Thứ Tư, 13 tháng 7, 2016

Sức Mạnh Mềm



Chu Thập
16.10.12


Một trong những điều mà khi nhắm mắt lìa đời có lẽ tôi vẫn còn ân hận, đó là chưa đền ơn trả nghĩa đủ cho các bà chị của tôi. Hiếu thảo với cha mẹ là chuyện đương nhiên phải có. Nhưng với tôi, ngoài công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, tôi thấy mình còn mang nợ rất nhiều với các bà chị. Các chị tôi đã đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình “nên người” của tôi. Các chị tôi không hề “dạy dỗ” tôi, nhưng đã hy sinh để tôi được “ăn học”. Món nợ của tôi đối với các chị quá lớn là bởi các chị tôi đã chịu quá nhiều thiệt thòi để tôi có được ngày hôm nay.
Khi các chị tôi đến tuổi cắp sách đến trường thì cũng là lúc gia đình tôi khánh tận. Cho nên tất cả các chị của tôi đều bị thất học. Bà nào  khá lắm thì cũng chỉ tốt nghiệp “bình dân học vụ”, nghĩa là xé đủ vài cuốn vần để đọc được 24 chữ cái và biết đọc biết viết. Vào đời và làm việc trong những điều kiện mà xã hội tân tiến ngày nay gọi là cưỡng bách và bóc lột sức lao động trẻ con, ngay từ tuổi nhỏ các chị tôi đã phải bôn ba tảo tần chẳng khác nào bà Tú Xương. Ngoài việc bồng ẵm, chăm sóc, đút cơm, dắt mấy cậu em đi chơi, các chị tôi cũng san sẻ gánh nặng gia đình với mẹ tôi trong việc đồng áng, chăn nuôi và ngay cả buôn bán. Đến tuổi cập kê, gặp ông chồng thuộc gia đình khá giả thì còn có nơi nương tựa. Nhưng phần lớn các chị tôi đều gặp chỗ “môn đăng hộ đối” với những ông anh rể quanh năm ngày tháng chỉ biết cảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau” cho nên lam lũ vẫn là phần số “chạy trời không khỏi nắng” của các chị. Vậy mà thân cò lặn lội bờ ao, các chị tôi bà nào cũng nuôi sống được một ông chồng với cả chục đứa con. Riêng một bà chị “ở vậy” thì tôi chẳng biết dùng lời nào để tán dương: bà là người duy nhứt thay mặt cho mọi người con  sớm hôm túc trực bên giường bệnh để chăm sóc người cha già yếu trong những năm cuối đời.
Nại đến hoàn cảnh túng thiếu, cha mẹ tôi đành để cho các chị tôi thất học. Nhưng không hiểu sao ông bà lại tìm đủ mọi cách để mấy thằng con trai có cơ hội ngước mặt nhìn đời và mang về cho gia đình chút danh dự. Phải thành thật khai báo rằng cha mẹ tôi quá cưng chìu con trai. Suốt ngày anh em con trai chúng tôi chỉ biết “ăn học” và lêu lổng. Đã vậy, hễ có của ngon vật lạ thì trước là dành cho cha tôi, rồi sau đến mấy thằng con trai, chứ chẳng bao giờ có thừa cho các bà chị. Mọi việc trong nhà đã có mẹ và các bà chị lo. Bây giờ nhìn lại, tôi mới nhận ra quá trễ rằng nếu không có những thiệt thòi và hy sinh của các bà chị, anh  em trai chúng tôi khó mà ăn học cho đến nơi đến chốn và nhứt là nên người.
Tôi không trách cha mẹ tôi đã có sự “phân biệt đối xử” như thế với con cái. Cách đây 6,7 chục năm, một phần vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhưng có lẽ vì thấm nhuần những “chân lý nghìn đời” của Khổng giáo, cho nên cha mẹ tôi vẫn xem những câu nói của các bậc “thánh hiền” bên Tàu như “thập nữ viết vô” hoặc “nữ nhi ngoại tộc” là khuôn vàng thước ngọc.
Cứ tưởng những người nghèo khổ thất học ở cái thời “chưa khai hóa” như cha mẹ tôi mới có thái độ phân biệt giới tính và khinh thị nữ nhi. Ngày nay, cách cha mẹ tôi đến hơn nửa thế kỷ, ở cái đất Trung Hoa vĩ đại của Đức Khổng Tử, chính sách mỗi gia đình một đứa con đã khiến cho mạng sống của nữ nhi bị rẻ rúng khinh miệt và sát hại đã đành, mà ngay tại Việt nam vẫn tồn tại quan niệm trọng nam khinh nữ khiến dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và không biết bao nhiêu thảm cảnh gia đình.
Trong những ngày này, cả thế giới đều theo dõi tình trạng sức khỏe của cô bé gái người Pakistan tên là Malala Yousafzai. Cô nữ sinh 14 tuổi sinh sống trong vùng Swat Valley này đã dám thách thức một trong những cổ tục hủ lậu của Phong Trào Hồi Giáo quá khích Taliban là ngăn cấm nữ giới được cắp sách đến trường. Trên Blog riêng của mình, Yousafzai đã mở chiến dịch chống lại tệ trạng này và kết quả là em đã bị một nhóm Taliban tìm cách ám sát. Vết thương nơi đầu em quá nặng khiến phải di chuyển em sang Bệnh viện hoàng gia Elizabeth bên Anh Quốc để chữa trị. Sự can đảm của em Yousafzai đã giúp thế giới ý thức về thảm trạng mà nữ giới tại rất nhiều nơi trên thế giới đang trải qua. Không được “ăn học” vì nghèo khổ là chuyện còn có thể hiểu được. Đàng này, chỉ vì xem nữ giới là “hạ cấp” so với nam giới, cho nên giam hãm họ trong sự ngu dốt là điều không thể chấp nhận được trong thế giới văn minh ngày nay. Song song với chủ trương “ngu dân” đối với nữ giới ấy, nhiều nơi còn nhân danh tôn giáo và truyền thống để chà đạp phẩm giá của nữ giới. Từ chuyện bị cưỡng bách kết hôn, bị sát hại vì danh dự gia đình, bị cắt âm vật cho đến chuyện ra đường phải có một người đàn ông trong gia đình tháp tùng hoặc không được lái xe hay đi xe đạp...tại nhiều nơi trên thế giới, nữ giới vẫn còn bị đối xử có khi còn thua cả thú vật ở các nước văn minh.
Ở những nơi chưa được “khai hóa”, nặng tôn giáo quá khích hay truyền thống cổ hủ, thân phận người phụ nữ rẻ như bọt bèo là chuyện xem ra còn có thể dung thứ được. Nhưng ở những nước văn minh, ngay cả khi “nam nữ bình quyền” được ra rả tuyên xưng, khi những quyền căn bản của người phụ nữ được nhìn nhận và điều được gọi là cuộc cách mạng tình dục đã “giải phóng” người phụ nữ khỏi kiếp nô lệ trong chốn phòng the, nữ giới vẫn chưa thoát khỏi hẳn cái vòng kim cô do nam giới áp đặt. Mới đây chính trường Úc đại lợi đã nóng lên vì cuộc tranh cãi về phái tính. Bỏ qua một bên cái “ý đồ” của thủ tướng Julia Gillard khi tấn công vào lãnh tụ đối lập Tony Abbott, người mà bà cho là một tên kỳ thị giới tính và miệt thị đàn bà, bài diễn văn tại Hạ viện Liên bang của bà hôm thứ Ba 9 tháng 10 vừa qua đã được các phong trào và tổ chức tranh đấu cho nữ quyền trên khắp thế giới nhiệt liệt hoan hô. Chuyện ông Tony Abbott có kỳ thị giới tính và miệt thị đàn bà hay không hẳn là chuyện dài nhiều tập trên chính trường Úc. Nhưng bài diễn văn của bà Gillard chắc chắn đã gợi lên rất nhiều thảm cảnh mà phụ nữ ngày nay vẫn còn phải gánh chịu chỉ vì thân phận phụ nữ của mình. Không nói đến chuyện bạo hành trong gia đình, bị kỳ thị trong sở làm hay chuyện buôn người và nô lệ tình dục, nhân loại ngày nay có lẽ vẫn chưa đủ “trưởng thành” để thoát khỏi cái nhìn “sự vật hóa” đối với người phụ nữ. Tựu trung, trong ánh mắt của nhiều người, phụ nữ vẫn còn là một thứ để chinh phục, sở hữu và hưởng thụ. Tại sao người ta không đặt vấn đề “trinh tiết” của đàn ông, mà lại cứ đòi hỏi điều đó nơi đàn bà? Chẳng qua là vì nhiều người xem phụ nữ như một sản phẩm để mua. Mà mua thì dĩ nhiên ai cũng muốn mua đồ mới!
Cách đây gần 50 năm, nhà văn Lâm Ngữ Đường, dưới cái nhìn của một người Phương Đông (mặc dù chẳng có nơi nào phụ nữ bị miệt thị cho bằng trong văn hóa Trung Hoa), đã nói đến chuyện khai thác thân thể phụ nữ tại Tây Phương, nhứt là tại Hoa kỳ. Ông viết: “Các nghệ sĩ gọi đó là cái đẹp. Khán giả gọi đó là nghệ thuật. Chỉ có những nhà dàn cảnh và các ông bầu hát mới ngay thẳng gọi nó là sự gợi tình của nữ tính (sex appeal) và đàn ông thường lấy vậy làm thích. Hiện tượng đó quả là hiện tượng đặc biệt của một xã hội tạo ra vì đàn ông, do đàn ông chỉ huy, một xã hội trong đó đàn bà khỏa thân bị đem trưng ra trước công chúng vì mục đích thương mại, còn đàn ông thì gần như không khi nào bị như vậy, trừ vài anh mãi võ. Đàn bà ở trên sân khấu thì hở hang, gần như khỏa thân, còn đàn ông ngồi dưới ngó lên thì ăn bận đàng hoàng, đeo cà vạt nữa. Nếu xã hội do đàn bà chỉ huy thì tình trạng có đảo ngược không nhỉ” (Lâm Ngữ Đường, Một quan niệm về Sống Đẹp, bản dịch Nguyễn Hiến Lê, trg 159-160).
Tôi vẫn bị cám dỗ để tưởng tượng ra một thế giới ở khởi đầu do đàn bà lãnh đạo. Trong trường hợp này thì có lẽ Kinh Thánh của Do thái giáo và Kitô giáo sẽ được viết “khác” đi. Biết đâu Đức Chúa Trời không là Cha mà là Mẹ. Biết đâu trong 10 Giới Luật, sẽ có giới luật “Ngươi không được thèm muốn “chồng” người ta chứ không phải là “vợ” người ta!
Tưởng tượng cho vui thôi. Lịch sử là điều không thể thay đổi. Lịch sử ấy nói với tôi rằng nhân loại luôn trong tiến trình đi lên: lên từ xã hội do đàn ông độc quyền chỉ huy sang xã hội “nam nữ bình quyền”, lên từ xã hội được điều khiển bởi sức mạnh của cơ bắp sang xã hội được điều khiển bằng lý trí, lên từ xã hội xây dựng trên lò thuốc súng sang xã hội của tình người...
Tôi luôn lạc quan về lịch sử đi lên của xã hội loài người. Cách đây gần 30 năm, thế giới đã chứng kiến cuộc cách mạng thường được mệnh danh là “Sức mạnh quần chúng” (People’s Power) tại Phi luật tân. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, đã diễn ra một cuộc đảo chánh mà không có tiếng súng, không có cảnh máu đổ thịt rơi.  Không một võ khí hay một tấc sắt trong tay, người dân quốc gia hải đảo này đã xuống đường và lật đổ được nhà độc tài Ferdinand Marcos.  Kế đó, một cuộc cách mạng như thế cũng đã diễn ra tại Haiti và buộc một nhà độc tài khác phải ra đi. Nhưng có lẽ ngoạn mục hơn cả vẫn là cuộc cách mạng “êm như nhung” tại Tiệp Khắc và đồng loạt các cuộc cách mạng tương tự tại khắp Đông Âu để khai tử các chế độ độc tài cộng sản hồi năm 1989. Gần đây hơn, cuộc cách mạng được mệnh danh là “Hoa lài” tại Tunisia đã khai mở một “Mùa Xuân” đầy hy vọng cho Trung Đông và các nước Á rập. Đã đến lúc thế giới thấy rằng một chế độ cai trị có thể thay đổi mà không buộc phải dùng đến bạo động và võ khí giết người.
Nhiều người đã có lý khi gọi kỷ nguyên mới là kỷ nguyên của “Sức mạnh mềm” (soft power). Sức mạnh mềm ấy đã được thể hiện qua sự phát triển và xử dụng rộng rãi hệ thống thông tin toàn cầu. Trước kia, với nhà tù, trại tập trung, hàng rào kẽm gai, dùi cui, báng súng...các chế độ độc tài đã có thể bưng bít thông tin và kìm kẹp người dân trong sợ hãi. Nay với “Sức mạnh mềm” này, không có lý do gì để không tin rằng chẳng có sự đe dọa nào còn có thể làm cho người dân lùi bước trước bạo lực nữa. Nói theo ngôn ngữ của ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện, đã đến thời mà ông gọi là “kỷ nguyên tã trắng thắng cờ hồng”. Trẻ thơ là biểu tượng của chính “Sức mạnh mềm” ấy. Chỉ có sức mạnh của Hồn nhiên và Trong trắng của Trẻ thơ mới có thể chiến thắng được Gian Dối. Chỉ có sức mạnh của Hòa Bình nơi Trẻ thơ mới có thể hóa giải được Hận Thù và Bạo Lực.
Một cách nào đó, lịch sử nhân loại cũng sẽ “đi lên” không chỉ vì sự bình đẳng của người phụ nữ trong gia đình và xã hội được nhìn nhận, không chỉ vì người phụ nữ có thể đảm nhận rất nhiều  vai trò vốn từ trước đến nay chỉ dành riêng cho nam giới. Lịch sử nhân loại “đi lên” là khi “Sức mạnh mềm” mà người phụ nữ là một biểu tượng sẽ chi phối mọi sinh hoạt của con người. Đó là lúc tình người, tinh thần phục vụ, lòng quảng đại, sự nhẫn nhục, từ tâm, quên mình, hy sinh...trở thành những nguyên tắc hướng dẫn các quan hệ giữa người với người.

Được sống và “mở” mắt ra trong xã hội đầy tự do dân chủ, những khi nhớ các bà chị tuổi già sức yếu chưa một ngày biết thế nào là xã hội với những từ rất kêu như văn mình, bình đẳng...tôi thường tự hỏi, giữa tôi và các chị tôi, ai nên người hơn ai. Chắc chắn không phải tôi!

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016

Hebron, nơi người dân Palestine chỉ còn là một con số


8.7.16
Hebron là một thành phố của người Palestine nằm ở phía nam Tây Ngạn, cách Giêrusalem 30 cây số về hướng Nam. Tọa lạc trên dãy núi Judea, Hebron có độ cao 930 mét. Đây là thành phố lớn nhất trong vùng Tây Ngạn và là thành phố lớn thứ nhì của lãnh thổ Palestine, sau Gaza. Theo thống kê mới nhất, dân số Hebron hiện có trên 215 ngàn người Palestine và từ 500 đến 850 người Do Thái, tập trung tại khu định cư Otniel và xung quanh khu phố cổ. Hebron được chia thành hai khu biệt lập: Khu H1 do chính quyền Palestine kiểm soát và khu H2, chiếm khoảng 20 phần trăm diện tích của thành phố, do Israel quản trị. Người Do Thái sinh sống tại Hebron thường được gọi là những người “định cư”. Họ có riêng hội đồng thị xã được gọi là Ủy ban Cộng đồng Do thái Hebron.
Ngoài những cuộc xung đột triền miên giữa người Palestine và người Do Thái “định cư”, Hebron còn nổi tiếng vì là một linh địa chôn cất các tổ phụ và tổ mẫu của người Do Thái. Chính vì thế mà Hebron được xem là đô thị thánh thiêng nhất của Do Thái Giáo sau Giêrusalem. Vì là nơi dừng chân của tổ phụ Abraham cho nên Hebron được xem là “đất thánh” đối với  cả Do Thái Giáo, Ki Tô Giáo lẫn Hồi Giáo (x. wikipedia.org/wiki/Hebron). Tuy nhiên, cuộc sống chung giữa các tín đồ của 3 tôn giáo, cách riêng giữa người Palestine và người Do Thái, không vì thế mà được hài hòa. Mới đây, vì đã xảy ra nhiều vụ xung đột đẫm máu giữa người Do Thái “định cư” và cư dân Palestine, quân đội Israel đã thiết lập một hệ thống căn cước mới dành cho người Palestine: từ đây 30 ngàn dân Palestine tại đây sẽ chỉ còn là những con số!
Mỗi buổi chiều khi hoàng hôn xuống, người thiếu phụ Palestine tên là Alaa, 23 tuổi, thường đứng tựa vào ban công của ngôi nhà bằng đá khiêm tốn của cô trên đường Shuhada. Cô nói: “Tôi đếm từng phút cho đến khi chồng tôi về đến nhà. Tôi đứng chờ bên cửa số và nói với chồng tôi đừng về muộn”.
Shuhada (trong tiếng Á Rập có nghĩa là đường của các vị tử đạo) là con đường chạy xuyên qua trung tâm thành phố, nối liền khu chợ lộ thiên vời đền thờ Hồi Giáo Irahimi.
Người Palestine thường sống trong các căn hộ nằm bên trên các tiệm buôn bán. Bên cạnh họ, tại khu H2 là những người Do Thái “định cư”. Từ nhiều tháng nay, họ phải chịu nhiều hạn chế và kiểm soát an ninh do quân đội Israel áp đặt. Ngày 30 tháng 10 năm ngoái, quân đội Israel  đã loan báo sẽ thiết lập một khu quân sự  tại Hebron.  Kể từ đó, người thiếu phụ Palestine tên là Alaa nói rằng chẳng còn một người Palestine nào, kể cả cha của cô, được phép đến thăm cô. Bất cứ người cư dân Palestine nào sinh sống gần khu quân sự vừa mới được thành lập cũng đều phải bị kiểm soát chặt chẽ. Ngoài giấy tờ tùy thân mà họ phải trình ra tại 17 trạm kiểm soát, người Palestine còn phải hô lớn con số được quy định cho mỗi người. Một cư dân Palestine tại đường Shuhada cho biết: “Ngay cả trẻ con cũng có số. Số của tôi là 58. Vợ tôi 59. Khi con tôi chào đời, nó cũng sẽ có một số khác”. Còn 4 tuần nữa con ông sẽ chào đời. Người đàn ông đùa rằng vì sợ quá mà đứa bé không muốn ra khỏi lòng mẹ. Đến ngày sinh nở, vợ ông sẽ đi qua các trạm kiểm soát và vượt cạn một mình, bởi vì sẽ không có người nào được phép đi theo vợ ông.
Quân đội Israel đã không trao giấy tờ cho người Palestine khi đặt cho mỗi người một con số. Mỗi người phải tự nhớ lấy. Ai không có số sẽ bị bắt giữ hoặc trục xuất ra khỏi khu phố. Quân đội Israel đã bắt giữ ít nhất 20 thiện nguyện viên đến từ nước ngoài. Với những người không còn nhớ số của mình hoặc không chịu để cho quân đội ghi số, họ chỉ còn một cách duy nhất là luồn lách qua những cánh đồng.
Một phát ngôn viên của quân đội Israel cho biết: sở dĩ quân đội đã phải đưa ra những biện pháp như thế là để đề phòng những vụ tấn công và bảo đảm an toàn cũng như phúc lợi cho các cư dân trong vùng. Tuy nhiên, một tổ chức tranh đấu cho nhân quyền tại
Israel có tên là B”Tselem nói rằng biện pháp mới này chỉ là một sự trừng phạt tập thể đối với các cư dân của thành phố Hebron. Theo tổ chức này, bất cứ ai không có tên trong danh sách sẽ không thể đi qua trạm kiểm soát và bị buộc phải trở về nhà. Trong một số trường hợp khác, nhân viên tại các trạm kiểm soát quên đưa tên của một số cư dân vào danh sách. Những người này không thể nào được phép cho đi qua.
Bên kia trung tâm thành phố Hebron, quân đội Israel cũng cho dựng lên một loạt những trạm kiểm soát di động giữa Hebron và Bethlehem. Xe cộ qua lại phải chờ rất lâu trước khi được phép đi qua các trạm kiểm soát.
Năm 1994, sau khi Thỏa ước Oslo được ký kết , quân đội Israel đã đóng cửa các cửa tiệm và doanh nghiệp dọc theo con đường Shuhada. Một thập niên sau, khi cuộc nổi dậy lần thứ hai của người Palestine chấm dứt, quân đội Israel lại đóng cửa  các hãng chế xuất thủy tinh và cấm xe của người Palestine đi qua con đường này.
Hàng trăm người Palestine đành phải dời đi nơi khác. Những người ở lại muốn đi vô nhà mình phải đi qua những con hẻm nhỏ.
Theo tổ chức tranh đấu cho nhân quyền B”Tselem, sở dĩ quân đội Israel đưa ra những biện pháp kiểm soát chặt chẽ như thế là để đẩy người Palestine đi nơi khác và bành trướng khu của người Do Thái “định cư”.
Lâu nay, nếu có bạo động xảy ra, người Do Thái thường qui trách cho người Palestine. Kỳ thực, chính người Palestine cũng đã từng là điểm nhắm của những người Do Thái “định cư” như đã xảy ra mới đây tại đường Shuhada: mỗi đêm hàng chục người Do Thái đổ xô xuống đường này và dùng đá để ném vào nhà của người Palestine. Một cư dân Palestine nói: “Trước đây, những người “định cư” sợ chúng tôi. Nhưng nay chính chúng tôi sợ họ”.
Ngày nay, tất cả mọi cư dân tại Hebron đều sống trong sợ hãi. Nhưng sợ nhất vẫn là trẻ con. Những cuộc đụng độ giữa các lực lượng Israel và người Palestine tại Hebron đã và đang tạo ra nhiều chấn thương khó chữa trị nơi trẻ con.
Tại trường Tariq bin Ziyad, cũng như mọi nơi trên thế giới, trẻ con nô nức cắp sách đến trường. Chúng cũng chơi và bình luận về túc cầu, ngay cả túc cầu thế giới. Bên này ủng hộ đội Real Madrid, bên kia chạy theo đội Barcelona. Thình lình, tất cả mọi học sinh đều chạy ra cửa vì cách đó 150 mét, tiếng nổ của những trái bom hơi cay đã vang dội khắp nơi. Hơi cay khiến cho nhiều học sinh khó thở. Ông Rawhay Shukrie giải thích: “Mỗi ngày, từng đám mây hơi cay bao phủ lấy trường của chúng tôi. Mỗi ngày, bom hơi cay và những tiếng nổ của chúng đều tác động trên học sinh của chúng tôi”.
Cũng như các cửa tiệm và các khu dân cư khác, trường Tariq bin Ziyad cũng nằm bên cạnh vùng kiểm soát của Israel trong thành phố cổ. Đây là nơi hiện có khoảng 500 người Do Thái “định cư” đang sinh sống. Trong thời gian gần đây, quân đội Israel và người Do Thái “định cư” gia tăng các cuộc lấn chiếm và bạo động trong các khu của người Palestine. Trước những hành động gây hấn và đe dọa như các cuộc ném bom hơi cay, Hiệu trưởng Shukrie không biết làm gì khác hơn là đưa các học sinh vào những nơi trú ẩn an toàn và chữa trị những em bị nhiễm hơi cay.
Gần đây, các cuộc bạo động tại Israel cũng như trong lãnh thổ Palestine bị Israel chiếm đóng đã làm cho 77 người Palestine và 10 người Do Thái bị thiệt mạng. Khoảng một phần ba những người Palestine bị giết chết đều là cư dân Hebron.
Theo bà Natalia Garcia, giám đốc chi nhánh của Tổ chức Các Y Sĩ Không Biên Giới tại Hebron, những biến cố gần đây đã tạo ra những hậu quả tâm lý trầm trọng nơi các cư dân của Hebron. Căng thẳng và xung đột giữa quân đội Israel, người Do Thái “định cư” và người Palestine tại Hebron là chuyện cơm bữa. Nhưng nay trẻ con là những người ngày càng phải gánh chịu các chấn thương nhiều hơn. Hiện nay, các trường học đều phải thiết lập các phòng cứu thương cấp thời dành cho các học sinh. Thuốc thang là điều đương nhiên phải có. Nhưng quan trọng hơn cả chính là việc cố vấn tâm lý cho các em. Con số các em phải rơi vào tâm trạng lo lắng sợ hãi ngày càng nhiều. Một số có những dấu hiệu của tự cô lập hoặc phẫn nộ: các em tránh các sinh hoạt xã hội hoặc trút cơn giận dữ lên gia đình và bạn bè.
Ném đá vào các binh sĩ Israel là một trong những hành động trả đũa của các học sinh Palestine. Cảnh tượng thường xảy ra là: tan trường một nhóm học sinh tuổi từ 8 đến 14 tụ tập tại một khu ở đầu đường Shuhada; tại đây, các em ném đá về hướng các binh sĩ Israel. Dĩ nhiên, phần lớn các viên đá đều không chạm đến các binh sĩ Israel. Về phần các binh sĩ này, họ luôn sẵn sàng mở chốt để ném những trái bom cay về phía các học sinh. Đường Shuhada lúc nào cũng đẩy những sỏi đá và vỏ từ các trái bom cay. Một học sinh 10 tuổi nhìn về phía các binh sĩ Israel và nói lớn với giọng điệu đầy thách thức: “Họ thù ghét chúng tôi. Họ muốn làm gì thì làm. Họ vào nhà chúng tôi và bắt đi bất cứ ai. Họ có thể giết chúng tôi. Họ có thể bắt tôi và anh em của tôi nếu họ muốn”.
Theo bà Garcia, một số phụ huynh đã ngưng gởi con em họ đến trường vì sợ chúng bị thương hoặc bị giết chết nếu ra khỏi nhà. Chính các trẻ em cũng sợ và không muốn ra khỏi nhà. Theo bà Garcia, nhiều em phải sống trong ác mộng. Một số sợ đến nỗi bị đái dầm. Nhiều em chỉ muốn ngủ chung một phòng với cha mẹ chúng vì sợ bị quân đội Israel đến khám nhà và bắt đi bất cứ lúc nào. Một số trường còn cho biết quân đội Israel ném bom cay vào các lớp học và bố ráp các trường học.
Tại Hebron, tổ chức Các Y Sĩ Không Biên Gới đã gia tăng các dịch vụ thêm gấp 5 lần kể từ tháng 10 năm ngoái. Chỉ trong một tháng các nhân viên của tổ chức đã phải chữa trị cho gần 500 người. Hiện vẫn còn nhiều khu khác trong Thành phố Hebron là những nơi mà vì các cuộc đụng độ giữa quân đội Israel và người Palestine cũng như vì những hạn chế đi lại, các bác sĩ của tổ chức Các Y Sĩ Không Biên Giới không thể đặt chân đến để chữa trị cho người dân. Nhiều cư dân trong thành phố cho biết họ không dám đến một số nơi trong thành phố hoặc đi lại một mình. Issa Amro, giám đốc của tổ chức chống lại việc định cư của người Do Thái tại những lãnh tổ của Palestine bị Israel chiếm đóng, cho biết chính mắt ông đã chứng kiến cảnh các binh sĩ Israel bắn hạ một thanh niên Palestine gần nhà ông, mặc dù người thanh niên này không để lộ bất cứ một dấu hiệu đe dọa nào. Ông Amro nói rằng người thanh niên đã bị bắn gục và để cho chết.
Sợ hãi là tâm trạng chung của người Palestine đang sống tại Hebron: sợ người Do Thái định cư, sợ các binh sĩ Israel, sợ mỗi khi nghe tiếng súng nổ, sợ cho gia đình và con cái của mình...

(Nguồn: http://www.aljazeera.com/news/2015/12/hebron-kids-numbers-)

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2016

Nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm



Chu Thập
1.7.16

Sống trong một đất nước tự do và dân chủ như Úc Đại Lợi, cứ mỗi lần bước vào phòng phiếu là tôi thấy mình trở thành người “quan trọng”. Như chính phủ thường kêu gọi mỗi khi có bầu cử, “mỗi lá phiếu đều có giá trị”. Thành ra mỗi khi cầm lá phiếu trên tay, tôi luôn suy nghĩ và cân nhắc rất kỹ. Tôi cảm thấy mình là người “quan trọng” bởi vì một cách nào đó, vận mệnh của quốc gia và cuộc sống của mọi người tùy thuộc ít hay nhiều vào lá phiếu của tôi.
Sở dĩ tôi có một chút “tự hào” như thế là vì nghĩ đến kết quả và hậu quả của cuộc trưng cầu dân ý vừa qua tại Vương quốc Anh. Hôm thứ Năm 23 tháng 6 vừa qua, người dân Anh đã nói lên ý kiến của họ về việc có nên ở lại hay ra khỏi Liên Âu. Trái với chờ đợi và suy đoán của nhiều người, kể cả những nhà phân tách thời cuộc đầy kinh nghiệm, kết quả cuộc trưng cầu dân ý cho thấy  đã có 52 phần trăm dân chúng Anh chọn lựa ra khỏi Liên Âu. Tỷ lệ cách biệt giữa bên muốn ở lại và bên muốn ra đi  không bao nhiêu, nhưng cũng đủ để nói lên ý kiến của đám đông và cũng đủ trọng lượng để được tôn trọng. Chính vì vậy mà sau khi kết quả cuộc trưng cầu dân ý được công bố, các nhà lãnh đạo của 27 nước còn lại trong khối Liên Âu đã thôi thúc Anh Quốc hãy mau chóng tiến hành việc “đi ra” khỏi khối càng sớm càng tốt.
Trong một xứ sở tự do và dân chủ, thông thường người dân suy nghĩ chín chắn trước khi đi bỏ phiếu. Nhưng cũng không thiếu những người bỏ phiếu bằng cảm tính và trực giác hơn là bằng lý trí. Có lẽ đây là điều đã diễn ra trong cuộc trưng cầu dân ý vừa qua tại Vương quốc Anh.
Theo kết quả của một cuộc nghiên cứu được Công ty thăm dò dư luận “Opinium” và các giáo sư của Trường Kinh tế London, Anh Quốc thực hiện, trong hầu hết các cuộc bầu cử, có đến 30 phần trăm cử tri chỉ quyết định bỏ phiếu cho ai hay đảng nào trong những ngày cuối của cuộc vận động bầu cử. Cũng theo cuộc thăm dò, có khoảng một nửa số cử tri chỉ quyết định bỏ phiếu hoặc dồn phiếu cho ai vào chính ngày bầu cử. Nhìn chung, cứ 3 cử tri thì có một người chưa quyết định được lá phiếu của mình cho tới ngày cuối và trong 6 người thì có một người chỉ quyết định khi bước vào phòng phiếu. Điều đáng suy nghĩ là một sự kiện như thế lại diễn ra trong một xã hội luôn chìm ngập trong biển thông tin về chính trị. Bên cạnh đó là các cuộc vận động và quảng cáo không ngừng nghỉ của các phe phái. Với sự bùng nổ của thông tin, bên cạnh hướng dẫn của các chuyên gia và bình luận gia, người dân còn có cơ hội để trao đổi và thảo luận một cách tự do với mọi người xung quanh. Nhưng sự bùng nổ thông tin có khi cũng là một con dao hai lưỡi, nhứt là khi cử tri phải đứng trước những chọn lựa khó khăn. Trong một mức độ nào đó, thông tin quá tải có thể khiến cho những chọn lựa của cử tri được quyết định bởi cảm xúc hơn là được hướng dẫn bởi lý trí.
Có lẽ vì đã hành động như thế mà nhiều người Anh hiện nay đã hối hận vì trong một phút bốc đồng đã bỏ phiếu chọn lựa ra đi khỏi Liên Âu. Đây là trường hợp của một phụ nữ trẻ tại Manchester. Cô đã bỏ phiếu ủng hộ việc ra khỏi Liên Âu. Nhưng sáng hôm sau, khi biết được kết quả cuộc trưng cầu dân ý, cô mới nhận ra những hệ lụy của lá phiếu của cô. Thế là không đầy 72 giờ sau khi kết quả cuộc trưng cầu dân ý được công bố, cùng với hơn 2.7 triệu người khác, người phụ nữ trẻ ở Manchester đã ký tên vào một thỉnh nguyện thư yêu cầu cho họ được bỏ phiếu lại để được ở lại trong Liên Âu (x. psychologytoday.com/blog/without-prejudice/201606/did-brexit-voters-make-decision-based-head-or-gut)
Tâm lý thông thường của con người là như thế: khi nhận ra lá phiếu của mình là quan trọng, người ta mới cảm thấy hối hận vì đã không sử dụng nó một cách nghiêm chỉnh hoặc vì đã không sử dụng nó. Đa số những người ký tên vào thỉnh nguyện thư xin cho tổ chức lại cuộc trưng cầu dân ý  là giới trẻ. Theo kết quả của một cuộc thăm dò do Đài BBC thực hiện, có đến 73 phần trăm người trẻ tuổi từ 18 đến 24 đã  bỏ phiếu để được ở lại trong Liên Âu, trong khi đó đa số những người lớn tuổi, tức trên 65 đều chọn lựa ra khỏi Liên Âu. Sở dĩ người già đã chiến thắng trong cuộc trưng cầu dân ý vừa qua là vì giới trẻ không chịu đi bầu. Một cách nào đó, họ đã nhường tiếng nói của họ lại cho người lớn tuổi. Có lẽ họ đã không ý thức được rằng lá phiếu của họ có một tầm quan trọng đặc biệt, không những đối với quyền lợi của họ mà còn của cả quốc gia và ngay cả thế giới nữa.
Đây có thể là một bài học “công dân giáo dục” đắt giá mà giới trẻ và nhiều người Anh đã học được qua cuộc trưng cầu dân ý vừa qua. Trước năm 1975, người dân Miền Nam Việt Nam nào cắp sách đến trường cũng đều được dạy cho bài học “công dân giáo dục” ấy: nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm luôn đồng hành với nhau.
Ngày nay, ở Việt Nam, kể từ khi những người cộng sản áp đặt lên đất nước chế độ độc tài toàn trị, môn công dân giáo dục đã biến mất khỏi tự điển của người Việt Nam. Thay cho tự do ứng cử là “đảng cử dân bầu”, thay cho chọn lựa của người dân là quyết định của đảng. Bầu cử trong chế độ cộng sản Việt Nam chỉ là một trò hề, bởi vì kết quả bầu cử đã được quyết định trước khi người dân đến phòng phiếu. Ai cũng biết rõ điều đó. Vậy mà tôi không hiểu tại sao, trong cuộc bầu cử Quốc hội vừa qua tại Việt Nam, có một số vị lãnh đạo tinh thần ở Việt Nam, như các vị giám mục ở Xuân Lộc và Bà Rịa, lại muốn góp mặt trong trò hề ấy khi kêu gọi giáo dân “tích cực tham gia bầu cử, xem xét chọn lựa những đại biểu có phẩm chất đạo đức, có trình độ, năng lực phục vụ lợi ích của nhân dân.” (x. J.B Nguyễn Hữu Vinh, Những văn thư gây sốc của GP Xuân Lộc và Bà Rịa: Phúc thống phục nhân sâm? Rfavietnam.com). Làm gì có tự do bầu cử để mà “tích cực tham gia bầu cử”. Làm gì có “những đại biểu có phẩm chất đạo đức, có trình độ, có năng lực phục vụ lợi ích của nhân dân” để mà chọn lựa. Là một tín hữu Kitô, tôi cảm thấy vừa buồn vừa tủi, nếu không muốn nói là phẫn nộ khi phải nghe một số nhà lãnh đạo của Giáo Hội lên tiếng dạy về “công dân giáo dục” như thế. Có lẽ các cán bộ “tuyên huấn” của Đảng cộng sản Việt Nam cũng cười thầm trong  bụng khi có những nhà lãnh đạo tinh thần góp giọng vào màn kịch lố bịch của họ.
Chuyện trưng cầu dân ý ở Vương quốc Anh và nhứt là cuộc bầu cử Liên bang tại Úc Đại Lợi là dịp để tôi ôn lại bài học về “công dân giáo dục”. Tôi biết rằng khác với một số quốc gia như Hoa Kỳ chẳng hạn, ở Úc Đại Lợi của tôi, đi bầu là một nghĩa vụ. Tôi sẽ bị phạt phải đóng tiền nếu tôi không đi bỏ phiếu. Nếu chỉ vì sợ bi phạt mà tôi phải đi bỏ phiếu thì lá phiếu của tôi “rẻ” quá. Nghĩ như thế cho nên mỗi khi bước vào phòng phiếu, tôi luôn tự nhủ: đây là một nghĩa vụ quan trọng và thánh thiêng cần được thực thi một cách nghiêm chỉnh, chín chắn với tinh thần trách nhiệm.
Trong cuộc sống thường ngày, lương tâm luôn mách bảo và nhắc nhở tôi phải sống có trách nhiệm: trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với tha nhân và xã hội, trách nhiệm với thiên nhiên. Không thể sống tử tế mà không lắng nghe tiếng nói ấy. Nghĩa vụ công dân được thực thi qua lá phiếu trong các cuộc bầu cử cũng chỉ nhắc lại cho tôi trách nhiệm ấy mà thôi.
Ngoài ra,  qua các cuộc bầu cử, bài học công dân giáo dục vỡ lòng cũng nhắc nhở tôi rằng tôi phải tôn trọng tiếng nói và ý kiến của người khác. Trong nhiều cuộc bỏ phiếu tại Úc, tôi đã dồn phiếu cho một số cá nhân và đảng phái được tôi lượng giá theo một số tiêu chuẩn của riêng tôi như nhân cách, đạo đức, khả năng v.v. Tôi nghĩ  rằng đó cũng là những tiêu chuẩn chung thường được người dân bình thường và trưởng thành tại các nước dân chủ dựa vào để chọn mặt gởi vàng. Tôi thấy rõ điều đó qua cuộc bầu cử tổng thống Mỹ hồi năm 2008. Theo một cuộc nghiên cứu được trường Đại học California thực hiện, đa số dân Mỹ lúc đó đánh giá cao tư cách của các ứng cử viên. So sánh một loạt ứng cử viên như Hillary Clinton, Barack Obama, John McCain, Rudy Guiliani và John Edwards, đa số dân Mỹ đã nhận thấy ông Obama là người liêm chính và đáng tin tưởng nhứt. Họ đã dồn phiếu cho ông. Nay bà Hillary Clinton đã trở lại. Các cuộc thăm dò cho thấy dân chúng Mỹ không “ưa” bà vì họ cho rằng bà cũng vẫn là người không đáng tin tưởng. Riêng ứng cử viên Cộng hòa Donald Trump thì cũng chẳng được đa số dân Mỹ tin tưởng. Chiếc bong bóng được ông dùng những lời mị dân và cách ăn nói bỗ bã để tung lên nay đã bắt đầu xẹp dần. Nhưng muốn hay không, có lẽ trong cuộc bầu cử vào tháng 11 tới đây, người dân Mỹ sẽ không có một chọn lựa nào khác hơn ngoài bà Clinton và ông Trump. Muốn hay không, trong xã hội dân chủ, ý kiến của đám đông phải được tôn trọng. Ở Úc này, trong nhiều cuộc bầu cử, những người và đảng phái được tôi chọn lựa đã không đắc cử. Nhưng tôi không thể không tôn trọng tiếng nói của số đông.
Bài học về công dân giáo dục liên quan đến bầu cử đặt tôi trước một trong những thách đố lớn nhứt trong cuộc sống: tôi phải luôn luôn biết  tôn trọng tiếng nói và ý kiến của người khác. Một xã hội dân chủ đích thực không thể tồn tại nếu không được xây dựng trên nền tảng của sự khoan nhượng. Không thể nói đến sự hài hòa trong xã hội khi nhà cầm quyền dùng bạo lực để áp đặt một ý thức hệ hoặc bịt miệng người dân. Và dĩ nhiên, trong một xã hội đa chủng tộc, đa văn hóa và đa tôn giáo như Úc Đại Lợi ngày nay, con người cũng không thể sống thực sự an bình nếu không biết tỏ ra khoan nhượng và tôn trọng những khác biệt của người khác.
Năm 1770, trong một lá thư gởi cho một linh mục, văn hào Pháp Voltaire có viết: “Thưa linh mục, tôi ghét điều ông viết, nhưng tôi sẵn sàng chết để ông có thể tiếp tục viết”. Có lẽ do lá thư đó mà về sau người ta đã gán cho ông câu nói thời danh rất thường được trích dẫn: “Tôi không đồng ý với điều bạn nói, những tôi sẽ chiến đấu cho đến chết để bạn được quyền nói điều đó”.
Tự do suy nghĩ, tự do nói lên điều mình suy nghĩ là một trong những quyền tự do bất khả xâm phạm của con người. Các cuộc bầu cử trong một xã hội tự do luôn nhắc nhở tôi về quyền ấy. Cầm lá phiếu để nói lên tiếng nói của mình, tôi muốn thể hiện quyền tự do bất khả xâm phạm ấy, nhưng đồng thời cũng được mời gọi để tôn trọng tiếng nói của người khác.




Thứ Tư, 6 tháng 7, 2016

Uy Vũ Bất Khuất


Chu Thập
9.10.12

Cha tôi là người rất tin ở thuyết “Ác giả ác báo” hay “quả báo nhãn tiền”. Gặp ức hiếp, cha tôi vẫn luôn tỏ ra lạc quan vì tin tưởng rằng những kẻ ăn ở “bất nhơn thất đức” sẽ bị trừng phạt không ở đời này thì cũng “đời sau”. Sau 1975, có lần về thăm nhà, tôi lén ngủ lại nhà mà không khai báo với chính quyền địa phương. Tối hôm đó, tôi nghe cha tôi đọc kinh lần chuỗi một mình oang oang cả xóm làng. Tôi liền hỏi nhỏ: “Cha có cầu nguyện cho mấy tên cộng sản không?”  Ông già tôi trả lời tỉnh bơ: “Dại gì cầu cho chúng nó. Để cho chúng nó đi hỏa ngục!”

Tôi hiểu được phần nào niềm xác tín của cha tôi về cái lẽ “thưởng phạt” công minh luôn có trong trời đất. Đầu thập niên 1950, khi vừa có trí khôn, tôi có nghe loáng thoáng và cũng ghi nhận được vài hình ảnh về việc cha tôi có tham gia kháng chiến với Việt Minh. Có lần, giữa đêm khuya, cả nhà đều bị đánh thức. Có nhiều người lạ xuất hiện trong nhà và sau đó cha tôi đi biền biệt một thời gian.Tôi không nhớ rõ cha tôi “lên núi” bao lâu, chỉ biết rằng một thời gian sau khi cha tôi trở về, một buổi sáng cả nhà đã thức dậy để chứng kiến cảnh đàn trâu bò vài chục con ở phía trước nhà đều bị lính Tây từ cái “đồn” bên cạnh bắn gục. Vài ngày sau đó, mấy mẫu mía đường của cha tôi cũng bị đốt cháy. Tôi cũng có nghe nói cha tôi vào tù ra khám đôi ba lần, vì chuyện gì đó tôi cũng chẳng rõ. Về sau, khi đã cắp sách đến trường, tôi mới nghe cha tôi nhắc đến mối thù truyền kiếp của ông. Người làm cho nhà tôi lâm cảnh tán gia bại sản và cha tôi phải bị tù tội là một người cùng làng. Nhờ có chút chữ nghĩa, ông này được Tây cho làm tới chức quận trưởng. Vào thời đó, quận trưởng là người hét ra lửa, muốn bắt hay tha ai tùy ý. Mỗi lần nhắc đến ông quận này, cha tôi thường nói: để tụi bay coi, thế nào trời cũng quả báo!
Do bị cha tôi “đầu độc” cho nên khi thấy ông quận này về già phải đi lom khom vì có mang một cái bướu lớn trên lưng, anh em tôi đắc chí bàn tán: thấy chưa, trời phạt mà!  Riêng với cha tôi, thì “Ông Trời lúc nào cũng có con mắt”, cho nên mấy người con trai của ông quận này chẳng có ai ăn học và làm nên trò trống gì cả; nhà giàu có mà chẳng có người con nào đậu được cái bằng trung học đệ nhứt cấp vào thời đó.
Cùng với “gương” trước mắt về chuyện “quả báo nhãn tiền”, đi xem “xi nê” lại thấy toàn chuyện trừ gian diệt tặc của mấy anh cao bồi Mỹ, rồi kế đó là phim võ thuật Hong Kong và Đài Loan, cho nên tôi lại càng tin rằng trong cõi đời ô trọc này, luôn diễn ra cuộc chiến giữa Thiện và Ác và cuối cùng Thiện lúc nào cũng thắng Ác. Trong cuộc sống thường ngày, có bị ức hiếp hay đối xử bất công đến đâu, vào rạp xi nê là thấy được rửa hận ngay!  Kẻ gian ác lúc nào cũng bị trừng phạt!
Lịch sử nhân loại xem ra cũng tiến triển theo đường thẳng ấy. Đế quốc nào tàn bạo và hùng mạnh đến đâu rốt cục cũng sụp đổ tiêu tan. Chế độ độc tài nào hung hãn đến đâu trước sau rồi cũng bị lật đổ.Tên đồ tể nào không cuốn gói ra đi trong nhục nhã thì cũng bị xử tử hay giam tù mục xương.
Nhưng dường như đã có luật thì cũng phải có luật trừ. Mà thật xui vì mấy cái luật trừ này lại rơi không đúng chỗ chút nào. Tôi có ý nghĩ ấy khi nhìn vào chế độ cộng sản ở Trung quốc hay ở Việt nam hiện nay. Độc tài tàn bạo như mấy ông cộng sản Trung Quốc mà vẫn cứ trơ trơ ra đó. Không những không có dấu hiệu sụp đổ mà người khổng lồ này lại ngày càng lấn lướt, bành trướng và đe dọa thế giới như chỗ không người. Dựa hơi đàn anh theo thế “môi hở răng lạnh”, chế độ cộng sản Việt nam vẫn cứ tiếp tục đàn áp và hà hiếp dân lành chớ có sợ thằng Tây nào đâu! Trong hai nước cộng sản này, xem ra cái Ác vẫn tiếp tục thắng thế. Kẻ gian ác cứ nhởn nhơ vơ vét tiền của và hưởng thụ, người lành cứ phải khốn khổ trăm chiều.
Trong những ngày này, cũng như nhà báo Ngô Nhân Dụng, tôi “cứ nghĩ đến anh Nguyễn Chí Thiện”. Cứ quên đi một lúc lại nhớ; lại nghĩ: Anh Nguyễn Chí Thiện đã đi rồi. Sáng nay, khi nghĩ về anh, tôi chợt nhớ một câu thơ cổ “Il est mort, le vieux orgueilleux chêne de la forêt” (nó đã chết rồi, cây sồi già ngạo nghễ của rừng xanh) (Ngô Nhân Dụng, nhờ đâu không mất nước, Người Việt online 5/10/2012). Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện thật xứng đáng với hình tượng cây sồi kiên cường trong văn chương Pháp. Nhưng nhớ đến “ngục sĩ” Nguyễn Chí Thiện, tôi lại bắt đầu nghi ngờ về qui luật “Thiện luôn thắng Ác”. Sau 27 năm bị giam tù, ông Nelson Mandela đã tận mắt chứng kiến sự sụp đổ của chế độ phân biệt chủng tộc của người da trắng tại Nam Phi và chính ông, người bị giam giữ với một thời gian kỷ lục, đã được bầu lên làm tổng thống. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, với 2 lần vào tù ra khám, đã bị đày đọa với một thời gian lâu dài chẳng kém gì ông Mandela. Vậy mà ông đã phải nhắm mắt lìa đời trước khi được thấy ngày tàn của chế độ cộng sản. Như ông đã phải chua chát nhìn nhận: “Tôi lại nghĩ một điều, một điều sâu thẳm, là đêm tàn Cộng sản tối tăm có thể kéo dài mấy mươi năm. Và như thế sẽ buồn lắm lắm, cho kiếp người sống chẳng bao lăm”. Không biết lúc nào mới đến “ngày con người hôm nay vất súng, vất cùm, vất cờ, vất Đảng...khai sáng kỷ nguyên tã trắng thắng cờ hồng”. Nhà thơ đã mơ và chẳng bao giờ thấy được ngày ấy! Dường như Nguyễn Chí Thiện đã “thua” trong cuộc chiến chống lại Cái Ác mà ông đã vạch mặt chỉ tên. Cái Ác vẫn còn hiện nguyên hình và vẫn còn tác oai tác quái ở Việt nam ngày nay. Qui luật “Thiện thắng Ác” mà cha tôi luôn tin tưởng xem ra không ứng dụng trong trường hợp của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện.
Thật ra, nếu phải lượng giá thắng thua trong cuộc chiến giữa Thiện và Ác, có lẽ nên nhìn vào chiến trường nội tâm của người chiến sĩ hơn là so sánh hơn thiệt giữa hai lực lượng. Luận về thắng thua như thế thì quả thật ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện đã chiến thắng. Nơi chính bản thân ông, Điều Thiện đã thẳng Cái Ác. Vào giữa lúc nhiều trí thức đã bán mình cho chế độ cộng sản để đối lấy danh vọng, quyền lực, tiền của, sự an toàn thì thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã lấy chính mạng sống của mình để tố cáo Cái Ác, sự Gian Dối và để cho Điều Thiện được lên ngôi, ít nhứt là trong bản thân ông. Về điểm này, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã xứng đáng mang lấy tên của vị thánh mà ông đã chọn làm quan thày khi chịu phép rửa để gia nhập Kitô giáo . Vị quan thày của ngục sĩ là thánh Thomas More. Là luật sư, văn sĩ, dân biểu Quốc Hội và thủ tướng Anh hồi thế kỷ 16, Thomas More đã có tất cả những thứ mà người đời ai cũng mơ tưởng như quyền lực, tiền của, danh vọng và hạnh phúc gia đình. Nhưng người đàn ông có đời sống gia đình hạnh phúc bên cạnh vợ và 4 người con gái này đã chấp nhận chiến đấu cho tới cùng trong cuộc chiến giữa Thiện và Ác. Cái Ác mà ông chống lại chính là cuộc sống vô luân của vua Henry VIII. Khi ông vua này quyết định ly dị vợ và tự xưng là thủ lãnh của Giáo hội tại Anh, cánh tay mặt của ông lúc đó là Thomas More đã chống cho tới cùng. Thomas More đã bị giam tù và bị chém đầu vì cương quyết không tuyên thệ trung thành với một ông vua như thế. Nhưng cái chết của Thomas More đã không làm thay đổi được cục diện của nước Anh: vua Henry VIII lún sâu vào tội ác khi chém đầu không biết bao nhiêu bà vợ và cung phi, Giáo hội Anh hoàn toàn bị ông khống chế. Thủ tướng Thomas More đã thua cuộc khi đương đầu với một bạo chúa, nhưng chắc chắn ông đã chiến thắng trong cuộc chiến giữa Thiện và Ác. Chính trong ý nghĩa này mà Nguyễn Chí Thiện cũng đáng được tôn vinh như thế. Nhìn dưới góc độ tôn giáo hay nhân bản, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện vẫn là một tấm gương Uy vũ bất khuất hay bậc đại trượng phu đích thực.
Thời Chiến Quốc bên Tàu, Tần là nước mạnh nhứt. Có người đề nghị các nước nhỏ nên hợp nhau lại để chống Tần. Người ta gọi đây là thế “hợp tung”. Ngược lại, cũng không thiếu người đề ra thế “liên hoành”. Theo thế này, để tránh không bị Tần tiêu diệt, các nước nhỏ nên hợp nhau lại sau lưng nước Tần để đi đánh các nước khác. Lúc bấy giờ, có hai nhân vật nổi tiếng là Công tôn Diễn và Tôn nghị Chính, ngày đêm đi du thuyết để kêu gọi các nước nhỏ hãy qui tụ vào thế “liên hoành” và tùng phục nước Tần.
Một hôm có một người ủng hộ thế “liên hoành” tên là Cảnh Xuân đến gặp thày Mạnh Tử để cho biết phản ứng sợ hãi của các nước nhỏ trước uy thế của nước Tần. Ông này gọi hai ông Công tôn Diễn và Tôn nghị Chính là những bậc “đại trượng phu” chính trực. Nghe thế, thày Mạnh Tử mới nói: “Như vậy làm sao có thể được coi là đại trượng phu được?” Rồi ngài giải thích: “Là đại trượng phu, nam tử Hán nên hiểu lễ nghĩa, lấy nhân nghĩa làm căn bản của con người, xem đó là nguyên tắc lớn nhất.  Khi đắc chí không nên rời xa nhân dân, cùng nhân dân đi cùng một đường, khiến nhân dân nguyện cùng anh ta. Khi không đắc chí, cũng có thể một mình giữ nguyên tắc của mình. Tuyệt đối không được vì phú quý khiến bản thân mê mẩn mà loạn tâm, cũng không vì nghèo khó mà thay đổi chí hướng, càng không thể vì bị uy hiếp, bạo lực mà chịu áp bức và lăng nhục khí tiết. Làm được 3 điều này mới là đại trượng phu” (x.Thu Hằng - Kim Thoa, Những câu chuyện Thành Ngữ, Điển tích điển cố Trung Hoa, NXB văn hóa thông tin, Hà nội, 2010, trg 216-217).
Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã thể hiện cả ba điều kiện để được gọi là bậc trượng phu như thày Mạnh Tử đã định nghĩa: không để cho tiền của làm cho mê mẩn mà loạn tâm, không vì nghèo đói mà thay đổi chí hướng và nhứt là không để cho bạo lực uy hiếp đến độ làm mất khí tiết. Nhưng có lẽ nhà báo Ngô Nhân Dụng là người đã tóm tắt một cách chính xác nhứt nhân cách của Nguyễn Chí Thiện: “Một nạn nhân của Cái Ác nhưng vẫn giữ được tâm hồn Thiện. Nhưng ai gần gũi anh chắc đều thấy anh tính tình hồn nhiên, giản dị. Tôi chưa nghe anh nói xấu về một người nào bao giờ, trừ Cái Ác” (Ngô Nhân Dụng, ngọn lửa tâm can Nguyễn Chí Thiện, VL5/10/12).
Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã ra đi trước khi được thấy hiện thân của Cái Ác là chế độ cộng sản Việt nam bị đánh bại. Nhưng ông đã thực sự chiến thắng, bởi vì ông đã chiến thắng Cái Ác ngay trong chính bản thân của mình.
Khi dẫn giải về chữ “Hạnh” trong Phật giáo, Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, viết rằng chữ tương đương với “Hạnh” trong tiếng Tây Tạng là “So Pa”. “So Pa” có nghĩa là “nhẫn nhục, chịu đựng”. Ngài đan cử trường hợp một tăng sĩ tên là Lapon-la. Năm 1959, khi ngài lưu vong sang Ấn độ thì vị tăng sĩ này bị kẹt lại tại Tây Tạng. Ông đã trải qua những tra tấn, hành hạ và bị cưỡng bách phải từ bỏ tôn giáo của mình. 20 năm sau, ông mới có cơ hội rời khỏi Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma kể lại rằng vị tăng sĩ này có già đi, nhưng về mặt thể lý vẫn không bị hư hao và tinh thần vẫn sáng suốt. Sự nhẹ nhàng và thanh tịnh vẫn còn nơi ông. Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma “hỏi ông có khi nào sợ hãi  không, ông nhìn nhận chỉ có một điều khiến ông lo sợ:  đó là có thể bị mất đi tâm từ bi và sự  quan ngại đến những kẻ giam cầm mình” (Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đạo lý cho thiên niên kỷ mới, Ethics for the New Millenium, bản dịch của Linh Thụy, NXB Văn Nghệ, Hoa kỳ 1999, trg 130-131).
Phải chăng chiến thắng vĩ đại nhứt trong đời người không là thắng được Cái Ác, Sự Thù Hận và Ích Kỷ trong chính bản thân mình?












Thứ Hai, 4 tháng 7, 2016

Ấn Độ với nỗ lực cứu vãn sông Hằng


1.7.16

Bắt nguồn từ đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn, dài 2.525 cây số, chảy qua hai nước Ấn Độ và Bangladesh, nuôi sống trên 450 triệu người,  sông Hằng (Ganges) hiện đang hấp hối vì ô nhiễm. Thủ tướng Ấn Độ, ông Narendra Modi, đã hứa hẹn sẽ làm sạch con sông này nội trong 2 năm tới. Nhưng liệu ông có thành công trong việc cứu vãn dòng sông được xem như “Thánh Mẫu” của Ấn Độ Giáo không?
“Ma Ganga” (Mẹ Hằng): đó là tên gọi của sông Hằng trong tiếng Hindi, một trong những ngôn ngữ chính thức của trên một tỷ người Ấn Độ. Được gọi như thế bởi vì sông Hằng đã từng nuôi dưỡng và thăng tiến nền văn minh Ấn Độ. Nhưng các cuộc nghiên cứu đã cho thấy ngay từ thượng nguồn là dãy Hy Mã Lạp Sơn, nước sông Hằng cũng đã bị ô nhiễm và càng chảy xuống đồng bằng, dòng sông càng bị ô nhiễm hơn.
Tại Rishikesh, một thành phố được xem là linh địa tọa lạc  gần thượng nguồn sông Hằng, cứ mỗi buổi chiều đạo sĩ Chidanand Saraswati chủ tọa một nghi thức đốt lửa. Khoảng 50 tu sĩ  và vài trăm tín đồ Ấn Giáo quay quanh ông. Đây là một trong những nghi thức để tôn vinh “Mẹ Hằng”. Một nghi thức như thế cũng được cử hành trong các thành phố và làng mạc dọc theo suốt chiều dài của sông Hằng. Cùng với nghi thức đốt lửa ấy, suốt ngày đều có khách hành hương xuống sông để tắm gội và thanh tẩy tâm hồn.
Người Ấn Giáo tôn kính sông Hằng như một vị thần. Họ tin rằng dòng sông này đã xuất phát từ trời cao để thanh tẩy Trái Đất. Do đó, họ tin rằng tắm gội trong dòng sông này có thể tẩy xóa tội lỗi của họ.
Đạo sĩ Chidanand Saraswati đã cho xây cất một trung tâm tĩnh huấn. Ông cho biết hiện trên toàn quốc có cả triệu người xin làm đệ tử của ông. Nhìn dòng nước ngày càng bị ô nhiễm, nhà đạo sĩ buồn bã nói rằng dân chúng nghĩ rằng sông Hằng có thể tẩy xóa tội lỗi của họ, nhưng họ không biết rằng dòng sông này không thể cất đi tình trạng ô nhiễm mà chính họ đã và đang gây ra.
Là một trong người tích cực tranh đấu để làm sạch sông Hằng, Đạo sĩ Chidanand Saraswati khẳng định rằng Ấn Độ đang sát hại “Mẹ Hằng”. Theo ông, “Mẹ Hằng” chết thì Ấn Độ cũng chết.
Về phần mình, Thủ tướng Narendra Modi, một tín đồ Ấn Giáo thuần thành và là lãnh tụ của Đảng Ấn Giáo đang cầm quyền, cũng xem việc làm sạch sông Hà như một sứ mệnh được Thượng Đế ủy thác cho ông. Trong bài diễn văn đọc trước đám đông những người ủng hộ sau cuộc chiến thắng lẫy lừng trong cuộc tổng tuyển cử cách đây hai năm, ông Modi tuyên bố “Mẹ Hằng đã kêu gọi tôi”. Ông nói rằng “Mẹ Hằng” đã than khóc và kêu gọi giúp đỡ. Ông đã cam kết dành một ngân sách lên đến 3 tỷ Mỹ kim để làm sạch sông Hằng nội trong 5 năm. Ông xem đây là một trong những dự án lớn nhất trong nhiệm kỳ thủ tướng của ông.
Thật ra, trước ông, các vị tiền nhiệm của ông cũng đã từng đưa ra những sáng kiến tương tự. Thập niên 1980 của thế kỷ trước, Thủ tướng Rajiv Gandhi đã khởi động một chương trình vĩ đại như thiết lập các ống cống và xây dựng các nhà máy lọc nước thải. Nhưng những người đi trước ông Modi đã không giải quyết được vấn đề: sông Hằng vẫn ngày càng bị ô nhiễm.
Kanpur, thành phố có đông dân số đứng hàng thứ 12 của Ấn Độ, nằm trong Tiểu bang Uttar Pradesh, dọc theo sông Hằng là trung tâm của kỹ nghệ da của Ấn Độ. Đây cũng là thành phố ô nhiễm nhất của Ấn Độ. Hầu hết số lượng da được sản xuất tại Kanpur đều được xuất cảng ra nước ngoài, nhất là Âu Châu và Hoa Kỳ. Phóng viên Justin Rowlat của Đài BBC được ông Rakesh Jaiswal, một nhà tranh đấu để làm sạch sông Hằng từ hai thập niên nay, hướng dẫn đi thăm khu kỹ nghệ chế xuất da này. Phóng viên Rowlat thú nhận rằng ông cảm thấy muốn nôn mửa khi nhìn thấy và nhất là ngửi mùi hôi thối từ các nhà máy và nhất là các cống rãnh nhơ bẩn đổ vào sông Hằng. Ông Jaiswal cho biết kỹ nghệ da tại Thành phố Kanpur sử dụng rất nhiều hóa chất cực kỳ độc hại để tẩy và làm cho da được mềm. Một số hóa chất như Chromium chẳng hạn được xem là có thể gây ung thư rất cao.
Ông Jaiswal nhìn nhận rằng Ấn Độ có đầy đủ phương tiện để làm sạch sông Hằng. Nhưng tại sao vấn đề không bao giờ được giải quyết tới nơi tới chốn. Ông Jaiswal giải thích: “Chúng tôi có khoa học và kỹ thuật, có tài năng, có nhân lực: chúng tôi có tất cả mọi thứ. Điều còn thiếu chính là sự lương thiện và tận tâm”.
Theo ông Jaiswal, nguyên nhân chính khiến cho vấn đề ô nhiễm tại Ấn Độ không bao giờ được giải quyết chính là nạn tham nhũng.
Ông Shashi Shekhar, Giám đốc Chương trình làm sạch sông Hằng, cũng đồng ý với phân tách của ông Jaiswal. Ông Shekhar cho biết: mãi cho tới gần đây, vẫn còn có gần 200 nhà máy thuộc da tại Kanpur không có giấy phép hoạt động. Sở dĩ có tình trạng này là vì nạn tham nhũng của các viên chức chính quyền địa phương. Mới đây, chính phủ đã siết chặt luật lệ. Đã có trên 100 nhà máy bị đóng cửa. Hiện nay vẫn còn trên 400 nhà máy thuộc da đang hoạt động tại Kanpur. Các chất thải độc hại và vô số rác rưởi xú uế từ các tấm da thú vẫn tiếp tục được đổ xuống sông Hằng một cách vô tội vạ.
Nhưng làm sạch sông Hằng không chỉ có nghĩa là ngăn ngừa không để cho các chất thải độc hại được tuôn đổ xuống sông, mà còn là kiểm soát được lượng nước được lấy ra khỏi dòng sông. Sông Hằng cung cấp một nguồn nước quan trọng cho cả một vùng rộng lớn. Với lưu vực  bao trùm một không gian rộng đến hơn một triệu cây số vuông, sông Hằng nuôi sống trên 40 phần trăm dân số 1.3 tỷ của Ân Độ. Dọc suốt chiều dài của dòng sông, người ta có thể thấy các hệ thống dẫn thủy nhập điền và các nhà máy cung cấp nước uống cho dân chúng. Hầu hết nước được sử dụng ở thủ đô Delhi chẳng hạn, đều xuất phát từ hai con kinh lớn: một nối liền với sông Hằng và một với một nhánh lớn của sông Hằng là sông Yamuna. Và dĩ nhiên nước được lấy thẳng từ sông Hằng cũng như từ lòng đất cũng tạo ra nhiều vấn đề.
Những đồng bằng rộng lớn dọc theo hai bờ sông Hằng chính là vựa lúa của Ấn Độ. Từ nhiều ngàn năm qua, chính những cánh đồng phì nhiêu này đã cung cấp thực phẩm cho dân chúng Ấn Độ. Chính vì cần có phù sa từ sông Hằng mà các cánh đồng dọc theo hai bờ sông đều cần phải được tưới tẩm. Nhưng với hơn 200 triệu nông dân, cần phải có một lượng nước lớn. Hậu quả là, theo các nhà thủy học, tại một số nơi, nước sông Hằng ngày càng cạn đi. Ngoài ra, theo Viện Nghiên cứu Địa vật lý của Ấn Độ, chỉ trong vài năm tới, nguồn nước ngầm của Ấn Độ cũng sẽ cạn kiệt. Bên cạnh nạn ô nhiễm, đây cũng là một trong những vấn đề lớn được đặt ra trong việc cứu vãn sông Hằng.
Ngoài tình trạng ô nhiễm do kỹ nghệ gây ra và nguồn nước ngày càng khô cạn, Chương trình làm sạch sông Hằng của chính phủ Ấn Độ còn phải đối đầu với một vấn đề nan giải khác là sự bùng nổ dân số. Ở Ấn Độ, đi đâu du khách cũng cảm thấy choáng ngộp vì lượng người: ở đâu cũng thấy con người chen chúc nhau! Bên cạnh dòng sông Hằng là “dòng sông” dân chúng !
Nói về tình trạng dân cư đông đúc, có lẽ thành phố Varanasi là một điển hình của Ấn Độ. Thành phố này được xây dựng từ Thế kỷ 11 trước công nguyên và cũng nằm trong Tiểu bang Uttar Pradesh. Với khoảng 2000 đền thờ Ấn Giáo nằm dọc theo bờ sông Hằng, Varanasi nổi tiếng với việc hỏa táng. Các tín đồ Ân Giáo tin rằng được hỏa táng dọc theo bờ sông Hằng, người chết sẽ được giải thoát khỏi vòng luân hồi. Theo ước tính, tại thành phố Varanasi, mỗi năm có khoảng 32 ngàn vụ hỏa táng với trên 300 tấn phần thi thể của người chết không được hoàn toàn đốt cháy được vứt xuống sông Hằng.
Nhưng đây chỉ là một phần nhỏ của tình trạng  ô nhiễm đối với  sông Hằng. Vấn đề thực sự ở đây chính là rác thải từ sinh hoạt của con người. Sông Hằng hiện vẫn còn là “ống cống” chính của 450 triệu người sống nhờ vào dòng nước của nó. Cách đây 30 năm, chính phủ Ấn đã cho xây một hệ thống ống cống vĩ đại để giải quyết rác thải từ sinh hoạt của con người. Nhưng theo thống kê của chính phủ, nhìn chung hệ thống ống cống của thành phố Varanasi  hoặc không hoạt động hoặc không đáp ứng với nhu cầu. Khả năng giải quyết rác thải từ sinh hoạt của con người chỉ độ 100 triệu lít mỗi ngày trong khi sức thải hiện nay  lại lên đến 300 triệu lít mỗi ngày. Theo ước tính cũng của Trung tâm Khoa học và Môi sinh Ấn Độ, hiện có khoảng 80 phần trăm nước thải vào sông Hằng hoàn toàn không được gạn lọc.
Tại Varanasi, mức dơ bẩn của nước sông Hằng cao hơn 150 lần mức an toàn để tắm gội. Vậy mà dân chúng vẫn tỉnh bơ ngụp lặn trong dòng sông. Và đây chính là mấu chốt của một trong những vấn đề nan giải đối với bộ y tế của Ấn Độ: mỗi năm có trên 300 ngàn trẻ em Ấn Độ dưới 5 tuổi chết vì bệnh tiêu chảy!
Nói đến tình trạng ô nhiễm của sông Hằng, không thể không nói đến thành phố Gangasagar nằm trong Vịnh Bengal là nơi mà sông Hằng kết thúc cuộc hành trình dài trước khi đổ vào Ấn Độ dương.
Đây là nơi có đông người Ấn Giáo đến tắm gội nhất, đặc biệt vào dịp lễ Mela vào ngày 10 tháng 2 hằng năm. Có ít nhất một triệu người đến tắm gội trong sông Hẳng vào dịp lễ này. Còn trong đại lễ Maha Kumbh Mela được cử hành 12 năm một lần, số người hành hương đến đây không thể đếm xuể được. Theo ước tính, nhân dịp đại lễ Maha Kumbh Mela hồi năm 2012, đã có trên 30 triệu người đến Gangasagar chỉ trong một ngày.
Con số khổng lồ ấy cho thấy tầm quan trọng của sông Hằng đối với các tín đồ Ấn Giáo và cũng giải thích tại sao Chương trình làm sạch sông Hằng là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Ấn.
Hơn các vị tiển nhiệm của ông, Thủ tướng Narendra Modi xem đây là dự án quan trọng nhất đối với ông. Ông sẽ được đánh giá dựa trên sự thành công hay thất bại của dự án này. Ngoài ra những nỗ lực làm sạch sông Hằng của ông cũng là một trắc nghiệm về khả năng hiện đại hóa của Ấn Độ cũng như giải quyết vấn đề tham nhũng tại nước này và “xử lý” rác thải từ sinh hoạt của con người.
Liệu Thủ tướng Modi có thành công trong sự nghiệp để đời này không?  Phóng viên Rowlat của Đài BBC đã thăm dò ý kiến của Đạo sĩ Chidanand tại Rishikesh. Nhà đạo sĩ này vẫn luôn tỏ ra lạc quan. Ông tin tưởng rằng chương trình làm sạch sông Hằng của chính phủ Ấn, dưới thời Thủ tướng Modi, sẽ thành công. Ông hy vọng rằng một ngày nào đó dòng nước trong vắt sẽ được trả lại cho sông Hằng.
Nếu  thành công trong việc làm sạch sông Hằng thì quốc gia hiện đang có mức phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới này cũng sẽ đạt được nhiều thành tích vẻ vang khác.

(theo BBC, India’s dying mother)

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2016

Tôi ơi đừng tuyệt vọng


Chu Thập
24.6.16
Những lúc gặp thất bại và đau khổ tôi thường nhớ lại câu chuyện của một nhà sư Đại Hàn. Nhà sư này tên là Wonhyo, sống cách đây nhiều thế kỷ. Là một người luôn đi tìm sự giác ngộ, nhưng sau khi nghiên cứu bao nhiêu sách vở trong xứ sở của mình, nhà sư vẫn không cảm thấy toại nguyện. Nhà sư Wonhyo cho rằng chỉ có tại Trung Hoa may ra ông mới có thể tìm thấy được những cuốn sách hay và những bậc thày thâm hậu có thể giúp ông giác ngộ. Nghĩ như thế cho nên ông đã khăn gói lên đường sang Trung Hoa.
Trong cuộc hành trình, một đêm nọ, mưa bão đã khiến ông phải dừng chân và vào một hang động để trú ẩn. Sau nhiều ngày đường, ông cảm thấy đói lả và kiệt sức. Trong bóng tối của hang động, ông bỗng tìm thấy một cái bát. Và điều đáng ngạc nhiên nhứt đối với nhà sư là cái bát ấy lại đầy nước. Trong cơn tuyệt vọng chỉ còn biết chờ chết, nhà sư đã uống cạn nước trong cái bát. Chưa bao giờ trong đời ông được uống một thứ nước ngọt ngào như thế. Sáng hôm sau, khi thức giấc, ông mới khám phá ra rằng nơi ông trú ngụ không phải là một hang động mà là một ngôi mộ cổ. Có người đã bốc mộ và cái bát ông đang cầm trong tay chính là chiếc sọ người mà không rõ vì sao khi bốc mộ người ta đã bỏ sót lại. Dĩ nhiên nhìn kỹ nhà sư thấy chiếc sọ người đầy cáu bẩn. Nước mưa đã đọng lại trong đó. Nhờ vậy mà ông mới xoa dịu được cơn khát. Khám phá ra sự thật như thế, nhà sư mới nhận thấy đây mới chính là câu trả lời cho những vấn nạn mà ông đã không ngừng đi tìm kiếm bấy lâu nay. Bỗng chốc, dù vẫn còn đang ở  trong ngôi mộ tối tăm, mắt ông  sáng hẳn lên và cái nhìn về thế giới quanh ông đã hoàn toàn thay đổi. Ông ngẫm nghĩ: thật ra điều quan trọng không phải là sự vật quanh ông mà chính là cái nhìn của ông về sự vật. Đây mới thật sự là giác ngộ. Với cái nhìn mới về sự vật, nhà sư Wonhyo thấy không cần phải sang tận Trung Hoa để tầm sư học đạo nữa. Ông quyết định trở về Đại Hàn vì đã thực sự tìm thấy được lời giải đáp cuối cùng cho những khắc khoải của mình. Theo truyền tụng, nhà sư Wonhyo đã trở thành một trong những bậc thày vĩ đại nhứt trong lịch sử Đại Hàn. Liệu khi nhìn về sự phát triển vượt bực của Đại Hàn ngày nay, có nên truy nguyên lên mãi đến sự giác ngộ và tinh thần lạc quan mà bậc thày vĩ đại như nhà sư Wonhyo đã mang lại cho dân tộc này không?
Không phải là tín đồ Phật Giáo thuộc một Giáo hội có tổ chức hoặc tìm đến chùa để cúng dường hay làm công quả, tôi vẫn xem sự “giác ngộ” là một tiến trình trưởng thành nhân cách quan trọng nhứt trong cuộc sống. Con người ta có hạnh phúc và an lạc không là tùy ở cái nhìn của mình về thế giới xung quanh và nhứt là về những gì đã và đang diễn ra trong cuộc sống của chính mình. Kẻ bi quan nhìn đâu cũng thấy bế tắc. Người lạc quan thì trái lại giữa tăm tối vẫn nhìn thấy ánh sáng và  lối thoát. Tựu trung, tôi tin rằng cái nhìn lạc quan về cuộc sống luôn mang lại hy vọng và ý nghĩa cho cuộc sống.
Tôi không rành về giáo lý của Phật Giáo. Nhưng cứ nhìn vào cung cách của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, tôi cho rằng một trong những sứ điệp trọng tâm của Phật Giáo chính là tinh thần lạc quan. Mới đây, nhân chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Ngài, một trong những tờ báo lớn nhứt của Mỹ là tờ Washington Post đã cho đăng tải một bài viết mà tôi cho là tóm gọn giáo huấn của nhà sư được xem là Phật sống này. Thật vậy trong bài báo có tựa đề “Why I am hopeful about the World’s Future” (Tại sao tôi vẫn hy vọng về tương lai của thế giới. X. Việt Báo online 16/6/2016), Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhắc lại thảm kịch của cá nhân Ngài và dân tộc Tây Tạng khi phải rời bỏ quê hương để lên đường sang tỵ nạn tại Ấn Độ từ năm 1959 cho đến nay. Bên cạnh thảm kịch của dân tộc Ngài, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nhắc đến cái chết của hơn 200 triệu người trong các cuộc xung đột trong thế kỷ 20 vừa qua. Và ngày nay, theo Ngài, bạo lực đang diễn ra từng ngày trên khắp thế giới xem ra lại càng khủng khiếp hơn: “Bạo lực kinh hoàng ở Trung Đông, nơi như hồ sơ Syria đã dẫn tới khủng hoảng tỵ nạn lớn nhất trong một thế hệ. Các vụ khủng bố tấn công kinh hoàng - như chúng ta mới được nhắc một cách buồn bã hồi cuối tuần qua (cuộc thảm sát tại Orlando, Tiểu bang Florida, Hoa Kỳ) – đã gây nỗi sợ hãi sâu thẳm”.
Tuy nhiên, trước một bức tranh ảm đạm như thế, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng vẫn tỏ ra lạc quan và kêu gọi mọi người hãy nuôi dưỡng tinh thần lạc quan. Ngài đưa ra một số lý do để hy vọng và lạc quan. Trước hết, tính phổ quát của quyền con người ngày càng được công nhận, đặc biệt là sự bình đẳng của người phụ nữ.  Kế đó, ngày càng có nhiều người không còn xem chiến tranh như một phương thế ưu biệt để giải quyết các vấn đề của thế giới nữa. Khắp thế giới, cũng ngày càng có nhiều người đang làm những việc có giá trị để ngăn cản khủng bố cũng như vận động để cắt giảm các kho vũ khí nguyên tử.
Nhưng đáng chú ý hơn cả, theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, chính là ngày càng có nhiều người trên khắp thế giới bày tỏ tình liên đới và từ tâm đối với thảm cảnh người tỵ nạn. Cuối cùng, “một nguồn hy vọng thêm nữa là sự hợp tác chân thực giữa các nước trên thế giới về mục tiêu chung được nhìn thấy trong Hiệp ước Paris về biến đổi khí hậu”.
Sở dĩ Đức Đạt Lai Lạt Ma tỏ ra  lạc quan trước tương lai  thế giới là bởi vì ngài tin tưởng rằng “bản chất con người là từ bi trong căn bản”. Do đó, ngài nói như một vị tiên tri:  “Tôi tin có thể sẽ hiển lộ ra một kỷ nguyên hòa bình trong những thập niên tới”.
Phật Giáo, như được Đức Đạt Lai Lạt Ma  thực hành xuyên qua lời nói và hành động của ngài, quả là một tôn giáo khuyên dạy tinh thần lạc quan. Tuy nhiên, khi bày tỏ hy vọng và lạc quan về tương lai của thế giới, Ngài không thuyết giảng giáo lý Phật Giáo cho bằng điều mà Ngài gọi là “đạo đức thế tục”. Đó là nền đạo đức mà dù thuộc chủng tộc, văn hóa hay tôn giáo nào, ai cũng phải nhìn nhận và thực thi. Đó là nền đạo đức luôn kêu gọi và đòi hỏi con người phải sống từ bi, tôn trọng người khác, cư xử tử tế với người đồng loại và nhận lãnh trách nhiệm.
Mỗi ngày Chúa nhựt tôi thường đến nhà thờ để tìm kiếm nguồn cảm hứng và sức mạnh hầu nuôi dưỡng niềm hy vọng và sống một tuần lễ có ý nghĩa. Nhiều người tỏ ra bi quan về tương lai của các Giáo hội Kitô, cách riêng tại Úc Đại Lợi này. Quả thật, nếu để tâm quan sát, người ta sẽ nhận thấy hiện tượng giới trẻ Úc không còn đến nhà thờ nữa. Hầu hết những người đến nhà thờ đều là các lão ông lão bà gần đất xa trời hay những người ít nhứt cũng đã trên 60 tuổi. Bi quan về tương lai của các Giáo hội, người ta cũng bi quan về giới trẻ. Người ta dễ có khuynh hướng cho rằng giới trẻ ngày nay khô đạo, lạc lõng và hư hỏng. Tuy nhiên, riêng tôi, vì cố gắng sống tinh thần lạc quan, tôi lại nhìn vào giới trẻ ngày nay với một nhãn quan khác.
Giới trẻ ngày nay có lẽ “khô đạo”, nhưng họ lại “đạo đức” hơn theo nền “đạo đức thế tục” mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói đến. Trong cuộc sống hàng ngày, tôi gặp rất nhiều người trẻ, dù không được giáo dục theo bất cứ một truyền thống tôn giáo nào, vẫn tỏ ra là những người tử tế, biết quan tâm đến người khác, biết tôn trọng luật pháp và nhứt là có ý thức cao về công bình và tình liên đới. Họ tích cực tham gia các công tác thiện nguyện và làm từ thiện mà không cần phải dán lên người bất cứ nhãn hiệu tôn giáo nào. Tựu trung, họ vẫn “có đạo” mà không cần phải theo một tôn giáo; họ vẫn tìm ra được ý nghĩa và mục đích của cuộc sống mà không cần phải được một tôn giáo hướng dẫn. 
Tôn giáo quả thật là nguồn cảm hứng và sức mạnh đối với rất nhiều người, nhứt là khi gặp hoạn nạn khổ đau. Nhưng tôi cũng tin rằng con người có thể tìm thấy ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống mà không cần có niềm tin tôn giáo. Tôi nghĩ đến một trường hợp điển hình là Bác sĩ Victor Frankl, một chuyên gia tâm lý người Áo đã từng sống sót và trở về từ các trại tập trung của Đức Quốc Xã trong thời Đệ Nhị Thế chiến. Trong cuộc nghiên cứu của mình, Bác sĩ Frankl nhận thấy rằng sở dĩ nhiều người đã có thể chiến đấu và sống còn giữa những điều kiện nghiệt ngã nhứt trong cuộc sống, cụ thể là trong các trại tập trung của Đức Quốc Xã, là vì họ đã luôn giữ vững tinh thần để tìm thấy ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống. Với kinh nghiệm bản thân, Bác sĩ Frankl đã giúp cho nhiều người tìm thấy ý nghĩa và mục đích của cuộc sống và một trong những cách đó chính là giúp cho họ nhớ lại bao niềm vui, nỗi khổ, những hy sinh và phúc lành mà họ đã từng có được trong cuộc sống. Nhờ vậy mà nhiều người tiếp tục tìm thấy ý nghĩa và mục đích của cuộc sống.
Phật Giáo, như được Đức Đạt Lai Lạt Ma thực hành, khuyên dạy tôi sống lạc quan, tin tưởng và hy vọng. Ý niệm về “Quan Phòng” trong Kitô Giáo, nếu hiểu một cách đúng đắn, không hề bảo tôi trong bất cứ chuyện gì cũng hô lên “Nếu Chúa muốn” như mấy ông chiến binh “thánh chiến” của tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” vẫn thường tuyên xưng khi ra tay sát hại người khác, mà trái  lại cũng mời gọi tôi nên nhìn ra ánh sáng ở bất cứ con đường hầm nào. Ngoài ra, cái lẽ minh triết “ tái ông thất mã” của người Á Đông cũng không ngừng nhắc nhở tôi rằng trong cái rủi vẫn luôn ẩn tàng cái may, trong thất bại vẫn có mầm mống của sự thành công, từ mất mát vẫn có thể nẩy sinh niềm hy vọng và có biết bao nhiêu phúc lành lại được che dấu dưới những khốn khổ...Từ cái chết của 50 người bị tàn sát trong cuộc khủng bố tại Orlando, từ cái chết của nữ Dân biểu Anh Jo Cox và của không biết bao nhiêu nạn nhân của khủng bố diễn ra hàng ngày trên khắp thế giới hiện nay, tôi thấy sáng lên một niềm hy vọng chưa từng có: những bó hoa của tình liên đới, của từ tâm, của quảng đại, của tử tế, của cảm thông...được xếp thành núi cao để tuyên xưng rằng hận thù sẽ không bao giờ thắng được tình yêu.
Nhiều người đã lên án Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939-2001) vì lập trường phản chiến và “nối giáo cho giặc” của ông trước năm 1975. Riêng tôi, tôi vẫn thích những bản tình ca và những ca khúc đượm tính nhân bản và lạc quan của ông. Những lúc gặp thất bại và khổ đau, tôi vẫn thích nghêu ngao những câu như: “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” và nhứt là “tôi ơi đừng tuyệt vọng”.