Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

Ngày tạ ơn



Chu Thập
27.3.15

Tháng Ba, tháng Tư và ngày 30 tháng 4 hàng năm được người Việt tỵ nạn cộng sản tưởng niệm dưới nhiều tên gọi khác nhau. Kể từ sau khi Việt Cộng cưỡng chiếm thành phố Ban Mê Thuột dẫn đến cuộc di tản từ cao nguyên Trung phần, tháng Ba được nhiều chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa nhớ đến như “tháng 3 gẫy súng”. Kế đó, đối với toàn dân Miền Nam là cả một “tháng Tư Đen” mà cao điểm là ngày Quốc hận 30 tháng 4. Nhìn chung, đối với tập thể người Việt tỵ nạn, bao lâu còn chế độ cộng sản và bao lâu còn sống là bấy lâu còn một ngày Quốc hận.
Dường như muốn nhắc khéo cho người Việt tỵ nạn tại Úc Đại Lợi về ngày Quốc hận chăng mà “đồng chí Ếch” của cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thực hiện một chuyến Úc du vào trung tuần tháng Ba vừa qua. Chỉ cần nhìn thấy bản mặt vênh váo của tên gian ác vào bưng năm 12 tuổi, rồi từ từ leo lên hết các bậc thang của côn đồ và đểu cáng...tôi đã thấy uất hận rồi. Lâu nay, tôi vẫn quyết tâm tu thân tích đức, dẹp bỏ mọi hận thù ra khỏi tâm hồn để có được thân tâm an bình. Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Hễ cứ nhìn thấy gương mặt ngu ngốc, gian ác và đểu giả của bất cứ tên cộng sản nào thì máu tôi lại cứ sôi sục. 30 tháng 4 năm 1975, những người Bắc di cư năm 1954 đã phải thốt lên rằng chạy trốn mãi mà vẫn không thoát khỏi mấy ông cộng sản. Nay sau 40 năm trốn chạy, tôi có cảm tưởng như cái bóng ma cộng sản vẫn còn dùng sự “thù hận” để truy đuổi mình. Đối với cá nhân tôi, chiến bại thê thảm nhứt trong cuộc đời là mình cứ phải nuôi dưỡng sự thù hận đối với người cộng sản. Nhưng chả lẽ mình lại mắc vào cái bẫy hận thù của người cộng sản và thua cuộc mãi sao?
Không biết có phải là một lối thoát cho nhiều người Việt tỵ nạn trong đó có tôi không mà, dạo cuối năm vừa qua, Thượng Nghị Viện của Gia Nã Đại đã chấp thuận một đạo luật do một Thượng nghị sĩ gốc Việt đệ trình để gọi ngày 30 tháng 4 hàng năm của người Việt tỵ nạn tại nước này là “Ngày Hành Trình Tìm Tự Do” (Journey to Freedom Day).
Nghe đâu, Thượng nghị sĩ gốc Việt tại Gia Nã Đại là ông Ngô Thanh Hải đã đệ trình dự luật nguyên thủy có tên là “Black April Day” (Ngày Tháng Tư Đen) để đánh dấu ngày đau buồn nhứt trong lịch sử Việt Nam. Nhưng trong phiên họp để biểu quyết dự luật, đương kim Thủ tướng Gia Nã Đại Stephen Harper đã đề nghị đổi tên “Black April Day” thành “Journey to Freedom Day”.
Có hành trình tiến về tự do là bởi có áp bức, nô lệ, tù đày. Người Việt tỵ nạn nào có thể quên được những năm tháng đọa đày trên quê hương mình. “Tháng Tư Đen” không thể nào  bị xóa khỏi ký ức và tâm tưởng của bất cứ người Việt tỵ nạn nào như tôi. Nhưng dưới cái nhìn tích cực hơn thì quả thực bóng tối của ngày 30 tháng 4 đã phải lùi lại để mở ra chân trời tươi sáng của tự do và khang an hạnh phúc cho không biết bao nhiêu người Việt tỵ nạn.
Dự thảo luật “Ngày Hành Trình Tìm Tự Do” được Thượng Nghị Viện Gia Nã Đại thông qua và hiện đang được Hạ Viện nước ngày thảo luận, khiến tôi liên tưởng đến Ngày Lễ Tạ Ơn của Hoa Kỳ. Ngày lễ này, nếu được truy nguyên đến ngọn nguồn, không thể không nhắc đến sự kiện đã có những người Anh trốn chạy khỏi đất nước nơi họ bị bách hại vì tôn giáo để đi tìm tự do. Ngoài mùa màng tốt đẹp và sự ân cần đón tiếp của những “người Mỹ đầu tiên”, tức các thổ dân, những người tỵ nạn đầu tiên đặt chân đến Mỹ Quốc này đã dâng lời tạ ơn vì tự do mà họ đã hưởng được trên xứ người.
Tự do quả là món quà quý giá nhứt đối với bất cứ người tỵ nạn nào. Chúng ta đã có thể đánh đổi mạng sống để có được tự do. Đó là lý do chính đáng nhứt để một người tỵ nạn như tôi lúc nào cũng cố gắng sống tâm tình biết ơn và tri ơn đối với đất nước và dân tộc đã mở rộng vòng tay để đón nhận và cưu mang mình.
Với riêng Úc Đại Lợi, tôi lại thấy càng có lý do hơn để bày tỏ lòng biết ơn, đặc biệt khi sự qua đi của cố Thủ tướng Malcolm Fraser lại trùng vào những ngày người Việt tỵ nạn chuẩn bị tưởng niệm 40 năm Quốc hận.
Vị thủ tướng thứ 22 của Úc Đại Lợi này, trong suốt 4 nhiệm kỳ từ năm 1975 đến năm 1983, đã đạt được rất nhiều thành tích. Nhưng nổi bật nhứt có lẽ vẫn là quyết định mở rộng vòng tay nhân ái để đón nhận người tỵ nạn Việt Nam. Từ năm 1975 đến năm 1982, dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Fraser, Úc Đại Lợi đã đón nhận 200 ngàn người tỵ nạn từ các nước Á Châu, trong số này đông nhứt là người Việt Nam với 56 ngàn người.
Thay đổi chính sách di trú của Úc Đại Lợi và mở rộng vòng tay để đón nhận người tỵ nạn, Thủ tướng Fraser đã nhìn nhận: “Một trong những lý do khiến cho việc đón nhận người Việt tỵ nạn thành công trong hai thập niên 1970 và 1980 là các thuyền nhân và những người tỵ nạn khác từ các nước Đông Dương đều được nồng nhiệt đón nhận và giúp đỡ tận tình”.
Có lẽ không ai đánh giá đúng đắn hơn Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, nguyên chủ tịch cộng đồng người Việt quốc gia Liên bang,  về chính sách đón nhận người Việt tỵ nạn của cố Thủ tướng Fraser. Trong một bài diễn văn đọc năm 2011, nhân dịp kỷ niệm 30 năm định cư tại Úc, Bác sĩ Tiến nói: “Tôi thật may mắn được sống trong xứ sở kỳ diệu này. Với tôi và với những người tỵ nạn Đông Dương khác, Thủ tướng Malcolm Fraser và hai vị tổng trưởng di trú trong giai đoạn đó là ông Michael McKellar và ông Ian McPhee thật sự là những vị anh hùng đã đảo ngược chính sách của ông (thủ tướng) Whitlam và cho chúng tôi có được cơ hội tái định cư tại Úc Đại Lợi” (x.Sydney Morning Herald 22/3/2015).
Ca ngợi những thành tích của cố Thủ tướng Fraser, Bác sĩ Tiến còn nói: “Trong tất cả các vị thủ tướng Úc, ông Malcolm Fraser là một người vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhứt, trong lãnh vực nhân quyền, cảm thông và công bình xã hội. Những gì ông làm được, chưa có vị thủ tướng nào trước đó đã làm được. Không ai có thể sánh với ông trong những lãnh vực như quyền sở hữu đất đai của người thổ dân, lập trường cứng rắn chống lại chế độ phân biệt chủng tộc (tại Nam Phi), xiển dương chủ trương đa văn hóa và cách riêng đón nhận người Việt tỵ nạn. Đối với chúng tôi, ông thực sự là một vị anh hùng. Ông đã nêu gương sáng cho chúng tôi về lòng cảm thông đối với người khác”.
Những lời nói chân thành trên đây của Bác sĩ Tiến có lẽ đã nói lên được tâm tình biết ơn của người Việt tỵ nạn đối với riêng cố thủ tướng Fraser và Úc Đại Lợi nói chung.
Trong cuộc “hành trình tìm về tự do”, thành quả lớn nhứt của người Việt tỵ nạn tại các nước Tây Phương, không hẳn chỉ là kinh tế và học vấn, mà chính là xây dựng được cuộc sống tự do và một trong những thể hiện cao cả nhứt của tự do chính là sống xứng với phẩm giá con người và như Bác sĩ Tiến đã nói, noi gương Thủ tướng Fraser để bày tỏ “lòng cảm thông đối với người khác”. Dường như cố Thủ tướng Fraser đã có lần nhắn nhủ người Việt tỵ nạn tại Úc: “Hãy cố gắng làm những người Úc tốt”. Người Úc tốt như ông đã chứng minh, chính là luôn biết đối xử tử tế với người khác. Ngôi trường xã hội chủ nghĩa hoặc những nơi thường được mệnh danh một cách mỉa mai là “đại học máu” chỉ làm thui chột nhân cách, nhận chìm con người trong hố sâu của đồi bại. Trái lại, trong những đất nước mà cuộc hành trình đi tìm tự do đã đưa dẫn người Việt tỵ nạn đến, họ đã không chỉ hưởng được tự do theo đúng nghĩa của nó, mà còn trưởng thành hơn trong trường học làm người để biết cư xử tốt với người đồng loại của mình.
Có sự khác biệt thật sự giữa nhân cách của một người Việt tỵ nạn biết sống tâm tình biết ơn và một người cộng sản “vô ơn”. Tôi đọc được ý tưởng này qua bài viết có tựa đề “Viết trên giường bệnh” của người viết tạp ghi nổi tiếng Huy Phương. Tác giả kể lại chuyện một “giáo sư có thế giá” ở Việt Nam là ông Nguyễn Huệ Chi đến bệnh viện để thăm một kẻ “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” nổi tiếng là ông Lê Hiếu Đằng. Ông này đang thở không ra hơi trên giường bệnh. Vậy mà ông Nguyễn Huệ Chi lại mô tả “dù ốm đau, đôi mắt tác giả “viết trên giường bệnh” vẫn “ngời lên cái khát vọng tha thiết về tương lai dân chủ hóa cho đất nước”. Tác giả Huy Phương cho rằng đây là “những lời “vái” nhau mà không biết ngượng của những người có “chí lớn”, “yêu nước”... Người ta nói những người cộng sản thường thích nói phét, quả không sai”.
Tác giả viết tạp ghi Huy Phương đã ghi lại một kinh nghiệm mà hầu như khi nằm trên giường bệnh, người Việt tỵ nạn nào cũng đều có thể trải qua. Tác giả kể lại: “Trên cuộc đời này, không ai là người xấu cả, tất cả đều tử tế, đáng yêu thương mà chính màn sương mù chủ quan đã làm cho chúng ta có những cái nhìn thiên kiến lệch lạc...Tôi muốn ôm tất cả mọi người vào lòng, với tất cả tấm lòng thương yêu và xin họ thứ lỗi cho tôi về những điều gì tôi đã cư xử không phải đối với họ. Tôi nợ mọi người về một lời thăm hỏi” (Người Việt online 22/3/15).
35 năm qua, kể từ khi tìm đường, không phải để “cứu nước” như “ai đó”, mà chỉ để có được tự do để sống cho ra người tử tế, tôi cũng chỉ mong có được tâm tình yêu thương và cảm thông như tác giả Huy Phương trên đây. Trong những tâm tình cao đẹp tôi luôn cố gắng nuôi dưỡng, lòng biết ơn đối với đất nước đã cưu mang tôi và với mọi người tôi gặp gỡ hàng ngày vẫn là đức tính mà tôi cho là có sức làm cho nhân cách của tôi được phong phú hơn cả. Trong những bài học mà trong cuộc hành trình đi tìm tự do tôi vẫn cố gắng học hỏi chính là lòng cảm thông đối với mọi người. Lòng biết ơn dẫn đến sự cảm thông và sự cảm thông nuôi dưỡng lòng biết ơn. Do đó, 30 tháng 4 đối với tôi, dĩ nhiên trước hết vẫn mãi mãi là Ngày Quốc Hận. Mãi mãi tôi vẫn là và phải là một người chống cộng. Không phải chống cái chủ nghĩa vốn đã trở thành một thứ thây chết và đã bị quăng vào sọt rác của lịch sử, mà chính là chống lại tất cả những thứ đồi bại mà những tên cộng sản côn đồ trong đất nước tôi đang là hiện thân.
Mãi mãi là một Ngày Quốc Hận, nhưng 30 tháng 4 đối với riêng tôi cũng là một Ngày Tạ Ơn. Tạ ơn đất nước và những người đã đón nhận tôi và tạo điều kiện cho tôi được sống như một người tự do đích thực.


Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Không là Thiên thần, cũng Không là Thú vật…



                                                                                   Chu Thập
Tháng Tư 2010

Một trong những kỷ niệm “buồn cười” nhứt của tôi trong những năm tháng dài lê thê dưới chế độ cộng sản là việc tôi “tung hô” ông Hồ Chí Minh: “buồn” đến xé nát ruột gan, nhưng cũng “cười” ra nước mắt!
Số là sau 75, tôi có tham gia đội bóng đá của khóm phường nơi tôi sinh sống. Ngoài mục đích tránh bị dòm ngó và theo dõi như một thành phần “vô sản xuất”, tôi cũng muốn bon chen để gọi là “cải thiện” cuộc sống. Vào thời đó, các vận động viên thể thao tương đối còn được chế độ cộng sản trọng dụng. Cho nên, những ai có sinh hoạt thể thao cách này hay cách khác đều được cấp phiếu mỗi tháng mua được 21 ký gạo và một ký đường để gọi là “bồi dưỡng”. Ngoài ra, mấy ông “bầu” và cán bộ khóm phường cũng ưu đãi các vận động viên thể thao. Cứ mỗi lần đạt được một chiến thắng, cả đội banh đều được “chiêu đãi” một cách tận tình. Tôi vẫn còn nhớ mãi cái món tôm “hỏa tiễn” mà tôi được ăn thỏa thích tại một nhà hàng tương đối còn sang trọng trong thành phố. Vào thời đó, tôm Việt nam nổi tiếng là dài nhứt thế giới: cái đầu thì ở Việt nam mà cái mình thì ở tận bên…Liên xô!  Được ăn nguyên một con tôm lăn bột chiên có đầy đủ “đầu mình và tứ chi” quả là một niềm vui “vĩ đại” trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa.
Người Tây phương nói “bụng đói không có tai”. Tôi thấy điều này hoàn toàn đúng với tôi, mặc dù tôi chưa trải qua những năm tháng tù tội trong nhà tù nhỏ của xã hội chủ nghĩa. Những bữa được bồi dưỡng như thế khiến cho tôi thấy “ham” thể thao hơn. Do đó, tôi chẳng cần phải tính toán hơn thiệt, suốt ngày lao vào thể thao để cứ tưởng vừa giải sầu vừa rèn luyện thân thể lại vừa có cái ăn hơn người khác. Thực tế hoàn toàn trái ngược. Tôi bị gài vào một thứ chiến dịch chỉ để tuyên truyền cho chế độ mới nhằm làm lung lạc sức đối kháng của giới trẻ. Cứ tra chân vào giày đá banh thì người ta sẽ quên hết mọi sự. Cứ vào sân vận động để hò hét thì chẳng còn muốn nghĩ đến thế sự.
“Một tinh thần lành mạnh trong một thân xác tráng kiện” (mens sana in corpore sano): từ ngàn xưa, người La mã đã bảo như thế. Thể thao giúp cho con người được tráng kiện trong thể xác lẫn tinh thần. Thế nhưng trong chế độ cộng sản, tôi nghiệm ra được một điều: thể thao chỉ còn là một thứ thuốc phiện ru ngủ và làm cho con người thêm bạc nhược mà thôi! Càng lăn xả vào sinh hoạt thể thao, tôi càng cảm thấy rã rời thêm. Trước 75, ăn uống đầy đủ, mỗi khi xung trận, tôi thường “bao sân”: chỗ nào có banh là tôi chạy đến. Sau 75, trên sân cỏ, banh lại chạy theo tôi. Cũng dễ hiểu thôi, bụng lúc nào cũng đói, thân thể lại thiếu thứ “vàng” trong chế độ là đường thì lấy đâu thể lực để mà chạy, chứ đừng nói tới chuyện đưa chân ra đá. Vậy mà “chó ngáp phải ruồi” thế nào, trong một cuộc tranh giải giữa 3 phường của thành phố, đội của tôi lại biến thành…“vô địch”! Trong thế giới những thằng đói đến độ bò càng, thằng nào còn lê lết được đôi chân thì đương nhiên phải vô địch thôi.
Và đây là kỷ niệm “buồn đến cười ra nước mắt” của tôi: trong nghi thức trao giải vô địch, với tư cách là thủ quân của đội, tôi được ban tổ chức trao cho một bức ảnh của “Bác Hồ” và bảo tôi đưa cao lên để chụp ảnh kỷ niệm. Tôi không rõ tấm hình đó hiện đang được lưu giữ ở đâu. Nhưng chắc chắn, trông gương mặt của tôi “thảm bại” lắm! Tôi chỉ muốn làm con đà điểu rúc đầu vào cát để tránh không phải nghe lùng bùng trong tai bài hát “như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” và để che dấu cái bộ mặt “ốt dột” của tôi. “Từ đó, trong tôi bừng lên” một sự chua xót không thể nào tả được. Suốt những ngày sau đó, tôi thấy như “nhân cách” của mình bị hạ giảm.
Sau biến cố này, tôi tuyên bố “treo giày”, giải nghệ và vĩnh viễn từ giã sân cỏ. Cứ mỗi lần nhìn sân cỏ là tôi lại bị ám ảnh bởi cái bức chân dung của một người mà lúc đó, người dân đã bắt đầu cho “lộng kiếng”. Có lúc tôi bị dằn vặt như thể mình là một “tội phạm” vì đã tung hô một tên tội đồ của dân tộc.
Cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc, cuộc di cư năm 1954, cuộc chiến “thần thánh” chống Mỹ cứu nước trong đó hàng triệu người Việt nam bị sát tế trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa, Tết Mậu thân năm 1968, những vụ pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly bừa bãi vào khu dân cư, những vụ đặt bom Plastic vô tội vạ, những người dân vô tội bị banh thây xé thịt trong những vụ “đắp mô” trên mọi trục lộ giao thông, những cái đầu bị chặt lìa khỏi thân xác trong những thôn bên cạnh làng tôi, cảnh khốn  khổ tù đày sau 1975, những tấm thân đói khổ và bệnh tật trên kinh tế mới, những xác người trôi dạt vào bờ biển hay chìm sâu trong đại dương trong các cuộc vượt biên, hình ảnh các sĩ quan hay viên chức Việt nam cộng hòa quằn quại trong các trại lao động khổ sai…tôi không cần phải đọc cuốn “Le Livre Noir du Communisme” (hắc thư của chủ nghĩa cộng sản) do một số sử gia cựu đảng viên Cộng sản tại Pháp biên soạn hồi năm 1997 để thấy được những tội ác của chủ nghĩa Cộng sản mà ông Hồ Chí Minh đã suốt một đời quảng bá và xây dựng tại Việt nam.
Vào thời điểm tôi bị buộc phải đưa cao bức chân dung của ông lên và “tung hô”, với tôi, ông là một trong những tay đồ tể của thế giới Cộng sản. Có ai chứng minh cho tôi được rằng có lãnh tụ Cộng sản nào mà không là một đồ tể khát máu không?
Nhưng với riêng tôi, Hồ Chí Minh không chỉ là một tên đồ tể khát máu. Ông còn là tận cùng của sự vô luân. Đây là cảm nhận riêng của tôi kể từ khi biết được rằng Trần Dân Tiên, tác giả của cuốn sách “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt động của Hồ Chủ Tịch” chính là ông.
Tôi có đứa cháu trai có cha là sĩ quan Việt nam cộng hòa bị tù lao động khổ sai. Thỉnh thoảng thằng bé 5 tuổi cũng biết trút bỏ cơn giận lên người mà nó gọi là “thằng Bác Hồ”. Kiểu nói “mất dạy” ấy của trẻ thơ làm cho tôi liên tưởng đến hai tiếng “Chí Minh” được nói lái theo kiểu của người miền Nam. “Thằng” hay “Mi” thì cũng thế thôi. Một khi sự đểu giả đã đạt đến tột cùng thì con người chẳng còn một chút nhân cách nào nữa.
Ngày nay, hồi ký đã trở thành một thể loại văn chương rất thịnh hành. Ngoại trừ thánh Augustino, tác giả của cuốn “Những Lời Tự thú” nổi tiếng vào thế kỷ thứ 5, hầu như tác giả viết hồi ký nào ngày nay cũng, một cách nào đó, “tự đề cao” hay biện minh cho những hành động sai trái của mình. Các tay đồ tể trong lịch sử nhân loại, trái lại, không tự mình viết hồi ký. Ít nhứt họ còn có một chút liêm sỉ để ra lệnh cho người khác viết về mình. Họ buộc người khác “sùng bái” mình, nhưng ít nhứt không vô liêm sĩ đến độ tự xưng là người “đạo đức”.
Với quyển “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt động của Hồ Chủ Tịch”, Hồ Chí Minh = Trần Dân Tiên đã đạt đến tận cùng của sự đểu giả và vô đạo, khi dùng tên của một người khác để viết tiểu sử và tự đề cao mình. Trong lịch sử nhân loại, chắc chắn chưa từng có và sẽ chẳng bao giờ có một người nào dám vỗ ngực tự xưng là “Bác khiêm tốn nhường ấy”. Khiêm tốn hay đạo đức nói chung là các “nhân đức” mà con người sẽ đánh mất ngay khi tự nhận có nó. Tuyên bố “tôi là người khiêm tốn” chính là công bố sự kiêu ngạo của mình. Tự nhận mình là “người đạo đức” là nói lên sự vô đạo của mình.
Hồ Chí Minh chính là hiện thân của thứ “đạo đức cách mạng” hay “con người mới xã hội chủ nghĩa” mà những người Cộng sản không ngừng rêu rao. Một người Cộng sản gộc là ông Nguyễn Khắc Viện, một bác sĩ từng được đào tạo tại Pháp, đã có lần giải thích về việc đổi tên Sài Gòn thành thành phố Hồ chí Minh. Ông nói rằng: “Sài Gòn gợi lên đồi trụy, xấu xa. Còn Hồ Chí Minh chỉ những gì là thanh sạch, lành mạnh, cao đẹp và đạo đức.” Bây giờ, sau 35 năm đổi tên, ai ai cũng có thể nhìn thấy “Hòn Ngọc Viễn Đông” trở nên đồi trụy, xấu xa đến mức nào.
Những người cộng sản vẫn luôn tự hào mình là mẫu mực của đạo đức, tức con người mới xã hội chủ nghĩa. Năm 1924, Leo Trotsky đã viết như sau: “Con người sẽ trở nên vô cùng mạnh mẽ, khôn ngoan và tinh tế hơn; thân thể họ trở nên hài hòa hơn, những cử động của họ nhịp nhàng hơn, tiếng nói của họ có nhạc điệu hơn…Con người mẫu mực trung bình sẽ đạt đến đỉnh cao của một Aristoteles, một Goethe hay một Marx. Và trên tầm mức trung bình ấy sẽ có những đỉnh cao vươn lên.” (x. Philip Yancy, Finding God in Unexpected Places” trg 127)
Con người đạo đức hay người mới xã hội chủ nghĩa như được Trotsky loan báo trên đây đã xuất hiện bằng xương bằng thịt trong những người mà tác giả Trần Duy thời Nhân Văn Giai Phẩm gọi là “những người khổng lồ”. “Rốt cục, những con người “không phải là người” đó chỉ tàn phá và gieo tang tóc khắp mọi nơi, không có khả năng kiến thiết và xây đắp hạnh phúc cho nhân loại.” (x. Trăm Hoa Đua Nở trên Đất Bắc, Mặt trận bảo vệ Tự do Văn hóa, Sài gòn 1959, trg. 306)
Những tàn phá của chủ nghĩa Cộng sản trong hơn 70 năm tại Liên Xô, hơn 50 năm tại Đông Âu, 60 năm tại Trung Quốc và trên 60 năm qua tại Việt nam đã chứng tỏ rằng những con người mới xã hội chủ nghĩa ấy không còn là “người” nữa hay đúng hơn là những con người không muốn làm “người” nữa. Hồ Chí Minh, với tận cùng của sự vô liêm sỉ được nâng lên hàng “đạo đức” và ngày nay được những người cộng sản Việt nam đề ra như mẫu mực để học tập và noi theo, là mô hình “nguyên bản” của những con người không còn là người ấy. Khi độc ác, dối trá, vô liêm sỉ, đểu giả …trở thành chuẩn mực đạo đức, thì chắc chắn chất “nhân bản” đích thực không thể nào tồn tại.
Cứ nhìn vào những lỗ hổng đạo đức mà chủ nghĩa Cộng sản đã để lại tại cựu Liên Xô, Đông Âu cũng đủ để thấy thế nào là những tàn phá mà những “người khổng lồ không có trái tim” đã gây ra cho nhân loại. Hãy nhìn vào tình trạng xã hội Việt nam hiện nay để thấy được những “con người mới” mà con người tự xưng là “cha già dân tộc” đã trồng trên quê hương Việt nam.
Một con người thật sự là người luôn ý thức về bản chất bất toàn và giới hạn của mình, nhưng vẫn cố gắng vươn lên để sống tốt đẹp hơn. Thời trung học, tôi vẫn cố gắng ghi nhớ và tâm niệm câu nói của nhà toán học kiêm triết gia Pháp Blaise Pascal vào thế kỷ thứ 17: “Con người không phải là thiên thần cũng không phải là thú vật. Ai muốn làm thiên thần đều trở thành thú vật.”
Cũng như một trong những nhà tư tưởng đầu tiên của Kitô giáo là thánh Phaolô, khi nhìn sâu vào những bất toàn và yếu đuối của mình, đã thốt lên: “Điều thiện tôi muốn thì tôi không làm. Còn điều ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Thư gởi giáo đoàn Roma 7, 19), mỗi ngày tôi cũng trải qua cuộc chiến nội tâm ấy. Có lúc tôi chiến thắng, nhưng đa phần tôi ngã gục. Nhưng tôi biết rằng chính vì còn là con người mà tôi phải không ngừng chiến đấu. Và đó chính là vẻ đẹp và sự cao cả của con người. Thú vật không có ý thức về đạo đức. Thú vật chỉ hành động theo bản năng. Thiên thần cũng chẳng phải chiến đấu vì không bị cám dỗ. Chỉ có con người mới nhận ra nhân tính của mình ngay trong sự thấp hèn và vấp ngã của mình.
Tôi muốn được mãi mãi làm một con người như thế. Trong cuộc chiến đấu mỗi ngày, tôi cũng đi tìm cho mình những mẫu mực như thế. Tôi không màng đến chuyện ông Hồ Chí Minh có vợ, có con rơi con rớt hay có năm thê bảy thiếp. Tôi cũng có thể tha thứ vì vô số tội ác mà ông đã gây ra cho dân tộc. Sai lầm là chuyện bình thường của con người. Nhưng tôi không thể chấp nhận tung hô một người tìm cách che đậy, khỏa lấp những yếu đuối và tội ác của mình bằng cái vỏ đạo đức để lừa bịp người khác.
Tôi không phải là thiên thần và tôi cũng không muốn làm thiên thần trong cuộc sống tại thế này, bởi vì làm như thế tôi sẽ trở thành “thú vật” như đã từng xảy ra trong thiên đàng Xã hội chủ nghĩa.
 Chu Thập, Tháng Tư 2010





Thứ Hai, 30 tháng 3, 2015

Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng



          
                                                                                Chu Thập,
Mùa Chay 2010


Là người Công giáo, mỗi lần tham dự thánh lễ, tôi thường cùng với những người đồng đạo đấm ngực và công khai xưng thú “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Phải thú nhận là nhiều lúc tôi làm động tác này như một cái máy. Đôi khi tôi cười thầm và nghĩ đến mấy con khỉ cũng biết nổi hứng “đấm ngực” ào ào hay như ai đó  “vỗ ngực”  để bày tỏ sự tự hào của mình.
Công khai thú nhận tội lỗi xem ra không phải là chuyện bình thường của con người. Tôi nhớ năm lên lớp ba trường làng, sau hai tuần lễ trốn học, tôi bị bà xơ giáo viên bắt ra trình diện trước lớp học và công khai nói lời “xin lỗi” với mọi người. Tôi uất ức lắm. Tại sao tôi lại phải “xin lỗi” mọi người? Trốn học là chuyện riêng của tôi, tại sao lại bắt tôi phải đi xin lỗi người khác?
Trong gia đình, cha mẹ tôi cũng cố gắng dạy tôi những điều căn bản của phép lịch sự như chào hỏi, thưa kính, cám ơn người lớn. Trẻ con Tây Phương tiếp thu một cách rất tự nhiên những công thức như “xin vui lòng, xin lỗi, cám ơn”. Từ lâu, những công thức đó đã trở thành câu nói đầu môi của mọi người Tây Phương. Trong khi đó nhiều người Việt hải ngoại sau một lần về thăm quê hương đều nhận xét rằng ngày nay, những công thức ấy đã hoàn toàn bị xóa bỏ trong xã hội Việt nam.
Lúc nhỏ, tôi có thể khoanh tay, cúi đầu trước người lớn. Nhưng tuyệt nhiên, hai tiếng “xin lỗi” dường như khó chui vào tự điển hay bộ nhớ của tôi.
Phải nói, với tôi, bài học đầu tiên về xin lỗi và nhứt là công khai xin lỗi chỉ có trong Đạo của tôi. Nhưng dĩ nhiên, đó cũng là một điều xem ra đi ngược lại với bản tính ngổ ngáo của tôi. Mỗi lần đi lễ, nếu các “cảnh sát tôn giáo” là các bà xơ và mấy “ông trùm” trong ban hành giáo lơ là một chút là lũ trẻ chúng tôi đấm ngực loạn xà ngầu: thay vì đấm ngực mình, chúng tôi quay sang đấm ngực thằng bên cạnh. Nghi thức lẽ ra phải trang nghiêm, lại trở thành trò chơi của chúng tôi.
Nghĩ lại cái thời thơ dại ấy, tôi thấy “xin lỗi” và nhứt là công khai xin lỗi, nghĩa là nhìn nhận lỗi lầm của mình, xem ra không phải là điều tự nhiên đối với con người.
Ngay từ chương đầu tiên trong cuốn sách nổi tiếng “Đắc nhân tâm”,  ông Dale Carnegie đã kể lại trường hợp của một tên cướp khét tiếng tại thành phố New York tên là Crowley vào thập niên 30. Cảnh sát trưởng tại thành phố này tuyên bố rằng Crowley là một tội phạm nguy hiểm nhứt. Hắn muốn giết ai là giết, không vì một lý do nào cả. Nhưng sau khi bị bắt và bị kết án tử hình, Crowley đã viết thư để lại với những lời lẽ như sau: “Dưới lớp áo này, trái tim ta đập, chán ngán nhưng thương người và không muốn làm hại một người nào”. Không làm hại ai cả, vậy mà trước đó vài ngày, khi một viên cảnh sát tiến lại gần để hỏi bằng lái xe, Crowley đã nã một loạt đạn, bắn gục viên cảnh sát tức khắc. Trước khi lên ngồi ghế điện, Crowley còn than: “Tôi chỉ tự vệ mà người ta xử tôi như vậy đó”.
Tác giả cũng kể đến một trường hợp khác cho thấy rằng nhìn nhận tội lỗi của mình không phải là chuyện bình thường. Đó là trường hợp Al Capone, lãnh tụ Mafia khét tiếng tại thành phố Chicago. Bị bắt, lãnh tụ tội phạm này cũng tuyên bố: “Ta đã dùng những năm tươi đẹp nhứt trong đời để mua vui cho thiên hạ, vậy mà phần thưởng chỉ là bị chửi bới và bị săn bắt như một con thú dữ”. Theo ông Lawes, người đã từng làm giám đốc nhà tù nổi tiếng Sing Sing tại Hoa kỳ, các tội phạm nói rằng họ cũng là những người bình thường như mọi người. Họ có đủ lý do để biện minh tại sao họ cạy tủ sắt hay bóp cò súng giết người. Họ nói rằng giam giữ họ là một điều bất công. (Dale Carnegie, Đắc nhân tâm, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê)
Trong những ngày vừa qua, theo dõi phiên xử ông Karadzic, một người đã từng phạm tội ác chống lại nhân loại trong cuộc chiến tại Cựu Nam Tư hồi thập niên 90, tôi cũng nhận thấy một hiện tượng tương tự. Trước tòa án quốc tế, ông Karadzic vẫn khăng khăng nói rằng ông không hề phạm tội diệt chủng, mà chỉ mở ra một cuộc thánh chiến chống lại những người Hồi giáo tại Bosnia Herzegovina mà thôi.Trước ông, tại tòa án quốc tế, lãnh tụ Mlobodan Milosevic cũng có một thái độ tương tự, nghĩa là hoàn toàn chối bỏ trách nhiệm của mình trong vụ diệt chủng tại Kosovo.
Trong vụ án diệt chủng tại Cambodia cũng thế, ngoại trừ ông Kaing Guek Eav, bí danh “Duch”, giám đốc nhà tù khét tiếng Tuol Sleng, sau khi trở lại Kitô giáo, đã hoàn toàn nhìn nhận trách nhiệm trong việc tra tấn và sát hại đồng bào ruột thịt của mình, những tay đầu sỏ trong tập đoàn Khmer Đỏ dưới quyền lãnh đạo của Pol Pot đều tuyên bố rằng họ không hề chủ mưu trong cuộc sát tế 1 triệu 7 trăm ngàn đồng bào của mình trong những “cánh đồng giết người”.
Thật ra cũng không trách được mấy ông Cộng sản Khmer Đỏ. Cho tới nay, đã có một đảng Cộng sản nào trên thế giới này lên tiếng “xin lỗi” vì đã sát tế trên 100 triệu đồng bào cốt nhục của mình trên “thiên đàng cộng sản” đâu. Mới đây, tác giả Nguyễn Hưng Quốc, trong bài viết có tựa đề “Đảng Cộng sản Việt nam còn nợ đất nước một lời xin lỗi”, đã nhắc lại “vô số sai lầm” của Đảng cộng sản. “Nhiều sai lầm đã trở thành tội ác”, vậy mà những người cộng sản Việt nam chưa một lần mở miệng “xin lỗi”. Theo tác giả, “trước hết phải kể đến tội giết chết hàng chục ngàn người và đày đọa hàng trăm ngàn người khác một cách thảm khốc và oan ức trong vụ cải cách ruộng đất trong nửa đầu thập niên 1950. Sau đó là tội trấn áp văn nghệ và trí thức trong vụ Nhân văn Giai Phẩm trong nửa sau thập niên 1950. Rồi đến tội tước đoạt tài  sản của dân chúng Miền Nam trong cái gọi là chiến dịch đánh tư sản mại bản, bắt bở cả hàng trăm ngàn cựu quân nhân và công chức Miền Nam đày vào các trại học tập cải tạo có khi kéo dài cả chục năm, ban bố các chính sách bao cấp độc đoán làm kiệt quệ nền kinh tế vốn đã què quặt sau chiến tranh. Cuối cùng, như là hậu quả của tất cả các tội ác vừa kể, Đảng cộng sản đã đẩy hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, trong đó có cả hàng trăm ngàn người phải bỏ xác trên đường vượt biển” (Nguyễn Hưng Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam còn Nợ Đất Nước một Lời Xin Lỗi]
Tác giả Nguyễn Hưng Quốc không nhắc đến, nhưng đáng tội hơn cả phải kể đến cuộc chiến phi nhân, vô nhân đạo mà Đảng cộng sản Việt nam đã gây ra khiến cho trên cả triệu người Việt nam của cả hai miền Nam Bắc phải thiệt mạng. Dã man nhứt hẳn phải là cuộc thảm sát trên 5 ngàn người tại Huế trong biến cố Mậu Thân năm 1968.
Chính vì  Đảng cộng sản Việt nam không biết nhìn nhận sai lầm của mình và thiếu một lời “xin lỗi” cho nên đất nước vẫn cứ trì trệ lạc hậu. Đây là điều mà một vị giám mục Việt nam mới đây muốn ám chỉ tới. Trong một thánh lễ tại nhà thờ Thái Hà, Hà nội hồi đầu tháng 3 vừa qua, nhân nói đến giá trị và ý nghĩa của hành động sám hối trong Kitô giáo, Đức cha Nguyễn Chí Linh, giám mục Thanh Hóa,  phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt nam đã tuyên bố : “Một chế độ chính trị không biết nhìn nhận sai lầm của mình thì không thể đưa đất nước lên bước thăng tiến cao hơn” (x. Nguyễn Hữu Vinh, Vietcatholic  2/3/10)
Nhìn đến đất nước người ta mà thấy thèm. Chẳng hạn tại Úc đại lợi, ngày 13 tháng 2 năm 2008, vừa nhận chức không bao lâu, thủ tướng Kevin Rudd đã đại diện chính phủ công khai xin lỗi các thổ dân Úc về những chính sách sai lầm của quốc gia trong quá khứ như cách ly trẻ em thổ dân khỏi gia đình bằng cách bắt các em ở riêng hoặc làm con nuôi trong các gia đình người da trắng. Tác giả Nguyễn Hưng Quốc viết: “Nghe lời xin lỗi ấy, nhiều người thổ dân và không phải thổ dân, ràn rụa nước mắt vì mừng.Với thổ dân, nỗi đau nhiều thế hệ của họ được khuây khỏa; với người da trắng, sự xấu hổ âm thầm được lắng dịu.” (bài đã dẫn)
Cảm động không kém là lời xin lỗi mới đây của thủ tướng Anh, ông Gordon Brown, đối với các trẻ em mồ côi hay từ những gia đình đổ vỡ mà cách đây 50 năm, chính phủ Anh đã bắt đưa sang Úc đại lợi hay Tân Tây Lan.
Riêng tôi, tôi thật sự xúc động trước lời xin lỗi cũng mới đây của Tiger Woods, danh thủ đánh Golf số một thế giới. Từ trước đến nay, ai cũng nhìn anh như một thần tượng về  tài ba lẫn đức độ.Thế rồi, nhân một tai nạn giao thông, người ta mới thấy anh hiện nguyên hình một con người “trăng hoa” phản bội vợ con. Thật ra trong giới chính trị, điện ảnh, thể thao, những chuyện như thế chẳng có gì đáng làm cho chúng ta ngạc nhiên. Đáng ngạc nhiên chăng là trong số rất ít những người tài danh và quyền thế, Tiger Woods đã công khai lên tiếng xin lỗi vì hành động “ngoại tình” của anh.
Dưới mắt tôi, danh thủ này bỗng sáng giá hơn bất cứ lúc nào. Tôi tin rằng một lời xin lỗi không làm cho con người thua thiệt mất mát mà trái lại chỉ gia tăng sự tôn trọng nơi người khác mà thôi. Nghe nói cựu tổng thống Hoa Kỳ, Bill Clinton đã liên lạc với Tiger Woods để nâng đỡ tinh thần anh. Là người “đồng hội, đồng thuyền”, hơn ai hết, ông Clinton cảm thông với anh trước những thử thách mà anh đang trải qua. Hồi thập niên 90, tôi cũng đã có lần ngưỡng mộ ông Clinton như thế. Tôi ngưỡng mộ ông không phải vì tài năng “kinh bang tế thế” của ông, mà vì sau khi phải ra trước công chúng để bị công khai “hạch hỏi” về những hành vi thầm kín nhứt của ông, cuối cùng ông đã công khai lên tiếng xin lỗi vì mối quan hệ bất chính của ông với cô Monica Lewinski.
Tôi cũng đã có lần thán phục cử chỉ “xin lỗi” của các cựu tổng thống Nam Hàn dưới thời quân phiệt. Chẳng gì cảm động bằng sau hai tiếng xin lỗi, họ đã xin vào chùa để sám hối trong những ngày cuối đời.
Và dĩ nhiên, những câu nói “tôi đã sai lầm” của những Nguyễn Hộ, Nguyễn văn Trấn hay mới đây của người tự xưng là “Thằng Hèn” Tô Hải, không thể không gợi lên trong tôi cảm xúc trân trọng và quý mến.
Với tư cách là một người Công giáo, tôi lại càng cảm thấy hãnh diện và phấn khởi hơn khi hồi năm 2000, Đức giáo hoàng Gioan Phaolo II đã đại diện toàn thể Giáo hội Công giáo lên tiếng xin lỗi vì những lỗi phạm của người Công giáo trong suốt dòng lịch sử của Giáo hội. Tôi cũng rất sung sướng khi đó đây có một Hội đồng Giám mục Công giáo nào đó đã lên tiếng xin lỗi vì đã “im lặng” dưới một chế độ độc tài.
Thái độ khiêm tốn của các nhà lãnh đạo tinh thần trên khiến tôi mạnh dạn và thành tâm hơn mỗi khi nhận lỗi và xin lỗi. Tôi thấy mình có “giá trị” hơn vì:
“Thú vật có thể có cảm giác vui mừng, như khi một con chó được chủ cho một cục xương.
Thú vật có thể có cảm giác buồn bã, như khi một con chó bị nhốt suốt ngày trong chuồng.
Thú vật có thể có cảm giác đau đớn, như khi một con chó bị đánh.
Thú vật có thể có cảm giác sợ sệt, như khi một con chó nhìn thấy cây roi thường đánh nó.
Thú vật có thể có “cảm giác yêu thương”, như khi những con chó “âu yếm” liếm mặt chủ nhân.
Nhưng loài thú không bao giờ có cảm giác tội lỗi như một con người được.
Bởi chỉ có con người mới nhận thức được lẽ phải điều sai” (Tân Châu, Cảm giác Tội lỗi, trên trang mạng Báo Tổ Quốc 28/2/10)
Khi đấm ngực xưng thú “lỗi tại tôi mọi đàng” tôi thực sự cảm nghiệm giá trị của một “Con Người”. Bởi, giá trị của một con người không chỉ nằm ở những thành tựu hay nhân đức của người đó mà còn hiện diện đầy đủ trong thái độ nhận thức được những sai sót của mình. Và với tôi, ước vọng suốt đời của tôi cũng không cao xa hơn là làm sao mỗi ngày được sống cho ra Người hơn.



Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

“Làm người có dại mới nên khôn”



Chu Thập
20.3.15
Nhìn gương mặt của cậu thiếu niên “Úc rặc” tên là Jake Bilardi vừa mới ôm bom tự sát tại Iraq để trở thành “tử đạo” và lên thiên đàng của Đấng Allah của người Hồi giáo, tôi thấy thương hại hơn là oán ghét. Tôi thấy Jake chẳng có bất cứ nét bậm trợn hay hung tợn nào của những tên thánh chiến mặt mày râu ria của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” và ngay cả cậu có thề thốt sẽ sát hại chính người đồng bào ruột thịt Úc của mình đi nữa, tôi vẫn nhận ra những nét ngây thơ, dễ thương trên gương mặt của cậu. Với tôi,  Jake là một nạn nhân đáng thương hơn là một tên gian ác đáng nguyền rủa. Nếu người mẹ của cậu không qua đời vì bệnh ung thư năm 2012, nếu cậu được người cha yêu thương chăm sóc và nhứt là nếu cậu đã không “giác ngộ” và cải đạo sang Hồi giáo để rồi bị lừa vào con đường khủng bố, thì biết đâu người thiếu niên đã từng theo học tại một trường dành cho những học sinh có năng khiếu đặc biệt ở Melbourne lại chẳng trở thành một khoa học gia, một nhà bác học tài ba. Bồng bột, dại khờ để bị dụ dỗ và lừa vào con đường tội ác: đó là tất cả những gì mà sự thông cảm đã gợi lên trong tôi mỗi khi nhìn vào gương mặt non dại của Jake Bilardi.
Đọc lại cuộc hành trình đi vào con đường tội ác như được Jake ghi lại và chia sẻ trên các trang mạng xã hội, tôi không thể không liên tưởng đến các anh “bộ đội cụ Hồ”, mà nhiều người đã gọi một cách rất chính xác là “cán ngố”. Đa số cũng có bộ mặt non choẹt và trông cũng “ngố” chẳng thua gì cậu thiếu niên “thánh chiến” Jake Bilardi. Những khuôn mặt dại khờ đó cũng bị lừa bịp, dụ dỗ để thề nguyền “sinh Bắc tử Nam”, quyết chí “xẻ dọc Trường Sơn” để vào giải phóng Miền Nam và xây dựng một thứ thiên đàng chẳng bao giờ có. Lần đầu tiên nhìn thấy tận mắt những anh “cán ngố” ấy ngơ ngác tiến vào thành phố biển Nha Trang của tôi ngày 2 tháng 4 năm 1975, tôi thấy thương hại hơn là thù ghét. Họ cũng chỉ là nạn nhân. Họ cũng chỉ là những người ngu ngơ, khờ dại bị cho ăn bánh vẽ hay tệ hơn, nói theo kiểu nói quen thuộc của người dân quê của tôi, là những đứa trẻ khờ khạo bị ai đó gạt “cho ăn cứt gà sáp”.
Mà đâu chỉ có đám thiếu niên và thanh niên nghèo đói, thất học và khờ khạo ấy bị lừa bịp.  Dạo tháng 8 năm 1947, bị truất phế và phải lưu vong sang HongKong, gặp lại thủ tướng Trần Trọng Kim, lời đầu tiên mà cựu hoàng Bảo Đại đã thốt lên với ông là: “Chúng mình già trẻ đều mắc lừa bọn du côn”. Từ ông vua, ông thủ tướng đầu tiên, cho đến hàng hàng lớp lớp những nhà trí thức Việt Nam đều bị Hồ Chí Minh và bọn côn đồ cộng sản lừa bịp. Có kịp thức tỉnh  như triết gia Trần Đức Thảo hay luật sư Nguyễn Mạnh Tường thì cũng đã muộn. Phần đông những nhà trí thức khác từ năm 1945 đến nay, dù có biết mình đã ngu dại để bị lũ côn đồ lừa bịp, lại vẫn tiếp tục cúc cung phục vụ cái chế độ côn đồ ấy. Một vài tên đầu sỏ như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng...làm sao có đủ năm đầu sáu tay để vừa lừa bịp vừa đàn áp, nếu không có những nhà trí thức “quyết tâm ngu” để họ sai khiến và sử dụng.
“Quyết tâm ngu” không phải là cụm từ do tôi sáng chế. Đây là kiểu nói tôi học được qua một bài chia sẻ mới đây của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa ngoài Bắc. Ông Nghĩa kể lại rằng từ nhiều năm nay, vợ chồng ông sống được là nhờ “công ơn của Đảng”. Ông giải thích: “Đảng cộng sản, như chúng ta đã biết, chẳng làm được cái tích sự gì cho dân, cho nước, nhưng đảng lại tạo ra nhiều việc làm cho những ai làm nghề photocopy như tôi”. Theo ông, có khoảng 70 phần trăm tài liệu người ta mang đến thuê ông đánh máy, phô tô đều là tài liệu của đảng, nói về đảng hoặc dính líu đến đảng. Ví dụ, “các văn bản tổng kết hoạt động của chi bộ, đảng bộ v.v...6 tháng đầu năm, cuối năm, cả năm, các nghị quyết, các đợt phát động thi đua, như học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; các cuộc thi tìm hiểu lịch sử đảng, công ơn đảng, rồi các diễn văn chào mừng, kỷ niệm  ngày 30 tháng 4, ngày 3/2/ ngày 2/9, ngày 19/5. Ngoài ra, học sinh làm bài luận văn “Nói không với ma túy” cũng “Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Sinh viên cao đẳng du lịch làm luận án tốt nghiệp bao giờ cũng chép lại của nhau câu mở đầu: “Dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng, ngành công nghiệp không khói nước ta đã...”
Ông Nghĩa cho biết: “Khi đã in ra một bản bằng máy in, còn phải phô tô ra hàng chục bản để chỉ thị, chủ trương chính sách của đảng cấp cao và đảng địa phương đi xuống tận quần chúng, cơ sở, để quán triệt, thực hiện đến từng câu, từng chữ...”
Ai cũng trở thành những con vẹt hết. Có người khi đến phô tô còn giở giọng ta thán về nạn tham nhũng, cửa quyền, về đường lối, chính sách sai lầm. Có người còn hăng tiết nói về tội ác của đảng cộng sản nữa. Nhưng nếu được hỏi: tại sao biết thế mà vẫn tiếp tục sinh hoạt đảng, viết sách hoặc ngay cả làm thơ ca ngợi đảng, anh nào cũng nhún vai: “Anh nói lạ thế! Tôi là đảng viên mà”.
Họ giải thích với nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa rằng chỗ riêng tư tâm sự với ông thì khác, còn “nói trước hội nghị đảng, hội nghị ủy ban mặt trận tổ quốc .v.v...tức là trước cái bọn “quyết tâm ngu” thì mình không nói khôn được”.
Nhưng kể từ ngày có người đã “tiết lộ” thái độ “quyết tâm ngu” của lũ lu la của chế độ côn đồ với ông Nghĩa thì các ông bí thư chi bộ đảng, ông bí thư đảng ủy, bà hiệu trưởng các trường học trong vùng, bên công an...đều có chỉ thị cho cấp dưới, cho học sinh, sinh viên cách đối xử với cửa hàng photocopy của “tay Nghĩa phản động”. Khách hàng ngày càng ít, gia đình ông bị bao vây kinh tế.
Có lần ông Nghĩa tâm sự với một ông cán bộ về thu nhập ngày càng sút giảm của mình. Ông này tỉnh bơ nói: “Con tôi thi đỗ vào trường an ninh rồi ông Nghĩa ơi. Vì tương lai của con tôi, tôi vẫn phải “quyết tâm ngu”. Có lẽ ông cán bộ cộng sản này cũng đại diện cho cả một tầng lớp những nhà giàu mới, phất lên nhờ biết bám vào cái thây chết của chủ nghĩa cộng sản hoặc đám người đang phè phỡn hưởng thụ để nhắm mắt làm ngơ trước bao nhiêu bất công và đau khổ mà chế độ côn đồ đã gây ra cho dân chúng.
Đọc bài “Quyết Tâm Ngu” của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa trên đây, tôi thấy xót xa và ngao ngán cho tương lai của Việt Nam. Chỉ còn hơn một tháng nữa là đúng 40 năm ngày những người cộng sản “cướp chính quyền” và thiết lập chế độ côn đồ. Trước đây, cứ mỗi một lần tưởng niệm 10 năm, 15 năm, 20 năm, 30 năm mất nước, tôi cứ tự an ủi rằng chế độ cộng sản sắp sụp đổ đến nơi rồi. Nhưng lần này, kỷ niệm 40 năm, tôi thấy như mình “khôn” ra để tỏ ra dè dặt hơn trong niềm hy vọng của mình. Cám ơn nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, bây giờ tôi mới ngộ ra rằng đâu phải cái thời cộng sản mới cướp chính quyền ở Miền Bắc năm 1945 mới có những nhà trí thức “quyết tâm ngu” để ăn bánh vẽ và vẽ bánh cho người dân ngu ăn. Sau đúng 70 năm ở Miền Bắc và sau đúng 40 năm ở Miền Nam, dòng giống của những kẻ “quyết tâm ngu” ngày càng sinh sản nhiều và cái chế độ cộng sản côn đồ cứ vẫn tồn tại.
Cũng may cho tôi, nhờ sớm thoát khỏi chế độ côn đồ ấy cho nên tôi chưa đến nỗi phải “quyết tâm ngu”. Ngu và khờ dại trong tiến trình học làm người như tôi thì chẳng bao giờ hết. Còn sống là còn học làm người và còn học làm người là còn ngu và khờ dại. Cứ đi được một đoạn đường, nhìn lại tôi thấy mình đã không biết bao nhiêu lần ngu. Ngu trong lời ăn tiếng nói. Ngu trong những quyết định nông nổi. Ngu trong cách đối nhân xử thế. Có lúc nhìn lại, tôi thấy xấu hổ và chỉ muốn độn thổ cho rồi.
Thật ra, ở đời, biết được mình “ngu” không phải là điều mà ai cũng muốn biết. Tôi thích câu chuyện về “ba kẻ đại khôn và đại ngu” do ai đó đã sưu tầm và kể lại. Một ông vua nọ bỗng nổi hứng sai quan tể tướng đi tìm cho bằng được ba người được xem là đại khôn trong nước. Ông tể tướng đi vài ngày ra chợ và tìm được một người đàn ông đói rách, nhưng luôn tự cho mình là kẻ sĩ. Ông đưa kẻ ăn mặc rách rưới ra trình diện trước mặt vua và khẳng định rằng đây là một người đại khôn, vì chuyện gì anh ta cũng có thể giải đáp rành mạch. Nhà vua đã thử tài và công nhận kẻ ăn mặc rách rưới là một đại khôn.
Nhà vua sai tể tướng cho trình diện người đại khôn thứ hai. Quan tể tướng liền cúi đầu thưa: Thưa, chính là thần đây ạ. Thấy nhà vua còn ngỡ ngàng chưa kịp hỏi tiếp, quan tể tướng liền giải thích: nếu thần không phải là bậc đại khôn thì làm sao có thể nhận ra kẻ ăn mặc rách rưới kia là bậc đại khôn. Nhà vua gật đầu đồng ý.
Đến khi phải cho trình diện người đại khôn thứ ba, quan tể tướng liền lễ phép tâu: Thưa, người đó chính là Bệ Hạ ạ! Lại một phen nữa, nhà vua ngạc nhiên đến độ muốn bật ra khỏi ngai vàng. Quan tể tướng liền giải thích:  Bệ hại phải là bậc đại khôn mới có thể biết thần xứng đáng mà giao trọng trách tể tướng ạ!
Một thời gian sau, nhà vua lại sai quan tể tướng đi tìm cho bằng được ba người đại ngu. Lần này cũng thế, sau vài ngày đi rảo ngoài chợ, quan tể tướng lại cũng rước người đàn ông đói rách hôm trước vào triều đình và giới thiệu như là tên đại ngu thứ nhứt. Ông giải thích rằng con người đói rách này lúc nào cũng tự xưng là kẻ sĩ nhưng lại cam phận đói rách nơi đầu đường xó chợ thì không  đại ngu là gì. Ông còn nói thêm: hắn ta đúng là kẻ “ngu tâm”. Khi được hỏi ai là tên đại ngu thứ hai, quan tể tướng liền cúi đầu chịu tội: thưa hạ thần chính là tên đại ngu thứ hai, bởi vì hạ thần chịu trách nhiệm về dân sinh mà không chuyên chú lo cho dân cho nên trong đất nước mới có những kẻ đói rách như thế này. Hạ thần là một kẻ ngu tài.
Đến lúc phải cho trình diện tên đại ngu thứ ba, quan tể tướng lại chỉ vào nhà vua mà nói: Bệ hạ chính là người ấy. Bệ hạ là kẻ ngu trí. Ngu tâm như kẻ đói rách đây còn có thể chữa, ngu tài như hạ thần đây cũng có thể thay thế được, nhưng ngu trí như bệ hạ thì chỉ báo hại xã tắc mất thôi.
Không rõ kết thúc câu chuyện, ông vua vừa nhận biết mình là một tên đại ngu xử trí như thế nào. Đã biết mình ngu nhưng lại “quyết tâm ngu” thì quả là hết thuốc chữa. Trái lại, ông vua sẽ là bậc đại khôn nếu ông nhìn nhận mình là một tên đại ngu.
Người xưa quả đã nói một cách chí lý: “dủ học dủ ngu”. Càng học, càng có nhiều kiến thức và hiểu biết thì mới đạt được tuyệt đỉnh của sự khôn ngoan là: biết mình ngu!
Có lẽ cụ Trần Tế Xương (1870-1907) đã ngộ được cái lẽ khôn ấy cho nên trong bài thơ có tựa đề “dại khôn”, cụ mới dạy : “Làm người có dại mới nên khôn”. Tôi hiểu ý cụ muốn nói: nhận ra cái ngu của mình để học hỏi kinh nghiệm và cố gắng vươn lên trong lẽ khôn ngoan, chớ không phải để “quyết tâm ở lại trong cái ngu”.









Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

Biết Để Sống


Chu Thập
19.07.11



Ở cái khu khỉ ho cò gáy của tôi mà thỉnh thoảng cũng có tin giựt gân. Tuần trước, đang lúc chúng tôi dùng cơm “chiều” (chúng tôi trở lại cái thói quen ngày xưa ở miền quê Việt nam: ăn sớm, ngủ sớm, dậy sớm!), thì có một người đàn bà không rõ từ đâu đến đập cửa rầm rầm rồi hớt ha hớt hãi nói như ra lệnh: “Phải lo gom góp những thứ quý giá nhứt và chuẩn bị di tản, vì lửa rừng sắp ùa đến nơi rồi”. Mà quả thật, mở cửa nhìn lên núi, tôi thấy lửa đã bốc cao và nhiều người trong xóm đang đứng nhốn nháo trước nhà.
Ở gần lâm viên quốc gia, hưởng được không biết bao nhiêu cái thú mà dân thị thành khó có được: quanh năm ngày tháng lúc nào cũng nghe được tiếng chim hót; không khí không vẩn mùi khói xe; tầm nhìn phía sau nhà chẳng bao giờ bị một bóng người hay một ngôi nhà nào chận lại; và nhứt là được sự yên tĩnh: quanh năm ngày tháng hầu như không bị ô nhiễm về âm thanh. Nhưng ở đời cái gì cũng có cái giá của nó. Để có được một bầu khí tĩnh mịch, ban ngày tôi phải chấp nhận sống chung hòa bình với cái lũ gà tây rừng (bush turkey) chuyên đào bới cây cối trong vườn. Cây con nào trồng xuống mà không chặn đá chung quang cũng đều bị chúng đào tận gốc. Vườn rau xanh vừa cấy xuống mà quên đóng rào cũng bị chúng moi lên. Tối lại, giấc ngủ yên lành thỉnh thoảng bị những tiếng “thở dài” của mấy trự “Possums” phá đám. Cái giống này ngoài cái tiếng tru tréo chẳng khác nào ma trơi còn có “nhiệm vụ” càn quét hết những gì ban ngày bọn gà tây rừng còn chừa lại. Nhưng khiếp nhứt vẫn là mấy con kỳ đà và Goanna: cứ đến mùa hè thì cái loại bò sát khổng lồ này xuất hiện và tảo thanh mấy cái ổ gà ổ vịt của tôi. Nhiều bữa nghe mấy chị gà chị vịt kêu toang toác, chạy ra thấy muốn ứa nước mắt: nguyên cái ổ vịt đang ấp bị xơi tái, cả chục cái trứng gà chưa kịp lấy cũng biến mất. Đã vậy, mình đâu dám đụng vô mấy cái “ông bà trời con” được nhà nước bảo vệ còn hơn mạng người này! Gần đây, không biết chồn hay mèo rừng ở đâu lại kéo đến. Cách đây mấy hôm, cả nhà đi vắng, chiều tối về thấy đàn vịt 9 con máu me đầy mình, một con bị mang ra làm thịt ngay trước cửa chuồng. Nghĩ có đau và tức không!
Sống cảnh nhà quê Úc tưởng dễ, không ngờ phải đối mặt với đủ thứ “kẻ thù”. Nhưng nạn cháy rừng cũng khiến cho những người “nhà quê” như tôi nơm nớp lo sợ. Hàng rào phía sau nhà tôi giáp sát mé rừng. Trong vườn lại còn vài cây “gum” lớn có thể bị giông bão đốn ngã và đè sập mái nhà bất cứ lúc nào. Vậy mà mấy ông bà Hội đồng thành phố có chịu thông cảm và cho phép chặt một cách dễ dàng đâu.
Sở dĩ cái người đàn bà “lạ mặt” không rõ từ đâu đến đã làm cho cả khu xóm của tôi một phen lên ruột là vì ngày hôm đó, Cơ quan phòng cháy vùng quê cho đốt rừng trong sự kiểm soát để gọi là phòng ngừa nạn cháy rừng. Chuyện này thì năm nào cũng được lập lại vào giữa mùa đông. Năm nay, không rõ do nguyên nhân nào, một ống dẫn nước bị bể trùng hợp với việc kiểm soát ngọn lửa gặp khó khăn, cho nên lửa bốc lên cao quá và một số cây gum và dương gần khu xóm của chúng tôi bị cháy. Đây chính là lý do khiến cho cái chị “nhà báo” vô công rỗi việc tức tốc xách xe đi khắp xóm để loan báo “tin dữ”. Nhưng cũng may, sau một lúc bấn loạn vì liên tưởng  đến “Thứ  Bảy Đen” ngày 7 tháng 2 năm 2009, qua đó thần hỏa đã sát hại 173 người và thiêu rụi 2029 ngôi nhà tại tiểu bang Victoria, chúng tôi đi gặp chính các nhân viên phòng cháy và chữa lửa để hỏi cho biết hư thực. Vỡ lẽ ra là chẳng có “sự cố” nào cả. Lửa có bốc cao trong rừng cũng là chuyện thường tình mỗi khi có “controlled bush fire” mà thôi. Thế là hết một cơn hú hồn hú vía!
Đất bằng thỉnh thoảng cũng dậy sóng. Lại ngẫm nghĩ đến tác động của “tin đồn”. Nếu không kịp kiểm chứng và nếu không được “giáo dục” cách sống gần lâm viên quốc gia thì chiều hôm đó có lẽ chúng tôi đã chạy tán loạn ra đường thay vì ở nhà tránh khói, hay vì hốt hoảng lại gọi điện thoại gây bấn loạn cho người khác. Chợt liên tưởng đến chuyện của ông Tăng Sâm giết người. Chuyện này thì chắc chắn những người chuyên làm công tác “tuyên truyền”, nhứt là trong các chế độ độc tài bưng bít, hẳn phải thuộc lòng . Có người trùng tên với Tăng Sâm phạm tội giết người. Ai đó hớt hãi chạy đến báo với mẹ ông. Biết con mình hiền hậu và hiếu thảo, người mẹ không tin cứ điềm nhiên tiếp tục dệt cửi. Một lúc sau lại có người đến cũng lập lại nguyên si một mẩu tin như thế. Mẹ ông vẫn không tin. Nhưng một người thứ ba lại xuất hiện và cũng nói “Tăng Sâm giết người”. Lúc này thì người mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn.
Sở dĩ tin đồn thất thiệt có sức tác động khủng khiếp như thế là bởi vì nó cũng là tin giật gân. Nhà báo nào cũng thuộc lòng nguyên tắc: “Chó cắn bà già không phải là tin, nhưng bà già cắn chó mới là tin”. Chẳng hạn như mới đây, một cụ bà nào đó ở Melbourne đã cắt đầu một con chuột và tung hình lên mạng. Chuyện chỉ có thế mà cũng đã trở thành “tin” và được “tô đậm” (highlight) trên màn ảnh truyền hình!
Thích chuyện giựt gân là tâm lý thông thường của con người. Ở đâu và thời nào cũng thế thôi. Có đứa bé nào mà không thích nghe chuyện, nhứt là chuyện ma. Thỉnh thoảng lén nghe chuyện người lớn thì thế nào cũng bị mắng đồ con nít mà “hóng” chuyện người lớn”. Thật ra, có già đầu đến đâu, ai mà chẳng thích “hóng” chuyện người khác. Tôi còn nhớ, trước năm 1975, báo nào cũng có mục “từ thành đến tỉnh”. Ngày nào cũng chỉ có một loại “mẩu” tin, chỉ cần thay đổi nhân vật tên tuổi, nơi chốn, ngày tháng là thành một tin sốt dẻo và giựt gân. Vậy mà thiếu cái cột tin ấy thì tờ báo e khó sống. Mở những tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại ra để đối chiếu, tôi cũng thấy hầu như một hiện tuợng tương tự: dù có chủ trương   nghiêm chỉnh đứng đắn đến đâu, tờ báo nào cũng phải dành vài trang cho một số tin giựt gân. Còn muốn hấp dẫn hơn thì dĩ nhiên phải kèm theo vài hình ảnh “tươi mát”. Chẳng có gì phải ngạc nhiên tại sao trong chế độ cộng sản Việt nam hiện nay, Công an vốn là thứ chó ghẻ bị mọi người thù ghét, vậy mà “Công An” hay “Công an nhân dân” lại là những tờ báo có nhiều độc giả nhứt, bởi vì trên đó toàn là những tin “từ thành đến tỉnh” về cướp giựt, hãm hiếp, lừa gạt, buôn lậu, tham nhũng, đĩ điếm, dâm loạn, ăn chơi trác táng, đổ đốn v.v... “Chuyện thường ngày ở huyện”, vậy mà lắm kẻ thích “biết” và nghe mãi không chán!
Tôi nghĩ đến cái tâm lý thông thường ấy khi theo dõi vụ án của tờ báo lá cải “News of the world” ở bên Anh do cự phú truyền thông Rupert Murdoch làm chủ. Để thỏa mãn cái tính thích “hóng” chuyện của người khác nơi độc giả, tờ báo có đến 2 triệu 7 trăm ngàn ấn bản mỗi số này phải không ngừng đi săn tin và săn toàn những tin giựt gân. Và dĩ nhiên, vì thiếu đạo đức chức nghiệp, cho nên để có tin giựt gân, tờ báo này đã không ngại xử dụng mọi thủ đoạn để săn tin, trong đó đáng lên án nhứt là “nghe lén điện thọai” của người khác.
Nhiều độc giả hẳn phải tiếc rẻ khi hay tin tờ báo “ruột” của mình bị đóng cửa và xót xa cho số phận của những kẻ chuyên đi săn lùng tin giựt gân và sống bằng tin giựt gân. Thực ra, vụ án này không chỉ lột mặt nạ những người chuyên sống bằng nghề “moi móc” chuyện riêng của người khác, mà cũng nêu lên trách nhiệm của chính những người thích được nổi tiếng. Thời đại này, muốn được “nổi tiếng”, không thể không nhờ ngọn gió của truyền thông đưa lên. Nhưng ở đời lắm khi gậy ông lại đập lưng ông. Nhờ tin giựt gân săn lén được mà tờ lá cải “News of the World” lên như diều gặp gió. Nhưng nay cũng chính những cái tin ấy lại quay trở lại làm cho tờ báo xẹp xuống. Cũng vậy, chính nhờ các phương tiện truyền thông thổi phồng mà nhiều người, nhứt là giới nghệ sĩ, được nổi tiếng. Nhưng cũng chính vì nổi tiếng mà nhiều người trở thành đối tượng của những cuộc săn lùng của báo chí. Công nương Diana, xét cho cùng, cũng chỉ là nạn nhân của chính sự nổi tiếng của mình: bà được các phương tiện truyền thông tung lên để rồi cũng do chính những phương tiện truyền thông “hạ xuống” và hạ xuống ngay cả bằng một cái chết thê thảm.
Kể từ khi nổ ra vụ án của báo “News of the world”, nhiều tài tử giai nhân cũng bắt đầu rục rịch đi kiện các tờ báo lá cải, vì cái tội xen vào đời tư của họ. Nghĩ cũng buồn cười: nhờ báo chí để nổi tiếng thì nay phải khổ vì sự nổi tiếng!
Ở đời thường hễ có cung thì ắt phải có cầu. Ngay cả khi không có nhu cầu thực sự đi nữa, thì người ta cũng có thể tạo ra những nhu cầu giả tạo được. Có biết bao nhiêu thứ hàng hóa được bày bán trong các siêu thị chẳng là nhu cầu giả tạo?
Ngày nay, với bước nhảy vọt khổng lồ của kỹ thuật truyền thông, cái nhu cầu “thông tin” lắm khi chỉ là một thứ nhu cầu giả tạo. Trong cái “dòng chảy” của thông tin hiện đại, con người cứ muốn “biết” và không bao giờ cảm thấy thỏa mãn trong nhu cầu “biết” của mình. Chính nhờ cái cơn “đói” thông tin này, mà các phương tiện truyền thông mới có đất sống. Nếu chúng ta không còn muốn “hóng” chuyện người khác thì có lẽ các tờ báo lá cải sẽ chẳng còn lý do hiện hữu nữa. Thành ra, trong tinh thần liên đới trách nhiệm, trong vụ án của báo “News of the world”, không chỉ có ông chủ Murdoch, không chỉ có ban biên tập của tờ báo và những viên cảnh sát thông đồng trong chuyện nghe lén điện thoại mới đáng bị truy tố, mà ngay cả những người thích nổi tiếng, những người của “công chúng” và nhứt là những kẻ thích “hóng” chuyện người khác và “độc giả” cũng phải chịu một phần trách nhiệm.
Trong thời đại được gọi là “kỹ thuật số” này, ít hay nhiều, dường như ai cũng bị lôi cuốn vào cái thói “hóng” chuyện này. Mặc dù chỉ muốn sống âm thầm, nhưng vì lỡ gia nhập vào một số “meo đàn”, mỗi ngày tôi cũng nhận được không dưới 3 trăm cái “meo” với đủ mọi thể loại và nội dung từ chính trị, văn hóa, văn chương, xã hội đến chuyện bù khú, tiếu lâm và ngay cả những cuộc đấu khẩu rẻ tiền nhằm bơi móc chuyện đời tư của nhau. Xóa hết thì không được, mà đọc hết thì cũng không xuể. Thôi thì đành chịu mất giờ để mà chắt lọc những tinh túy từ cái đám vàng thau lẫn lộn ấy vậy!
Thời buổi này, cái “biển” thông tin và kiến thức hầu như đã trở thành vô tận. Chuyện gì con người cũng có thể biết và muốn biết. Nhưng một trong những nghịch lý lớn nhứt của thời đại ngày nay mà người ta thường quên: vốn liếng về kiến thức và hiểu biết thì gia tăng, nhưng sự khôn ngoan thì xem ra không những không tiến tới mà còn lùi lại. Mà kiến thức và hiểu biết thì không mấy khi tỷ lệ thuận với sự thanh thản bình an, nếu không muốn nói là ngược lại.
Người ta có thể biết rất nhiều điều trên trời dưới đất nhưng lại chẳng chịu bỏ công tìm hiểu thế giới nhỏ bé của chính mình. Người ta có thể ngồi trước màn ảnh để đọc tin suốt ngày nhưng lại không thể “đọc” được một chút ý nghĩ của người đối diện. Người ta có thể có nhiều kiến thức nhưng lại không có khả năng để hiểu được những u uẩn trong ánh mắt của người thân. Người ta có thể biết tên tuổi của rất nhiều người trên trái đất này nhưng lại không biết cái người hàng xóm của mình mặt ngang mũi dọc ra sao. Và lắm khi người ta có thể theo dõi từng giây phút vui buồn của nhiều minh tinh nổi tiếng mà lại không hề hay biết rằng chính mình đang chung giường với “kẻ thù”.
Và nhứt là dù có biết nhiều đến bao nhiêu người đi nữa, mấy ai tránh được cái cảnh: “Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa trần có mấy người đưa?” (Bài không tên số 4, Vũ Thành An)
Khi bị yêu cầu làm một việc gì, trẻ nhỏ thường vặn lại: “Mà để làm gì?” Và chúng chỉ bị thuyết phục khi người lớn đưa ra được câu trả lời hợp lý. Với “cơn bão” thông tin ngày nay, có lẽ câu hỏi đơn sơ này của trẻ nhỏ có thể giúp tôi không bị “cuốn theo chiều gió”.  
Xét cho cùng, có được một tâm hồn bình an, thanh thản và nhẹ nhàng để biết được điều gì là quan trọng nhứt trong cuộc đời này phải chăng không là lẽ khôn ngoan cần tìm kiếm hơn bất cứ kiến thức và sự hiểu biết nào!








Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Quyền lực và cảm thông


Chu Thập
13.3.15

Tôi chưa từng cầm súng đánh giặc. Cả đời tôi chưa bắn một viên đạn nào vào bất cứ ai. Tất cả những cảnh bắn giết, đâm chém hay chiến tranh nói chung, đều đi vào tâm cảnh của tôi xuyên qua phim ảnh, tài liệu lịch sử cũng như hư cấu. Có những cảnh, mặc dù hoàn toàn được dàn dựng lại, cũng vẫn rùng rợn và hãi hùng đối với tôi. Sự sống con người, dù là người lương thiện hay tên độc ác, một khi bị cướp đi, dường như không để cho người khác được yên. Hình như ánh mắt vô hình của người đó vẫn mãi nhìn vào tận đáy thẳm lương tâm của ai đó.
Mậu Thân năm 1968, đúng ngày 1 tháng Hai, giữa thủ đô Sài Gòn, trong chiến dịch càn quét tàn binh cộng sản sau vụ tổng tấn công, tướng Nguyễn Ngọc Loan, người đang nắm trong tay 3 cơ quan an ninh quan trọng là Cục An ninh Quân đội, Tổng nha Cảnh sát Quốc gia, Phủ đặc ủy Trung ương Tình báo, đã dùng khẩu súng lục “38 Special Smith&Wesson” để xử tử tên đặc công Việt cộng Nguyễn Văn Lém có biệt danh Bảy Lốp. Cuộc xử tử đã được nhiếp ảnh gia Eddie Adams của hãng thông tấn AP thu hình. Chỉ trong tích tắc đồng hồ, bức ảnh đã được truyền đi khắp thế giới. Tướng Loan nhận được hỗn danh “tên sát nhân man rợ”. Năm 1969, nhiếp ảnh gia Adams nhận được giải thưởng Pulitzer. Kể từ đó, tên tuổi của Tướng Loan đã bị vùi dập trong đống tro của tủi nhục và ít hay nhiều, bức hình ấy đã góp phần làm sụp đổ Miền Nam Việt Nam. Về sau, nhiếp ảnh gia Adams đã viết trên báo Time: “Ông tướng đã giết tên Việt Cộng. Tôi đã giết ông tướng bằng chiếc máy ảnh của tôi. Các bức ảnh vẫn còn là vũ khí hùng mạnh nhứt trên thế giới. Người ta tin ở những bức ảnh, bởi vì cho dẫu không chút lèo lái, chúng vẫn nói dối. Những bức ảnh chỉ nói lên một nửa sự thật. Điều mà bức ảnh (tướng Loan xử tử người đặc công Việt Cộng) không nói lên là: “ Bạn sẽ làm gì nếu bạn ở vào không gian và thời gian của ông tướng vào lúc đó và bạn đã bắt được tên gian ác sau khi hắn đã hạ sát một, hai hoặc ba ngưới lính Mỹ?” Nhiếp ảnh gia Adams đã lên tiếng xin lỗi Tướng Loan và gia đình của ông vì những thiệt hại mà bức ảnh do ông chụp được đã gây nên cho uy tín của ông tướng này.
Có lẽ bất cứ người dân Miền Nam chống cộng nào cũng đều bày tỏ một sự cảm thông như thế đối với Tướng Loan. Tên Việt Cộng Bảy Lốp không chỉ hạ sát một, hai hoặc ba người lính Mỹ như nhiếp ảnh gia Adams đã giả định. Ông ta đã sát hại không biết bao nhiêu thường dân vô tội. Tướng Loan chắc chắn đã nghĩ đến máu của những người ấy khi cầm khẩu súng lục trên tay và nhìn vào bộ mặt gian ác của tên Bảy Lốp. Nhưng khổ nỗi, thế giới đã không tự đặt mình vào địa vị của Tướng Loan để hiểu được tâm trạng của ông trong lúc đó cũng như không biết bao nhiêu người dân Miền Nam Việt Nam đã phải hứng chịu hay chứng kiến không biết bao nhiêu hành động tàn sát dã man của những người cộng sản.
Thế giới bên ngoài đã không thể có cái nhìn của phần lớn người Việt Nam lúc đó. Đối với thế giới, cầm súng xử tử một người, dù là một tên ác ôn côn đồ mà không thông qua một phiên tòa hợp pháp nào, là một hành động dã man.
Một hành động xem ra rất chính đáng của Tướng Loan vào lúc đó mà còn bị thế giới lên án, huống chi là những cảnh hành quyết man rợ mà các tổ chức Hồi giáo cực đoan như “Quốc gia Hồi giáo” ở Trung Đông đang thực hiện. Nhưng thế giới không chỉ lên án những hành động man rợ, mà còn kêu gọi chấm dứt bất cứ hành động nào xúc phạm đến sự sống con người. Thế giới ngày càng nhận ra được tính thánh thiêng sự sống con người.
Sự tiến bộ của nhân loại không hẳn chỉ được đo lường bằng văn minh vật chất, mà thiết yếu bằng ý thức ngày càng gia tăng về dân chủ và nhân quyền, trong đó quan trọng nhứt là quyền được sống. Bất cứ hành động xúc phạm nào đến sự sống con người, dưới bất cứ hình thức nào, cũng đều bị xem là ghê tởm. Chính vì thế mà ngày nay trên thế giới đã có khoảng 160 quốc gia hoặc đã hoàn toàn bãi bỏ án tử hình hoặc nếu còn duy trì thì cũng không thi hành bản án. Một số nhỏ các quốc gia duy trì án này đối với các tội phạm chiến tranh và nhiều nước khác từ 10 năm qua đã không còn thi hành án này. Theo tổ chức “Harm Reduction International” (một tổ chức kêu gọi  bãi bỏ án tử hình) 2 phần 3 các nước chỉ còn duy trì án tử hình vì tội buôn bán ma túy. Nhưng không phải tất cả các nước này đều thi hành bản án. Tính cho đến năm 2012, chỉ có từ 12 đến 14 nước thi hành án tử hình đối với những người buôn bán ma túy. Trung Quốc, Iran, Việt Nam, Á Rập Saudi, Singapore và Mã Lai là 6 nước có tỷ lệ xử tử những người buôn bán ma túy cao nhứt.
Dù vậy, theo một số chuyên gia, không có bằng chứng nào cho thấy án tử hình làm giảm tội ác. Xuất hiện trong chương trình “Fact Check” (kiểm chứng sự kiện) của Đài ABC Úc Đại Lợi, Ông Jeffrey Fagan, một giáo sư luật tại Đại học Columbia, Hoa Kỳ, nói rằng không có bằng chứng nào cho thấy án tử hình hạ giảm tội ác. Theo ông, các cuộc hành quyết chỉ thỏa mãn đòi hỏi báo thù mà thôi.
Lập trường của Giáo sư Fagan cũng được hầu hết các nhà nghiên cứu về tội phạm chia sẻ. Theo một cuộc nghiên cứu do Hội “American Criminology Society” (chuyên nghiên cứu về tội phạm) thực hiện hồi năm 2009, có trên 88 phần trăm những nhà chuyên môn trong lãnh vực này không hề tin rằng án tử hình hạ giảm tội ác.
Một số chuyên gia trong lãnh vực này đã làm một cuộc so sánh giữa Singapore và HongKong. Theo cuộc nghiên cứu, vào giữa thập niên 1990, Singapore được xếp vào hạng những nước có tỷ lệ thi hành án tử hình cao nhứt thế giới. HongKong đã bãi bỏ án tử hình vào năm 1993. Những người thực hiện cuộc nghiên cứu kết luận rằng “trong 35 năm qua, nghĩa là kể từ năm 1973, con số các vụ sát nhân tại hai thành phố này giống nhau”. Điều này có nghĩa là án tử hình xem ra không ảnh hưởng đến sự sụt giảm của tội ác. Nếu người ta chỉ nhìn vào hiện trạng xã hội của riêng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì điều này lại càng đúng hơn. Dù cho án tử hình vẫn còn được duy trì và thi hành, dù cho Việt Nam có được xếp vào 6 nước có tỷ lệ thi hành án tử hình cao nhứt thế giới, tội ác dường như lại gia tăng theo tỷ lệ thuận với việc thi hành án này. Ai cũng thấy những người cộng sản Việt Nam đang diễn một bi hài kịch tồi tệ nhứt: chính những tên tội đồ lại rêu rao ngăn ngừa tội ác! Chính những tên tham nhũng lại hùng hổ mở chiến dịch bài trừ tham nhũng! Xã hội ngày càng băng hoại, lỗ hổng đạo đức ngày càng bị khoét sâu, tội ác ngày càng gia tăng...Liệu có thể cải tạo xã hội bằng cách bắn bỏ vài “con cá nhỏ” hay những con tép riu do chế độ tàn ác sản sinh và chỉ sống nhờ vào một chút cặn bã do những tên đồ tể từ trên thải ra không?
Hình ảnh của hai tử tội người Úc Andrew Chan và Myuran Sukumaran hiện đang trong cơn hấp hối từng ngày trong hành lang tử thần ở Nam Dương đã gợi lên trong hầu hết người dân Úc trong đó có tôi sự thương cảm. Dĩ nhiên, trước hết tôi không thể không nghĩ đến không biết bao nhiêu nạn nhân của ma túy trong xã hội Úc hiện nay. Tôi rất thông cảm với bà mẹ Úc nào đó ở Melbourne có người con gái 17 tuổi chết tất tưởi vì sử dụng ma túy, cho nên mới ủng hộ việc hành quyết hai tử tội này. Nhiều gia đình Việt Nam mà cuốn phim tài liệu có tựa đề “Once upon a time in Cabramatta” đã khơi lại vết thương không bao giờ lành do tệ nạn ma túy gây ra, có lẽ cũng chỉ mong cho những kẻ phạm tội ác phải đền tội. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến nỗi đau mất con của bà mẹ của người thanh niên Nguyễn Tường Vân, bị Singapore treo cổ ngày 2 tháng 12 năm 2005 chỉ vì mang trong mình đúng 396.2gr “heroin”.
Và dĩ nhiên, cứ mỗi lần nhìn nỗi đau mà không bút mực nào có thể diễn tả được của hai bà mẹ của hai tử tù Chan và Sukumaran, cũng như hầu hết mọi người dân Úc và Quốc hội Úc, tôi chỉ biết thầm mong sao cho Tổng thống Joko Widodo của Nam Dương mở lượng ân xá cho họ.
Tôi rất khâm phục Tổng thống “Jokowi”, tên gọi thân quen  mà  dân chúng Nam Dương vẫn thường dành cho ông. Xuất thân từ một gia đình nghèo, ông đã cố vươn lên và chứng minh cho người dân Nam Dương thấy rằng với ý chí con người có thể “vượt qua số phận của mình”. Cùng với thông điệp lạc quan này, tân tổng thống Nam Dương cũng nêu cao tinh thần phục vụ qua cung cách và cuộc sống bình dân của ông.
Nhưng sự kiện ông ra lệnh biểu dương tối đa lực lượng của Nam Dương trong việc áp tải hai tử tội Úc ra đảo Nusakambangan để chờ bị hành quyết khiến tôi thất vọng. Có cần phải sử dụng máy bay chỉ dành riêng cho tổng thống, có cần phải có cả một lực lượng cảnh sát hùng hậu, có cần phải cho chiến đấu cơ và tàu chiến...biểu dương lực lượng trong việc đưa hai tử tội đến chỗ hành quyết không?
Với dân số đứng hàng thứ tư trên thế giới, với tài nguyên thiên nhiên phong phú, với một nền kinh tế đang lên, Nam Dương hiện là thành viên của Câu lạc bộ gồm 20 nước có nền kinh tế mạnh nhứt thế giới. Là một nước Hồi giáo lớn nhứt thế giới, Nam Dương có lý do để tự hào là một nước mạnh.
Nhưng liệu đó có phải là sức mạnh đích thực mà một quốc gia hay một nguyên thủ quốc gia cần phô trương không?
Theo dõi những diễn biến trong tư cách của hai tử tù Chan và Sukumaran trong gần 10 năm qua và nhứt là lắng nghe chứng từ của các tù nhân cũng như những người đã từng tiếp xúc với họ, tôi thấy họ cũng đã cố gắng từng ngày để  “vượt qua số phận” và chứng tỏ sức mạnh của sự hoán cải. Đây là điều mà người tử tù Sukumaran đã muốn nhắn gởi cho tổng thống Jokowi. Anh đã vẽ chân dung của vị nguyên thủ quốc gia Nam Dương và ký tên kèm theo hàng chữ “con người có thể thay đổi”(people can change).
Tôi rất tự hào được làm công dân Úc. Không phải vì Úc Đại Lợi giàu mạnh, mà vì một sức mạnh mà sự thịnh vượng vật chất không đương nhiên mang lại. Sức mạnh đó đã được biểu lộ qua những cuộc thắp nến cầu nguyện cho hai tử tù Chan và Sukumaran. Tôi vẫn ghi nhớ mãi hình ảnh của tất cả các dân biểu và thượng nghị sĩ Liên bang tay cầm nến, giữ giây phút thinh lặng để không chỉ nhắn gởi đến chính phủ Nam Dương thỉnh cầu ân xá cho hai người tử tội, mà còn bày tỏ sự cảm thông và nhứt là sự tôn trọng đối với mạng sống con người.
Nếu phải ghi nhớ bước tiến lớn nhứt của nhân loại  thì tôi nghĩ bước tiến đó phải là ý thức về sự thánh thiêng của sự sống con người. Và nếu phải đi tìm sức mạnh đích thực cho thế giới ngày nay, tôi không thể không nghĩ đến sự cảm thông.