Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

Thư gởi Ông Già Noel

                          

                                                                           Giáng Sinh 2009



Thưa Ông Già Noel,

Mỗi năm đến Mùa Giáng Sinh, hẳn ông nhận được không biết bao nhiêu lá thư. Có lẽ hầu hết các lá thư gởi đến ông đều có nội dung “xin xỏ”, nhứt là vào thời buổi khủng hoảng kinh tế này. Riêng tôi chỉ muốn viết thư này cho ông để bày tỏ sự cảm thông dành cho ông.
Thú thật, mỗi lần thấy ông xuất hiện trên các đường phố, trước các thương hiệu hay trong các trung tâm thương mại để “khuyến mãi” hay để chụp hình với các em bé, tôi thấy “tội nghiệp” ông. Giữa cơn nóng rực lửa của mùa hè Úc, làm sao không thương ông, khi thấy ông vẫn cứ phải đeo râu, đội mũ và trùm vào người bộ đồ “ấm”, mặc cho mồ hôi mồ kê nhễ nhại.
Người Việt nam chúng tôi cứ gọi nước Úc là “Úc khùng”. Thật ra chúng tôi chẳng có hàm ý miệt thị nào cả. Làm sao dám khinh rẻ một đất nước đã mở rộng vòng tay đón nhận mình và mang lại cho mình một cuộc sống ấm êm gấp nghìn lần ở quê hương “thiên đường xã hội chủ nghĩa” khốn khổ của mình! “Úc khùng” chỉ là một kiểu nói thân thương để chỉ cái ngược ngạo của Úc mà thôi: lái xe thì phải giữ bên trái, người ta nóng thì mình lạnh, ngay cả cái cần cầu cá cũng phải đổi lại thế cầm! Đặc biệt cứ đến Mùa Giáng Sinh là tôi thấy rõ “Úc khùng” hơn cả. Giáng Sinh ở đâu cũng thế, nếu không mang chút khí lạnh, thì cũng có cảnh tuyết rơi. Ở Úc thì trái lại, Giáng Sinh lại rơi vào cao điểm của mùa hè. Người Công giáo Việt nam tại Úc năm nào cũng hát lại ca khúc bất hủ “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…” mà vẫn cứ cầm quạt phe phẩy!
Tôi thấy thương ông là bởi vì ông “hội nhập” vào đâu cũng được mà vẫn luôn giữ được tiếng cười “hô hố” dễ dãi và dễ thương. Ông chẳng màng đến cái nóng, cũng chẳng màng đến việc bị lợi dụng của con buôn, miễn là mang lại niềm vui cho người khác.
Thật ra, ngay cả cái tên mà người ta đặt cho ông, ông cũng chẳng “care”. Ở bên Hoa kỳ hay nhiều nước nói tiếng Anh, ông có tên là “Santa Claus”. Sang đến Pháp, tên ông được đổi thành “Père Noel” (Cha Noel). Có khi người ta còn gọi ông một cách thân thương trìu mến hơn là “Petit Papa Noel” (Bố Noel bé nhỏ). Người Việt nam chúng tôi vốn kính trọng những người có râu tóc bạc phơ, cho nên khi sang đến nước tôi, ông được rửa tội thành “Ông Già Noel”. Lẽ ra, phải kính cẩn gọi ông là “Cha Già Noel” để đối lại với “cha già dân tộc” mới phải!
Nhưng dường như tên gọi đối với ông không quan trọng cho bằng sự hiện diện của ông. Cứ mùa Giáng Sinh đến, càng có mặt được ở nhiều nơi, càng mang lại niềm vui cho người khác là ông vui. Chẳng hạn như ở Việt nam chúng tôi, kể từ khi những người Cộng sản áp đặt chủ nghĩa duy vật vô thần lên quê hương đất nước, Lễ Giáng Sinh không còn là một Ngày Lễ Nghỉ nữa: công sở phải mở cửa và học sinh phải cắp sách đến trường. Khốn nạn hơn nữa là người ta lại bắt học sinh phải “thi cử” vào chính ngày Giáng Sinh. Lễ Giáng Sinh không phải là ngày lễ nghỉ, nhưng bầu khí Giáng Sinh thì vẫn tưng bừng. Có được như thế là nhờ sự hiện diện của ông: ở đâu cũng thấy bóng dáng của ông!
Thưa Ông Già Noel, tôi nghĩ rằng ở đâu ông cũng len lỏi vào được, ở đâu ông cũng mang niềm vui đến cho mọi người, ở đâu và thời nào ông cũng vẫn từng đó tuổi, là bởi ông không câu nệ.Tên tuổi của ông, người ta muốn gọi như thế nào cũng được. Ngay cả cái “xuất xứ” và “căn tính” của ông, ông cũng chẳng xem trọng. Ông “an nhiên tự tại” như thế là bởi vì nhân cách của ông đã được nhào nặn từ nhiều truyền thuyết. Trong khi người Mỹ tin rằng ông hiện đang sống ở Bắc Cực.Vợ ông tên là “Claus”. Hai vợ chồng dùng một chiếc xe được kéo bởi 8 hay 9 con sơn dương không những lướt trên các núi phủ tuyết quanh năm mà còn bay được nữa. Một truyền thuyết khác lại còn bảo rằng ông viết tên tất cả mọi đứa trẻ trên thế giới vào một danh sách, xếp hạng chúng thành “tốt” và “xấu” và trong đêm Giáng Sinh chỉ mang quà đến cho những đứa trẻ tốt, nhưng tôi không tin như vậy. Vì chỉ có người lớn “xấu” chứ con nít thì không!
Tuy có nhiều truyền thuyết về ông, nhưng tôi nghĩ, bởi vì Lễ Giáng Sinh thiết yếu là Lễ của Kitô giáo, mà ông chỉ xuất hiện vào dịp lễ này, cho nên tên tuổi và diện mạo của ông gần với ông thánh Nicolas của Kitô giáo hơn.Thánh Nicolas là một nhân vật lịch sử sống vào thế kỷ thứ tư sau công nguyên. Lịch sử Kitô giáo ghi nhận rằng ông là giám mục tại Myra, nay là Demre, Thỗ Nhĩ Kỳ. Ông được bầu làm giám mục bởi vì ông là một người tốt bụng và quảng đại.
Là một người giàu có, sau khi được bầu làm giám mục, việc làm đầu tiên của ông là phân phát hết tài sản của mình. Nhưng một đêm nọ, một vị sứ thần hiện ra bảo ông phải giữ lại một số tài sản để đặc biệt giúp đỡ người nghèo. Theo lời sứ thần, vị giám mục liền giữ lại 3 bị vàng, cất giữ dưới gầm giường và đêm đến cứ nằm chờ lệnh của sứ thần. Cuối cùng, một đêm nọ, sứ thần hiện ra trong một giấc mơ và ra lệnh cho ông phải mang một bị vàng đến nhà của một người đàn ông nghèo có ba đứa con gái. Ba cô thiếu nữ này sẽ bị bán làm nô lệ nếu người cha không có đủ của hồi môn cho họ. Vị giám mục liền thức dậy, mang một bị vàng ra đi và lặng lẽ đặt món quà vào nhà người đàn ông nghèo. Nhờ món quà ấy, người con gái lớn có đủ tiền để làm hồi môn và như vậy không phải bị bán làm nô lệ.
Đêm hôm sau, vị giám mục quảng đại cũng lập lại một cử chỉ ấy với người con gái thứ hai. Đêm thứ ba, người đàn ông nghèo đã đóng tất cả mọi cửa nẻo trong nhà lại, vì ông nghĩ bụng người ân nhân bí mật sẽ buộc đi xung quanh nhà và như vậy ông và ba cô gái sẽ nhận diện được ông và bày tỏ lòng biết ơn. Không tìm được một chỗ nào để kín đáo đưa gói quà vào nhà, vị giám mục tốt bụng đành leo lên mái nhà và thả gói quà xuống theo ống lò sưởi.
Người đàn ông nghèo và ba cô con gái không hề biết ai là ân nhân của mình. Nhưng nhiều người đã biết câu chuyện và như thế câu chuyện đã được kể lại cho các thế hệ đến sau.
Vào thời Trung cổ, thành phố Myra rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ.Trong các chiến lợi phẩm mang về Âu Châu, các chiến sĩ trong các đoàn thập tự viễn chinh trân quý câu chuyện của thánh Nicolas. Câu chuyện đã được truyền tụng đi khắp Âu châu và cuối cùng đến Hoa Kỳ.Và như vậy, thánh Nicolas, vị giám mục quảng đại đã phân phát tất cả tài sản của mình cho người nghèo vào thế kỷ thứ tư, đã trở thành Santa Claus, Pere Noel hay ông già Noel, nhân vật huyền thoại cứ mỗi năm đến mùa Giáng Sinh mang niềm vui đến cho mọi người, nhứt là trẻ con.
Thưa Ông Già Noel, tôi tưởng tượng ông đang cười “hô hố” vì câu chuyện trên đây.Ông cười vì hình tượng của ông đã được thêu dệt và huyền thoại hóa qua thời đại. Mỗi năm, cứ đến Mùa Giáng Sinh, ông lại đến, nhưng không bao giờ lên tiếng cải chính về “ dung mạo” người ta vẽ ra về ông.
Sự thinh lặng của ông khiến cho không biết bao nhiêu người nghi ngờ về sự hiện hữu của ông. Chắc ông còn nhớ, “tháng 9 năm 1898, một bé gái 8 tuổi tên là Virginia đã viết thư cho một tờ báo Công giáo Hoa kỳ để hỏi về Ông Già Noel. Câu hỏi của cô bé là “Ông già Noel có thật không?”
Vài ngày sau, trong bài xã luận của tời báo, người ta đọc được câu trả lời của ông chủ nhiệm kiêm chủ bút như sau: “Virginia yêu dấu của bác. Điều trước tiên bác muốn nói với cháu là: các bạn của cháu thật là sai lầm khi bảo rằng không có ông già Noel. Các bạn của cháu đã bị tiêm nhiễm bởi trào lưu hoài nghi. Họ nghĩ rằng chỉ có thể tin được những gì họ thấy tận mắt. Họ nghĩ rằng không có gì có thể có được nếu trí khôn nhỏ bé của họ không hiểu được.
Virginia yêu dấu, tất cả mọi trí khôn của loài người, dù là của trẻ em, dù là của người lớn, tất cả đều nhỏ bé. Trong cái vũ trụ bao la này, con người chỉ là một con kiến nhỏ.
Virginia ạ, ông già Noel có thật.Ông có thật cũng như tình yêu và lòng quảng đại nhờ đó cuộc sống của cháu trở thành vui tươi và xinh đẹp. Bé ơi, nếu không có ông già Noel thì thế giới của chúng ta sẽ như thế nào? Không có những tâm hồn ngây thơ trong trắng của những trẻ thơ như cháu thì thế giới của chúng ta sẽ như thế nào? Không có một niềm tin của trẻ thơ như cháu thì không có một áng văn, một dòng thơ nào có thể làm cho cuộc sống của chúng ta đáng sống nữa. Không có một niềm tin của trẻ con thì ánh sáng vĩnh cửu đang lấp đầy thế giới cũng sẽ tắt dần.
Virginia, nếu cháu không còn tin ở ông già Noel nữa, thì cũng chẳng còn tin ở chuyện thần tiên nữa.Có thể cháu sẽ yêu cầu bố cho người ngồi canh ở lò sưởi, ở cuối giường để bắt cho được ông già Noel…Nhưng cho dù cháu không bắt được ông già Noel đi nữa, điều đó có ý nghĩa gì? Chưa có ai đã thấy ông già Noel, nhưng cũng chưa có ai chứng minh được là không có ông già Noel. Những điều có thực nhứt trong thế giới của chúng ta là những điều mà trẻ con và ngay cả người lớn cũng chưa từng thấy.
Cháu có bao giờ thấy các nàng tiên nhảy múa trên thảm cỏ chưa? Dĩ nhiên là chưa. Nhưng có ai chứng minh được rằng các nàng tiên không có không? Không ai có thể có khái niệm hay tưởng tượng được bao kỳ diệu chưa thấy hoặc không thể thấy được trong thế giới của chúng ta.
Chỉ có đức tin, chỉ có tình yêu mới có thể vén mở được bức màn bí mật của thế giới chúng ta.
Nhờ ơn Chúa, ông già Noel vẫn sống và tiếp tục sống, cháu Virginia ạ. Ông già Noel sẽ tiếp tục làm cho tâm hồn trẻ thơ được tràn đầy hoan lạc”( x. Veritas, Lẽ sống)
Thưa ông già Noel, với lá thư gởi cho bé Virginia trên đây, tôi cũng muốn nói lên niềm tin của tôi. Dù tên tuổi và xuất xứ của ông có như thế nào đi nữa, dù cho ngay cả ông có là một nhân vật huyền thoại, tôi vẫn tin rằng mỗi năm cứ đến Mùa Giáng Sinh ông lại đến. Ông đến không chỉ để thực hiện lời hứa với trẻ thơ. Ông còn đến để khơi dậy tình người, sự liên đới và lòng quảng đại trong con người. Ông đến để cho một tỷ người trên thế giới mà phần lớn là trẻ em mỗi buổi tối không phải đi ngủ với cái bụng còn đói. Ông đến để cho tất cả những ai đang đau khổ trong thể xác và tinh thần, bất luận ở nơi nào trên thế giới, vẫn cảm nhận được bàn tay chia sẻ, đỡ nâng và an ủi của người đồng loại.
Có như thế thì dù cho Lễ Giáng Sinh, vốn là một Ngày Lễ Tôn Giáo, có bị tục hóa hay thương mại hóa đến đâu, vẫn còn tỏa sáng được sứ điệp đích thực của nó: Thiên Chúa trở thành con người là để cho mỗi một người sinh ra trên cõi đời này được tôn trọng và yêu thương trong phẩm giá cao cả của mình.
Ông già Noel thân mến,
Nếu những điều ước trong mùa Giáng Sinh được thực hiện, tôi chỉ mong ước rằng, dù có thêm bao nhiêu năm nữa, ông vẫn không thay đổi, không già hơn và không đau yếu hay bịnh hoạn. Vì tôi sợ rằng người ta sẽ đem ông vào một viện dưỡng lão. Nơi đó chẳng khác chi nhà tù, ông không còn bay nhảy, chui ống khói hay leo trèo được nữa. Và tệ hơn, người ta còn có thể làm cho ông “chết êm dịu”. Thế giới này vẫn cần ông và cần ông hơn lúc nào khác. Còn ước mong là vẫn còn hy vọng. Còn hy vọng là còn tất cả.
Chúc ông già Noel một mùa Giáng Sinh vui vẻ và “an toàn trên đường lộ” trong mùa nghỉ lễ này. Nhớ đừng quá tốc độ và “say xỉn” vì cảnh sát sẽ không nương tay đâu, ông nhớ nha.
                                                           Giáng sinh 2009, Chu Thập


Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Cho cây rừng còn xanh lá


Chu Thập
Giáng Sinh 2014

Trong một khu rừng thông nọ, có một gia đình thông rất đặc biệt: Mẹ thông và con cái sống với nhau rất đầm ấm. Mẹ thông lúc nào cũng vươn cánh tay dài để ôm con cái vào lòng và che chở chúng cho khỏi nắng mưa đã đành mà còn để bảo vệ chúng khỏi bàn tay thô bạo của loài người vào mỗi dịp Giáng Sinh. Biết loài người thích đi tìm những cây thông non đẹp để chặt và đưa về nhà làm “cây thông Giáng Sinh” cho nên Mẹ thông luôn dặn dò con cái mình phải luôn biết sống khiêm tốn, đừng se sua làm đẹp mà khốn thân. Tất cả các Anh Chị thông đều nghe lời Mẹ thông để âm thầm sống bên Mẹ và nếu cần, biết xụ mặt xuống mỗi khi có người đi săn lùng những cây thông đẹp. Nhưng cây thông nhỏ nhứt là một cô bé xinh đẹp, nhí nhảnh và tò mò. Khi nghe Mẹ kể rằng loài người sẽ đem về chưng đèn kết hoa, cô bé cảm thấy háo hức và âm thầm tìm cách gây sự chú ý của loài người để được đem về thành phố. Một năm nọ, Cô Thông Út không chịu nghe lời “mẹ dặn” này đã lọt vào mắt xanh của đoàn người đi săn tìm cây thông Giáng Sinh. Cô thích quá vì biết sẽ được rước về đô thị để hưởng ánh sáng văn minh. Lưỡi cưa của đoàn người săn thông đã cắt gọn nguồn sống của cô. Người ta đóng vào thân Cô một cái chân đế để Cô có thể “đứng”.  Đau đớn vì bị cắt và phải lìa mẹ và các anh chị, nhưng nghĩ đến tương lai rực rỡ đang chờ phía trước, Cô vẫn cảm thấy phấn khởi và nôn nao. 
Mà đúng như dự đoán của Cô, Cô được đi qua nhiều phố phường rồi được chở về một căn biệt thự sang trọng. Người ta đặt Cô vào vị trí trung tâm phòng khách mênh mông, cài lên cành không biết bao nhiêu là hoa đèn. Còn dưới chân Cô thì ôi thôi, đủ thứ quà cáp được gói bằng những tấm giấy sặc s. Cô thấy mình cao sang hẳn ra. Đêm Giáng Sinh, cả gia đình tề tựu xung quanh Cô. Chưa bao giờ trong đời Cô cảm thấy hạnh phúc như thế. Cô nghĩ đến cuộc sống hiu quạnh và lam lũ của Mẹ và Anh Chị giữa khu rừng giá rét, cành lá bám đầy tuyết va cảm thấy hãnh diện. Suốt ngày Giáng Sinh, lũ trẻ con trong nhà lúc nào cũng xúm xít xung quanh Cô, như thể Cô là cái đinh của gia đình. Sang ngày “mở quà” (boxing day), niềm vui của Cô lại càng lớn hơn khi mọi người trong gia đình mở quà tặng cho nhau dưới ánh mắt của Cô, như thể Cô là người tặng quà cho họ. Cô cứ tưởng cuộc đời nhung lụa của Cô sẽ kéo dài vô tận. Nhưng việc gì sẽ đến phải đến: niềm vui đoàn tụ và chia sẻ của gia đình giàu có trong mùa Giáng Sinh chỉ kéo dài không quá một tuần lễ. Hoa đèn được giăng mắc trên người của Cô bị tháo gỡ một cách thô bạo làm Cô đau đớn, bầm dập. Cành lá xanh mướt một thời của Cô cũng bắt đầu héo tàn. Cô cảm thấy điều khủng khiếp nhứt đang xảy đến cho Cô: sau khi tháo gỡ hoa đèn và cho vào thùng, người ta không còn bưng cô một cách nâng niu nữa mà lôi xềnh xệt trên mặt tuyết rồi quăng vào một góc vườn. Cả mình cô trầy trụa tơi tả, nhựa sống gần như cạn kiệt, run rẩy trong cái góc vườn đầy rác rến, củi mục và chuột bọ. Tuyết tha hồ rơi trên mình cô và đọng thành từng tảng. Cô không còn sức để dũ tuyết. Nước mắt của Cô cũng đóng băng trên khuôn mặt bé bỏng của Cô. Cái đói lạnh và lẻ loi khiến cô càng nhớ đến Mẹ và các Anh Chị giờ này vẫn còn vi vu nơi rừng thông thân yêu. 
Khi nắng Xuân trở về, Cô Út xinh đẹp ngày nào giờ đây chỉ là một bộ xương khô gẫy nát. Gia chủ không muốn nhìn thấy một thứ xấu xí như vậy trong vườn nên quyết định hỏa táng Cô. Trong ngọn lửa, cô nhìn thấy tất cả mọi người đã từng vây quanh Cô, trầm trồ trước sắc đẹp của Cô, nhứt là lũ trẻ, reo hò khi thân Cô bị bùng cháy. Quằn quại trong ngọn lửa, Cô hết sức hối hận và khóc và khóc và khóc. Những giọt nước mắt khô.
Trên đây là nội dung của một câu chuyện về “Cây Thông Giáng Sinh” mà tôi đã nghe được từ một người đàn bà trung niên. Chị đã nghe kể chuyện này khi còn rất nhỏ. Không biết câu chuyện có phải là một phóng tác từ một câu chuyện về “cây thông Giáng Sinh” của nhà văn chuyên kể chuyện cổ tích của Đan Mạch là ông Hans Christian Anderson (1805-1875) không. Nhưng cả hai câu chuyện đều có lối kết “không có hậu” chút nào đối với con nít cả, bởi vì cả hai cây thông Giáng Sinh trong hai câu chuyện đều có chung một số phận là phải bị sát tế cho thần hỏa.
Người đàn bà kể cho tôi nghe câu chuyện trên đây cho biết mãi cho đến năm lên 12 tuổi, mỗi lần nghe câu chuyện này, chị đều khóc sướt mướt. Tôi cười thầm trong bụng. Đúng là đàn bà con gái nhiều nước mắt. Có lẽ tuyến lệ của tôi chưa bao giờ hoạt động đủ mạnh để tôi có thể sa nước mắt mỗi khi nghe một câu chuyện cổ tích cảm động như thế.
Tuy nhiên, gần đây, không biết có phải do “tuổi già” không, tôi lại “mủi lòng” mỗi khi nghĩ đến số phận của những cây thông Giáng Sinh. Cứ đến mùa Giáng Sinh, nơi một bãi đất trống gần chỗ tôi ở, người ta thường bày la liệt hàng trăm cây thông Giáng Sinh vừa được đốn từ một khu rừng nào đó. Giá mỗi cây không dưới 70 đô Úc. Nhìn những cây thông con bị chặt “ngọt” ở gốc, chất lên những xe “ute” rồi được trải ra trên đất cho người ta lựa, tôi cứ nghĩ đến ánh mắt ngơ ngác của những con bò, còn cừu khi bị lùa lên một hành lang gỗ để chuẩn bị xuống tàu đi đến một nơi xa lạ nào đó và đưa vào lò sát sinh.
Cũng như số phận của cây thông “chảnh” trong câu chuyện trên đây, tất cả những cây thông Giáng Sinh mà tôi nhìn thấy, sau những ngày vui của các gia đình, cũng sẽ bị mang ra hỏa thiêu để “hóa kiếp”. Nếu được may mắn tiếp tục làm cây thông và không bị đốn ngã ở tuổi thanh xuân để mua vui cho thiên hạ trong vài ngày, thì những cây thông đó sẽ sung sướng biết mấy khi “đứng giữa trời mà reo”.
Tôi thích ngắm thông giữa trời và nghe thông reo hơn là nhìn thông từ từ úa tàn trong mùa Giáng Sinh. Tìm hiểu nguồn gốc của cây thông Giáng Sinh, tôi mới biết rằng biểu tượng này có trước cả khi Chúa Giêsu sinh ra. Thời đế quốc La Mã, người ta đã biết trưng bày trong nhà những cành cây xanh vào mỗi dịp năm mới. Cư dân Bắc Âu cũng đã biết cắt những cây xanh, trồng vào những chậu gỗ và đặt trong nhà suốt mùa đông. Thoạt tiên, khi bắt đầu thâm nhập vào các nền văn hóa này, Kitô giáo dường như không muốn chấp nhận những biểu tượng ấy. Nhưng vào đầu Trung Cổ, khi truyền thuyết bắt đầu nhấn mạnh đến việc Chúa Giêsu chào đời vào mùa Đông, các tín hữu Kitô mới dần dần hiểu được biểu tượng của những cây xanh được đặt trong nhà: Chúa Giêsu chính là Sức Sống kỳ diệu khiến cho tất cả mọi cây cối đều dũ bỏ mọi lớp tuyết phủ trên mình để đâm chồi nẩy lộc. Kể từ đó, từ cành cây xanh của thời đế quốc Lã Mã, cây thông Giáng Sinh đã chào đời và trở thành biểu tượng của sự sống. Lễ Giáng Sinh đã trở thành lễ của sự sống.
Ngày nay, nhờ thương mại, cùng với những biểu tượng khác của Giáng Sinh, dù cho ý nghĩa tôn giáo của ngày lễ có bị chối bỏ, cây thông vẫn sẽ sống mãi trong nhà con người, nhưng ý nghĩa của sự sống thường bị lãng quên. Cây thông yểu mệnh đã không đủ sức để làm biểu tượng cho sự sống, mà trái lại chỉ nói lên thái độ miệt thị của con người đối với sự sống. Thật vậy, khi con người không biết tôn trọng sức sống của thiên nhiên thì đó cũng là lúc họ đối xử tàn bạo với sự sống nói chung và cách riêng của con người.
Ngày nay, kể từ khi thế giới đã nhận ra sự tàn phá của chính bàn tay con người đối với môi trường sống mà hiện tượng thời tiết thay đổi là một biểu hiện cụ thể, con người thời đại xem ra ngày càng ý thức hơn về sự tàn độc của mình đối với thiên nhiên. Không phải vô tình mà thành phố Lima, Peru đã được chọn làm nơi tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh về Thời tiết Thay đổi trong hai tuần lễ đầu của tháng 12 vừa qua. Châu Mỹ La Tinh vốn là lục địa mà vì phát triển kinh tế con người đã phá hủy sự cân bằng sinh thái hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Rừng già Amazone là một điển hình. Ba Tây ngày nay đã gia nhập vào câu lạc bộ 20 nước có nền kinh tế tiến nhanh và mạnh nhứt thế giới. Nhưng người ta đã phải trả một giá quá đắt cho sự phát triển kinh tế: theo ước tính, đến năm 2030, sẽ có đến 60 phần trăm diện tích của khu rừng già Amazone, buồng phổi của toàn Châu Mỹ La Tinh, sẽ bị phá hủy. Cùng với sự phá rừng bừa bãi, sự sống nguyên tuyền của không biết bao nhiêu bộ lạc thổ dân cũng bị đe dọa.
Con người thời đại tưởng có thể dùng sự phát triển kinh tế bằng mọi giá để phục vụ sự sống. Nhưng thực tế tại một số nước, như Trung Quốc chẳng hạn, đã chứng minh: chưa bao giờ thiên nhiên bị ngược đãi và sự sống con người bị đe dọa cho bằng thời đại này.
Sự sống của con người gắn liền với sự sống của thiên nhiên. Càng văn minh tiến bộ, con người càng ý thức về chân lý này. Ngược đãi thiên nhiên, tôi cũng miệt thị sự sống con người nói chung và cách riêng của chính cá nhân tôi.
Tôi đã bắt đầu ý thức về sự tương thuộc giữa thiên nhiên và sự sống con người kể từ khi, nói theo kiểu nói dân dã của người miền Trung của tôi, tôi “về vườn” và “lập vườn”, nghĩa là dồn hầu hết thời gian cho mảnh vườn sau nhà. Gieo trồng là một cuộc cưu mang và nuôi dưỡng. Hạt giống cũng chẳng khác nào một bào thai. Kể từ khi gieo hạt giống vào lòng đất, tôi đặt tất cả hy vọng và niềm vui vào đó. Tôi buồn khi nó không lớn lên như tôi mong đợi. Tôi muốn khóc khi thấy cây khế trong “quê hương bỏ túi” của tôi bỗng héo tàn rồi chuyển sang từ trần. Tôi đã vui biết chừng nào khi chứng kiến nó “lớn khôn” từng ngày và sinh hoa kết trái. Cây cối không chỉ biết “lớn”, chúng cũng “khôn” nữa. Tôi vẫn nhớ mãi câu nói của cậu con trai nhà tôi khi đứng ngắm nhìn cây dưa leo đưa mấy cái vòi của nó ra để quấn lấy cái dàn: “Nó thông minh quá”! Thông minh như người hay khôn ranh như người thì tôi không biết chắc, nhưng cứ như nhà động-thực vật học (naturalist) kiêm  phóng viên David Attenborough của đài Truyền hình BBC trong loạt bài phóng sự “Life” (Sự Sống) thì quả thực không riêng gì động vật, mà thực vật cũng có “trí khôn”. Cây cỏ không những luôn biết thích nghi với môi trường sống, chúng cũng có đủ “mánh khóe” để thu hút các loài vật khác. Hoa biết phải mở ra đúng thời đúng lúc và phát ra một loại tín hiệu nào đó để kêu gọi ong bướm đến giúp thụ phấn.
Tuy sống ở Úc, nhưng tôi không bao giờ rước bất cứ một cây thông bị “chặt chân” nào để đưa về nhà làm cây thông Giáng Sinh. Một cây thông làm bằng nhựa hay giấy cũng không đủ sức để trở thành một biểu tượng của sự sống đối với tôi. Với tôi, ngôi vườn sau nhà là cả một rừng thông Giáng Sinh: tất cả mọi thứ cây ăn trái và rau quả trong vườn đều là biểu tượng của một sự sống luôn mời gọi tôi tôn trọng và trân quý như chính sự sống của tôi. Càng chăm sóc và yêu mến cây cối trong vườn, tôi càng thấy cái tâm của mình được an lạc. Với tôi, sứ điệp “Hòa bình” của Mùa Giáng Sinh sẽ chỉ là một từ ngữ trống rỗng, nếu tôi chưa thực thi hòa bình với chính các cây cỏ trong ngôi vườn nhỏ bé của tôi. Tôi không thuộc Đảng Xanh. Tôi cũng chưa bao giờ tranh đấu trong bất cứ phong trào bảo vệ môi sinh nào. Tôi chỉ biết rằng niềm an bình mà ngôi vườn nhỏ bé của tôi mang lại cho tôi, luôn thúc đẩy tôi bước thêm một bước để sống chung hòa bình với bất cứ người nào tôi gặp gỡ mỗi ngày. Thành ra, niềm mong ước của tôi trong mùa Giáng Sinh năm nay là luôn được nhìn thấy ngôi vườn của tôi và cây rừng xung quanh được mãi mãi còn xanh lá.







Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Đi Đâu Loanh Quanh…




Chu Thập
10.06.11

Thời cây cột đèn cũng muốn vượt biên, ai cũng mong mỏi được thày bói chiếu cố cho một câu: “Trong lòng bàn tay (cô hay cậu) có đường chỉ tay ‘xuất ngoại, du lịch’.” Tôi chưa bao giờ trao tay cho thày bói nhưng nhìn lại đời mình, tôi có thể khẳng định rằng tôi có đường chỉ chân “du lịch”.  Công việc của tôi thường có tính “định canh định cư” nhưng chân tôi lại khó mà chịu được cảnh bó rọ. Mỗi ngày ngồi vào bàn giấy, mải mê gõ lóc cóc từng con chữ thì thôi, nhưng khi phải dừng lại suy nghĩ, chợt nhìn vào đôi chân đang bị “xếp xó” ngăn nắp dưới gầm bàn là cảnh trời nước mây sông nước lại hiện lên trong đầu, thôi thúc tôi thu xếp làm một chuyến “dế mèn phiêu lưu ký” gì đó. Vì vậy, sống chết gì thì vài tháng nửa năm tôi cũng phải làm một chuyến ra khỏi nhà. Không cần biết đi đâu, miễn là ra khỏi nhà. Xa hay gần không thành vấn đề. Có tiền, có thì giờ thì đi xa, đi lâu. Không tiền không giờ thì lái xe một vài trăm cây số, kiếm một bãi biển vắng người vung vài đường câu, trú qua đêm nơi một nhà trọ không định trước cũng đủ để “sướng rêm mé đìu hiu”.
Đi chơi “nhỏ” hay nói cho xôm là du lịch bỏ túi thì tôi quyết định nhanh và không phải mất giờ chuẩn bị vì không phải làm gì ngoại trừ coi lại xăng nhớt cho con ngựa già, thảy lên xe ít mì gói nước uống, cần câu…là xong. Không cần “book” cái gì hết, cũng không cần phải bẩm báo cho ai hết.
Thế nhưng nếu làm một chuyến đi “lớn” có liên quan đến máy bay, khách sạn, tàu thuyền…thì câu chuyện có khác. Với thời đại ‘online’ này, tôi hơi bị trục trặc. Đời có khi thật tréo ngoe, cái dễ của người lại là cái khó của mình. Có nhiều thứ trong thời đại này đứa con nít cũng làm được thì “ông già” này lại lúng túng. Chốn nhà quê như tôi, dốt Internet là một thất bại mà không có Internet phải coi là một đại thất bại, chẳng khác gì ‘cóc ngồi đáy giếng’…đóng. Cái gì bây giờ cũng giao dịch “online” (trên mạng) mà tôi vẫn chỉ biết “to be in line” (xếp hàng). Bởi vậy, hễ tính chuyện “đại sự” thì tôi lại phải làm phiền xấp nhỏ cho mấy cái chuyện “online”. Phải công nhận là thấy tụi nó làm dễ ợt mà ham. Không đầy vài tiếng đồng hồ, cũng không cần chờ đến giờ hành chánh để giao dịch, email của tôi hiện lên đầy đủ mọi giấy tờ cần thiết. Tôi chỉ việc in ra, theo đó mà thi hành là có một chuyến đi vui vẻ.
Nhờ hoài mà không thử tập làm một mình tôi thấy cũng tự ái. Vả lại tôi coi có vẻ cũng…dễ ăn. Vì vậy, chuyến đi sắp tới tôi tuyên bố sẽ chuẩn bị mình ên. Muốn chắc ăn, tôi kêu một đứa ngồi bên cạnh trong khi mua vé máy bay trên mạng. Trót lọt! Thừa thắng xông lên, tôi tự mình đọc các quảng cáo phòng trọ nơi xứ lạ quê người rồi cũng bắt chước lần trước, điền vào những ô trống có sẵn, cung cấp chi tiết cá nhân, trả tiền đàng hoàng rồi nhấn “submit”. Xong xuôi cũng thấy hiện lên hai chữ “cám ơn”, tôi khoái chí mở mail ra chiêm ngưỡng thành tích thì…Chẳng hiểu sao đã đọc đi đọc lại mọi chi tiết mà cuối cùng cái ngày tôi điền vào hoàn toàn trật lất. Thế là lại phải cầu cứu. Chuyện ngắn biến thành chuyện dài. Sau lần đó, tụi nhỏ lên mặt, nói tôi chưa thể “độc lập” để giao dịch online, vẫn cần có người “kèm trẻ”.
Rồi thì mọi thứ cũng chuẩn bị xong (dưới sự giám sát) cho một chuyến đi. Tôi chỉ còn phải chuẩn bị thực phẩm cho gà vịt, dặn dò người hàng xóm bằng một cái list đầy đủ chi tiết những việc cần làm là có thể yên tâm đánh một giấc chờ trời sáng đáp xe lửa ra phi trường. Háo hức không ngủ được tôi ngẫm nghĩ: chuẩn bị đi chơi kiểu “tiền online” quả khác xa với “hậu online”. Tôi chưa quen với kiểu này nên cảm giác trồi sụt lung tung. Nhưng nếu chuẩn bị xong xuôi thì chuyến đi có vẻ trở nên dễ dàng, an toàn, không lệ thuộc người khác và nằm trong ngân quỹ hơn. Như mọi người, tôi thích có được những bất ngờ lý thú khi đi chơi bao nhiêu thì lại sợ cái cảnh ‘có biết đâu niềm vui đang nằm trong thiên tai’ bấy nhiêu. Thế nên, tôi thấy “chịu đèn” với những sắp xếp, chuẩn bị chu đáo mà các dịch vụ “online” mang lại. Dù chưa đủ bản lĩnh lăn vào chốn ta bà để chọn những thứ “tốt nhứt mà rẻ nhứt”, tôi thấy mình cũng bớt lạc hậu một chút. Nó cũng làm cho niềm háo hức sắp được đi chơi cố hữu trong tôi tăng thêm. Một chuyến du hành tới một không gian mới đang chờ đợi tôi.
Những ngày chờ đợi lên đường cũng háo hức và có khi còn vui hơn cả cuộc hành trình và điểm đến. Nhớ lại thời trung học, xa nhà, cứ mỗi lần đến kỳ thi nghỉ giữa khóa hay nghỉ hè là lên ruột. Vừa lo vừa háo hức. Nhứt là cái đêm chờ sáng để lên đường về nhà sau những tháng ngày xa cách. Vui đến nỗi không thể chợp mắt. Dường như sự chờ đợi cái đang đến làm cho chúng ta vui hơn là khi mình đã chiếm hữu được nó.
Mặc dù chân có đường chỉ du lịch, tôi biết mình chẳng bao giờ có thể đạt được thành tích của vị giáo hoàng quá cố Gioan Phaolo II: trong 25 năm làm thủ lãnh Giáo hội công giáo đã đi lại vòng quanh thế giới nhiều hơn bất cứ nhân vật lịch sử nào. Tôi cũng chẳng dám so sánh với đương kim bộ trưởng ngoại giao Úc Kevin Rudd: chưa đầy một năm đã thực hiện những chuyến công du mà tổng cộng chiều dài cũng đã bằng khoảng cách từ trái đất lên mặt trăng. Nhưng nếu so với mấy ông bạn chăn trâu giờ này vẫn còn là dân cày ở cái làng quê chó ăn đá gà ăn muối, thì quả thật tôi là một ông hoàng du lịch. Mấy ông bạn của tôi dường như quanh năm ngày tháng chỉ biết có mỗi một lộ trình: sáng ra ruộng tối về nhà trên một đoạn đường đất dài không quá một cây số. Cùng lắm thỉnh thoảng một vài người cũng làm một chuyến gọi là đi xa để thăm con cháu. Nhưng xa lắm cũng chỉ là Sài Gòn hay Hà nội là cùng. Kiến thức về con người, địa lý và lịch sử, có thể tôi hơn mấy ông bạn của tôi vì tôi đã đi được khá nhiều “ngày đàng”. Nhưng liệu có dám nói rằng tôi có nhiều “sàng khôn”, có cuộc sống hạnh phúc, thanh thản và bình an hơn mấy ông bạn của tôi không? Tôi tin rằng họ có được niềm vui mà tôi đã đánh mất: đó là niềm vui được sống cuộc sống thanh đạm, hưởng những thú vui nhàn tản, đơn sơ trước mắt như cảnh đồng ruộng bao la bát ngát quanh năm ngày tháng, được khề khà bên ly rượu đế với con cá lóc nướng trui, con chuột đồng thui, được ngồi lim dim thả cần câu bên con sông nước trong vắt hay đêm nằm nghe tiếng ếch nhái kêu. Chân đã đóng cái thứ phèn mà chẳng có nước nào có thể tẩy xóa, giọng nói quê mùa mà có cố gắng sửa cách mấy cũng để lòi cái đuôi “đồng chua nước mặn”, cho nên tôi không thể nào quên được những cái thú nhà quê ấy. Bây giờ, ở đâu và đi đâu, nhứt là khi tuổi già cứ sồng sộc đến, tôi lại càng thấy những kỷ niệm ấy trồi lên một cách mãnh liệt. Càng trân quý những kỷ niệm ấy, tôi lại càng thấy tiếc nuối những gì mình chưa kịp hưởng thì nó đã đi qua và chẳng bao giờ trở lại. Quả thật, “không ai tắm hai lần trong một dòng sông”. “Nước sông là thời gian, thời gian trôi đi không bao giờ lấy lại được nữa. Ví như nước sông dù có một lúc nào đó ngừng lại đợi ta trở về nhẩy xuống, thì ta trở về cũng không còn là ta thủa trước. Ta đã đổi thay rất nhiều rồi.” (Trần Mộng Tú, Ba Mươi Sáu Năm Sau, Việt luận 20/5/11)
Tưởng may mắn hơn người vì có đường chỉ du lịch trên bàn chân, thực ra tôi cũng chỉ là người đứng núi này trông núi nọ. Cái hiện tại và đang có, tôi không lo hưởng thụ cho ‘tới bến’ mà chỉ ngóng trông cái chưa đến và có khi không bao giờ đến.
Thời trung học, tôi thích câu ngạn ngữ Pháp “Un tiens vaut mieux que deux tu l’auras” (thà có một đồng trong tay còn hơn hai đồng chưa có). Bây giờ nhìn lại cuộc đời đã xanh rêu, tôi thấy mình đã đánh mất quá nhiều cái đang có để chạy theo những chiếc bóng.
Gần đây, tôi đọc lại cuốn “The Power of Now” (Sức mạnh của Hiện Tại) của ông Eckhart Tolle, người vừa được bầu chọn là một trong 20 nhà lãnh đạo tinh thần có thế giá nhứt hiện nay. Eckhart Tolle sinh năm 1948 tại Đức. Năm 13 tuổi, sau một tuổi thơ bất hạnh vì sự đổ vỡ gia đình, ông theo cha sang sống bên Tây ban nha. Khi 19 tuổi, ông sang Anh và sống bằng nghề dạy tiếng Đức và tiếng Tây ban nha tại một trường ngoại ngữ. Trầm uất, lo lắng và sợ hãi, ông bắt đầu đi tìm giải đáp cho chính cuộc sống của mình. Năm 22 tuổi, ông theo học tâm lý học và triết học tại đại học London. Năm 1977, ông tốt nghiệp tối ưu và được học bổng để nghiên cứu tại đại học Cambridge. Năm đó, ông đã 29 tuổi. Một buổi sáng nọ, sau một thời gian dài bị trầm uất đến độ muốn tự tử, ông nói rằng ông đã thức giấc và cảm nghiệm được một sự “biến đổi nội tâm”; ông không còn thấy bất mãn với quá khứ và cũng chẳng phải lo sợ trước tương lai. Trong mọi cảnh huống, ông cảm thấy bình an. Ông xin vào sống trong một tu viện Phật giáo. Để tưởng nhớ một bậc thày chuyên khuyên dạy con người sống giây phút hiện tại là Meister Eckhart, ông đã đổi tên thành Eckhart.
Sau cuộc giác ngộ ấy, Eckhart Tolle bắt đầu chia sẻ kinh nghiệm của mình và làm cố vấn tâm lý cho nhiều người. Năm 1995, sau nhiều lần viếng thăm Canada, ông đã quyết định sang định cư tại nước này. Ông hiện đang sống với vợ tại Vancouver, Britisch Columbia.
Trong cuốn “The Power of Now” mà nhiều người xem như sách gối đầu giường, ông Eckhart Tolle khuyên: “Hãy nhận thức sâu xa rằng giây phút hiện tại là tất cả những gì bạn có. Hãy biến Cái Bây Giờ thành trọng tâm chú ý của đời bạn.”
Quả thật, chỉ có sống giây phút hiện tại một cách sung mãn con người mới có được sự bình an trong tâm hồn.Trong cuốn sách có tựa đề “Peace in Every Step” (an bình trong mỗi bước đi), tác giả Nhất Hạnh đã viết: “Mỗi buổi sáng, khi chúng ta thức dậy, chúng ta có hai mươi bốn giờ mới để sống. Thật là một món quà quý báu! Chúng ta có khả năng sống như thế nào để hai mươi bốn giờ này mang lại an bình, vui tươi và hạnh phúc cho chúng ta và cho người khác. An bình đang hiện diện ở đây và bây giờ, trong chúng ta và trong mọi sự chúng ta làm và thấy…Chúng ta không cần phải đi đâu xa để hưởng bầu trời trong xanh. Chúng ta không cần phải rời bỏ đô thị hay khu xóm của chúng ta để chiêm ngưỡng đôi mắt của một đứa bé xinh đẹp. Ngay cả không khí chúng ta hít thở cũng có thể mang lại cho chúng ta niềm vui.”
Theo đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, sự biến đổi nội tâm của mỗi cá nhân là điều khó thực hiện, nhưng đó là con đường duy nhứt để mang lại hòa bình cho thế giới. Ngài nói: “Bình an trước tiên phải có trong tâm hồn mỗi người. Và tôi tin rằng tình yêu, sự cảm thông và lòng vị tha là nền tảng cho hòa bình. Một khi những đức tính này được phát huy trong một cá nhân, thì người đó sẽ tạo được một bầu khí an bình và hài hòa. Bầu khí ấy sẽ tỏa lan từ cá nhân đến gia đình, từ gia đình đến cộng đồng và ngay cả đến toàn thế giới”.
Suy ngẫm về những lời khuyên của những bậc thày tinh thần trên đây, tôi thường tự nhủ: nếu như đã không tìm ra được một lối sống an bình và hạnh phúc thì “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Đâu cần phải đi đâu xa để tìm kiếm niềm vui, hạnh phúc và sự bình an, bởi lẽ nó nằm ngay trong ta, ngay trong giây phút này đây và ở ngay đây. Tôi đã từng nhìn thấy những người sánh vai nhau đi du lịch nhưng cuối cùng chỉ dành thì giờ cho những cắn đắng, gây gỗ, bất hòa.
Nhớ lại chuyến đi Cruise từ Sydney đến New Caledonia. Đây là chuyến “du hí” xa nhứt của tôi kể từ khi được làm công dân Úc. Du khách trên chuyến tàu dường như không đợi đến lúc đặt chân lên đảo mới “vui chơi”. Với đủ mọi thứ sinh hoạt, vừa bước xuống tàu thì cuộc vui đã bắt đầu ngay từ sáng đến tối cho đến lúc trở về Úc. Tôi nhìn lại hải trình ấy như hình ảnh của chính hành trình cuộc sống, xuyên qua đó, niềm vui đến mỗi ngày và trong từng phút giây chứ không đợi đến lúc về đến bến bờ.
  




   

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014

Tội nghiệp Ông Già Noel Úc!



Chu Thập,
Noel 2014



Mỗi dạo Giáng Sinh về, tôi lại thấy tội nghiệp cho Ông Già Noel ở Úc. Với cái nóng rực lửa của mùa hè Úc, khoác vào người bộ y phục “bắc âu” để kiên nhẫn đứng chụp hình với trẻ con trong các siêu thị hoặc chỉ làm những cử chỉ cao đẹp để mang lại niềm vui cho người khác, vậy mà tấm lòng từ tâm ấy vẫn bị nghi ngờ. Không biết rồi đây, kỷ niệm đẹp đối với trẻ con là được ngồi trong vòng tay Ông Già Noel có còn là một hình ảnh đặc trưng của mùa Giáng Sinh nữa không, bởi lẽ những người quan tâm đến việc bảo vệ trẻ em cảnh cáo các bậc phụ huynh không nên để con em được ngồi trên “đùi” của Ông Già Noel để chụp hình nữa.
Tôi mới đọc được lời cảnh cáo trên đây trên báo “The Herald Sun” số ra ngày 7 tháng 12 vừa qua. Theo bản tin, một người tích cực hoạt động trong phong trào bảo vệ trẻ em (child protection) là bà Hetty Johnton đã phản ảnh quan ngại và yêu cầu của một số bậc phụ huynh tại tiểu bang Queensland là cần phải chấm dứt việc để cho trẻ con ngồi trong lòng Ông Già Noel để chụp hình trong các siêu thị. Bà Johnston nói rằng các chủ siêu thị cần phải cập nhựt các chính sách về việc bảo vệ trẻ em. Theo bà, ngoại trừ cha mẹ hoặc chính đứa trẻ yêu cầu được ngồi trên “đùi” của Ông Già Noel khi chụp hình, trẻ em chỉ nên đứng bên cạnh ông mà thôi. Bà Johnston nói rằng các trung tâm thương mại có nghĩa vụ phải quan tâm đến việc bảo vệ trẻ em trong khu vực được đặt dưới trách nhiệm của mình.
Việc để cho trẻ con được ngồi trên đùi của Ông Già Noel để chụp hình hiện đang gây ra nhiều tranh cãi tại tiểu bang Queensland. Nhiều bà mẹ ủng hộ lập trường của bà Johnston. Bà Johnston nói rằng các bậc phụ huynh cần phải dạy cho con em biết từ chối ngồi trên đùi của Ông Già Noel nếu chúng cảm thấy không được  an toàn. Bà Johnston lập luận rằng nếu ngay cả với những người thân trong gia đình mà trẻ con cũng có quyền từ chối ngồi trên đùi họ thì huống hồ là một người xa lạ mặc trang phục Ông Già Noel trong các siêu thị.
Ai cũng biết rằng lời cảnh cáo trên đây được đặt trong bối cảnh của không biết bao nhiêu tai tiếng về lạm dụng tình dục đối với trẻ em đã từng xảy ra trong các tổ chức tôn giáo, từ thiện và giáo dục tại Úc Đại Lợi trong nhiều thập niên vừa qua. Những Ông Già Noel mà người ta thường thấy xuất hiện trong các siêu thị trong mùa Giáng Sinh để “làm phông” chụp hình kỷ niệm cho trẻ con, dĩ nhiên không thuộc tổ chức tôn giáo hay giáo dục nào cả. Dù vậy họ cũng đã được huấn luyện hẳn hoi để chỉ đứng làm cảnh chụp hình cho trẻ con. Ông Mark Overell, người đã từng làm Ông Già Noel trong 24 năm để làm phông chụp hình cho trẻ con vào mỗi dịp Giáng Sinh,  hiện đang là một “huấn luyện viên” chuyên đào tạo các Ông Già Noel. Ông Overell cho biết tổ chức “Promoworks” của ông cung cấp hàng trăm Ông Già Noel cho các trung tâm thương mại trên toàn tiểu bang Queensland. Ông khẳng định rằng tất cả những ai nộp đơn xin làm Ông Già Noel để làm phông chụp hình cho trẻ con trong các siêu thị, đều phải qua một cuộc thanh lọc lý lịch rất kỹ. Họ được huấn luyện để tất cả mọi cử chỉ đều diễn ra đúng bài bản hầu tránh mọi hành vi  “sàm sỡ” hay đáng nghi ngờ đối với trẻ con: hai bàn tay phải đeo găng trắng và chỉ được phép đặt trên vai của đứa trẻ hoặc ôm nó vào lòng, chứ không được “lang thang” vào những nơi khác trên cơ thể đứa trẻ.
Tôi thấy tội nghiệp Ông Già Noel. Là người mang niềm vui đến cho người khác, nhứt là trẻ con, ông hiện đang là người bị theo dõi (person of interest). Nhưng thương nhứt là trẻ con. Rồi đây, với nhiều em, Ông Già Noel sẽ không còn là biểu tượng của sự tử tế, lòng quảng đại nữa, mà là kẻ đang bị tình nghi cần phải đề phòng.  Các em là nạn nhân của điều mà mà nhà bình luận xã hội David Chalke gọi là “triệu chứng của sự canh phòng quá độ” để, nếu không như mấy ông cộng sản Việt Nam nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, thì con người thời đại nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm. Tội nghiệp cho trẻ con của thời đại: thay cho ánh mắt đơn sơ trong trắng, hồn nhiên và sự chân thành, chúng phải  lớn lên trong sự  ngờ vực và nghi kỵ đối với mọi người.
Xét cho cùng, thế giới ngày nay đang hưởng được mọi tiện nghi vật chất, nhưng lại không còn là một nơi an toàn để sống hay đúng hơn, một thế giới trong đó con người không còn cảm thấy an toàn nữa. Kể từ sau cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ, tuy không dám công khai nói ra, nhưng cứ lên máy bay mà thấy bóng dáng một người Trung Đông thì ai cũng bắt đầu run. Đây là thái độ mà có lẽ danh hài Anh Sacha Baron Cohen đã muốn chế diễu trong cuốn phim “The Dictator” (nhà độc tài) được trình chiếu hồi năm 2012. Kể từ khi nổ ra vụ tai tiếng về xách nhiễu tình dục trong các tổ chức tôn giáo, từ thiện  và giáo dục, nhiều người có lẽ cũng có cái nhìn đầy nghi kỵ như thế đối với những người hoạt động trong các lãnh vực này.
Thật ra, không riêng đối với những người đang hoạt động trong một số lãnh vực vốn bị nghi ngờ là môi trường hoạt động của những kẻ ấu dâm, dường như người ta cũng nghi ngờ về những cử chỉ thân thiện, bình thường của người khác đối với trẻ con. Có lẽ nhà văn Jessica Rudd, ái nữ của cựu thủ tướng Kevin Rudd, đã muốn nói lên mối nghi ngờ ấy của mình  khi cô kể lại kinh nghiệm trên một chuyến bay từ Hong Kong đi Bắc Kinh. Trong một bài viết được đăng trên báo “The Brisbane Times”, cô Jessica Rudd cho biết cô và đứa con gái nhỏ của cô (sinh năm 2012) ngồi bên cạnh một người đàn ông Pháp. Cũng như mọi đứa trẻ khác, đứa bé cháu ngoại “tàu lai” của cựu Thủ tướng Rudd, vốn chỉ cao chưa tới một thước, cũng cảm thấy rất thoải mái với người xung quanh. Người hành khách ngồi bên cạnh cô Jessica Rudd và đứa con gái nhỏ của cô trong chuyến bay từ Hong Kong đi Bắc Kinh hôm đó là một người đàn ông Pháp, lịch sự và theo lời cô, “kiên nhẫn như thánh Phanxicô de Sales” (sic). Mặc cho cô gái nhỏ, khi ngủ nghê có giơ chân đạp tứ tung, người đàn ông Pháp vẫn mỉm cười, chịu đựng. Đến một lúc, một cách rất tự nhiên như một người cha đầy ưu ái, ông lấy hai chân của cô bé đặt lên đùi của mình, lấy tấm chăn của mình phủ lên đôi chân của nó, rồi bắt đầu vỗ về để ru nó ngủ. Nhưng như mọi người mẹ của thời đại mà ánh mắt vốn không còn đủ trong trắng và tin tưởng khi nhìn vào cử chỉ của một người đàn ông mà mình không thể hiểu được “chủ tâm”, người mẹ trẻ đã kéo đứa con gái lại và đặt nó lên đùi của mình. Người đàn ông Pháp nhún vai, với đôi chút ngỡ ngàng hoặc ngay cả cảm thấy bị xúc phạm.
Có lẽ như một lời xin lỗi với người hành khách ngồi bên cạnh trên chuyến bay, nhà văn Jessica Rudd viết trên báo “Brisbane Times” rằng cô chưa từng thấy một người nào tử tế hơn mà cô được hân hạnh ngồi bên cạnh. Cô cũng gởi lời cám ơn đến bất cứ người lạ mặt tử tế nào đã từng giúp đỡ cô khi lâm vào một hoàn cảnh khó xử. Và lời nhắn gởi cuối cùng của cô là: “Thật là nhục nhã cho thiểu số những con “quái vật” (những kẻ ấu dâm) đã phá hủy mọi sự” (x. Jessica Rudd: babies bring kindness amid fear of monsters, Brisbane Times 8/12/2014). Dĩ nhiên, điều bị tàn phá nặng nề nhứt chính là lòng tin của con người đối với người khác. Thật ra, đâu cần thiểu số những “con sâu làm rầu nồi canh” của những kẻ ấu dâm. Ngày nay, ngay cả các chính trị gia “nói láo như vẹm” cũng làm cho lòng tin của người dân bị xói mòn đi không ít.
Đọc lời cảnh cáo của bà Johnston về việc nên chấm dứt để cho trẻ con được ngồi chụp hình trên đùi của Ông Già Noel và nghe tâm sự của nhà văn Jessica Rudd, tôi cảm thấy như bầu khí Giáng Sinh năm nay bị vẩn đục đi phần nào vì thái độ thiếu tin tưởng của con người đối với con người.
Không riêng đối với những “con quái vật” ấu dâm chuyên  săn đuổi và làm chuyện đồi bại với trẻ con, con người cũng dễ có cái nhìn thiếu tin tưởng và đầy nghi ngờ đối với tất cả những ai có dáng vẻ khác thường hoặc không giống mình. Theo một câu chuyện “làng nọ có một bãi biển rất xinh đẹp. Mỗi buổi chiều, lũ trẻ trong làng đều kéo nhau ra đó chơi đùa. Thế nhưng, chiều nào cũng có một người người đàn bà ăn mặc rách rưới đi tới lui trên bờ biển và thỉnh thoảng cúi xuống nhặt vật gì đó trong cát. Mỗi lần đi ngang qua lũ trẻ, bà lại mỉm cười với các em. Vì trông người phụ nữ đó rất dơ bẩn nên bố mẹ các em bảo con mình nên tránh xa bà.”
Thật ra, theo người biết rõ “hành tung” và “ý đồ” của người phụ nữ ăn mặc rách rưới và đáng nghi ngờ trên đây, những vật mà mỗi buổi chiều người đàn bà đi bách bộ trên bãi biển cúi xuống nhặt lên chính là những miếng vụn thủy tinh sắc nhọn. Bà làm như thế là để tránh cho lũ trẻ không bị thương tích khi chơi đùa trên bãi biển (theo Francis Xavier, Những Bài học Vô giá từ những điều Bình dị, nhà xuất bản tổng hợp TP.Hồ Chí Minh).
Những ông bố bà mẹ của lũ trẻ chơi đùa trên bãi biển trên đây hẳn phải cảm thấy “hổ thẹn” khi biết được thiện tâm và thiện chí của người đàn bà ăn mặc chẳng giống ai này. Tôi cũng đã có lần cảm thấy “hổ thẹn” như thế vì thái độ nghi ngờ của mình đối với một người vô gia cư mà tôi gặp trên bãi câu. Hôm đó tôi ra bãi câu sớm hơn thượng lệ. Mặt trời chưa lên. Khi tôi đang chuẩn bị đồ nghề, thì từ trong khu nhà vệ sinh bên cạnh bờ sông, một bóng đen mà ánh sáng lờ mờ vừa đủ để tôi nhận ra bộ râu và áo quần dơ bẩn, xuất hiện và tiến về phía tôi. Tôi chuẩn bị tư thế để nếu có “sự cố” xảy ra thì “đào vi thượng sách”. Nhưng trái với dự phòng của tôi, người đàn ông vô gia cư niềm nở chào hỏi và rối rít giúp đỡ tôi chuẩn bị đồ câu. Câu chuyện lại nổ lên như bắp rang. Tôi thực sự cảm thấy “hổ thẹn” vì thái độ nghi kỵ và thiếu tin tưởng của mình. Từ đó, tôi thường ngẫm nghĩ: nhân cách của mình sẽ bị xói mòn nếu mình tự giam hãm trong thái độ thiếu tin tưởng đối với người xung quanh. Câu chuyện của một người nước Tề  nằm mơ thấy có kẻ thù tấn công mình, cho nên ngày nào cũng ra đường để rình cho được kẻ thù, nhưng tìm không ra, về nhà uất người lên mà chết...dường như muốn nhắc nhở tôi điều đó. Diễn giả hùng biện nhứt của đế quốc La Mã là Marcus Tullius Cicero (106-43 trước Công Nguyên) đã có lý để bảo rằng “kẻ thù khủng khiếp nhứt của con người là chính mình”. Và một trong những nghịch lý lớn nhứt trong cuộc sống là: con người  trở thành kẻ thù của chính mình khi bắt đầu để cho sự nghi kỵ và nhứt là hận thù lớn lên trong tâm hồn mình.
Có lẽ đây cũng là bài học mà hình ảnh của trẻ thơ và Ông Già Noel gợi lên cho tôi. Với tôi, Mùa Giáng Sinh sẽ vô nghĩa và cái tâm của tôi không thể có được an bình cũng như tư cách của tôi sẽ bị thui chột thêm nếu tôi vẫn tiếp tục nuôi dưỡng sự đố kỵ, hận thù và nhứt là thái độ thiếu cảm thông đối với người khác.







Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Học Sống




Chu Thập
25.05.11

Tôi thích những mẩu chuyện “tử tế” và những kinh nghiệm “sống” trên tạp chí Reader’s Digest, ấn bản Úc châu. Trong số ra tháng 6/2011 của tạp chí, tôi đọc được câu chuyện khá cảm động của một tù nhân tại Trung tâm cải huấn Junee NSW. Tác giả ký tên là Norman Yammine kể lại cuộc sống trong tù: “Ở tù cho tôi cái cảm giác như bị chôn sống. Tôi là một con rối bị người ta giựt giây để bắt tôi phải ăn, ngủ và thức dậy khi nào họ muốn.
Cứ đêm đến, tôi nằm sải lên giường và nhai đi nhai lại cùng một ý nghĩ. Đầu tôi đầy dẫy hình ảnh của những người tôi thương như cha mẹ tôi, em tôi, hôn thê của tôi, bạn bè của tôi.
Tôi cũng nghĩ đến những điều sai trái đã xảy ra và tưởng tượng ra cách đền bù cho những gì tôi đã đánh mất. Ở tuổi 27, tôi đang thụ án 9 năm tù vì tội bắn phá và cố ý đả thương. Sau 6 năm cấm cố, việc tạm tha của tôi sẽ được duyệt xét vào tháng 12 tới đây.
Tôi sống mỗi ngày như mọi ngày. Không có gì thay đổi, ngoại trừ con người. Các bạn tù được chuyển đến một nơi khác hay được trả tự do. Một số đến từ những trại tù khác hay vừa mới bị bắt giam. Cánh cửa nhà tù liên tục đóng mở.
Nhưng nhà tù đã làm cho tôi thay đổi. Khi phạm tội ác, tôi là một thanh niên hư hỏng, nhưng nay đã tìm gặp lại chính mình. Và từ một kinh nghiệm tiêu cực, nhà tù đã biến thành một kinh nghiệm tích cực. Tôi đã làm chủ được chính mình và đã tìm ra những con đường mới.”
Norman giải thích rằng khi vừa bị giam, khả năng đọc viết của anh rất hạn chế vì anh là một học sinh lười biếng. Thế rồi, khi làm một vòng quanh sân nhà tù, anh nhận thấy các bạn tù khác, người đọc sách, kẻ viết thư cho gia đình và bạn bè. Anh thấy thất vọng vì mình không làm được như thế. Anh mơ ước sẽ có một ngày đuợc ngồi dưới ánh mặt trời, nhâm nhi tách cà phê và đọc một tờ báo hay một cuốn sách mình thích. Anh cũng mơ có ngày ngồi viết thư cho gia đình, bạn bè và chia sẻ những tư tưởng và cảm nghĩ của mình.
“Tôi liền quyết định không bỏ phí thời giờ trong tù, nhưng thay vào đó sẽ lợi dụng mọi phương tiện có sẵn. Tôi bắt đầu học. Đây chỉ là những bước tập tễnh, nhưng tôi cương quyết phải  đạt cho bằng được mục tiêu của mình. Một ngày nào đó, tôi cũng sẽ đọc và viết đàng hoàng.”
Giờ đây, sau 5 năm miệt mài, với nhiều kiên trì vất vả, Norman Yammine đã đạt được mục đích. Anh không những biết đọc biết viết trôi chảy mà còn hoàn tất một khóa về cách giúp người khác đọc và viết. Anh viết: “Họ biết ơn vì sự giúp đỡ của tôi và tôi cũng biết ơn vì có thể trao lại một cái gì đó.” Ngoài ra, anh cũng đã tham dự một khóa viết văn do một giáo sư trường TAFE hướng dẫn. Viên giáo sư này đã trao cho anh một cuốn Reader’s Digest và khuyên anh nên chia sẻ câu chuyện của mình.
Anh tâm sự: “Cuộc hành trình ngàn dặm của tôi bắt đầu bằng một bước nhỏ. Giờ đây, tôi đang hưởng từng khoảnh khắc sự thành công của tôi. Học viết và đọc ở một trình độ cao hơn đang mang lại cho tôi sức mạnh nội tâm để chia sẻ về mình một cách tích cực hơn. Tôi cũng đã có thể có những cuộc trò chuyện tốt đẹp hơn với gia đình và bạn bè của tôi.
Ngày mà tôi hằng mơ ước đã đến: giờ đây tôi có thể tận hưởng tách cà phê với một cuốn sách cầm trong tay. Học đọc và viết đã thay đổi cuộc sống của tôi và bài viết này là bài văn “đúng đắn” đầu tiên của tôi, nhưng sẽ không phải là bài cuối cùng.”
Tác giả kết thúc bài luận văn đầu tiên của mình với bài thơ có tựa đề “Cơn Mưa tháng 11” như sau:
Có quá nhiều kẻ thù ghét trong một nơi.
Họ mặc cả chuyện chiến tranh và biện minh cho chính nghĩa của mình.
Tôi ngồi ở đây và cố gắng sống tử tế.
Người ta tưởng tôi là kẻ mất trí.
Điều tôi đang làm là thay đổi cách sống của tôi, sửa sai những sai lầm của quá khứ.
Tôi không bao giờ quay trở lại quá khứ.
Khi tôi ra khỏi tù, người ta sẽ tưởng tôi là một đồ bỏ.
Tôi biết rằng hai tiếng “xin lỗi” của tôi sẽ không bao giờ xoa dịu mọi đau thương.
Nhưng tôi cầu nguyện cho trời lại sáng sau cơn mưa
(x. Reader’s Digest, Úc châu, số tháng 6/2011)
Norman Yammine xin Reader’s Digest chuyển món tiền nhuận bút từ bài viết này cho cơ quan Youth Off the Street. Anh cũng có ý định sẽ viết hồi ký khi ra khỏi tù, với hy vọng giúp cho người khác không đi vào con đường phạm pháp của anh.
Norman Yammine không chỉ biết đọc và biết viết để chia sẻ những ý tưởng và cảm nghĩ của mình. Anh không chỉ trau dồi nghệ thuật “cầm bút”. Theo tôi, điều quan trọng nhứt mà người tù này đã “học” được trong tù chính là biết sống như một con người “tử tế”, không chỉ tự giúp mình, mà còn trở nên “hữu ích” cho người khác.
Có lẽ đây là bài học mà ngày nay học sinh sinh viên ít học được từ trường học. Ngày xưa, trước năm 1975, ngoài môn công dân giáo dục, học sinh tại miền Nam Việt nam còn học thêm trong lớp những bài học “làm người” mà hầu như thày giáo nào cũng khéo léo đưa vào trong phần giảng dạy chuyên môn. Thày giáo không chỉ là người bán kiến thức, mà còn là người chia sẻ cái nhìn, kinh nghiệm sống, tư cách cũng như những giá trị đạo đức. Tôi còn nhớ trong năm học cuối cùng ở trường Collège d’Adran của các sư huynh La san ở Đà lạt, sư huynh hiệu trưởng cũng là người phụ trách môn triết học. Ngoài bài học “dưới cờ” vào mỗi thứ Hai hàng tuần, trong lớp học, vị sư huynh khả kính này lúc nào cũng tìm cách xen vào bài giảng một bài học luân lý. Cứ mỗi lần sư huynh lên “giọng đạo đức” thì thế nào cũng có vài học sinh cười cợt mỉa mai. Tôi không biết hiện nay, những người bạn học của tôi có còn giữ lại chút gì cho cuộc sống của họ không. Riêng tôi, những bài học vỡ lòng về làm người mà vị sư huynh này đã tìm cách truyền đạt cho học sinh, tôi vẫn còn nhớ như in và xem đó như một hành trang không thể thiếu được cho cuộc đời.
Ngày nay, không chỉ trong những nước cộng sản, mà ngay trong những xã hội dân chủ, ai cũng than phiền rằng “trình độ” đạo đức, phẩm hạnh hay nói chung “cách sống” của học sinh xuống cấp; đầu óc thì ngập tràn kiến thức, nhưng tâm hồn thì trống rỗng. Sách vở thì vô số kể, nhưng sự khôn ngoan thì lại thiếu vắng.
Thực ra, không chỉ trong thời đại thông tin toàn cầu này, mà ngay từ thập niên 1950, một tác giả người Anh là ông C.G.L. Du Cann cũng đã lên tiếng cảnh cáo về tình trạng thiếu giáo dục về “tư cách” và “đạo đức” của học sinh Anh. Trong phần đề tựa cuốn sách “Teach Yourself to Live” (Tự Học làm Người), xuất bản lần đầu tiên năm 1955,  tác giả đưa ra nhận xét: hầu như môn học nào cũng đều có thể được dạy trong trường học. Tuy nhiên, không có bất cứ trường học hay đại học nào có môn học làm người.
Theo tác giả, không gì quan trọng hơn là môn “học sống” và nghệ thuật sống. Mọi thứ kiến thức khác đều phụ thuộc vào nghệ thuật này, bởi vì mục đích của cuộc sống là sống cho ra người và có một cuộc sống tuyệt vời nghĩa là sống hạnh phúc.
Dĩ nhiên, cuộc sống tự nó đã là một trường dạy chúng ta phải sống như thế nào. Chúng ta thường nói đến “kinh nghiệm sống” và  “vốn  sống”. Điều này hoàn toàn đúng. Nhưng phải trải nghiệm nhiều thử thách và sai lầm, qua bao thất bại và khổ đau, chúng ta mới biết được, thường là muộn màng, phải sống như thế nào. Kinh nghiệm nào cũng thường chỉ học được bằng một cái giá có khi quá đắt.
Thực ra, ngay cả cái vốn học ở nhà trường cũng không đương nhiên mang lại thành công cho chúng ta. Không có Đại học nào có thể sản xuất ra những Shakespeare, những Beethoven, những Mozart, những Bill Gates hay những Nguyễn Du. Thiên tài có những tài năng thiên phú mà không phải ai cũng có được. Dù vậy, phải nhìn nhận rằng cái vốn liếng của học đường ngày nay đã đóng góp đáng kể vào sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật cũng như học thuật nói chung. Tốc độ tiến bộ của loài người trong khoa học và kỹ thuật quả đang làm cho chúng ta chóng mặt. Mỗi một ngày không cập nhựt đều là một bước thụt lùi khủng khiếp đối với mỗi người chúng ta.
Tuy nhiên, mặt khác, chúng ta lại nhận thấy rằng xem chừng nhân loại đã không đạt được một bước tiền nào trong lãnh vực luân lý, đạo đức hay nghệ thuật sống nói chung. Con người thời đại chúng ta chưa chắc đã “khôn ngoan” và “hạnh phúc” hơn con người của thời Đức Phật, Đức Khổng Tử, các nhà hiền triết Hy lạp hay Chúa Giêsu. Nhân loại ở những thời xa xưa ấy làm gì đã phạm những tội ác khủng khiếp như dưới thời Đức quốc xã, như trong các chế độ cộng sản hay như thời khủng bố toàn cầu ngày nay. Tổng số tội ác của nhân loại kể từ thuở hồng hoang của lịch sử cho đến thế kỷ đầu thế kỷ 20 có lẽ cũng không bằng tội ác của một thế kỷ 20 vừa qua và đầu thế kỷ 21 này. Có bao giờ cảnh giết người vô tội lại xảy ra hàng ngày và ở một qui mô rộng lớn cho bằng thời đại chúng ta không?
Cái chết của trùm khủng bố Osama Bin Laden không thể không gợi lại cho chúng ta sự tàn ác và “vô đạo” của con người thời đại.
Buổi tối hôm 1 tháng 5 vừa qua, khi tổng thống Hoa kỳ Barack Obama loan báo rằng “Osama Bin Laden đã chết, công lý đã được thực thi”, cũng là ngày kỷ niệm đúng 66 năm ngày một trong những đồ tể khét tiếng nhứt trong lịch sử nhân loại là Hitler chết. Thực vậy, ngày 1 tháng 5 năm 1945, chính phủ Đức loan báo Adolf Hitler đã chết. Cả hai đều là hiện thân của tài trí và sự thông minh được sử dụng chỉ để phục vụ Tội Ác. Cả hai đều xem việc sát hại những người vô tội như một trò chơi. Cách đây 2 ngàn năm, bạo chúa Nero của đế quốc La mã cũng đã từng xem việc sát hại những người vô tội như một trò chơi: ông cho nổi lửa đốt thành La mã, cười cợt một cách nham nhở và xem đó như một cái cớ để triệt hạ các tín hữu Kitô tiên khởi. Nhưng dù sao, “trình độ” độc ác của bạo chúa này có lẽ chẳng là gì so với sự tàn bạo của Hitler hay Osama Bin Laden, bởi lẽ sự dã man thường tỷ lệ thuận với trí thông minh và tài trí của con người. Con người càng thông minh thì sự độc ác càng khủng khiếp.
Ký giả Peter Bergen của tạp chí Time kể lại rằng năm 1997, khi thực hiện một chương trình cho Đài Truyền Hình CNN, ông có đi gặp Osama Bin Laden tại miền đông Afghanistan để thu hình cuộc phỏng vấn đầu tiên mà trùm khủng bố dành cho ông. Ký giả Bergen rất ngạc nhiên về sự thông minh của Bin Laden. Trùm khủng bố là một con người nắm vững mọi thông tin. Ông cư xử chẳng khác nào một đạo sĩ. Các “tín đồ” của ông tôn thờ ông, lắng nghe từng lời nói của ông.
Rất tiếc, Bin Laden đã sử dụng sự thông minh, tài trí, đảm lược của mình không phải để phục vụ người khác mà chỉ để nuôi dưỡng hận thù, khủng bố và tiêu diệt những người vô tội. Tôi thấy thương cho 3 người vợ và những đứa con của ông đã phải sống một cuộc sống không bình thường khi theo ông từ những hang động ở Afghanistan hay cuộc sống đóng kín tại Abbottabad. Là một người chồng và cha, hẳn Osama Bin Laden cũng mong cho vợ con mình được sống hạnh phúc. Nhưng với cuộc sống “cuồng nộ” và đầy thù hận của ông, ông không chỉ sát hại vô tội vạ những người vô tội, ông cũng đầy đọa chính bản thân và người thân của mình. Ông có tiền rừng bạc bể trong tay, ông có trí thông minh hơn người, nhưng ông không bao giờ được dạy hay tự mình học được bài học đạo đức vỡ lòng: “Những gì ngươi không muốn người khác làm cho ngươi thì cũng đừng làm cho họ.” Hay tích cực hơn như Chúa Giêsu đã dạy: “Những gì ngươi muốn người khác làm cho ngươi thì cũng hãy làm cho họ.”










Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Facebook


Chu Thập
02.06.11


Cách đây không lâu, một đứa cháu gái 9 tuổi của tôi có gởi email cho tôi và mời tôi xem “Facebook” của nó. Tôi định trả lời rằng tôi có biết cái “quái” gì về Facebook đâu mà xem. Nhưng nghĩ lại thấy mình nhẫn tâm quá cho nên tôi đành dẹp bỏ tự ái về sự ngu dốt và lạc hậu của mình để nhờ người giải thích về cái loại hình “mạng” mới này hầu còn có dịp liên lạc với đứa cháu gái và cũng để tỏ ra mình là người “thức thời” với những cái mới mẻ trên thế giới. Dĩ nhiên, “mới” với tôi chứ với người ta thì nó cũng đã cũ rích rồi. Thời buổi này, vừa mới “cập nhựt” (up date) đó thì cũng “lỗi thời” (out of date) ngay!
Trong thời đại thông tin toàn cầu này, kỹ thuật thông tin tiến nhanh đến độ làm cho tôi luôn cảm thấy choáng váng và bị bỏ lại đàng sau. Có những thứ tôi định nhào vô để gọi là bắt kịp thời đại thì người ta bảo rằng nó đã lỗi thời rồi.
Đừng nói gì đến Iphone, IPod, IPad, “Ai béo” hay Twitter gì cả, ngay với cái điện thoại di động mà tôi cũng đã cảm thấy lúng túng rồi. Trước kia, tôi cũng nghe lời khuyên của nhiều người, sắm một cái điện thoại cầm tay rồi để trong xe chứ chẳng có cầm trên tay hay bỏ trong túi bao giờ cả. Thấy cứ phải cho người khác số điện thoại, phải nhận điện thoại vào những giờ mình chẳng muốn chút nào như đang lái xe và nhứt là mất giờ vì phải lịch sự hầu chuyện vào những lúc cần làm việc, cho nên chỉ sau một thời gian ngắn, chiếc điện thoại di động của tôi được cho vào ngăn kéo để trở thành một “bất động sản”. Mới đây, có người nhờ tôi cầm giùm cái điện thoại di động tối tân của họ và trả lời nếu có người gọi.Thế là khi điện thoại reo, tôi đã lúng ta lúng túng và bấm lung tung trên các ký hiệu mà chẳng nhận được tín hiệu nào cả.
Tôi vẫn biết rằng ngày nay có đến 60 phần trăm dân số trong hơn 6 tỷ người trên thế giới đang sử dụng điện thoại di động. Tôi cũng biết rằng điện thoại di động là phương tiện liên lạc không thể thiếu được trong thời đại “a còng” này. Nhưng tôi vẫn cứ “ngoan cố” không sử dụng nó mà vẫn không thấy “chết thằng tây” nào cả.
Đây có lẽ không phải “lỗi tại tôi mọi đàng” đâu. Theo một vài cuộc nghiên cứu thì thế hệ ‘baby boomer’ của tôi, nói theo kiểu Tây, là thế hệ có nhiều người ngoan cố, chậm tiến và kém thích nghi với ba cái chuyện vi tính và internet. Có lẽ vì thế hệ tôi vẫn còn thấy “nguyên si” giá trị của lối sống “tiền vi tính”, lại không lanh tay lanh mắt như đàn em “hậu vi tính” nên trong khi vẫn quý trọng cách thông tin giữa người với người hơn là nói chuyện với những cái máy, tôi vẫn biết mình phải cố gắng chạy theo những tiện nghi do cuộc cách mạng thông tin mang lại. Nhưng không phải cái gì tôi cũng chạy theo. Tôi lý luận, này nhé, mỗi năm, cùng lắm xảy ra một vài trường hợp khẩn cấp, tôi chỉ mất khoảng nửa tiếng dồng hồ để đi tìm điện thoại công cộng và tốn tối đa một đồng là xong ngay. Không phải là “trùm sò”, nhưng tôi thấy mỗi tháng mình cũng tiết kiệm được vài chục đồng. Rồi lại không bị cái cảm giác ngay ngáy lo có ai gọi khi lỡ để quên cái “của nợ” ở nhà. Vả lại đã có email và điện thoại nhà rồi thì với cuộc đời đang “đi dần vào hưu trí” như tôi có còn chuyện gì để gọi là khẩn cấp ngoại trừ gọi xe cứu thương! Mà gọi ba số không thì luôn luôn miễn phí. Thế là cái điện thoại đi động tượng trưng cho “nền văn minh nhân loại” này bị loại ra khỏi đời sống của tôi.
Dù là thành viên của 40 phần trăm trong cộng đồng nhân loại không xài điện thoại di động, nhưng ít ra tôi cũng còn hơn MC Nguyễn Ngọc Ngạn. Tôi nghe nói ông MC nổi tiếng này không những không sử dụng điện thoại di động, mà cũng chẳng màng đến email hay Internet gì cả. Riêng tôi, cũng còn biết liên lạc bằng email và gõ vào Google để đọc tin tức và tìm kiếm tài liệu. Dù sao, tôi thấy cũng “hãnh diện” chứ không đến nỗi “mất mặt” khi vẫn tiếp tục ở trong hàng ngũ những người “lạc hậu” như ông MC Nguyễn Ngọc Ngạn. Cho dẫu tỷ phú trẻ Mark Zuckerberg, người sáng lập “Facebook” có được tạp chí Time chọn làm “Người của năm 2010” vì đã có công thiết lập mạng lưới này để cho 600 triệu người trên thế giới có thể “tự khẳng định” bằng cách đưa “hình ảnh” của mình cho người khác xem, tôi vẫn cương quyết không chường cái “bản mặt” chẳng mấy đẹp đẽ và vẻ vang của mình ra.
Dĩ nhiên, ngoài chuyện ngoại hình “kém” tôi còn có lý do khác của tôi. Mới đây, tôi có đọc được một bài viết của ký giả Philip Adams trên phụ trương “The Weekend Australian Magazine” của báo The Australian số ra cuối tuần qua. Tác giả suy nghĩ về “cái mặt” của con người nhân cái chết của trùm khủng bố Osama Bin Laden.
Theo tác giả, trước khi bị các lực lượng đặc biệt của Hoa kỳ bắn nát, gương mặt của Osama Bin Laden trông chẳng khác nào một ông thánh. Cứ thử tưởng tượng chẳng biết gì về ông và nhìn lại những bức hình của ông xem. Mặc dù là một người bị thù ghét nhứt trong lịch sử nhân loại, không kém thì cũng ngang ngửa với những tay đồ tể như Hitler, Stalin và Pol Pot, gương mặt của ông trông bình thản, đầy vẻ cảm thông và ân cần. Phải nói ông có đôi mắt hiền từ. Cái miệng của ông thì khỏi nói, dường như nó được nhào nặn để chỉ nói những lời tế nhị. Nói cho cùng, thoạt nhìn bên ngoài, lẽ ra từ nơi ông chỉ toát ra cung cách của một người nhân từ, nhẫn nhục, hiền lành, dễ thương. Dĩ nhiên, người ta cũng có thể nói như thế về các tay đồ tể Hitler, Stalin và Pol Pot.
Nhưng tác giả Philip Adams nói rằng gương mặt của Osama Bin Ladan cũng gợi lại cho ông một gương mặt nổi tiếng trong cuốn phim tài liệu về thời kỳ quân phiệt tại Hy lạp từ năm 1967 đến năm 1974, thường được mệnh danh là “chế độ của các đại tá Hy lạp”. Không có bất cứ bức “Icon” Hy lạp nào của thế kỷ 18 trông thánh thiện hơn nhân vật chính trong cuốn phim tài liệu này. Nhưng trong cuộc phỏng vấn được thu hình, nhân vật này thú nhận rằng ông đã từng đứng đầu bộ máy tra tấn của chế độ quân phiệt. Ông nói: “Tôi đã từng làm cho bao nhiêu người thành điên khùng. Tôi đã biến họ thành cỏ cây.”
Thông thường, “trông mặt mà bắt hình dong”, tướng mạo và nhứt là khuôn mặt có thể thể hiện tính tình, tức một phần nội tâm và ngay cả cái bí ẩn của con người. Ai cũng muốn tạo một ấn tượng tốt khi lần đầu tiên gặp gỡ với người khác, nhứt là khi đi trình diện phỏng vấn để xin việc làm. Tuy nhiên, lầm lẫn về “ngoại diện” cũng là chuyện bình thường. Bên kia một khuôn mặt lạnh lùng hay dữ dằn có khi lại tiềm ẩn một vị thánh. Nhưng cũng có khi một vị thánh lại xuất hiện dưới hình dáng của một người bệnh hoạn hay điên loạn. Đây là cái nhìn của danh họa Tây ban nha El Greco vào thời Văn nghệ Phục hưng tại Âu châu vào thế kỷ 16, 17. Để vẽ các thánh, ông thường dùng những người điên trong bệnh viện tâm thần Toledo làm người mẫu. Dĩ nhiên, ngày nay các chuyên gia tâm lý có thể chứng minh cho chúng ta thấy rằng không thiếu những người tự cho là có “thị kiến” hay được “thần khải” trong thực tế chỉ là những người mắc bệnh hoang tưởng. Do đó, cứ “trông mặt mà bắt hình dong” thì hẳn phải bé cái lầm. Osama Bin Laden là trường hợp cụ thể nhứt.
Việc lực lượng đặc nhiệm Hoa kỳ hạ sát ông tại Abbottabad, Pakistan  hôm 1/5/11 cũng gợi lại việc Israel bắt giữ tay đồ tể đức quốc xã Adolf Eichmann tại Argentina hồi năm 1960. Eichmann trông giống như một nhân viên kế toán tỉnh lẻ hơn là một đồ tể khát máu.
Trường hợp gương mặt của Hitler có lẽ cũng thế thôi. Trong cuốn phim có tựa đề “Swastika” được thực hiện hồi năm 1973, đạo diễn Úc Philippe Mora đã làm cho cả thế giới phải sửng sốt và ngay cả phẫn nộ khi mô tả gương mặt hiện thân của Sự Dữ như một người đàn ông gương mẫu vui đùa hạnh phúc bên cạnh người tình Eva và những con chó của ông tại tổ uyên ương ở Berchtesgaden. Nói gì đến nụ cười “nhân ái” của Mao Xếnh Xáng, kẻ đã xây dựng quyền lực của mình trên thây chết của không dưới 30 triệu đồng bào ruột thịt. Nói gì đến bộ mặt trông chẳng có gì là “độc ác” của lãnh tụ Khmer Đỏ, Pol Pot, người đã sát tế gần 2 triệu đồng bào của mình trên bàn thờ những “cánh đồng giết người”. Nói gì đến gương mặt của kẻ tự xưng là cha già dân tộc, con người “khiêm tốn nhường bao” và “ai yêu các cháu nhi đồng bằng…”, nhưng lại là tội đồ gây ra bao nhiêu đau thương tang tóc cho dân tộc Việt nam.
Quả thực, diện mạo bên ngoài không thể nói hết những bí ẩn trong trái tim con người. Danh họa Leonardo da Vinci của Ý cũng đã từng lầm lẫn như thế khi sáng tác bức tranh nổi tiếng “Bữa tiệc ly”. Sau khi đã vẽ xong gương mặt của Chúa Giêsu và 11 vị tông đồ ngồi đồng bàn với Ngài, danh họa mới đi tìm người làm mẫu để họa lại gương mặt của Giuda, kẻ bán Thày. Mất một thời gian tìm kiếm, cuối cùng ông đã gặp được một người mà ông nghĩ sẽ là người mẫu thích hợp nhứt để ông họa lại gương mặt của Giuda. Sau một hồi thăm hỏi chuyện vãn, Leonardo da Vinci mới khám phá ra rằng người mà ông mời làm người mẫu để vẽ chân dung của Giuda cũng chính là người đã từng ngồi trước mặt ông để ông họa chân dung của…Chúa Giêsu!
Thì ra, theo Philip Adams, “những gương mặt không tiết lộ cho chúng ta nhiều điều. Chức năng chính của gương mặt là để giúp nhận diện chúng ta cũng như các dấu tay. Dĩ nhiên, đôi khi gương mặt hoàn toàn hợp với con người như trường hợp một Đức Đạt Lai Lạt Ma, một Richard Nixon, một Nelson Mandela hay một Donald Trump”. Nhưng, nói chung, giữa gương mặt và con người thực có khi khoảng cách là cả một trời một vực.
Ngày nay, khoảng cách ấy lại càng dễ được kéo dài thêm. Thời tôi còn để chỏm, đàn bà con gái nào “tô son trét phấn” một chút đều bị liệt vào hạng người không đàng hoàng. Ngày nay, trang điểm là chuyện tự nhiên và được xem là một điều phải làm đối với phái nữ. Không những thế, người ta còn cắt xén, “sửa sang” cho khuôn mặt được xinh đẹp hơn, ngay cả được thay hình đổi dạng hoàn toàn là khác. Khoa học đã tiến đến độ “ghép mặt”, nghĩa là đắp lên gương mặt méo mó hay bị tàn phá của mình bằng gương mặt của một người hoàn toàn xa lạ chẳng phải là chuyện khoa học giả tưởng hay trong phim ảnh, sân khấu nữa.
Chuyện này gợi lên cho tôi một ý tưởng: con người thích mang khuôn mặt của một người khác hơn của chính mình.  Mang thôi chứ không hẳn muốn trở thành người khác. Khuôn mặt của người khác ấy có thể là khuôn mặt của một nhân vật tiểu thuyết, một anh hùng dân tộc, một tài tử điện ảnh, một nhà trí thức. Trong xã hội mà mọi thứ đều có thể “giả” được như Việt nam chẳng hạn, người ta cũng thấy nhan nhản những con người “giả”. Giả nhiều nhứt hẳn phải là những người đeo mặt nạ trí thức. Cái cốt thì vẫn là “dốt đặc cán mai”, nhưng bằng cấp thì đầy người, tước hiệu gì cũng có.
Nhưng trong các thứ giả, lố bịch nhứt vẫn là “giả hình”, tức đeo vào chiếc mặt nạ đạo đức và tự cho mình có quyền phê phán người khác. Nhân vụ ông Dominique Strauss-Kahn, tổng giám đốc Quỹ Tiền Tệ Thế Giới bị bắt giữ vì tội tấn công tình dục một nữ nhân viên phục vụ trong một khách sạn ở Hoa kỳ, tạp chí Time số ra tuần này đã dành trang chủ để nói về “tình dục, dối trá, kiêu căng” của những người đàn ông có quyền lực. Nhân tiện, tờ báo cũng nói đến những người “không nhìn thấy cái đà trong mắt mình, mình chỉ nhìn thấy cái rác trong mắt kẻ khác”. Báo Time viết rằng ít ra “ông Strauss Kahn không bị tố cáo vì dụ dỗ vợ của người bạn thân mình như cựu nghị sĩ John Ensigh, hoặc bao che cho các cô gái điếm mà vẫn cứ đi truy tố các đường giây bán dâm như cựu thống đốc New York Eliot Spitzer,  hoặc như cựu chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich chối quanh về một vụ tình ái lăng nhăng mà vẫn tìm cách bãi nhiệm một tổng thống chỉ  vì ông này cũng  chối quanh về một vụ tình ái”.
Bởi vậy, dù đã năm lần bảy lượt tìm hiểu về Facebook, rồi cũng có lần suýt định nhờ xấp nhỏ trong nhà “đăng ký” làm thành viên của Facebook tôi vẫn thấy mình “không thể là không thể”. Mặt mũi thì đã chẳng bằng ai mà tâm hồn thì lấm lem lấm lọ, chẳng có gì đáng để cho thiên hạ dòm. “Đẹp khoe xấu che” thì tôi không thích. Thôi đành làm một người “không chân dung” nhưng thành thật vậy.