Thứ Hai, 14 tháng 3, 2016

Âu Châu và vấn đề tỵ nạn


11.3.16
Hôm thứ Hai 29 tháng 2 vừa qua, tại biên giới Macedonia và Hy Lạp đã diễn ra một cuộc xô xát giữa cảnh sát Macedonia và người tỵ nạn. Hiện nay tại Hy Lạp đang có khoảng 32 ngàn người tầm trú. Theo Bộ Nội vụ Hy Lạp, con số này có thể sẽ lên đến 70 ngàn. Riêng Tổ chức “Các Bác sĩ không Biên giới” dự đoán sẽ có khoảng 200 ngàn người tìm đến Hy Lạp. Các trại tiếp cư của nước này hiện đang đầy ứ. Với nợ nần chồng chất, Hy Lạp xem ra không còn khả năng đón nhận người tầm trú.
Trước làn sóng người tỵ nạn tìm cách vào lãnh thổ của mình để đi lần lên các nước khác ở phía Bắc Âu Châu, Macedonia đã quyết định đóng cửa biên giới của mình. Nước này đổ lỗi cho các nước ở phía Bắc. Theo Macedonia, chính vì các nước ở phía Bắc, cách riêng Áo quốc, đã siết chặt biên giới của họ mà các nước ở phía Nam cũng đồng loạt làm theo. Hôm 18 tháng 2 vừa qua, theo đề nghị của Thủ tướng Đức Angela Merkel, các nhà lãnh đạo Âu Châu đều nhận ra rằng giải pháp cho vấn đề tỵ nạn tại Âu Châu nằm ở Thổ Nhĩ Kỳ. Cần phải chận đứng làn sóng từ ngọn nguồn của nó là Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng trước khi giải pháp được thi hành thì Áo quốc và các nước trong vùng vịnh Balkan đã tự giải quyết lấy vấn để bằng cách đóng cửa biên giới của họ.
Idomeni là một thành phố nhỏ của Hy Lạp nằm sát biên giới Macedonia.Thành phố này hiện đang là biểu tượng của tình trạng chính trị hỗn loạn của toàn Âu Châu và sự thất bại của một chính sách tỵ nạn chung của lục địa này. Chính tại đây mà chính sách mở cửa biên giới để đón nhận người tỵ nạn do Thủ tướng Merkel đề ra đã chấm dứt. Với bước đi tiên phong của Áo quốc, các nước vùng vịnh Balkan cũng đóng cửa biên giới của họ.
Thủ tướng Đức đã cảnh cáo về viễn tượng Âu Châu có thể tan rã thành “những quốc gia nhỏ bé” không còn khả năng để cạnh tranh trong một thế giới đã toàn cầu hóa như ngày nay. Bà cũng lo sợ rằng rồi đây việc kiểm soát biên giới sẽ được tái lập trên toàn lục địa.
Hiện nay dân số lục địa là nửa tỷ người. Nếu có tiếp nhận thêm từ 2 đến 3 triệu người cũng không phải là một vấn đề lớn đối với Âu Châu. Vấn đề chỉ đặt ra khi các nước nhận ra sự cần thiết phải bảo vệ biên giới của mình. Áo quốc đã đứng ra tổ chức một Hội nghị với sự tham dự của 10 nước trong vùng vịnh Balkan. Hy Lạp không được mời tham dự vì bị cáo buộc đeo đuổi một  chính sách khuyến khích người tỵ nạn tìm đến Âu Châu. Tức giận vì bị loại trừ như thế, Hy Lạp đã rút đại sứ tại Áo về  và đình hoãn các cuộc gặp gỡ với Bộ trưởng Nội vụ Áo. Riêng thủ tướng Slovakia, ông Robert Fico cảnh cáo Hy Lạp rằng nếu nước này không chịu ra tay kiểm soát biên giới của mình, thì vì phúc lợi của Âu Châu cần phải hy sinh Hy Lạp.
Trong những năm gần đây, lục địa già nua Âu Châu đã phải đối phó với nhiều vấn đề, từ cuộc khủng hoảng đồng Âu Kim, đến sự bất đồng ý kiến liên tục giữa hai con ngựa đầu tàu trong việc thống nhất Âu Châu là Đức và Pháp, rồi kế đó là những yêu sách của Anh quốc để ở lại trong lục địa và nhất là thái độ hung hăng của Nga ở phía Đông. Chính trong một Âu Châu mệt mỏi và yếu nhược như thế mà làn sóng người tỵ nạn từ Đông Âu, Phi Châu và A Phú Hãn đã xuất hiện. Âu Châu là nơi mà các chính sách di dân của các nước gây nhiều tranh cãi nhất. Khắp nơi người ta thấy dấy lên những khuynh hướng ái quốc cực đoan. Cuộc khủng hoảng về người tỵ nạn đã góp phần làm cho những khuynh hướng này ngày càng mạnh hơn.
Sở dĩ Âu Châu có suy nhược một phần cũng vì Đức quốc không đóng trọn vai trò lãnh đạo của mình trong lục địa. Trong hàng bao thập niên qua, các chính trị gia Đức luôn tìm cách che đậy tham vọng của nước mình để chỉ nhấn mạnh đến công ích của lục địa. Nhưng kể từ khi đồng Âu kim gặp khủng hoảng, lợi dụng sức mạnh kinh tế của mình, Thủ tướng Merkel đã không che dấu những tham vọng và quyền lợi của Đức. Và một trong những tham vọng của Đức chính là củng cố đồng Âu kim. Nhưng để đạt được mục tiêu, bà Merkel đã buộc các nước ở phía Nam Âu Châu phải thắt lưng buộc bụng. Với biện pháp này, Đức muốn cho thấy mình đang đảm nhận vai trò chủ đạo ở Âu Châu.
Ảnh hưởng của bà Merkel cũng lên cao khi bùng bổ cuộc khủng hoảng về người tỵ nạn: bà loan báo một số chính sách được tóm gọn trong câu nói của bà “Chúng ta có thể làm được”. Nhưng dĩ nhiên, vì Đức muốn tỏ ra là con ngựa đầu tàu của Âu Châu thống nhất, cho nên những chính sách tỵ nạn do bà Merkel đề ra cũng có những hậu quả không thể tránh được đối với toàn thể Âu Châu. Thủ tướng Đức đã đơn phương đề ra chính sách tỵ nạn mà không hề tham khảo ý kiến của các nhà lãnh đạo khác trong lục địa. Rốt cục, chính sách do bà Merkel đề ra đã tỏ ra bất khả thi: hầu hết các nước khác đã bày tỏ lập trường riêng của họ và đưa ra chiến thuật riêng để chận đứng làn sóng người tỵ nạn.
Nhận thấy mình đã “hớ” khi đề ra một chính sách quá quảng đại đối với người tỵ nạn, Thủ tướng Merkel đã thay đổi lập trường của mình. Trước đây, cũng như một số nước khác, bà đề nghị phân phối người tỵ nạn ra toàn Âu Châu, nay bà xem việc kiểm soát biên giới như ưu tiên hàng đầu.
Hiện nay  tại Đức, chẳng còn ai nhắc tới những cử chỉ nhân đạo như đã từng thấy dạo tháng 9 năm vừa qua khi Thủ tướng Merkel ra lệnh mở cửa biên giới Đức để đón nhận hàng ngàn người tỵ nạn bị mắc kẹt ở Hungary. Dân chúng Đức chẳng còn tha thiết mấy trước cảnh tượng đã xảy ra tại biên giới Macedonia hôm thứ Hai tuần trước.
Vẫn biết con số người tỵ nạn ngày càng đông tại Hy Lạp có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo, nhưng rất nhiều chính phủ Âu Châu dường như đã thở ra nhẹ nhõm. Cảnh tượng người tỵ nạn bị mắc kẹt tại Hy Lạp có thể gởi đi một thông điệp cho những ai muốn rời bỏ xứ sở để tìm đến Âu Châu. Trong một chuyến viếng thăm mới đây tại Hy Lạp, Chủ tịch Hội Đồng Âu Châu, ông Donald Tusk đã kêu gọi những người “di dân kinh tế” đừng tìm cách đến Âu Châu nữa. Họ không những sẽ mất tiền mà còn mất cả mạng sống nữa.
Về phần mình, lâu nay chính phủ Hy Lạp dường như không muốn nhìn nhận có một cuộc khủng hoảng về người tỵ nạn. Chính phủ này đã đeo đuổi chính sách khuyến khích người tỵ nạn tìm đến Hy Lạp để từ đó đi đến các nước khác mà không nghĩ rằng sẽ đến lúc sự hiện diện của người tỵ nạn trên đất nước mình trở thành một gánh nặng.
Hàng chục ngàn người tỵ nạn đang chen chúc nhau tại Idomeni mặc dù chưa có một trại tỵ nạn nào đã được hình thành. Một số khác cũng đã có mặt tại nhiều nơi khác. Cho đến nay, chính phủ Hy Lạp cũng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bắt người tỵ nạn phải ghi danh sau khi họ đã từ Thổ Nhĩ Kỳ vượt biển qua Hy Lạp. Sau khi đã đắc cử trong cuộc bầu cử dạo tháng Giêng năm 2015, Thủ tướng Tspiras đã cho thành lập Bộ Di trú. Tháng 10 vừa qua, chính phủ hứa sẽ cho thiết lập trại tạm cư để đón tiếp thêm 50 ngàn người tỵ nạn. Nhưng cho tới nay, ngoài một số lều dã chiến do quân đội dựng lên, Chính phủ Hy Lạp vẫn chưa thành lập được bất cứ một trại tỵ nạn có tổ chức nào.
Ông Giannis Mouzalas, Bộ trưởng Di trú đã thú nhận rằng Chính phủ Hy Lạp không có đủ khả năng để đối phó với làn sóng người tầm trú, vì hiện vẫn còn đang hứng chịu những hậu quả của cuộc khủng hoảng đồng Âu kim.
Ông Mouzalas cho biết tình trạng tỵ nạn tại một số nơi thật khủng khiếp. Nhưng ông hy vọng rằng một khi những hình ảnh này được phổ biến đi khắp nơi,  viện trợ sẽ đến và như vậy Hy Lạp mới khỏi rơi vào hỗn loạn. Bộ trưởng Di trú Hy Lạp cũng nói rằng kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng về người tỵ nạn, quan hệ giữa Đức và Hy Lạp lại tốt đẹp hơn bao giờ hết. Ngay từ đầu, Đức đã tận tình giúp đỡ Hy Lạp bằng cách đón nhận một số lớn người tỵ nạn.
Hy Lạp biết quá rõ rằng các nước Âu Châu không thể để mặc cho Hy Lạp tự giải quyết cuộc khủng hoảng về người tỵ nạn. Hy Lạp cũng đã nhận ra rằng ngọn nguồn của cuộc khủng hoảng nằm mãi bên Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia chỉ cách Hy Lạp bằng một eo biển nhỏ là nơi mà người tầm trú thường vượt qua để đi vào Hy Lạp. Tháng 2 vừa qua, đã có 56.335 người tầm trú vượt qua eo biển này để đến các đảo của Hy Lạp. Tính trung bình, mỗi ngày có đến 1943 người từ Thổ Nhĩ Kỳ vượt biển thành công đến Hy Lạp.
Nắm bắt vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc khủng hoảng về người tỵ nạn cho nên các chính phủ Âu Châu, cách riêng Đức, đang tìm cách thương lượng với nước này. Các chính trị gia Liên Âu đã nói tới chuyện sẽ viện trợ cho Thổ Nhĩ Kỳ 3 tỷ Âu kim. Thổ Nhĩ Kỳ cần có một số tiền lớn như thế để cung cấp chỗ cư trú, thức ăn và các nhu cầu khác cho người tỵ nạn. Cho đến nay, Thổ Nhĩ Kỳ đã không tỏ ra tích cực trong việc chận đứng những hoạt động đưa lậu người vào Âu Châu hoặc ngăn cản người tầm trú vượt biển qua Hy Lạp.
Song song với việc giúp đỡ Thổ Nhĩ Kỳ trong việc chận đứng làn sóng người tỵ nạn vượt biển qua Hy Lạp, các chính phủ Âu Châu cũng xem việc kiểm soát biên giới như một ưu tiên hàng đầu. Vấn đề được đặt ra cho các nước Âu Châu là: liệu Thỏa ước Schengen có còn giá trị không?
Ngày 14 tháng 6 năm 1985, 5 trong 10 nước thành viên của Cộng đồng Kinh tế Âu Châu đã ký tên vào một thỏa ước dẹp bỏ việc kiểm soát  biên giới giữa các nước. Được gọi là thỏa ước Schengen vì được ký kết gần thành phố Schengen, Lục Xâm Bảo. Năm 1990, thỏa ước được bổ túc với Công ước Schengen và có giá trị cho 28 quốc gia thành viên của Liên Âu.
Đóng cửa  biên giới sẽ giúp chận đứng được làn sóng người tỵ nạn, nhưng lại kéo theo những hệ lụy trầm trọng cho kinh tế của Âu Châu. Theo một bản phúc trình của Ủy ban Âu Châu, việc kiểm soát biên giới sẽ làm thiệt hại cho lục địa từ 500 tỷ đến 1.4 ngàn tỷ Âu kim trong vòng 10 năm. Trung bình, thiệt hại kinh tế mỗi năm có thể  từ 5 tỷ đến 18 tỷ Âu kim.
Không những việc đóng cửa biên giới sẽ ảnh hưởng đến kinh tế của lục địa, mà còn làm giảm ảnh hưởng chính trị của lục địa trên thế giới. Giữa các thế lực địa lý chính trị trên thế giới hiện nay, từng quốc gia Âu Châu, ngay cả Đức quốc, cũng không có được một tiếng nói mạnh. Hoa Kỳ và Trung quốc chỉ quan tâm đến Liên Âu xét như là một khối lớn. Tầm cỡ vẫn là một yếu tố then chốt. Nếu Âu Châu không còn là một khối thống nhất, lục địa này sẽ bị đẩy ra bên lề thế giới.
Có thể nói, cuộc khủng hoảng do người tỵ nạn tạo ra quả thật đang làm thay đổi bộ mặt của Âu Châu về kinh tế, chính trị và ngay cả về văn hóa.
(theo http://www.spiegel.de/international/europe/border-closures-spell-refugee-back-up-in-greece)




Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Đời sống ngắn ngủi



Chu Thập
4.3.16
Tuần rồi, tôi tham dự 2 đám tang. Một của vợ một người bạn. Ở tuổi 73, chị ra đi sau nhiều năm chống chọi với một cơn bệnh kinh niên. Lắng nghe những chia sẻ của gia đình chị trong tang lễ và nhìn cảnh vật vã khóc lóc của con cái chị lúc hạ huyệt, tôi cũng không dằn được những thổn thức trong lòng. Sự ra đi của người thân, dù ở tuổi nào, cũng là một mất mát mà không gì có thể bù đắp được.
Đám tang thứ hai là của một người bạn mới quen. Anh gục ngã sau một cơn đau tim và nhắm mắt xuôi tay khi tuổi đời chỉ mới 41. Dù có cố gắng đến đâu, tôi cũng vẫn không thể đo lường hay tưởng tượng được nỗi đau mất chồng của người vợ và cảnh bơ vơ của những đứa con mất cha.
Đây là hai đám tang mở đầu cho tuổi 70 của tôi. Ý nghĩ cứ lẩn quẩn trong đầu óc tôi trong những ngày vừa qua là: cuộc sống quả là  ngắn ngủi. Không phải trước đây tôi chưa bao giờ có ý nghĩ ấy. Nhưng nếu ý nghĩ ấy có vụt đến trong đầu thì tôi cũng cố gắng lèo lái nó đến người khác chớ không để cho nó ám ảnh bản thân mình. Già là chuyện của người khác chớ không phải của tôi. Bệnh tật cũng là chuyện của người khác chớ không phải của tôi. Và nếu có chết thì người khác chết chớ không phải tôi.
Nhưng không hiểu sao kể từ cái Tết vừa qua, nhứt là sau khi đã tham dự hai đám tang trong tuần qua, tôi mới thấy tuổi 70 không phải là “thất thập cổ lai hy” mà là “thất thập tri thiên mệnh”. “Lẽ trời” mà tôi ngộ ra chính là “cuộc sống ngắn ngủi”. May lắm, may hơn cả trúng số độc đắc tôi dám ngâm nga câu “trăm năm trong cõi người ta”. Tốt phúc lắm thì cũng  đến tuổi 90 là cùng. Còn cứ sự thường thì kể từ hôm nay tôi phải tính từng ngày.
Là người có niềm tin tôn giáo, tôi tin có cuộc sống mai hậu, tôi mong ước được về thiên đàng sau khi chết. Cũng như nhà văn Mai Thảo, tôi vẫn biết cuộc sống ở dương thế này là “cõi tạm”. Trước sau gì cũng như tâm sự của thi sĩ Rabindranath Tagore (1861-1941) trong thi tập “Lời Dâng” mà các tín hữu Kitô thường hát lên trong tang lễ, tôi cũng sẽ ngậm ngùi thốt lên: “Lệnh truyền đã ban ra, tôi ra đi, xin chào mọi người. Đường trần gian đã hết, mấy mươi năm có là chi...Tôi ra đi âm thầm trong cô đơn thinh lặng. Đến với Đấng đã cho tôi làm người trên trần gian”. Nhưng như nhà văn Mai Thảo đã viết, “bởi vì cái chết vẫn chưa trong tầm mắt. Cõi tạm này mới đích thực trong tầm tay. Tạm lâu ngày dễ có ảo tưởng đây mới là cõi thật”. Thành ra, cho dẫu nhà Đạo của tôi có bảo “chết là được Chúa gọi về” hay “về nhà Cha” đi nữa , tôi vẫn cứ thấy ham sống và sợ chết.  Tôi sợ chết lắm. Và chính vì sợ chết mà tôi thấy mình phải cố gắng sống từng ngày. Mỗi sáng thức dậy, dù có uể oải và mệt mỏi đến đâu, tôi cũng cố gắng bò dậy làm mọi thủ tục vệ sinh, rồi sau đó chạy bộ một tiếng đồng hồ với câu tâm niệm đã học được từ thời trung học: “Carpe diem”. Đây là câu nói thời danh của thi sĩ La Mã Horatius (65-8 trước Công Nguyên). “Carpe diem” có nghĩa là “hãy vui hưởng ngày hôm nay”. Trong nhà Đạo của tôi, Chúa Giêsu cũng dạy như thế khi Ngài nói: “Đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6,34).
Tựu trung, hầu như nhà hiền triết và bậc thánh hiền nào trong nhân loại cũng đều để lại bí quyết của hạnh phúc: hãy sống lạc quan trong giây phút hiện tại. Hình như ở tuổi già con người dễ tiếp nhận được bí quyết ấy. Trong một bài báo ở Việt Nam, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có gọi giáo sư âm nhạc học Trần Văn Khê, 78 tuổi, là một “ông già dễ thương”. Một độc giả là ông chủ của nhà sách Khai Trí một thời nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975, đã viết thư cự nự: “Không có cái gọi là già! Vì, theo ông, lúc 20-30 tuổi, người ta còn quá trẻ! 30-40 đang trẻ, 40-50 hãy còn trẻ,  50-60 trẻ không ngờ, 60-70 trẻ lạ lùng và trên 70 là trẻ vĩnh viễn! Có cái gì là già đâu?” (x. Đỗ Hồng Ngọc, Cành Mai Sân Trước, NXB Văn hóa Thông tin, Sài Gòn ,2003, trg 91).  Cả giáo sư Trần Văn Khê lẫn ông Khai Trí nay đều đã ra người thiên cổ cả rồi. Nhưng chắc chắn họ đã có một tuổi già “thật trẻ” vì họ đã nắm bắt được bí quyết của sự lạc quan.
Mới đây tôi có đọc được ở đâu đó những suy nghĩ của nhà văn Anh Somerset Maugham (1874-1965) khi ông mừng “tiểu thọ” 70 tuổi: “Khi được 40 tuổi, tôi tự nhủ: “thế là hết thời tuổi trẻ”. Khi mừng sinh nhựt thứ 50, tôi bảo: “Đừng có tự đánh lừa. Đây là tuổi trung niên, cần phải đón nhận nó”. Ở tuổi 60, tôi lại nói: “Đây là lúc phải chấn chỉnh lại cuộc đời, bởi vì đây là ngưỡng cửa của tuổi già và tôi cần phải tính sổ đời”. Nhưng trong tất cả những lần mừng sinh nhựt, tôi nghĩ 70 là tuổi quan trọng nhứt. Đây là lúc con người đã đạt đến đỉnh cao của tuổi thọ. Chỉ nên xem những năm tháng còn lại như những điều vô định bất trắc, bởi vì chiếc lưỡi hái của Thần Thời Gian đã  kề bên cổ mình rồi”. Vậy mà cuối cùng nhà văn này vẫn còn mừng sinh nhựt thứ 80 và 90. Như vậy, tuổi 70 có phải là tuổi già đâu!
Denchu Hiratsuka (1872-1979), một nhà điêu khắc nổi tiếng của Nhựt Bản, nổi tiếng là sống thọ. Ông sống đến 107 tuổi. Cũng như ông Khai Trí, ông đã có lần nói về tuổi tác như sau: “60-70 chỉ là thời thiếu niên. Con người chỉ thực sự trưởng thành ở tuổi 100”. Chính vì thế mà khi đã thực sự bước vào tuổi già, ông vẫn tuyên bố: “Tôi có quá nhiều việc phải làm cho nên không thể về hưu được”.
Những người sống lạc quan thường hướng về phía trước hơn là quay đầu nhìn lại đàng sau. Triết gia người Đức nổi tiếng là Martin Heidegger (1889-1976) là mẫu người lạc quan như thế. Ông nói rằng nên tính tuổi của một người không phải chỉ bằng số năm tháng người đó đã sống mà còn phải tính thời gian còn lại để sống. Có lẽ triết gia này chỉ muốn khuyên ta nên nhìn về phía trước hơn là  hối tiếc quá khứ hay nói theo tựa đề của một quyển tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai trong nước, cứ ngồi đó mà  “ăn mày dĩ vãng”.
Thật ra có ai chối bỏ được dĩ vãng của mình. Dĩ vãng làm nên căn tính hiện tại của tôi. Tôi không có một quá khứ oanh liệt để tự hào. Nhưng tôi lại có một tuổi thơ thần tiên mà bước vào tuổi già tôi vẫn luôn tìm cách trở lại. Trở lại không phải để làm con nít, mà xem đó như một thứ ánh sáng cần thiết để soi rọi vào hiện tại. Với tôi, tuổi thơ là tuổi khôn. Tuổi thơ chứa đựng lẽ khôn ngoan mà người lớn thường đánh mất. Chẳng hạn tuổi thơ dạy tôi biết sống hồn nhiên, trong trắng, minh bạch và nhứt là luôn biết ngất ngây trước mọi lẽ huyền nhiệm trong cuộc sống. Xét cho cùng tuổi thơ dạy tôi biết tận hưởng giây phút hiện tại. Trong bất cứ thảm cảnh nào, người lớn có lo toan và đau khổ cách mấy, tuổi thơ vẫn cứ thản nhiên vui đùa. Chúa Giêsu hẳn phải có một tuổi thơ đẹp cho nên Ngài dạy rằng muốn vào Nước Trời con người cần phải nên giống trẻ thơ. “Nước Trời” mà Ngài nói đến, theo tôi, không hẳn là cuộc sống mai hậu hay thiên đàng, mà chính là niềm hạnh phúc trong giây phút hiện tại này đây.
Tuổi thơ cũng luôn nhắc nhở tôi rằng muốn sống hạnh phúc con người cần có tình thương. Trẻ con luôn đặt tin tưởng nơi tình thương của cha mẹ. Trẻ con luôn sống trong sự hiện diện của bạn bè. Nói một cách đơn giản, sống giây phút hiện tại thiết yếu là sống yêu thương. Đó là điều thiết yếu và quan trọng nhứt trong cuộc đời.
Đi tìm bí quyết để sống giây phút hiện tại, tôi thường đem những lời trăn trối của ông Steve Jobs, người sáng tạo ra Iphone và đồng sáng lập công ty Apple để nghiền ngẫm: “Tôi đã đạt đến tột cùng của thành công. Trong con mắt người khác, cuộc đời tôi là một biểu tượng của thành công. Tuy vậy, đàng sau công việc, tôi có rất ít niềm vui...Trong lúc này, trên giường bệnh viện, hồi tưởng về cuộc đời, những lời khen ngợi, niềm tự hào về tài sản, tôi lại cảm thấy tất cả đều vô nghĩa trước tử thần. Trong bóng tối, khi nhìn ánh đèn màu xanh và âm thanh của máy dưỡng khí, tôi cảm thấy được những hơi thở của tử thần rất gần kề. Bây giờ tôi mới hiểu thấu, nếu một lần bạn đã có đủ tiền cho cuộc đời bạn, bạn hãy đeo đuổi một mục đích khác không liên quan đến tiền bạc...Đừng làm nô lệ cho vật chất, giàu sang, vì nó sẽ biến bạn thành một người yếu ớt như tôi.
Thượng Đế tạo dựng chúng ta để cảm thấy được tin yêu trong trái tim, chớ không phải những ảo tưởng về tiền tài, danh vọng như tôi đã làm trong suốt cuộc đời nhưng không thể đem theo được. Tôi có thể mang theo được những kỷ niệm của yêu thương. Đây mới chính là sự giàu sang sẽ có thể đồng hành với bạn, là sức mạnh, là ánh sáng soi dẫn cho bạn tiến tới. Tình yêu có thể đi hàng ngàn cây số và chính vì thế cuộc đời không có giới hạn...
Dù đang ở giai đoạn nào trong cuộc đời, cuối cùng, tất cả chúng ta cũng đều phải đối diện với giây phút khi bức màn sự sống buông xuống. Làm ơn hãy nâng niu và nhận thức được giá trị của tình yêu gia đình, tình yêu bạn đời và tình yêu bạn hữu...
Những tiếng cuối cùng của Steve Jobs trước khi vĩnh viễn lìa bỏ cõi đời được vợ ông ghi lại và sẽ mãi mãi ghi nhớ là 3 tiếng: “Oh wow. Oh wow. Oh wow”.
Nhà văn Mai Thảo, khi suy niệm về “Cõi tạm”, đã nhìn nhận rằng cuộc sống có quá nhiều điều khó hiểu. Theo ông, chỉ bên kia “cõi tạm”, con người mới hiểu thấu mọi lẽ. Ông viết: “Thế giới có triệu điều không hiểu. Càng hiểu không ra lúc cuối đời. Chẳng sao, khi đã nằm trong đất, đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi”. Riêng ông Steve Jobs, khi thốt lên ba tiếng “Oh wow” trong giây phút cuối đời,  có lẽ muốn nói cho người thân và hậu thế biết rằng ông đã thấu hiểu được mọi sự và mọi sự tóm gọn trong hai chữ “Tình yêu”.
Cả cuộc đời, tôi chưa hề viết bất cứ chúc thư nào. Tôi chẳng làm được trò trống gì trong cuộc đời này. Tôi không có nhiều tài sản hay của cải vật chất để để lại cho bất cứ ai. Tôi lại càng chẳng có di sản tinh thần nào để gởi gắm cho người sau. Tôi cũng chẳng là một nhân vật nổi tiếng để nói lên bất cứ  lời trăn trối nào cả. Bước vào tuổi 70, tôi biết rằng mình phải luôn trong tư thế để ra đi bất cứ lúc nào. Cho nên tôi chỉ biết tự nhủ: cuộc sống ngắn ngủi! Nhưng cuộc sống ngắn ngủi ấy lại có một giá trị vĩnh hằng nếu con người biết sống một cách sung mãn từng giây phút hiện tại bằng tình yêu. Điều làm cho cuộc sống ngắn ngủi này đẹp và đáng sống chính là tình yêu.







Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

Để được sống có tự do và trách nhiệm...



Chu Thập
20.3.12



Mỗi năm, cứ đến mùa chay của Kitô giáo thì tôi lại nghiệm ra một điều: càng kiêng cữ thì càng thèm! Cuộc sống không chỉ đơn giản chỉ có “ba cái lăng nhăng nó quấy ta” như cụ Tú  Xương đã phải “xưng thú” với bà tú. Như sóng biển khơi trùng trùng điệp điệp, trừ được cái này thì cái khác lại trồi lên.
Đa số những kiêng cữ của tôi đều gắn liền với sức khỏe. Vì muốn sống khỏe, sống lâu và nhứt là để khỏi phải trở thành gánh nặng cho người thân và xã hội, tôi thấy mình thành công một cách dễ dàng trong việc đối đầu với những cái “lăng nhăng”. Cũng may, nhờ tiến bộ của khoa học, tôi được giải tỏa khỏi nhiều sự thèm khát mà lâu nay tôi cứ phải kìm hãm. Chẳng hạn như trứng gà. Trước đây tôi cứ phải “đấu tranh tư tưởng” mỗi khi nhìn thấy trứng. Nay những khám phá mới lại bảo rằng tôi có quyền ăn “thả giàn” mà chẳng phải sợ “mỡ máu” (cholesterol xấu) gia tăng dẫn đến các bệnh về tim mạch. Khi biết có “quyền” thì tự dưng không cần ăn “phụ trội” tôi vẫn thấy bớt thèm.
Mới đây, trên báo mạng “Calitoday”, tôi lại được giải thoát thêm khỏi một mặc cảm khác khi đọc được một bài viết về ích lợi của rượu bia. Từ hơn 20 năm nay, cũng vì lý do sức khỏe, tôi đã thề thốt bỏ rượu bia và tôi đã thành công. Nhưng ý chí của tôi đã không thể đè bẹp được sự thèm khát trong tôi. Thấy bạn bè chén chú chén anh mà tôi thấy nóng ran cả người. Nhấp vài giọt vẫn thấy ngon và có khi còn ngon hơn cả cái thời còn sung sức. Nhưng nghĩ đến những tác hại của rượu chè, tôi lại đành nhìn bạn bè để cười trừ và xin được “tha” cho.
Bài báo mà tôi đọc được trên Calitoday viết rằng nếu uống chừng mực thì rượu bia mới có ích lợi cho sức khỏe. Theo bài báo, những nghiên cứu mới cho thấy cường độ đặc của xương cao hơn ở những người uống từ một đến 2 lon bia mỗi ngày, nhứt là bia làm bằng lúa mạch. Kết quả nghiên cứu cũng chứng minh rằng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim giảm đi 31 phần trăm nơi những người uống bia chừng mực, trong khi nguy cơ này lại tăng cao ở những người uống quá nhiều.
Cũng theo kết quả nghiên cứu, bia ngăn ngừa và làm giảm việc cấu thành sạn thận đến 40 phần trăm, bởi vì calcium trong bia sẽ giúp cho xương được cứng hơn và không gây sạn trong thận.
Điều đáng chú ý là bài báo khẳng định rằng bia có tác dụng chống lão hóa. Dựa vào một thống kê so sánh 11 ngàn phụ nữ lớn tuổi thì những vị uống một lon bia mỗi ngày có trí óc trẻ hơn đến 18 tháng tuổi so với những người không uống bia.
Ngoài ra, lại càng là một tin mừng hơn khi bài báo viết rằng bia giúp giảm nguy cơ bị ung thư, tiểu đường, tăng trưởng chất bổ trong cơ thể, giúp chống liệt não, giảm bệnh cao huyết áp và nhứt là gia tăng tuổi thọ...
Theo bài báo, kết quả trên đây dựa vào sự tổng hợp của hơn 50 nghiên cứu tại Hoa kỳ cũng như nhiều nước Âu châu. (x. Calitoday 23/3/2012)
Thời buổi khoa học này, người ta luôn “nói có sách mách có chứng”. Tôi tin tưởng ở những kết quả nghiên cứu khoa học. Nhưng tôi cũng thú nhận rằng gần đây, tôi bắt đầu ngờ vực về tính thuyết phục của khoa học. Chỉ riêng về bệnh tật và thuốc chữa trị, hôm nay người ta bảo thế này, ngày mai người ta lại nói ngược lại.  Những lý thuyết khoa học đã từng ngự trị cả thế kỷ nay lại bị lung lay. Đừng nói gì đến thuyết tiến hóa mà cho tới nay nhiều nhà khoa học tên tuổi vẫn chưa chịu chấp nhận (x. John Ashton, in six days, why scientists choose to believe in creation), ngay cả thuyết tương đối của người được bầu là nhà khoa học vĩ đại nhứt của thế kỷ 20 là Albert Einstein nay cũng bị đặt lại vấn đề (x. Lê Tất Điều, Ngày tàn của một ảo ảnh, Việt luận, 24/2/2012). Tưởng vững như bàn thạch và sẽ vĩnh viễn ngự trị trong không gian khoa học và cách suy nghĩ của con người, nay thuyết này xem ra đang bị đào thải. Sở dĩ có chuyện “động trời” này là vì mới đây Tổ chức Nghiên Cứu Hạt Nhân Âu Châu gọi tắt là CERN (European Organization for Nuclear Research)  có trụ sở gần Geneve, Thụy sĩ, đã chứng minh được rằng những hạt vi mô “Neutrinos” đã có thể vượt qua tốc độ ánh sáng. Như vậy “lệnh cấm tuyệt đối” của Einstein không cho bất cứ vật thể nào trong vũ trụ được phép vượt qua tốc độ của ánh sáng đã bị đánh đổ và do đó thuyết tương đối được xây dựng trên “lệnh cấm” này cũng bị lung lay.
Các lý thuyết khoa học xem ra cũng giống như sóng biển. Lý thuyết này xuất hiện, chi phối cách suy nghĩ và nghiên cứu khoa học một thời gian rồi...chết. Lý thuyết kia lại trồi lên và đảo lộn những lý thuyết đến trước. Vũ trụ vật chất vẫn mãi mãi là một bí ẩn mà trí khôn con người xem ra không thể nào múc cạn.
Cái thế giới thuần vật chất là vũ trụ vẫn mãi là một bí ẩn đã đành, mà cái tiểu vũ trụ vừa là vật chất vừa là tinh thần là con người lại càng phức tạp và không ngừng vượt khỏi tầm tay với của chính trí khôn con người hơn. Khoa học càng tiến bộ thì châm ngôn “dủ học dủ ngu” lại càng đúng. Thành ra, tự cho mình có thể chọc thủng được bức màn bí ẩn của con người và giản lược mọi sinh hoạt của con người vào chiều kích khoa học là một thái độ ngạo mạn, nếu không muốn nói là ngu xuẩn.
Tôi có ý nghĩ ấy khi đọc được bài tiểu luận của chuyên gia tâm thần học Tanveer Ahmed được đăng trên báo The Sydney Morning Herald số gần đây. Theo tác giả, ngày nay, những nỗ lực tìm kiếm những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đều đặt nền tảng trên ý niệm cho rằng kinh tế học cũng là một bộ môn khoa học giống như vật lý và sinh hóa học, nghĩa là cũng có thể cân lường, đong đếm...Cái nhìn này cũng lại xuất phát từ quan niệm cho rằng mọi sinh hoạt của con người cuối cùng đều giản lược vào hoạt động trong não bộ. Người ta cho rằng từ  tình yêu, ý thức, đến ý thơ, niềm tin tôn giáo, cuộc sống xã hội... xét cho cùng cũng chỉ là một chuỗi những hoạt động của “gen” và các tế bào não. Giản lược những cảm xúc và tâm tình cao quý nhứt trong con người thành những bản năng hoàn toàn như nơi thú vật tưởng là chuyện “cường điệu” nhưng lại là cái nhìn trổi vượt về con người trong đầu thế kỷ 21 này. Phim ảnh, báo chí không ngừng cổ võ cho quan niệm xem mọi sinh hoạt của con người đều được quyết định từ trong bào thai. Không thiếu cái giọng điệu cho rằng “cứ 4 đứa trẻ sinh ra thì có một đứa mang sẵn trong người cái “gen” không chung thủy”; có những người “bẩm sinh” là kẻ giết người (natural born killer)...Có sống đạo đức được cũng là do “gen” di truyền. Mà có phạm tội ác thì cũng chỉ là do bẩm sinh. Phân tách cho đến cùng, trong con người chẳng có tự do và trách nhiệm gì cả!
Sở dĩ có cái nhìn giản lược như thế là vì một phần do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa, do những khám phá về hệ “gen” di truyền trong con người. Trong 2 hoặc 3 thập niên vừa qua, cuộc nghiên cứu về não bộ và tác động của não bộ đối với cách hành xử của con người đã trở thành một trong những ngành nghiên cứu hàng đầu. Chúng ta biết rằng trong não bộ có trên 100 tỷ tế bào thần kinh và mỗi một tế bào lại liên kết với hàng ngàn tế bào bên cạnh. Chúng ta cũng biết đến nhiều trung tâm chức năng khác nhau trong não bộ, mỗi trung tâm có trách nhiệm và bổn phận khác nhau.Thần kinh học là ngành có nhiều khám phá kỳ thú nhứt. Không có một tuần lễ qua đi mà các nhà khoa học không loan báo một khám phá mới liên quan đến thần kinh hệ.  Chính vì vậy mà hiện nay nhiều sinh hoạt khác của con người cũng bắt đầu gắn liền với hai chữ “thần kinh”. Muốn làm những quyết định kinh tế tốt thì cần phải quan tâm đến hoạt động của não bộ. Ngay cả một số triết gia cũng liên kết hai chữ “đạo đức” với thần kinh hệ.
Tưởng hai chữ “thần kinh” chỉ giới hạn trong giới hàn lâm và nghiên cứu. Nay người ta cũng áp dụng nó vào việc soạn thảo các chính sách chính trị, kinh tế và xã hội. Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới đã thành lập nguyên một bộ chuyên áp dụng những hiểu biết của khoa thần kinh học vào việc soạn thảo các chính sách. Tại Anh quốc, một trong những việc đầu tiên mà thủ tướng David Cameron thực hiện khi lên cầm quyền là thiết lập Đơn vị nhận thức về hành xử (Behavioural Insight Unit), tức một nhóm chuyên gia đặc trách về việc soạn thảo chính sách dựa trên những khám phá của môn thần kinh học. Tại Hoa kỳ, tổng thống Barack Obama dường như cũng chạy theo khuynh hướng ấy để đề ra các chính sách về xã hội.
Theo ông Ahmed, nỗ lực không ngừng để tìm hiểu và đào sâu bản chất con người là điều đáng ca ngợi. Nhưng sẽ là điều nông nổi khi xử dụng khoa thần kinh học và thuyết tiến hóa để tìm hiểu sự sống con người hay đề ra chính sách xã hội.
Tác giả viết rằng những ai muốn xử dụng khoa học để giải quyết những vấn đề thực sự của con người thường phải giản lược chúng thành những vấn đề “kỹ thuật”, nghĩa là như một bài toán mà giải đáp đều có thể tìm thấy nếu theo đúng một quy trình.
Tác giả kết luận: “Khi tiến trình này được áp dụng cho con người, dù là trong kinh tế, sức khỏe tâm thần hay những ứng dụng thời thượng của khoa thần kinh học, thì kết quả không thể tránh khỏi là con người bị xem như đi thụt lùi.” (x. The Sydney Morning Herald, 10-11/3/2012)
Dĩ nhiên, “thụt lùi” từ con người xuống hàng súc vật. Sau năm 75, người Việt nam chứng kiến cái bước “thụt lùi” ấy rõ rệt và đau đớn hơn ai hết. Câu nói đầy mỉa mai “người xuống làm súc vật để cho súc vật lên làm người” hẳn đã diễn tả được cái thực trạng ấy một cách bi thảm. Những kẻ tự cho mình có sứ mệnh “giải phóng” đã dựa vào thuyết tiến hóa được tiếp thu một cách ngu xuẩn và chủ nghĩa vô thần được tuyên xưng một cách cuồng tín để tước đoạt nhân phẩm của người đồng bào ruột thịt của mình. Kết quả của bước “thụt lùi” ấy là gì nếu không phải là điều mà tác giả Hà sĩ Phu gọi là “cuộc tổng khủng hoảng về nhân cách”, luân thường đạo lý bị bứng khỏi lòng người, ý thức về thiện ác hoàn toàn bị xóa bỏ, tính tham lam và độc ác được khuyến khích đến mức tối đa...Những người trong nước còn có chút ý thức về thiện ác cứ phải gào lên đến khàn cổ để báo động về tình trạng “tụt hậu nhân cách”, “xuống cấp đạo đức”...Quả thực, cái phần “người” trong “con người” hầu như đã bị xóa sạch để nhường chỗ cho phần “con”, tức thú tính.
Ở những ngày trước kỷ niệm ngày 30 Tháng Tư “Đen”, làm sao mà tôi không nghĩ đến cái “lỗ hổng đạo đức” ấy trong xã hội Việt nam hiện nay. Bởi vì nó không chỉ là cái “lỗ” nữa nó đã trở thành một “vực sâu không đáy” nuốt trôi đi không biết bao nhiêu tư cách con người.
Riêng tôi, sống những ngày “chay tịnh” để chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh, tôi cảm thấy phải ý thức hơn về “nhân phẩm”, tức tư cách con người của mình. Tôi tin như Kinh Tin Kính rằng con người vẫn mãi mãi là một “huyền nhiệm” mà chẳng có “thước đo” nào có thể vừa và cũng chẳng có bộ môn khoa học nào có thể khám phá và hiểu cho đến cùng. Với tôi, cũng chẳng có khám phá khoa học nào quan trọng cho bằng sự kiện nhân cách, địa vị và phẩm giá con người được tôn trọng và ghi chép trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Nhân cách hay phẩm giá cao cả của tôi mang lại cho tôi tự do và đồng thời cũng đòi hỏi tôi phải có trách nhiệm. Với tôi, mục đích của chay tịnh, tức tiết độ trong cách ăn uống, phục sức và nhứt là suy nghĩ và đối nhân xử thế, là để giúp tôi quý trọng chính mình, được sống có tự do và trách nhiệm hơn, bởi vì sống là tiến tới chứ không phải “thụt lùi” trong nhân cách.
Đến tuổi này, liệu có “muộn màng” để thấy rằng được làm Người là một Ân sủng?






Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Haiti: đất nước bị đày đọa triền miên vì thiên tai và nhân họa



4.3.16

Tháng Giêng năm 2010, cả thế giới đã hướng về Haiti sau khi một trận động đất dữ dội đã làm cho hàng trăm ngàn người chết và phá hủy những trụ sở chính của chính phủ tại Thủ đô Port-au-Prince. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, đất nước nghèo nàn, lạc hậu và bất ổn này lại rơi vào quên lãng. Chỉ mới gần đây, sau khi cuộc bầu cử tổng thống dẫn đến bế tắc, truyền thông thế giới mới rọi một chút ánh sáng vào quốc gia mà sự hỗn độn chính trị triền miên đã trở thành một nét tiêu biểu. Năm 1990, sau 28 năm độc tài và gia đình trị của Tổng thống Duvalier, một cựu linh mục công giáo là ông Jean Bertrand Aristide đã đắc cử tổng thống trong một cuộc bầu cử được xem là tự do và minh bạch. Nhưng cũng kể từ đó, Haiti đã chẳng bao giờ có được một cuộc bầu cử xứng danh là bầu cử. Bất ổn chính trị liên tục cho nên Haiti cũng chẳng bao giờ thoát ra khỏi danh sách những nước nghèo nhất thế giới.
Trước cuộc động đất xảy ra cách đây 6 năm, Haiti cũng đã trải qua không biết bao nhiêu thiên tai. Chỉ trong năm 2008, đất nước này đã phải hứng chịu đến 4 trận bão khiến cho 800 người bị thiệt mạng và hơn 70 phần trăm đất canh tác bị phá hủy. Trước đó, trong những năm 2002, 2003, 2006 và 2007, Haiti cũng từng bị chìm ngập trong lũ lụt.
Nhưng địa lý và thiên tai không phải là nguyên nhân chính dẫn đến thảm kịch hiện nay của Haiti. Lịch sử mới là “thủ phạm”. Tại Haiti, năm thế kỷ vừa qua đã góp phần tạo ra một dân tộc quá  nghèo nàn, một hệ thống hạ tầng cơ sở gần như không hiện hữu và mỏng manh đến độ bất cứ một thiên tai nào cũng có thể kéo theo thảm kịch.
Theo Sử gia Alex von Tunzelmann, người chuyên nghiên cứu về   Haiti và các nước láng giềng của quốc gia này, khẳng định rằng lịch sử của Haiti là lịch sử của “chế độ nô lệ, cách mạng, nợ nần, phá rừng, tham nhũng và bạo động”. Ngày nay, nghèo nàn, mù chữ, nhân mãn, tình trạng không có hạ tầng cơ sở, môi sinh bị phá hủy và nhiều vùng rộng lớn sống ngoài pháp luật...Sử gia Tunzelmann nhận định: “Đây quả là một tai họa ngoài sức tưởng tượng”.
Vào Thế kỷ 18, dưới sự cai trị của người Pháp, Haiti lúc bấy giờ được gọi là Saint Domingue và được mệnh danh là “Hòn ngọc của vùng Antilles”, một trong những hòn đảo giàu nhất trong Đế quốc Pháp, mặc dù 800 ngàn người nô lệ Phi Châu chẳng bao giờ có thể nhận ra sự giàu có do chính mình làm ra. Thập niên 1780, Haiti xuất cảng đến 60 phần trăm lượng cà phê trên toàn thế giới và 40 phần trăm số lượng đường được tiêu thụ tại Âu Châu. Ngoài ra, Haiti cũng đã trở thành quốc gia độc lập đầu tiên tại Châu Mỹ La Tinh. Sau Hoa Kỳ, Haiti cũng là quốc gia cộng hòa lâu đời nhất ở Tây Bán Cầu.
Haiti được nhà thám hiểm Cristoforo Colombo khám phá vào tháng 12 năm 1942. Trước khi nhà thám hiểm này đặt chân đến đây, người dân bản xứ có tên là Taino đã gọi Haiti là “Ayiti”. Sau khi chiếm Haiti, Colombo đặt tên lại là “La Isla Espanola”(Đảo Tây Ban Nha). Nhưng sau khi vàng và bạc được khám phá tại những nơi khác ở Châu Mỹ La Tinh, những người thực dân đầu tiên đã tiến về phía Đông, để lại phần đất này cho người Anh, người Hòa Lan và những tên cướp biển người Pháp. Nhưng dần dần người Pháp áp đặt sự cai trị của họ. Vào khoảng năm 1665, Pháp chính thức đặt tên cho vùng đất mới là Saint Domingue. 30 năm sau, Tây Ban Nha hoàn toàn nhượng lại Haiti cho Pháp.
Về mặt kinh tế, Pháp đã rất thành công trong việc khai thác Haiti. Nhưng Pháp chỉ có thể khai thác tài nguyên của Haiti bằng cách mỗi năm “nhập cảng” 40 ngàn người nô lệ từ Phi Châu. Vào cuối Thế kỷ 18, trong suốt gần một thập niên, Haiti là điểm đến của hơn một phần ba của tổng số người nô lệ được bán trong toàn vùng Đại Tây Dương. Dĩ nhiên, bị xem như súc vật và hàng hóa, những người nô lệ da đen đã phải trải qua những điều kiện sống tồi tệ nhất. Tuổi thọ trung bình của người nô lệ tại Haiti không quá 21 tuổi. Sau này, một người nô lệ đã ghi lại sự đối xử tàn bạo của các chủ nhân da trắng đối với người nô lệ: bị treo ngược đầu xuống đất, bị cho vào bao bố để nhận chìm xuống nước, bị đóng đinh vào cây cối, bị thiêu sống, bị nghiền nát như vữa, bị cưỡng bách phải ăn phân người, bị ném vào những vạc nước mía đang nấu sôi...Không có hình thức trừng phạt dã man nào mà người nô lệ tại Haiti đã không trải qua.
Cuộc cách mạng Pháp năm 1789 đã phơi bày cách đối xử vô nhân đạo đối với người da mầu nói chung và cách riêng người nô lệ tại Haiti. Ý thức được điều đó, tháng 8 năm 1791, những người nô lệ tại Haiti đã bắt đầu nổi loạn. Nhưng phải mất 12 năm, các lực lượng của Hoàng đế Napoleon phải chịu nhân nhượng trước những đòi hỏi của người nô lệ. Lúc bấy giờ, Pháp đang mắc kẹt trong cuộc chiến chống Đế quốc Anh cho nên năm 1803, các lực lượng của Pháp tại Haiti đã bị người nô lệ đánh bại. Haiti đã tuyên bố độc lập ngày 1 tháng Giêng năm 1804.
Giành được độc lập, nhưng vốn không được chuẩn bị để cai trị đất nước, cho nên người nô lệ đã phá hủy toàn bộ hạ tầng cơ sở và hầu hết các đồn điền do Pháp xây dựng. Ngoài ra, để được Pháp quốc thừa nhận, nền cộng hòa vừa mới được khai sinh đã bị buộc phải đền bù những thiệt hại do cuộc chiến giành độc lập gây ra. Đây là một món nợ quá lớn đối với một quốc gia non trẻ như Haiti. Theo Sử gia Tunzelmann, Haiti đã phải trả nợ cho Pháp quốc từ năm 1825 cho đến năm 1947. Để có thể trả nợ, Haiti đã phải vay mượn từ các ngân hàng của Hoa Kỳ, Đức và Pháp với những  mức lãi suất cắt cổ. Khoảng năm 1900, Haiti đã phải dành 80 phần trăm ngân sách quốc gia để trả nợ. Không lạ gì khi trả hết cả vốn lẫn lời thì quốc gia này đã hoàn toàn kiệt quệ và vướng vào các vòng lẩn quẩn nợ nần. Bên cạnh đó, một loạt các nhà lãnh đạo cứ thay phiên nhau bòn rút tài sản quốc gia.
Trong những thập niên cuối của Thế kỷ 19, ít nhất Haiti cũng đã có được một giai đoạn tương đối ổn định. Kỹ nghệ đường và rượu rum bắt đầu khởi sắc. Tuy nhiên năm 1911, một cuộc cách mạng khác lại xảy ra và liền sau đó là 20 năm chiếm đóng của Hoa Kỳ. Nợ nần lại chồng chất. Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 đã khiến cho việc xuất cảnh của Haiti hoàn toàn bị tê liệt. Tình hình kinh tế tồi tệ như thế đã làm phát sinh nhiều cuộc đảo chính và một loạt các nhà độc tài trong đó nổi tiếng hơn cả là ông Francois “Papa Doc” Duvalier. Lên cầm quyền vào năm 1957, ông này được xem là một trong những nhà độc tài tham nhũng và đàn áp nhất trong lịch sử hiện đại.
Trong 28 năm cầm quyền, Papa Doc và người con trai ăn chơi khét tiếng của ông là ông Jean Claude Duvalier hay Baby Doc và gia đình ông đã tàn sát từ 30 đến 60 ngàn người cũng như hãm hiếp, tra tấn vô số kể. Tính cho đến năm 1986, khi phải lên đường đi lưu vong sau cuộc cách mạng “Sức mạnh Quần chúng” của người dân Haiti, hai cha con ông Duvalier đã vơ vét được một tài sản kết xù. Các cơ quan viện trợ và tín dụng thế giới đã tặng và cho vay hàng triệu triệu Mỹ kim cho các dự án, nhưng nếu không khởi công thì cũng bị bỏ dở. Theo Sử gia Tunzelmann, gia đình Duvalier đã bỏ vào túi riêng của họ đến 80 phần trăm tiền viện trợ của thế giới. Khi cuốn gói ra đi, ông Duvalier đã kịp mang theo không dưới 900 triệu Mỹ kim.
Dĩ nhiên, sự ra đi của ông Duvalier đã để lại một lổ hỗng không đáy và một chính phủ tham nhũng. Ông đã tham nhũng và tàn bạo. Nhưng ít nhất ông đã kiểm soát được đất nước. Kể từ khi ông ra đi, Haiti đã triền miên rơi vào hỗn loạn : các cuộc đảo chính liên tục diễn ra, xã hội luôn bất ổn. Thiếu đầu tư ngoại quốc, thiếu hạ tầng cơ sở, Haiti không thể vận hành như một quốc gia trong thời hiện đại. Có thể nguồn gốc của tất cả mọi vấn đề mà Haiti hiện đang phải đối phó chính là việc chuyển giao từ độc tài sang dân chủ. Dân số không ngừng gia tăng, tình trạng nghèo đói cũng leo thang, khiến cho dân chúng từ khắp nơi đổ xô về Thủ đô Port-au-Prince là nơi mà ngay cả trong thời cực thịnh cũng không có đủ hạ tầng cơ sở để đối phó với nạn nhân mãn. Chính trong một tình trạng như thế mà trận động đất hồi năm 2010 đã xảy đến.
Thật ra, bên cạnh tình trạng hạ tầng cơ sở tồi tệ, còn phải kể đến một tệ nạn khác khiến Haiti không còn đủ khả năng để đối phó với bão lụt. Đó là nạn phá rừng. Đây là nguyên nhân khiến Haiti phải hứng chịu nhiều thiệt hại hơn các nước láng giềng mỗi khi có thiên tai. Tệ nạn phá rừng không chỉ mới xảy ra gần đây mà đã có từ thời chiếm đóng của người Pháp. Rồi kể từ thập niên 1950, dân chúng Haiti đã phải đốn củi để làm than. Dân số càng gia tăng, nhu cầu nấu nướng càng nhiều, rừng càng bị phá hủy. Hiện nay có đến 98 phần trăm diện tích rừng đã bị phá hủy. Do đó, cứ mỗi lần có lũ lụt, bao nhiêu đất mầu đều bị cuốn đi, đất canh tác ngày càng khô cằn, nhà cửa của dân chúng cũng bị nước cuốn đi một cách dễ dàng. Ngoài ra, hỏa hoạn cũng là điều xảy ra như cơm bữa. Trên cả nước chỉ có 2 trạm chữa lửa. Với thu nhập 2 Mỹ kim mỗi ngày, người dân lấy đâu có đủ tiền để trang bị nhà cửa hầu đối phó với hỏa hoạn.
So sánh với các nước nghèo khác trên thế giới, Haiti có lẽ là xã hội tồi tệ nhất trên thế giới hiện nay. Ngay cả như ở Afghanistan cũng còn có một giai cấp trung lưu, dân chúng không phải sống trong các ống cống. Cuộc sống xã hội của Haiti có lẽ cũng không hơn Somalia bao nhiêu.
Thập niên 1950, dân số Haiti chỉ có khoảng 3 triệu người. Nay con số này đã lên đến 9 triệu. Có đến 80 phần trăm dân số sống dưới mức nghèo đói như được Liên Hiệp Quốc qui định. Tổng sản lượng quốc gia chia đều theo đầu người chỉ có khoảng 2 Mỹ kim mỗi ngày. Có đến 66 phần trăm dân số Haiti làm nghề nông. Mặc dù nông nghiệp chiếm đến một phần ba tổng sản lượng quốc gia, nhưng cũng chỉ vừa đủ để tự túc hơn là xuất cảng. Hiện nay tỷ lệ thất nghiệp lên đến 75 phần trăm. Trên dưới 40 phần trăm ngân sách quốc gia tùy thuộc vào ngoại viện. Tử xuất của trẻ con vẫn còn rất cao: cứ 1000 trẻ sơ sinh chào đời có ít nhất 80 em chết. Đây là tử xuất của trẻ con cao nhất tại Tây Bán cầu. Đối với nhiều người Haiti, nguồn thu nhập đầy hứa hẹn nhất vẫn là buôn bán ma túy và vũ khí, hoạt động băng đảng, bắt cóc và tống tiền.
Trong suốt 200 năm lịch sử, Haiti đã bị các nước giàu và ngân hàng của họ bóc lột cho đến tận xương tủy. Bên cạnh đó, các nhà lãnh đạo tham nhũng cũng chỉ biết bòn rút tài sản quốc gia. Có thể nói, nỗi khốn khổ triền miên mà người dân Haiti phải trải qua không chỉ do thiên tai mà do chính con người góp phần tạo ra.




Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

Học làm người


Chu Thập
26.2.16
Sau 70 năm cuộc đời, nhìn lại đoạn đường đã đi qua, tôi vẫn thấy mình chưa bao giờ tốt nghiệp trong trường học làm người. Cứ mãi đi tìm thày học đạo mà không bao giờ đắc đạo. Các bậc đạo sĩ thì không bao giờ thiếu. Sách vở “học làm người” cũng vô số kể. Những hình tượng để mô phỏng thì lúc nào cũng có trước mắt. Nhưng trường đời vẫn cứ khó. Cố gắng làm người tử tế sao mà nhọc nhằn quá. Cứ thấy mình như các quan lớn thời xưa: “Ban ngày quan lớn như thần, ban đêm quan lớn tần mần như ma”.
Cố gắng sống cho ra người tử tế vốn là điều mà tôi đã được dạy từ thuở đầu còn để chỏm. Bên cạnh lời dạy dỗ là vô số những mẫu mực để mô phỏng. Từ chuyện cổ tích đến lịch sử dân tộc, biết bao nhiêu tấm gương đạo đức của người xưa được in vào đầu óc trẻ thơ của tôi. Riêng trong Đạo của tôi thì lại có hàng hà sa số các thánh. Mỗi năm, Giáo hội của tôi lại thêm vào danh sách các thánh một vài vị mới. Nhưng hào quang của các vị thánh sáng chói quá khiến tôi thấy không dễ đến gần để mà bắt chước. Ngay cả như thánh Phanxicô Assisi, vị thánh nổi tiếng nhứt của thời Trung Cổ mà lời kinh Hòa Bình đã được hầu như cả thế giới biết đến, cũng vẫn là một mẫu mực quá cao vời đối với một kẻ phàm phu như tôi. Tôi thích chiêm ngắm một mẫu gương bằng xương bằng thịt trước mắt hơn.
Cũng may cho tôi, trong thời đại này, tôi vẫn còn nhìn thấy hai bậc tôn sư trong trường học làm người. Vị thứ nhứt là Đức Đạt Lai Lạt Ma, người mà tôi chỉ muốn tóm gọn cuộc đời, gương sáng và giáo huấn trong câu nói: “Tôn giáo của tôi rất đơn giản.Tôn giáo của tôi là sự tử tế” (My religion is very simple. My religion is kindness). Câu nói này luôn mang lại cho tôi sự an tâm trong việc “đi đạo” của tôi. Sống tử tế không phải là sống đạo sao?
Vị thứ hai mà tôi luôn ngưỡng mộ và cố gắng noi gương dĩ nhiên là Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo của hơn một tỷ người công giáo trên khắp thế giới. Tôi không thích danh hiệu “giáo hoàng” mà Giáo hội Công giáo Việt Nam của tôi đã gán cho nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo toàn cầu. Nghe “phong kiến” và gợi lại những trang đen tối trong lịch sử của Giáo hội Công giáo. Tôi cũng không  cảm thấy thoải mái khi phải tâu với nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo bằng kiểu nói: “Đức Thánh Cha” (Holy Father, Saint Père). Dĩ nhiên, mặc dù đang sống, không thiếu những người có cuộc sống đức độ và thánh thiện đến độ đáng được gọi là “thánh sống”. Nhưng với tôi, tôn phong một người nào đó làm “thánh” khi họ còn sống, là chối bỏ cái bản tính con người vốn vẫn còn nặng tham sân si  trong người đó.
Tôi luôn ngưỡng mộ Đức Phanxicô, bởi vì đàng sau nụ cười nhân ái , cảm thông và khiêm tốn  là cả một con người cũng bình thường như mọi người trên thế giới này. Ngưỡng mộ ngài cho nên tôi luôn để tâm theo dõi các chuyến viếng thăm nước ngoài của ngài mà nhà đạo gọi là “thăm viếng mục vụ”. Gần đây nhứt là chuyến viếng thăm Mễ Tây Cơ. Đi đâu ngài cũng được những đám đông kỷ lục đón rước và tung hô. Thật ra, kể từ năm 1964, sau khi Đức Phaolô VI đã phá vỡ truyền thống tự giam mình trong 4 bức tường của điện Vatican để lên đường thăm viếng Israel, nơi được xem là linh địa của Kitô Giáo, bất cứ vị giáo hoàng nào cũng được đám đông người công giáo nghênh đón như một “siêu sao”.
Tôi không ngạc nhiên khi Đức Phanxicô đi đâu cũng được giáo dân nghênh đón. Tôi cũng chẳng buồn bỏ giờ để lắng nghe toàn bộ các bài diễn văn của ngài trong các chuyến viếng thăm mục vụ. Với tôi, hoàn cảnh chính trị, xã hội của mỗi quốc gia và tình hình của mỗi Giáo hội được ngài thăm viếng có khác, nhưng dường như vị giáo hoàng nào cũng chỉ lập lại cùng một giáo huấn dựa trên Tin Mừng của Chúa Giêsu mà thôi. Thành ra, nếu tôi có dõi bước theo Đức Phanxicô “trên từng cây số” là vì cung cách của ngài. Một cách cụ thể, lúc nào tôi cũng bị thu hút bởi những cử chỉ và nhứt là nụ cười nhân ái của ngài. Tôi để ý đến những cử chỉ của ngài khi tiếp xúc với đám đông, nhứt là với những thành phần thấp kém nhứt trong xã hội.
Trong chuyến viếng thăm Mễ Tây Cơ vừa qua của ngài, tôi cứ xem đi xem lại thước phim cho thấy lần đầu tiên Đức Phanxicô đã tỏ ra phẫn nộ. Đã bảo ngài cũng là con người như tôi mà. Thước phim được chiếu đi chiếu lại cho thấy khi ngài đang tìm cách đến gần với một em bé thì từ đám đông có hai cánh tay thò ra và kéo tay ngài mạnh đến độ khiến ngài suýt té sấp lên người của đứa bé. Cú kéo cực mạnh này chỉ có thể là thể hiện của sự mộ mến mà thôi. Vậy mà vừa được các cận vệ nâng dậy, với một gương mặt và giọng nói đầy phẫn nộ, Đức Phanxicô liền chỉ tay về phía  kẻ đưa tay kéo ngài và gián tiếp nói với đám đông: “Đừng ích kỷ”.
Đó là câu nói duy nhứt của ngài mà tôi nhớ được từ chuyến viếng thăm tại quốc gia Nam Mỹ có đến 83 phần trăm dân số theo Công giáo này. Tôi chưa có dịp đặt chân đến Mễ Tây Cơ. Tôi chỉ gặp người Mễ tại Hoa Kỳ, nhứt là tại Tiểu bang California. Chỉ cần một buổi sáng đi rảo qua các khu ngoại ô của Thành phố San José cũng đủ để “biết” người Mễ, đặc biệt là trong những khu chợ “cửu vạn”, tức những khu mà dân lao động Mễ, phần đông là di dân lậu, chờ được đón đi làm tại các nông trại.
Tôi hình dung được cách “sống đạo” của người dân Mễ qua những biểu dương tôn giáo của người dân Phi Luật Tân, vốn đã được các nhà thừa sai Tây Ban Nha từ Mễ Tây Cơ sang truyền đạo cho. Tôi nhận thấy lối “sống đạo” của hai dân tộc này gần giống nhau: trong những đám rước đông người, người ta sẵn sàng chen lấn, giành giựt và ngay cả dẫm đạp lên nhau để đến gần hoặc sờ cho bằng được một biểu tượng tôn giáo nào đó. Nếu chỉ dựa trên đám đông hoặc các nghi lễ “hoành tráng” trong các đám rước để thẩm định về một Giáo hội thì tôi nghi ngờ về sức sống ấy.
“Đừng ích kỷ” : vị giáo hoàng có nụ cười thân ái này, nếu có phẫn nộ, là cũng chỉ để nhắc nhở cho các tín hữu công giáo, dù ở bất cứ nơi nào trên thế giới, hãy sống đạo một cách quảng đại, cách riêng trong những cử chỉ nhỏ nhặt thường ngày nhứt mà thôi. Phải chăng ngài cũng muốn nói rằng thiên đàng không phải là một nơi để giành giựt và dẫm đạp lên nhau để bước vào, mà trái lại chỉ có thể đi vào bằng những bước đi từ tốn của sự nhân nhượng, quảng đại. Tựu trung, như Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhắn nhủ, đạo chỉ có thể thực hành bằng sự tử tế mà thôi.
“Đừng ích kỷ”: có lẽ đây là điều mà Đức Phanxicô cũng muốn ngỏ với ông Donald Trump, người đang là ứng cử viên tổng thống sáng giá nhứt trong cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc. Không biết có phải là một chiến thuật tranh cử không, tỷ phủ Donald Trump thích khích động tâm lý quần chúng bằng những lời tuyên bố giựt gân. Chẳng hạn như ngay trong những ngày đầu khi ra tranh cử, ông đã tuyên bố, nếu đắc cử, ông sẽ cho xây một bức tường dọc theo biên giới Mỹ-Mễ để chận đứng làn sóng di dân lậu của người Mễ ùa vào Hoa Kỳ và bắt chính phủ Mễ phải chi trả phí tổn của việc xây cất bức tường này. Ông còn khẳng định rằng Mễ Tây Cơ là nước đang gởi bọn tội phạm và hiếp dâm sang Hoa Kỳ.  Ngoài ra, giựt gân hơn nữa khi ông tuyên bố sẽ không để cho bất cứ một người Hồi giáo nào được đặt chân đến Mỹ.
Thế giới, nhứt là Anh Quốc, đã có phản ứng mạnh mẽ trước thái độ bài Hồi giáo của ông Trump. Riêng Đức Phanxicô, trên chuyến bay từ Mễ Tây Cơ trở về Roma, như thông lệ, đã dành cho các ký giả đi tháp tùng ngài một cuộc phỏng vấn trong đó, bên cạnh nhiều vấn đề khác, ngài đã bày tỏ thái độ đối với việc ông Trump muốn xây cất một bức tường dọc theo biên giới Mễ-Mỹ. Ngài nói nguyên văn như sau: “Một người chỉ nghĩ đến việc dựng lên những bức tường thay vì làm cầu, người đó không phải là một tín hữu Kitô. Đây không phải là Tin Mừng”.
Di trú hiện đang là một trong những vấn đề nhức nhối đối với các chính phủ Tây Phương. Các nước Âu Châu đang phải đối phó với làn sóng người tầm trú từ Afghanistan, Trung Đông, nhứt là Syria và Bắc Phi tràn vào lục địa. Còn Hoa Kỳ thì đang phải đối đầu với những vấn đề do sự hiện diện của hơn 10 triệu người di dân bất hợp pháp, trong số này có trên 5 triệu người Mễ. Đây là một trong những vấn đề nóng trong trong các cuộc tranh luận của các ứng cử viên tổng thống Mỹ hiện nay. Đức Phanxicô biết quá rõ điều đó. Và dĩ nhiên, ngài cũng chẳng có ý can thiệp vào cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc.
Theo dõi thái độ hằn học của ông Trump đối với những người di dân lậu tại Hoa Kỳ và nhứt là óc bài Hồi giáo của ông, tôi hiểu được bài học mà Đức Phanxicô muốn nhắn gởi khi ngài nói đến “những bức tường”. Do sợ hãi trước sự xâm lăng của người Hung nô, Mông Cổ, người Thổ và những bộ lạc du mục khác từ phương Bắc mà từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên cho đến thế kỷ 16, Tần Thủy Hoàng và các hoàng đế Trung Quốc đã cho xây Vạn Lý Trường Thành để bảo vệ Đế quốc Trung Quốc. Cũng do sợ hãi, sợ Tây Phương tấn công, sợ người dân bỏ trốn mà tháng 8 năm 1961, chế độ cộng sản Đông Đức đã cho dựng lên bức tường “ô nhục” Bá Linh. Cũng vì sợ hãi và nghi kỵ mà chế độ cộng sản Việt Nam cũng cho dựng lên rất nhiều bức tường vô hình để giam giữ người dân. Tựu trung, khi sợ hãi, con người thường xây đắp tường lũy và sống co cụm trong nghi kỵ và ích kỷ. Tường lũy thường là biểu trưng của sợ hãi và ích kỷ. Tôi hiểu như thế về hình tượng của những bức tường mà Đức Phanxicô muốn ám chỉ đến. Đối lại với tường lũy là hình ảnh của những chiếc cầu. Xây cầu hay “bắc một nhịp cầu”, trong ngôn ngữ của bất cứ dân tộc nào cũng đều có nghĩa là bước tới trong tình liên đới, hòa giải, cảm thông và chia sẻ.
Lời kêu gọi “Đừng ích kỷ” mà Đức Phanxicô đã ngỏ với đám đông người công giáo Mễ tận bên Mễ Tây Cơ hay lời nhắn nhủ “Hãy xây dựng những chiếc cầu nối” mà ngài muốn nhắn gởi với ứng cử viên tổng thống Mỹ Donald Trump đều có chung một âm hưởng: hãy biết ra khỏi chính mình để quan tâm đến người khác. Đó là cốt lõi của Tin Mừng trong Kitô Giáo và dĩ nhiên đó cũng là tinh yếu của đạo làm người.
Trong cố gắng học làm người, tôi thường cảm nhận được cốt lõi ấy qua nụ cười nhân ái, cung cách khiêm tốn, thái độ cảm thông của hai vị tôn sư của tôi là Đức Đạt Lai Lạt Ma và Đức Phanxicô. Đó là bài học mà tôi không thể không cố gắng thực hành nếu muốn nên người tử tế hơn.









Thứ Tư, 2 tháng 3, 2016

Cũng tại con chồn



Chu Thập
7.8.12


Thích sống gần rừng núi cho nên cuộc sống của tôi tuy chưa đến nỗi phải học những cách thức mưu sinh của anh chàng Bear Grylls trong tập phim Man vs Wild nhưng cũng bất đắc dĩ trở thành một tay “trường kỳ kháng chiến” chống lại một số “cư dân bản địa” như Gà tây rừng (brush turkey), Possum, Goanna, Kỳ đà...Nghĩ cho cùng, “họ” đã sống ở đây hàng bao nhiêu đời rồi. Mình là người đến “xâm chiếm” lãnh thổ của “họ” cho nên “họ” cứ đến “hạch hẹ” mình cũng là chuyện đương nhiên thôi. Chính phủ Úc không những cảm thấy có nghĩa vụ phải chăm sóc cho người thổ dân, mà cũng “o bế” các “cư dân bản địa” này tối đa. Lỡ xâm phạm đến tính mạng của “họ”, không đi tù thì cũng chẳng biết lấy tiền đâu mà nộp phạt. Biết như thế cho nên trong quan hệ với các “cư dân” này, tôi thấy nếu không chấp nhận sống chung hòa bình thì ít ra cũng phải rất cẩn thận.
Tôi “ghét” nhứt là cái giống gà tây rừng. Mùa này là cao điểm của những cuộc hành quân tảo thanh của chúng. Bất cứ cây nào vừa trồng hôm trước, hôm sau bị chúng đào lên ngay. Có rào dậu kỹ đến đâu cũng chẳng ăn thua gì với đôi chân nhọn và cứng như sắt của chúng. Thành ra, tôi đành chào thua. Mỗi ngày đôi ba lượt chỉ còn biết hò hét, chọi đá cho chúng đi khuất mắt và tự nhủ: không giãn gân giãn cốt thì cũng học được chữ Nhẫn.
Với loại sống về đêm như possum thì gần đây nhà tôi đã có cách trị: chỉ cần đặt một thứ thiết bị có phát ra một âm thanh đúng với tần số mà lỗ tai chúng nó chịu không nổi (và nếu đến gần thì tôi cũng không chịu nổi!). Nhờ vậy mà đêm đến không còn phải nghe thấy tiếng tru tréo rợn tóc gáy của chúng và sáng ra không phải ngẩn ngơ tiếc xót cho luống rau hay những cây con bị ăn trọc lóc nữa.
Riêng cái giống chuyên đến vào giờ ngọ để ăn cắp trứng gà như goanna hay kỳ đà thì tôi đành phải làm thêm giờ phụ trội. Cứ xế trưa, sau khi các chị gà chị vịt đã làm xong phận sự, mình chịu khó đi lượm trứng là xong. Cái đám cư dân bò sát này có xuống đến nơi cũng đành phải trơ mỏ mà chém vè thôi.
Tưởng đã tìm ra cách đối phó với cái đám “mất dạy” này thì yên tâm mà vui thú điền viên. Nào ngờ gần đây tôi lại phải điên đầu vì một cư dân “không phải bản địa” là chồn. Nghe nói vì muốn săn bắn hoặc đa dạng hóa thú rừng cho nên những người di dân đầu tiên mới rước vào Úc đại lợi cái của nợ mà truyền thuyết và văn chương của bất cứ  nước nào cũng rủa sả thậm tệ là “cáo”, là gian manh, là quỷ quyệt và bao nhiêu hình dung từ xấu xa nhứt.
Tôi có một kinh nghiệm đau thương về cái giống ma mãnh này. Một buổi chiều nọ, tôi có việc phải ra khỏi nhà và khi về đến nhà thì trời đã nhá nhem tối. Linh tính báo cho tôi biết là có chuyện không ổn về lứa gà con vừa hơn một tháng tuổi. Khi đi đóng cửa chuồng, tôi mới thấy vài con chạy tứ tung. Kiểm soát lại, tôi thấy mất 12 con, 2 con bỏ xác tại trận, nghĩa là đã bị nguyên một họ nhà chồn đi càn quét và tha đi hết 10 con. Đề cao cảnh giác cho nên chiều nào cũng vậy, hễ mặt trời lặn là tôi phải đi đóng cửa chuồng gà ngay. Vậy mà thỉnh thoáng kiểm tra dân số, tôi vẫn thấy mất. Thì ra, chồn Úc coi bộ “thông minh” hơn chồn Việt nam nhiều: chúng nó không thèm đánh du kích ban đêm nữa, mà làm ăn ngay giữa thanh thiên bạch nhựt. Tôi đã đánh bẫy đến cả hai tuần lễ mà chẳng bắt được tên nào cả. Một số bạn Úc giải thích rằng chồn ở đây đã biến thành “hồ ly tinh” rồi. Chỉ cần ngửi được một chút hơi người là chúng nó biết có bẫy cho nên không dễ gì lừa được chúng.
Nhưng ở đời, chẳng ai học được hết những chữ “ngờ”. Do chồn cáo quỷ quyệt chuyên bắt gà bắt vịt, cho nên hễ cứ mất một con thì tôi đổ ngay xuống đầu con chồn là xong chuyện. Vậy mà cuối cùng, sau nhiều ngày rình rập theo dõi, tôi mới biết, ngoài chồn ra, còn có một thủ phạm mà mình chẳng bao giờ nghi ngờ cả. Đó là “cậu chó” của ông hàng xóm nhà tôi. Hồi giờ tôi cứ tưởng chó Tây được nuôi dưỡng đầy đủ và huấn luyện thuần thục để biết sống “hòa bình” với các giống thú khác. Vậy mà ngày nọ, nghe tiếng gà kêu thất thanh, kiểm soát thấy mất một con gà trắng, tôi mới mon men lần theo bìa rừng để may ra còn rượt kịp con chồn mắc dịch. Nhưng hỡi ơi, nhìn vào khe hở của hàng rào gỗ, tôi thấy “cậu chó” của người hàng xóm đang ngồi vặt lông và xơi tái con gà của tôi. Thì ra, mấy chị gà của tôi có lẽ vì chán cơm thèm phở cho nên mới lẻn qua mấy kẽ hở hàng rào để xâm nhập vào vườn của ông hàng xóm. Không ngờ, bị “cậu chó” phục kích cho nên có chị chạy không kịp. Bây giờ cháy nhà ra mặt chuột, thủ phạm bắt gà của tôi không chỉ là chồn, mà còn là “cậu chó” của ông hàng xóm nữa.
Chuyện này làm tôi nhớ lại lúc còn làm việc bên Phi luật Tân. Hồi đó, tuy phong trào nuôi gà “đi bộ hay băng rừng” chưa thịnh hành lắm, tôi cũng  có nuôi một ít gà mái đẻ và vịt xiêm. Tôi đã phải mất ăn mất ngủ vì gà vịt mới nở cứ bị sát tế mà không biết ai đã ra tay. Thoạt tiên, tôi nghi ngờ mấy cô cậu mèo hoang. Còn ai trồng khoai đất này nữa. Mèo bắt gà con vịt con là chuyện thường tình mà. Thế là tôi mua ngay một cây súng hơi về và hễ gặp mèo là tôi “phơ”. Giải quyết được cái đám mèo hoang, vừa bảo vệ an toàn cho gà con vịt con, vừa không còn mỗi đêm phải nghe những tiếng rên rỉ ai oán bên hông nhà khi chúng nó diễn trò “mèo chuột”, tôi tưởng đã xong chuyện. Nhưng lạ quá. Mèo không còn mà gà con vịt con vẫn cứ mất đều đều. Thì ra, tôi đã đổ oan cho lũ mèo. Thủ phạm chính là đàn chuột xây dựng sào huyệt ngay trong vườn nhà. Cứ đêm đến, họ nhà tý này xâm nhập vào chuồng gà và tha hồ kéo chân, moi ruột gà con và vịt con.
Ngẫm nghĩ về những sai lầm trong chuyện truy tìm thủ phạm giết gà vịt này, tôi nhận thấy rằng vì những khung suy nghĩ có sẵn, vì thành kiến hay vì nông nổi và thiếu suy xét, tôi cũng rất thường rơi vào cảnh “trông gà hóa cuốc” khi phán đoán về hành động và con người của tha nhân.
Tôi nhớ hồi giữa thập niên 1980 có xem cuốn phim Murphy’s Law do tài tử Charles Bronson thủ diễn. Ông tài tử có gương mặt lạnh như tiền này thủ vai Jack Murphy, một viên cảnh sát bị vợ bỏ để đi hành nghề vũ khỏa thân. Chán đời, Murphy chỉ còn biết tìm quên lãng trong men rượu. Nhưng họa vô đơn chí. Vợ ông bất thần bị giết chết và dĩ nhiên, khi bắt đầu điều tra cảnh sát bắt giữ ông như nghi phạm đầu tiên. Vào tù không bao lâu, Murphy đã vượt ngục. Cùng một lúc nhiều cảnh sát viên cũng bị thủ tiêu. Mối nghi ngờ của cảnh sát về tội ác của Murphy lại càng gia tăng. Murphy biết rõ mình bị một người nào đó “gài bẫy”. Nhưng phải mất bao nhiêu ngày tháng vừa trốn chạy vừa truy tìm, cuối cùng Murphy mới khám phá được người đã giết vợ ông và tìm cách hãm hại ông: đó là một người phụ nữ “vô danh” mà lúc mới gia nhập cảnh sát, ông đã bắt giữ. Y thị trả thù bằng cách gây ra bao nhiêu án mạng để cảnh sát nghi ngờ và bắt giữ Murphy.
Cuốn phim đầy những pha tréo cẳng ngỗng: người vô tội bị nghi ngờ, kẻ sát nhân lại là người không ai ngờ tới! Kẻ thù tưởng là người xa lạ, ai ngờ lại ở ngay trong nhà mình. Với An Dương Vương, nếu có kẻ thù cần đề phòng thì kẻ thù đó chỉ có thể là quân của Triệu Đà mà thôi. Làm sao ông có thể nghi ngờ người con gái ruột là nàng Mỵ Châu ngồi sau lưng ngựa mình, lại là người phản bội mình.
Có lẽ không nơi nào dễ xảy ra những phán đoán sai lầm cho bằng tòa án. Ngày nay, nhờ các cuộc xét nghiệm về DNA, biết bao nhiêu người vô tội bị giam tù hàng bao nhiêu năm mới được giải oan. Chuyện của bà Lindy Chamberlain ở Úc đại lợi này là một điển hình mới nhứt. Ngày 17 tháng 8 năm 1980, đứa con gái mới 2 tháng tuổi của bà bị chó dingo giết chết tại Uluru, lãnh thổ Bắc Úc. Nhưng vì không tìm được thi thể của đứa bé đã mất tích, cho nên mặc cho bà Chamberlain có bảo rằng con bà bị chó rừng ăn thịt, bà vẫn bị đưa ra tòa xét xử và bị kết án 3 năm tù. Khi bà vừa mãn hạn tù thì cũng là lúc các nhân viên điều tra mới tìm thấy một mảnh vải của chiếc áo mà đứa bé mặc lúc bị mất tích. Người ta mở lại cuộc điều tra và mới đây, nghĩa là 32 năm sau khi đứa bé mất tích, tòa mới nhìn nhận rằng nó đã bị chó dingo ăn thịt và danh dự mới thực sự được trả lại cho người mẹ.
Bị kết án khi không hề phạm tội ác và phải mất bao nhiêu năm trời thọ án mới được tuyên bố trắng án: chuyện như thế lại xảy ra quá nhiều trong hồ sơ các tòa án trên khắp thế giới. Không nói đến chuyện “giết lầm hơn là tha” như đã và đang xảy ra trong các chế độ cộng sản, chuyện sai lầm khi phán đoán về hành vi của người khác và buộc tội họ là chuyện thường không tránh khỏi trong sinh hoạt tố tụng. Điều này cho thấy tâm hồn và đời tư của con người vẫn mãi mãi là một bí ẩn mà chẳng có thước đo công lý nào có thể dò thấu.
Tôi thường nghĩ đến cái bí ẩn ấy mỗi khi nhìn vào điều mà khách quan người ta thường gọi là tội ác. Hãy thử nhìn lại vụ thảm sát tại Oslo, Na uy, vừa được tưởng niệm đúng một năm. Thoạt tiên, khi xảy ra vụ khủng bố, ai mà chẳng muốn chụp một cái mũ lên đầu mấy ông Hồi giáo quá khích cho nó...gọn chuyện. Thế rồi ai cũng phải sửng sốt khi biết được kẻ khủng bố không phải là một ông Hồi giáo quá khích nào đó, mà lại là một anh quá khích chống Hồi giáo. Có điều đáng suy nghĩ là cho tới nay, mỗi lần ra tòa, mặc dù các chuyên gia tâm lý cho rằng Anders Behring Breivik là một người bệnh hoạn, có tâm lý bất thường, anh vẫn khăng khăng nói rằng anh là một con người bình thường, hành động theo đòi hỏi của lý trí bình thường. Thật ra một con người có tâm lý bình thường và lành mạnh có thể chai lì trước tội ác như thế không?
Vụ thảm sát mới xảy ra tại Denver, tiểu bang Colorado, Hoa kỳ cũng gợi lên cho tôi những suy nghĩ như thế. Trước tòa, người đã nã súng bắn chết 12 người vô tội đang xem cuốn phim “Batman” (người dơi) trong một rạp hát, đã tỏ ra thản nhiên và vô cảm. Nhiều người đang chờ đợi một bản án tử hình cho James Eagan Holmes, người thanh niên 24 tuổi đã từng là một sinh viên y khoa xuất sắc. Tôi chia sẻ niềm đau của những người có thân nhân bị sát hại. Nhưng tôi vẫn cảm thấy thương hại kẻ sát nhân. Có lẽ anh cũng chỉ là nạn nhân của một xã hội luôn đề cao những anh hùng của bạo lực và chỉ muốn xử dụng bạo lực để giải quyết các khó khăn trong cuộc sống.
Sở dĩ tôi thấy mình cần phải luôn biết tỏ ra cảm thông với người khác là vì trước hết tôi biết mình rất dễ có những phán đoán lệch lạc, thiên vị, nông nổi về người khác. Kế đó, tôi luôn tự nhủ phải cảm thông với người khác bởi vì tâm hồn con người là một hố thẳm mà tôi không thể nào có thể dò thấu được. Tôi biết tôi đã là khó rồi, huống hồ hiểu được người khác.
Nhưng quan trọng hơn cả, tôi cảm thấy phải luôn cảm thông với người khác, bởi vì tôi cũng chia sẻ với họ nhiều mẫu số chung của kiếp người. Với tôi, “cảm thông” là từ ngữ dễ thương nhứt trong tiếng Việt. Nhưng tôi thích chữ “compassion” trong nhiều ngôn ngữ Tây phương bắt nguồn từ tiếng Latinh hơn. Nó nói lên cái thân phận bất toàn, yếu đuối và “đau khổ” chung của mọi người. “Cảm thông” là “cùng”  “đau khổ” với người khác vậy. Và dĩ nhiên, có “cùng đau khổ” với người khác, cùng qua cây cầu “đoạn trường” với người khác, con người mới cảm thấy dễ dàng tha thứ khi nhìn vào lỗi lầm của người khác và nhứt là khi bị người khác xúc phạm.
Cũng như con chồn, không phải người “xấu” nào cũng xấu và đáng ghét. Con chồn của nhà văn Antoine de Saint Exupery đã cho tôi một câu “nhớ đời”: “Có những thứ mắt trần không thấy được, mà phải nhìn bằng trái tim”.  Tôi cần một đôi mắt của “cảm thông”.