là “lời mạc khải” trong Kinh Thánh, chắc chắn ông chỉ có thể bị đa số các nhà thông thái của thời đại xem như một người có phán đoán sai lầm mà thôi. Chả thế mà ông đã bị một tòa án của Giáo hội kết án, giam giữ và buộc phải sám hối vì cách suy nghĩ sai trái của mình. Một mình một cõi, “chẳng giống ai”, nhà bác học lừng danh này vẫn một mực giữ vững lập trường: “Dù sao đi nữa, nó (trái đất) vẫn quay...”
Bao lâu còn có những sai lầm tập thể thì bấy lâu vẫn còn có những người bị kết án có “phán đoán sai lầm”. Và sở dĩ có những sai lầm hay ảo tưởng tập thể là bởi vì sự thật của cuộc đời có khi không đơn giản như hai với hai là bốn hay trắng ra trắng đen ra đen. Kinh nghiệm hàng ngày luôn bảo tôi phải cẩn trọng khi phán đoán để tránh kết án người khác một cách vội vã, bởi vì sự thật thì phức tạp mà cái óc của tôi thì vừa chật hẹp lại vừa nông cạn và đầy thành kiến.
Đa số những câu chuyện Thiền đều mách bảo tôi điều đó. Thỉnh thoảng tôi vẫn nghiền ngẫm giai thoại đã trở thành kinh điển về hai nhà sư xuống núi: ở một đoạn đường, sau một cơn mưa lũ, nước lên cao, có một phụ nữ không thể lội qua dòng suối. Thấy thế, một trong hai vị sư liền cõng chị qua dòng suối. Về đến nhà, vị sư khác đã không tiếc lời trách móc người anh em của mình vì đã “phá giới”. Vị sư đã giúp đỡ người phụ nữ liền giải thích: “Tôi đã bỏ chị ta lại bên bờ suối. Huynh còn mang chị mãi về nhà làm gì?”  
Câu chuyện nêu lên một câu hỏi nghiêm chỉnh mà tôi thường gặp trong những tình huống “éo le”: ai mới là người “phá giới”, ai mới là người hành động đúng? Trả lời cho một câu hỏi như thế có khi không phải là dễ dàng. Tôi liên tưởng đến chuyện vừa xảy ra ở Việt nam, dĩ nhiên cũng liên quan đến cửa Phật. Đó là chuyện hai nhà sư nào đó, trong một buổi văn nghệ có bán đấu giá để gây quỹ từ thiện, đã “đấu” cho đến cùng một chai rượu với giá trên 50 triệu đồng Việt nam để được “hôn” ca sĩ nổi tiếng trong nước là Đàm Vĩnh Hưng. Câu chuyện vẫn tiếp tục được dư luận trong nước bàn tán xôn xao. Đa số đều lên án hai nhà sư này vì đã không hành động đúng với tư cách của những nhà lãnh đạo tinh thần. Tôi không phải là một phật tử. Cử chỉ của hai nhà sư này có phù hợp với giáo lý nhà Phật không, quả tình tôi không dám nói.
Nhân chuyện này, tôi lại nghĩ đến một nhân vật nổi tiếng khác là Thanh Hải Vô Thượng Sư. Do tò mò, tôi có xem và nghe trên băng hình một vài buổi thuyết pháp của bà. Không bàn đến giáo lý cao siêu của bà, chỉ riêng tài hùng biện, sự uyên bác và sự thu hút lạ lùng của bà cũng đủ để tôi phục lăn. Tôi không ngạc nhiên tại sao bà đã có thể làm dấy lên được một phong trào rộng lớn quy tụ không những người Việt, mà còn người ngoại quốc tại rất nhiều nơi trên thế giới. Tôi lại càng phục người đàn bà này khi đầu thập niên 90, bà đến thăm Phi luật tân. Bà không những vào trại tỵ nạn thăm và tặng quà cho người đồng hương Việt nam, mà còn trao một món quà thật lớn cho các nạn nhân của núi lửa Pinatubo. Hình ảnh của một ni sư, đầu cạo nhẵn, mặc chiếc áo cà sa đi đến đâu dân chúng chạy theo đến đó, chỉ có thể gợi lên trong tôi sự cảm phục mà thôi. Vậy mà chỉ một thời gian sau đó, không những tôi nghe nói mà còn thấy tận mắt hình ảnh của một Thanh Hải Vô Thượng Sư hoàn toàn thay da đổi thịt theo đúng nghĩa: bà không những để tóc mọc dài ra mà còn nhuộm mầu theo đúng thời trang; bà không những tô son trét phấn, ăn mặc thời trang mà còn trở thành một nhà sản xuất thời trang nữa. Nghe bà giải thích đâu đó rằng đã đạt đến mức “giác ngộ” mà chẳng có ai có thể vượt qua được (vô thượng sư) như bà thì mới có thể thay hình đổi dạng như bà. Tôi cũng có nghe bà giải thích rằng tu đắc đạo như bà thì tất cả những thứ bên ngoài ấy chẳng có ảnh hưởng gì đến nội tâm của bà. Quả đúng như câu ngạn ngữ “chiếc áo không làm nên thày tu”. Một lần nữa, tôi lại chẳng dám đưa ra một phán đoán nào về chuyện tu hành “độc đáo” này của Thanh Hải Vô Thượng Sư.
Có lúc tôi muốn bắt chước thái độ “tỉnh bơ” của vị thiền sư nọ. Một cô gái nọ lỡ có mang với một người đàn ông. Cô tri hô với mọi người trong làng rằng nhà sư chính là tác giả của bào thai. Mọi người kéo đến cửa chùa để bắt ông phải nhận tội. Không chút giao động, không một lời trần tình, ông chỉ thốt lên “Thế ư?” và sau đó, đón nhận đứa bé mang về chùa để chăm sóc như con mình. Nhưng không đầy hai năm sau, cô gái hối hận về hành vi vu khống của mình và cho mọi người biết người cha đích thực của đứa bé. Thế là mọi người lại kéo nhau đến cửa chùa để xin lỗi vị chân tu. Lần này cũng vậy, nhà sư cũng không mất nhiều lời. Ông chỉ thốt lên “Thế ư?” rồi trao đứa bé lại cho mẹ nó.
Tập được một thái độ “vô chấp” và bình thản như thế quả không phải là chuyện dễ, nhứt là trong thời đại “đa sự” như thời đại thông tin toàn cầu này. Chuyện gì con người thời đại cũng “săn”, cũng “hóng” và bàn tán. Như chuyện của ông David Petraeus, giám đốc cơ quan tình báo CIA của Hoa kỳ và bà Paula Broadwell, người viết tiểu sử của ông chẳng hạn. Cho tới nay, các cơ quan truyền thông vẫn chưa cạn hết giấy mực để khai thác và đâu đâu người ta cũng chưa cạn hết nước miếng để mà bàn tán và dĩ nhiên lên án.
Riêng tôi vẫn tiếp tục ngưỡng mộ và kính phục ông tướng tài ba, kỷ luật và có gương mặt khắc khổ này. Ngoại tình là chuyện xưa như trái đất. Lại nữa, “khôn ba năm dại một giờ” là qui luật không có luật trừ cho bất kỳ ai. Tôi cảm thông với ông. Tôi lại càng cảm phục ông hơn, bởi vì liền sau khi sự việc được công khai hóa, ông đệ đơn từ chức và nhìn nhận: “Sau 37 năm sống đời vợ chồng, tôi đã làm một phán đoán sai lầm khi ngoại tình”.  Có đâu lại vòng vo tam quốc để chối già chối non như ông tổng thống đào hoa Bill Clinton. Với ông luật sư sử dụng Anh ngữ nhuần nhuyễn như nhồi banh này, chuyện gì cũng chối được. Chẳng hạn, ông thú nhận lúc còn trẻ có “chơi”  ma túy, nhưng lại bảo rằng ông không có “hít” (inhale). Còn chuyện quan hệ tình dục với cô tập sự viên Monica Lewinski thì ông lại mở tự điển ra để định nghĩa về hành động tính dục và chối phăng rằng ông không hề có quan hệ tình dục với cô.
Tôi phục và cảm thông với ông tướng David Petraeus. Nơi ông, tôi lại thấy ứng nghiệm câu nói quen thuộc của người Việt nam: “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Một trong những lời đáng ghi nhớ nhứt của Chúa Giêsu có lẽ là câu nói Ngài ngỏ với đám đông người Do thái đang hậm hực muốn ném đá một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình: “Ai trong các người là người vô tội hãy ném đá chị ta trước tiên”. Có thấy mình yếu đuối, có biết mình đã hơn một lần vấp ngã thì “cảm thông” vẫn là thái độ nhân bản và hợp lý nhứt của con người.
Ngoài ra, tôi lại càng được thúc đẩy để sống cảm thông với người khác hơn bởi vì phán đoán của tôi về người khác thường giới hạn và chủ quan, bởi vì tôi dễ có khuynh hướng nhìn người xuyên qua những lăng kính riêng của tôi. Ngay cả tòa án, một nơi gồm những nhà chuyên môn mà chúng ta gọi là “thẩm phán”, cũng không tránh khỏi những sai lầm và có khi là “những sai lầm chết người” là khác.
Phụ trương “Good Weekend” (GW) của báo The Sydney Morning Herald, trong số ra cuối tuần 17-18 tháng 11 vừa qua có ghi lại câu chuyện của một người Thụy Điển bị kết án về tội giết người hàng loạt, nhưng thực tế không hề phạm. Người đàn ông này tên là Sture Bergwall, hiện đang bị giam giữ trong một nhà thương tâm thần dành cho những tội phạm tâm thần gần Thủ đô Stochkholm. Cho đến gần đây, Bergwall vẫn là kẻ giết người hàng loạt khét tiếng nhứt tại Thụy Điển. Ông đã tự thú trên 30 vụ giết người và bị kết án vì 8 vụ. Ông tự xưng là “Thomas Quick” (Thomas, người lanh tay). Báo chí Thụy Điển gọi ông là tên “ăn thịt người”.
Nhưng câu chuyện của Sture Bergwall đã bước vào một bước ngoặt lý thú kể từ năm 2008, khi ông Hannes Rastam, một nhà làm phim tài liệu nổi tiếng của Thuỵ Điển bắt đầu chú ý đến trường hợp của ông. Nhà làm phim này đã đến thăm người tù và được phép đọc lại khoảng 50 ngàn trang tài liệu về các phiên xử, những buổi tâm lý trị liệu và nhứt là các cuộc hỏi cung của cảnh sát. Ông Rastam đã tổng hợp tất cả những tài liệu nói trên trong cuốn sách có tựa đề “Thomas Quick: The Making of a serial killer” (Thomas Quick: sự hình thành của một tên giết người hàng loạt). Cuốn sách khẳng định một điều: không có bất cứ bằng chứng nào để buộc tội ông Sture Bergwall; trong tiến trình buộc tội, không hề có thử nghiệm DNA, không có vũ khí giết người, không có nhân chứng mà chỉ có những lời tự thú của đương sự mà thôi. Đa số các lời tự thú đều được đưa ra do ảnh hưởng của thuốc gây mê. Sture Bergwall đã nói với nhà làm phim rằng tất cả những lời tự thú đều hoàn toàn do ông “phịa” ra.
Cuộc đời của Sture Bergwall là một câu chuyện đáng thương. Cha mẹ ông là những tín hữu Tin lành rất mộ đạo. Lúc nhỏ, ông có tham vọng trở thành một diễn viên hay văn sĩ. Nhưng năm 14 tuổi, ông khám phá ra mình là người đồng tính. Do mặc cảm, ông tìm cách che dấu khuynh hướng này. Năm 19 tuổi, ông bị tố cáo có lạm dụng tình dục một số thiếu niên. Ông cũng có lần toan chém một người bạn tình. Rơi vào nghiện ngập, ông hóa trang thành ông già Noel để ăn cướp một ngân hàng địa phương. Bị giam giữ, ông được đưa đi chữa trị về tâm lý. Cũng có lúc ông muốn trở thành một bác sĩ, rất thích đọc sách về phân tâm học và thích được nổi tiếng. Rất có thể đây là động lực thúc đẩy ông tự thú đã giết một đứa trẻ 11 tuổi mà người ta vẫn không bao giờ tìm thấy xác. Đây là lần “tự thú” đầu tiên của ông. Về sau, do ảnh hưởng của thuốc an thần mà người ta thường chích cho ông trong những lần hỏi cung, Sture Bergwall đã nhận trên dưới 30 vụ sát nhân khác.
Câu chuyện của người từng được mệnh danh là “kẻ ăn thịt người” và “tên giết người hàng loạt khủng khiếp nhứt” tại Thụy Điển hiện đang đặt lại vấn đề về cả hệ thống tư pháp của nước này. Văn minh, dân chủ như Thụy Điển mà hệ thống tư pháp vẫn còn sơ hở, các bản án vẫn chưa được phân minh thì nói gì đến sự “phán đoán” của từng cá nhân riêng rẽ.
Chính vì có thể sai lầm trong phán đoán về hành vi của người khác mà tôi thấy mình chẳng có “quyền hạn” nào để buộc tội hay kết án người khác. Vả lại, tôi tin rằng ngày nào còn chút lương tri thì ai trong chúng ta cũng đều tự biết kết án chính mình. Tòa án lương tâm là nơi mà chúng ta không thể chạy thoát. Điều duy nhất mà chúng ta, những người đều đã và đang “qua cầu” cần để có thể sống hoàn thiện hơn chỉ có thể là sự cảm thông lẫn nhau mà thôi. 

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2016

Phái đoàn lực sĩ tỵ nạn tại Thế Vận Hội Rio de Janeiro


12.8.16


Lần đầu tiên Thế Vận Hội Mùa Hè được tổ chức tại Châu Mỹ La Tinh. Và cũng lần đầu tiên có một phái đoàn lực sĩ tỵ nạn tham gia các cuộc thi đấu. Phái đoàn lực sĩ tỵ nạn gồm đúng 10 người: 5 lực sĩ điền kinh đến từ Nam Sudan, 2 võ sĩ nhu đạo từ Cộng hòa Dân chủ Congo, 2 vận động viên về bơi lội đến từ Syria và một từ Ethiopia về điền kinh. Tất cả đều có một câu chuyện đầy nước mắt để kể lại. Yiech Pur Biel là một trong số 10 lực sĩ tỵ nạn ấy.
Câu chuyện của Biel bắt đầu vào năm 2005. Lúc đó anh vừa được 10 tuổi. Lính tráng không rõ từ đâu đã xuất hiện trong làng của anh. Trước đó 2 năm, họ cũng đã đến. Cha anh đã bỏ trốn và không bao giờ trở lại. Lần này, từ ngôi làng nhỏ có tên là Nasir, thuộc mạn Đông Bắc Nam Sudan, gia đình của anh gồm có mẹ, hai chị gái, một em trai và Biel cũng đã bỏ chạy khi lính tấn công vào làng. Biên giới giữa Nam Sudan và Ethiopia  chỉ cách làng của Biel khoảng 40 cây số. Vì biết mình không thể dắt díu một lúc 5 đứa con, người mẹ đành để cho cậu con trai 10 tuổi tự lo liệu. Biel đã xa mẹ và gia đình từ giây phút ấy và anh đã không bao giờ gặp lại họ. Anh không biết họ còn sống sót không hay đã rơi vào bàn tay thô bạo của những người lính. Hai ngày sau, Biel đã trở lại thăm làng: làng của anh đã hoàn toàn bị thiêu rụi. Tất cả gia súc đều bị giết. Tất cả những gì còn lại chỉ là xác người.
Đây là câu chuyện mà người thanh niên 21 tuổi đã kể lại tại Trung tâm Huấn luyện Tegla Loroupe ở Ngong, Kenya, cách thủ đô Nairobi khoảng 30 cây số.
Dạo tháng 6 vừa qua, sau một năm làm việc với 17 Ủy ban Thế vận và Cao ủy Liên Hiệp Quốc, Chủ tịch Ủy ban Thế Vận Hội, ông Thomas Bach loan báo đã tuyển mộ được một phái đoàn lực sĩ tỵ nạn gồm 10 người. Chủ tịch Ủy ban Thế Vận Hội gọi phái đoàn lực sĩ này là “một biểu tượng của hy vọng cho tất cả mọi người tỵ nạn trên khắp thế giới”. Ông Bach nói rằng đây cũng là “một tín hiệu được nhắn gởi đến cộng đồng thế giới rằng người tỵ nạn cũng là anh em của chúng ta và cũng góp phần làm giàu cho xã hội”.
Trên toàn thế giới hiện có khoảng 65.3 triệu người tỵ nạn. Đây là cuộc khủng hoảng về tỵ nạn lớn nhất kể từ sau Đệ nhị Thế chiến. Ông Bach hẳn đã nghĩ đến cuộc khủng hoảng này khi cho thành lập một phái đoàn lực sĩ để tham dự các cuộc thi đấu tại Thế Vận Hội Rio de Janeiro. Ủy ban Thế Vận Hội đã bỏ ra 2 triệu để chuẩn bị cho phái đoàn lực sĩ này. Người được giao phó cho công việc tuyển mộ và huấn luyện các lực sĩ tỵ nạn là cô Tegla Loroupe, một lực sĩ điền kinh nổi tiếng của Kenya.
Cuộc nội chiến tại Syria dĩ nhiên đã làm cho cuộc khủng hoảng về tỵ nạn trầm trọng hơn. Chỉ riêng từ Syria, trong năm 2015 vừa qua, đã có trên một triệu người tỵ nạn đổ về Âu Châu. Nhưng các cuộc xung đột triền miên, nạn hạn hán và bất ổn chính trị cũng đã khiến cho vô số người dân Phi Châu bỏ nước ra đi. Trong số này phải kể đến 160 ngàn người Ethiopia. Yonas Kinde, 36 tuổi, là một trong số những người tỵ nạn Ethiopia ấy. Anh hiện đang làm nghề lái Taxi tại Lục Xâm Bảo và được tuyển chọn vào phái đoán lực sĩ tỵ nạn tham dự Thế Vận Hội Rio de Janeiro. Yonas Kinde nói: “Tôi đã ra đi vì những vấn đề chính trị. Tôi được may mắn vì đang có mặt ở đây”.
Con đường dẫn đến Thế Vận Hội khác nhau đối với từng người, nhưng tất cả các lực sĩ tỵ nạn đều chia sẻ cùng một sứ mệnh là phải thay đổi quan niệm và cách cư xử của thế giới đối với người tỵ nạn. Người tỵ nạn dễ bị mang ra làm một thứ dê tế thần trong những xã hội đang bị chi phối vì nhiều nỗi lo sợ; họ cũng dễ bị các chính trị gia sử dụng như một con cờ trong các cuộc vận động của họ; họ cũng dễ bị trùm lên chiếc áo của những tội phạm hoặc khủng bố. Tại buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội vừa qua, họ muốn cho thế giới thấy rằng họ cũng có thể đi đứng, diễn hành, vẫy tay, mỉm cười, chạy và thi đấu như mọi người. Anjelina Nadai Lohalith, một nữ lực sĩ điền kinh đến từ Nam Sudan, nói: “Chẳng có ai có thể cảm thấy hạnh phúc khi bị xua đuổi hoặc sống xa quê hương. Nhưng hiện tại tôi cảm thấy hãnh diện, hãnh diện là một người tỵ nạn”. Theo Lohalith, cô và các bạn của cô trong phái đoàn lực sĩ tỵ nạn đang đại diện cho hàng triệu người tỵ nạn trên khắp thế giới. Cô khẳng định rằng người tỵ nạn cũng là những con người. Họ không phải là súc vật.
Cũng như Yiech Pur Bel, Nyang Chiengjiek cũng ra đi từ Nam Sudan năm anh được 13 tuổi. Kể từ khi giành được độc lập đến nay, quốc gia non trẻ nhất thế giới này vẫn mãi chìm ngập trong nội chiến. Hơn một nửa trẻ con của Nam Sudan không được cắp sách đến trường. Dạo tháng 3 vừa qua, Liên Hiệp Quốc đã tố cáo những tội ác chiến tranh của nước này với những hành động như thảm sát tập thể thường dân và để cho các binh sĩ hãm hiếp phụ nữ thay vì trả lương cho họ. Theo Liên Hiệp Quốc, Nam Sudan đã tạo ra “một trong những thảm kịch nhân quyền khủng khiếp nhất trên thế giới”.
Có lẽ để gây ý thức về thảm trạng của Nam Sudan mà Ủy ban Thế Vận Hội đã tuyển chọn hơn một nửa phái đoàn lực sĩ tỵ nạn từ Nam Sudan. Ngoài chiến tranh và đói khổ, người tỵ nạn Nam Sudan còn phải trải qua nhiều lạm dụng không thể tưởng tượng được. Nyang Chiengjiek là một lực sĩ chạy nước rút 800 thước. Anh hiện đã 28 tuổi. Năm lên 13 tuổi, anh đã biết “chạy”. Lúc đó, anh đã “chạy” để tránh khỏi bị quân đội tẩy não và biến thành binh sĩ trẻ con. Ngoài chuyện trẻ con bị tẩy não còn có hơn một nửa số trẻ em gái tuổi từ 15 đến 19, có em chỉ mới 12, phải bị cưỡng bách kết hôn. Năm lên 9 tuổi, Lohalith đã quyết định bỏ nhà trốn sang gia đình của một người dì bên Kenya, vì gia đình em muốn cưỡng bách em phải lập gia đình.
Các thế lực chính trị và bộ lạc không phải là nguyên nhân duy nhất tạo ra ác mộng cho người dân Nam Phi. Giữa miền Bắc theo Hồi giáo và miền Nam theo Kitô giáo đã từng có những mối thù tưởng không bao giờ chấm dứt. Tuy vậy, cuộc chia tay giữa hai miền đã diễn ra một cách tốt đẹp và Nam Sudan đã trở thành một quốc gia độc lập. Điều đáng sợ nhất đối với Nam Sudan hiện nay chính là những mối thù truyền kiếp giữa các bộ lạc. Hiện nay hai bộ lạc được xem là hùng mạnh nhất đang tranh giành quyền lực trong nước là Dinka và Nuer. Mặc dù đã có hơn nửa triệu người Nam Sudan bỏ nước ra đi kể từ khi nổ ra cuộc xung đột giữa hai bộ lạc hồi năm 2013, cho đến nay các căng thẳng vẫn chưa được xoa dịu. Tất cả 5 lực sĩ tỵ nạn điền kinh Nam Sudan đều đã tìm đến trại tỵ  nạn Kakuma ở miền Đông Bắc Kenya. Ngay trong trại tỵ nạn cũng đã xảy ra nhiều cuộc xô xát trong đó người tỵ nạn dùng đủ mọi khí giới từ súng ống đến mã táu để sát hại nhau.
Tránh những chia rẽ vì bộ lạc giữa các lực sĩ tại trung tâm huấn luyện Ngong là ưu tiên hàng đầu của giới hữu trách. Đã có 30 lực sĩ điền kinh được tuyển mộ về đây để luyện tập. Kể từ năm 2001 đến nay, cô Laroupe, người đã từng 2 lần là vô địch trong cuộc thi việt dã tại New York, đã tổ chức những cuộc chạy đua vì hòa bình và khuyến khích những người tỵ nạn thuộc đủ mọi quốc tịch và bộ lạc tham dự. Cô nói với các lực sĩ rằng họ nên quên những gì đã diễn ra trong các trại tỵ nạn và hãy nhớ rằng họ được tuyển chọn để trở thành “đại sứ” cho hòa bình.
Trong số 5 lực sĩ  Nam Sudan được tuyển chọn vào phái đoàn lực sĩ tỵ nạn, không có người nào thuộc bộ lạc Dinka. Thật ra như cô Anjelina Nadai Lohailith đã giải thích, các lực sĩ được tuyển chọn không dựa trên bộ lạc mà do tài năng riêng. Cô nói: “Chúng ta được tuyển chọn với tư cách là tỵ nạn do đó chúng ta đừng nghĩ đến bộ lạc của mình nữa. Hãy quên quá khứ và hãy sống với nhau như cùng một dân tộc. Hiện chúng ta đang tập luyện để thi đấu tại Thế Vận Hội. Hãy tập trung vào một điều duy nhất: chúng ta là một đội ngũ!”
Trong khi các lực sĩ của các nước tham gia thi đấu tại Thế Vận Hội đều đã bỏ ra cả một đời để chuẩn bị thì 10 lực sĩ của phái đoàn tỵ nạn chỉ được huấn luyện và tập dượt trong 9 tháng vừa qua. Trước tháng 10 năm ngoái, chưa có một lực sĩ tỵ nạn Nam Sudan nào nghĩ đến chuyện dinh dưỡng hay tập dượt hai lần một ngày. Trước khi trở thành lực sĩ thế vận hội, Paulo Amotun Lokoro và Yiech Pur Biel chỉ là những cậu bé chăn trâu; James Nyang Chiengjiek học sửa xe...Cũng như mọi lực sĩ khác, mong ước của họ là đoạt giải, tạo sự nghiệp và chia sẻ kinh nghiệm cho người khác. Lực sĩ điền kinh Lokoro nói: “Nếu có làm được điều gì tốt đẹp hơn trong cuộc sống, tôi muốn giúp đỡ những người tỵ nạn đã từng đau khổ như tôi. Có quá nhiều người tỵ nạn có tài nhưng không có cơ hội.”
Yiech Pur Biel đã tày tỏ hoài bão của anh: “Tôi có một thông điệp muốn nhắn gởi cho thế giới. Tôi cảm thấy đang chịu nhiều áp lực, bởi vì có hàng triệu người tỵ nạn đang nhìn về chúng tôi để nói lên cuộc sống họ đang trải qua. Thứ đến, tôi quan tâm đến đất nước của tôi: Nam Sudan. Nếu tôi thành công và được sống ở nước ngoài, tôi sẽ chẳng có di sản nào để để lại cho người khác. Tôi muốn trở về quê hương và phục vụ đất nước, làm một người xây dựng hòa bình và chỉ cho họ thấy con đường phải đi cũng như nói với thế giới rằng chúng tôi có thể thách thức các nhà lãnh đạo của chúng tôi. Bởi lẽ chính các nhà lãnh đạo là những người tạo ra các vấn đề. Cuối cùng, tôi nghĩ đến gia đình tôi và gốc gác của tôi. Đây quả là một lịch sử khủng khiếp. Tôi cần phải thay đổi điều đó. Có thể tôi sẽ trở lại làng xưa để giúp đỡ giới trẻ. Bởi vì tôi biết rằng không phải chỉ có gia đình tôi mới đau khổ”.
Một người đã có những hoài bão như Yiech Pur Biel sẽ không bao giờ chịu chết, bởi vì người tỵ nạn không phải là súc vật. Họ cũng giống như mọi người. Họ cũng có thể làm được những điều tốt ngay cả giữa những nghịch cảnh khốn cùng nhất. Và chính vì vậy mà những người tỵ nạn cũng có thể mang lại hy vọng cho người khác.
Đức Phanxicô,  đã nói lên niềm hy vọng đó qua lá thư ngài gởi cho phái đoàn Lực sĩ Tỵ nạn. Nhà lãnh đạo tinh thần của Giáo hội Công giáo đã  nhắn nhủ các lực sĩ tỵ nạn: “Ước gì lòng can đảm và sức mạnh mà các bạn đang mang trong người có thể gióng lên xuyên qua Thế Vận Hội một tiếng kêu của tình huynh đệ và hòa bình. Ước gì xuyên qua tất cả các bạn, nhân loại hiểu rằng hòa bình là điều có thể có, rằng với hòa bình mọi sự đều có thể đạt được, còn trái lại với chiến tranh mọi sự đều có thể mất mát”
(Jarred Malsin, the longest run, tạp chí Time 1/8/16 & http://www.avvenire.it/Sport/Pagine/Olimpiadi-Rio-2016-messaggio-di-Papa-Francesco-alla-squadra-dei-rifugiati)