Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015

Thân phận người phụ nữ Ấn Độ

12.12.15

Ấn Độ, với dân số hơn một tỷ người, không chỉ được thế giới nhắc đến vì  sự phát triển kinh tế nhanh chóng, mà còn gợi lên một trong những vấn đề xã hội nan giải là tình trạng kỳ thị và bạo động chống nữ giới. Vì chính phủ không giải quyết được vấn đề cho nên chính người phụ nữ đã vùng lên: một nhóm phụ nữ đã thành lập một hiệp hội lấy tên là “Gulabi Gang” (Băng Gulabi). Những thành viên của Tổ chức do người phụ nữ tên là Sampat Pal thành lập mang áo “Sari” mầu hồng, tay cầm cây gậy tầm vông. Chủ trương tranh đấu của “Gulabi Gang” là nhổ tận gốc nạn bạo động chống nữ giới trong một xứ sở mà người phụ nữ bị kỳ thị ngay cả trước khi chào đời.
Janki Devi là một nạn nhân tiêu biểu của bạo động chống nữ giới. Năm 15 tuổi, người thiếu nữ này đã gặp gỡ và yêu một thanh niên trên dưới 20 tuổi tên là Anand Kumar. Vài tháng sau, cô mất đi cái giá nghìn vàng của người phụ nữ. Dù vậy gia đình 2 bên quyết liệt chống lại sự tác hợp đôi bạn trẻ. Đây là điều thường xảy ra ở những vùng quê của Tiểu bang Uttar Pradesh, Bắc Ấn Độ cũng như trên toàn quốc nói chung. Hôn nhân trước hết là chuyện do gia đình dàn xếp và quyết định, chứ không thể là chuyện “ăn cơm trước kẻng” được. Khi quyết định về chuyện hôn nhân của con cái, cha mẹ hai bên thường làm một bài tính trong đó họ cân nhắc kỹ lưỡng những yếu tố quan trọng như giai cấp, tình trạng kinh tế và ngay cả quan hệ chính trị giữa hai bộ lạc hay gia đình. Theo họ, với thời gian và thói quen, thế nào tình yêu cũng đến thôi.
Đối với Janki và Anand, một phương trình như thế đương nhiên không mang lại một kết quả mong muốn. Do đó, cha mẹ hai bên đã yêu cầu họ chấm dứt mối quan hệ. Nhưng đã lỡ yêu nhau, đôi bạn trẻ quyết định vượt qua tính toán của gia đình và âm thầm cưới nhau. Làm như thế họ mới mong đặt gia đình hai bên trước một sự việc đã rồi. Nhưng theo đòi hỏi của truyền thống, người chồng phải về sống chung với gia đình bên vợ. Và đây là một khởi đầu của một cơn ác mộng đối với Janki. Không hiểu vì lý do nào đó, cô không bao giờ được phép làm bất cứ một xét nghiệm y khoa nào, cho nên không còn khả năng sinh con đẻ cái. Chính vì vậy mà cha mẹ chồng cô đã tưới xăng vào người cô để thiêu sống cô. Khám phá kịp thời, hàng xóm đã đưa cô vào bệnh viện, nhưng không thể cứu sống cô. Cha mẹ cô đã làm đơn tố cáo, nhưng cảnh sát chẳng màng điều tra và các cơ quan truyền thông cũng chẳng tỏ ra tha thiết với số phận bi thương của người vợ trẻ này.
Janki chỉ là một trong hơn 300.000 phụ nữ mỗi năm phải trải qua nhiều hình thức khác nhau về bạo động chống nữ giới tại Ấn Độ. Theo những con số thống kê chính thức năm 2013, tại quốc gia đông dân số thứ nhì trên thế giới này, cứ 10 phút có một người phụ nữ bị bắt cóc và cứ mỗi 20 phút có một người bị hãm hiếp. Dĩ nhiên, những con số này cũng chưa phản ảnh đúng thực tế của tình trạng bạo động đối với người phụ nữ Ấn Độ. Theo bà Doreen Reddy, giám đốc của Chương Trình Phát Triển Nữ Giới, “cứ có một trường hợp được báo cáo, thì cũng có ít nhất một người đang âm thầm đau khổ”. Điều đó có nghĩa là có đến một nửa số trường hợp bạo hành trong gia đình Ấn Độ bị che đậy hay chối bỏ. Người đàn ông Ấn Độ thường nại đến việc người vợ thiếu tôn trọng đối với gia đình nhà chồng để hành hạ vợ. Sự son sẻ của người vợ cũng là một yếu tố người chồng thường đưa ra để hành vợ vợ mình.
Nhiều người Ấn Độ cho rằng một người đàn bà không sinh con chẳng khác nào một con vật vô dụng và như trong trường hợp của Janki, gia đình chồng tự cho phép có quyền giải quyết vấn đề bằng cách thủ tiêu cô. Tuy nhiên, cha của cô Janki, ông Dinesh Prasad Panday, khẳng định rằng không thể đưa ra bất cứ một lý do nào để biện minh cho việc giết hại một người phụ nữ. Do đó, sau nhiều lần yêu cầu cảnh sát truy tố gia đình nhà chồng của Janki là một gia đình thuộc giai cấp cao hơn cũng như có quan hệ thân thiết với chính quyền địa phương, ông Panday đã quyết tâm đi tìm công lý cho con mình bằng một cách khác: ông đã liên lạc với tổ chức “Gulabi Gang”. Được thành lập vào năm 2006, hiện nay Tổ chức này đã qui tụ được khoảng 400.000 thành viên rải rác trên khắp Ấn Độ. Những người phụ nữ mặc Sari hồng, tay cầm gậy tầm vông này, đã trở thành một nỗi kinh hoàng đối với những kẻ hãm hiếp, bạo hành và ngay cả những cảnh sát viên tham nhũng. Lý do khiến cho Tổ chức này có thể gây kinh hoàng cho những tên tội phạm thật đơn giản: bà Sampat Pal Devi, người sáng lập tổ chức, không bao giờ tỏ ra nhân nhượng trước tội ác!
Người phụ nữ 53 tuổi này đã đón tiếp ông Panday tại tầng trệt của một cao ốc ba tầng do bà sở hữu. Sau khi đã lắng nghe câu chuyện và một số hình ảnh của Janki, nhất là việc cô bị thiêu sống, bà Sampat đã lấy điện thoại cầm tay gọi chính viên cảnh sát đã từng từ chối không chịu nói chuyện với ông Panday. Với giọng nói sang sảng và cương quyết, bà cảnh cáo viên cảnh sát rằng nếu họ không tiến hành một cuộc điều tra thấu đáo về cái chết của cô Janki, họ sẽ phải đối mặt với một đám đông phụ nữ trước trụ sở của họ.
Sau khi gọi điện thoại đến đồn cảnh sát, người sáng lập và chủ tịch của tổ chức “Gulabi Gang” giải thích với ông Panday: “Tôi không chủ trương bạo động, nhưng đôi khi đó lại là cách duy nhất để chiến đấu”. Bởi vì theo bà, có những người mà lời nói và lý lẽ chẳng thấm vào đâu cả. Lần đầu tiên bà sử dụng bạo động là năm 2002, khi bà chứng kiến cảnh một người đàn ông đánh đập một phụ nữ trên đường phố. Bà đã can thiệp và bị đánh lại. Ngày hôm sau, bà liền huy động 5 người phụ nữ trong làng lại để thi hành luật “mắt đền mắt răng thế răng”. Chiến thuật này đã tỏ ra có hiệu quả, cho nên khi cần bà quyết định sử dụng nó. Cách đây vài tháng, bà lên tiếng tố cáo một thẩm phán vì đã tỏ ra “vô cảm” trước một vụ bạo hành đối với nữ giới và không ngần ngại lôi ông ra ngoài đường. Chính vì vậy mà bà cũng bị án treo.
Dù sao, tiếng nói của bà có một tác động mạnh. Chỉ nửa tiếng đồng hồ sau khi bà gọi điện thoại đến đồn cảnh sát, ông cảnh sát trưởng đã đồng ý gặp ông Panday. Chuyện của cô Janki không phải là trường hợp duy nhất bà phải đứng ra giải quyết. Mỗi ngày, bà Sampat phải lắng nghe nhiều câu chuyện như thế và câu chuyện nào cũng khiến bà phẫn nộ như chính câu chuyện của bà.
Là con gái của một gia đình nông dân nghèo, năm 12 tuổi bà Sampat đã bị cưỡng bách phải về làm vợ một người đàn ông 25 tuổi, khi chỉ mới có kinh nguyệt lần đầu. Bà kể lại: “Tôi bị bứng ra khỏi trường học khi tôi chưa biết đọc biết viết và trở thành một người nô lệ trong gia đình nhà chồng”. Ba năm sau, bà sinh đứa con đầu lòng và cứ năm một mà sinh thêm 5 đứa con nữa. Nhưng nhờ lòng quả cảm và sự cương quyết, bà đã khiến gia đình nhà chồng phải trọng nể bà. Không bao lâu, bà nhận ra điều bà phải làm là bằng mọi giá phải giải phóng người phụ nữ. Mục tiêu của bà vừa cụ thể, rõ ràng cũng vừa đầy tham vọng: “ Nhổ tận gốc tệ nạn tảo hôn và truyền thống “của hồi môn” (mà người phụ nữ phải nộp cho gia đình nhà chồng), không nhân nhượng đối với tệ nạn bạo hành gia đình, khẳng định phẩm giá người phụ nữ xuyên qua giáo dục và gây ý thức trong xã hội”.
Tại Ấn Độ, nữ giới bị kỳ thị ngay cả trước khi chào đời. Kỹ thuật xác định giới tính của thai nhi hiện cũng đã được sử dụng ngay cả tại những vùng nông thôn. Nếu khám phá thai nhi trong bụng mình là một đứa con gái, nhiều người phụ nữ bị cưỡng bách phải phá thai. Do đó, nếu trên thế giới trung bình cứ 100 trẻ gái thì có 106 trẻ trai, thì tại Ấn Độ số con trai lại lên đến 112 em. Theo ước tính, trong 3 thập niên vừa qua, đã có không dưới 12 triệu trẻ em gái Ấn Độ không được chào đời vì truyền thống trọng nam khinh nữ này.
Vanita, một phụ nữ hiện đã 21 tuổi, là một trường hợp may mắn. Mãi cho đến lúc cô chào đời, cha mẹ cô mới thực sự biết rõ giới tính của cô. Cô là chị cả trong gia đình 5 người con. Cô là điển hình của tấn thảm kịch mà người phụ nữ Ấn Độ phải trải qua. Cô phải chịu 3 loại kỳ thị: kỳ thị vì bị khuyết tật về thể lý, kỳ thị vì thuộc một bộ lạc thiểu số và nhất là kỳ thị vì là một phụ nữ. Nhưng cơn ác mộng chỉ thực sự đến với cô khi cô được 15 tuổi. Vì mẹ cô chết sớm, cha cô bắt đầu đi lại với người em gái của mẹ cô. Vì không chấp nhận quan hệ này cho nên cô bị người cha tống ra khỏi nhà bằng cách gả cho một người chú già hơn cô rất nhiều.
Luật pháp Ấn Độ nhìn nhận những cuộc hôn phối như thế. Nhưng Vanita cương quyết chống lại. Mẹ ghẻ cô liền nghĩ đến một giải pháp rất thông thường tại Ấn Độ: dàn xếp cho người chú hãm hiếp cô. Biết trước âm mưu này, Vanita tìm cách tự tử trước khi người cậu ra tay. Các bác sĩ đã kịp cứu sống cô. Nhưng cũng kể từ đó, gia đình cô đã hoàn toàn quay lưng lại với cô. Cuối cùng, họ cũng tìm cách gả cô cho một người đàn ông đã có vợ. Sở dĩ người đàn ông này có thể tái hôn là vì ông ta chưa có con. Vanita không còn một chọn lựa nào nữa.
Mặc dù về mặt kinh tế, Ấn Độ đã gia nhập vào Khối G20, gồm 20 nước có nền kinh tế mạnh nhất thế giới hiện nay, tình trạng xã hội, nhất là liên quan đến phẩm giá và quyền của phụ nữ, vẫn còn tồi tệ. Cách đây 3 năm, kết quả của một cuộc thăm dò được thực hiện với 370 chuyên gia về những vấn đề giới tính trên khắp thế giới đã cho thấy Ân  Độ là quốc gia tồi tệ nhất trong Khối G20 “để làm một người phụ nữ”. Những con số thống kê cho biết: mỗi năm có đến 56.000 thai phụ Ấn Độ phải chết khi sinh con, tỷ lệ biết đọc biết viết của phụ nữ nước này chỉ được 55 phần trăm. Trên 50 phần trăm dân số Ấn Độ vẫn còn xem việc đánh đập vợ là điều có thể chấp nhận được. Ngoài ra, cũng phải kể đến tỷ lệ hiện diện của người phụ nữ Ấn Độ trong Quốc hội: chỉ có 11 phần trăm dân biểu là phụ nữ!
Tương lai của người phụ nữ Ấn Độ vẫn còn đen tối. Tuy nhiên, người sáng lập Tổ chức “Gulabi Gang” vẫn tỏ ra lạc quan, nhất là kể từ sau sự kiện một nữ sinh viên tên là Jyoti Singh bị hãm hiếp tập thể ngay tại Thủ đô Delhi dạo tháng 12 năm 2012. Theo bà Sampat, cái chết của cô gái này không vô ích. Dân chúng Ấn Độ ngày càng ý thức hơn về thân phận bị kỳ thị và miệt thị trong xã hội Ấn Độ. Và hơn ai hết, chính người phụ nữ nước này cũng ngày càng ý thức hơn rằng họ cần phải được tôn trọng đúng với phẩm giả của họ.

(theo:http://thediplomat.com/2015/12/fighting-for-indias-women/)


Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

Cây Giáng Sinh


Chu Thập
4.12.15

Theo dõi Hội nghị Thượng đỉnh về thời tiết thay đổi “COP21” diễn ra tại Paris, Pháp Quốc trong những ngày vừa qua, tôi thấy hầu hết các nhà lãnh đạo thế giới có mặt trong Hội nghị đều đưa ra những lời kêu gọi tích cực. Tôi đặc biệt chú ý đến sứ điệp của một số vị.
Trước hết là lời tuyên bố của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Nếu có một di sản mà ông muốn để lại cho Hoa Kỳ và cả thế giới, tôi nghĩ di sản đó phải được tóm gọn trong câu nói của ông: “Thời tiết thay đổi là một vấn đề  kinh tế và an ninh cấp thiết mà chúng ta cần phải giải quyết ngay bây giờ”.
Tôi chưa có đủ kiến thức và kinh nghiệm để kiểm chứng xem lời tuyên bố trên đây của đương kim tổng thống Mỹ có đúng trong kinh tế vĩ mô không. Nhưng nhìn vào “kinh tế nhỏ” trong gia đình tôi, tôi nhận thấy việc giải quyết vấn đề thời tiết thay đổi bằng năng lượng mặt trời quả có mang lại một kết quả tỏ tường. Nhờ năng lượng mặt trời được sản xuất từ 10 tấm “bảng thu tích năng lượng mặt trời” (solar panel) gắn trên mái nhà, gia đình tôi không những có nước nóng phủ phê, có đủ điện để tiêu dùng mà còn dư chút đỉnh để bán lại cho chính phủ. Đó là chưa kể đến hai bình chứa nước mưa, đủ để giữ cho “quê hương bỏ túi” trong vườn của tôi được xinh tươi và dĩ nhiên cũng giúp tôi có dịp vận động cơ thể.
Sứ điệp thứ hai được tôi đặc biệt lắng nghe là của một nhà sinh vật học nổi tiếng thế giới, ông David Attenborough. Từ 50 năm qua, thế giới không lạ gì với tên tuổi của nhà làm phim tài liệu chuyên về “Sự Sống trên trái đất” (Life on Earth) được trình chiếu rộng rãi trên hầu hết các đài truyền hình trên thế giới. Theo ông, các chính phủ nên dành ngân sách cho các cuộc nghiên cứu khoa học để tìm ra những phương pháp mới hầu thu thập, tích tr và phân phối năng lượng từ những nguồn năng lượng như mặt trời, sóng và gió. Ông nói: “Nếu chúng ta chỉ “bắt lấy” được một phần năm ngàn của năng lượng mà mặt trời phát tiết ra trên mặt trăng và địa cầu này mỗi ngày, thì chúng ta sẽ thỏa mãn được mọi nhu cầu về năng lượng cho toàn thể nhân loại”. Ông nói một câu đáng suy nghĩ: “Hành tinh này sẽ tồn tại, hành tinh này sẽ trở nên tốt đẹp hơn nhiều nếu loài người biến mất”. Theo ông, chọn lựa duy nhứt để cứu thế giới chính là tiến tới sử dụng năng lượng tái sinh.
Cái nhìn của ông Attenborough làm tôi cứ phải tiếc r mỗi lần đi ngang qua một vùng sa mạc nắng cháy hay mỗi lần nhìn lên những mái tôn mênh mông của các hãng xưởng. Giá như năng lượng mặt trời được thu tích thì làm sao “xài” cho hết!
Với những bằng chứng khoa học rành rành về hiện tượng hâm nóng trái đất và mực nước biển đang dâng cao, tôi tin ở lời “tiên tri” của nhà khoa học này.
Nhưng là một tín đồ tôn giáo, tôi lại càng chú ý hơn đến lời kêu gọi của Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo của tôi. Trên chuyến bay từ Phi Châu trở về Roma sau khi đã viếng thăm một số quốc gia tại lục địa này, nhà lãnh đạo công giáo đã cảnh cáo rằng nếu “ngay bây giờ” cộng đồng thế giới không đạt được một thỏa thuận về việc đương đầu với hiện tượng thời tiết thay đổi, thì thế giới sẽ rơi vào vào một cuộc “tự vẫn”. Theo ngài, thời tiết thay đổi là nguyên nhân làm phát sinh và nuôi dưỡng nghèo đói, di dân, bệnh tật và chiến tranh.
Lời cảnh cáo của nhà lãnh đạo công giáo này có một trọng lượng đặc biệt. Đức Phanxicô là một gương mặt nổi bật trong thế giới ngày nay, không phải vì ngài đang lãnh đạo một Giáo hội có trên cả tỷ người, mà bởi vì ngài “giảng dạy” bằng cuộc sống hơn là bằng lời nói. Tôi tin chắc rằng lời kêu gọi của ngài về việc sử dụng năng lượng mặt trời sẽ được thế giới lắng nghe, bởi vì quốc gia Vatican nhỏ bé mà ngài là nguyên thủ hiện là quốc gia duy nhứt trên thế giới hoàn toàn sử dụng năng lượng mặt trời để đáp ứng mọi nhu cầu trong quốc gia này.
Trong các sứ điệp của các nhà lãnh đạo thế giới về thời tiết thay đổi và hiện tượng hâm nóng trái đất, tôi cũng nhớ lại lời tuyên bố của cựu thủ tướng Kevin Rudd. Ông nói rằng giải quyết vấn đề “thời tiết thay đổi là một thách đố luân lý” của thời đại. Lâu nay, tôi chỉ nghe nói đến những hệ lụy của thời tiết thay đổi đối với kinh tế, an ninh, chính trị và xã hội. “Luân lý” hay “đạo đức” là một khía cạnh ít khi được nhắc đến khi đề cập đến vấn đề thời tiết thay đổi mặc dù tác nhân gây ra không ai khác hơn là chính con người. Khi nhìn vào những hậu quả tai hại đối với sức khỏe thể lý và tinh thần của con người do nạn ô nhiễm gây ra, tôi không thể không nghĩ đến trách nhiệm của con người. Mà đã nói đến trách nhiệm thì đương nhiên không thể chối bỏ khía cạnh luân lý và đạo đức.
Hội nghị Thượng đỉnh “COP21” diễn ra tại Paris chỉ một thời gian rất ngắn sau vụ khủng bố dã man do tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” thực hiện. Dù chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng sự kiện các nhà lãnh đạo thế giới đến đặt vòng hoa tưởng niệm các nạn nhân của vụ khủng bố trước khi tham dự Hội nghị khiến tôi  liên kết hai biến cố này với nhau.
Hành động khủng bố của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” quả là một tội ác chống lại nhân loại. Một nhà lãnh đạo Hồi giáo tại Úc, khi lên án hành động giết người dã man của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”, đã có lý để trích dẫn một câu trong Kinh Coran theo đó “giết một người là giết cả nhân loại”. Liệu người ta có thể nói đến một “tội ác chống lại thiên nhiên” không khi hành động gây ô nhiễm của con người đã khiến cho thời tiết thay đổi, trái đất bị hâm nóng ảnh hưởng đến sức khỏe và đe dọa sự sống của chính con người trên trái đất. Hình ảnh các nhà lãnh đạo thế giới đến đặt vòng hoa tưởng niệm các nạn nhân của khủng bố có lẽ không chỉ là một lời kết án về tội ác chống lại nhân loại dưới bất cứ hình thức nào, mà cũng gợi lên cho tôi quyết tâm của thế giới chống lại “tội ác chống lại thiên nhiên”. Đây có lẽ là điều mà các nhà lãnh đạo của những quốc gia nhỏ bé đang có nguy cơ chìm ngập trong Thái Bình Dương như Kiribati, Tuvalu, Marshall Islands, Fiji...muốn nhắn gởi một cách đặc biệt đến các nước lớn, cách riêng hai nước láng giềng khổng lồ là Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan là hai nước vẫn muốn tiếp tục đeo đuổi kỹ nghệ hầm mỏ và mở thêm những mỏ than mới mà hậu quả tai hại có thể khiến cho nhiệt độ trái đất gia tăng và mực nước biển dâng cao. Như tổng thống của quốc gia nhỏ bé Kiribati đã nói: “Chúng tôi không nói đến sự phát triển kinh tế và chính trị, mà là sự sống còn” của các nước nhỏ bé trong Thái Bình Dương. Bộ trưởng ngoại giao Tony de Brum của Marshall Islands cảnh cáo: “Chỉ cần nhiệt độ trái đất tăng thêm hai độ thì đất nước tôi sẽ biến mất, chúng tôi sẽ chìm ngập trong nước”. Nặng lời hơn, Thủ tướng Frank Bainimarama của Fiji nói thẳng: “Úc Đại Lợi đang đứng về phía liên minh của những (quốc gia) ích kỷ để đặt kỹ nghệ gây ô nhiễm bằng khí thải lên trên phúc lợi và sự sống còn của chúng tôi”.
Những lời cảnh cáo và kêu gọi trên đây của các nhà lãnh đạo của những quốc gia nhỏ bé đang có nguy cơ chìm ngập trong đại dương, hẳn phải đánh thẳng vào lương tâm, tức ý thức luân lý của các nước đang đeo đuổi kỹ nghệ gây ô nhiễm. Nếu một ngày nào đó, lượng khí thải nhà kính do các ngành kỹ nghệ gây ô nhiễm phát ra làm cho mực nước biển dâng cao khiến cho các nước nhỏ trong Thái Bình Dương phải chìm ngập trong nước, thì quả thật “tội ác chống lại thiên nhiên” cũng chính là tội ác chống lại nhân loại.
Thế giới đã bước vào Mùa Giáng Sinh. Dù cho ý nghĩa tôn giáo của ngày lễ có bị quên lãng hay phủ nhận, Giáng Sinh vẫn mãi mãi là lễ của Sự Sống. Không những là sự sống của con người, mà cũng là sự sống của thiên nhiên, của vạn vật. Hình ảnh của Cây Giáng Sinh được trưng bày trong các gia đình luôn gợi lên cho tôi sự sống ấy: có một hài nhi nằm trong máng cỏ, có thú vật quây quần bên cạnh, có cây cỏ bao bọc xung quanh...Người, thú, cỏ cây sống chung hòa bình. Đó là hình ảnh của một thế giới hòa bình thực sự. Khi sự sống được tôn trọng thì con người cũng được sống và sống hòa bình. Trái lại, khi sự sống, dưới bất cứ hình thức nào, bị miệt thị, trù dập và ngay cả bị hủy hoại, thì đó là lúc chính sự sống con người cũng bị đe dọa và hủy diệt.
Mới đây, tại thành phố Colorado  Hoa Kỳ, một người đàn ông chống phá thai đã xách súng đến một bệnh viện chuyên phá thai của Tổ chức “Làm cha mẹ có kế hoạch” (Planned Parenthood)  để bắn xối xả vào đám đông khiến cho 3 người chết và nhiều người bị thương. Đây là một hành động dã man đáng lên án. Nhưng trong khi lên án kẻ sát nhân, người ta lại quên mất rằng tổ chức “Làm cha mẹ có kế hoạch” cũng tàn ác và dã man không kém khi không những sát hại mạng sống của các thai nhi mà còn bán cơ phận của chúng cho các trung tâm nghiên cứu y khoa. Hành động bắn giết dã man của người đàn ông chống phá thai có lẽ chỉ là “quả” của cái “nhân” chìm không được chú ý hoặc bị cố tình che đậy là chủ trương sát hại thai nhi của Tổ chức “Làm cha mẹ có kế hoạch”. Liệu có quá khập khing không khi so sánh chuyện bắn giết trên đây với các hành động man rợ của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”? Nếu không có một chế độ độc tài tàn bạo của Bashar al-Assad tại Syria được nhiều nước ủng hộ và dung dưỡng thì làm gì có một tổ chức khủng bố như thế tìm được đất sống. Cái nhân của độc tài đẻ ra cái quả của khủng bố.
Tôi thường liên tưởng đến chuyện “nhân quả” khi chiêm ngắm cây Giáng Sinh. Tôi không biết người ta nghĩ gì khi chặt gốc nguyên một cây đang sống, mang về trưng bày trong nhà cho đến khi nó héo tàn rồi đem nó quăng vào sọt rác hay đốt đi. Tôi sẽ quá lời chăng khi bảo rằng đó cũng là một “tội ác chống lại thiên nhiên”. Tôi cứ tưởng tượng rừng sẽ khóc khi mỗi năm có không biết bao nhiêu cây con như thế bị đốn chặt để làm cảnh trong Mùa Giáng Sinh. Và dĩ nhiên, khi thiên nhiên bị tàn phá thì dù không thể cảm nhận được, ở đâu đó chính sự sống con người cũng bị xúc phạm hay đe dọa.
Giáng Sinh là lễ của sự sống. Trưng bày một cây còn tràn đầy nhựa sống sẽ có giá trị tượng trưng và “phải đạo” hơn. Nghĩ như thế và để khỏi mang “tội chống lại thiên nhiên”, năm nay gia đình tôi quyết định sẽ mua một chậu “Christmas bush” về chưng trong nhà. “Christmas bush” là một loại hoa bản địa đặc biệt của tiểu bang tôi đang ở và Papua New Guinea. Nó vừa tràn đầy sức sống, vừa có hoa đẹp đúng dịp Giáng sinh mà không bị thúc ép như những như hoa trạng nguyên. Hết mùa Giáng Sinh, mang nó ra trồng bên bìa rừng trong công viên quốc gia để năm tới còn có dịp ngắm hoa và nhứt là góp phần vào việc chăm sóc cho “buồng phổi” của trái đất.








Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

Chuyện Giáng Sinh, Chuyện thường ngày



Chu Thập
20.12.11



Giáng Sinh là Ngày Lễ có nhiều chuyện để kể cho nhau nghe nhứt. Với một lịch sử kéo dài hơn hai ngàn năm, những câu chuyện xoay quanh Lễ Giáng sinh đã được tích lũy nhiều đến nỗi có thể gom thành một pho sách dày. Tuy nhiên, cái hay của những câu chuyện Giáng sinh là người ta có thể kể đi kể lại và nghe đi nghe lại hoài mà không thấy chán. Năm nay, tôi lại “thu thập” thêm một câu chuyện khác cho cái “kho” của tôi. Câu chuyện thật cảm động. Tôi thấy cần phải chia sẻ với mọi người...
Một vị mục sư mới ra trường được Giáo hội bổ nhiệm về một giáo xứ nhỏ tại Brooklyn, ngoại ô New York, Hoa kỳ. Sứ mệnh được giao phó là làm sống lại một giáo xứ đã chết. Vị mục sư và người vợ cảm thấy rất phấn khởi với sứ vụ mới. Nhưng khi nhận ra tình trạng xuống cấp của ngôi thánh đường, ông cảm thấy lo ngại, bởi vì chỉ còn hai tháng nữa là đến Lễ Giáng Sinh. Hai vợ chồng vị mục sư liền bắt tay vào công việc sửa chữa và dự trù sẽ cử hành buổi thờ phượng đầu tiên vào Đêm Giáng Sinh.
Tường nhà thờ được sơn quét lại. Bàn ghế được đóng lại. Công việc xem như hoàn tất vào ngày 18 tháng 12. Nhưng sang ngày 19, một cơn giông bão dữ dội từ đâu thổi đến và kéo dài hai ngày. Ngày 21, khi cơn bão qua đi, vị mục sư liền đi rảo xung quanh nhà thờ để xem xét tình hình. Tim ông muốn rụng rời khi ông nhận thấy mái nhà thờ bị dột, nước mưa đã xói mòn và tạo ra một lỗ lớn trên bức tường phía sau cung thánh.
Một lần nữa, vị mục sư lại bắt tay ngay vào việc dọn dẹp bên trong ngôi thánh đường. Nhưng tình trạng này không cho phép cử hành phụng tự cho nên ông đành ra thông cáo hoãn lại Lễ Đêm. Ra khỏi nhà thờ, thấy dân địa phương tổ chức một hội chợ từ thiện, ông liền ghé vào. Đập vào mắt ông tức khắc là một tấm khăn trải bàn lớn màu ngà được thêu bằng tay rất đẹp. Ở giữa tấm khăn có hình một Thánh Giá. Tấm khăn lại vừa đủ kích thước để che cái lỗ hổng phía sau cung thánh. Ông liền mua tấm khăn và mang về nhà thờ.
Tuyết bắt đầu rơi. Từ trong nhà thờ, ông thấy một lão bà cố băng qua đường để bắt chuyến xe buýt ở trạm đối diện với nhà thờ. Nhưng bà đã lỡ chuyến xe. Vị mục sư liền mời bà vào nhà thờ để trú lạnh trong khi chờ đợi chuyến xe kế tiếp sẽ đến trong 45 phút nữa. Bà ngồi vào ghế mà chẳng buồn chú ý đến công việc của vị mục sư. Ông đang bắc thang để treo chiếc khăn trải bàn lên bức tường bị lủng lỗ. Thật ngạc nhiên, tấm khăn bàn không những che được cái lỗ hổng mà còn làm cho cả ngôi thánh đường đẹp hẳn ra.
Một lúc sau, ông thấy bà bỗng rời khỏi ghế và tiến về phía cung thánh. Sau một lúc gần như bất động trước tấm khăn, lão bà lên tiếng hỏi: “Thưa mục sư, làm sao mục sư có được tấm khăn trải bàn này?”  Ông liền giải thích cho bà nghe là ông vừa mới mua được trong hội chợ bên cạnh. Bà nhờ ông xem ở góc phải của tấm khăn có ba chữ “EBG” không. Vị mục sư nhìn kỹ vào tấm khăn và gật đầu. Đây chính là ba chữ viết tắt mà bà đã thêu lên tấm khăn này.
Bà cho biết: trước Đệ Nhị thế chiến, vợ chồng bà có một cuộc sống hạnh phúc tại Áo. Nhưng khi Đức quốc xã xâm chiến Áo quốc, họ bị buộc phải ra đi. Bà đi trước và chồng bà hứa sẽ gặp lại bà một tuần sau. Nhưng ông đã bị bắt giữ, giam tù và hai vợ chồng đã chẳng bao giờ gặp lại nhau suốt 35 năm qua.
Nghe xong câu chuyện, vị mục sư muốn tặng lại cho bà tấm khăn. Nhưng bà xin ông cứ giữ lại cho nhà thờ. Không biết làm gì để cám ơn lão bà, vị mục sư xin phép được chở bà về nhà. Nhà bà ở phía bên kia của đảo Staten Island. Bà chỉ đến Brooklyn một ngày để phụ giúp việc nhà cho một gia đình giàu có.
Nhờ tấm khăn trải bàn đó, Lễ Giáng Sinh đã được cử hành như dự định. Ngôi nhà thờ nhỏ chật ních người. Mọi người đã có một buổi phụng vụ sốt sắng. Sau lễ, vị mục sư và vợ ông đi chúc mừng Giáng Sinh từng người. Rồi ai nấy lần lượt ra về. Nhưng ở cuối nhà thờ, vẫn còn một cụ già ngồi nán lại. Mắt ông không rời khỏi tấm khăn trải bàn được treo phía sau cung thánh. Chờ cho mọi người ra về hết, cụ ông mới tiến đến hỏi vị mục sư làm sao ông có được bức khăn này, bởi vì nó giống y chang với tấm khăn trải bàn mà vợ ông đã thêu cách đây 35 năm, lúc còn bên Áo. Cụ già cứ mãi thắc mắc: sao lại có hai tấm khăn giống nhau như đúc như vậy. Ông cũng kể cho vị mục sư rằng khi Đức quốc xã xâm chiếm nước Áo, ông đã buộc vợ ông phải đi trốn và hứa sẽ đi theo bà. Nhưng sau đó, ông bị bắt và giam tù. Ông đã không thể trở về nhà và cũng chẳng gặp lại vợ mình suốt 35 năm nay.
Nghe xong câu chuyện, vị mục sư hỏi cụ già có muốn được ông chở đi một vòng không. Ông đưa cụ đến đảo Staten Island và đến trước ngôi nhà nơi ông đã từng đưa cụ bà về cách đó ba ngày. Ông giúp cụ leo lên căn hộ của cụ bà và gõ cửa.
Câu chuyện Giáng sinh đã kết thúc ở đó: sau 35 năm xa cách, nhờ một tấm khăn trải bàn và tấm lòng của vị mục sư, hai vợ chồng lưu lạc nơi đất khách quê người đã được đoàn tụ.
Lễ Giáng Sinh thường được kể như một câu chuyện thần tiên. Và dĩ nhiên, cũng như mọi câu chuyện thần tiên, Lễ Giáng sinh dễ được thi vị hóa. Chúa Giêsu đã chào đời trong Ánh Sáng rực rỡ của Đêm Belem. Trong máng cỏ có súc vật quì thở mang lại hơi ấm. Trên không trung có tiếng đàn ca của các thiên sứ. Câu chuyện ấy lại càng trở nên huyền hoặc hơn với hình ảnh của Santa Claus hay ông Già Noel mỗi năm từ một xứ tuyết xa xôi nào đó ở Bắc Cực cỡi chiếc xe được kéo bởi một bầy sơn dương mang đến vô số quà tặng cho trẻ con và người lớn. Câu chuyện Giáng Sinh lại càng thơ mộng hơn với Cây Thông đầy tuyết và những ngôi sao lấp lánh mọc lên khắp nơi.
Khung cảnh mộng mơ và lãng mạn ấy dễ làm cho người ta quên đi cái thực tế rất là “đời thường” của Giáng Sinh. Hãy thử tưởng tượng nỗi lo lắng của cặp vợ chồng trẻ nghèo phải vất vả tìm một chỗ qua đêm ở chốn xa lạ mà chẳng được ai mở cửa đón tiếp. Hãy thử tưởng tượng cái cảnh dơ bẩn và hôi thối của một chuồng súc vật. Chính đó là nơi mà người vợ buộc lòng cho đứa con của mình chào đời! Chính trong khung cảnh đó mà một trẻ thơ được sinh ra và bầu khí ấm cúng của gia đình được thành hình. Khung cảnh ấy, dù sang giàu hay nghèo hèn, cũng đều giống nhau bởi vì đó là thực tế của cuộc sống.
Như vậy, câu chuyện Giáng Sinh thiết yếu cũng là câu chuyện hàng ngày trong cuộc sống con người. Có vất vả, sầu đau. Có lo lắng, vui mừng. Có chia cách, đoàn tụ.
Câu chuyện đoàn tụ của cặp vợ chồng già trong đêm Giáng Sinh được kể lại trên đây là tiêu biểu của vô số những chia ly, cách trở, mong đợi, tìm kiếm và đoàn tụ trong cuộc sống con người. Như tấm khăn trải bàn của cụ bà, câu chuyện được dệt lên từ nhiều tình tiết vốn cũng là chuyện mỗi ngày: ngôi nhà thờ xuống cấp vì vắng người, nỗ lực hy sinh của vợ chồng vị mục sư trong những ngày chuẩn bị Lễ Giáng Sinh, phiên chợ từ thiện với trăm thứ lỉnh kỉnh được mang ra bán với hy vọng góp một tay vào việc giúp đỡ những người túng thiếu, một cụ bà lỡ chuyến xe buýt được mời vào bên trong nhà thờ để sưởi ấm, một cụ ông đơn chiếc được chở đi một vòng trong đêm Giáng Sinh...Cuộc hội ngộ bất ngờ và kỳ thú là đỉnh điểm và hội tụ của những chuyện “đời thường” ấy.
Chuyện Giáng sinh là chuyện thường ngày đã trở thành bất tử, cho nên bất cứ điều gì được nhìn trong Ánh Sáng của Giáng Sinh cũng trở thành bất tử. Chẳng có bài thánh ca nào đơn giản về âm nhạc lẫn ca từ cho bằng bài “Silent Night” (Đêm thánh vô cùng). Vậy mà bao lâu trên trái đất này còn có lễ Giáng Sinh thì chắc chắn mọi người trên thế giới, nếu không lắng nghe thì cũng cất hát lên bài thánh ca này. Riêng với người công giáo Việt nam thì, dù có lưu lạc ở đâu, bao lâu còn mừng lễ Giáng Sinh, ngay cả giữa mùa hè nóng chảy lửa như ở Úc đại lợi, bài thánh ca “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời” vẫn mãi mãi được hát lên. Giáng Sinh đã làm cho những cái đơn sơ nhứt trở thành bất tử.
Trọng tâm của Lễ Giáng Sinh là một “Trẻ Thơ”. Từ ngàn xưa, một vị ngôn sứ của dân tộc Israel đã loan báo “Một Trẻ Thơ đã được ban tặng cho chúng ta”. Đây cũng chính là điều được thiên sứ lập lại trong đêm Giáng Sinh: “Ta báo cho các ngươi một tin vui: một hài nhi đã chào đời”. Dù tin hay không, đã mừng Giáng Sinh thì ít nhứt cũng phải tin có một Em Bé đã chào đời. Em Bé ấy đã được ban tặng cho con người để, như lời dạy của chính Chúa Giêsu, con người cũng phải trở nên như em bé để được vào Nước Trời.
Trong văn hóa nào, trẻ thơ cũng luôn là biểu tượng của hồn nhiên, trong trắng, ngây thơ. Không có trẻ thơ, ai sẽ nhắc nhở chúng ta về sự hiện hữu của Ông Già Noel, của sự tử tế, tấm lòng quảng đại, vị tha và chia sẻ. Không có trẻ thơ, ai sẽ mở mắt chúng ta để không ngừng biết ngạc nhiên và ngây ngất trước những điều kỳ diệu của cuộc sống.
Mỗi năm, lễ Giáng Sinh trở về để đánh thức Em Bé trong mỗi người chúng ta. Với em bé ấy, chúng ta sẽ tiếp tục tiến bước trong cuộc sống với đôi mắt lúc nào cũng mở lớn để chiêm ngưỡng những điều vĩ đại trong thực tế của cuộc sống mỗi ngày. Văn hào Pháp Marcel Proust đã từng nói cuộc thám hiểm thật sự không phải là tìm kiếm những vùng đất mới, mà chính là có được đôi mắt mới.” (trích trong “The Power of Small” của Linda Kaplan và Robin Koval)
Mỗi ngày, tôi đã thử làm cuộc “thám hiểm” đó trong khu vườn nhỏ sau nhà tôi. Cố gắng nhìn thiên nhiên bằng “đôi mắt mới”, mỗi ngày tôi khám phá ra không biết bao nhiêu điều mới lạ. Tôi hiểu được tâm trạng hơi “bất thường”, nếu không nói là thật “trẻ con” của ông bạn tôi: chuẩn bị về hưu, ông khệ nệ “rước” một tổ ong về nuôi thử. Định nếu khấm khá sẽ nuôi thêm để có chút tiền đi du lịch. Những ngày đầu tiên, đã 9-10 giờ tối mà bạn tôi vẫn hăm hở đốt đèn lên, lò mò ra tổ ong để gọi là “chiêm ngắm” những điều kỳ thú trong xã hội loài ong.
Có những ngày, tôi cũng đã từng đứng hàng giờ như thế để ngắm cá bơi, ngắm bông hoa và cây trái trong vườn. Đọc sách có thể chán. Viết lách có thể cạn ý. Nhưng tôi có thể đứng “thừ người” trước thiên nhiên mà không thấy mỏi mệt. 
“Đứa trẻ” trong tôi không những cho tôi những giây phút “ngất ngây” trước thiên nhiên, mà cũng mời gọi tôi luôn trong tư thế sẵn sàng để nhận ra bao điều kỳ diệu trong cuộc sống mỗi ngày, nhứt là trong những quan hệ và gặp gỡ với người khác. Cái lý trí hẹp hòi, dễ có thành kiến và thiển cận của tôi không thể nào hiểu được cái thế giới đầy bí ẩn của bất cứ người nào tôi gặp gỡ. Tôi chỉ có thể cố gắng đi vào đó bằng ánh mắt “chiêm ngắm” và nhứt là cảm thông và tha thứ.
Sinh ra trong một gia đình công giáo, tôi đã từng nghe nói đến ông Già Noel. Từ lúc nhỏ cho đến giờ, tôi chưa từng được ông Già Noel nào chiếu cố đến. Tôi cũng chưa bao giờ mơ hay mong được ông Già Noel đêm đêm lén bỏ quà vào chiếc vớ đặt ở cuối giường. Vả lại, suốt tuổi thơ, tôi chỉ biết đi chân đất thì làm gì có vớ để ông Già Noel cho quà vào đó. Vậy mà bây giờ, khi bắt đầu bước từng bước mỏi mệt xuống bên kia đồi của cuộc sống, tôi lại tin có ông Già Noel. Nhờ ông mà tôi luôn cố gắng để mở to đôi mắt trẻ thơ hầu nhận ra Ánh Sáng hy vọng, vui tươi và an bình trong cuộc sống “đời thường” mỗi ngày. Tôi thấy có lẽ ông già Noel là người hạnh phúc nhứt trên đời này, vì lẽ ông được nhìn thấy bao nhiêu giọt lệ sung sướng của người khác. Vì vậy, tôi cũng muốn “nhập vai” của ông mỗi khi có thể. Nhìn người khác vui vì một cử chỉ nhỏ của mình là một phần thưởng lớn nhứt cho tôi.
Có thể nói: Một câu chuyện đời thường tuyệt diệu không nhứt thiết phải là một câu chuyện mới lạ, mà chính là câu chuyện tầm thường với một kết cục “có hậu”.
Không ai có thể viết nên câu chuyện đời cho người khác nhưng vẫn có thể góp phần đưa đến có một kết thúc “có hậu” tốt đẹp như những câu chuyện Giáng sinh.








Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

Cộng hòa Trung Phi: bất ổn chính trị, xung đột tôn giáo và nghèo đói


4.12.15


Bất chấp đe dọa khủng bố, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã đến viếng thăm Cộng hòa Trung Phi, quốc gia được người Việt Nam đã có lần nhắc đến với câu chuyện công chúa “lọ lem” Bokassa. Như tên gọi của quốc gia chỉ rõ, Cộng hòa Trung Phi nằm giữa lục địa Phi Châu, giáp giới với Cộng hòa Chad về phía Bắc, Sudan về hướng Đông Bắc, Nam Sudan về hướng Đông, Cameroun về hướng Tây và Cộng hòa Congo ở phía Nam. Với diện tích khoảng 240 ngàn cây số vuông, Trung Phi chỉ có trên dưới gần 5 triệu dân, phần lớn phải sống lầm than, nghèo đói vì những bất ổn chính trị triền miên và gần đây vì xung đột tôn giáo.
Được Pháp trao trả độc lập năm 1960, Cộng hòa Trung Phi trải qua bất ổn chính trị triền miên. Năm 1965, Đại tá Jean Bédel Bokassa, người đã từng là một trung sĩ trong quân đội viễn chinh “Lê dương” chuyên đánh thuê của Pháp tại Việt Nam, đã chỉ huy thành công một cuộc đảo chính để lật đổ tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Trung Phi là ông David Dacko. Vừa lên cầm quyền, ông đại tá “cựu Lê dương” đã tuyên bố bãi bỏ Hiến pháp và giải tán Quốc hội. Năm 1972, tức sau 7 năm thâu tóm mọi quyền hành trong tay, ông Bokassa tự tuyên bố là “tổng thống mãn đời”. Nhưng có lẽ cảm thấy chưa lên tới đỉnh cao của quyền lực cho nên năm 1976, ông tuyên bố bãi bỏ chế độ cộng hòa, thành lập vương quốc và tự xưng là Hoàng đế Bokassa I. Một năm sau, ông làm lễ đăng quang trong một lễ nghi hoành tráng và tốn kém, bị hầu hết các nước trên thế giới chế giễu và lên án.
Tháng 4 năm 1979, các sinh viên đã đứng lên phản đối việc ông ban hành một sắc lệnh buộc tất cả học sinh các cấp phải mặc đồng phục do một công ty của một trong các bà vợ của ông làm chủ cung cấp. Chính phủ đã đàn áp các cuộc biểu tình và tàn sát hàng trăm sinh viên học sinh. Nhiều nguồn tin cho biết chính ông Bokassa đã trực tiếp nhúng tay vào vụ tàn sát này. Tháng 9 năm 1979, Pháp Quốc đã đích thân đưa quân vào Trung Phi để lật đổ ông Bokassa và trao trả quyền hành lại cho ông Dacko, đồng thời tái lập chế độ cộng hòa. Nhưng ngày 1 tháng 9 năm 1981, chính ông Dacko lại bị tướng André Kolingba đảo chính để lật đổ.
Ông tướng này cũng đi theo dấu chân của Bokassa để tuyên bố bãi bỏ Hiến Pháp và thiết lập chế độ quân phiệt cho đến năm 1985. Năm sau, ông cho soạn thảo một Hiến pháp mới, được thông qua trong một cuộc trưng cầu dân ý. Để gọi là tiến tới dân chủ, ông cũng cho tổ chức bầu cử Quốc hội, nhưng lại loại trừ các đối thủ chính trị của ông.
Năm 1990,  tiếp nhận được nguồn cảm hứng từ sự sụp đổ của Bức tường Bá Linh, một phòng trào dân chủ được khai sinh tại Trung Phi. Trước áp lực của Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Liên Âu và Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Kolingba đã chấp nhận cho tổ chức bầu cử tự do. Nhưng ông này lại nại đến những bất thường trong cuộc bầu cử để không nhìn nhận kết quả bầu cử. Mãi cho đến năm 1993, với sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế, vòng nhì của cuộc bầu cử mới được tổ chức và đối thủ của ông Kolingba là ông Ange-Felix Patassé mới thực sự được nhìn nhận đã đắc cử.
Không hơn gì hai người tiền nhiệm, Tổng thống Patassé cũng cai trị đất nước với bàn tay sắt và nuôi dưỡng tham nhũng. Nhiều cuộc nổi loạn của quân đội đã làm thiệt hại không biết bao nhiêu tài sản quốc gia và gây ra căng thẳng giữa các sắc tộc và tôn giáo. Năm 2001, quân đội đã tiến hành một cuộc đảo chính, nhưng không thành công. Tham mưu trưởng và một tướng lãnh bị giết chết. Ông Patassé đã cầu cứu quân đội Libya và phiến quân từ Congo đến giúp trợ giúp và cho thanh trừng các thành phần trong quân đội bị nghi ngờ có âm mưu đảo chính. Tướng Francois Bozizé đã dẫn nhiều đơn vị quan trọng bỏ trốn sang Cộng hòa Chad. Nhưng tháng 3 năm 2003, nhằm lúc Tổng thống Patassé đi công du ở nước ngoài, tướng Bozizé đã trở về nước và thực hiện thành công một cuộc đảo chính để lật đổ ông.
Lại cũng giống như những nhà lãnh tụ độc tài đi trước, ông Bozizé cũng tuyên bố bãi bỏ Hiến Pháp và cho thành lập một Hội đồng Chuyển tiếp để soạn thảo Hiến pháp mới. Ông cũng cam kết sẽ ra tranh cử một khi Hiến pháp mới được thông qua. Năm 2005, ông Bozizé đã chính thức được bầu làm tổng thống. Nhưng các lực lượng chống chính phủ và các thành phần nổi loạn không chấp nhận quyền hành của ông. Chính phủ Bozizé đành phải yêu cầu Pháp gởi quân đến giúp trấn áp các lực lượng phiến loạn đang nắm quyền kiểm soát tại các vùng ở phía Bắc. Nhờ sự giúp đỡ của quân đội Pháp, tình hình Trung Phi mới được tạm ổn.
Năm 2011, ông Bozizé được tái cử trong một cuộc bầu cử bị xem là đầy gian lận. Đây là lý do khiến cho Liên minh Séléka, qui tụ nhiều nhóm phiến quân Hồi giáo, đứng lên đánh chiếm một số thành phố ở miền Bắc và Trung. Năm 2013, qua một thỏa ước hòa bình, Liên minh Séléka đã được chính phủ Bozizé thỏa thuận cho chia sẻ quyền hành trong chính phủ. Nhưng không bao lâu sau đó, thỏa ước đã bị xé bỏ, Séléka đã cho tiến quân vào thủ đô và ông Bozizé đành phải trốn ra ngoại quốc. Người đứng đầu của Liên minh này là ông Michel Djotodia lên làm tổng thống. Chính phủ Djotodia đã yêu cầu Liên Hiệp Quốc đưa lực lượng gìn giữ hòa bình vào Trung Phi, đồng thời truy tố ông Bozizé về những tội ác chống lại nhân loại. Nhưng tình hình an ninh tại Trung Phi cũng vẫn không được cải thiện. Những thành phần trung thành với ông Bozizé vẫn tiếp tục hoạt động để gây xáo trộn. Tổng thống Pháp Francois Hollande đã kêu gọi Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Liên hiệp Phi Châu gia tăng n lực để bình ổn và bảo đảm an ninh cho Trung Phi. Liên Minh Séléka lại bị chia rẽ. Tháng 9 năm 2013, Tổng thống Djotodia chính thức giải tán Liên minh. Tuy nhiên, các phiến quân thuộc Liên minh này đã không chịu buông súng và tìm cách lũng đoạn chính phủ. Cuộc nội chiến do Séléka phát động đã gây ra không biết bao nhiêu tang tóc khiến thế giới đã phải cảnh cáo về một cuộc diệt chủng đang diễn ra tại Trung Phi. Thường dân phải đứng giữa hai nhóm đối nghịch nhau là các chiến quân Hồi giáo Séléka và các dân quân Kitô giáo có tên là “Anti-Balaka”. Hai bên thi đua nhau trong các hoạt động khủng bố và tàn bạo đối với thường dân.
Tháng Giêng năm 2014, kết quả của một cuộc họp thượng đỉnh cấp vùng được tổ chức tại Cộng hòa Chad đã buộc Tổng thống Djotodia từ chức và bà Catherine Samba-Panza được cử làm tổng thống trong một chính phủ lâm thời. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon đã kêu gọi Hội đồng Bảo an gởi 3 ngàn binh sĩ gìn giữ hòa bình sang Trung Phi để bảo vệ thường dân. Nhờ những nỗ lực trung gian của Cộng hòa Congo, Liên minh Séléka và đại diện của “Anti-Balaka” ký hiệp định ngưng bắn. Tuy nhiên, cho tới nay các cuộc bạo động giữa “Séléka” và “Anti-Balaka” vẫn còn tiếp diễn và ngày càng mang mầu sắc tôn giáo.
Theo những số liệu chính thức, có đến trên 80 phần trăm dân số Cộng hòa Trung Phi theo Kitô giáo, trong số này Tin lành chiếm 51 phần trăm và Công giáo chiếm gần 30 phần trăm. 15 phần trăm còn lại theo Hồi giáo. Vì là thiểu số, người Hồi giáo đã từng là nạn nhân của kỳ thị và thù hận. Có lẽ đây là lý do  khiến Liên minh Séléka đã thành công trong việc chiêu mộ các phiến quân chống lại chính phủ cũng như Kitô giáo.
Chính trong bối cảnh này mà Đức Phanxicô đã đến viếng thăm Cộng hòa Trung Phi trong những ngày vừa qua. Theo hãng thông tấn Pháp AFP, trước mặt nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo, Tổng thống Catherine Samba-Panza đã nhân danh chính phủ nhìn nhận đã có trách nhiệm trong việc gây ra bạo động khiến cho dân chúng phải đau khổ. Bà gọi chuyến viếng thăm của Đức Phanxicô là một “phúc lành” và đại diện toàn dân bày tỏ lòng sám hối. Nhân dịp này nữ tổng thống lâm thời của Trung Phi cũng kêu gọi mọi người, nhất là giới trẻ, từ bỏ hận thù và bạo lực để góp phần xây dựng một đất nước tốt đẹp và thịnh vượng.
Mặc dù rất giàu về tài nguyên thiên nhiên, nhưng do bất ổn chính trị và bạo động tôn giáo và sắc tộc, Cộng hòa Trung Phi vẫn còn bị xếp vào hàng những nước nghèo và kém phát triển nhất thế giới. Trung Phi có nhiều quặng mỏ như Uranium, dầu thô, vàng, kim cương và một số lượng rất lớn về đất canh tác. Vậy mà nước này vẫn bị xếp vào hạng 10 nước nghèo nhất thế giới. Theo Chỉ số Phát triển năm 2013, Cộng hòa Trung Phi đứng hàng thứ 185 trong 187 nước trên thế giới.
Nước này có hệ thống giáo dục miễn phí và cưỡng bách từ 6 đến 14 tuổi. Tuy nhiên, hiện vẫn có khoảng một nửa dân số người lớn tại Trung Phi còn mù chữ. Hệ thống y tế tại nước này vẫn còn trong tình trạng thô sơ. Các bệnh viện lớn nhất đều tập trung tại Thủ đô Bangui. Là thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, Cộng hòa Trung Phi được trợ giúp trong việc chủng ngừa. Tuy nhiên sức khỏe của nữ giới vẫn còn rất mong manh. Nước này đứng hàng thứ tư trên thế giới về tỷ lệ tử vong trong khi sinh nở. Thai phụ không những không được hướng dẫn trong thời kỳ thai nghén, lại không sinh nở ở bệnh viện mà chỉ nhờ sự giúp đỡ của các “bà mụ vườn” thường không được đào tạo đầy đủ.
Bệnh sốt rét hiện vẫn còn là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại Trung Phi. Ngoài ra, tỷ lệ nhiễm hay mắc bệnh liệt kháng cũng rất cao tại nước này.
Nhưng điều đáng cho thế giới quan ngại nhất chính là tình trạng nhân quyền tại Cộng hòa Trung Phi. Theo một bản phúc trình về nhân quyền của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, những vụ vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất tại nước này là việc các lực lượng an ninh tiến hành các cuộc thủ tiêu mà không thông qua tòa án cũng như  tra tấn, đánh đập và hãm hiếp các nghi phạm và tù nhân một cách vô tội vạ. Ngoài ra, bắt người và giam giữ trái phép hoặc khước từ mọi thủ tục tố tụng là chuyện rất thường xảy ra tại nước này.
Bộ ngoại giao Mỹ cũng ghi nhận tình trạng bạo động của các băng đảng và hiện tượng phụ nữ bị cắt bỏ một phần trong bộ phận sinh dục cũng như tệ nạn buôn người, cưỡng bách lao động và trẻ em lao động. Bạo động chống lại trẻ em và phụ nữ vì bị tố cáo hành nghề phù thủy cũng được xem là một vấn đề nghiêm trọng tại Trung Phi. Theo luật hình sự của nước này, hành nghề phù thủy bị xem là một tội hình sự. Cũng liên quan đến nữ giới, có khoảng 68 phần trăm thiếu nữ lập gia đình trước khi lên 18 tuổi.
Tự do ngôn luận, mặc dù có ghi trong Hiến pháp, vẫn bị hạn chế. Chính phủ vẫn thường xuyên đe dọa các cơ quan truyền thông tự do.

Nhìn chung, chính vì bất ổn chính trị mà Cộng hòa Trung Phi vẫn còn lạc hậu và nghèo đói.

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Tạ ơn Trời cho tôi biết tạ ơn




Chu Thập
27.11.15

Không phải là người Mỹ, nhưng hằng năm cứ đến cuối tháng 11, tôi luôn cố gắng hâm nóng lại tâm tình cao quý nhứt của con người là lòng biết ơn. Với tôi, bí quyết tạo nên sự thịnh vượng của Hoa Kỳ chính là lòng biết ơn. Sở dĩ quốc gia này có được mệnh danh là đất nước của cơ hội là bởi lòng biết ơn được đề cao đến độ đã biến thành một ngày “quốc khánh”. Có lẽ chưa có nơi nào trên thế giới tâm tình này được trân quý như thế. Bỏ nước ra đi, được đón tiếp và tạo điều kiện để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn, có người di dân nào mà không muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với đất nước đã cưu mang mình. Những cố gắng hội nhập, vươn lên và đáp trả lại chính là thể hiện của lòng biết ơn ấy. Lịch sử của Hoa Kỳ, đất nước của người di dân, đã được viết bằng những câu chuyện của lòng biết ơn như thế.
Thế giới, nhứt là các nước Tây Phương, đang nơm nớp lo sợ bị khủng bố. Ngày Lễ Tạ Ơn tại Hoa Kỳ tự nhiên gợi lên cho tôi ý nghĩ: khủng bố cũng đồng nghĩa với vô ơn! Sau cuộc khủng bố tại Paris, Pháp Quốc hôm 13 tháng 11 vừa qua, một nhà lãnh đạo tinh thần của cộng đồng Hồi Giáo tại Úc Đại Lợi cho rằng sở dĩ một số người trẻ bị tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” chiêu dụ, nhồi sọ, “cực đoan hóa” và đưa vào con đường khủng bố là bởi họ là nạn nhân của kỳ thị chủng tộc và bị đẩy ra bên lề xã hội. Nhận định trên đây có thể đúng. Rơi vào tâm trạng bất mãn, con người dễ đi đến thái độ chống xã hội và loại trừ người khác. Nhưng trong cái nhìn đơn giản của tôi, tôi lại nghĩ rằng sở dĩ con người không vượt qua được tâm trạng bất mãn là bởi họ thiếu lòng biết ơn.
Người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới đang kỷ niệm 40 năm trốn chạy khỏi chế độ cộng sản. Ở bước đầu lạc lõng trong quê hương mới, ai cũng gặp khó khăn trong việc hội nhập. Nhưng ngày nay, khi nhìn lại chặng đường đã qua, cộng đồng người Việt tỵ nạn nào cũng dành một chỗ đặc biệt cho tâm tình biết ơn đối với đất nước đã đón nhận họ. Lòng biết ơn đối với các nước Tây Phương đã làm nên bản sắc của người Việt tỵ nạn. Nhưng không riêng đối với người Việt tỵ nạn, các nước Tây Phương cũng là ân nhân của bất cứ một người di dân nào trên thế giới này. Bỏ nước ra đi tỵ nạn hay để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn, người ta chạy đi đâu nếu không phải là các nước Tây Phương. Trong thời gian gần đây, làn sóng người tầm trú từ Trung Đông, từ Phi châu, từ Á Châu ồ ạt tràn vào các nước Tây Phương, chớ không phải các nước Hồi giáo giàu có ở Trung Đông hay bất cứ một nước Hồi giáo nào,  lẽ ra phải là một điều đáng suy nghĩ cho những kẻ khủng bố và những ai đang ra rả kêu gọi bài Tây Phương.
Với tôi, khủng bố là tột cùng của vô ơn. Tôi không chỉ nghĩ đến những tên khủng bố của các tổ chức Al-Qaeda và “Quốc gia Hồi giáo”, nhứt là những thanh niên thiếu nữ lớn lên hay ngay cả sinh ra trong các nước Tây Phương. Họ không những “ăn cháo đá bát”, mà còn quay lưng lại cắn xé vô tội vạ những đất nước đã cưu mang, dưỡng dục mình. Đó là tột cùng của sự vô ơn. Nhưng các chế độ độc tài, đặc biệt các chế độ cộng sản, vì thực chất là khủng bố, cũng tỏ ra vô ơn không kém. Không có cùng ý thức hệ, chiến thuật và phương pháp như các tổ chức khủng bố Hồi giáo, nhưng các chế độ cộng sản cũng chủ trương khủng bố và cũng khủng bố dã man không thua kém “Quốc gia Hồi giáo” hay bất cứ một tổ chức khủng bố Hồi giáo nào. Và khủng bố cũng là vô ơn. Cứ nhìn lại việc Hồ Chí Minh quyết định hạ sát người ân nhân Nguyễn Thị Năm và cải trang để tận mắt chứng kiến cuộc hành quyết dã man dành cho bà, đủ biết chế độ khủng bố của cộng sản Việt Nam đã tỏ ra vô ơn như thế nào. Với hành động ấy, Hồ Chí Minh đã để lại “di sản” và “đạo đức cách mạng vô ơn” cho người cộng sản Việt Nam. Nếu chỉ cần một nét để vẽ nên bộ mặt của bất cứ một người cộng sản nào thì nét ấy chính là sự vô ơn. Vô ơn đối với tổ quốc khi sẵn sàng bán đứng đất nước cho Tàu Cộng, vô ơn đối với tiền nhân khi muốn chối bỏ hay viết lại lịch sử, vô ơn đối với không biết bao nhiêu người hay “đồng chí” đã nằm gai nếm mật với mình, vô ơn đối với không biết bao nhiêu người đã hy sinh xương máu để giúp họ cướp chính quyền. Vô ơn với cả các nước Tây Phương, nhứt là Hoa Kỳ. Vơ vét cho đầy túi, tìm một bãi đáp an toàn, cha con họ đâu có chạy sang Trung Cộng hay Nga, mà là Hoa Kỳ hay các nước Tây Phương. “Hy sinh đời bố để củng cố đời con”, gởi con đi học nước ngoài, họ đâu có chọn Trung Cộng hay Nga, mà phải là Hoa Kỳ hay các nước Tây Phương. Nhưng cứ mở miệng ra, ngay như ông thủ tướng có con học bên Mỹ và g con cho “Mỹ Ngụy”, là chửi Mỹ !
Tôi đã không chọn Hoa Kỳ làm quê hương thứ hai. Nhưng tôi vẫn luôn biết ơn đất nước vô cùng quảng đại này. Quốc gia này chắc chắn đã đóng góp rất nhiều cho các chương trình định cư người tỵ nạn Việt Nam. Ngày Lễ Tạ Ơn của họ, tôi hướng về đó với tất cả tấm lòng biết ơn của tôi. Riêng với nước Pháp là nơi tôi đã dừng chân một thời gian và Úc Đại Lợi mà tôi đã chọn làm quê hương thứ hai, tôi biết mình sẽ chẳng bao giờ trả cho hết nợ ân tình. Thật ra, được sống đến cái tuổi “thất thập cổ lai hy”, tôi chỉ thấy mình mắc nợ và mang ơn. Và chỉ khi nào còn cố gắng tri ơn, tôi mới thấy mình còn muốn sống tử tế và như vậy mới cảm thấy an tâm. Đây là điều mà các chuyên gia tâm lý luôn mách bảo với tôi.
Thomas Merton (1915-1968), người đã một thời chạy theo chủ nghĩa Marxit và về sau gia nhập Kitô giáo và vào tu trong một dòng khổ tu, đã nói một câu đáng suy nghĩ: “Những người vô ơn không chóng thì chày sẽ bắt đầu than trách về mọi sự”. Thật vậy,  kẻ vô ơn khó có thể hài lòng về cuộc sống. Trái lại, lòng biết ơn luôn tạo ra những cảm xúc tích cực như an vui, yêu thương và hài lòng.
Một trong những chuyên gia về lòng biết ơn là Tiến sĩ Robert Emmons, giáo sư tâm lý tại trường Đại học UC Davis, Tiểu bang California, Hoa Kỳ, cho rằng lòng biết ơn gia tăng niềm vui sống và sức khỏe của con người. Trong một cuộc nghiên cứu được thực hiện năm 2003, tiến sĩ Emmons và các đồng nghiệp của ông đã làm một cuộc thử nghiệm với khoảng  200 sinh viên. Các sinh viên được chia làm 3 nhóm và mỗi nhóm được đề nghị ghi nhựt ký trong vòng 10 tuần lễ: một nhóm chú trọng đến lòng biết ơn, tức những phúc lành mình có được, một nhóm chỉ ghi nhận những điều phiền toái và bực bội và một nhóm chỉ chú ý đến những biến cố vô thưởng vô phạt. Kết quả của cuộc nghiên cứu cho thấy nhóm sinh viên đặc biệt chú trọng đến những phúc lành trong cuộc sống cho biết họ cảm thấy lạc quan và có cái nhìn tích cực về cuộc sống, cảm thấy khỏe khoắn và bỏ ra nhiều giờ hơn để tập thể dục.
Để tập thực thi lòng biết ơn, các chuyên gia tâm lý gợi lên cho tôi một số chỉ dẫn. Chẳng hạn, nên nghĩ đến một người nào đó đã từng giúp đỡ tôi trong cuộc sống. Người đó có thể là một thày giáo, một người bạn, một người bà con, một người cố vấn. Ai chớ những người như thế thì tôi không bao giờ thiếu. Nhưng gần gũi hơn, các chuyên gia tâm lý khuyên tôi nên nghĩ đến những người đang sống bên tôi như người phối ngu của tôi hay như người bạn thân nhứt của tôi. Họ khuyên tôi nên bỏ ra một tuần để quan sát và tập trung vào tất cả những cách khác nhau mà những người thân này đã và đang làm để giúp tôi sống thoải mái và hạnh phúc hơn. Để tập thực thi lòng biết ơn, các chuyên gia tâm lý cũng đề nghị tôi mỗi lần ngồi vào bàn ăn, hãy tưởng nghĩ đến những người đã góp phần chuẩn bị thức ăn cho tôi, từ người nông dân, người trung gian chuyên chở hàng hóa, người chế biến thực phẩm, đến người nu nướng thức ăn và dĩ nhiên ngay cả người dọn bàn cho tôi.
Đi xa một bước nữa, các chuyên gia tâm lý mời gọi tôi nên đi dạo trong thiên nhiên hoặc trong ngôi vườn của mình. Trong khi đi dạo như thế, hãy nghĩ đến tất cả mọi cách thiên nhiên đang giúp tôi trân trọng và yêu quý cuộc sống cũng như làm cho tôi cảm thấy thoải mái và hạnh phúc. Một cách cụ thể, tôi hãy tỏ ra biết ơn vì không khí trong lành, vì nguồn nước sạch, vì vẻ đẹp của một cánh hoa, vì sự thanh thản mà biển khơi, ao hồ, núi sông hay ngay cả bóng mát dưới một nhánh cây mang lại cho tôi.
Cuối cùng, một trong những cách thể hiện lòng biết ơn mà tôi cho là ý nghĩa hơn cả đó là tập sống có trách nhiệm. Trách nhiệm đối với môi trường sống như không phung phí điện nước, bảo vệ thiên nhiên, “tái sinh” (recycle) rác rưởi... Trách nhiệm đối với tha nhân như đóng góp cho các công cuộc từ thiện, giúp đỡ người túng thiếu v.v (x. Melanie Greenberg, Ph.D, “How Gratitude Leads to a Happier Life, Psychology Today, 22/11/2015).
Trên đây là những chỉ dẫn tâm lý. Riêng tôn giáo của tôi cũng dạy tôi phải luôn thực thi lòng biết ơn. Nghi thức tôn giáo mà người công giáo gọi là “Thánh Lễ” trong nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa là “Tạ ơn” (Eucharistie, Eucharist). Dĩ nhiên, trước hết là tạ ơn Thượng Đế vì muôn phúc lành trong cuộc sống. Đạo của tôi luôn dạy tôi rằng trong cuộc sống “mọi sự đều là hồng ân” và mọi sự đều mời gọi tạ ơn. Còn nếu cho rằng mọi sự đều là vô thường thì ngay cả những bất hạnh có khi cũng là những phúc lành “giấu mặt”. Còn với tha nhân thì đương nhiên, trong muốn nghìn cách thế, bao lâu còn hít thở là bấy lâu còn đi vào tương quan và còn chịu ơn.
Trong phim “Chuyện Tử Tế” (1985), nhà Đạo diễn Trần Văn Thủy có khuyên “Tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn. Hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người-người tử tế trước khi mong muốn và chăn dắt họ trở thành những người có quyền hành, giỏi giang hoặc siêu phàm”. Tôi cũng có một ý nghĩ như thế về lòng biết ơn, bởi lẽ cùng với sự tử tế, lòng biết ơn làm thành đôi cánh để đưa con người lên cao hơn trong nhân cách. Thiếu lòng biết ơn, con người sẽ đâm ra bất mãn và từ bất mãn sẽ dẫn đến khủng bố bằng cách này hay cách khác. Tôi tin rằng thế giới này sẽ là một nơi tốt đẹp và đáng sống hơn trong đó loài ngưới sẽ ít sợ bị khủng bố hơn, nếu  lòng biết ơn được đánh thức và thực thi nơi mỗi người. Phải chăng đó không là thông điệp mà Ngày Lễ Tạ Ơn ở Hoa Kỳ muốn nhắn gởi với thế giới?








Thứ Tư, 2 tháng 12, 2015

Thà Thắp Lên Một Ngọn Nến...



Chu Thập
7.12.11


Tháng 12 mỗi năm, tôi có nhiều Lễ Giáng Sinh để mừng.
Trước hết, dĩ nhiên, phải nói đến Lễ Giáng Sinh trong các siêu thị. Chỗ nào cũng thấy có Ông già Noel và Cây thông Giáng Sinh. Chỗ nào cũng thấy bán hạ giá. Dù chỉ vào các siêu thị để nghe nhạc Giáng Sinh, hòa mình với đám đông đi mua sắm hay chuẩn bị quà cáp cho nhau, tôi cũng thấy đủ vui rồi.  Đây là Lễ Giáng Sinh mà bất luận thuộc văn hóa, ngôn ngữ, phái tính và nhứt là tôn giáo nào, ai cũng đều tham gia mừng cả.  Rõ ràng là ông Già Noel hay Santa Claus không có kỳ thị. Tôi tin rằng dù cho Chúa Kitô không còn “giáng sinh” nữa, và ngay cả dù ngày nay người ta thường hay “làm lơ” ý nghĩa đích thực của Giáng sinh thì Lễ Giáng Sinh vẫn cứ còn đó!
Lễ Giáng Sinh thứ hai mà năm nào tôi cũng mừng là buổi tiệc trong khu xóm của tôi.Tôi không biết có bao nhiêu người theo Kitô giáo, nhưng năm nào mọi cư dân trong cái xóm nhỏ của tôi cũng đều gặp nhau trong một bữa tiệc đơn sơ mà thực đơn gồm các món do mỗi người tự đóng góp. Mục đích chính không phải là ăn uống, mà là để ít nhứt mỗi năm một lần, mọi người trong xóm “nhận diện” nhau và cố gắng nhớ tên nhau để khỏi lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Chính nhờ mấy cái lễ Giáng Sinh này mà tôi đã thuộc được tên của hầu hết mọi cư dân trong khu xóm. Ra ngõ, được ai đó gọi đúng tên và nhứt là chính mình gọi được tên của ai đó cũng đã là một món quà Giáng Sinh lớn đối với tôi.
Kế đó, không thể thiếu sót được là Lễ Giáng Sinh trong gia đình tôi. Trong năm, thỉnh thoảng cũng có những cuộc gặp gỡ trong hàng quán hay trao đổi với nhau trên điện thoại. Nhưng “hơi ấm” của tình gia đình chỉ thực sự có trong Ngày Giáng Sinh mà thôi. Lễ Giáng Sinh thiết yếu vẫn là lễ của Gia đình.
Nhưng với riêng tôi là một tín hữu Kitô, thì lễ Giáng Sinh quan trọng nhứt vẫn là Lễ “Christmas”, tức “Lễ của Chúa Kitô” được cử hành như một nghi thức tôn giáo. Không có lễ tôn giáo thì mọi thứ “lễ lạc” khác đều vô nghĩa. Chính vì tầm quan trọng của Ngày Lễ này mà hằng năm Giáo hội của tôi dành gần cả tháng trời để chuẩn bị. Thời gian chuẩn bị ấy thường được gọi là “Mùa Vọng”. Vọng là hy vọng, là chờ đợi. “Mùa Vọng” là nói theo tiếng Việt. Còn trong các ngôn ngữ Tây phương bắt nguồn từ tiếng Latinh thì mùa chuẩn bị Lễ Giáng Sinh được gọi là “Mùa Đến” (Adventus, Advent hay Avent). Kết hợp ngôn ngữ Tây phương với tiếng Việt, tôi hiểu được rằng thời gian chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh là Mùa chuẩn bị tinh thần để đón rước Chúa Kitô là “Đấng Đang Đến”. Đây là điểm giáo lý nòng cốt mà năm nào trong các thánh lễ Mùa Vọng, các linh mục cũng nhắc nhớ để qua đó mời gọi các tín hữu chúng tôi luôn trong tư thế sẵn sàng để nhận biết và đón tiếp Ngài là Đấng đang đến trong mọi biến cố, hoàn cảnh, con người và từng phút giây của cuộc sống. Luôn tỉnh thức như thế quả là một thách đố quá lớn đối với tôi. Cứ ngẫm nghĩ và “xét mình”, quả thực tôi thấy không biết bao nhiêu lần Ngài đã “đi qua” mà tôi không nhận ra hay cố tình không muốn nhận biết hoặc ngay cả khước từ Ngài.
Tôi nhận ra thái độ của mình trong nhân vật Đại phán quan trong quyển tiểu thuyết có tựa đề “Anh em nhà Karamazov” của văn hào Nga Fyodor Dostoyeski vào thế kỷ 19. Bối cảnh của câu chuyện là những vụ xử án của Tòa Điều Tra vào thời Trung cổ tại Âu Châu. Tác giả cho Chúa Kitô “đến” tại thành phố Sevilla, Tây ban nha, chỉ một ngày sau khi có 100 người bị kết án là “lạc giáo” và  bị đưa lên giàn hỏa thiêu. Tác giả viết: “Mặt trời yêu thương bùng cháy trong trái tim Ngài” khi Ngài đi qua giữa dân chúng với một nụ cười cảm thông vô biên. Tất cả mọi người đều nhận ra Ngài; họ khóc lóc và hôn từng bước chân Ngài đi qua. “Trẻ em rải hoa trên lối đi của Ngài; chúng ca hát và hô lớn “Hosanna”.
Chúa Giêsu đi ngang qua một nhà thờ chính tòa khi người ta khiêng vào đó quan tài của một thiếu nữ 17 tuổi. Người mẹ của cô gái đến sụp lạy dưới chân Ngài và van nài: “Nếu Ngài là Chúa Giêsu, xin hãy làm cho con tôi được sống lại”. Ngài đưa mắt nhìn vào thi hài bất động với tất cả sự cảm thương và thốt lên: “Hãy chỗi dậy”. Lập tức cô gái ngồi dậy, bước ra khỏi quan tài, trên tay cầm một bó hoa hồng trắng.
Chính ngay lúc đó, vị đại phán quan là một vị hồng y già 90 tuổi cũng đi ngang qua nhà thờ chính tòa. Do tận mắt chứng kiến cảnh người chết sống lại cho nên ông ra lệnh bắt giữ Chúa Giêsu. Đêm hôm đó, ông vào nhà tù để gặp gỡ Tù Nhân. Vị đại phán quan nhìn rất lâu vào mặt Chúa Giêsu, rồi lên tiếng hỏi: “Có phải Ngài không?” Nhưng Người Tù chưa kịp trả lời thì ông lại nói: “Thôi, đừng nói gì cả. Dù thế nào thì ta cũng biết Ngài muốn nói gì rồi. Và Ngài không có quyền thêm bất cứ điều gì vào những gì Ngài đã nói lúc sinh thời. Tại sao Ngài trở lại để xen vào chuyện của chúng tôi?”
Vị hồng y đại phán quan đã độc thoại rất lâu trước mặt Chúa Giêsu và đe dọa sẽ đưa Ngài lên giàn hỏa thiêu bởi vì Ngài là “kẻ lạc giáo độc hại nhứt trong những kẻ lạc giáo”. Nhưng vị hồng y già không cảm thấy thoải mái lắm bởi vì “Người Tù” lúc nào cũng nhìn thẳng vào mắt ông, chăm chỉ lắng nghe mà cũng chẳng muốn nói một lời nào. Ông muốn cho Tù nhân nói một lời nào đó, dù là một lời cay đắng hay khủng khiếp. Nhưng Tù Nhân bỗng tiến gần đến Cụ Già và không nói không rằng, đặt một cái hôn lên đôi môi vô cảm của ông. Ông rùng  mình. Một cái gì đó làm cho khóe miệng ông co giựt. Ông lùi lại phía trước, mở cửa ngục và nói với Chúa Giêsu: “Xin Ngài hãy đi và đừng trở lại nữa...Đừng bao giờ, đừng bao giờ trở lại nữa.” (Geoffrey Plant, Tell Me a Story, Harper Collins religious, Australia 2000, trg 45-46)
“Đừng bao giờ, đừng bao giờ trở lại nữa”: có lẽ đây cũng là câu nói tàn nhẫn mà biết bao nhiêu lần, vì không tỉnh thức hay vì ác ý, tôi cũng đã vô tình thốt lên với “Đấng Đang Đến” dưới hình dáng của vô số những người mà tôi gặp gỡ mỗi ngày, nhứt là những người cần được tôi giúp đỡ và cảm thông.
Tôi vẫn thường gẫm suy về câu chuyện được chuyên gia tâm lý Scott Peck ghi lại trong cuốn sách nổi tiếng có tựa đề “Con Đường Ít Được Đi” (The road less travelled, do nhà xuất bản Random House phát hành năm 1978). Theo câu chuyện, tại một vùng hẻo lánh nọ, có một tu viện rất nổi tiếng. Cuộc sống thánh thiện của các tu sĩ đã thu hút được rất nhiều người. Không bao lâu, tu viện biến thành một trung tâm hành hương. Nhưng không rõ vì một nguyên nhân nào đó, số người tìm đến tu viện ngày càng thưa thớt. Vị tu viện trưởng mới tìm đến một giáo trưởng Do thái thông thái để vấn kiến. Sau khi lắng nghe câu chuyện, giáo trưởng Do thái mới nói với bề trên tu viện rằng “một tu sĩ trong cộng đồng của ngài là Đấng Cứu Thế”. Vị tu viện trưởng liền tức tốc trở về tu viện và tập trung các tu sĩ lại để loan báo cái tin khủng khiếp đó. Kể từ hôm đó, mọi tu sĩ đều bắt đầu nhìn và đối xử với người bên cạnh mình như Đấng Cứu Thế. Cuộc sống trong tu viện thay đổi hẳn và dĩ nhiên cũng được lan truyền ra bên ngoài. Khách hành hương bắt đầu trở lại tu viện.
Nhìn thấy, tôn trọng và yêu thương mỗi một tha nhân như “Đấng Cứu Thế”: đây chính là “chìa khóa” của Mẹ Têrêxa Calcutta đã và đang dùng để xoa dịu được phần nào nỗi khổ đau của vô số người dân nghèo khổ tại Ấn độ và trên khắp thế giới. Người nữ tu này không phải là một nhân viên xã hội lại càng không phải là một chính trị gia, một nhà kinh tế học hay một chuyên gia thảo kế hoạch. Một số người trách cứ Mẹ Têrêxa chỉ giải quyết vấn đề trong đoản kỳ, mà không tìm cách chữa trị căn bệnh tự trong gốc rễ. Chúng ta thường nghĩ rằng những thách đố “toàn cầu” chỉ có thể giải quyết được bởi những nhà lãnh đạo có viễn kiến, những tài nguyên vô giới hạn và những cuộc họp thượng đỉnh. Thật ra, mỗi người trong chúng ta, ai cũng có thể đóng góp để làm cho thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp và đáng sống hơn. Chúng ta không cần phải đóng góp bằng những chương trình vĩ đại hay tham gia một phong trào vĩ đại, mà bằng những hành động nhỏ mỗi ngày và những quyết định qua đó, cùng với hành động của triệu triệu người khác trên thế giới, có thể thay đổi bộ mặt thế giới. Đây chính là niềm xác tín của Mẹ Terexa Calcutta, một niềm xác tín được xây dựng trên niềm tin là: bất cứ nghĩa cử nào, dù nhỏ bé đến đâu, được làm cho tha nhân cũng chính là làm cho Đấng Cứu Thế.
Tôi đặc biệt nghĩ đến người nữ tu được trao tặng Giải Nobel Hòa bình năm 1979 này mỗi lần nhìn thấy những gói quà Giáng Sinh được mang đến nhà thờ trong các ngày chúa nhựt Mùa Vọng. Năm nay, giáo xứ nơi tôi thường đi lễ sẽ gởi những món quà Giáng Sinh này đến những gia đình nghèo tại Mount Druit, miền Tây Sydney. Nhìn những gói quà với đủ mọi nhu yếu phẩm kèm theo được gói ghém cẩn thận, tôi đoán được rằng những người trao tặng muốn đặt vào đó tất cả tình thương của mình dành cho những người kém may mắn. Tôi chợt nhớ đến câu nói rất quen thuộc của Mẹ Têrêxa Calcutta: “Hãy làm một cái gì đẹp cho Thiên Chúa”. Đây là câu nói đã được ký giả người Anh Malcolm Muggeridge mượn làm tựa đề cho một cuốn sách để giới thiệu cho thế giới về Mẹ Têrêxa và công cuộc từ thiện của các nữ tu Dòng Thừa Sai Bác Ái do Mẹ thành lập. Hiện nay các nữ tu của Mẹ đang có mặt tại 123 nước trên thế giới. Họ ưu tiên phục vụ cho những người cùng khổ và những thành phần bị đẩy ra bên lề xã hội như các bệnh nhân phung cùi, những người mắc bệnh Aids.
“Triết lý” và chủ trương của Mẹ Têrêxa vẫn tiếp tục bị chỉ trích. Luận điệu quen thuộc vẫn là: Mẹ chỉ giúp cho người nghèo được sống cầm hơi chứ không nhỗ tận gốc rễ căn nguyên của sự nghèo đói. Chủ trương của Karl Marx và chủ nghĩa cộng sản thì hoàn toàn ngược lại: Họ chủ trương giải quyết tận căn nguyên. “Rằng hay thì thật là hay”. Nhưng rõ ràng cái thiên đường cộng sản chỉ là một thứ không tưởng mỵ dân bằng những chiếc bánh vẽ. Biết bao lần trong lịch sử đã chứng minh rằng con đường dẫn xuống hỏa ngục thường được lát toàn bằng những “thiện ý”!  Ngày nay, chủ nghĩa cộng sản đã bị quăng vào hố rác của lịch sử, nhưng những ý tưởng, chương trình và kế hoạch “vĩ đại” vẫn còn đó và những mục tiêu lớn được đề ra vẫn mãi mãi là những “chữ chết” trong các tuyên ngôn quốc tế. Một hành động nhỏ luôn vĩ đại hơn một lý thuyết hay ho.
Trong các thánh lễ Mùa Vọng bằng Anh ngữ, tôi thấy ở mỗi đầu thánh lễ, vị linh mục chủ tế có thắp lên một ngọn nến được đặt trên một vòng hoa. Tôi không rõ nguồn gốc của vòng hoa và việc đốt nến này. Đây có lẽ chỉ là truyền thống riêng của các dân tộc “Anglo Saxon”. Mùa Vọng ở các nước Tây phương thường cũng đã là Mùa Đông. Giữa mùa Đông lạnh lẽo, một ánh nến được đốt lên như để hâm nóng niềm hy vọng của con người. Giữa mùa giá rét, hoa của hy vọng vẫn có thể nở rộ.
Riêng với tôi, ý tưởng thường xuất hiện trong đầu tôi mỗi khi tham dự vào nghi thức đốt nến ở đầu thánh lễ vẫn là câu nói mà ông Peter Benenson, một luật sư người Anh sáng lập Tổ chức Ân Xá Quốc Tế đã nói tại một buổi lễ cử hành Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 năm 1961: “Thà đốt lên một ngọn nến hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối.” (better to light one candle than to curse the darkness)
Mỗi khi gặp gỡ một ánh mắt nhìn thân thiện, tôi luôn cảm thấy như được sưởi ấm. Và tôi tin rằng ai cũng có cùng một cảm nhận tương tự từ những cử chỉ thân ái nhỏ nhặt từ người khác. Thực tình mà nói, ngọn nến không khó để thắp lên, vấn đề là tôi có đủ can đảm bỏ bớt thì giờ dành riêng cho mình để bước ra hòa mình và chia sẻ với người khác hay không.


Một Lễ Giáng Sinh trọn vẹn không thể không có thật nhiều những ngọn nến yêu thương như thế.