Thứ Ba, 17 tháng 2, 2015

Trăm Tuổi Bạc Đầu Râu



                                                                                Chu Thập

Lúc còn nhỏ, mỗi năm đến dịp Tết, mẹ tôi thường dạy cho tôi một công thức phải học thuộc lòng để gọi là đi “mừng tuổi”. Được mặc quần áo mới, được mang giày hay xanh-đan ít nhứt một lần vào dịp đầu năm và nhứt là được lì xì, đứa trẻ nào mà chẳng thích đi “mừng tuổi”. Sau khi thực tập một vòng trong nhà với ông bà, cha mẹ, các anh các chị và dĩ nhiên với cái túi cũng tương đối được rủng rỉnh, chúng tôi mới bắt đầu đi “xông đất” những gia đình bà con, láng giềng. Người đầu tiên mà lũ trẻ xóm giáo chúng tôi phải làm nghĩa vụ “chúc tết” là cha mẹ đỡ đầu. “Cha mẹ đỡ đầu” là người được cha mẹ nhờ “cầm đầu” đứa bé sơ sinh khi nó được mang đến nhà thờ để chịu phép rửa và gia nhập vào Giáo hội Công giáo. Chúng tôi còn gọi cha mẹ đỡ đầu là “vú bõ”. Ông “bõ đỡ đầu” của tôi đi lập nghiệp ở xa cho nên tôi được miễn lễ. Nhưng ở trong cái thôn làng mà mọi người đều có giây mơ rễ má với nhau, đi làm nghĩa vụ “mừng tuổi” hết một vòng từ đầu trên đến cuối xóm có khi cũng mất cả ngày mùng Một Tết. Dĩ nhiên, mặc dù đi làm nghĩa vụ, nhưng lũ trẻ chúng tôi không cảm thấy bị bó buộc và khổ sở như khi phải cắp sách đến trường hay đi học giáo lý. Trái lại là khác. Ai cũng cảm thấy vui sau một lần vào xông đất và đọc xong cái công thức “mừng tuổi”. Lũ trẻ vui vì được lì xì, mà tôi cũng nghĩ rằng người lớn càng vui hơn vì được “mừng tuổi”.
Bây giờ, bước vào cái tuổi thích ôn lại những kỷ niệm của tuổi thơ và nhớ chuyện “đời xưa”, tôi mới nhận thấy ông bà trong cái thôn làng nhỏ ở miền Trung chúng tôi  có một triết lý thật thâm thúy khi nghĩ ra hai chữ “mừng tuổi”. Ngày nay, theo văn hóa Tây Phương, người Việt nam ngoài cũng như trong nước đều biết mừng “sinh nhựt”. Đến ngày sinh mà không nhớ là cả một thiếu sót lớn lao, có khi còn dẫn đến cả thảm kịch gia đình nữa. Nhưng ngày xưa, có lẽ cha mẹ tôi cũng chẳng biết các ngài sinh vào ngày nào. Cùng lắm họ chỉ nhớ mình cầm tinh con vật nào đó trong 12 con giáp mà thôi. Ngay cả như tôi, mỗi lần tôi hỏi ngày sinh tháng đẻ chính xác của tôi thì cha mẹ tôi chỉ nói một cách lờ mờ vào khoảng cuối năm con chó. Dựa vào “biên bản thế vì khai sinh” mà kiểm chứng thì cũng chẳng đi tới đâu, bởi vì cũng như người tự xưng là “Bác Hồ”, cha tôi cũng chế cho tôi một ngày sinh tháng đẻ đại khái gần với khoảng cuối năm chó cho xong chuyện.
Điều quan trọng đối với ông bà ngày xưa không phải là ngày sinh tháng đẻ, mà là cái tuổi mà mình phải nhớ mỗi dịp Tết đến. Ngày để nhớ không phải là ngày sinh mà là ngày Tết. Ngày Tết là “Ngày sinh nhựt chung” của mọi người. Cứ đến Tết là thêm một tuổi. Riêng tôi, vì sinh gần cuối năm, cho nên mới có mấy tháng mà tôi đã được những hai tuổi. Cho nên “mừng tuổi” là phải!
Người dân làng tôi “mừng tuổi” bởi vì người có tuổi lúc nào cũng được kính trọng. Bất kể giàu sang hay nghèo hèn, thông minh hay đần độn, quan quyền hay bần cố nông…hễ có tuổi là hơn người khác. Có lẽ vì vậy mà lúc nhỏ, cứ mỗi dịp Tết đến, tôi cũng thường đưa cái tuổi “nhảy vọt” đến hai bước của tôi ra mà hù dọa mấy đứa trẻ khác. Cứ như nhiều tuổi hơn là mạnh hơn, giỏi hơn, đáng nể hơn vậy. Mà thật vậy, trong cái làng quê của tôi, cứ càng thêm tuổi là càng được trọng nể. Vào cái thời mà tuổi thọ trung bình của người Việt nam chưa quá 40, có những người chỉ mới 60 đã lên hàng cụ ông cụ bà hay bậc tiên chỉ đáng kính trong làng. Chính vì vậy mà hình ảnh của các cụ già râu tóc bạc phơ và lời dạy “kính lão đắc thọ” vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi cho đến bây giờ. Ngày nay, dù sống trong xã hội nào, tôi vẫn luôn xem tuổi già là một giai đoạn “thánh thiêng” trong cuộc sống con người. Với tôi, không cần biết tư cách của người đối diện, hễ hơn tôi một tuổi là người đáng tôi kính trọng.
Mỗi lần cầm trên tay một tờ báo tiếng Việt, tôi thường mở xem trước tiên các trang cáo phó và phân ưu. Tôi xem để đồng cảm trong nỗi mất mát chung của người Việt xa xứ, nhưng cũng để “mừng tuổi thọ” ngày càng cao của người Việt. Và dĩ nhiên, mỗi dịp Tết đến, niềm vui vì tuổi già ngày càng thọ của người Việt cũng như niềm kính trọng đối với tuổi già cũng luôn được khơi dậy trong tôi. “ Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu”, câu thơ này của ông Trần Tế Xương, dù có ý trào phúng đến đâu, cũng gợi lên niềm mong ước chân thực của người Việt nam: người Việt nam mong được sống thọ chứ không phải mong được “trường sinh bất tử” hay “cải lão hoàn đồng”.
Nhưng có lẽ không riêng gì người Việt nam, mà người Á đông nói chung cũng đều quý tuổi thọ hơn là sự trường sinh bất tử. Sự khôn ngoan mà tuổi già là một biểu tượng, được người Á đông tìm kiếm hơn là trường sinh bất tử. Có lẽ vì muốn đề cao sự minh triết ấy của tuổi già mà tác giả bộ “Tây Du Ký”, ông Ngô Thừa Ân, đã cho cái đám đệ tử “mất dạy” của Thày Tam Tạng là Tôn Hành Giả, Sa Tăng và Bát Giới “đại náo” tại Miếu Tam Thánh để quấy phá một nhóm đạo sĩ đang khấn vái cầu kinh để xin “nước trường sinh”. Nước “kim đơn để sống lâu” thì không thấy đâu, mà chỉ  toàn là “nước tiểu” của ba cái tên súc sinh này.
Nhưng thâm thúy hơn phải là câu chuyện cổ tích về “Suối Trường Sinh” của người Nhựt Bản. Chuyện kể rằng đảo Miya Jima của Nhựt Bản xưa kia là môt hòn đảo nổi tiếng linh thiêng. Dân ở đảo này hầu như không có quyền chết.
Trong số dân cư ngụ trên đảo có hai vợ chồng người tiều phu già, hết sức già. Họ được cả làng yêu mến và trọng nể. Ai nấy đều khen sự kiên nhẫn và lòng chung thủy của hai người. Cũng như mọi người, cuộc sống của cặp vợ chồng già này cũng được dệt bằng vô số niềm vui và nỗi khổ. Vui vì họ liên tiếp sinh được ba người con trai. Nhưng buồn khổ nhứt là cả ba người con trai này đều bị chết trong một ngày vì nghề đánh cá.
Trong tuổi già, hai người chỉ biết lấy sự kính yêu làm nguồn an ủi duy nhứt cho những ngày còn lại. Mỗi người đều muốn làm cho người kia bớt đau khổ. Dần dà tâm hồn họ được bình thản trở lại. Hai cụ già thường nghiền ngẫm câu nói quen thuộc của người Nhựt: “Khi hoa anh đào đã tàn, không phải lấy sự tiếc thương mà làm cho hoa nở lại được.”
Giờ đây, hai ông bà đã già lắm; họ già như những con đồi mồi cổ kính. Người chồng thì da nhăn nheo, chân tay run lẩy bẩy trong khi tóc và lông mày của người vợ cũng đã rụng nhẵn. Người dân trong đảo thường gặp hai ông bà bước đi chậm rãi, theo phong tục của người Nhựt, chồng đi trước vợ đi sau. Nhìn chung, mọi người trên đảo đều nhìn nhận rằng đây là một cập vợ chồng già hạnh phúc. Họ biết gác ra ngoài những nỗi khốn khổ của loài người để hưởng cuộc sống yên tĩnh, an bình và tình yêu đối với nhau.
Dù vậy, họ vẫn còn một mối sầu vương vấn trong tâm hồn. Ai cũng nghĩ rằng: nếu có một người phải ra đi trước thì kẻ ở lại phải đau khổ biết chừng nào. Nghĩ như thế cho nên họ mơ ước được còn trẻ để sống bên nhau lâu dài hơn; đời sống của họ sẽ trở nên thơ mộng biết bao!
Thế rồi, một ngày mùa Thu nọ, không rõ do một sự thôi thúc huyền bí nào đó, người chồng đi về phía rừng một mình. Đây là nơi mà trước kia ông đã từng làm nghề đốn củi. Giờ đây, ông chỉ muốn nhìn lại cây cối một lần trước khi nhắm mắt lìa đời. Nhưng khi đến nơi, ông không còn nhận ra phong cảnh ngày xưa nữa. Ngay cửa rừng, ông không còn thấy cây phong to lớn, với lá đỏ nổi bật giữa đám thông xanh mỗi khi mùa Thu đến nữa.
Sau một hồi đi bộ, ông lão cảm thấy khát nước. Thấy có dòng suối trong xanh ngay cạnh lối đi, ông liền đưa tay vốc nước lên và uống. Liền sau đó, nhìn bóng mình trong dòng suối, ông không còn nhận ra mình nữa: tóc ông trở nên đen nhánh, mặt không còn lấy một vết nhăn và các bắp thịt săn chắc lại. Ông thấy mình biến thành một chàng thanh niên tuổi đôi mươi. Thì ra, ông lão đã vô tình uống nước nơi nguồn suối “trường sinh”.
Khỏe mạnh, vui tươi, đầy nhựa sống, con người “cải lão hoàn đồng” hay “trẻ mãi không già” này cảm thấy thơ thới, yêu đời và vội vã trở về. Thấy có người thanh niên bất thần xuất hiện trong nhà, bà lão sợ hãi đến chết đứng.
Nhưng sau khi được người chồng giải thích, bà lão cảm thấy sung sướng hơn ai hết. Thế là ngày mai, bà cũng vào rừng để uống cho bằng được nước suối trường sinh ấy. Nhưng bà đi mãi mà không bao giờ trở về. Không biết điều gì đã xảy ra cho vợ, người chồng liền chạy vào rừng. Người thanh niên nghe thấy tiếng nước suối chảy, mà không thấy vợ mình đâu cả.  Bỗng có một tiếng rên nho nhỏ từ đâu vọng lại. Anh đi đến gần bờ suối và ngạc nhiên vô cùng khi thấy giữa một đám cỏ cao có một đứa bé con chừng vài tháng đang giơ tay về phía anh với vẻ thất vọng. Đôi mắt êm dịu của đứa bé cho anh biết đấy chính là vợ anh. Thì ra, đã được trẻ lại, người vợ còn muốn trẻ hơn chồng cho nên đã uống quá độ và biến thành một hài nhi.
Người chồng buồn bã bồng đứa bé lên và đưa về nhà. Nước suối trường sinh đã cướp mất người vợ của anh và cũng lấy đi niềm vui được sống bên nhau của đôi vợ chồng già. (xem Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Cái Cười của Thánh nhân)
Người nghĩ ra câu chuyện cổ tích trên đây có lẽ muốn nhắn gởi với chúng ta rằng tuổi nào cũng có cái vẻ đẹp và giá trị riêng của nó. Cách riêng, tuổi già là tuổi đáng “mừng” và trân quý nhứt.
Về điểm này, tôi rất tâm đắc với những suy tư của một người Á đông nổi tiếng là ông Lâm Ngữ Đường. Ông đưa ra nhận xét rằng Tây Phương và Đông Phương đều có quan niệm và thái độ giống nhau về một số vấn đề cơ bản như quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, về tự do cá nhân, về dân chủ, về quan hệ giữa nhà cầm quyền và dân chúng. Nhưng theo ông, quan niệm và thái độ của người Tây Phương và Đông phương đối với người già và tuổi già thì hoàn toàn khác hẳn. Ở Á đông, đặc biệt là tại các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, khi hai người mới quen nhau, sau khi hỏi tên họ nhau rồi, họ liền hỏi tuổi của nhau. Chắc chắn đây là một điều cấm kỵ đối với người Tây Phương. Sở dĩ người ta tránh hỏi tuổi nhau là bởi người ta sợ “tuổi già” và cũng sợ cả người già. Tại Trung Hoa, những ông lão hành khất, râu tóc bạc phơ cũng được đối đãi một cách đặc biệt. Càng thêm tuổi thì càng tổ chức “ăn mừng” trọng đại hơn.
Ông Lâm Ngữ Đường  còn đưa ra một nhận xét khác khá lý thú về xã hội Mỹ. Theo ông, sở dĩ người già ở Mỹ vẫn tiếp tục làm lụng hăng hái là vì họ theo chủ nghĩa cá nhân một cách thái quá; họ muốn độc lập vì cho rằng nhờ vả con cái là một tủi nhục. Tác giả viết rằng trong rất nhiều quyền cơ bản của con người được ghi vào Hiến Pháp Hoa Kỳ, có một quyền không được nhắc đến đó là quyền “được con cái phụng dưỡng”. Ông lập luận rằng nếu cha mẹ đã làm việc để nuôi dạy con cái, đã mất ăn mất ngủ khi chúng đau ốm, đã phải nuôi nấng chúng trong một phần tư thế kỷ, thì tại sao khi về già họ lại không có quyền được con cái phụng dưỡng?
Ngày nay, nhứt là khi đang sống trong các xã hội Tây Phương,có lẽ nhiều người không đồng ý với quan niệm về “quyền được con cái phụng dưỡng” do ông Lâm Ngữ Đường đề nghị. Nhưng  cái nhìn về tuổi già của ông thì thật là thâm thúy: “Điểm quan trọng là ai cũng muốn sống lâu và nếu trời cho sống lâu thì sẽ tới một thời phải già…Ta phải tổ chức đời sống của ta như thế nào để thời kỳ vui vẻ nhất trong đời sẽ thuộc về tuổi già ở trước mặt ta, chứ không thuộc về tuổi thơ ở sau lưng ta…Đã không chống nổi với luật tự nhiên thì sao chẳng thuận theo tự nhiên mà hưởng lạc trong tuổi già?”(Lâm Ngữ Đường, Một Quan niệm về Sống Đẹp, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, trg 173)
Với quan niệm “kính lão đắc thọ”, tôi xin được trở lại làm đứa trẻ nhỏ như mấy chục năm trước, trông chờ ngày Tết, mang giày mới, áo mới, tóc tai sạch sẽ, theo “công thức” mẹ dạy, khoanh tay, cúi đầu “mừng tuổi” tất cả các vị cao niên Việt nam trong và ngoài nước: “Dồi dào sức khỏe, tâm hồn an lạc và sống lâu trăm tuổi.”
 Tết 2011







Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2015

Tôi ăn Tết



                                                                        Chu Thập,Tết 2010



Từ ngày bỏ nước ra đi, do không được sống gần các cộng đồng người Việt hải ngoại, tôi ít có dịp “mừng” những ngày Tết  truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, mỗi dịp đầu năm Âm lịch, tôi cũng “ăn Tết” theo cách thế riêng của tôi.
Ngôn ngữ Việt nam thật độc đáo: chúng ta không “cử hành” hay “mừng” ngày đầu năm, mà lại nói “ăn tết”.
Ai cũng có quyền tự hào về ngôn ngữ của dân tộc mình. Mỗi ngôn ngữ đều có cái “hồn” và nét độc đáo riêng mà không một ngôn ngữ nào có thể thay thế được.
Một trong những nét độc đáo của tiếng Việt hẳn phải là “âm điệu” của nó. Với tai người ngoại quốc, thì người Việt nam nói nghe như “hát”. Lần đầu tiên ra chợ, nghe hai bà bán cá cãi nhau, người ngoại quốc tưởng họ đang hát là chuyện có thật! Ngay cả khóc lóc ở nghĩa trang mà cũng còn có vần có điệu nữa là!
Một tác giả (không rõ là ngoại quốc hay Việt nam) ký tên là Rene Pazzi đã viết một cuốn sách có tựa đề “Người Việt đáng yêu”, trong đó ông nói đến tinh thần uyển chuyển và tế nhị của ngôn ngữ Việt như sau: “Ngôn ngữ Việt nam là ngôn ngữ duy nhất trên thế giới có nhiều giọng điệu cung bậc…
Phải nghe người dân mỗi miền, người Bắc, hay Trung, hay Nam hát những dân ca quen thuộc với tiếng nói thuần túy và giọng thuần túy của họ, chúng ta mới thấy ý vị của giọng nói ấy đậm đà chừng nào.
Sự phong phú trong âm thanh lại được thay đổi qua nhiều miền đất của quê hương họ…
Nếu phải tô mầu các giọng nói ấy, người ta có thể vẽ một bản đồ Việt nam thật đẹp.Có miền mầu xanh, có miền mầu hồng, có miền mầu trắng, có miền mầu vàng, đấy là chưa nói mức độ đậm lợt khác nhau…” (x. Doãn Quốc Sỹ,  Người Việt đáng yêu)
Sau năm 75, nhiều người đã có lý để nói rằng tiếng Việt đã bị “hãm hiếp” vì bị o ép đến độ mất đi âm điệu của nó. Trước kia, người Việt đâu có nói cộc lốc như “ăn tốt”, “làm tốt”, “học tốt”…mà luôn đệm vào đàng sau chữ “tốt” cái âm thanh “lành” “đẹp” cho nó êm tai. Trước kia, người ta cũng chả nói “học sinh trai”, “học sinh gái”, “bộ đội gái”… “Nam sinh, nữ sinh, nữ quân nhân” nghe nó chẳng êm tai và tôn trọng hơn sao?
Về những từ hay âm điệu được ghép vào chữ “ăn”, thì quả thật chẳng có ngôn ngữ nào phong phú cho bằng tiếng Việt. Giở bất cứ quyển tự điển tiếng Việt nào, tôi cũng đếm được gần 60 từ kép có chữ ăn: từ “ăn chay, ăn chận, ăn chẹt, ăn chơi, ăn gian, ăn hại đến ăn mặc, ăn nằm, ăn sương, ăn nắng…”
Người Việt nam quả có óc sáng tạo trong ngôn ngữ. Ngày nay ở Việt nam, ở đâu cũng thấy có hai chữ “văn hóa”, từ khu phố văn hóa, làng văn hóa, nhà văn hóa đến văn hóa ứng xử, văn hóa ăn uống, văn hóa chửi…Ngay cả như chữ “ôm” cũng được cho “ôm” vào bất cứ những gì có thể “ôm” được. Trước năm 75, người Việt nam chỉ nghe nói đến “xe ôm” hay cùng lắm là “bia ôm”, nay lại có cả “thịt chó ôm”, “hớt tóc ôm”, “ngủ trưa ôm”…đủ thứ “ôm”.
Nhưng đó là những “sáng tạo” mới trong ngôn ngữ Việt nam. Riêng động từ “ăn” thì ngay từ ngàn xưa, ông bà tổ tiên chúng ta đã biết chế biến để nó có thể đi với bất cứ từ nào.
Trong bài viết có tựa đề “Miếng ăn trong văn hóa Việt nam” (xem Việt luận 20/10/09), nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc nói rằng “hình như” “dân tộc Việt nam chỉ có một ám ảnh lớn: Ăn”. Theo tác giả, bảo rằng văn hóa Việt nam quá coi trọng miếng ăn thì có vẻ hơi kỳ nhưng không chừng đó lại là sự thật. Và tác giả đưa ra một số bằng chứng cho luận đề của ông như: muốn truyền ngôi cho con, vua Hùng đã cho tổ chức thi nấu ăn để xem người nào làm được món ăn ngon nhứt; ông Thánh Gióng nhờ ăn mà lớn như thổi để, từ một đứa bé, biến thành một trang thanh niên khôi ngô, dũng cảm; trong tín ngưỡng dân gian Việt nam, cúng, tức dọn món ăn cho người chết, là chuyện rất phổ biến; ông thần được chú ý tới nhiều nhứt là Vua Bếp, tức ông Táo…
Người Việt nam quả “coi trọng” miếng ăn.
Hình ảnh tôi vẫn giữ mãi trong ký ức của tuổi thơ đó là cảnh hàng hàng lớp lớp những bà mẹ quê ngay từ sáng sớm đã gánh gồng đi qua hằng bao nhiêu cây số đến chợ, trao đổi, mua bán để rồi mãi đến gần trưa mới trở về nhà lo miếng cơm cho chồng con. Suốt một ngày sinh hoạt, người mẹ quê chỉ quanh quẩn trong xó bếp. Miếng ăn quả đã chiếm hầu hết thời giờ của người dân quê. Người dân quê làm để có cái ăn và ăn để có đủ sức làm. Lẩn quẩn trong cái vòng “ làm ăn” ấy cho nên có bảo rằng người Việt nam “xem trọng” cái ăn cũng chẳng phải là “cường điệu” chút nào.
Tuy nhiên, lo toan cho cái ăn, xem trọng cái ăn, nhưng người Việt nam vẫn luôn đề cao cảnh giác bởi vì “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Xung quanh bàn ăn, ông bà tổ tiên chúng ta đã phát huy được một thứ minh triết thật sâu sắc: chính xuyên qua cái ăn mà con người thể hiện tư cách làm người của mình. Cái ăn, như tác giả Nguyễn Hưng Quốc ghi nhận, chỉ “cách xử thế”. Chính vì thế mà chúng ta mới nói đến chuyện “ăn trên ngồi trốc, ăn cháo đá bát, ăn xổi ở thì hay cố đấm ăn xôi”. Vì tư cách con người và cách đối nhân xử thế được thể hiện qua cái ăn và cách ăn, mà ông bà tổ tiên chúng ta mới coi “học ăn” là bài học vỡ lòng quan trọng nhứt trong các thứ học: học ăn rồi mới tới học nói, học gói, học mở…Lớn lên thì cũng phải giữ ý tứ để biết “ăn coi nồi  ngồi coi hướng”.
Vì cái ăn thể hiện tư cách con người cho nên đối với ông bà tổ tiên chúng ta, bàn ăn, chỗ ăn, lúc ăn đều được xem là “thánh thiêng”. Trời đánh mà cũng phải tránh bữa ăn thì đủ biết cái ăn của người Việt nam đáng trân trọng như thế nào. Ngồi xếp bằng trên bộ ván gỗ, trên chõng tre, trên bàn ăn hay ngồi chồm hổm dưới đất, người Việt nam qui tụ trong bữa ăn là để “chia sẻ” cho nhau. Một nhà thừa sai ngoại quốc nọ nói rằng hình ảnh đẹp nhứt trong bữa ăn của người Việt nam chính là cái cảnh mọi người cùng chấm chung một chén nước mắm, cùng xẻ chung một con cá trong một dĩa, cùng chan chung một bát canh…Ăn thiết yếu là “ăn cùng”, “ăn với” người khác cho nên ăn cũng là chia sẻ. Như một phép lạ, thức ăn của người Việt nam xem ra chẳng bao giờ thiếu: một người khách lỡ độ đường ghé tạt vào nhà nhằm đúng bữa ăn ư? Chỉ cần dọn thêm một cái chén, một đôi đũa là giải quyết được vấn đề!
Ăn không chỉ là chia sẻ thức ăn, mà là chia sẻ niềm vui với nhau. Cơm không lành canh không ngọt là điều chẳng ai muốn. Người Việt nam thích vui vì được chia sẻ. Đi ruộng bắt được một con cá lóc, một con ếch, một con rắn hay một con chuột cũng đủ để làm một món nhậu và mời ông bạn láng giềng sang chung vui sau một ngày làm lụng vất vả. Kẹt lắm, một trái khế hay trái xoài xanh cũng đủ để lai rai vài xị.
Quả thật, người Việt nam thích sống vui. Cố linh mục Gildo Dominici, người Ý có tên Việt nam là “Đỗ Minh Trí”,đã từng làm việc tại Việt nam trước 75 và sau đó phục vụ trong các trại tỵ nạn Galang, Nam Dương và Bataan, Phi luật tân. Trong tác phẩm có tựa đề “Việt nam quê hương tôi”, vị linh mục này đã viết về Ngày Tết của người Việt nam như sau: “Ngày Tết, không một người nào có vẻ nghèo cả! Mọi người đều có một chút gì để mà “ăn Tết”. Người ta chấp nhận mang công mắc nợ để rồi sau đó sẽ vất vả làm lụng để trả nợ, nhưng vào Ngày Tết người ta cần phải tận hưởng. Mọi người đều có quyền  ăn Tết”, mọi người đều cảm thấy có bổn phận vui hưởng Tết.
Bị vây hãm bởi chiến tranh, nghèo nàn và đau khổ, người ta mong chờ ngày Tết để được sống thật sự vài ngày! Tết chính là cái khoảng thời gian kỳ diệu, chính là một thời kỳ mà tất cả mọi người có thể thưởng thức được một chút gì hấp dẫn của kiếp sống con người”.
Nêu lên câu hỏi: “Vậy, sự quyến rũ của Ngày Tết bắt nguồn từ đâu?” linh mục Dominici trả lời : “Câu trả lời rất dễ dàng. Vẻ duyên dáng quyến rũ của ngày Tết đã do chính người ta tạo ra! Ngày Tết rất dễ thương chính là vì người Việt nam rất dễ thương...Người Việt nam đã tạo ra một ngày lễ để diễn tả hình ảnh của chính con người họ. Không một điều gì khác hơn có thể diễn đạt được tinh thần của người Việt nam bằng ngày Tết cả!
Tất cả những người ngoại quốc đã từng sống ở Việt nam đều nhận thấy nơi con người Việt nam có một cái gì lôi cuốn họ: tốt bụng, lịch thiệp, nhã nhặn, lễ phép, dễ thương!”(x. linh mục Dominici Đỗ Minh Trí , “Việt nam quê hương tôi”)
Đọc những dòng trên đây, tôi cảm thấy hãnh diện, ấm lòng và nhứt là “vui như ba ngày Tết”. Thật vậy, chẳng có lúc nào vui cho bằng “ba ngày Tết”, nhứt là đối với trẻ con. Trong những kỷ niệm của tuổi thơ, tôi vẫn nhớ mãi những ngày Tết trước khi diễn ra cuộc đảo chánh sát hại cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Trước thập niên 60 và ngay cả những năm đầu của thập niên này, khi các hàng rào ấp chiến lược chưa bị phá vỡ, các làng quê đã thực sự hưởng cảnh thái bình: đêm đến không có giới nghiêm, người dân có thể vui chơi cả đêm. Người dân quê vẫn còn lấy cả tháng Giêng để “ăn chơi”. Cả tháng, cứ đêm đến, trẻ con chúng tôi đạp xe đạp đi từ làng này sang thôn khác để xem hát bài chòi. Có cả một tháng vui chơi như thế là để nhắc nhở con người Việt nam lam lũ quanh năm vì cái ăn rằng “con người được tạo dựng để thụ hưởng niềm vui và hạnh phúc, chứ không phải để đau khổ và bất hạnh. Cuộc sống của một dân tộc sẽ trở nên phong phú và nhân bản hơn nếu cái dáng dấp bi thảm của khổ đau được quân bình với hân hoan và hạnh phúc” (x. linh mục Dominici trong “Việt nam quê hương tôi”).
Quân bình giữa công việc và giải trí: đó là nét nổi bật trong cuộc sống của người Việt nam, mà Tết là một biểu trưng. Như linh mục Dominici giải thích: “Ngày xưa, trước lúc giao thiệp, tiếp xúc với người Tây Phương, người Việt nam không biết đến ngày Chúa Nhựt, nghĩa là một ngày nghỉ ngơi hằng tuần. Họ làm việc quần quật suốt 11 tháng mà không ngưng nghỉ.Và ở vào một thời kỳ mà kỹ thuật chưa đạt được những tiến bộ đáng kể, công việc lao động rất vất vả nhọc nhằn.Trong hoàn cảnh như thế, Tết chính là một khoảng thời gian cần thiết để nghỉ ngơi.Tết khôi phục lại sự quân bình trong cuộc sống và làm cho cuộc sống trở nên dễ chịu hơn”.
Chính nhờ thế quân bình giữa cuộc sống vất vả và việc vui hưởng cuộc sống mà người Việt nam xem ra có được một giây thần kinh rất vững chắc. Bất cứ người ngoại quốc nào phục vụ trong các trại tỵ nạn Việt nam tại các nước đông nam Á từ cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 90 cũng đều kinh ngạc về số lượng rất thấp những người bị rối loạn tâm trí giữa một số lượng  đông đảo người tỵ nạn đang sống trong một tình cảnh bi đát. Linh mục Dominici tin rằng “sở dĩ có được điều này là do cái tâm tính vui vẻ và thơ thới của người Việt, được biểu lộ một cách đặc biệt vào dịp Tết”.
Năm nay, cũng như rất nhiều năm trong cuộc sống ly hương, tôi không biết thế nào là bánh chưng, bánh tét, hay kẹo mứt.Trong nhà tôi cũng không có mâm quả “cầu dừa đủ xài”. Tôi cũng chưa bao giờ một lần thưởng thức món “thịt mỡ dưa hành câu đối Tết”. Còn cảnh “sân trước một cành mai” thì chắc phải đến Tết Congo hay Maroc tôi mới có được ở nơi đất khách quê người này. Nhưng cũng như mọi năm, năm nay tôi cũng “ăn Tết” theo cách thế của tôi: tôi sẽ cố gắng tận hưởng từng khoảnh khắc hiện tại như một ân lộc Trời ban; tôi sẽ sống mỗi ngày như một ngày Tết… Tôi nghĩ đó là bí quyết hạnh phúc mà ông bà tổ tiên tôi muốn để lại cho con cháu khi “bày ra Tết Nhứt”.










Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2015

Thương thân


Chu Thập
6/2/15

Tôi phục cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton sát đất. Dĩ nhiên, về tài kinh bang tế thế của ông thì khỏi nói. Còn về thành tích đào hoa của ông, thì tôi không dám bàn tới, vì nói như Đức giáo hoàng Francis khi được hỏi về những người đồng tính: “tôi là ai để phán xét họ”. Tôi phục ông Clinton là vì mới đây tôi nghe nói ông hiện đang tụng kinh, ăn chay, ngồi thiền. Tại một số nước Á Đông như Nam Hàn chẳng hạn, một số cựu tổng thống khi về hưu thường vào chùa tu để gọi là sám hối về những tội ác mà lúc tại nhiệm họ đã có thể gây ra cho người khác. Nhiều người thường nghĩ đến vụ tai tiếng về quan hệ tình dục của cựu tổng thống Clinton với cô tập sự viên Monica Lewinski. Tôi không nghe nói tới chuyện tụng kinh, ăn chay, ngồi thiền để gọi là sám hối nơi ông Clinton. Nhưng  theo hai tạp chí “RadarOnline” và “Examiner”, hiện cựu tổng thống nổi tiếng là đào hoa này đang thụ huấn riêng với một nhà sư Phật Giáo để thư giãn tâm thân và giảm bớt sự căng thẳng.
Hồi năm 2010, khi nhận thấy sức khỏe của mình có triệu chứng đáng lo sợ và sau khi đã trải qua một cuộc mổ tim, cựu tống thống Clinton đã quyết định khép mình vào việc “ăn chay”, nghĩa là chỉ dinh dưỡng bằng rau quả. Kết quả của kỷ luật này đã giúp ông giảm được 10 ký và cứu sống ông. Trong  một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình CNN, ông Clinton kể lại: “Khi tim tôi bị trục trặc lần thứ hai vào năm 2010, bác sĩ đã gắn ống nhân tạo vào động mạch của tôi. ...Tôi quyết định: tôi muốn sống để nhìn mặt cháu ngoại của tôi và tôi quyết tâm thay đổi hoàn toàn”.
Hiện nay, cũng như thời còn làm tổng thống, với tư cách là sứ giả Hoa Kỳ, ông Clinton phải làm việc và đi khắp nơi, cho nên phải tuân thủ một thời khóa biểu dầy đặc sinh hoạt. Nhưng nhờ thực tập thiền định và ăn chay, ông cảm thấy khỏe mạnh, tràn đầy sinh lực cũng như tâm thân được thư giãn hơn bao giờ hết.
Ở khởi đầu của năm dương lịch và cuối năm âm lịch, tôi vẫn còn đang loay hoay trong việc đi tìm một quyết tâm mới. Cựu tổng thống Clinton quả đã mang lại cho tôi một niềm cảm hứng lớn lao. Con người thời đại bận bịu đến độ dường như không còn có đủ thời giờ để chăm sóc cho bản thân, nhứt là sức khỏe của mình. Nhiều người xem sự bận bịu như dấu chỉ của tầm quan trọng và giá trị của mình. Ra đường, dù là đi bộ hay ngồi trên xe, dường như ai cũng chạy, nhưng không biết chạy về đâu. Có lẽ đó là hình ảnh cụ thể nhứt của cuộc sống hiện đại: ai cũng chạy loanh quanh, nhưng chỉ có một số đang làm điều họ thực sự muốn làm. Nhiều người chạy ngược chạy xuôi để làm vừa lòng ông chủ của mình hay gia đình mình, nhưng lại ít khi làm vừa lòng mình.
Cách đây 2000 năm, trong cuốn sách có tựa đề “Đời Người Ngắn Ngủi”, triết gia La Mã Seneca có viết: “Chúng ta không có nhận lãnh một cuộc sống ngắn ngủi. Chúng ta chỉ làm cho nó ngắn ngủi. Chúng ta không thiếu phương tiện. Chúng ta chỉ phung phí chúng mà thôi...Đời sống dài đủ nếu bạn biết cách sử dụng nó”. Một lời khuyên như thế chắc chắn vẫn còn có giá trị. Trong cuộc sống hiện đại, con người bận bịu chỉ vì họ quên sống. Nhiều người thi hành các bổn phận của mình nhưng lại không làm được gì thực sự có giá trị. Từ thời xa xưa, người La Mã cũng đã từng sống như thế. Triết gia Seneca trách móc họ vì đã không biết trân quí thời giờ. Con người thời đại cũng thế. Chúng ta chạy theo của cải vật chất và bao thứ phù phiếm khác nhưng lại phung phí thời giờ là của cải quí giá nhứt trong cuộc sống.
Bận bịu là một thứ nghiện ngập khiến cho con người không còn biết nghĩ tới và sống cho bản thân: người ta bận làm mọi sự, trừ bận làm chính mình. Có lẽ khi đã bước xuống sườn đồi của cuộc đời, cựu tổng thống Clinton mới ngộ ra điều đó và bắt đầu thực sự chăm sóc cho bản thân, mà cụ thể là sức khỏe của mình. Khi tụng kinh, ăn chay và ngồi thiền, ông chẳng đeo đuổi một mục đích nào gọi là cao cả. Ông không sám hối vì những lầm lỡ của quá khứ. Ông chỉ muốn sống để còn thấy mặt cháu ngoại của mình thôi! Nghe đơn giản, nhưng không thiếu phần thâm thúy. Có khi người khác cũng là động lực chính đáng để con người biết sống cho mình. Thương người như thể thương thân. Không thương mình thì làm sao có thể thương người khác?
Tụng kinh, ăn chay, ngồi thiền hoặc dinh dưỡng đúng cách và có kỷ luật, xét cho cùng, cũng là hướng về người khác. Có khỏe mạnh mới vui sống. Có vui sống mới mang lại niềm vui và hòa khí cho người xung quanh.
Tôi không biết trong quyết tâm đầu năm tôi có dám tụng kinh, ăn chay, ngồi thiền được như cựu tổng thống Clinton không. Nhưng mới đây, tôi cảm thấy rất hứng khởi khi đọc được một bài báo nói về sự bổ dưỡng đặc biệt của trứng gà, nhứt là kích thích bản năng vị tha và bác ái trong con người.
Cho tới nay, trứng vẫn là món ăn khoái khẩu của tôi. Văn thi sĩ Ái Nhĩ Lan Oscar Wilde (1854-1900) đã có lần tuyên bố một câu được mang ra làm câu đố trong chương trình “Who wants to be a millionaire”: “Tôi có thể chống cự lại mọi sự, trừ cơn cám dỗ”. Tôi cũng muốn nhại giọng của ông để nói: “Tôi có thể chống cự lại mọi sự, trừ trứng”. Với tôi, trứng lúc nào cũng ngon cả. Trứng chiên, trứng “óp la”(oeuf plat), trứng “à la cóc”( oeuf à la coque), trứng luộc, nhứt là trứng luộc dầm mắm chấm rau luộc...cứ nghĩ đến là thèm. Nghe nói trứng có nhiều cholesterol, nhà tôi chỉ cho phép tôi mỗi tuần được ăn tối đa 5 trứng. Nay bài báo tôi vừa đọc được trên báo The Sydney Morning Herald số ra ngày 3 tháng 2 vừa qua, lại bảo rằng ăn trứng để được tử tế hơn với người khác, tôi thấy lên tinh thần nhiều lắm.
Theo bài báo, ăn trứng có thể giúp tiết ra kích thích tố “Serotonin”. Mà “Serotonin” lại là một thứ kích thích tố tạo hưng phấn, làm cho con người cảm thấy hạnh phúc, cho nên trứng có thể khởi động bản năng vị tha và bác ái vốn có trong con người.
Bài báo cho biết: trong một cuộc nghiên cứu hiếm có, các nhà khoa học đã quyết định tìm hiểu xem con người có tỏ ra bác ái hơn sau khi ăn trứng không. Trước đây, các nhà nghiên cứu đã từng biết rằng kích thích tố “Serotonin”, ngoài việc duy trì sự quân bình tâm lý và tạo hưng phấn, còn giúp khơi dậy những hành động tử tế và quảng đại trong con người. Các nhà nghiên cứu cũng đã từng nhận thấy rằng có một loại “amino acid” được đặt tên là “Tryptophan” thường có trong trứng, thịt gà, đậu, cá, phó mát, đậu hũ, các loại hạt...khi được tiếp nhận vào cơ thể biến thành “Serotonin”.
Nay các nhà nghiên cứu thuộc Viện “Não bộ và Tri thức” tại Hòa Lan lại khám phá ra rằng ăn các loại thực phẩm có chứa đựng Tryptophan có thể gia tăng gấp đôi ước muốn làm từ thiện của con người. Các nhà khoa học Hòa Lan cho biết đây là lần đầu tiên họ tìm hiểu xem việc ăn các thực phẩm như cá, trứng, đậu phụ và sữa có thể gia tăng ước muốn làm từ thiện của con người không.
Tham gia cuộc nghiên cứu có tất cả 32 sinh viên khỏe mạnh. Các sinh viên này được chia thành hai nhóm: một nhóm được cho uống một viên thuốc giả (Placebo), một nhóm được cho ăn một trứng rưỡi. Các sinh viên tham gia cuộc thí nghiệm được chỉ dẫn không được ăn hay uống bất cứ thứ gì ngoài nước trong đêm trước khi diễn ra cuộc thí nghiệm. Họ cũng được yêu cầu tránh mọi thức uống có chất cồn hoặc bất cứ thuốc kích thích nào trong suốt thời gian tham gia cuộc thí nghiệm. Mỗi sinh viên tham gia cuộc thí nghiệm được tặng 15 đồng và được hỏi có muốn tặng cho từ thiện không. Kết quả cho thấy số sinh viên được cho ăn trứng muốn làm từ thiện cao gấp hai lần số sinh viên chỉ cho uống thuốc giả.
Các nhà khoa học thuộc Viện “Não Bộ và Tri Thức” của Hòa Lan kết luận rằng thức ăn ảnh hưởng đến tâm trạng của con người. Một cách cụ thể thức ăn có thể tác động đến cách thế chúng ta cư xử với người xung quanh.
Tôi không biết sau khi được tôi chia sẻ bài báo nói về tác dụng của trứng gà, nhà tôi có tăng khẩu phần trứng hằng tuần của tôi không để tôi tử tế hơn không. Tôi cũng chưa được thuyết phục hoàn toàn về khả năng kỳ diệu của trứng gà. Các nhà nghiên cứu cho biết sẽ tiến hành thêm nhiều cuộc thử nghiệm mới có thể đưa ra kết luận chắc chắn về hiệu năng của trứng gà. Thế nhưng, cách đây vài hôm, có việc phải vắng nhà, tôi có nhờ người hàng xóm có đông em bé nhứt xóm làm nhiệm vụ nhặt trứng trong chuồng dùm, đổi lại tôi cho họ được giữ lại để dùng. Khi về, chưa kịp cám ơn thì lại được họ cám ơn. Họ cám ơn vì họ nói rằng nhặt trứng là một công việc thích thú. Họ còn khoe rằng đã dùng trứng để làm đủ thứ món ăn bánh trái rồi còn chia cho tất cả hàng xóm. Tôi tin là người hàng xóm của tôi là người luôn tử tế, nhưng phải chăng vì trứng gà tươi quá ngon đã “khích thích” họ muốn chia sẻ niềm vui với những người hàng xóm khác bằng cách chia nhau những cái trứng còn ấm từ những con gà được sống “sướng hơn chủ” không. Riêng với tôi, kinh nghiệm cá nhân luôn nhắc nhở tôi rằng thức ăn ảnh hưởng đến sức khỏe thể lý và tâm linh của con người. Cũng chính triết gia Seneca đã từng tuyên bố như đinh đóng cột rằng “một tâm hồn lành mạnh trong một thân thể lành mạnh” (mens sana in corpore sano). Có khỏe mạnh mới cảm thấy hưng phấn, yêu đời và dĩ nhiên mới muốn sống hài hòa với người khác. Tôi không biết có phải vì ăn quá nhiều thịt, nhưng ít ăn trứng mà các chiến binh của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” mới tỏ ra hung bạo, độc ác, dã man đối với người khác, ngay cả những người vô tội không. Nhìn tên đao phủ cao lớn nói giọng Anh đặc sệt và thường được mệnh danh là “Jihadi John” chuyên chặt đầu các con tin, cho thu hình và đưa lên các trang mạng xã hội, tôi thấy chẳng có dấu hiệu nào khiến phải nghi ngờ về sức khỏe thể lý của hắn ta. Nhưng chắc chắn trong tấm thân cường tráng ấy chỉ có một tâm hồn bạc nhược, đồi bại đến tận cùng mà thôi. Hy vọng các nhà nghiên cứu sẽ tìm ra được chìa khóa để giải thích về hành động khát máu của các chiến binh của “Quốc gia Hồi giáo” này.

Chuyện ăn trứng giúp gia tăng chất “Serotonin” là kích thích tố tạo hưng phấn, hạnh phúc và thúc đẩy con người sống quảng đại, tử tế và bác ái với tha nhân hơn, dẫn tôi vào cốt lõi của cuộc sống: một cuộc sống có ý nghĩa và đáng sống là cuộc sống sống cho và vì người khác. Dinh dưỡng, ăn chay, tụng kinh, ngồi thiền...tất cả chỉ là phương tiện để giúp tôi được khỏe mạnh, có được thân tâm an lạc hầu có thể sống hết mình vì người khác. Tôi thương người vì tôi thương tôi. Một tình thương đối với tha nhân, dù có vô vị lợi bao nhiêu, cuối cùng cũng đều được trả lại cho tôi: chính nhờ sự tử tế và tấm lòng quảng đại đối với tha nhân mà cuộc sống của tôi mới có ý nghĩa và đáng sống và dĩ nhiên làm nên giá trị của con người tôi.

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

“Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”


Chu Thập
30.1.15

Lại một con tin nữa bị tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” hành quyết. Nạn nhân lần này là một người Nhựt Bổn xem ra chẳng ăn nhập gì với thế giới Kitô giáo Tây Phương. Đàng sau mũi dao sắc bén, vô nhân đạo và dã man lúc nào cũng có là lá cờ đen của ISIS và dĩ nhiên khẩu hiệu bằng tiếng Á Rập “Allahu Akbar” (Thượng Đế Vĩ Đại). Thượng Đế Vĩ Đại lại được tung hô mỗi lần có một tên “ngoại đạo” bị sát hại!
Cứ mỗi lần có một con tin bị “Quốc gia Hồi giáo” hành quyết, cứ mỗi lần nghe tin về một cuộc khủng bố do những người Hồi giáo cực đoan và cuồng tín thực hiện nhân danh Thượng Đế Vĩ Đại, trong tôi lại dấy lên những câu hỏi nghìn đời của nhân loại: “Thượng Đế có cảm thấy được tôn vinh và vui thỏa khi con người nhân danh Ngài để sát hại người đồng loại không? Thượng Đế “có con mắt” có nhìn thấy những hành động dã man vô nhân đạo như thế không? Tại sao Thượng Đế cứ mãi giữ sự im lặng “đồng lõa” trước tội ác của con người? Ngài có phải là Đấng Toàn Năng và Trọn Hảo không? Ngài đang ở đâu? Ngài có thực sự hiện hữu không?”
Tôi nghĩ rằng bất luận chủng tộc, văn hóa, tôn giáo, phái tính, tuổi tác hay địa vị xã hội, vào một lúc nào đó trong cuộc sống, dường như ai cũng đều có thể nêu lên những câu hỏi như thế khi đứng trước tội ác của con người cũng như khổ đau của bản thân hay của người đồng loại.
Với tôi, những câu hỏi này đã trở thành trọng tâm và cao điểm của chuyến viếng thăm vừa qua của Đức giáo hoàng Phanxicô tại quốc gia hải đảo Phi Luật Tân, đất nước có số tín hữu công giáo đông nhứt tại Á Châu.
Tôi vẫn luôn nhớ về đất nước và dân tộc này với rất nhiều thương mến và biết ơn. Người tỵ nạn nào đã từng đặt chân đến đất nước này chắc chắn cũng chỉ có thể có cùng một tâm tình như tôi mà thôi. Về đất nước và con người đã từng mở rộng vòng tay để đón tiếp và hết tình chăm sóc người Việt tỵ nạn trước và sau khi các trại tỵ nạn tại Đông Nam Á đóng cửa, tôi chỉ có thể nói rằng đây là một dân tộc rất “sùng đạo”. Có sùng đạo cho nên mới tỏ ra cảm thông và nhân ái để đối xử nhân đạo với người tỵ nạn. Có sùng đạo cho nên trong nhà ngoài ở, lên xe xuống cộ, trong nhà thờ, ở trường học, tại các công sở, nơi phố chợ...nơi nào cũng có những biểu hiện và biểu tượng của niềm tin tôn giáo. Bước lên một phương tiện di chuyển công cộng mà không làm dấu thánh giá không phải là người Phi. Và có lẽ chỉ có ở Phi Luật Tân, mỗi năm cứ đến ngày Thứ Sáu Tuần Thánh tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu, mới có cảnh nhiều người túa ra các ngã đường dùng chiếc roi thiếc tua tủa gai để quất vào chiếc lưng trần cho đến khi chảy máu đầm đìa hay tự nằm xuống cho người khác đóng đinh vào thập giá. Có lẽ cũng chỉ có ở Phi Luật Tân mới có hiện tượng 6 triệu người tập trung lại để đón tiếp một vị giáo hoàng như đã xảy ra trong chuyến viếng thăm vừa qua của Đức Phanxicô. Đây quả là một con số mà sách kỷ lục thế giới “Guinness Book” cần ghi lại khi nói đến lòng sùng đạo của một dân tộc.
Tôi ngưỡng lòng sùng đạo của dân tộc Phi Luật Tân, nhưng tôi cũng không thể không cảm thấy vừa thương hại vừa phẫn nộ khi nhìn vào tình trạng xã hội của đất nước này. Đây là một trong những chủ đề nổi bật của Đức Phanxicô trong các bài diễn văn đọc tại đây, nhứt là khi ngỏ lời với giới lãnh đạo chính trị của quốc gia. Tham nhũng tạo ra nghèo đói và bất công là một thứ văn hóa đã thấm nhiễm vào máu của các chính trị gia của một đất nước mà hơn một phần tư dân số 100 triệu người phải sống trong nghèo đói.
Tôi luôn tin rằng niềm tin tôn giáo ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Ở Thái Lan chẳng hạn, như tôi đã nhìn thấy tận mắt, giáo lý Phật Giáo đã thực sự chi phối cuộc sống con người. Lòng sùng đạo của người dân Thái cũng được biểu lộ ra bên ngoài chẳng khác gì người Phi Luật Tân. Có khác chăng là ở Thái Lan niềm tin tôn giáo có lẽ đã ăn sâu vào mọi khía cạnh của cuộc sống con người. Tôi không sợ quá thiên vị để bảo rằng so sánh với Phi Luật Tân, Thái Lan ít có tham nhũng hơn, ít có bất công hơn, ít có khu ổ chuột hơn, ít có người ăn xin hơn và tuyệt nhiên, vì là một xứ Phật Giáo, không hề có một Casino nào!
Trong nhiều năm sống ở Phi Luật Tân, tôi đã không ngừng thắc mắc: tại sao một đất nước với một lòng sùng đạo thật cao, nếu chỉ đo lường sự sùng đạo bằng những biểu dương và nghi lễ, tham nhũng lại được xem như một thứ văn hóa, bất công xã hội trở thành một căn bệnh bất trị, tệ nạn xã hội được nhìn thấy nhan nhản trước mắt và hàng ngày? Hiện đang có 1.2 triệu trẻ em Phi sống trên đường phố. Theo thống kê năm 2009, có đến 35.1 phần trăm trẻ em sống trong nghèo đói và theo Sáng Hội Bảo Vệ Trẻ Em (Child Protection Network Foundation) hồi năm ngoái, tỷ lệ này đã gia tăng một cách đáng kể.
Glyzelle Palomar, tên của một bé gái được truyền thông thế giới nhắc đến rất nhiều nhân chuyến viếng thăm của Đức Phanxicô, là một trong số những trẻ em đường phố tại Phi Luật Tân. Bé gái 12 tuổi này hiện đang được tổ chức từ thiện của các nữ tu chăm sóc. Trong một buổi nói chuyện của Đức Phanxicô với các giáo sư và sinh viên tại một đại học ở thủ đô Manila, em đã được sắp xếp để gặp gỡ với ngài. Được ngài giang rộng vòng tay để ôm ấp, cô bé đã từng trải qua cuộc sống khốn khổ, đã òa khóc và đặt ra câu hỏi: “Nhiều trẻ em vướng vào ma túy và mãi dâm. Tại sao Thượng Đế cho phép những điều đó xảy ra cho chúng ta? Trẻ con có tội tình gì đâu!”
Đây là câu hỏi mà có lẽ rất nhiều người Phi cũng đã từng đặt ra, nhứt là khi đứng trước nỗi khổ đau của người đồng loại hay phải đối đầu với những khó khăn chồng chất của cuộc sống. Người Phi thường đi tìm đến nhà thờ để tìm giải đáp cho những vấn đề của cuộc sống. Mỗi năm, vào ngày lễ tôn vinh bức tượng thánh giá gỗ nổi tiếng tại Manila, không dưới 2 triệu người dẫm đạp lên nhau để được sờ vào bức tượng và cầu mong phúc lành cho mình. Vào những mùa thi cử của học sinh và sinh viên, bức tượng lại càng bóng nhẵn hơn vì được sờ và hôn liên tục. Tại một nhà thờ có tên là Đức Bà “Bon Voyage” (Our Lady of Bon Voyage) ở ngoại ô Manila, người dân Phi từ khắp nơi túa đến để không chỉ xin đi đường được thượng lộ bình an, mà là để được gia nhập vào lực lượng “lao động xuất khẩu” ở nước ngoài. Đây là một trong những nguồn thu nhập chính của Phi Luật Tân.
Tựu trung, người dân Phi vẫn xem niềm tin tôn giáo như chỗ dựa để giải quyết các khó khăn trong cuộc sống. Câu hỏi mà bé Glyzelle đặt ra cho Đức Phanxicô một phần nào diễn tả đúng tâm trạng của rất nhiều người dân Phi: Tại sao Thượng Đế để cho con người phải đau khổ?
Đứng trước câu hỏi này, nhà lãnh đạo tinh thần của hơn một tỷ người trên khắp thế giới, người mà có lẽ người công giáo và cách riêng người dân Phi tin tưởng có sẵn giải đáp cho mọi vấn đề, khẳng định rằng đây là một vấn nạn không có câu trả lời. Theo nhà lãnh đạo tinh thần này, đứng trước khổ đau trong cuộc sống,  thay vì chạy đến với Thượng Đế để tra hỏi và nêu lên trách nhiệm của Ngài, hãy tự mình tìm ra giải đáp cho vấn đề. Chính vì vậy mà ngài nói: “Tôi mời gọi mỗi người trong anh chị em hãy tự hỏi lòng mình: “Tôi có bao giờ học khóc mỗi khi tôi thấy một đứa trẻ đói ăn, một đứa trẻ trên đường phố đang sử dụng ma túy, một đứa trẻ vô gia cư, một đứa trẻ bị bỏ rơi, một đứa trẻ bị lạm dụng, một đứa trẻ bị xã hội sử dụng như một nô lệ không?” Tôi hiểu được ý của vị giáo hoàng này: vấn đề không phải là mất giờ để tìm hiểu hay tranh cãi về nguồn gốc của đau khổ, mà chính là biết cảm thông trước nỗi khổ đau và tìm cách xoa dịu nỗi khổ đau ấy. Đã lạc giữa biển khơi, vấn đề không phải là ngồi đó mà thắc mắc tại sao mình có mặt giữa biển khơi để mà than thân trách phận hay chờ đợi phép lạ, mà là tìm cách chèo chống để vào bờ.
Câu trả lời trên đây của nhà lãnh đạo công giáo khiến tôi nhớ lại câu châm ngôn: “Hãy tự giúp mình, trời sẽ giúp bạn” (Aide-toi, le Ciel t’aidera). Tôi nghĩ có lẽ sau khi đã lòng vòng ở thuyết định mệnh để giải thích về cuộc đời truân chuyên của nàng Kiều, cụ Nguyễn Du đã đành phải đi đến kết luận: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Chẳng có ông trời nào bắt con người phải khổ. Chẳng có số phận nào là bất biến. “Vượt qua số phận” là thành ngữ quen thuộc mà con người thời đại thường sử dụng để nói đến sự thành công của những con người sinh ra không có nhiều may mắn như người khác hoặc phải trả qua nhiều bất hạnh trong cuộc sống mà vẫn có thể vươn lên. Những con người như thế, dù chỉ được trời cho một trái chanh, đã biết vắt lấy để có được một ly nước thơm ngon!
Tôi nghĩ đến bà Rosie Batty, người vừa được vinh danh như người Úc của năm 2015 (Australian of the Year). Một buổi chiều nóng bức dạo tháng 2 năm 2014, tại một khu ngoại ô đông nam Melbourne, Luke Batty, cậu con trai 11 tuổi của bà đang chơi Cricket với cha cậu, ông Greg Anderson. Không một lời cảnh cáo, người cha đã vung gậy đập vào đầu con, rồi dùng dao tấn công đứa con đến chết. Ông cũng ngăn cản nhân viên cứu thương đến làm phận sự. Cảnh sát đã phải can thiệp và cuối cùng phải bắn gục người cha. Ông qua đời vào sáng hôm sau. Đứng trước cửa nhà, bà Rosie Batty, năm nay 52 tuổi, đã nói với giới truyền thông: “Tôi muốn nói với mọi người rằng bạo hành gia đình là chuyện xảy ra cho mọi người, bất luận nhà của bạn có đẹp đến đâu, bạn có thông minh cỡ nào. Nó có thể xảy ra cho mọi người và mỗi người. Đây là một cuộc chiến đấu đã kéo dài trong 11 năm qua (đối với bà). Dù bạn có cố gắng đến đâu, bạn vẫn là một nạn nhân và bạn không thể làm gì được.” Kể từ sau biến cố đau thương này, bà Batty không chịu ngồi đó để than thân trách phận, mà không ngừng lên tiếng cảnh cáo về tệ nạn bạo hành gia đình và vận động để chính phủ phải tỏ ra tích cực trong việc bài trừ bạo hành gia đình bằng cách đưa ra các biện pháp cứng rắn cũng như cung cấp các dịch vụ cho những người phụ nữ đang tìm cách thoát khỏi bạo hành gia đình.
Người phụ nữ thứ hai được bầu chọn làm người trẻ Úc của năm (Young Australian of the Year) là cô Drisana Levitzke-Gray. Cô gái 21 tuổi này là một người bẩm sinh bị câm điếc. Thay vì ngồi đó than thân trách phận hay đổ lỗi cho ông trời hoặc người khác, cô đã “vượt qua số phận” bằng cách đứng ra tranh đấu cho quyền của trẻ em câm điếc trên thế giới được học tiếng “Auslan”, tức ngôn ngữ bằng cử chỉ hiện đang được cộng đồng người câm điếc tại Úc sử dụng. Năm ngoái, cô đã trở thành người câm điếc đầu tiên tại Úc Đại Lợi được mời làm bồi thẩm viên trong tòa án.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể tự vượt qua số phận dễ dàng. Trong khốn cùng, ai cũng cần một bàn tay, một cơ hội từ sự giúp đỡ của người khác. Đó cũng chính là cốt lõi mà tôi tìm thấy trong lời nhắn nhủ của Đức Phanxicô. Bà Rosie Batty và cô Drisana Levitzke-Gray nhắc nhở chúng ta rằng không những mỗi người phải tự “vượt qua số phận” mà còn phải giúp những người khác nữa.
Nếu có một phép lạ mà Thượng Đế vẫn còn làm và tiếp tục can dự vào cuộc sống con người thì phép lạ đó chính là luôn khơi dậy niềm hy vọng, khả năng bắt đầu làm lại không ngừng và nhứt là lòng cảm thông với người khác trong mỗi con người.


Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Thời đại của phép lạ



27/1/15

Vợ chồng một người Mỹ đi thăm người con gái và đứa cháu ngoại của họ tại thành phố Dakar, Senegal, miền Tây Phi Châu. Trên Facebook chia sẻ cho bạn bè, trong đó có ông  Michael Elliott, chủ tịch của tổ chức có tên là “The One Campaign” (tổ chứcchuyên mở chiến dịch chống lại nghèo đói cùng cực và những căn bệnh có thể phòng ngừa được), vợ chồng người Mỹ này cho biết từ Dakar, họ đã có thể liên lạc và nói chuyện với một người con gái khác của họ ở New York, Hoa Kỳ xuyên qua hệ thống “Skype”. Tại các nước văn minh, một phương tiện thông tin như thế không còn là điều mới mẻ nữa, nhưng từ một thủ đô của một nước nghèo như Senegal, vợ chồng người Mỹ này cho biết họ cảm thấy như “đang sống trong một thời đại của phép lạ”.
Thế giới ngày nay đang sống trong lo sợ vì khủng bố, chiến tranh và bệnh tật. Tuy nhiên, chưa bao giờ thế giới tốt đẹp như ngày nay.
Vào năm 1990, có đến một phần ba dân số thế giới sống trong nghèo nàn cùng cực. Vào năm 2011, tỷ lệ này chỉ còn 14.5 phần trăm, nhờ sự tăng trưởng kinh tế tại Á Châu. Điều này có nghĩa là sự thịnh vượng và tình trạng y tế của thế giới đã gia tăng. Ngày nay, hằng trăm triệu người đang hưởng những tiện nghi mà ông bà hay cha mẹ họ có mơ cũng chưa bao giờ thấy. Tiềm năng rộng lớn của cả một vùng đã được mở ra. Một người phụ nữ Trung Hoa, bạn của ông Elliott, đã có lần nói với ông: “Ông cần phải hiểu: đây là thời điểm tốt nhất để làm một người phụ nữ Trung Hoa”. Nếu có đến 10 phần trăm phụ nữ trên thế giới là người Trung Hoa, thì đây là một bước tiến đáng kể trong sự cải thiện cuộc sống của người phụ nữ.
Nhưng những phép lạ của thế giới hiện đại không chỉ diễn ra tại Á Châu. Chỉ cần dừng chân vài giờ tại thủ đô Addis Abeba của Ethiopia, Bắc Phi Châu, người ta cũng sẽ thấy phép lạ đang diễn ra. Cũng như rất nhiều quốc gia Phi Châu khác, Ethiopia hiện đã đạt được một mức tăng trưởng kinh tế mà người ta tưởng chỉ có ở Á Châu. Kể từ năm 2000, tử xuất vì bệnh sốt rét trên toàn thế giới đã giảm đến 47 phần trăm. Năm 2003, tại vùng  Hạ Sahara, chỉ có khoảng 50 ngàn người mới có đủ điều kiện để sử dụng thuốc chống lại HIV và bệnh AIDS. Nay đã có hơn 9 triệu người được chữa trị với thuốc này. Năm 2012, con số  trẻ em tại vùng Hạ Sahara cắp sách đến trường tăng thêm 57 triệu so với năm 2000.
Nhưng đáng kể là phép lạ hơn cả là tử xuất của trẻ em đã giảm đi hơn bao giờ hết. Vào thập niên 1970, không có tới 5 phần trăm trẻ con trên toàn thế giới được chích ngừa để phòng ngừa những căn bệnh hiểm nghèo. Nay có đến 80 phần trăm trẻ con trên toàn thế giới được chủng ngừa. Kết quả là tỷ lệ của trẻ con chết dưới 5 tuổi đã giảm đi một nửa kể từ thập niên 1990. Trước thời điểm này, mỗi năm có đến 12.7 triệu trẻ con dưới 5 tuổi chết vì bệnh tật. Năm 2013, con số này giảm xuống còn 6.3 triệu.
Phép lạ không chỉ diễn ra trong lãnh vực kinh tế và y tế. Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” đang làm mưa làm gió ở Trung Đông, đó đây vẫn còn xảy ra những vụ khủng bố chết người và nội chiến vẫn còn sôi sục tại vài nơi.Tuy nhiên, nhìn trong tổng thể, chưa bao giờ thế giới sống trong hòa bình như ngày nay. Trong cuốn sách có tựa đề “The Better Angels of our Nature” (Những vị thiên thần tốt hơn trong bản chất chúng ta), Giáo sư Steven Pinker, hiện đang giảng dạy tại đại học Harvard, đã dẫn chứng nhiều tài liệu cho thấy có sự sút giảm về bạo động và chiến tranh trong thời hiện đại. Vào thế kỷ 14, tại thành phố Oxford, Anh Quốc, mỗi năm cứ trung bình trong 100 ngàn dân, có đến 110 vụ giết người. Vào thế kỷ 20 tại London, trong 100 ngàn dân không có tới một vụ sát nhân. Năm 1950, con số trung bình của những người bị giết chết trong một cuộc xung đột vũ trang là 33 ngàn người. Vào năm 2007, con số người bị sát hại không quá 1000 người. Giáo sư Pinker lập luận rằng sự hạ giảm của bạo động trên toàn thế giới hiển nhiên đến độ có thể nói rằng “chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên hòa bình nhất trong lịch sử nhân loại”.
Phép lạ tỏ tường hơn cả trong ngôi làng toàn cầu ngày nay chính là sự thâm nhập của các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại vào mọi ngõ ngách và làng mạc xa xôi. Vào năm 2002, chỉ có 3 phần trăm người dân Phi Châu có điện thoại di động. Nay tỷ lệ này đã lên đến 70 phần trăm. Điều kỳ diệu hơn nữa đang xảy ra tại Miền Đông Phi Châu là sự bùng nổ của việc thực hiện các dịch vụ ngân hàng xuyên qua điện thoại di động. Ngày nay, ngay cả các phụ nữ nông dân nghèo cũng có thể giao dịch buôn bán, nghĩa là trả và nhận tiền xuyên qua điện thoại di động một cách an toàn.
Tất cả những phép lạ trên đây sẽ được đem ra thảo luận tại hàng trăm phiên họp chính thức và hàng ngàn cuộc trao đổi bên lề tại Hội nghị Thượng đỉnh Davos, Thụy Sĩ. Theo ông Elliott, có một điều mà ai cũng biết và không thể phủ nhận: tiến bộ là điều không thể tránh được!
Tuy nhiên, thời đại của các phép lạ cũng vẫn là một thời đại của những thách đố. Kể từ khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc vào năm 1945 cho đến nay, mặc dù có chiến tranh lạnh và một vài cuộc chiến tranh đó đây, thế giới đã trải qua gần 7 thập niên hòa bình. Nhưng không có gì bảo đảm rằng tình trạng không có chiến tranh này sẽ kéo dài. Một số quốc gia vẫn thích chiến tranh. Sau cuộc khủng hoảng tại Ukraine dẫn đến việc Nga ngang nhiên chiếm Crimea, Tổng thống Nga Vladimir Putin đe dọa các nước Tây Phương rằng ông đang có trong tay cả kho vũ khí hạt nhân. Đầu óc bá quyền của những người cộng sản Trung Quốc, cụ thể là việc họ muốn chiếm trọn Biển Đông, cũng là một mối đe dọa cho hòa bình thế giới không kém. Chiến tranh xảy ra không chỉ gây ra những cái chết vô ích mà cũng làm sống lại tình trạng nghèo đói trên thế giới. Những vùng chiến tranh lúc nào cũng là những vùng nghèo đói.
Sự tăng trưởng kinh tế, vốn là đầu máy tạo ra các phép lạ của thời đại, có thể cạn nhiên liệu và như vậy không còn khả năng vực dậy các nước khỏi cảnh nghèo đói hoặc phân chia lợi nhuận không đồng đều và như vậy tạo ra bất ổn chính trị. Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang khựng lại và kinh tế Liên Âu đang dậm chân tại chỗ sẽ khiến cho nhu cầu về thương phẩm giảm sút. Mà thương phẩm lại là nền móng của kinh tế của nhiều nước đang phát triển. Đó là một trong những thách đố mà có thể thể giới sẽ phải đương đầu trong những năm sắp tới.
Ngoài ra,  sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện di chuyển, vốn đã làm cho cuộc sống của không biết bao nhiêu người trên thế giới được cải thiện, cũng đặt ra một thách đố: tốc độ di chuyển của con người thời đại càng nhanh thì sự lây lan của bệnh tật cũng lan truyền nhanh không kém. Sự bùng nổ và mối đe dọa của dịch bệnh Ebola hồi năm trước là một điển hình. Cuối cùng, hiện tượng thời tiết thay đổi hiện cũng đang đặt ra một thách đố lớn cho thế giới ngày nay. Những người đầu tiên cảm nhận và chịu thiệt thòi nhiều nhất về những hậu quả của hiện tượng này vẫn là người nghèo. Điều vẫn thường xảy ra khi đất đai bị tàn phá vì thiên tai như lụt lội, hạn hán...là cảnh đồng không, nhà trống và hàng triệu triệu nông dân rời bỏ thôn quê để tìm về thành phố và tạo ra những khu ổ chuột thối tha, thiếu vệ sinh, làm mồi cho bệnh tật cũng như vô số những tệ nạn xã hội.
Năm nay, đại diện các quốc gia sẽ tập trung về Davos để thảo luận về sự mong manh và vô định mà thế giới ngày nay đang đối đầu. Làm thế nào để cho các phép lạ của thời đại được tiếp tục diễn ra? Chúng ta hy vọng sẽ có được cầu trả lời trong năm nay. Vào tháng 9 tới đây, tại trụ sở của Liên Hiệp Quốc ở New York, Hoa Kỳ, cộng đồng thế giới sẽ cố gắng đạt được một loạt những mục tiêu mới thay thế cho các mục tiêu của thiên niên kỷ mới được đề ra hồi năm 2000. Những mục tiêu nổi bật nhất được đề ra ở đầu thiên niên kỷ là giảm nghèo đói và bệnh tật. Ngoài việc giảm thiểu tỷ lệ tử vong khi sinh con, các mục tiêu nói trên vẫn chưa đạt được. Dù vậy, thế giới vẫn cương quyết tiến tới trong việc giảm thiểu một nửa tình trạng nghèo đói cùng cực.
Trong vòng 8 tháng tới, các nhà ngoại giao sẽ thương lượng để đạt được những mục tiêu mới về sự phát triển bền vững. Một cách cụ thể, trong vòng 15 năm tới, thế giới phải xóa bỏ sự nghèo nàn cùng cực, chấm dứt cảnh hàng triệu triệu người vẫn còn đi ngủ vào buổi tối với cái bụng đói và không được hưởng thuốc men và những phương tiện y khoa hiện đại.
Trên đây là những mục tiêu có ý nghĩa nhất kể từ sau Đệ nhị Thế chiến khi thế giới chứng kiến sự ra đời của tổ chức Liên Hiệp Quốc và sự thông qua của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.
Năm 2000, khi cộng đồng thế giới đề ra những mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ mới, ông Bill Gates tuyên bố rằng đây là “ý tưởng tốt đẹp nhất để tập trung thế giới vào cuộc chiến chống lại nghèo đói mà tôi chưa từng thấy”. Theo ông, sáng kiến này cho phép dân chúng “thấy  được đâu là những bước tiến tốt đẹp và đâu là những thất bại của chúng ta”. Cũng thế, điểm tích cực của những mục tiêu phát triển mới sẽ được đề ra vào tháng 9 tới đây chính là mở ra một lộ đồ mới cho một tương lai sáng sủa hơn của thế giới.
Phép lạ vẫn tiếp tục xảy ra. Thế giới vẫn tiếp tục tin tưởng như thế. Nhưng, như nhận định của ông Elliott, nhiều phép lạ đã cứu sống nhiều mạng người trong hơn hai thập niên vừa qua không phải là những phép lạ từ trời cao, mà là điều nằm trong tầm tay của con người. Theo ông chủ tịch của tổ chức “The One Campaign”, phép lạ thực sự đã diễn ra khi “hàng triệu người trên thế giới đã tạo áp lực lên chính phủ của họ, từ Bắc chí Nam, trong thế giới giàu có cũng như nghèo nàn, để buộc phải tài trợ và thực hiện những chính sách đã cứu sống và cải thiện cuộc sống của hàng triệu triệu người”.
Phép lạ vẫn tiếp tục xảy ra. Nó không đến từ trời cao. Nó cũng chẳng đến từ các nhà lãnh đạo quốc gia, các bậc thiên tài về kỹ thuật hay các nhà cự phú trong doanh nghiệp. Vận mệnh của thế giới nằm trong tay của vô số cá nhân là những người cương quyết làm cho cuộc sống của họ, của gia đình họ được tốt đẹp hơn hoặc do lòng cảm thông thúc đẩy, muốn dấn thân để xoa dịu nỗi khổ đau của người khác.
(theo Michael Elliott, the Age of Miracles, Time 26/1/2015)




Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Thảo Đường


Chu Thập
23.06.11



Tôi chọn nước Úc làm quê hương, nhưng sau một chuyến đi Tân tây lan, tôi lại “mê” cái đất nước này. Thực ra, chuyến đi không nằm trong dự tính của tôi. Số là đầu năm, thấy Jetstar hạ giá vé quốc nội, tôi định làm một vòng cho hết nước Úc nên đặt vé đi Darwin. Nhưng gần đến ngày đi, thấy tim mạch của tôi có vẻ không ổn, bác sĩ khuyên tôi không nên đi xa, nhứt là đi máy bay. “Tra” tử vi thấy không có lời đe dọa nào về chuyện có nên “xuất hành” hay không, tôi định phớt lờ lời cảnh cáo của ông bác sĩ. Nhưng nghĩ lại, ở trong đất nước này mà giỡn mặt với những gì có liên quan đến chuyện sức khỏe y tế là liều lĩnh, cho nên tôi đành phải hoãn chuyến đi và gởi giấy chứng nhận của bác sĩ đến hãng máy bay để xin hoàn lại tiền vé. Nhưng đã tiền trao cháo múc rồi cho nên hãng Jetstar đâu có chịu. Họ buộc tôi phải “book” một chỗ khác với giá tương đương, bằng không thì xem như “xung vào công quỹ quốc gia”. Lục lạo tìm kiếm mãi mới thấy giá vé đi Tân tây lan cũng bằng đi Darwin, tôi đành phải bất đắc dĩ thay đổi lộ trình và chờ đến gần 6 tháng sau mới được bác sĩ chứng nhận “đầy đủ sức khỏe” để làm một chuyến đi xa.
Dân gian thường nói: trong cái rủi có cái may. Kitô giáo gọi đó là Quan Phòng. Tôi luôn tin rằng trong cõi vô thường sinh diệt diệt sinh này, không có gì là tuyệt đối mất mát. Có lúc tưởng như tuyệt vọng thì lại gặp được chiếc phao cứu hộ. Những khi tưởng là cùng đường thì lại thấy lóe lên ánh sáng. Chuyện mình chẳng mong ước và tính toán thì lại xảy đến. Chuyến đi Tân tây lan của tôi nằm trong chuỗi những “quan phòng” mà tôi thường bắt gặp trong cuộc sống.
Trước khi viếng thăm một vùng đất mới, tôi thường tìm hiểu sơ qua về địa lý, lịch sử cũng như phong tục của người dân ở đó. Thực ra, từ lâu, tôi vẫn nghĩ rằng về đất đai, phong cảnh, xã hội, chính trị…Tân tây lan cũng chỉ là một “cánh tay nối dài” của Úc đại lợi. Bằng chứng là trước đây, người dân hai nước qua lại như đi chợ, muốn ở đâu thì ở mà vẫn hưởng đủ mọi quyền lợi. Nếu có khác biệt, cùng lắm ở Úc thì có nhiều người thổ dân, còn bên Tây tây lan thì có nhiều người Maori với cách chào hỏi xã giao độc đáo là áp hai đầu mũi vào với nhau. Mới đây tôi thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây tạng, nhân một chuyến viếng thăm Melbourne, đã lập lại cử chỉ đó một cách thật dễ thương với một cầu thủ AFL. Vừa rồi, tôi cũng bị cám dỗ muốn thử xem cái cảm giác đó thế nào, nhưng gặp trời mưa gió bão bùng, nước mắt nước mũi chảy liên tục, cho nên tôi sợ không dám truyền cúm Úc cho người dân “Kiwi” hoặc ngược lại rước một thứ bệnh mà cái thân còm cõi của mình không chịu đựng nổi.
Khác với Úc, bên Tây tây lan đi đâu cũng thấy dân Maori. Vậy mà từ khách sạn đưa tôi lên thành phố Auckland, anh tài xế taxi Ấn độ tiên đoán một cách mỉa mai rằng dân Maori sắp bị trở thành giống dân “quý hiếm”, vì theo ông, người dân kỳ cựu của đất nước này chỉ biết nhậu nhẹt, ăn quá nhiều cho nên phì nộn và mang đủ thứ bệnh. Đọc báo địa phương, tôi cũng thấy nói rằng 50 phần trăm trẻ em đang được bộ xã hội chăm sóc vì gia đình đổ vỡ đều là người Maori.
Nghĩ thật tội nghiệp cho người bản xứ “Kiwi” này. Có lẽ trước khi người da trắng đặt chân đến đây, người Maori chỉ biết vui hưởng cuộc sống bằng săn cá, ăn thịt thú rừng và khoai môn “taro”. Họ làm gì biết thuốc lá và nhứt là rượu bia. Ngoài ra, trong một lần viếng thăm bảo tàng viện ở thủ đô Wellington, tôi cũng biết rằng trước khi người da trắng xâm chiếm vùng đất này, toàn bộ đất đai ở đây đều được bao phủ bởi những rừng cây xanh. Vậy mà chỉ mới 200 năm sau khi bị dấu chân của người da trắng cày xéo, hơn hai phần ba màu xanh ấy đã biến mất.
Dù vậy, trên chuyến xe buýt từ Auckland đến thủ đô Wellington, tôi vẫn nhận ra sự khác biệt rõ ràng giữa Úc đại lợi và Tân tây lan. Ở Úc, đi đâu người ta cũng chỉ thấy những cánh đồng cỏ cháy, nứt nẻ và nhứt là những rừng tràm (gum trees). Trái lại, bên Tây tây lan, dầu gặp những ngày mưa xám xịt, màu xanh ngát của những cánh đồng cỏ và đồi thông bất tận vẫn làm cho phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Tôi mê ngay cái đất nước này. Suốt lộ trình hơn mười tiếng, tôi không dám chợp mắt. Lâu lắm rồi tôi mới được “rửa mắt” đã đời như vậy.
Đi du lịch, tôi thích khám phá những cái mới, nhưng cũng muốn sống lại những cái cũ. Chẳng hạn, lần đầu tiên khi đến Pháp vào giữa mùa Thu, tôi đã ngây ngất đứng nhìn nước sông Seine chảy lững lờ giữa thủ đô Paris hay ngắm nhìn rừng phong thay mầu rụng lá. Đây là những bức tranh mà tôi đã từng chiêm ngưỡng trong sách vở ở thời trung học và ao ước được một lần chìm đắm trong đó. Thành ra, mặc dù đến một nơi mình chưa từng đặt chân tới, tôi vẫn có cảm giác quen thuộc. Tôi sung sướng như thể được trở về chốn cũ.
Những cánh đồng cỏ và những đồi thông xanh ngát của núi rừng Tây tây lan cũng mang lại cho tôi cái cảm giác ấy. Tôi không chỉ nhớ lại cái quang cảnh này ở một số nước Âu Châu. Nó còn đưa tôi trở về một chốn cũ xa xăm hơn. Tôi muốn nói tới Đà Lạt thân yêu ngày xưa của tôi. Tôi có nghe nói tới núi rừng Sapa ngoài Bắc. Nhưng tôi chưa mường tượng được cảnh núi rừng ấy như thế nào. Còn về Đà lạt thì tôi thuộc như in từng góc phố, từng con đường và nhứt là những đồi thông. Cảnh trí của Tây tây lan đã làm sống lại trong tôi không biết bao nhiêu kỷ niệm về thành phố mộng mơ ấy.
Thời đó, ở tuổi đôi mươi và nhứt là sinh ra nơi chốn đồng chua nước mặn, với tôi được lên Đà Lạt chẳng khác nào sang Paris. Người ta bảo Đà Lạt là thành phố của Tây mà. Tôi vẫn nhớ mãi, lần đầu tiên khi chiếc xe đò “Minh Trung” từ Nha Trang, qua khỏi Sông Pha, ì ạch trườn lên đèo “Ngoạn mục” cho tới Đơn Dương và bắt đầu leo lên tới “Eo gió”, tôi thấy như mình  đang đi lạc vào một thế giới khác. Gió mát rượi thổi vào chiếc xe chật ních làm cho hành khách cảm thấy thoải mái và quên đi cái cảnh bó rọ mà mình phải trải qua đến cả 4,5 tiếng đồng hồ liền. Đến khi chiếc xe đò lên đến Trại Mát, Trại Hầm và chạy dọc theo con đường Gia Long thì khỏi nói: tôi cứ ngẩn ngơ như Từ Thức lạc vào động tiên. Ẩn khuất trong những rừng thông là những ngôi biệt thự mà tôi chỉ nghe tả trong sách vở và cả đời chẳng bao giờ dám mơ được đặt chân vào.
Tôi không biết còn có một ngày nào để trở về “chốn cũ” và được làm một Thanh Tuyền “đứng trên triền núi nhìn xuống đồi thông” không hay như Hàn Mặc Tử đứng nhìn “trăng mờ thật huyền mơ” và để “nghe dưới đáy nước hồ reo” hay không.
Một tuần lễ lang thang ở Tân tây lan đã cho tôi sống lại những kỷ niệm đẹp ở Đà Lạt và nhứt là “nhớ nhà”. Trong phong cảnh của núi rừng Tân tây lan, tôi không chỉ được hồi tưởng lại hình ảnh Đà lạt qua vườn cây đồi cỏ, những con suối chảy róc rách, những ngọn thác bên cạnh rừng thông, mà còn được chiêm ngưỡng những mái nhà bé nhỏ chênh vênh bên sườn đồi hay thảnh thơi giữa nông trại mênh mông với bầy trừu bò đông vô số kể. Thực vậy, cảnh đẹp thường được tăng thêm nhờ có sự hiện diện của con người. Chẳng phải bức tranh đèo ngang của bà Huyện Thanh Quan trở nên nổi tiếng là bởi “lác đác bên sông chợ mấy nhà” sao?
Mà nhà ở thì thiên hình vạn trạng. Ban ngày, tôi thường ngắm căn nhà như ngắm một món đồ. Thế nhưng trong bóng đêm, căn nhà không còn thu hút tôi vì kích thước hay giá trị của nó, mà chính là chút ánh đèn lách qua khung cửa hay một vạt khói lửng lơ trên ống khói. Hình như cái ánh đèn, sự ấm cúng mời gọi của một cái bếp tỏa khói luôn làm cho người ta cố nhanh bước về nhà. Tôi cũng vậy, mỗi khi được về thăm nhà, chuyến xe đò đến bến bao giờ cũng chập tối, tôi chỉ muốn chạy như bay về nhà.
Ngôi nhà từ đường của tôi đúng là “cái nhà là nhà của ta, ông cố ông cha làm ra”. Tôi nghĩ cái tuổi của ngôi nhà ấy tính cho đến nay không dưới 200 năm. Nhà được lợp bằng thứ ngói mà cha tôi gọi là “ngói mốc”. Khi tôi có trí khôn thì toàn bộ mái nhà đã rệu rạo, tường nhà vốn được làm bằng gạch gắn liền với nhau bằng một loại vữa có trộn đường đen cũng đã bắt đầu xuống cấp; cột kèo rui mè, mặc dù được làm bằng gỗ quý cũng đã bị mối mọt gậm nhấm gần hết. Giữa thập niên 1960 khi tôi vừa xong bậc trung học, cha tôi đành phải mang tội “bất hiếu” với ông bà để cho phá sập ngôi nhà từ đường và xây nhà mới. Vì lý do kinh tế và tình cảm, cha tôi cũng giữ lại nhiều vật liệu từ ngôi nhà cũ và dùng lại. Nhà mới có phần khang trang rộng rãi hơn, nhưng với tôi dường như nó không còn giữ được cái hơi ấm của ngôi nhà từ đường, nơi anh chị em và ngay cả nhiều đứa cháu của tôi đã từng chen chúc nhau trong cùng một “buồng”, ngủ chung trên cùng một chiếc giường.
Quả thực, con người quyến luyến ngôi nhà của mình không hẳn vì nó đẹp đẽ, sang trọng hay tiện nghi, mà vì nó có cái “hồn” của nó. Căn nhà cũng thường tiết lộ cho người ta biết khá nhiều về đời sống, tính tình, ý thích…của những người đang cư ngụ. Có người chọn nhà gần chỗ làm để tiết kiệm thời gian. Người khác lại muốn căn nhà như một nơi chốn yên tĩnh sau một ngày làm việc dù phải đi xa khỏi thành phố. Cũng có khi ngôi nhà được chọn vì cái tên của con đường hay vì sự “môn đăng hộ đối” của những căn nhà bên cạnh. Mỗi người một chọn lựa theo cách riêng. Riêng tôi, hình ảnh ngôi nhà thường phải kèm theo một phong cảnh thích hợp và thơ mộng. Bởi vì khi về nhà, đối với tôi cũng giống như tạm ngưng tiếp xúc với thế giới bên ngoài để được hưởng cái cảnh “một gian nhà nhỏ đi về có nhau”. Chính vì vậy mà mái tranh nghèo của sư bà Giác Duyên trong Truyện Kiều luôn là giấc mộng cuối đời của tôi: “Đánh tranh lợp mái thảo đường, một gian nước biếc, mây vàng chia đôi”. Cảm tạ Ơn Trên, tuy không được như sư bà Giác Duyên, tôi cũng được hưởng cảnh núi rừng lúc hừng đông và chiều vàng trên sóng nước.
Gần nơi tôi ở có khá nhiều nhà thuộc diện “holiday house”. Chủ nhân của nó mua để một năm vài lần ghé qua mấy đêm. Mỗi lần đi ngang qua, tôi thấy thương hại cho chúng. Đó thường là những căn biệt thự mênh mông, tọa lạc ở những vị trí tuyệt đẹp gần bờ nước. Tôi không biết có bao giờ chủ nhân của chúng bỏ giờ đứng “rình” một đêm bên ngoài căn nhà to lớn tối om, lạnh lùng không một chút sinh khí nào không? Nếu chúng cũng có cảm giác như con người, chắc là chúng sẽ thấy đau khổ và ghen tức với những căn nhà lẹp xẹp nhưng ấm áp bên cạnh. Đó mới thật là “mái ấm”, mới thật là “home, sweet home”. Không cần làm thầy “phong thủy” tôi luôn tin rằng một căn nhà có quá nhiều phòng trống thì khó có thể gọi là mái ấm được.
Mặc dù thích đi chơi nhưng cứ sau vài ngày xa nhà là tôi bắt đầu thấy nhớ nhà. Mà hình như tôi “viện cớ” nhớ nhà để nhớ những thứ “lỉnh kỉnh” khác. Trước hết tôi nhớ cái giường quen thuộc, nhớ những bữa ăn đơn giản không theo kiểu sơn hào hải vị hay “cơm đường cháo chợ”. Tôi lại thấy nhớ những tiếng gà vịt quen thuộc đánh thức tôi dậy, tiếng chim hót chào một ngày mới. Tôi nhớ những sinh hoạt thường nhựt, những cặm cụi mà có lúc tôi nghĩ là “chịu hết nổi”. Tôi nhớ những buổi chiều đi dạo, những chào hỏi người này người kia dù chưa bao giờ bắt chuyện…Hết nhớ bắt đầu tôi lại thấy…lo! Nhìn mưa gió Tân tây lan mà lo không biết vịt con có bị lạnh, rau cải có bị dập hay không? Cửa nẻo đã khóa kỹ chưa hay còn để quên cái bếp? Tôi biết mình “lo bò trắng răng” nhưng vẫn vẩn vơ lo.
Cái bệnh “home sick” bất trị của tôi chắc chắn chỉ có một nguyên nhân: cái nhà, nơi “trú ẩn” tốt nhứt của tôi, cũng chính là một phần tinh thần rất quan trọng nuôi dưỡng tâm hồn tôi. Căn nhà cũng là “nhân chứng” sống động nhất nhìn thấy được đời sống nội tâm của tôi. Niềm quyến luyến ngôi nhà cũng chính là biểu hiện của sự yêu mến chính tâm hồn, đời sống và gia đình riêng của mình trong mỗi người vậy.
Quả là vui khi được đi chơi và lại vui hơn mỗi khi trở về.