Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Thiên nhiên: thánh đường của tôi!


Chu Thập
6.5.16
Lake Burrendong 
Bước vào tuổi được làm “tỷ phú thời gian”, tôi đi chơi nhiều hơn đi nghỉ. Có còn phải nhọc công mất sức gì cho chén cơm manh áo  nữa đâu mà phải đi nghỉ!  Thành ra hễ muốn đi chơi là tôi đi. Mà hễ đi chơi là tôi “ưu tiên” chọn Úc Đại Lợi làm “điểm đến”. Một phần vì nhiều điều kiện không cho phép đi du lịch nước ngoài, một phần vì nghĩ rằng có bỏ hết cả nửa đời còn lại để đi hết nước Úc chưa chắc tôi đã làm được. Ngay như cái Tiểu bang New South Wales này cũng có cả khối chỗ để mà đi.
Mới đây tôi, nhà tôi và vợ chồng một người bạn đã tìm đến một địa điểm có lẽ ít được biết đến trong tiểu bang New South Wales. Đó là Đập và Hồ Burrendong, nằm sâu trong nội địa của tiểu bang. Muốn đến đó phải đi qua một số vùng như Blue Mountains, Lithgow, Bathurst, Orange.
Úc Đại Lợi lúc nào cũng có một mùa Thu thật dễ thương: không quá nóng và cũng không quá lạnh, hoa hòe hoa sói vẫn cứ tỉnh bơ đua khoe sắc thắm. Nhưng có đi qua những vùng nói trên mới thực sự thấy được sự thay đổi của thời tiết: những người di dân gốc Tây Phương đầu tiên đã mang đến những vùng này vô số những loại cây có lá đổi màu trong mùa thu. Khỏi cần phải qua Tây qua Mỹ hay tìm đến những xứ lạnh của Á Châu mới thấy được cảnh mùa Thu lá bay!
Nhưng vốn là người có “mạng thủy”, sinh ra và lớn lên bên cạnh hai dòng sông, ngụp lặn dưới nước như rái cá ngay từ thuở nhỏ, đi chơi với tôi không chỉ là được ở giữa thiên nhiên, ngắm cảnh đẹp, mà là đi câu cá. Cũng như con cá lóc gặp nước là trườn người tới và phóng lên để được tự do, dù có mệt mỏi hay buồn ngủ đến đâu, hễ cứ thấy nước là tôi tỉnh ngay và tay chân ngứa ngáy muốn quăng câu tức khắc. Cần câu là vật bất ly thân của tôi và quăng câu là bản năng thứ hai của tôi. Không biết từ lúc nào tôi đã biết sử dụng đủ loại cần câu. Chớ đâu như ông bạn nối khố của tôi ở miền Tây Sydney: trước khi đi câu đã phải ra một công viên để tập quăng câu! Không biết có ai bị lỗ đầu, sứt trán hay rách mép chưa. Nhưng chắc chắn hẳn phải có nhiều người muốn đến sờ lên trán của ông bạn tôi để trắc nghiệm về sức khỏe tâm lý của ông!
Trong 3 ngày sống bên cạnh Hồ Burrendong, tôi dành phần lớn thời giờ cho việc câu cá. Là một phần của một lâm viên quốc gia rộng lớn, hồ nhân tạo này có đủ mọi thứ cá nước ngọt như Silver Perch (cá chẽm), Yellow Belly (cá bụng vàng), Bass và nhứt là loại cá mú nước ngọt có tên là Murray Cod. Cũng như Thi sĩ Chu Mạnh Trinh (1862-1905),  với tôi cá Murray Cod cũng giống như “Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay”! Trong suốt sự nghiệp câu cá, tôi chỉ mong có ngày kéo được một con Murray Cod thì có buộc phải  “treo cần” tôi cũng thấy mãn nguyện rồi.
Một buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa lên, tôi đã có mặt ở bờ hồ để rình cho bằng được con Murray Cod. Sau cả tiếng đồng hồ phục kích và chờ đợi, tôi tưởng mình đã trúng số. Tim tôi như muốn vỡ tung trong lồng ngực khi đầu cần cong quặt xuống và tiếng cước được thả lỏng kêu ro ro. Sau hơn 10 phút chiến đấu, thấy mặt mày râu ria của con cá có mầu vàng ló lên khỏi mặt nước, tôi suýt reo lên “Eureka” như nhà toán học Archimede. Nhưng một nỗi thất vọng và bực tức đã chạy suốt tứ chi của tôi. Con cá tôi “ao ước bấy lâu nay” không phải là “nó” mà là một con cá chép “khủng” vàng ươm nặng đến 2 ký lô là ít. Trước năm 1975, câu được một con cá chép như thế trong Hồ Xuân Hương ở Đà Lạt chẳng khác nào trúng số. “Nhứt đầu cá chép, nhì mép cá trê” mà! Ai mà chẳng thèm cá chép, nhứt là loại đã gần hóa rồng như con cá chép tôi vừa kéo lên được ở Hồ Burrendong. Nhưng không hiểu tại sao cái giống cá được người Đông Âu nuôi và “trân quý” như vàng này lại bị người Úc không những xem như đồ bỏ mà còn tìm cách tiêu diệt như kẻ thù.
Thì ra đọc kỹ các quy định về cá nước ngọt, tôi mới biết rằng hiện nay Chính phủ Úc xem cá chép trong các sông hồ là một thứ “dịch bệnh” cần phải diệt trừ tận gốc rễ: chúng sinh sản nhanh, phá hoại môi sinh, cướp hết thực phẩm và chèn ép tất cả mọi loại cá bản địa. Ở những sông hồ nước ngọt, dân câu cá được kêu gọi mỗi lần kéo lên được một con cá chép phải tìm cách thủ tiêu ngay. Mới đây tôi đọc một bản tin liên quan đến giống cá “ôn dịch” này: trong quyết tâm loại trừ giống cá bị xem như một thứ dịch bệnh này, Chính phủ Úc  đã quyết định dành 15 triệu Úc kim trong ngân sách liên bang để tiêu diệt loại cá này. Theo dự trù, các nhà khoa học thuộc Ủy ban Nghiên cứu Khoa học và Kỹ nghệ (CSIRO) sẽ sử dụng vi khuẩn CyHY-3, tức loại vi khuẩn gây ra bệnh lở mép để cho xâm nhập vào những nơi có cá chép sinh sống. Loại vi khuẩn này sẽ gây bệnh cho cá chép nhưng không nguy hiểm cho các loại cá khác. Theo các nhà khoa học, chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau khi tiếp xúc với vi khuẩn này, cá chép dù có hóa rồng cũng sẽ đi chầu Diêm Vương ngay. Chính phủ Úc hy vọng rằng 95 phần trăm cá chép có mặt trong sông ngòi, ao hồ của nước này sẽ bị tiêu diệt nội trong 3 thập niên tới.
Đọc bản tin này, dân câu cá bị tổ trác như tôi khi kéo được một thứ “đồ hung của dữ” như cá chép cảm thấy khoái chí lắm. Và dĩ nhiên, trong những giây phút ngồi tĩnh lặng bên bờ hồ Burrendong vào những buổi chiều tà hay những lúc mặt trời vừa ló dạng, tôi không thể không cảm thấy hạnh phúc vì được sống trong một xứ sở mà thiên nhiên và vạn vật luôn được chăm sóc tận tình  để mang lại phúc lợi tối đa cho cuộc sống con người. Nghĩ như thế và nhìn về quê hương làm sao không cảm thấy buồn!
Trong thời gian gần đây, có lẽ hầu như mỗi ngày tất cả mọi tin tức từ trong nước đều tập trung vào hiện tượng cá biển tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam chết hàng loạt khiến cho cuộc sống của người dân vốn đã nghèo lại càng thêm bi đát hơn. Đã không chịu cho mở những cuộc điều tra thấu đáo về nguyên nhân gây ra hiện tượng cá chết, Chính phủ cộng sản Việt Nam còn tìm cách đàn áp người dân mỗi khi họ xuống đường để bày tỏ ý kiến của mình một cách ôn hòa. Buồn thật!
Cách đây mấy năm, lần đầu tiên được về thăm quê hương, tôi đã thật sự đi “hành hương” dọc theo hai con sông gắn liền với tuổi thơ của tôi là Sông Con và Sông Cái. Bước vào tuổi già, nếu tôi có nhớ lại chuyện quá khứ thì hình ảnh hiện lên trước tiên trong ký ức của tôi lúc nào cũng là tuổi thơ. Và với riêng tôi, có lẽ tôi đã chẳng bao giờ có một tuổi thơ đẹp nếu không có hai dòng sông ấy. Nhưng tôi đã hoàn toàn thất vọng khi nhìn thực tế: thay cho những con sông với nước trong đến độ có thể nhìn thấy đáy là một dòng nước đục ngầu, dơ bẩn và cạn xèo; những bãi cát và sạn đá đã biến mất. Tôi buồn vô hạn khi đọc được một bản tin từ Khánh Hòa cho biết ở một số nơi, Sông Cái Nha Trang đã “cạn nước, ngừng trôi” (x. Khánh Hòa 24 H 4/4/2016). Sông Con và Sông Cái đã hầu như biến mất. Cướp chính quyền, cướp đất, cướp của dân chúng, người cộng sản cũng cướp mất tuổi thơ của tôi.
Tôi không ưa ông Donald Trump, người đang được xem là ứng cử viên tổng thống Mỹ sáng giá nhứt của Đảng Cộng Hòa. Nhưng mới đây, ông có nói một câu mà tôi cho là chính xác nhứt nếu muốn về nói Trung Cộng. Ông Trump nói rằng nếu lên làm tổng thống, ông sẽ không để cho Trung Cộng “hãm hiếp” Hoa Kỳ nữa. Trung Cộng đâu chỉ hãm hiếp Hoa Kỳ. Nước này hiện đang hãm hiếp cả thế giới. Lộ liễu và tàn bạo nhứt là ở Biển Đông. Nhưng không chỉ có thế giới loài người mới bị Trung Cộng hãm hiếp. Thiên nhiên là nạn nhân đầu tiên của quốc gia cộng sản khổng lồ này. Giàu có, thịnh vượng để làm gì một khi môi trường sống bị hãm hiếp và hủy hoại đến độ khi có điều kiện người dân nào cũng chỉ muốn bỏ nước ra đi.
Những người cộng sản Việt Nam cũng đang đi theo con đường “hãm hiếp” ấy. Ngày của Mẹ, có lẽ không nơi nào trên thế giới Mẹ Thiên Nhiên phải quằn quại đớn đau vì bị hãm hiếp cho bằng ở các nước cộng sản và nhứt là Việt Nam.
Chủ nghĩa Cộng sản vẫn thường được định nghĩa và cũng tự nhận là một chủ nghĩa vô thần. Bách hại tôn giáo vẫn là một trong những chính sách hàng đầu của các chế độ cộng sản. Trong thực tế, như được thấy ở Việt Nam, ngày nay những người cộng sản cũng “hữu thần” và “hữu thần” hơn cả các tín đồ của các tôn giáo. Họ cũng có đủ mọi loại thần thánh để tôn thờ. Tôi cho rằng “vô đạo” mới là từ chính xác nhứt để nói về người cộng sản. Trước khi “vô đạo” đối với người đồng loại, họ đã “vô đạo” đối với thiên nhiên và môi trường sống. Nơi nào người cộng sản xuất hiện, nơi đó môi trường sống bị hãm hiếp và tiêu diệt. Thế giới thường nói đến tội ác chống lại nhân loại. Nhưng mặt trái của tội ác chống lại nhân loại chính là tội ác chống lại thiên nhiên.
Tôi là một tín hữu Kitô. Nhưng trước khi là tín đồ của một tôn giáo, tôi thích được làm người “có đạo” đối với thiên nhiên hơn. Tôi có ý nghĩ ấy khi lắng nghe một câu nói mới đây của Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo. Ngài nói: “Không nhứt thiết phải tin Chúa mới là một người tốt. Một cách nào đó, quan niệm truyền thống về Chúa đã lỗi thời. Con người có thể “có đạo” (spiritual) mà không theo tôn giáo nào. Không nhứt thiết phải đi nhà thờ và dâng cúng tiền bạc. Đối với nhiều người, thiên nhiên có thể là một thánh đường. Trong lịch sử, có một số người thật tốt nhưng chẳng hề tin Chúa, trong khi đó có một số người lại nhân danh Chúa để làm những điều tồi tệ nhứt”.
“Đối với nhiều người, thiên nhiên có thể là một thánh đường”. Tôi thích câu nói này quá đi thôi. Nếu như nhà thờ là nơi tôi phải tìm được sự thanh thản và bình an trong tâm hồn, thì có lẽ chẳng có nơi nào giúp tôi đạt được điều đó cho bằng thiên nhiên. Ai đó đã nói thật chí lý: ở gần thiên nhiên, con người không thể cảm thấy cô đơn.  Nếu như nhà thờ là nơi tôi tìm đến để gặp gỡ và học yêu thương tha nhân thì có lẽ chẳng có nơi nào mời gọi và thúc dục tôi sống vị tha cho bằng thiên nhiên. Thiên nhiên là trường dạy tôi sống yêu thương, bởi vì càng ở gần thiên nhiên và càng tôn trọng và yêu quý thiên nhiên, tôi càng cảm thấy muốn ra khỏi vỏ ốc của mình để đến với người khác nhiều hơn.
Tôi vẫn có thói quen đi đến nhà thờ. Nhưng có lẽ tôi sẽ chỉ là một người “vô đạo” nếu tôi chưa biết tôn trọng, trân quý và bảo tồn thiên nhiên.







Thứ Tư, 11 tháng 5, 2016

Đất nứt con bọ hung



Chu Thập
12.6.12

Trong các giai thoại về Trạng Quỳnh (1677-1748), tôi thích nhứt chuyện ông Tú Cát. Tú Cát thuộc loại “đỉnh cao trí tuệ loài người”, xem trời bằng vung, đi đâu cũng khoe chữ và chẳng xem ai ra gì. Một hôm Quỳnh đang đứng xem một lũ heo ăn cám thì Tú Cát tình cờ đi qua. Nghe người ta đồn đãi về thần đồng này, lại không chấp nhận có người giỏi hơn mình, cho nên Tú Cát mới gọi cậu bé lại và nói: “Ta nghe thiên hạ đồn mày là đứa thông minh, ứng đáp rất giỏi. Bây giờ ta ra cho mày một vế đối, nếu mày không đối được thì sẽ biết tay ta. Nhứt định ta sẽ đánh đòn cho chừa cái tật láo khoét, nghe chưa”. Nói xong, ông Tú Cát liền gật gù đọc: “Lợn cấn ăn cám tốn”. Đây là một câu đối rất hóc búa, bởi vì chữ “Cấn” và “Cám” vừa chỉ con heo lại cũng vừa chỉ thức ăn của heo, lại vừa là hai quẻ trong Kinh Dịch. Người có học chưa chắc đã đối được. Nhưng nhanh như chớp, cậu bé Quỳnh nói ngay: “Chó  khôn chớ cắn càn”. “Khôn” và “Càn” cũng là hai quẻ trong Kinh Dịch. Quỳnh có ý chửi xiên ông Tú Cát đừng cậy tài mà “sủa như chó” hay bắt nạt người khác. Bị thằng nhỏ chơi lại một đòn đau, Tú Cát tức lắm liền dọa: “Được, để coi mày thông minh đến cỡ nào. Tao còn một câu nữa.” Nói xong Tú Cát liền ngạo nghễ ra câu đối: “Trời sinh ông Tú Cát”. Lần này, cũng chẳng cần phải suy nghĩ lâu, Quỳnh chỉ vào lớp phân heo có đùn lên những ụ nhỏ và đáp: “Đất nứt con bọ hung”.
So sánh kẻ kiêu căng với một con bọ hung thì chẳng có hình ảnh nào chính xác hơn. Lúc nhỏ tôi thường đi đào dế cơm về nuôi sáo cưỡng và chích chòe. Mấy loại chim này chỉ thích ăn côn trùng. Dế cơm là món chúng hảo nhứt. Trong vườn nhà hay hàng xóm, hễ chỗ nào có hang dế cơm là tôi xách cuốc tới ngay. Cũng may thời đó, dế cơm chưa bị “phát hiện” là một món ăn khoái khẩu và đặc sản của dân nhậu, cho nên tìm được dế cơm cho chim ăn mỗi ngày không có gì là khó khăn và nhọc nhằn cho lũ nhóc chúng tôi lắm. Nhưng cũng có những ngày thay vì tìm được dế cơm, tôi chỉ muốn nôn ọe khi đào lộn hang của một con bọ hung. Bất kể là phân người hay phân heo, phân trâu bò, hễ là phân thì bọ hung làm tổ và sống chui rúc dưới đó. Với tôi, bọ hung là giống côn trùng dơ bẩn, “gớm ghiếc” nhứt. Tôi không biết hiện nay bọ hung đã có vinh dự được nằm trên thực đơn của dân nhậu ở Việt nam chưa. Hồi đó, cứ mỗi lần có người Thượng từ trên núi xuống đồng bằng để đổi gạo lấy muối, lũ nhóc chúng tôi cũng thường gạ gẫm đến gần để nghe kể chuyện “Ó ma lai”. Tôi chưa hình dung được con “ó ma lai” ra làm sao, chỉ biết rằng người Thượng tin rằng đây là một loại ó sống về đêm; cứ đêm đến là đầu lìa khỏi thân để đi tìm phân người mà “xơi”. Người nào vô tình “đi đồng” mà không lấp phân lại, lỡ bị con ó ma lai chiếu cố thì coi như tiêu đời: bệnh lên bệnh xuống cho đến chết mà thôi. Nghe câu chuyện rùng rợn này, tôi không thể không liên tưởng đến loài bọ hung. Đúng là một thứ sâu bọ gớm ghiếc!
Từ ngày rời khỏi Việt nam, tôi tưởng hình ảnh của con bọ hung đã được hoàn toàn xóa khỏi bộ nhớ của tôi. Nhưng mới đây, nó lại xuất hiện và xuất hiện với một “dung nhan”  hoàn toàn mới mẻ: nó không còn là một con vật “gớm ghiếc” nữa, mà là một “nhân công” cần mẫn rất cần thiết cho việc bảo vệ sinh thái. Tôi đã bắt đầu thay đổi cái nhìn về con bọ hung sau khi xem một số chương trình “Bite Me with Dr. Mike Leahy” được chiếu trên Đài Truyền Hình SBS. Đầu tiên, tôi thấy lại con bọ hung trong một vùng sa mạc bên Phi Châu. Bác sĩ Leahy theo dõi một con bọ hung đang dùng hai chân sau của nó để đẩy một cục phân nặng gấp hai lần trọng lượng của nó. Bác sĩ Leahy đã thi vị hóa cử chỉ của con bọ hung đực này khi nói rằng nó đang mang quà về tặng cho “bồ” của nó; với “kho tàng” này, đôi uyên ương sẽ làm tổ và chuẩn bị cho những đứa con sẽ chào đời. Nhưng quan trọng hơn, cục phân này sẽ được “chế biến” không những để làm ra thức ăn mà còn để góp phần cải tạo vùng đất khô cằn giữa sa mạc.
Trong một chương trình khác, bác sĩ Leahy đưa khán thính giả vào tận vùng “nội địa” (outback) của Úc đại lợi. Tại đây, các nông gia đã hướng dẫn ông đi xem một trong những căn bệnh rất thường thấy nơi gia súc, đặc biệt là bò và cừu. Trong đường ruột của chúng thường có một loại ký sinh trùng mà thủ phạm không ai khác hơn là chó. Thật vậy, trứng của loại ký sinh trùng này lẫn trong phân chó và được truyền sang cừu bò qua cỏ. Để giải quyết vấn đề, các nông gia đã đưa bọ hung tới. Các “công nhân” này sẽ làm sạch phân và như vậy cũng diệt trừ được ký sinh trùng.
Tôi đọc được trên Wikipedia, tiếng Việt, rằng  vào “thế kỷ 18, dân Châu Âu di cư đến lục địa này (Úc đại lợi) phải kinh ngạc, thấy nơi đây có một thảo nguyên mầu mỡ nhưng động vật ăn cỏ rất ít, họ bèn chở gia súc đến. Mấy chục triệu trâu bò một ngày thải ra mấy chục triệu đống phân. Phân nhiều quá không có cách nào dọn sạch, làm cho môi trường thảo nguyên ô uế, ruồi nhặng sinh sôi nảy nở quá nhiều, ảnh hưởng đến đàn súc vật. Các nhà khoa học đem loài bọ hung từ khắp nơi đến. Số bọ hung này giải quyết được nạn phân tai hại ấy cho nước Úc.
Có người đã tính rằng một đôi bọ hung chỉ cần 30 giờ đã có thể vần đi được 1000 milimet khối phân tươi vùi xuống.”
Từ sự biến chuyến trong hình ảnh tôi có về con bọ hung, tôi học được một số bài học. Trước hết, tôi nhận thấy rằng trong cái vũ trụ bao la kỳ bí này, dường như mọi loài đều hiện hữu theo một mục đích và trật tự nào đó. Có tin một Đấng Hóa Công đã tạo dựng mọi sự hay dựa trên thuyết tiến hóa để chối bỏ bàn tay tạo dựng của Ngài, ai cũng phải chấp nhận rằng vũ trụ này hiện hữu theo một trật tự, chứ không hoàn toàn rơi vào hỗn mang vô tận. Trong vòng trật tự ấy, muôn loài muôn vật đều hiện hữu theo một mục đích nào đó. Có những loài như con bọ hung chẳng hạn, hiện hữu là để không ngừng góp phần cải tạo và tái sinh những thứ bị xem là thừa thãi. Có biết bao nhiêu cây cỏ mà dược tính hữu ích đã được loài người khám phá. Có biết bao nhiêu động vật mà sự hiện hữu góp phần giữ cho sinh thái được cân bằng. Như con cá mập chẳng hạn. Mới đây, tôi có theo dõi một chương trình truyền hình về những bãi biển đẹp tại thành phố Durban, Nam Phi. Mỗi năm các bãi biển này thu hút không biết bao nhiêu du khách từ khắp thế giới. Để bảo đảm an toàn cho người tắm biển, dĩ nhiên với mục đích khai thác du lịch, chính quyền địa phương đã ra lệnh bằng mọi cách triệt hạ cá mập. Kết quả, theo các nhà bảo vệ thiên nhiên, sự vắng mặt của cá mập trong vùng biển này đã khiến cho sinh thái mất cân bằng. Do đó, vấn đề không phải là loại trừ một giống thú nào đó, mà chính là biết cách sống chung “hòa bình” với chúng để bảo tồn thiên nhiên. Trong vũ trụ này chẳng có một loài vật nào là vô tích sự cả. Nó không ích lợi về chuyện này thì cũng hữu dụng về chuyện khác.
Muôn loài muôn vật đều hiện hữu vì một mục đích nào đó. Duy chỉ có con người mới hiện hữu như một cứu cánh mà thôi. Phải trải qua bao nhiêu cuộc chiến tranh, tốn bao nhiêu xương máu nhân loại mới nhận ra được cái “cứu cánh nội tại” và phẩm giá cao trọng của mỗi một con người. Đẹp hay xấu, thông minh hay đần độn, khỏe mạnh hay bệnh tật, lành mạnh hay tàn tật, giàu sang hay nghèo hèn, quyền thế hay cô thế...mọi người đều bình đẳng. Bình đẳng như nhau chớ không “có những người bình đẳng hơn và những ngưới ít bình đẳng hơn” như ông chủ tịch Heo đã tuyên bố trong truyện “Trại thú vật” (Animal Farm, xuất bản 1945, chuyện ngắn mô tả một cách chính xác về thiên đường cộng sản) của nhà văn George Orwell. Chính vì sự bình đẳng ấy mà không một ai có quyền xử dụng người khác như một phương tiện cho bất cứ một mục đích nào. Tựu trung, con người không thể bị xem như một thứ tài sản, tư bản, hay văn hoa hơn, như một “vốn quý” của bất cứ một tổ chức nào, dù tổ chức ấy có cao quý như tổ quốc đi nữa.
Nhưng khi chiêm ngắm hình ảnh của con bọ hung, tôi lại nghĩ đến một nghịch lý lớn đối với con người: là một cứu cánh, con người lại chỉ có thể đạt được cứu cánh ấy bằng sự hiến thân cho người khác mà thôi. Tư tưởng này được gợi lên cho tôi từ truyện ngắn “Rừng Mắm” của nhà văn Bình Nguyên Lộc (1914-1987). Cuộc đối thoại giữa ông cháu thằng Cộc nghe thật dễ thương và có một ý nghĩa thật thâm sâu.
Chỉ vào thứ cây mọc đầy trong nước mặn, nó hỏi ông nội:
“- Cây gì mà lạ vậy ông nội? Trổ bông ngay dưới gốc?
   -Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà nguời ta gọi là rễ gió. Cây nầy là cây mắm. Đây là rừng mắm đây.
   -Cây mắm? Sao tui không nghe nói đến cây mắm bao giờ?
   -Con không nghe nói vì cây mắm không dùng được để làm gì hết, cho đến làm củi chụm cũng không được.
   - Vậy chớ trời sanh ra nó làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cỏ ấy?
  - Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lún và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được”
Thấy thắng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
  -Ông với lại tía của con là cây mắm, chơn giẩm trong bùn. Đời con là tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau.
Đời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng.
Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi? Vả lại con không thích hi sinh chút ít cho con cháu của con hưởng hay sao”.
Với truyện ngắn này, nhà văn Bình Nguyên Lộc hẳn muốn gói ghém một chân lý nền tảng của cuộc sống: sống là hy sinh và có hy sinh con người mới tìm được cứu cánh và ý nghĩa cho cuộc sống của mình. Mà hy sinh thì chẳng có ai mà không làm được. Như cây tràm, tưởng là vô tích sự và vô ích, nhưng nếu không có cây tràm thì làm gì có nền đất chắc để cho các loại cây khác có thể đua nhau mà mọc lên. Chẳng có con người nào có mặt trên trái đất này là vô tích sự và vô ích cho người khác cả.
Albert Einstein sẽ vẫn mãi mãi là nhà bác học vĩ đại nhứt trong lịch sử nhân loại. Nhưng có lẽ ông còn vĩ đại hơn nữa khi tuyên bố như sau: “Vị trí của chúng ta trên trái đất này thật là kỳ lạ. Mỗi người chúng ta đến để làm một chuyến viếng thăm ngắn ngủi, không biết tại sao, nhưng đôi khi xem ra cũng đoán được một mục đích. Tuy nhiên, từ cái nhìn của cuộc sống hằng ngày, chúng ta biết một điều: con người có mặt ở đây là vì người khác, nhứt là tất cả những ai mà nụ cười và niềm vui sống mang lại hạnh phúc cho chúng ta” (trích trong Richard Dawkins, The God Delusion, Random House Australia, 2006, trg 209).
Ngày nhỏ tôi ghét con bọ hung bao nhiêu, bây giờ tôi khâm phục nó bấy nhiêu. Ít ra nó hơn tôi ở chỗ không thấy điều gì là “gớm ghiếc”. Từ con ong, con bọ hung, cho đến cây mắm cây tràm, tôi thấy mình  học được những bài học “làm người” vô giá, nhứt là về lòng vị tha. Đối với tôi, thiên nhiên huyền diệu trước mắt chúng ta là vị thày tuyệt hảo nhứt.






Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Nam Sudan: quốc gia non trẻ nhất thế giới

6.5.16

Giành được độc lập ngày 9 tháng 6 năm 2011, giáp giới với một số nước như Sudan ở phía Bắc, Cộng hòa Trung Phi và Cộng hòa Dân chủ Congo ở phía Tây, Kenya ở phía Nam và Ethiopia ở phía Đông...cho tới nay Nam Sudan vẫn được xem là quốc gia non trẻ nhất thế giới. Nếu có được nhắc đến, quốc gia Phi Châu này có lẽ chỉ xuất hiện trong những câu hỏi đại loại như “quốc gia nào trên thế giới vừa mới giành được độc lập?”
Gồm 10 tiểu bang với diện tích trên 600 ngàn cây số vuông và với dân số từ 7 đến 10 triệu người, Nam Sudan được xem là một trong những nước đa diện nhất ở Phi Châu. Quốc gia mới này hiện có trên 60 nhóm sắc tộc khác nhau được thống nhất nhờ 2 ngôn ngữ chính là tiếng Anh và tiếng Á Rập. Ngoài ra, bên cạnh các tôn giáo cổ truyền, Kitô Giáo được xem là tôn giáo chính của đa số dân Nam Sudan.
Việc tách khỏi Bắc Sudan và độc lập đã không đương nhiên chấm dứt được chiến tranh tại Nam Sudan. Cuộc nội chiến từ năm 2013 đến năm 2015 đã khiến cho khoảng 2.2 triệu người Nam Sudan phải đi lánh nạn và cho tới nay vẫn còn tiếp tục đe dọa sự ổn định và an ninh của quốc gia còn non trẻ này.
Nhiều người Nam Sudan hy vọng rằng sự trở về của ông Riek Machar, người đã từng là lãnh tụ của các nhóm phiến quân ly khai trong cuộc nội chiến, sẽ mở ra một tương lai tươi sáng hơn cho đất nước. Tuy nhiên, di sản của không biết bao nhiêu cuộc xung đột trong quá khứ và nhất là cuộc nội chiến mới đây, khiến cho nhiều người không tỏ ra quá lạc quan khi nhìn về tương lai của Nam Sudan.
Dù sao, việc ông Machar trở lại và được phục hồi trong chức vụ phó tổng thống cũng là một tín hiệu tốt. Trong giai đoạn chuyển tiếp này, chính phủ Nam Sudan cam kết sẽ cho tổ chức bầu cử nội trong vòng 30 tháng tới. Đây là thách đố mà các quan sát viên ngoại quốc e ngại rằng Nam Sudan khó vượt qua được. Có thể giai đoạn sắp tới sẽ là giai đoạn đầy căng thẳng cho quốc gia này, bởi vì phó tổng thống Machar đã bày tỏ quyết tâm bằng mọi giá phải lên làm tổng thống. Trong khi đó, đương kim tổng thống, ông Salva Kiir Mayardit cũng tỏ ra dứt khoát không kém trong việc bám chắc vào ghế tổng thống của mình.
Một trong những nỗ lực lớn nhất của chính phủ lâm thời là phải thống nhất các lực lượng quân sự vốn đã từng bị chia năm xẻ bảy trong các cuộc xung đột và cuộc nội chiến vừa qua. Chắc chắn đây không phải là điều dễ dàng cho chính phủ. Các quan sát viên đã không tỏ ra mấy lạc quan khi nhìn vào những phản ứng của chính phủ và các lực lượng phiến quân tại phi trường Juba khi ông Machar hồi hương: chỉ đứng cách nhau vài thước, nhưng hai bên đã không muốn nhìn mặt nhau. Trong lễ nghi nhậm chức của Phó Tổng thống Machar, hai bên cũng chẳng tỏ ra niềm nở với nhau. Đây là một cuộc hôn phối hoàn toàn bất đắc dĩ có thể dẫn đến đổ vỡ bất cứ lúc nào.
Ngoài chuyện thống nhất các lực lượng quân sự, chính phủ lâm thời còn phải cho thiết lập một tòa án hỗn hợp để xét xử những người đã từng bị tố cáo có những hành vi tội ác trong cuộc nội chiến. Điều này xem ra lại càng khó khăn hơn.
Sự chia rẽ giữa tổng thống và phó tổng thống của một quốc gia còn non trẻ phản ảnh phần nào những xung đột sâu xa giữa nhiều sắc tộc làm nên quốc gia này.
Đương kim Tổng thống Nam Suda, Salva Kiir Mayardit, là người đã có công lớn trong cuộc tranh đấu giành độc lập cho đất nước. Ông xuất thân từ sắc tộc lớn nhất ở miền Nam Sudan là Dinka. Năm 2005, sau khi người sáng lập và lãnh tụ của Phong trào Giải phóng Sudan (SPLM) là ông John Garang bất thần qua đời, ông Kiir Mayardit đã lên thay thế. Cái chết của ông Garang là một mất mát lớn cho Phong trào Giải Phóng Sudan, bởi vì 3 tháng trước đó ông đã thành công trong việc thương lượng với Chính phủ Sudan để chấm dứt 3 cuộc xung đột vũ trang đã kéo dài trong 3 thập niên. Mặc dù luôn tỏ ra hiếu chiến và luôn xuất hiện với chiếc mũ “cao bồi” cố hữu, cuối cùng ông Kiir Mayardit cũng đã chấp nhận ngồi vào bàn thương thuyết với Chính phủ Sudan và được giành cho chiếc ghế phó tổng thống trong Chính phủ Sudan. Với tư thế này, ông Kiir Mayardit đã tiếp tục cuộc đàm phán để rồi cuối cùng 7 năm sau, tức năm 2011, đã đạt được độc lập cho Nam Sudan và lên làm tổng thống tiên khởi của quốc gia mới này.
Tuy thất học, lại không có tài ăn nói trước công chúng, ông Kiir Mayardit đã thu hút được đám đông mỗi khi nói chuyện trong các cuộc biểu tình. Là một người công giáo thuần thành, ông thường đến nói chuyện trong ngôi thánh đường chính của Giáo hội Công giáo ở Thủ đô Juba.
Đối thủ gần như không đội trời chung của Tổng thống Kiir Mayardit là Phó Tổng thống Riek Machar lại xuất thân từ sắc tộc Nuer. Đây là sắc tộc có đông dân số thứ nhì tại Nam Sudan. Sát cánh bên nhau trong cuộc chiến giành độc lập, nhưng sắc tộc Dinka của ông Kiir Mayardit và sắc tộc Nuer của ông Riek Machar cũng kình chống nhau không kém trong suốt cuộc nội chiến. Năm 2013, tức chỉ 2 năm sau khi Nam Sudan giành được độc lập, ông Kiir Mayardit đã tố cáo ông Machar âm mưu đảo chính. Ông Machar bị bãi nhiệm, dẫn đến một cuộc nội chiến gây ra không biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho quốc gia còn non trẻ này.
Trái với ông Kiir Mayardit, ông Salvar Machar là một nhà trí thức đã từng du học tại Đại học Bradford, Anh Quốc và đã tốt nghiệp với bằng tiến sĩ triết học và chuyên về kế hoạch hóa. Đã từng nắm giữ một vai trò quan trọng trong cuộc chiến đấu vũ trang của Phong trào Giải phóng Sudan, ông Machar lên làm phó tổng thống khi Nam Sudan giành được độc lập. Năm 2013, vì không nhìn nhận những cáo buộc có âm mưu đảo chính, ông Machar đã vào bưng, tổ chức kháng chiến. Cuộc nội chiến kéo dài 3 năm này đã làm cho khoảng 300 ngàn người thiệt mạng và khoảng 2 triệu người phải đi lánh nạn.
Cuộc nội chiến tại Nam Sudan chỉ chấm dứt vào tháng 8 năm 2015. Nhưng mãi đến tháng 4 vừa qua, ông Machar mới chính thức trở lại Thủ đô Juba để tuyên thệ nhậm chức phó tổng thống. Cuộc sống chung hòa bình giữa tổng thống và phó tổng thống nước này chỉ là một sự dàn xếp đầy gượng ép. Nếu cuộc “hôn nhân” này mang lại hòa bình, làm ngưng tiếng súng, chấm dứt những vụ hãm hiếp và chém giết giữa các sắc tộc, thì đây quả là một sự thành công lớn. Nhưng có lẽ điều đó vẫn còn là một viễn ảnh xa vời.
Bên cạnh những xung đột và hận thù giữa các sắc tộc và nhất là giữa các nhà lãnh đạo là những yếu tố có thể làm phát sinh các cuộc nổi dậy bất cứ lúc nào, quốc gia còn quá non trẻ này lại phải đương đầu với một nền kinh tế cũng rất èo uột.
Trước cuộc nội chiến dạo tháng 12 năm 2013, một bao đường 50 ký chỉ giá khoảng từ 10 đến 16 Mỹ kim. Nay giá của một bao đường như thế tăng gấp 5 lần. Liền sau khi ông Machar trở lại và được phục quyền, giá đã giảm đi phần nào. Điều này cho thấy kinh tế của Nam Sudan và tình hình chính trị lệ thuộc vào nhau.
Các chính trị gia nước này hy vọng rằng cộng đồng thế giới sẽ đổ tiền vào một khi chính phủ mới được thành lập. Nhưng họ sẽ thất vọng vì các nhà đầu tư vẫn còn cân nhắc và chờ đợi. Giá dầu lửa trên thế giới đang sụt giảm. Nam Sudan chỉ có một cửa ngõ duy nhất để xuất cảng dầu là Sudan, quốc gia họ đã tách khỏi cách đây 5 năm. Điều đó có nghĩa là nguồn xuất cảng chính của Nam Sudan hiện vẫn kể như số không.
Ngoài ra Nam Sudan còn phải đương đầu với một vấn đề khác còn rắc rối và trầm trọng hơn nhiều: chính phủ mới có thể mang một bộ mặt mới, nhưng trong thực chất, chế độ này cũng chỉ là một thứ “bình mới mà rượu thì vẫn cũ”. Nói cách khác, chính phủ này cũng gồm toàn những bộ mặt cũ đã từng cai trị xứ sở trước khi xảy ra cuộc nội chiến. Kép đã cũ mà tuồng cũng cũ: không có bất cứ một sự thay đổi nào trong chính phủ. Có khi tình trạng lại càng bi đát hơn trước khi xảy ra nội chiến.
David Ring Gai là một trong hơn hai triệu người Nam Sudan đã từng đi lánh nạn vì cuộc nội chiến. Ông hiện đang xây một căn nhà mới. Nhưng ông không hài lòng mấy với căn nhà mới này. Lý do là vì căn nhà mới này vẫn còn được bao quanh bằng hàng rào giây thép gai, trong một trại dành cho người tỵ nạn được Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc dựng lên trong một khu ngoại ô của Thủ đô Juba.
Ngay cả sự trở về của ông Machar cũng chưa đủ để thuyết phục ông Gai rằng tình hình xứ sở sẽ thay đổi theo chiều hướng tốt. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Đài BBC, ông Gai không tin rằng Nam Sudan sẽ được hòa bình dù chỉ trong một thời gian ngắn. Chính vì vậy mà ông không muốn trở về quê quán của mình. Ông nói: “Tôi đã sinh ra trong chiến tranh và đã lớn lên trong chiến tranh và đó là xứ sở của tôi”. Ông hy vọng rằng tương lai của con cái ông sẽ sáng sủa hơn. Nhưng ông lại không tỏ ra mấy lạc quan. Chính phủ mới sẽ phải liên kết lại một đất nước vốn đã bị xâu xé triền miên vì chia rẽ. Ông Gai cho biết: ông và và hầu hết những người đang cùng sống với ông trong trại tỵ nạn vẫn còn bị đe dọa chỉ vì ông thuộc về sắc tộc Nuer của Phó Thủ tướng Machar.
Một người bạn của ông Gai tên là Stephen nói rằng 8 người trong gia đình ông đều bị giết chết ngay trong những ngày đầu của cuộc nội chiến, chỉ vì họ là người sắc tộc Nuer. Người đàn ông phải trải qua một biến cố đau thương như thế nói rằng còn lâu ông mới có thể suy nghĩ như một người bình thường được.
Trong khi đó thì rất nhiều người thuộc sắc tộc Dinka như Tổng thống Kiir Mayardit cũng đã bị các phiến quân thuộc sắc tộc Nuer sát hại. Và dĩ nhiên, cho tới nay vẫn có nhiều người thuộc hai sắc tộc thù nghịch này cùng sống chung trong một trại tỵ nạn.
Phóng viên James Copnall của Đài BBC đã gặp hai người đàn ông như thế trên một sân bóng rổ: Acuil Banggol là người sắc tộc Dinka và William Deng thuộc sắc tộc Nuer. Hai người đàn ông này cho biết họ đã là bạn của nhau từ năm 1977. Họ nói rằng họ không muốn để cho chính trị chia rẽ họ và biến họ thành kẻ thù của nhau.
Trên sân bóng rổ, trong trường học, nơi chợ búa, bên trong các làng mạc và ngay cả trong các đơn vị của quân đội Nam Sudan, hầu như bất cứ người dân nào cũng chỉ biết mong mỏi hòa bình.
Niềm khao khát ấy cùng với một chút áp lực được tạo trên các chính trị gia bị ràng buộc với các cộng đồng sắc tộc của họ, có thể là cơ hội tốt nhất mang lại hòa bình và phát triển cho quốc gia được xem là non trẻ nhất trên bản đồ thế giới hiện nay.



Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2016

Mưa tím


Chu Thập
29.4.16
Úc Đại Lợi vừa kỷ niệm lần thứ 101 ngày Anzac. Một trong những người sống sót cuối cùng của  khoảng 60 ngàn binh sĩ Úc và Tân Tây Lan tham gia  cuộc đổ bộ lên bờ biển Gallipoli, Thổ Nhĩ Kỳ ngày 25 tháng 4 năm 1915 là ông Alec Campbell đã qua đời năm 2002. Trong số những người hành hương mỗi năm sang Gallipoli hay tham gia các cuộc tưởng niệm tại khắp nơi ở Úc Đại Lợi, người ta chẳng còn thấy bóng dáng của bất cứ một nhân chứng sống nào của biến cố nữa. Vậy mà hàng năm, dù xuất phát từ gốc gác nào, dù thuộc chủng tộc, mầu da hay văn hóa nào, tất cả mọi người Úc, kể cả người Úc gốc Việt cũng đều cảm thấy biến cố lịch sử đó như một phần của cuộc sống của mình.
Đối với người Úc gốc Việt, ngày Anzac còn có một ý nghĩa đặc biệt như thế huống chi là “Tháng Tư Đen”. 41 năm là một quãng thời gian dài trong đời người. Nhưng với phần lớn người Việt tỵ nạn đang sống rải rác trên khắp thế giới, Tháng Tư Đen có lẽ chỉ như một ác mộng  mới xảy ra hôm qua.
Đó là cảm nghiệm riêng của tôi. Tháng Tư Đen  có 30 ngày thì ngày mùng một tháng tư đã bắt đầu được “đếm” tại Thành phố Nha Trang của tôi. Nếu có được sống đến 103 tuổi như cụ Campbell và dĩ nhiên nếu  không bị lú lẫn thì, nếu có ai hỏi tôi hình ảnh nào đáng ghi nhớ nhứt trong Tháng Tư Đen, tôi sẽ không ngần ngại  trả lời rằng đó là cơn mưa lạ lùng đổ xuống trên thành phố thân yêu của tôi.
Miền trung, nếu tính từ Bình Thuận trở ra đến Bình Định, có lẽ là vùng ít có mưa nhứt của Việt Nam. Mỗi năm, trời chỉ “hành” vài cơn lụt trong tháng 9 và tháng 10 Âm lịch, sau những trận mưa thúi đất kéo dài đến cả hai ba tuần lễ. Thời gian còn lại, tính từ tháng 3 cho đến tháng 8 âm lịch, là mùa khô. Bước vào tháng Tư Dương lịch, người ta đã nghe được từng cơn gió nồm đốt cháy cả thịt da. Vậy mà không hiểu sao, tôi vẫn còn nhớ rõ, suốt cả đêm mùng một tháng tư năm 1975, bầu khí ngột ngạt do làn sóng người di tản từ khắp nơi đổ về Nha Trang tạo ra  lại càng nóng rực lên để rồi sau đó biến thành một cơn mưa tầm tã kéo dài cho đến hết ngày mùng hai là ngày thành phố được “bên thắng cuộc” tuyên bố được hoàn toàn “giải phóng”. Suốt ngày mùng hai năm đó, tôi đã như nhà văn Trần Dần (1926-1997) của Thời Nhân Văn Giai Phẩm ngoài Bắc, “tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”. Dĩ nhiên, trong những ngày đầu khi các bộ đội “Cụ Hồ” trong bộ ca ki Nam Định và dép râu ngồi trên những chiếc xe tăng 54 ngơ ngác tiến vào thành phố và những ông “cách mạng 30” như “chó tháng Bảy” chạy loanh quanh thành phố để ca mừng chiến thắng, người ta chỉ mới thấy được trương lên cờ giải phóng. Nhưng có lẽ trong ánh mắt buồn thảm của tôi và của người dân Thành phố Nha Trang , “mưa sa” đã biến mọi thứ thành màu đỏ.
Nhìn đâu cũng thấy “mưa sa trên màu cờ đỏ” cho nên ánh mắt của tôi  có khi cũng bị hoa lên để chỉ thấy toàn màu đen của chết chóc và thất vọng. Dĩ nhiên, trong những ngày đầu, khi chứng kiến cảnh một vài chiếc oanh tạc cơ của Không lực Việt Nam Cộng Hòa từ phía nam bay ra để dội bom xuống Cầu Bóng hầu chận đường tiến của Cộng quân, một vài người, trong đó có tôi, vẫn còn ngây ngô để  nuôi chút hy vọng hão huyền là Thành phố Nha Trang sẽ được “giải phóng” ngược hay ít ra một số tỉnh ở phía Nam sẽ không rơi vào tay Cộng sản. Nhưng rồi cứ nghe các bài phóng sự và tường thuật của Đài BBC “dẫn đường” cho quân đội Bắc Việt tiến vào phía Nam, nhìn quanh quẩn tôi chẳng còn thấy có chân trời nào nữa. Bầu trời như sụp xuống. Cho tới lúc đó tôi chưa từng biết thế nào là thất tình hay trải qua bất cứ sóng gió nào trong cuộc sống tình cảm. Vậy mà không biết sao tôi lại cứ ngâm nga bài “Nửa hồn thương đau” để rồi cứ lập đi lập lại câu: “nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt”. Thật ra đâu có cần phải nhắm mắt mới thấy “một chân trời tím ngắt”. Mắt vẫn mở trao tráo mà chẳng còn thấy bất cứ một thể hiện hay biểu trưng nào của hy vọng, sự tin tưởng, niềm vui và nhứt là nụ cười của con người.
Trong nhiều biểu hiện của chết chóc trong thiên đàng cộng sản vừa mới chớm nở, cái chết của nụ cười hẳn phải là nét đặc trưng nhứt. Người ta không còn muốn cười vì nhìn đâu cũng thấy bế tắc. Người ta không còn muốn cười vì đã bắt đầu nhìn đâu cũng thấy kẻ thù.
Mới đây, một người Úc tên là Elliott Davies, không rõ do một cơ duyên nào đó đã được may mắn viếng thăm “thiên đàng cộng   sản” Bắc Hàn. Những hình ảnh ông thu thập được và được cho đăng tải trên báo Daily Mail và Đài ABC phần lớn được tập trung vào một chuyến đi xuyên qua một tuyến đường xe lửa ngầm tại Thủ đô Bình Nhưỡng. Đường xe lửa ngầm này được xem là sâu nhứt  thế giới và có lẽ cũng là một trong những tuyến đường đẹp và sạch sẽ nhứt thế giới. Có những chỗ phải mất đến cả 4 phút mới xuống đến trạm xe trong lòng đất.  Trong những hình ảnh tác giả thu được, ở bất cứ trạm nào người ta cũng chỉ thấy hình tượng của “cha già dân tộc” Kim Nhật Thành và con ông, Kim Chính Nhật. Trong những bức chân dung được tô vẽ rất hoành tráng hoặc những bức tượng chạm vàng óng ánh, đây là 2 khuôn mặt biết cười duy nhứt trong thiên đàng cộng sản Bắc Hàn. Còn những gương mặt của tất cả mọi hành khách trên bất cứ chuyến xe lửa ngầm nào được tác giả thu hình được, cũng đều trông giống như những người máy lạnh lùng, vô cảm và dĩ nhiên không biết cười. Trong các cuộc biểu dương công cộng, người dân Bắc Hàn có thể vỗ tay, có thể múa nhảy, có thể cười và ngay cả khóc. Nhưng tất cả mọi động tác đương nhiên đều được làm theo lệnh. Họ đúng là những cái xác chết biết đi.
Có lẽ đó là cũng là cảm nhận của tôi khi nhìn vào thiên đàng cộng sản vừa mới được khai sinh trong thành phố của tôi trong những ngày đầu tháng Tư năm 1975. Người dân đã bắt đầu biết thế nào là phải nhìn trước ngó sau trước khi mở miệng để nói hay ngay cả để cười. Tầm nhìn bị thu ngắn lại. Cường độ của giọng nói cũng phải bị giảm lại. Ánh mắt như bị che kín bởi toàn mầu đen cho nên  không còn dám tự nhiên trao gởi niềm tin nơi người khác. Tựu trung, buồn thảm là biểu lộ duy nhứt mà người dân trong chế độ cộng sản còn được tự do để bày tỏ.
41 năm đã qua, nhưng nhìn lại những ngày đầu tháng Tư trong thành phố thân yêu của mình, tôi vẫn thấy như mới hôm qua. Ngày nay, cũng như phần lớn những người tỵ nạn Việt Nam trên khắp thế giới,  tuy không thuộc thành phần ăn nên làm ra, nhưng tôi đã có cuộc sống ổn định. Lâu lắm rồi, tôi không còn thấy mình được ăn cỗ trong những giấc mơ. Tôi cũng chẳng còn bị công an rượt đuổi trong những cơn ác mộng. Ngay từ những đầu khi đặt chân đến đất nước đã đón nhận mình, tôi đã có thể đi từ nước này qua nước khác mà chẳng cần phải xin chiếu khán. Đến bất cứ một nơi xa lạ nào, tôi cũng chẳng cần phải đến bất cứ một văn phòng nào để trình “hộ chiếu” hay “đăng ký tạm trú”. Nói gì đến các quyền tự do khác. Chẳng có ông cảnh sát hay công an nào rình rập xem tôi có ăn nói “phản động” hay không.
Tôi có cuộc sống ấm no. Tôi hiểu được thế nào là tự do và dân chủ. Tuy nhiên, mỗi năm cứ mỗi lần “Tháng Tư Đen” trở lại, cứ mỗi lần nhớ lại những ngày đầu bước vào “thiên đàng cộng sản” và nhứt là ngày nay khi nhìn vào xã hội Việt Nam trong đó bao nhiêu người thân và đồng bào của mình vẫn đang tiếp tục quằn quại trong kiếp đọa đày, tôi lại thấy những đám mây đen của những ngày đầu tháng Tư trong thành phố thân yêu của tôi hiện về.
Biết chừng nào mới hết “mưa sa trên màu cờ đỏ”? 41 năm rồi, năm nào cứ Tháng Tư Đen trở về tôi cũng đều tự hỏi như thế và rồi tự nuôi hy vọng “trước sau gì cơn ác mộng cũng sẽ qua đi thôi”.
Sự ra đi bất thần của ca nhạc sĩ nổi tiếng Prince đã khiến cho cả thế giới thương tiếc. Trước đây thỉnh thoảng tôi có nghe nói đến tên ông, người đã từng 7 lần đoạt giải âm nhạc danh giá Grammy Awards và năm 2004 được “phong thần” trong bảo tàng viện danh giá “The Rock and Roll Fame and Museum”. Sở dĩ tôi chú ý đến người ca nhạc sĩ tài ba này là vì trong những ngày vừa qua truyền màn ảnh truyền hình, ca khúc có tựa đề ngộ nghĩnh “Purple Rain” (mưa tím) của ông cứ được phát đi phát lại. Có lẽ đây là ca khúc nổi tiếng nhứt của người nghệ sĩ này. Nghe tiếng Anh lõm bõm, tôi không hiểu hết được bài hát. Nhưng khi mở Google để đọc lại toàn văn ca từ, tôi  nhận thấy có những câu thật dễ thương. Chẳng hạn như những câu: “ Anh chỉ muốn thấy em tắm trong mưa tím....Anh chỉ muốn thấy em đi trong mưa tím... Cưng ơi, anh biết rằng thời gian đang thay đổi. Đã đến lúc tất cả chúng ta phải vươn lên một cái gì mới mẻ. Em cũng vậy”.
41 năm qua, nhìn lại lịch sử thế giới, tôi thấy có những điều bất ngờ xảy ra ngoài dự đoán của mọi người. Đáng chú ý nhứt dĩ nhiên là sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại Đông Âu năm 1989 và hai năm sau đó là sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại cái nôi sinh ra nó là Nga. Ngày nay, sau khi Nghị viện Âu Châu thông qua nghị quyết ngày 25 tháng 10 năm 2010, qua đó lên án những tội ác chống lại nhân loại của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa này đã bị quăng vào sọt rác của lịch sử nhân loại. Chuyện xảy ra trong thế giới cộng sản tại Đông Âu và Nga tưởng như chỉ có trong mơ. Tôi thấy mình có đủ lý do để lạc quan khi nhìn về viễn ảnh của chế độ cộng sản tại Việt Nam. Tôi hy vọng và tin tưởng rằng chế độ cộng sản trước sau gì cũng sẽ sụp đổ trên quê hương. Niềm mơ ước duy nhứt và lớn nhứt còn lại của tôi trước khi nhắm mắt lìa đời là được nhìn thấy niềm vui vỡ bờ của người dân Âu Châu khi được giải phóng khỏi Đức Quốc xã và các chế độ cộng sản cũng được lập lại trên quê hương mình.
“Mưa tím” đã từng che kín cả bầu trời của thành phố Nha Trang của tôi trong những ngày đầu Tháng Tư Đen. Nhưng cũng như ca nhạc sĩ Prince đã nói đến sự thay đổi của thời gian, tôi cũng muốn tin tưởng lập lại câu nói quen thuộc: “Sau cơn mưa trời lại sáng”.
Không những chỉ trong cái nhìn về chế độ cộng sản tại Việt Nam, mà còn trong cả cuộc sống hàng ngày, xuyên qua những đám mây mù của thất bại, bệnh tật, khổ đau và ngay cả tuổi già, tôi cho rằng con người chỉ thực sự cảm thấy tự do khi biết nhìn về tương lai với niềm lạc quan và vui sống. Với tôi đó cũng là bí quyết để luôn được sống thanh thản và an bình.





Thứ Tư, 4 tháng 5, 2016

Bài học lịch sử dành cho tôi



Chu Thập
6.6.12




Mừng sinh nhựt thứ 86 của nữ hoàng Elizabeth II và kỷ niệm 60 năm bà lên ngôi, tôi ngồi ngẫm nghĩ và cười thầm. Vua Bảo Đại thoái vị được một năm thì tôi mới chào đời. Như vậy, gần một nửa đời người sống ở Việt nam, tôi chưa từng được làm tôi cho một ông hoàng bà chúa nào cả. Vậy mà giờ đây, ở nửa đời còn lại, thằng tôi da vàng mũi tẹt đang sống ở vùng đất Miệt Dưới này bỗng trở thành thần dân của một nữ hoàng đang ngồi trên ngai cách tôi đến cả nửa vòng trái đất. Như vậy mà không buồn cười sao?
Khi tôi vừa đến tuổi có trí khôn thì Tổng thống Ngô Đình Diệm ra nhiếp chính. Đây là “thời thái bình cửa thường mở ngỏ” duy nhứt trong đời tôi. Mỗi năm, cứ Tết đến, tôi được đi chơi “Bài Chòi” suốt đêm mà không sợ một ông du kích Việt  cộng  nào bắt cóc, chặt đầu hay gài mìn đặt bom cho tan xác cả.  Hầu như trong làng nào cũng có cất một cái rạp bằng tre và lợp bằng lá dừa. Trong suốt gần một tháng Giêng “ăn chơi”, lúc nào cũng có một gánh Hát Bội về giúp vui. Năm nào gánh hát bội đến “hát” trong làng tôi cũng diễn những tuồng quen thuộc trong đó có những nhân vật mà cha tôi thường nhắc đến như Tiết Đinh San, Tiết Nhơn Quý hay Phàn Lê Huê gì đó. Lũ con nít chúng tôi chẳng hiểu gì về vở tuồng mà chỉ dán mắt vào những gương mặt cải trang diêm dúa đến tận cùng của mấy ông bà đào kép. Nhìn những gương mặt trông buồi cười, cách phục sức chẳng giống ai và điệu bộ xàng qua xàng lại của các diễn viên cũng đủ cười rồi, huống chi là nghe những tiếng gào thét ứ ự trong cổ của họ.
Không hiểu sao tôi lại liên tưởng đến những cảnh “hát bội” ấy mỗi khi nhìn mấy ông bà thẩm phán trong các tòa án tại một số cựu thuộc địa của Anh quốc. Ở tận bên Phi Châu hay mất hút trên các đảo quốc Thái Bình Dương, mỗi khi ngồi vào ghế để xét xử, những ông bà quan tòa, tóc vốn quắn tít chẳng còn một kẽ hở, lại đội lên đầu một bộ tóc giả bạc phơ của mấy ông hoàng bà chúa thời Trung cổ bên Tây. Cứ nhìn vào đó là tôi lại thấy tức cười!  Và dĩ nhiên, cứ nghĩ đến chuyện mình chạy trốn khỏi chế độ độc tài cộng sản để rồi trở thành thần dân của một nữ hoàng, tôi cũng thấy buồn cười không kém.
Nhưng nghĩ lại, tôi thấy mình phải cám ơn Vương quốc Anh. Không có cái vương quốc thực dân dẫm chân lên khắp năm châu bốn bể này thì làm gì có một quốc gia Úc đại lợi để tôi “kiếm” được một chỗ dung thân trong những ngày cuối đời. Không có mẫu quốc Anh thì làm gì có cái “nước con Úc đại lợi” là nơi đã mở rộng vòng tay để đón nhận tôi làm con dân, là nơi tôi đang hít thở không khí tự do và có được cuộc sống hạnh phúc. Tôi không biết rồi đây phong trào Cộng Hòa có đủ mạnh để Úc đại lợi được “nghỉ chơi” với mẫu quốc và chính thức tuyên bộ độc lập không. Thật ra, cần gì phải tuyên bố là một nước “Cộng Hòa” với đầy đủ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” như “cộng hòa xạo hết chỗ nói” ở Việt nam, Úc vẫn là một quốc gia chẳng lệ thuộc và chẳng sợ thằng Tây nào cả. Cũng chẳng cần rêu rao quảng cáo, quốc gia này vẫn tạo ra đầy đủ mọi điều kiện để tôi có thể sống thật sự hạnh phúc, nếu không hơn thì cũng chẳng thua bất cứ một nước văn minh nào trên thế giới này. Còn tự do ư?  Còn đâu tôi cảm thấy tự do cho bằng trong đất nước này. Có mở miệng yêu cầu nữ hoàng của tôi đừng bén mảng tới Úc đại lợi hay bêu diễu bà thì tôi cũng chẳng sợ bị đày ải, tru di tam tộc hay bị đưa đi cải tạo mút mùa như khi tôi “đụng” một chút tới mấy ông vua quan cộng sản Việt nam. Cho nên, với tôi, được làm công dân của một Cộng Hòa Úc đại lợi hay tiếp tục làm thần dân của một nữ hoàng cũng chẳng có gì thay đổi hay mất mát cả.
Ai cũng biết rằng sự tồn tại của một nữ hoàng, một hoàng gia hay nói chung một chế độ quân chủ tại Vương quốc Anh thống nhứt vào thế kỷ 21 này chỉ có tính cách tượng trưng. Biểu tượng này có lẽ sẽ mãi còn đó để không những cho người dân Anh chính hiệu tự hào về quá khứ oanh liệt hào hùng của họ mà cũng nhắc nhở cho thế giới này rằng không cần phải làm cách mạng đẫm máu để lật đổ một chế độ quân chủ, để sát hại một ông vua và cả một hoàng tộc như trường hợp Pháp hay Nga mà vẫn có được dân chủ và tự do như Anh quốc, như một số quốc gia Âu châu hay như Nhựt Bổn và Thái Lan ở Á châu. Biểu tượng ấy cũng muốn nói với thế giới rằng lịch sử vốn là bệ phóng để tiến tới chứ không phải để ngồi đó mà dậm chân tại chỗ. Tôi vẫn thường tự hỏi: nếu không có một vương quốc Anh đi thực dân thì liệu ngày nay có một Hiệp chủng quốc Hoa kỳ hùng mạnh để, không những quảng bá văn minh kỹ thuật, nền dân chủ, mà còn đứng ra làm trọng tài hữu hiệu trong nhiều cuộc xung đột và chiến tranh trên khắp thế giới không?
Tôi tin ở sức mạnh đào thải của lịch sử. Ai không đi theo trào lưu tiến bộ của lịch sử thì sẽ bị kết án là lạc hậu và thoái hóa. Tôi thấy vừa tức cười vừa tức giận khi nghe tổng bí thư Việt nam, ông Nguyễn Phú Trọng, tuyên bố tại hội nghị trung ương Đảng mở rộng mới đây rằng Đảng cộng sản Việt nam sẽ không bao giờ chấp nhận “tam quyền phân lập” (Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp). Nghe chẳng khác nào câu nói nổi tiếng của vua Louis XIV (1638-1715) của Pháp quốc: “Nhà nước chính là ta” (L’Etat c’est moi!), ta nắm hết mọi quyền hành trong tay, mọi tài sản trong nước thuộc về ta, ta muốn cho ai sống chết là quyền của ta, ta là tất cả!  Không chấp nhận “tam quyền phân lập”, Đảng cộng sản Việt nam hành xử khác nào vua Louis XIV. Cách đây 300 năm mà thế giới còn không chấp nhận một lời tuyên bố như thế huống chi là ngày nay.
Lịch sử luôn tiến tới cho nên tôi luôn nhìn vào các biến cố lịch sử với tinh thần lạc quan. Thời nào cũng có chiến tranh. Nhưng cứ sau một lần chiến tranh, nhân loại lại xích lại gần nhau hơn, ý thức về phẩm giá con người lớn thêm, những ý niệm về nhân quyền lại được làm sáng tỏ hơn và nhứt là tình liên đới, sự tương trợ và tương thuộc lại mạnh hơn. Chưa bao giờ nhân loại tự xem là một “đại gia đình” cho bằng trong thế kỷ 21 này.
Lạc quan khi nhìn vào những biến cố lịch sử, tôi cũng cảm thấy được thúc đẩy để tin tưởng hơn về cuộc sống của chính bản thân. Chúa nhựt 1 tháng 7 vừa rồi, Kitô giáo mừng lễ “Một Chúa Ba Ngôi”. Trong bài giảng thánh lễ, vị linh mục thú nhận rằng ông chẳng hiểu gì về “mầu nhiệm” này và bài giảng của ông thì tôi cũng phải thú nhận, tôi cũng chẳng hiểu gì. Đi lễ mỗi chúa nhựt mà không được bồi dưỡng bằng một lời hay ý đẹp nào để sống một tuần lễ, tôi coi đó như một mất mát hơn. Cũng may, quớ được tờ nguyệt san của giáo phận biếu không để ở cuối nhà thờ, tôi mở trang cuối và đọc được những lời khuyên như sau:
“Đừng tìm cách hiểu mọi sự, vẫn có những điều sẽ chẳng bao giờ có ý nghĩa gì cả. Đừng bao giờ ngại bày tỏ cảm xúc của mình: khi bạn hạnh phúc thì cứ bảo mình hạnh phúc, khi bạn không hạnh phúc thì cũng hãy cố gắng sống với tâm trạng đó.
Đừng bao giờ sợ phải cố gắng làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn: bạn sẽ ngạc nhiên với những kết quả không ngờ!
Đừng bao giờ cảm thấy bị tương lai đe dọa: hãy sống từng ngày!
Đừng bao giờ để cho quá khứ dằn vặt: cái gì qua hãy cho qua, hãy rút ra bài học từ những sai lầm!
Đừng bao giờ cảm thấy đơn độc, vẫn luôn có ai đó để bạn nối kết với!
Đừng bao giờ quên rằng bạn có thể làm được nhiều điều mà bạn không tưởng tượng được...
Đừng bao giờ ngừng yêu thương.
Đừng bao giờ ngừng tin tưởng.
Đừng bao giờ ngừng mơ những giấc mơ của bạn” (BBN, Broken Bay News, Publication of the Catholic Diocese of Broken Bay, June 2012).
“Đừng bao giờ tìm cách hiểu mọi sự, vẫn còn những điều sẽ chẳng bao giờ có ý nghĩa gì cả”. Tôn giáo vốn có các “mầu nhiệm” đã đành, mà lịch sử và cuộc sống con người nói chung cũng đầy dẫy những “mầu nhiệm”. Mà “mầu nhiệm” của cuộc sống dường như chỉ có thể “nhìn” thấy qua sự cảm thông. Tôi thích suy niệm về giai thoại “Bữa cơm của Khổng Tử”: Lần kia, Khổng Tử dẫn các môn sinh của mình đi du thuyết từ nước Lỗ sang nước Tề. Trong đám môn sinh, có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai người học trò yêu quý nhứt của  Khổng Tử.
Thời Đông Châu Liệt Quốc, chiến tranh triền miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ. Thày trò Đức Khổng cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi qua ngày và cũng trải qua nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí; mọi người đều quyết tâm theo thày cho đến cùng.
May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà phú hào từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, cho nên mới đem biếu thày trò một ít gạo.  Khổng Tử liền phân công: Tử Lộ dẫn anh em vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc nấu cơm. Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi bắt đầu nấu cơm. Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, chỉ cách có một cái sân nhỏ.
Đang đọc sách, Khổng Tử bỗng nghe một tiếng động từ nhà bếp vọng lên. Ngài ngừng đọc và liếc mắt nhìn xuống thì thấy Nhan Hồi đang từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ. Xong đâu đó, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh và từ từ đưa cơm lên miệng.
Cử chỉ của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thày tôn kính. Ngài thở dài và ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ơi, học trò tín cẩn nhứt của ta mà lại đi ăn vụng, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi, bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”
Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về. Nhan Hồi lại luộc rau.  Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ. Một lát sau thì rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên. Tất cả các môn sinh đều chắp tay kính cẩn mời Khổng Tử dùng cơm. Ngài liền ngồi dậy và nói: “Các con ơi, chúng ta từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dậm, thày rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thày, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước. Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thày trò ta lại có được bữa cơm. Bữa cơm đầu tiên trên đất Tề làm thày chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thày nhớ đến cha mẹ thày, cho nên thày muốn xới một chén cơm để cúng cha mẹ thày, các con bảo có nên không?”
Trừ Nhan Hồi đang đứng im, các môn sinh khác đều chắp tay thưa: “Dạ thưa thày nên ạ”. Khổng Tử lại nói: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch không?”
Tất cả các môn sinh đều không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ, Nhan Hồi liền chắp tay thưa: “Dạ thưa thày, nồi cơm này không được sạch”.  Khổng Tử hỏi: “Tại sao?” Nhan Hồi liền thưa: “Khi cơm chín, con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó, con liền xới lớp cơm bẩn ra định ném đi nhưng lại nghĩ: cơm thì ít mà anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô tình làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế con đã mạn phép thày và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thày và anh em. Thưa thày, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi. Bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa. Con chỉ ăn phần rau. Và thưa thày, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ”.
Nghe Nhan Hồi giải thích, Đức Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật. Chao ôi, suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ”
Có những điều thấy vậy mà không phải vậy. Thiếu sự cảm thông, con người dễ có phán đoán “hồ đồ”. Đó là bài học mà lịch sử luôn dạy cho tôi!






Thứ Hai, 2 tháng 5, 2016

Pakistan và Hồ sơ Panama


29.4.16
Với 11 triệu hồ sơ được tiết lộ, “Hồ sơ Panama” cho thấy nhiều lãnh tụ chính trị và doanh nghiệp trên khắp thế giới có dính dáng đến những vụ rửa tiền trong các công ty “vỏ bọc”. Trong giới chính trị gia tại Á Châu, gia đình Thủ tướng Nawaz Sharif ở Pakistan là một trong những tên tuổi đáng chú ý.
Tên tuổi của thủ tướng Pakistan được nhắc đến trong “Hồ sơ Panama” vào giữa lúc ông đang phải đối đầu với một trong những thế lực mạnh nhất trong nước là quân đội.
Theo hồ sơ được tiết lộ, ba trong những người con của ông Sharif hiện đang làm chủ một số công ty “vỏ bọc” và tài sản này không được khai báo trong hồ sơ gia đình của ông.
Các công ty “vỏ bọc” của gia đình ông Sharif  gồm có: Nescoll  Ltd, Nielsen Enterprises Ltd  và Hangon Property Ltd. Cả ba đều đặt trụ sở tại  quần đảo thuộc Anh British Virgin Islands nằm trong vùng vịnh Caribe, phía đông Puerto Rico. Được gọi là “vỏ bọc” vì các công ty này được sử dụng như một thứ bình phong để che đậy và rửa tiền từ những nguồn bất chính hoặc để trốn thuế.
Thủ tướng Sharif hiện đang là lãnh tụ của Đảng PML-N (Liên Minh Hồi Giáo Pakistan). Với cuộc tổng tuyển cử năm 2013, Đảng này đã chiếm đa số ghế trong Quốc hội. Với sự tiết lộ của “Hồ sơ Panama” và sức ép của phe đối lập, Thủ tướng Sharif đã bất thần loan báo đi Anh hôm 13 tháng 4 vừa qua để khám bệnh. Dư luận cho rằng ông đang tìm cách né tránh vấn đề.
Các lãnh tụ của Đảng PML-N khẳng định rằng tên tuổi của ông Sharif không hề có trong các công ty “vỏ bọc” hay các tài sản được “Hồ sơ Panama” tiết lộ. Do đó, chịu trách nhiệm hay không là chuyện của con cái ông chứ không phải bản thân ông. Các lãnh tụ này cũng nói rằng hồ sơ được tiết lộ không hề nói đến hành động sai trái nào cả.
Riêng Thủ tướng Sharif gọi những tiết lộ trong “Hồ sơ Panama” là hành động của những người “đang nhắm đến ông và gia đình ông vì những mưu đồ chính trị”. Trong một bài diễn văn đọc trước quốc dân hôm 5 tháng 4 vừa qua, thủ tướng Pakistan nói rằng “những người sử dụng đồng tiền bất chính không bao giờ kê khai tài sản với tên tuổi của họ”. Ý ông muốn nói rằng tên tuổi của con cái ông và gia đình trong các công ty nói trên cho thấy họ chẳng có gì để che đậy. Trong bài diễn văn, ông Sharif loan báo sẽ nhờ một thẩm phán về hưu mở một cuộc điều tra về những cáo buộc trên đây. Tuy nhiên, đây là điều mà phe đối lập và các cơ quan truyền thông tại Pakistan đều bác bỏ, bởi vì như kinh nghiệm đã nhiều lần cho thấy, những cuộc điều tra như thế sẽ chẳng đưa tới kết quả nào cả.
Trong hàng ngũ đối lập, người đứng ra chỉ trích mạnh mẽ nhất là ông Imran Khan, lãnh tụ của Đảng PTI (Pakistan Tehreek-e-Insaf), tức Phong trào Tranh đấu cho Công lý tại Pakistan. Phong trào này đã từng tổ chức một cuộc tọa kháng trước Quốc hội Liên bang dạo tháng 8 năm 2014, khiến cho chính phủ của Thủ tướng Sharif phải bị tê liệt trong nhiều tháng. Nhiều người tin rằng lúc đó một số đơn vị an ninh đã ủng hộ những người biểu tình để ngăn ngừa Thủ tướng Sharif không quá lệ thuộc vào quân đội khi  đưa ra các chính sách đối nội cũng như đối ngoại. Những cuộc biểu tình do Phong trào Tranh đấu cho Công lý tổ chức đã làm cho chính phủ của ông Sharif suy yếu rất nhiều.
Sau khi “Hồ sơ Panama” được tiết lộ, ông Imran Khan đã yêu cầu ông Sharif từ chức cũng như Tổng trưởng Tư Pháp phải mở cuộc điều tra về những cáo buộc liên quan đến các công ty vỏ bọc của gia đình ông Sharif. Nếu yêu cầu của ông không được tôn trọng, ông Khan đe dọa sẽ tổ chức những cuộc biểu tình, kể cả một cuộc tọa kháng trước tư dinh của ông Sharif tại Lahore. Nhiều nhóm đối lập khác, tuy không đòi  ông Sharif phải  từ chức hoặc tổ chức các cuộc biểu tình, cũng yêu cầu Bộ Tư Pháp phải mở một cuộc điều tra.
Thủ tướng Sharif hiện đang trong thế tứ bề thọ địch. Thật ra, tai tiếng về tham nhũng của ông không chỉ mới nổ ra sau khi “Hồ sơ Panama” được tiết lộ. Những tố giác về tham nhũng của ông đã có từ thập niên 1980. Tất cả những gì mà “Hồ sơ Panama” tiết lộ đều đã từng là đối tượng của một cuộc điều tra của Bộ Tư Pháp Pakistan vào giữa thập niên 1990. Nhưng năm 1997, khi lên cầm quyền, ông Sharif đã ra lệnh đóng lại hồ sơ với lời giải thích rằng cuộc điều tra “có động cơ chính trị”.
Nhưng lần này ông và gia đình ông không thể tránh né vấn đề được nữa. Họ phải nhìn nhận rằng các công ty mà họ đang có ở nước ngoài chỉ là những công ty “vỏ bọc” được thiết lập để rửa hoặc cất giữ những đồng tiền có nguồn gốc bất chính hoặc không rõ ràng.
Các tai tiếng về tham nhũng của Thủ tướng Sharif xảy đến vào giữa lúc ông đang cố gắng tìm sự cân bằng giữa chính phủ dân sự và ảnh hưởng của quân đội trong việc đề ra các biện pháp an ninh và các chính sách đối ngoại.
Hôm Thứ ba 19 tháng 4 vừa qua, Tham mưu trưởng Quân đội Pakistan, Tướng Raheel Sharif đã tuyên bố rằng cuộc chiến chống khủng bố không thể nào thành công nếu tham nhũng không được nhổ tận gốc rễ. Nhiều người cho rằng tham mưu trưởng quân đội đưa ra lời tuyên bố trên đây vào lúc này là có chủ ý. Ông không chỉ nhắm đến mối đe dọa của khủng bố cho bằng nhắn gởi đến Thủ tướng Sharif lời cảnh cáo của chính quân đội.
Trong tình thế hiện nay, một số người đã dự đoán một số kịch bản có thể xảy cho Pakistan. Một trong những kịch bản đó là những cuộc biểu tình phản đối chính phủ và cuộc xung đột trong xã hội sẽ ngày càng trầm trọng hơn. Cuộc đối đầu giữa chính phủ và phe đối lập sẽ gay gắt hơn. Nhưng kịch bản được nhiều người dự đoán nhất là: chính phủ của Thủ tướng Sharif sẽ suy yếu và để tồn tại, ông sẽ phải thỏa hiệp với quân đội.
Kể từ thời lập quốc đến nay, Pakistan luôn giao động giữa dân chủ và chế độ quân phiệt. Các chế độ quân phiệt tại nước này luôn sử dụng tham nhũng để cai trị.
Năm 1976, sau khi được Thủ tướng Zulfikar Ali Bhutto bổ nhiệm làm tham mưu trưởng quân đội, Tướng Zia ul-Haq đã thực hiện một cuộc đảo chính. Sau khi lật đổ Thủ tướng Bhutto, Tướng Haq ban hành thiết quân luật trên toàn quốc, mang ông này ra xét xử trong một phiên tòa đầy tranh cãi và hai năm sau đó ra lệnh xử tử ông. Năm 1978, ông Haq tự phong làm tổng thống Pakistan cho đến khi qua đời vào năm 1988. Một trong những ảnh hưởng lớn nhất của ông đối với chính trường Pakistan là đã tạo ra được một tầng lớp chính trị gia mới hoàn toàn đi theo đường lối của ông và thiết lập một hệ thống tài chính mở ngõ cho tham nhũng mà không hề bị truy tố.
Trong một xã hội mà gia đình và các quan hệ thị tộc quyết định về việc phân phối việc làm và hoạt động kinh doanh, tham nhũng trong chính trị là điều không thể tránh khỏi. Cũng trong một chế độ như thế, trong khi các chính trị gia luôn bị điều tra về tham nhũng, thì quân đội và ngành tư pháp hoàn toàn được miễn tố. Nói cách khác cho tới nay, tại Pakistan, quân đội và ngành tư pháp vẫn là hai thế lực mạnh nhất trong xã hội. Chính phủ hầu như không có quyền kiểm soát hai ngành này. Trong quá khứ quân đội và tư pháp đã không ngừng cấu kết với nhau để loại trừ các chính trị gia ra khỏi chính quyền, nhưng lại không hề đụng đến những hành động mờ ám của mỗi bên. Ngay cả trường hợp các sĩ quan về hưu có bị tố cáo biển thủ của công cũng không hề bị mang ra xét xử. Về phía tư pháp, mới đây một thẩm phán đương nhiệm  đã bị tố cáo nhận tiền đút lót của một nhà tài phiệt địa ốc và ít nhất  đã có hai thẩm phán khác, mà một đã về hưu, có tên trong “Hồ sơ Panama”.
Một khi quân đội và ngành tư pháp đứng trên pháp luật như thế và Pakistan lại liên tục rơi vào tình trạng xáo trộn thì dân chủ, pháp quyền và sự minh bạch trong việc cai trị tại nước này là những ý niệm chỉ có trên lý thuyết.
Pakistan mà tên gọi chính thức là Cộng hòa Hồi giáo Pakistan là một quốc gia tại Nam Á có một lịch sử đặc biệt. Với gần 200 triệu dân, Pakistan là quốc gia có đông dân số đứng hàng thứ 6 trên thế giới. Trong các nước Hồi giáo trên thế giới, Pakistan là nước duy nhất được thành lập nhân danh Hồi giáo và gồm 2 phần chia cách bởi Ấn Độ thường được gọi là Đông Hồi và Tây Hồi. Pakistan đã phải trả một giá đắt khi tách lìa khỏi Ấn Độ. Đã có trên 10 triệu người sử dụng mọi phương tiện ngay cả đi bộ để tham gia vào cuộc xuất hành tiến về đất hứa. Trong cuộc hành trình này đã có từ 200 đến 500 ngàn người bị thiệt mạng. Nhưng sự thống nhất giữa hai miền Đông Hồi và Tây Hồi dựa trên Hồi giáo đã không diễn ra một cách tốt đẹp.  Cuộc nội chiến năm 1971 đã đưa đến việc Đông Hồi tách khỏi Pakistan và trở thành Bangladesh.
Tây Hồi, tức Cộng hòa Hồi giáo Pakistan ngày nay là một nước cộng hòa đại nghị gồm có 4 tỉnh và 4 lãnh thổ liên bang. Tuy vẫn còn bị xếp vào hàng ngũ các quốc gia đang phát triển, Pakistan lại có một quân đội xếp hàng thứ 7 trên thế giới. Ngoài ra trong  thế giới Hồi giáo, Pakistan là nước duy nhất có vũ khí nguyên tử.
Sau khi tách khỏi Ấn Độ để trở thành một quốc gia độc lập, Pakistan phải trải qua nhiều chế độ quân phiệt và bất ổn chính trị triền miên. Ngoài ra, chỉ mới gần đây thôi, những cuộc xung đột liên tục giữa Pakistan và Ấn Độ mới được xoa dịu phần nào. Bất ổn chính trị đã khiến cho Pakistan phải đối đầu với rất nhiều vấn đề như nhân mãn, khủng bố, nghèo đói, mù chữ và nhất là tham nhũng.
Tham nhũng là hiện tượng phổ quát tại quốc gia Hồi giáo này. Tham nhũng diễn ra ở mọi qui mô, từ trên chính phủ xuống đến cảnh sát. Năm 2014, theo Chỉ số Tham nhũng được Tổ chức “Transparency International” (Minh bạch Quốc tế) công bố, Pakistan đứng hạng 126 trong 174 nước được khảo sát.
Tham nhũng là một thứ dịch bệnh đã có trong xương tủy của Pakistan ngay từ thời lập quốc. Ở khởi đầu, chính các chính sách quốc hữu hóa của Thủ tướng Zulfikar Ali Bhutto đã mở đường cho tham nhũng bởi vì những chính sách này đầy những kẽ hở để cho những thành phần ưu tú trong xã hội lợi dụng để trục lợi. Đến lượt mình, nhà độc tài quân phiệt Muhammad Zia ul-Haq lại ban hành những chính sách tư hữu hóa. Những cơ chế được thành lập dựa trên các chính sách này rốt cục chỉ làm lợi cho một thiểu số tài phiệt. Đương kim Thủ tướng Nawaz Sharif xuất thân từ giới tài phiệt này.
Trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2013, chính phủ liên hiệp do Đảng PPP (Pakistan Peoples Party: Đảng Nhân dân Pakistan) lãnh đạo đã bị chỉ trích như là chính phủ tham nhũng nhất trong lịch sử nước này. Cuộc tổng tuyển cử năm 2013 đã đưa Đảng Liên minh Hồi giáo do ông Sharif lãnh đạo lên cầm quyền. Người dân Pakistan đã đặt nhiều kỳ vọng vào Thủ tướng Sharif trong việc bài trừ tham nhũng. Nhưng “Hồ sơ Panama” lại cho thấy dịch bệnh tham nhũng vẫn tiếp tục hoành hành tại quốc gia Hồi giáo này.
(theo http://www.bbc.com/news/world-asia)