Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Đi tìm bậc anh hùng


Chu Thập
10.4.15

Nghe chuyện tượng đài  “Mẹ anh hùng Nguyễn Thị Thứ” vừa được khánh thành tại tỉnh Quảng Nam dạo cuối tháng 3 vừa qua, nhân dp tỉnh này kỷ niệm đúng 40 năm ngày được “giải phóng”, tôi liền vào Google để tìm hiểu về bà mẹ anh hùng này.  “Bách khoa toàn thư mở” (Wikipedia) của Việt Nam ghi lại vài nét về “bà mẹ anh hùng” này như sau: Sinh năm 1904 tại thôn Thanh Quýt 2, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, bà Nguyễn Thị Thứ là người mẹ có nhiều con cháu hy sinh nhứt trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp chống Mỹ kéo dài gần 30 năm, từ 1948 đến 1975. Chính vì vậy mà bà Thứ trở thành “bà mẹ Việt Nam anh hùng” tiêu biểu, được lấy làm nguyên mẫu để xây dựng tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam trong dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ. Bà qua đời ngày 10 tháng 12 năm 2010 tại Đà Nẵng.
Về chuyện người đàn bà này được chọn làm nguyên mẫu để xây tượng đài lớn nhứt Đông Nam Á, cũng “Bách khoa toàn thư mở” của Việt Nam cho biết chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định đưa công trình tượng đài bà mẹ Việt Nam anh hùng vào danh sách các công trình văn hóa cấp quốc gia với kinh phí lên đến trên 400 trăm tỷ đồng Việt Nam. Với một kinh phí quá lớn như thế cho nên ông Phạm Trung, Trưởng ban Mỹ Thuật hiện đại đã phải thốt lên: “Xây dựng tượng đài hoành tráng cũng như nhà nghèo nuôi voi chơi”. Riêng bà Lê Thị Trí, con gái của bà Nguyễn Thị Thứ, nay đã 80 tuổi, cũng là “mẹ anh hùng”, đã nói: “Ban đầu khi nghe tỉnh chọn hình ảnh mẹ tôi làm mẫu để xây dựng tượng đài, tôi xúc động lắm. Nhưng mà bây giờ xây tượng đài tốn nhiều quá, nơi chín suối chắc mẹ tôi cũng không vui”. “Mẹ Việt Nam anh hùng” vui sao được khi tỉnh Quảng Nam của mẹ vẫn còn nghèo và còn nhiều trường hợp trẻ em đi học không có cầu phải lội qua sông. “Bách khoa toàn thư mở” của Việt Nam còn cho biết: theo một cuộc thăm dò ý kiến trên mạng của báo VnExpress, chỉ có 5 phần trăm ý kiến cho là “nên làm” tượng đài, 52 phần trăm chống lại dự án, số khác đề nghị “nên làm” nhưng ít tốn kém hơn. Vậy mà cuối cùng, với sự chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, dự án tượng đài lớn nhứt cả nước và lớn nhứt trong toàn vùng Đông Nam Á vẫn được tiến hành và hoàn thành. Có hai chi tiết rất ý nghĩa được “Bách khoa toàn thư mở” ghi nhận ở cuối bài như sau: “Rất nhiều bài thơ được khắc trên bia đá trong khu vực tượng đài sai chính tả. Sau khi khánh thành một tuần, phần nền gạch trước mặt tượng đài đã bị bong tróc, vỡ vụn”.
Không biết, ông thủ tướng đã vào bưng lúc chỉ mới 12 tuổi nghĩ gì trong đầu khi chỉ đạo xây dựng tượng đài lớn nhứt Đông Nam Á tại một tỉnh nghèo kiết xác nhứt nước này, nhứt là khi ông thú nhận: “Bây giờ chúng ta đứng chót ASEAN (Liên hiệp các nước Đông Nam Á), thậm chí có lĩnh vực còn thấp hơn Lào, Campuchia, Myanmar...làm sao mà đất nước mình, dân tộc mình chấp nhận được”.
Thú thật, tôi không thể hiểu được lý luận của ông thủ tướng này. Có phải vì “đứng chót” ASEAN, mà Việt Nam ta phải “qua mặt” cả khối để xây dựng tượng đài lớn nhứt không?
Mà Việt Nam đâu chỉ muốn “qua mặt” ASEAN về tượng đài “mẹ Việt Nam anh hùng”. Nghe đâu, Việt Nam của ông Nguyễn Tấn Dũng thích “chơi nổi” này còn muốn xây dựng tại Hà Nội một tháp truyền hình cao nhứt thế giới nữa. Ông Nguyễn Thành Lương, phó giám đốc VTV, trưởng ban chuẩn bị dự án xây tháp truyền hình cao nhứt thế giới này giải thích: “Ý nghĩa của tháp truyền hình Việt Nam sẽ là giá trị biểu tượng phát triển kinh tế đất nước, thu hút du lịch...” Từ Ba Lan, tác giả Đinh Minh Đạo đã phải nêu lên câu hỏi: “Chẳng lẽ kinh tế Việt Nam tụt hậu so với Singapore hơn 100 năm, Thái Lan hơn 90 năm, không những chúng ta tụt hậu so với thế giới mà ngay cả đối với các nước trong vùng, lại cần một biểu tượng là ngọn tháp truyền hình cao nhất thế giới? Với cơ sở hạ tầng của Hà Nội, phố xá mất vệ sinh, giao thông đi lại lộn xộn thiếu an toàn, trời mưa là biến thành “Hà Lội”, giá cả phục vụ du lịch tùy tiện lại cần một tháp truyền hình cao nhất thế giới để thu hút khách du lịch” (x.Tính PTrương Cộng Sản, Đàn Chim Việt online 5/4/2015)
Năm 1975, say men chiến thắng đến độ “nói xàm” như người điên với những khẩu hiệu  như “đỉnh cao trí tuệ loài người” , “lương tâm nhân loại” nghe còn tạm hiểu được. Nay sau 40 năm thu tóm đất nước về một mối và gần “bảy mươi năm lẻ” tiến lên xã hội chủ nghĩa mà chẳng “có ra đếch gì” như người dân Hà Nội “tức cảnh” vịnh thơ về bức tượng Lenin, vậy mà vẫn cứ vênh mặt lên để làm đủ trò nhảm nhí.
Tưởng niệm 40 năm ngày Quốc Hận, nhìn về đất nước, dân tộc, quê hương, tôi nhận thấy một trong những đức tính căn bản nhứt để thành công trong cuộc đời, dù trong cuộc sống cá nhân hay sinh hoạt chính trị xã hội, chính là sự khiêm tốn. Đây là đức tính mà người cộng sản không hề có. Và đây chính là nguyên nhân dẫn đất nước đến chỗ tụt hậu về mọi mặt.
Cho tới nay, nhiều người cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục đề cao gương “đạo đức” của ông Hồ Chí Minh và một trong những nét nổi bật trong nhân cách của ông là thái độ khiêm tốn. Trong cuốn tự thuật “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch”, với bút hiệu Trần Dân Tiên, chính ông đã tự khen mình: “Một người như Hồ Chủ Tịch của chúng ta, với đức tính khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của Người được?” Trên thế gian này, có nhân vật lịch sử nào khả ố đến độ tự viết tiểu sử của mình và tự đề cao như một con người khiêm tốn không?  Đây chính là tột cùng của sự kiêu căng và dĩ nhiên cũng là tận cùng của sự thui chột nhân cách!
Những người cộng sản Việt Nam đã học đúng sách của ông Hồ Chí Minh về thái độ kiêu căng và thói giả hình ấy. Xây đài tưởng niệm, dựng tượng đài, mua bằng cấp giả, lập thành tích giả, thi đua đạt kỷ lục...tất cả đều là biểu hiện của tính kiêu căng và giả hình ấy. Cái thùng rỗng thì lúc nào cũng kêu to. Đó là chuyện mà ngay cả đứa con nít nào cũng biết! Cách đây mấy năm, về thăm lại quê hương, đi từ Nam ra Bắc, nhìn hai bên đường, tôi thấy nổi bật nhứt là các đồn công an và đủ các bia, tượng và đài kỷ niệm. Những lúc bị tào tháo rượt vì cơm đường cháo chợ, tôi vừa chạy vừa chửi thầm: cái đất nước gì mà tượng đài nhiều hơn nhà vệ sinh!
Tôi tin rằng nếu Việt Nam phải mất 100 năm nữa mới đạt được trình độ phát triển hiện nay của Singapore là vì cái thói kiêu căng và giả hình thâm căn cố đế ấy. Nhân sự ra đi của cố thủ tướng Lý Quang Diệu, vị cha già dân tộc xứng đáng để được mọi người dân Singapore xếp hàng đến cả 7 tiếng đồng hồ để kính viếng và tin đưa, nhiều người đã tự hỏi: Việt Nam đã học được gì từ Singapore? Đúng hơn, phải nói: những người cộng sản Việt Nam đã học được gì từ cố Thủ tướng Lý Quang Diệu?  Dĩ nhiên, cá nhân ông Lý Quang Diệu mới thực sự là một tấm gương đạo đức theo đúng nghĩa để mọi người trên thế giới noi theo, chớ không riêng gì người cộng sn Việt Nam.
Cả đời, tôi chưa hề chạy theo và tôn thờ bất cứ thần tượng nào. Với tôi, ai cũng đều là những con người bất toàn. Nhưng ít nhứt nơi người này người kia, tôi vẫn học được nhiều điều, nhứt là trong cố gắng sống cho ra người tử tế. Về phương diện này, ông Lý Quang Diệu xứng đáng là “thày” của tôi. Nhìn lại những thành đạt cá nhân và những thành tích ông đã làm được để đưa hòn đảo nghèo nàn lạc hậu thuộc thế giới đệ tam lên hàng các nước văn minh tiến bộ nhứt thế giới cũng như điều được gọi là di sản ông để lại cho Singapore và thế giới, tôi đặc biệt chú ý đến “lệnh” của ông là: hãy phá hủy ngôi nhà của ông. Với quyết định này, ông Lý Quang Diệu muốn chứng tỏ rằng trong suốt cuộc đời của ông, ông không bao giờ để cho tệ nạn sùng bái cá nhân chi phối ông. Theo tôi, đây mới là sự khiêm tốn đích thực. Dĩ nhiên, người dân Singapore có quyền và bổn phận phải bày tỏ lòng tri ân và kính mến đối với ông. Lòng biết ơn đối với người quá cố, nhứt là một người đã có công đối với đất nước, là chìa khóa để duy trì lòng yêu nước và là động lực để bảo vệ và củng cố sự phát triển của quốc gia. Nhưng cùng với lòng biết ơn, người dân Singapore cũng sẽ tiếp tục phát huy di sản lớn nhứt mà ông Lý Quang Diệu đã để lại: đó là tinh thần phục vụ vô vị lợi của ông.
Tưởng niệm 40 năm ngày Quốc Hận, tôi không chỉ nhìn lại đất nước, quê hương và dân tộc đang bị đọa đày dưới chế độ cộng sản. Tôi cũng nhìn lại cuộc hành trình của tôi nơi xứ người. Mỗi năm, cứ bước vào Tháng Tư Đen, tôi đều nhìn lại bản thân. Trong các bài học về làm người tôi đã học được, quan trọng nhứt đối với tôi vẫn là tinh thần vị tha và phục vụ vô vị lợi. Nhân cách của tôi có lớn thêm hay không là tùy ở thái độ ấy.
Úc Đại Lợi không phải là đất nước mà cứ ra ngõ là gặp anh hùng như cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của mấy ông cộng sản. Dĩ nhiên, mỗi năm đến ngày Quốc Khánh, cũng có một số người được tuyên dương công trạng vì những đóng góp trổi vượt của họ cho xã hội. Nhưng nhìn chung, ở quốc gia “miệt dưới” này, tôi chẳng bao giờ thấy có hiện tượng thi đua lập thành tích trong bất cứ lãnh vực nào. Dù vậy, cứ ra đường là tôi bắt gặp tấm lòng tử tế được thể hiện qua những cử chỉ rất nhỏ nhặt và âm thầm như một nụ cười thân thiện, một  lời cám ơn, một tiếng xin lỗi, một sự nhường bước...Ở đất nước này, không có những khẩu hiệu đưc giăng mắc khắp nơi để đề cao sự “Vĩ Đại” của ai đó mà những chú bé trong phim “Chuyện tử tế” do đạo diễn Trần Văn Thủy thực hiện hồi năm 1985, bảo là “có nghe nói đến (sự tử tế) nhưng chẳng bao giờ nhìn thấy”. Ở Úc Đại Lợi thì trái lại, tôi không bao giờ nghe người ta rêu rao về sự “Vĩ Đại”, nhưng tôi lại cảm nhận được sự vĩ đại qua không biết bao nhiêu cử chỉ tử tế mà tôi chứng kiến mỗi ngày.
Với tôi, bất cứ ai làm được những cử chỉ tử tế nhỏ bé ấy đều là “anh hùng”. Họ là thày tôi. Họ chẳng bao giờ mong được đưa lên bệ thờ hay được đúc thành tượng đài. Nhưng họ đã dạy cho tôi bài học lớn nhứt và căn bản nhứt không những trong thuật xử thế, mà còn và trước tiên đối với sự thành toàn nhân cách. Bài học đó là sự khiêm tốn và tinh thần phục vụ vô vị lợi.

Nửa đời người sống ở xứ sở tự do sẽ phí đi nếu tôi không lớn thêm chút nào trong sự quên mình và tinh thần phục vụ vô vị lợi ấy.

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Ngày Buồn Cũng Qua Mau…



                                                                           Chu Thập
Tháng Tư 2010


Cứ mỗi dạo “Tháng Tư đen” trở về, tôi lại cảm nhận được “tốc độ” của thời gian. Tháng tư năm 1985, vừa thoát khỏi địa ngục trần gian được vài năm, tôi đã thốt lên: “Mới đó mà đã 10 năm.” “Mới đó” tức là tính từ cái cột mốc  1975. Tháng Tư năm 1990, nhìn những chế độ Cộng sản tại Đông Âu rơi rụng như những con cờ Domino, để rồi thấy cái chế độ độc tài khát máu ấy vẫn còn cày xéo quê hương mình, tôi lại buồn bã than van: “Mới đó mà đã 15 năm.” Rồi “mới ngày nào,” rưng rưng nghe nhạc sĩ Phan văn Hưng hát: “Hai mươi năm, đàn trẻ thơ nay đã lớn. Và chàng trai nay đã già …” Tháng Tư năm nay, điệp khúc ấy lại trở về với một mốc điểm “rùng rợn” hơn: “Mới đó mà đã 35 năm”.
Ba mươi lăm năm là nửa đời người đối với phần đông người Việt nam. Vậy mà tôi cứ cảm thấy nhanh như một giấc mơ. Thời gian xem ra không công bình đối với mọi người. Với người này, thời gian như thể ngừng trôi.Với người khác, nó lại phóng nước kiệu.
Sau 75, tôi không bị tù đày như nhiều người. Phải nói là tôi đã được “may mắn” sống dưới chế độ cộng sản đúng 5 năm để “sờ sẫm” được bộ mặt đích thực của chủ nghĩa cộng sản mà mình chỉ biết qua sách vở. Nhưng 5 năm cũng đủ để cảm nhận được thế nào là thời gian trong địa ngục trần gian. Lúc còn nhỏ, tôi thường được bà mẹ “đạo đức” đưa chuyện hỏa ngục ra ngăm đe. Mẹ tôi kể chuyện hỏa ngục như thể bà đã từng sống trong đó. Bà nói như đinh đóng cột rằng ở trong hỏa ngục có một cái đồng hồ lớn mà giái chuông lúc nào cũng gõ: “đời đời, đời đời…” Âm thanh rùng rợn ấy làm cho tôi lo sợ không ít mỗi khi nhìn lên chiếc đồng hồ Odo treo trên cây cột giữa nhà.
Những tiếng “đời đời, đời đời” ấy đã thực sự vang lên trong tai tôi khi chế độ cộng sản xây dựng địa ngục trần gian trên quê hương. Những ngày của tháng Tư đen, người miền Nam nào mà không cảm thấy như “trời sập”, mặt trời bị che khuất, một bức màn đen bao trùm lên đất nước và thời gian như đứng lại. Chiến sự dồn dập mà ngày thì cứ như dài ra để như cố gắng…nhét cho đủ tin tức trên báo chí vào.
Nghe những người cộng sản “phán” rằng đồng hồ của Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ, tôi cứ nghĩ là chuyện hoang đường hay tuyên truyền. Vậy mà thực tế lại “đúng” như thế! Đồng hồ Thụy sĩ tại các nước tư bản chạy như bay. Còn đồng hồ Liên xô ở các nước cộng sản cứ nhẩn nha mà gõ từng tiếng “đời đời, đời đời” của địa ngục trần gian. Quả thật, thời gian của xã hội chủ nghĩa sao mà lê thê thế! Chỉ có 5 năm xã hội chủ nghĩa mà tôi thấy như cả thế kỷ. Cái đói triền miên khiến cho ngày nóng lại dài ra. Sự mất ngủ ban đêm vì bị “dựng đầu dậy” để kiểm tra hộ khẩu làm cho đêm như bất tận. Những buổi đi “học tập” để nghe những con vẹt thuyết trình về tính ưu việt của chủ nghĩa cộng sản và những tràng pháo tay bắt buộc phải vỗ là những tra tấn khủng khiếp. Những cái loa treo khắp hang cùng ngõ hẻm ngày đêm ra rả bên tai những điệp khúc vô nghĩa lại càng làm cho những tiếng “đời đời, đời đời” nghe rõ hơn. Bóng áo vàng của công an bao trùm lên mọi ngõ ngách của cuộc sống đồng nghĩa với một bản án chung thân hay lưu đày biệt tích.
Thực ra cũng chẳng ngoa để bảo rằng chế độ cộng sản là một nhà tù không hơn không kém. Vào nhà tù nhỏ, ít nhứt có người còn nuôi hy vọng được trở về nhà tù lớn. Trong nhà tù lớn, mọi người cứ phải phập phồng lo sợ không biết mình lại phải chui vào nhà tù nhỏ lúc nào.Tù nhỏ hay tù lớn, ở đâu cũng là tù cả. Mà một ngày trong tù bằng cả ngàn ngày ở ngoài, cho nên có bảo rằng thời gian trong cái nhà tù lớn là chế độ cộng sản có “ngưng lại”, thì cũng chẳng phải là “cường điệu” cho lắm. Đúng như nhà văn Vũ Thư Hiên đã cảm nhận, trong chế độ cộng sản “Đêm đến ngay giữa ban ngày”. Kể từ tháng 4 năm 1975, mặt trời đã bị dép râu và mũ tai bèo che khuất đến độ tương lai chỉ còn là một đêm dài vô tận.
Tốc độ của thời gian quả thật được đo lường bằng tự do. Có tự do, thời gian như đi tới. Thiếu tự do thời gian ngưng chuyển động.
Nhà văn Bùi ngọc Tấn, tác giả của “Chuyện kể năm 2000”, đã bị giam tù từ năm 1967 đến năm 1972, trong vụ án gọi là “chống đảng xét lại”. Tôi không nhớ rõ đã đọc ở đâu đó một đoạn văn, trong đó ông kể lại rằng vừa ra khỏi tù ông cảm thấy thơ thới khi được ngồi lên chiếc xe đạp. Ông đi xe đạp cho thỏa thích và kết luận: “tự do là tốc độ”. Dĩ nhiên, ở trong tù, bị cùm chân như linh mục Nguyễn Hữu Lễ, bị tước đoạt khả năng đi đứng thì làm gì biết được thế nào là tốc độ. Bị biệt giam như linh mục Nguyễn văn Lý, còn thấy đâu là không gian để đi lại và cảm được sự nhanh chậm của sự di chuyển.
Năm 1982, không còn phải nghe tiếng đồng hồ “đời đời, đời đời” của địa ngục trần gian Việt nam, tôi đã thực sự cảm nghiệm được tốc độ của thời gian khi đến Âu Châu. Phương trình “Tự do = Tốc độ” đã được thể hiện rõ nét nhứt qua cách đi đứng của người Tây Phương. Tôi ngỡ ngàng và cũng ngây ngất khi thấy người ta không lê những bước chân mỏi mệt trên đường phố: tất cả mọi người đều đi như chạy! Người ta chạy trên đường phố. Người ta chạy để đuổi kịp chuyến xe điện ngầm. Cái cảnh “xếp hàng cả ngày” giữa trưa nắng để mua một vé xe, để xin một chữ ký chứng nhận của mấy “người đầy tớ nhân dân” hay để được uống một ly cà phê trong một cửa hàng mậu dịch quốc doanh… đã dần dần mờ nhạt trong ký ức của tôi. Phương trình “Tự do= Tốc độ” lại càng thể nghiệm đúng hơn khi lần đầu tiên tôi được ngồi trên những chuyến xe lửa “TGV” siêu tốc của Pháp. Nhớ lại cái thời phải mất nguyên một ngày để đi một đoạn đường không quá một trăm cây số, phải qua bao nhiêu  trạm kiểm soát “tự phát” và tùy tiện của công an, của đủ mọi thứ thuế vụ mà hãi hùng! Ở trong những nước tự do, như Âu Châu chẳng hạn, chỉ lái xe vài tiếng đồng hồ hay chỉ cần leo lên xe lửa ngủ một thoáng cũng đã có thể đến một nước khác. Tôi nhớ, nhiều lúc đi du lịch, tôi không muốn xuống khỏi xe lửa: tôi cứ thích ngồi mãi trên đó để ngắm cảnh và cảm thấy mình thực sự tự do. Lần đầu tiên đến Mỹ, tôi cũng sống lại cái cảm giác ấy: hệ thống xa lộ ngút ngàn của nước này là một chứng nghiệm của phương trình “Tự do = Tốc độ”. Nói chi đến chuyện ăn uống. Các quán “ăn nhanh” (fast food) không phải là một biểu hiện về tốc độ của thời gian ư? Người ta phải ăn vội ăn nhanh, bởi vì thời gian là vàng là bạc, thời gian không nhân nhượng, thời gian không chịu nhẩn nha hay dừng lại. Ngay cả tốc độ của Internet ở một xứ tự do cũng nói lên tốc độ nhanh chóng của thời gian. Thời chưa mở cửa, ở Việt nam, thông tin là một cái tội. Nghe đài “địch” là một hành động phản động, liên lạc với người nước ngoài cũng là phản quốc. Ngày nay, cho dù có cố gắng chạy theo tốc độ của các nước tự do, hệ thống Internet của Việt nam cũng vẫn là một con rùa. Cứ vào một quán cà phê Internet để gởi một cái thư, thấy như đầu mình nóng lên vì bao nhiêu con mắt “chìm nổi” đang theo dõi, thời gian không chậm mà như “đứng lại”. Trái tim tôi cũng “đứng lại”. Đứng cho đến khi cái email nhảy được vô “xa lộ thông tin” và…trót lọt.
Tự do đã cho tôi cảm nhận được tốc độ của thời gian. Gần 30 năm thoát khỏi địa ngục trần gian, tôi thấy mình chẳng khác nào Từ Thức. Lần đầu tiên trở về thăm quê hương, tôi thấy như lạc vào một thế giới xa lạ. Rất nhiều người không nhận ra tôi. Gặp những em bé, trông giống một khuôn mặt quen thuộc nào đó, tôi gọi lại hỏi tên cha mẹ. Chúng nó nói đến những cái tên tôi chưa từng nghe biết. Gạn hỏi tên ông bà, tôi mới tìm ra được tông tích của chúng. Ông bà nội ngoại hay ngay cả ông bà cố nội ngoại của chúng chính là những người cùng lứa tuổi của tôi ngày xưa. Có kẻ đã ra người thiên cổ. Có người trông “già” đến độ tôi không biết phải xếp họ vào hạng tuổi nào. Thời gian ứ đọng, ngừng trôi quả là một thứ độc dược có sức tàn phá nhan sắc con người khủng khiếp. Những người cùng lứa tuổi với tôi, ngày nay trông tàn tạ đến độ khiến tôi phải vận dụng toàn bộ năng lực của trí nhớ mới nhận ra.
Bánh xe thời gian trong xứ sở tự do nơi tôi đang sống quả thật đang lăn quá nhanh. Dường như thời gian trôi nhanh đến độ con người không kịp già. Ở Việt nam, những người thuộc lứa tuổi của tôi nếu không ra đi vì bệnh tật, thì đa số cũng đã là những cụ ông cụ bà lụ khụ. Ở nơi xứ sở tự do tôi đang sống, tuổi thọ ngày càng dài ra và thật khó để đánh giá chính xác được ai già hơn ai. Nhiều người “sáu, bảy bó” mà cứ như còn trung niên. Chuyện một số người đàn ông ở lứa tuổi của tôi, da dẻ hồng hào thẳng thướm, mái tóc chỉ cần tân trang chút đỉnh, về Việt nam kiếm bồ nhí không còn là chuyện “động trời” nữa. Tự do, ít nhứt là tự do chính trị hay tự do trong những quyền cơ bản nhứt của con người, dường như làm cho thời gian qua nhanh và cũng làm cho tuổi già chậm lại.
Tôi đang được hưởng tự do chính trị và tất cả những quyền tự do cơ bản khác của con người. Nhưng quan trọng hơn đối với tôi chính là cái tâm trạng thơ thới của một con người đang được hít thở không khí tự do. Tôi thấy mình làm được nhiều thứ mà những người cùng lứa tuổi của tôi ở Việt nam không được phép làm hay không có điều kiện để làm. Thời gian ở một xứ sở tự do trôi qua quá nhanh khiến tôi lúc nào cũng cảm thấy một ngày sống như quá ngắn. Dĩ nhiên, ở đâu mà không có nắng mưa, không có những ngày buồn. Nhưng cũng như nhà văn Nguyễn ngọc Ngạn, tôi thấy ở cái xứ ở tự do này, ngay cả “Ngày buồn cũng qua mau”.
Rời bỏ địa ngục trần gian để đi tìm tự do, tôi đã tìm được tự do.Tôi thấy chẳng có gì để kêu trách hay than phiền nữa. Cũng như những “thuyền nhân” người Anh trên chiếc thuyền Mayflower hồi năm 1620, tôi chỉ thấy có mỗi một tâm tình đúng đắn nhứt vào mỗi tháng Tư đen là tạ ơn. Vừa đến bến bờ tự do, những người di dân tiên phong của Hoa Kỳ này đã tổ chức “tạ ơn”. Tạ ơn Thượng đế đã ban cho họ được tự do. Tạ ơn người thổ dân đã ân cần đón tiếp họ. Ngày nay, cứ vào ngày thứ Năm  cuối  tháng 11, dù thuộc tôn giáo và văn hóa nào, người Mỹ nào cũng cảm thấy được hãnh diện làm “hậu duệ” của những người tỵ nạn đầu tiên ấy để làm cho sống mãi tâm tình tạ ơn trong Ngày Tạ Ơn.
Tôi không thể sống như một con người tự do mà không tạ ơn.
Tạ ơn Thượng Đế đã ban tặng cho tôi món quà của Sự Sống và Tự Do.
Tạ ơn những quốc gia đã mở rộng biên giới để đón nhận tôi vào ngưỡng cửa của tự do.
Tạ ơn không biết bao nhiêu tổ chức thiện nguyện đã giúp đỡ tôi chuẩn bị bước vào đời sống tự do.
Tạ ơn đất nước đã đón nhận và cưu mang tôi trong vòm trời tự do.
Tạ ơn những người công dân của quê hương mới mà lòng tốt và hai tiếng “cám ơn” không ngừng được thốt ra trên cửa miệng luôn nhắc nhở tôi về lòng biết ơn.
Tạ ơn và tạ ơn không ngừng, bởi vì “mỗi buổi sáng, nếu bạn thức dậy với tâm tình tạ ơn, thì khó hoặc hầu như không thể không cảm thấy bình an” (Richard Carlson, Don’t Sweat the Small Stuff...trg.66)
Chính nhờ tâm tình tạ ơn mà tôi luôn cảm thấy mỗi ngày là một món quà vô giá của Trời và của Người. Có lẽ vì vậy mà dù đời tha hương luôn bận rộn và vất vả, ngày mưa hay ngày nắng, ngày làm hay ngày nghỉ, ngày vui hay ngày buồn trong tôi đều qua thật mau.
 Chu Thập, Tháng Tư 2010







Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

Cây cũng khóc


Chu Thập
3.4.15

Tôi là một tên “nhà quê” chính hiệu. Dù lớp phèn có được tẩy sạch khỏi móng chân, tôi vẫn cứ thấy mình “quê mùa”. Tôi vốn sinh ra và lớn lên bên cạnh sông nước, ruộng vườn, lũy tre xanh và vô số những cây cổ thụ trong làng, cho nên “nông dân” vẫn mãi mãi là cái “cốt” hay nói văn hoa một chút là cái bản sắc bất biến của tôi. “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi”, nên dù có “phong sương mấy độ qua đường phố” vẫn cứ “nghiêng mình nhớ đất quê” (Nam Sơn). Phong trào “Xanh”, ý thức hệ “Xanh” và các “Đảng Xanh” chỉ mới xuất hiện tại Tây Phương vào thập niên 1970. Còn tôi thì đã biết  trồng trọt và yêu thiên nhiên ngay từ lúc còn để chm, nghĩa là cũng đã trên 60 năm rồi. Thiên nhiên và nhứt là cây cối là một phần cuộc sống và gia phả của tôi. Với tôi, mỗi một cây cổ thụ trong làng đều là miếu đền để ông bà cố, ông bà nội ngoại và cha mẹ tôi tiếp tục cư ngụ. Họ đã từng ngồi dưới bóng mát của những cây ấy. Tôi không thể nói đến tình tự quê hương mà không hình dung ra những cây cổ thụ ấy. Không gì buồn và cảm thấy xa lạ cho bằng về thăm lại quê hương mà không còn nhìn thấy những cây cổ thụ ấy. Như thể, tổ tiên, ông bà và cha mẹ của mình đã dọn đi một nơi khác. Như thể quê hương không còn nữa.
Cách đây vài năm, trong chuyến đi xuyên Việt từ Nam ra Bắc, chiếc xe đò mà chủ nhân là một người gốc Thanh Hóa, đã dừng lại ở trạm Cây Dầu Đôi, ở ngã ba cải lộ tuyến, Thành, cách thành phố biển Nha Trang khoảng 11 cây số về hướng nam. Cây Dầu Đôi là một địa danh nổi tiếng đối với người dân Nha Trang. Nổi tiếng vì xe cộ thường dừng lại đây trước khi đi vào thành phố hoặc r qua cải lộ tuyến để đi thẳng ra hướng Bắc. Nhưng nổi tiếng hơn cả vì trước năm 1975, nơi đây cũng là “điểm hẹn” của mấy ông du kích và việt cộng nằm vùng. Cứ từ 7,8 giờ tối  trở đi, người dân lành nào đi ngang qua đó cũng đều cảm thấy sợ, không biết lúc nào bị ám sát hoặc bị bắt đưa lên núi.
Như tên gọi của nó, Cây Dầu Đôi là hai gốc cây cổ thụ chập lại làm một, tẻ ra ở phần trên và vươn lên thẳng trời cao. Tôi không biết rõ tuổi của Cây Dầu Đôi. Xác định niên đại của nó bằng khoa học thì chưa ai làm. Nhưng theo dẫn chứng lịch sử thì vào năm 1793, khi thành Diên Khánh bắt đầu được xây dựng, Cây Dầu Đôi đã có mặt và đã chứng kiến không biết bao nhiêu biến cố lịch sử rồi. Nghe đâu vào năm 2000, khi con đường từ Thành đi Nha Trang được mở rộng cho 6 làn xe, Cây Dầu Đôi nằm trong khu vực phải “di dời” để mở đường. Số phận của nó được mang ra bàn cãi. Nhưng cuối cùng, người ta quyết định để nó đứng yên tại chỗ để tiếp tục làm một “nhân chứng” lịch sử.
Cho đến năm 1981, khi bỏ nước ra đi, hầu như không có lần nào đi ngang qua Cây Dầu Đôi mà tôi không ngoái cổ nhìn vào nó từ trên xuống dưới. Lần này, khi chiếc xe đò dừng lại dưới bóng Cây Dầu Đôi, ngước cổ nhìn lên, tôi thấy đã có nhiều nhánh bị chặt trụi, thân cây có nhiều đoạn loang l, một vài chỗ có những vết đỏ như máu. Người tài xế, một người Thanh Hóa đã từng làm công an, đã nhanh nhu giải thích rằng Cây Dầu Đôi đã từng bị chặt chém để mở đường. Nhưng cứ mỗi lần nó bị “hành hung” như thế thì máu từ thân cây chảy ra. Mấy tên đao phủ hong sợ quá nên dừng tay lại. Vậy mà Cây Dầu Đôi, không biết có phải đau buồn không, vẫn tiếp tục rỉ máu.
Hư thực thế nào tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng nếu Cây Dầu Đôi mà biến mất khỏi Thành của tôi, thì coi như tôi cũng mất đi một phần quê hương.
Tôi cũng có một ý nghĩ như thế khi đi bộ dọc theo con đường Bá Đa Lộc (nay đổi tên thành Lý Tự Trọng), nơi đã từng có Trường Tây (Collège Francais) và Trường trung học Võ Tánh (nay cũng đổi tên  thành trường trung học phổ thông Lý Tự Trọng). Nếu ở Sài Gòn có con đường Duy Tân “cây dài bóng mát”, thì ở Nha Trang tôi, đường Bá Đa Lộc cũng có những cây xà cừ lớn phủ bóng mát hai bên đường làm nơi hẹn hò hay đi bộ lý tưởng cho học sinh trung học. Tôi nghĩ có lẽ đây là công trình của người Pháp. Dù có thù ghét thực dân Tây thế nào đi nữa, lịch sử vẫn là lịch sử và lịch sử cần phải được tôn trọng. Vậy mà không rõ tại sao, cả một hàng cây lớn dọc theo con đường Bá Đa Lộc đều bị chặt chém không chút xót thương. Thêm một lý do để tôi chẳng bao giờ muốn trở về thăm chốn cũ.
Nay nghe nói ở Hà Nội, ông chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành Phố Nguyễn Thế Thảo đã cho mở chiến dịch chặt hạ khoảng 6700 cây xanh trong thành phố. Cho tới nay đã có tới 2000 cây bị chặt. Trong số này có những cây cổ thụ với đường kính lớn tới cả thước. Mà đâu phải đây là những  cây “già nua” hay bệnh hoạn. Phần lớn những cây bị chặt đều đang xanh tốt, khỏe mạnh. Hà Nội hay, như một phóng viên của hãng thông tấn Reuters gợi lại, “Ba Lê của Á Châu”, sẽ mất đi “linh hồn” của nó khi cây xanh bị chặt hạ.
Thành phố nhờ cây xanh mới có và giữ được linh hồn, mà cây xanh dường như cũng có “linh hồn”. Nhân vụ thành phố Hà Nội ra lệnh triệt hạ cây xanh, trong bài “Thắp nhang tưởng niệm những hàng cây”, nhà báo Ngô Nhân Dụng đã viết “Hồn cây xanh đang khóc, nếu như cây cũng giống người”. Trích dẫn một cuộc thí nghiệm của ông Cleveland Backster nửa thế kỷ trước đây, tác giả cho biết cây cối cũng có cảm giác, cũng biết đau, biết sợ. Cây cũng biết phân biệt cây đồng loại hay cây lạ, cũng có cảm giác thương xót một sinh vật chết. Còn nói như cậu nhỏ trong nhà tôi, cây cũng “thông minh như người”.
Về phương diện khoa học, tôi chưa được thuyết phục lắm về “linh hồn” hay “cảm xúc” của cây cối. Trong tập truyện “Lord of the Rings”, dường như nhà văn Anh J.R.R.Tolkien cũng muốn gợi lên điều đó chăng khi ông tưởng tượng ra cảnh loại cây có hình thù giống người có tên là “Ents” đã phẫn nộ với bạo chúa Saruman là người ra lệnh cho các đạo binh chặt hạ cây cối một cách tàn nhẫn. Chỉ có điều mà tôi tin chắc là tất cả mọi cây cối  trên trái đất này đều đang tham gia vào nhiều tiến trình sinh học, trong đó nổi bật nhứt là sự quang hợp: lá cây hút thán khí từ bầu khí quyển, trộn lẫn với nước, biến nó thành đường cũng như tiết ra dưỡng khí. Cây là buồng phổi của con người. Mỗi một cây lớn có thể sản xuất dưỡng khí cho một gia đình 4 người trong một năm!
Các nhà khoa học cũng cho tôi biết rằng cây cối là những đập nước giúp trữ được bao nhiêu lượng nước từ trời rơi xuống. Cây cối đón nhận nước mưa và hàng tỷ tỷ rễ cây hút lấy nước để giữ cho đất đai luôn được ẩm ướt. Cây trồng xung quanh nhà và các nhà máy cũng giúp hạ nhiệt đến 40 phần trăm. Cây cối cũng giúp hạ giảm tiếng động. Và thực tế hơn, cây cối cũng giúp gia tăng kinh tế: người tiêu thụ thích mua sắm dọc theo những nơi có những hàng cây lớn! Cây không chỉ cho chúng ta hoa trái, mà còn cung cấp cả dược phẩm để con người chữa bệnh nữa.
Nếu cây cối mang lại nhiều lợi ích như thế thì đương nhiên chặt hạ cây cối cũng chính là hãm hại sự sống con người. Trong các dân tộc không có quốc gia trên trái đất này, tôi thấy rất thương cảm với người Palestine. Từ gần cả thế kỷ nay,  kể từ khi người Do Thái trở về điều được gọi là “Đất Hứa” của họ để lập quốc, người Palestine bị đày đọa và tỵ nạn ngay trên chính quê hương của mình. Một trong những hành động mà chính phủ Israel xem như biện pháp tốt nhứt để tiếp tục giam giữ người Palestine trong kiếp tỵ nạn là đốn chặt cây ôliu của họ. Mới tháng trước đây, quân đội Do Thái đã dùng xe ủi để bình địa nguyên một vườn cây ôliu của người Palestine. Kể từ năm 1967 đến nay, sau khi đã chiếm đóng phía Đông thành Giêrusalem và vùng Tây Ngạn của người Palestine, Israel đã phá hủy trên 800 ngàn cây ôliu của người Palestine. Không những không được tiếp tục trồng trọt trong những vùng bị Israel chiếm đóng, người Palestine còn bị đẩy lui ra khỏi vùng này. 80 ngàn gia đình người Palestine sống bằng kỹ nghệ trồng và làm dầu ôliu đều lâm cảnh không còn đất sống. Dạo tháng 10 năm trước, khi người Palestine bắt đầu mùa thu hoạch trái ôliu, một nhóm những người Do Thái định cư trên vùng đất của người Palestine đã nổi lửa đốt hàng trăm gốc cây ôliu của người Palestine tại Nablus, phía Bắc Tây Ngạn.
Nguồn gốc của cuộc xung đột giữa Israel và Palestine đã bắt đầu vào năm 1917, khi chính phủ Anh cho công bố Tuyên ngôn nổi tiếng “Balfour Declaration”, kêu gọi “thành lập tại Palestine một quốc gia cho người Do Thái”. Kể từ đó, cây ôliu của người Palestine không ngừng bị triệt hạ và sự sống của chính họ cũng bị đe dọa. Đầu tháng 3 vừa qua, nhiều người Palestine đã tham gia chiến dịch trồng cây ôliu tại thị trấn Rumeida trong vùng bị Israel chiếm đóng. Với cử chỉ này, họ muốn bày tỏ quyết tâm muốn sống và tranh đấu cho tự do và độc lập của dân tộc họ.
Từ Palestine nhìn về Việt Nam, tôi cũng nhận ra cùng một quyết tâm của người dân Hà Nội khi họ xuống đường phản đối hành động triệt hạ cây xanh của Ủy ban Nhân dân thành phố. Nhìn một cô gái Hà Nội đứng ôm một thân cây “vấy máu” khóc nức nở hay một thanh niên đứng vào lỗ trống của một cây vừa bị chặt hạ với tấm bảng trên ngực “tôi là một cây xanh” do phóng viên của hãng Reuters chụp và gởi đi khắp thế giới, tôi cảm thấy đau buồn và tự nhiên cảm nhận được nỗi đau của chính những cây xanh bị chặt hạ. Nhưng tự dưng tôi cũng thấy lóe lên một niềm hy vọng: bao lâu con người còn yêu mến thiên nhiên, cây cối, họ còn biết tôn trọng sự sống. Lâu nay, tôi đã gán cho người cộng sản tất cả những gì là đồi bại và khủng khiếp nhứt mà loài người đã có thể kinh qua. Nhưng nay, tôi lại tìm thấy một tội ác khác của người cộng sản: người cộng sản chẳng có chút tình yêu thương nào đối với cây cối và thiên nhiên. Sự sống con người mà còn bị họ miệt thị thì huống gì thiên nhiên. Tôi không biết “thiên nhiên” ở Trung Quốc rồi đây sẽ ra sao? Sự phát triển kinh tế hn loạn và bằng mọi giá đã khiến cho môi trường sống bị tàn phá không chút xót thương. Ở Việt Nam cũng thế. Cùng với sự xuống cấp và đảo lộn các bậc thang giá trị, thiên nhiên và cụ thể là cây cối đã bị hành hạ và loại trừ một cách vô tội vạ. Và dĩ nhiên, những nhát dao đâm chém vào cây xanh như đang diễn ra ở Hà Nội, cũng chính là những hành vi xúc phạm đến chính sự sống của con người. Tình yêu đối với thiên nhiên là thước đo về sự tôn trọng đối với sự sống và phẩm giá của con người.
Tôi không thuộc Đảng Xanh. Tôi cũng chưa tham gia “Chương trình Hành động Trực tiếp” của Thủ tướng Tony Abbott để tình nguyện đi trồng cây xanh. Nhưng nhờ cái “cốt” nông dân đã ăn sâu vào người, tôi nhận thấy mảnh vườn nhỏ xung quanh nhà là “cửa thiền” yên ắng và êm ả nhứt của tôi. Ở đây, tôi hằng suy nghiệm về một chân lý: khi con người biết sống an hòa với thiên nhiên, họ cũng sẽ dễ dàng xây dựng hòa khí với người xung quanh.









Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

Tiếng Khóc Khô Không Lệ…


                                                                 
                                                                         Chu Thập
4/2010

Với năm năm “dài lê thê” trong địa ngục trần gian xã hội chủ nghĩa, tôi vướng vào một vài tật xấu, nhưng cũng học được đôi điều tốt.
Tuy không bị “ba cái lăng nhăng nó quấy ta”, tôi cũng không tránh khỏi những cái “ghiền” thường tình của mọi người dân xã hội chủ nghĩa.
Thuở nhỏ, đi theo lũ bạn chăn trâu, gặp lúc trời mưa lạnh, ngồi co ro trong chòi để chờ củ khoai mì lùi tro chín, tôi cũng thử “bập” một điếu thuốc vấn với lá chuối khô. Nhưng khói và mùi khét lẹt của loại thuốc lá ẩm mốc để lâu không thể nào chiêu dụ tôi được. Cũng có lúc tôi thử làm người lớn bằng cách kẹp điếu thuốc lá vào hai ngón tay và cố gắng bắt chước “phong cách” anh chị của mấy ông tài tử trong phim cao bồi vốn đã bắt đầu thịnh hành tại Việt nam từ thập niên 60. Nhưng chịu! Những thứ thuốc “sang” như Ruby Queen, Cotab, Bastos, rồi sau này, khi Mỹ đã ào ạt đem quân sang, những thứ “cao cấp” như Capstan, Salem, Pall Mall, Craven A, Malborough, Winston, Dunhill, 555…cũng chẳng có sức “thu hút” và “đốn ngã” tôi được.Tôi vẫn cứ thấy mình trơ trơ đối với chất nicotin.
Tôi cứ tưởng mình đã được “miễn dịch” đối với thuốc lá. Vậy mà, đùng một cái, khi tháng Tư 1975 đến, trời sập xuống trên quê hương Việt nam, tôi bỗng thấy mình biết hút thuốc một cách tự nhiên như một dân ghiền chính hiệu. Những loại thuốc lá “có cán” của “đế quốc” không còn nữa, mà nếu còn thì “đô” cũng quá nhẹ, không thể nào thỏa mãn được cơn ghiền nặng của tôi. Phải nặng và khét như Vàm Cỏ, Hoa Mai, Khánh Hòa…thì may ra tôi mới đoái hoài tới. Hai ngón tay trỏ và giữa của tôi như được “bọc vàng”. Chẳng còn thứ xà bông hay thuốc tẩy nào có thể xóa sạch được cái thành tích ấy.
Dĩ nhiên, thuốc lá luôn đi với cà phê và ngược lại. Trước 75, thỉnh thoảng tôi cũng biết thưởng thức cà phê sữa đá. Nhưng cà phê đen đặc quánh là thứ tôi chưa ngửi thấy được hương vị bao giờ. Vậy mà tháng Tư đen đến, mầu đen của cà phê bỗng trở thành mầu hấp dẫn nhứt. Được một ông bạn ở Ban Mê Thuột tiếp tế loại cà phê nguyên chất đều đều, cho nên tôi lúc nào cũng có “của ăn của để” và trở thành Mạnh Thường Quân của nhóm bạn ghiền đói rách.
Mỗi ngày tôi “kéo” không dưới hai gói thuốc và nhâm nhi không dưới năm cữ cà phê. Phải nói là “nhâm nhi”, bởi vì để thực sự thưởng thức loại cà phê “cái nồi ngồi trên cái cốc”, cần phải có thì giờ và biết chờ đợi. Mà sau 75, cái gì cũng thiếu, ngoại trừ thì giờ. Thì giờ quá nhiều, không biết “tiêu” vào đâu cho hết, cho nên tôi dành cho cà phê. Phải nói là để thực sự thưởng thức cà phê, cần phải ngồi nhìn ngắm những giọt đen tuyền rỉ qua cái phin. Đúng luật bất thành văn mà nhóm chúng tôi đặt ra là: phải có ít nhứt nửa giờ hay 15 phút mới pha được một ly cà phê. Chưa hết. Sau đó, phải dùng cái muỗng đánh cho cà phê lên bọt rồi mới thưởng thức.
Với ông bà ngày xưa thì “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Còn với nhóm bạn ghiền cà phê của tôi, thì miếng trầu được thay thế bằng cà phê. Và đây chính là điều “tốt” mà tôi đã học được dưới mái trường xã hội chủ nghĩa: cứ cà phê “vào” thì chuyện tiếu lâm lại “ra”.
Trước 75, tôi cũng thích “chuyện cấm đàn bà” của Đặng Trần Huân. Nhưng tiếu lâm trước 75 chỉ có tính cách “nghiệp dư” đối với tôi. Trong chế độ cộng sản, dường như người dân nào cũng trở thành một nhà “tiếu lâm chuyên nghiệp”. Cứ gặp nhau là “tuôn” ra chuyện tiếu lâm. Làm như câu chuyện sẽ nhạt nhẽo nếu người ta không có chuyện tiếu lâm để kể hay không nghe thêm một chuyện tiếu lâm.
Một anh bạn của tôi có một quyết tâm “độc đáo”: một ngày mà chưa tìm được một chuyện tiếu lâm thì coi như chưa “sống” trong “lòng dân tộc”.Thật ra, anh không phải là người sáng tác ra chuyện tiếu lâm. Anh nói rằng cuộc sống trong một xứ sở mà ngay đến quần áo cũng không có để mặc  mà vẫn tự hào là thiên đàng, thì đích thị là “một cuốn sách” đầy chuyện tiếu lâm rồi. Mà quả thật như vậy, cứ mỗi lần ra khỏi nhà, đi một vòng chợ trở về, anh đã có một câu chuyện tiếu lâm để kể.
Cà phê đắng cách mấy cũng trở thành ngọt, thuốc lá có khét cách mấy cũng trở thành thơm là nhờ những câu chuyện tiếu lâm được “dậm” vào buổi gặp gỡ hàng giờ chẳng biết làm gì ấy. Nói theo giọng “tiếu lâm” mà nhà thơ Hữu Loan đã nhắc đến trong một cuộc phỏng vấn dành cho một phóng viên của một tờ báo Việt ngữ hải ngoại hồi năm 1988, mọi sự đều nhờ “ơn Đảng ơn Bác” cả. “Ơn Đảng ơn Bác, đồng chí có khỏe không. Dạ, ơn Đảng ơn Bác lâu nay tôi ốm mãi. Ơn Đảng ơn Bác tôi mới xuất viện được 2 hôm nay” (x. Việt luận 23/3/2010)
Có lẽ tôi cũng phải mượn cái giọng “tiếu lâm” trịnh trọng ấy để nói rằng nhờ “Ơn Đảng ơn Bác” hay “nhờ ơn cách mạng” mà  kho tàng chuyện tiếu lâm của tôi được thêm phong phú và nhờ chuyện tiếu lâm mà tôi đã có thể tồn tại trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa. Thật ra, không chỉ có tôi và nhiều người Việt nam, mà hầu như người dân nào sống dưới chế độ cộng sản cũng thế: các tù nhân trong cái nhà tù vĩ đại là chế độ cộng sản tồn tại được là nhờ chuyện tiếu lâm trong đó những người cộng sản là những nhân vật chính.
Tôi vẫn thích nhứt câu chuyện mà tôi tin rằng tất cả những ai đã từng nếm mùi xã hội chủ nghĩa cũng đều biết. Chủ nghĩa cộng sản không chỉ là một hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội. Nó thiết yếu là một ý thức hệ duy vật vô thần có chủ trương tiêu diệt tôn giáo. Giáo điều cơ bản nhứt của chủ nghĩa này vẫn là “tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng”. Hẳn phải thâm thúy lắm ai đó mới nghĩ ra câu chuyện tiếu lâm như sau: “Có một phụ nữ sùng đạo nọ vào nhà thờ cầu nguyện. Bà đến quỳ trước tượng Đức Mẹ và cầu xin: “Mấy ngày nay, nhà con chẳng còn gì để ăn. Xin Đức Mẹ cho con đúng 5 đồng để mua đủ cơm bánh cho ngày hôm nay.” Cứ sau một lần cầu nguyện, người đàn bà lại úp mặt trên bàn quỳ. Lúc đó, có hai anh công an đang thi hành nhiệm vụ theo dõi các sinh hoạt tôn giáo xung quanh nhà thờ. Quan sát cử chỉ của người đàn bà, hai anh liền nghĩ ra một kế tuyệt diệu để đánh đổ điều mà hai anh cho là “mê tín dị đoan”. Sau một lúc bàn bạc, hai anh mới “nhất trí” rút tiền riêng ra và cho vào phong bì, rồi nắn nót hàng chữ “Đảng cho”. Rón rén vào nhà thờ lúc người đàn bà đang úp mặt trên bàn quỳ, hai anh đặt phong bì trước mặt bà, rồi trở ra ngoài để theo dõi phản ứng của bà. Ngước mắt lên thấy có phong bì, người đàn bà khốn khổ vui mừng mở ra và đếm được đúng 3 đồng. Bà liền nhìn lên Đức Mẹ, đổi ngay nét mặt và nói như trách: “Lạy Đức Mẹ, lần sau Đức Mẹ có cho thì cho thẳng con, đừng cho qua Đảng, chúng nó lấy mất 2 đồng.”
Trong các câu chuyện tiếu lâm về Bác và Đảng, tôi nghĩ đây là câu chuyện thâm thúy nhứt. Năm 1982, đến Âu Châu, tình cờ đọc được một cuốn sách tiếu lâm của người dân Ukraine, một trong những cộng hòa của Liên Xô, tôi lại thấy có câu chuyện trên đây. Thì ra, đây có lẽ không phải là sáng tác của người Việt nam, mà là câu chuyện đã lan truyền khắp các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Dù sao, câu chuyện cũng đã thuộc về “kho tàng văn hóa tiếu lâm” chung của những người sống dưới chế độ cộng sản.
Tiếu lâm là cái xú báp để xả bớt những căng thẳng trong địa ngục trần gian. Tiếu lâm là một cái nhìn chọc thủng bức màn dày đặc ám khí để tìm một chút không khí “tự do”.Tiếu lâm là chút ánh sáng hy vọng trong bầu trời u ám buồn tủi. Tiếu lâm là “tiếng khóc khô không lệ” của những người vẫn còn muốn cố gắng sống như những con người trong một chế độ muốn biến họ thành súc vật.
Tôi chợt nhớ đến bài viết có tựa đề “Vừa Khóc Vừa Cười” của ông Nguyễn Mạnh Tường, một bậc khoa bảng tài ba đã bị cộng sản trù dập một cách dã man trong thời Nhân văn giai phẩm ngoài Bắc. Ông viết: “Phải khóc trên cái hiện thời để cười đón cái ngày mai. Dù sao người trí thức là người vừa khóc vừa cười. Khóc vì cái sai lầm phải chứng kiến hiện tại, cười vì vui với cái mới đang đến. Khóc vì đau khổ. Cười vì hy vọng. Khóc hôm nay để cười ngày mai. Trên quá trình biến đổi từ cái khóc đến cái cười diễn ra cuộc tranh đấu tư tưởng của người trí thức.
Người nào chỉ biết hoặc khóc thôi, hoặc cười thôi, không phải là người trí thức.” (Trích trong “Trăm Hoa Đua Nở trên Đất Bắc”, Mặt trận bảo vệ tự do văn hóa xuất bản, Sài Gòn 1959)
Tôi chưa có tư cách để tự xưng là một “người trí thức”. Nhưng ít nhứt, bao lâu còn biết khóc và biết cười, tôi thấy mình còn muốn sống như một con người, chứ không chịu làm một thứ súc vật để cười hay để khóc một cách “có điều kiện” như con chó của Pavlov hay như bầy thú trong “trang trại súc vật” của George Orwell.
Sau năm năm “trải nghiệm” thế nào là thiên đàng xã hội chủ nghĩa, tôi ghiền thuốc lá và cà phê, nhưng lại học được bài học để sống còn trong đọa đày thử thách: còn biết cười là còn cố gắng để sống lạc quan và tồn tại!
Năm 1997, tôi đã xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần cuốn phim có tựa đề “La Vita è Bella” (đời vẫn đẹp) của đạo diễn kiêm diễn viên Ý Roberto Benigni. Cuốn phim ngoại quốc đạt 7 giải Oscar này kể lại câu chuyện của một người Ý gốc Do thái bị đưa vào một trại tập trung Đức quốc xã. Cùng bị giam với ông là đứa con trai nhỏ 3, 4 tuổi của ông. Trong suốt thời gian bị giam tù, người cha cố gắng “bảo vệ” sự hồn nhiên trong trắng của đứa con bằng cách nói với nó rằng hai cha con và không biết bao nhiêu người chung quanh khác đang tham gia vào một “trò chơi lớn” theo kiểu hướng đạo sinh. Phần thưởng dành cho những ai tuân thủ các luật của cuộc chơi sẽ là một chiếc xe tăng nhỏ. Chuyện phim dựa trên một phần sự thật: cha của ông Benigni đã từng bị giam hai năm trong một trại tập trung đức quốc xã tại Bergen Belsen, Đức. Cuốn phim tạo ra không biết bao nhiêu trận cười giữa những tiếng khóc: tất cả những trò độc ác dã man của Đức quốc xã đều được cậu bé nhìn như diễn tiến của một trò chơi lớn và nhờ thế hai cha con đã có thể tồn tại cho đến khi quân Đồng minh tiến vào giải phóng.
Trong cuốn sách “Man’s Search for Meaning” (con người đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống), được báo The New York Times xếp vào danh sách 10 tác phẩm có ảnh hưởng nhứt, tác giả Viktor Frankl, một chuyên gia tâm lý người Áo gốc Do thái bị giam trong trại tập trung Đức quốc xã, đã chứng minh rằng nếu có một lý do để hy vọng, con người có thể tồn tại trong những điều kiện nghiệt ngã nhứt của cuộc sống. Tác giả kể lại: một hôm, đang quằn quại và muốn bỏ cuộc trước sức nặng của “lao công khổ sai”, ông bỗng nghe được hai người bạn tù phía trước nói về những người vợ của họ. Tức khắc, ông cũng hình dung ra vợ ông. Ông nhớ lại từng nét trên khuôn mặt của vợ ông. Hình ảnh ấy mang lại một tia sáng hy vọng và sức mạnh để ông đứng lên tiếp tục sống qua kiếp đọa đày.
Tôi cũng tồn tại được trong kiếp đọa đày xã hội chủ nghĩa một phần do những tiếng cười “xã hội chủ nghĩa”. Ngày nay, tôi đã thoát được hai của nợ “thuốc lá” và “cà phê”, nhưng những tiếng cười và óc khôi hài mà tôi đã trau dồi được dưới mái trường xã hội chủ nghĩa vẫn còn đó. Cầm trên tay bất cứ cuốn “Reader’s Digest” nào, tôi phải mở ngay trang “laugh! It’s the best medicine” (cười là liều thuốc tốt nhứt). Mở báo Việt Luận, tôi cũng thường xem tức khắc trang “Lượm Lặt” của Tú Lắc để cười bể bụng với những phát biểu đầy chất“Minh Triết” của ông chủ tịch nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam hay những “sáo ngữ” của ông thủ tướng, của trung ương đảng, của báo chí “lề phải” ở Việt nam. Nhiều khi những lượm lặt có thật này còn khôi hài hơn những câu chuyện tiếu lâm tưởng tượng của những tay “chuyên nghiệp” nữa. 
Tôi thích cười, cười một mình hay chia sẻ với người khác. Cười để tin rằng cuộc đời không chỉ có “tháng Tư Đen”. Cười bởi vì trời có nắng có mưa và chắc chắn sau “cơn mưa thì trời lại sáng.” Cười bởi vì dù có đen tối đến đâu, đời vẫn đáng sống.




 Chu Thập, Tháng Tư 2010

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

Ngày tạ ơn



Chu Thập
27.3.15

Tháng Ba, tháng Tư và ngày 30 tháng 4 hàng năm được người Việt tỵ nạn cộng sản tưởng niệm dưới nhiều tên gọi khác nhau. Kể từ sau khi Việt Cộng cưỡng chiếm thành phố Ban Mê Thuột dẫn đến cuộc di tản từ cao nguyên Trung phần, tháng Ba được nhiều chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa nhớ đến như “tháng 3 gẫy súng”. Kế đó, đối với toàn dân Miền Nam là cả một “tháng Tư Đen” mà cao điểm là ngày Quốc hận 30 tháng 4. Nhìn chung, đối với tập thể người Việt tỵ nạn, bao lâu còn chế độ cộng sản và bao lâu còn sống là bấy lâu còn một ngày Quốc hận.
Dường như muốn nhắc khéo cho người Việt tỵ nạn tại Úc Đại Lợi về ngày Quốc hận chăng mà “đồng chí Ếch” của cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thực hiện một chuyến Úc du vào trung tuần tháng Ba vừa qua. Chỉ cần nhìn thấy bản mặt vênh váo của tên gian ác vào bưng năm 12 tuổi, rồi từ từ leo lên hết các bậc thang của côn đồ và đểu cáng...tôi đã thấy uất hận rồi. Lâu nay, tôi vẫn quyết tâm tu thân tích đức, dẹp bỏ mọi hận thù ra khỏi tâm hồn để có được thân tâm an bình. Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Hễ cứ nhìn thấy gương mặt ngu ngốc, gian ác và đểu giả của bất cứ tên cộng sản nào thì máu tôi lại cứ sôi sục. 30 tháng 4 năm 1975, những người Bắc di cư năm 1954 đã phải thốt lên rằng chạy trốn mãi mà vẫn không thoát khỏi mấy ông cộng sản. Nay sau 40 năm trốn chạy, tôi có cảm tưởng như cái bóng ma cộng sản vẫn còn dùng sự “thù hận” để truy đuổi mình. Đối với cá nhân tôi, chiến bại thê thảm nhứt trong cuộc đời là mình cứ phải nuôi dưỡng sự thù hận đối với người cộng sản. Nhưng chả lẽ mình lại mắc vào cái bẫy hận thù của người cộng sản và thua cuộc mãi sao?
Không biết có phải là một lối thoát cho nhiều người Việt tỵ nạn trong đó có tôi không mà, dạo cuối năm vừa qua, Thượng Nghị Viện của Gia Nã Đại đã chấp thuận một đạo luật do một Thượng nghị sĩ gốc Việt đệ trình để gọi ngày 30 tháng 4 hàng năm của người Việt tỵ nạn tại nước này là “Ngày Hành Trình Tìm Tự Do” (Journey to Freedom Day).
Nghe đâu, Thượng nghị sĩ gốc Việt tại Gia Nã Đại là ông Ngô Thanh Hải đã đệ trình dự luật nguyên thủy có tên là “Black April Day” (Ngày Tháng Tư Đen) để đánh dấu ngày đau buồn nhứt trong lịch sử Việt Nam. Nhưng trong phiên họp để biểu quyết dự luật, đương kim Thủ tướng Gia Nã Đại Stephen Harper đã đề nghị đổi tên “Black April Day” thành “Journey to Freedom Day”.
Có hành trình tiến về tự do là bởi có áp bức, nô lệ, tù đày. Người Việt tỵ nạn nào có thể quên được những năm tháng đọa đày trên quê hương mình. “Tháng Tư Đen” không thể nào  bị xóa khỏi ký ức và tâm tưởng của bất cứ người Việt tỵ nạn nào như tôi. Nhưng dưới cái nhìn tích cực hơn thì quả thực bóng tối của ngày 30 tháng 4 đã phải lùi lại để mở ra chân trời tươi sáng của tự do và khang an hạnh phúc cho không biết bao nhiêu người Việt tỵ nạn.
Dự thảo luật “Ngày Hành Trình Tìm Tự Do” được Thượng Nghị Viện Gia Nã Đại thông qua và hiện đang được Hạ Viện nước ngày thảo luận, khiến tôi liên tưởng đến Ngày Lễ Tạ Ơn của Hoa Kỳ. Ngày lễ này, nếu được truy nguyên đến ngọn nguồn, không thể không nhắc đến sự kiện đã có những người Anh trốn chạy khỏi đất nước nơi họ bị bách hại vì tôn giáo để đi tìm tự do. Ngoài mùa màng tốt đẹp và sự ân cần đón tiếp của những “người Mỹ đầu tiên”, tức các thổ dân, những người tỵ nạn đầu tiên đặt chân đến Mỹ Quốc này đã dâng lời tạ ơn vì tự do mà họ đã hưởng được trên xứ người.
Tự do quả là món quà quý giá nhứt đối với bất cứ người tỵ nạn nào. Chúng ta đã có thể đánh đổi mạng sống để có được tự do. Đó là lý do chính đáng nhứt để một người tỵ nạn như tôi lúc nào cũng cố gắng sống tâm tình biết ơn và tri ơn đối với đất nước và dân tộc đã mở rộng vòng tay để đón nhận và cưu mang mình.
Với riêng Úc Đại Lợi, tôi lại thấy càng có lý do hơn để bày tỏ lòng biết ơn, đặc biệt khi sự qua đi của cố Thủ tướng Malcolm Fraser lại trùng vào những ngày người Việt tỵ nạn chuẩn bị tưởng niệm 40 năm Quốc hận.
Vị thủ tướng thứ 22 của Úc Đại Lợi này, trong suốt 4 nhiệm kỳ từ năm 1975 đến năm 1983, đã đạt được rất nhiều thành tích. Nhưng nổi bật nhứt có lẽ vẫn là quyết định mở rộng vòng tay nhân ái để đón nhận người tỵ nạn Việt Nam. Từ năm 1975 đến năm 1982, dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Fraser, Úc Đại Lợi đã đón nhận 200 ngàn người tỵ nạn từ các nước Á Châu, trong số này đông nhứt là người Việt Nam với 56 ngàn người.
Thay đổi chính sách di trú của Úc Đại Lợi và mở rộng vòng tay để đón nhận người tỵ nạn, Thủ tướng Fraser đã nhìn nhận: “Một trong những lý do khiến cho việc đón nhận người Việt tỵ nạn thành công trong hai thập niên 1970 và 1980 là các thuyền nhân và những người tỵ nạn khác từ các nước Đông Dương đều được nồng nhiệt đón nhận và giúp đỡ tận tình”.
Có lẽ không ai đánh giá đúng đắn hơn Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, nguyên chủ tịch cộng đồng người Việt quốc gia Liên bang,  về chính sách đón nhận người Việt tỵ nạn của cố Thủ tướng Fraser. Trong một bài diễn văn đọc năm 2011, nhân dịp kỷ niệm 30 năm định cư tại Úc, Bác sĩ Tiến nói: “Tôi thật may mắn được sống trong xứ sở kỳ diệu này. Với tôi và với những người tỵ nạn Đông Dương khác, Thủ tướng Malcolm Fraser và hai vị tổng trưởng di trú trong giai đoạn đó là ông Michael McKellar và ông Ian McPhee thật sự là những vị anh hùng đã đảo ngược chính sách của ông (thủ tướng) Whitlam và cho chúng tôi có được cơ hội tái định cư tại Úc Đại Lợi” (x.Sydney Morning Herald 22/3/2015).
Ca ngợi những thành tích của cố Thủ tướng Fraser, Bác sĩ Tiến còn nói: “Trong tất cả các vị thủ tướng Úc, ông Malcolm Fraser là một người vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhứt, trong lãnh vực nhân quyền, cảm thông và công bình xã hội. Những gì ông làm được, chưa có vị thủ tướng nào trước đó đã làm được. Không ai có thể sánh với ông trong những lãnh vực như quyền sở hữu đất đai của người thổ dân, lập trường cứng rắn chống lại chế độ phân biệt chủng tộc (tại Nam Phi), xiển dương chủ trương đa văn hóa và cách riêng đón nhận người Việt tỵ nạn. Đối với chúng tôi, ông thực sự là một vị anh hùng. Ông đã nêu gương sáng cho chúng tôi về lòng cảm thông đối với người khác”.
Những lời nói chân thành trên đây của Bác sĩ Tiến có lẽ đã nói lên được tâm tình biết ơn của người Việt tỵ nạn đối với riêng cố thủ tướng Fraser và Úc Đại Lợi nói chung.
Trong cuộc “hành trình tìm về tự do”, thành quả lớn nhứt của người Việt tỵ nạn tại các nước Tây Phương, không hẳn chỉ là kinh tế và học vấn, mà chính là xây dựng được cuộc sống tự do và một trong những thể hiện cao cả nhứt của tự do chính là sống xứng với phẩm giá con người và như Bác sĩ Tiến đã nói, noi gương Thủ tướng Fraser để bày tỏ “lòng cảm thông đối với người khác”. Dường như cố Thủ tướng Fraser đã có lần nhắn nhủ người Việt tỵ nạn tại Úc: “Hãy cố gắng làm những người Úc tốt”. Người Úc tốt như ông đã chứng minh, chính là luôn biết đối xử tử tế với người khác. Ngôi trường xã hội chủ nghĩa hoặc những nơi thường được mệnh danh một cách mỉa mai là “đại học máu” chỉ làm thui chột nhân cách, nhận chìm con người trong hố sâu của đồi bại. Trái lại, trong những đất nước mà cuộc hành trình đi tìm tự do đã đưa dẫn người Việt tỵ nạn đến, họ đã không chỉ hưởng được tự do theo đúng nghĩa của nó, mà còn trưởng thành hơn trong trường học làm người để biết cư xử tốt với người đồng loại của mình.
Có sự khác biệt thật sự giữa nhân cách của một người Việt tỵ nạn biết sống tâm tình biết ơn và một người cộng sản “vô ơn”. Tôi đọc được ý tưởng này qua bài viết có tựa đề “Viết trên giường bệnh” của người viết tạp ghi nổi tiếng Huy Phương. Tác giả kể lại chuyện một “giáo sư có thế giá” ở Việt Nam là ông Nguyễn Huệ Chi đến bệnh viện để thăm một kẻ “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” nổi tiếng là ông Lê Hiếu Đằng. Ông này đang thở không ra hơi trên giường bệnh. Vậy mà ông Nguyễn Huệ Chi lại mô tả “dù ốm đau, đôi mắt tác giả “viết trên giường bệnh” vẫn “ngời lên cái khát vọng tha thiết về tương lai dân chủ hóa cho đất nước”. Tác giả Huy Phương cho rằng đây là “những lời “vái” nhau mà không biết ngượng của những người có “chí lớn”, “yêu nước”... Người ta nói những người cộng sản thường thích nói phét, quả không sai”.
Tác giả viết tạp ghi Huy Phương đã ghi lại một kinh nghiệm mà hầu như khi nằm trên giường bệnh, người Việt tỵ nạn nào cũng đều có thể trải qua. Tác giả kể lại: “Trên cuộc đời này, không ai là người xấu cả, tất cả đều tử tế, đáng yêu thương mà chính màn sương mù chủ quan đã làm cho chúng ta có những cái nhìn thiên kiến lệch lạc...Tôi muốn ôm tất cả mọi người vào lòng, với tất cả tấm lòng thương yêu và xin họ thứ lỗi cho tôi về những điều gì tôi đã cư xử không phải đối với họ. Tôi nợ mọi người về một lời thăm hỏi” (Người Việt online 22/3/15).
35 năm qua, kể từ khi tìm đường, không phải để “cứu nước” như “ai đó”, mà chỉ để có được tự do để sống cho ra người tử tế, tôi cũng chỉ mong có được tâm tình yêu thương và cảm thông như tác giả Huy Phương trên đây. Trong những tâm tình cao đẹp tôi luôn cố gắng nuôi dưỡng, lòng biết ơn đối với đất nước đã cưu mang tôi và với mọi người tôi gặp gỡ hàng ngày vẫn là đức tính mà tôi cho là có sức làm cho nhân cách của tôi được phong phú hơn cả. Trong những bài học mà trong cuộc hành trình đi tìm tự do tôi vẫn cố gắng học hỏi chính là lòng cảm thông đối với mọi người. Lòng biết ơn dẫn đến sự cảm thông và sự cảm thông nuôi dưỡng lòng biết ơn. Do đó, 30 tháng 4 đối với tôi, dĩ nhiên trước hết vẫn mãi mãi là Ngày Quốc Hận. Mãi mãi tôi vẫn là và phải là một người chống cộng. Không phải chống cái chủ nghĩa vốn đã trở thành một thứ thây chết và đã bị quăng vào sọt rác của lịch sử, mà chính là chống lại tất cả những thứ đồi bại mà những tên cộng sản côn đồ trong đất nước tôi đang là hiện thân.
Mãi mãi là một Ngày Quốc Hận, nhưng 30 tháng 4 đối với riêng tôi cũng là một Ngày Tạ Ơn. Tạ ơn đất nước và những người đã đón nhận tôi và tạo điều kiện cho tôi được sống như một người tự do đích thực.


Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Không là Thiên thần, cũng Không là Thú vật…



                                                                                   Chu Thập
Tháng Tư 2010

Một trong những kỷ niệm “buồn cười” nhứt của tôi trong những năm tháng dài lê thê dưới chế độ cộng sản là việc tôi “tung hô” ông Hồ Chí Minh: “buồn” đến xé nát ruột gan, nhưng cũng “cười” ra nước mắt!
Số là sau 75, tôi có tham gia đội bóng đá của khóm phường nơi tôi sinh sống. Ngoài mục đích tránh bị dòm ngó và theo dõi như một thành phần “vô sản xuất”, tôi cũng muốn bon chen để gọi là “cải thiện” cuộc sống. Vào thời đó, các vận động viên thể thao tương đối còn được chế độ cộng sản trọng dụng. Cho nên, những ai có sinh hoạt thể thao cách này hay cách khác đều được cấp phiếu mỗi tháng mua được 21 ký gạo và một ký đường để gọi là “bồi dưỡng”. Ngoài ra, mấy ông “bầu” và cán bộ khóm phường cũng ưu đãi các vận động viên thể thao. Cứ mỗi lần đạt được một chiến thắng, cả đội banh đều được “chiêu đãi” một cách tận tình. Tôi vẫn còn nhớ mãi cái món tôm “hỏa tiễn” mà tôi được ăn thỏa thích tại một nhà hàng tương đối còn sang trọng trong thành phố. Vào thời đó, tôm Việt nam nổi tiếng là dài nhứt thế giới: cái đầu thì ở Việt nam mà cái mình thì ở tận bên…Liên xô!  Được ăn nguyên một con tôm lăn bột chiên có đầy đủ “đầu mình và tứ chi” quả là một niềm vui “vĩ đại” trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa.
Người Tây phương nói “bụng đói không có tai”. Tôi thấy điều này hoàn toàn đúng với tôi, mặc dù tôi chưa trải qua những năm tháng tù tội trong nhà tù nhỏ của xã hội chủ nghĩa. Những bữa được bồi dưỡng như thế khiến cho tôi thấy “ham” thể thao hơn. Do đó, tôi chẳng cần phải tính toán hơn thiệt, suốt ngày lao vào thể thao để cứ tưởng vừa giải sầu vừa rèn luyện thân thể lại vừa có cái ăn hơn người khác. Thực tế hoàn toàn trái ngược. Tôi bị gài vào một thứ chiến dịch chỉ để tuyên truyền cho chế độ mới nhằm làm lung lạc sức đối kháng của giới trẻ. Cứ tra chân vào giày đá banh thì người ta sẽ quên hết mọi sự. Cứ vào sân vận động để hò hét thì chẳng còn muốn nghĩ đến thế sự.
“Một tinh thần lành mạnh trong một thân xác tráng kiện” (mens sana in corpore sano): từ ngàn xưa, người La mã đã bảo như thế. Thể thao giúp cho con người được tráng kiện trong thể xác lẫn tinh thần. Thế nhưng trong chế độ cộng sản, tôi nghiệm ra được một điều: thể thao chỉ còn là một thứ thuốc phiện ru ngủ và làm cho con người thêm bạc nhược mà thôi! Càng lăn xả vào sinh hoạt thể thao, tôi càng cảm thấy rã rời thêm. Trước 75, ăn uống đầy đủ, mỗi khi xung trận, tôi thường “bao sân”: chỗ nào có banh là tôi chạy đến. Sau 75, trên sân cỏ, banh lại chạy theo tôi. Cũng dễ hiểu thôi, bụng lúc nào cũng đói, thân thể lại thiếu thứ “vàng” trong chế độ là đường thì lấy đâu thể lực để mà chạy, chứ đừng nói tới chuyện đưa chân ra đá. Vậy mà “chó ngáp phải ruồi” thế nào, trong một cuộc tranh giải giữa 3 phường của thành phố, đội của tôi lại biến thành…“vô địch”! Trong thế giới những thằng đói đến độ bò càng, thằng nào còn lê lết được đôi chân thì đương nhiên phải vô địch thôi.
Và đây là kỷ niệm “buồn đến cười ra nước mắt” của tôi: trong nghi thức trao giải vô địch, với tư cách là thủ quân của đội, tôi được ban tổ chức trao cho một bức ảnh của “Bác Hồ” và bảo tôi đưa cao lên để chụp ảnh kỷ niệm. Tôi không rõ tấm hình đó hiện đang được lưu giữ ở đâu. Nhưng chắc chắn, trông gương mặt của tôi “thảm bại” lắm! Tôi chỉ muốn làm con đà điểu rúc đầu vào cát để tránh không phải nghe lùng bùng trong tai bài hát “như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” và để che dấu cái bộ mặt “ốt dột” của tôi. “Từ đó, trong tôi bừng lên” một sự chua xót không thể nào tả được. Suốt những ngày sau đó, tôi thấy như “nhân cách” của mình bị hạ giảm.
Sau biến cố này, tôi tuyên bố “treo giày”, giải nghệ và vĩnh viễn từ giã sân cỏ. Cứ mỗi lần nhìn sân cỏ là tôi lại bị ám ảnh bởi cái bức chân dung của một người mà lúc đó, người dân đã bắt đầu cho “lộng kiếng”. Có lúc tôi bị dằn vặt như thể mình là một “tội phạm” vì đã tung hô một tên tội đồ của dân tộc.
Cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc, cuộc di cư năm 1954, cuộc chiến “thần thánh” chống Mỹ cứu nước trong đó hàng triệu người Việt nam bị sát tế trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa, Tết Mậu thân năm 1968, những vụ pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly bừa bãi vào khu dân cư, những vụ đặt bom Plastic vô tội vạ, những người dân vô tội bị banh thây xé thịt trong những vụ “đắp mô” trên mọi trục lộ giao thông, những cái đầu bị chặt lìa khỏi thân xác trong những thôn bên cạnh làng tôi, cảnh khốn  khổ tù đày sau 1975, những tấm thân đói khổ và bệnh tật trên kinh tế mới, những xác người trôi dạt vào bờ biển hay chìm sâu trong đại dương trong các cuộc vượt biên, hình ảnh các sĩ quan hay viên chức Việt nam cộng hòa quằn quại trong các trại lao động khổ sai…tôi không cần phải đọc cuốn “Le Livre Noir du Communisme” (hắc thư của chủ nghĩa cộng sản) do một số sử gia cựu đảng viên Cộng sản tại Pháp biên soạn hồi năm 1997 để thấy được những tội ác của chủ nghĩa Cộng sản mà ông Hồ Chí Minh đã suốt một đời quảng bá và xây dựng tại Việt nam.
Vào thời điểm tôi bị buộc phải đưa cao bức chân dung của ông lên và “tung hô”, với tôi, ông là một trong những tay đồ tể của thế giới Cộng sản. Có ai chứng minh cho tôi được rằng có lãnh tụ Cộng sản nào mà không là một đồ tể khát máu không?
Nhưng với riêng tôi, Hồ Chí Minh không chỉ là một tên đồ tể khát máu. Ông còn là tận cùng của sự vô luân. Đây là cảm nhận riêng của tôi kể từ khi biết được rằng Trần Dân Tiên, tác giả của cuốn sách “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt động của Hồ Chủ Tịch” chính là ông.
Tôi có đứa cháu trai có cha là sĩ quan Việt nam cộng hòa bị tù lao động khổ sai. Thỉnh thoảng thằng bé 5 tuổi cũng biết trút bỏ cơn giận lên người mà nó gọi là “thằng Bác Hồ”. Kiểu nói “mất dạy” ấy của trẻ thơ làm cho tôi liên tưởng đến hai tiếng “Chí Minh” được nói lái theo kiểu của người miền Nam. “Thằng” hay “Mi” thì cũng thế thôi. Một khi sự đểu giả đã đạt đến tột cùng thì con người chẳng còn một chút nhân cách nào nữa.
Ngày nay, hồi ký đã trở thành một thể loại văn chương rất thịnh hành. Ngoại trừ thánh Augustino, tác giả của cuốn “Những Lời Tự thú” nổi tiếng vào thế kỷ thứ 5, hầu như tác giả viết hồi ký nào ngày nay cũng, một cách nào đó, “tự đề cao” hay biện minh cho những hành động sai trái của mình. Các tay đồ tể trong lịch sử nhân loại, trái lại, không tự mình viết hồi ký. Ít nhứt họ còn có một chút liêm sỉ để ra lệnh cho người khác viết về mình. Họ buộc người khác “sùng bái” mình, nhưng ít nhứt không vô liêm sĩ đến độ tự xưng là người “đạo đức”.
Với quyển “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt động của Hồ Chủ Tịch”, Hồ Chí Minh = Trần Dân Tiên đã đạt đến tận cùng của sự đểu giả và vô đạo, khi dùng tên của một người khác để viết tiểu sử và tự đề cao mình. Trong lịch sử nhân loại, chắc chắn chưa từng có và sẽ chẳng bao giờ có một người nào dám vỗ ngực tự xưng là “Bác khiêm tốn nhường ấy”. Khiêm tốn hay đạo đức nói chung là các “nhân đức” mà con người sẽ đánh mất ngay khi tự nhận có nó. Tuyên bố “tôi là người khiêm tốn” chính là công bố sự kiêu ngạo của mình. Tự nhận mình là “người đạo đức” là nói lên sự vô đạo của mình.
Hồ Chí Minh chính là hiện thân của thứ “đạo đức cách mạng” hay “con người mới xã hội chủ nghĩa” mà những người Cộng sản không ngừng rêu rao. Một người Cộng sản gộc là ông Nguyễn Khắc Viện, một bác sĩ từng được đào tạo tại Pháp, đã có lần giải thích về việc đổi tên Sài Gòn thành thành phố Hồ chí Minh. Ông nói rằng: “Sài Gòn gợi lên đồi trụy, xấu xa. Còn Hồ Chí Minh chỉ những gì là thanh sạch, lành mạnh, cao đẹp và đạo đức.” Bây giờ, sau 35 năm đổi tên, ai ai cũng có thể nhìn thấy “Hòn Ngọc Viễn Đông” trở nên đồi trụy, xấu xa đến mức nào.
Những người cộng sản vẫn luôn tự hào mình là mẫu mực của đạo đức, tức con người mới xã hội chủ nghĩa. Năm 1924, Leo Trotsky đã viết như sau: “Con người sẽ trở nên vô cùng mạnh mẽ, khôn ngoan và tinh tế hơn; thân thể họ trở nên hài hòa hơn, những cử động của họ nhịp nhàng hơn, tiếng nói của họ có nhạc điệu hơn…Con người mẫu mực trung bình sẽ đạt đến đỉnh cao của một Aristoteles, một Goethe hay một Marx. Và trên tầm mức trung bình ấy sẽ có những đỉnh cao vươn lên.” (x. Philip Yancy, Finding God in Unexpected Places” trg 127)
Con người đạo đức hay người mới xã hội chủ nghĩa như được Trotsky loan báo trên đây đã xuất hiện bằng xương bằng thịt trong những người mà tác giả Trần Duy thời Nhân Văn Giai Phẩm gọi là “những người khổng lồ”. “Rốt cục, những con người “không phải là người” đó chỉ tàn phá và gieo tang tóc khắp mọi nơi, không có khả năng kiến thiết và xây đắp hạnh phúc cho nhân loại.” (x. Trăm Hoa Đua Nở trên Đất Bắc, Mặt trận bảo vệ Tự do Văn hóa, Sài gòn 1959, trg. 306)
Những tàn phá của chủ nghĩa Cộng sản trong hơn 70 năm tại Liên Xô, hơn 50 năm tại Đông Âu, 60 năm tại Trung Quốc và trên 60 năm qua tại Việt nam đã chứng tỏ rằng những con người mới xã hội chủ nghĩa ấy không còn là “người” nữa hay đúng hơn là những con người không muốn làm “người” nữa. Hồ Chí Minh, với tận cùng của sự vô liêm sỉ được nâng lên hàng “đạo đức” và ngày nay được những người cộng sản Việt nam đề ra như mẫu mực để học tập và noi theo, là mô hình “nguyên bản” của những con người không còn là người ấy. Khi độc ác, dối trá, vô liêm sỉ, đểu giả …trở thành chuẩn mực đạo đức, thì chắc chắn chất “nhân bản” đích thực không thể nào tồn tại.
Cứ nhìn vào những lỗ hổng đạo đức mà chủ nghĩa Cộng sản đã để lại tại cựu Liên Xô, Đông Âu cũng đủ để thấy thế nào là những tàn phá mà những “người khổng lồ không có trái tim” đã gây ra cho nhân loại. Hãy nhìn vào tình trạng xã hội Việt nam hiện nay để thấy được những “con người mới” mà con người tự xưng là “cha già dân tộc” đã trồng trên quê hương Việt nam.
Một con người thật sự là người luôn ý thức về bản chất bất toàn và giới hạn của mình, nhưng vẫn cố gắng vươn lên để sống tốt đẹp hơn. Thời trung học, tôi vẫn cố gắng ghi nhớ và tâm niệm câu nói của nhà toán học kiêm triết gia Pháp Blaise Pascal vào thế kỷ thứ 17: “Con người không phải là thiên thần cũng không phải là thú vật. Ai muốn làm thiên thần đều trở thành thú vật.”
Cũng như một trong những nhà tư tưởng đầu tiên của Kitô giáo là thánh Phaolô, khi nhìn sâu vào những bất toàn và yếu đuối của mình, đã thốt lên: “Điều thiện tôi muốn thì tôi không làm. Còn điều ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Thư gởi giáo đoàn Roma 7, 19), mỗi ngày tôi cũng trải qua cuộc chiến nội tâm ấy. Có lúc tôi chiến thắng, nhưng đa phần tôi ngã gục. Nhưng tôi biết rằng chính vì còn là con người mà tôi phải không ngừng chiến đấu. Và đó chính là vẻ đẹp và sự cao cả của con người. Thú vật không có ý thức về đạo đức. Thú vật chỉ hành động theo bản năng. Thiên thần cũng chẳng phải chiến đấu vì không bị cám dỗ. Chỉ có con người mới nhận ra nhân tính của mình ngay trong sự thấp hèn và vấp ngã của mình.
Tôi muốn được mãi mãi làm một con người như thế. Trong cuộc chiến đấu mỗi ngày, tôi cũng đi tìm cho mình những mẫu mực như thế. Tôi không màng đến chuyện ông Hồ Chí Minh có vợ, có con rơi con rớt hay có năm thê bảy thiếp. Tôi cũng có thể tha thứ vì vô số tội ác mà ông đã gây ra cho dân tộc. Sai lầm là chuyện bình thường của con người. Nhưng tôi không thể chấp nhận tung hô một người tìm cách che đậy, khỏa lấp những yếu đuối và tội ác của mình bằng cái vỏ đạo đức để lừa bịp người khác.
Tôi không phải là thiên thần và tôi cũng không muốn làm thiên thần trong cuộc sống tại thế này, bởi vì làm như thế tôi sẽ trở thành “thú vật” như đã từng xảy ra trong thiên đàng Xã hội chủ nghĩa.
 Chu Thập, Tháng Tư 2010