Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Yêu là chấp nhận khác biệt và bất toàn


Chu Thập
5/12/14



Cuối tuần rồi, tôi được  tham dự một lễ cưới thật...dễ thương. Dễ thương vì nghi lễ diễn ra ngoài trời, trong bầu khí đơn sơ, thân tình, trên một ngọn đồi nhìn xuống vịnh Sydney. Dễ thương là vì cô dâu không đội “voan”, không mặc chiếc áo cưới dài lê thê lếch thếch, không trang điểm lòe loẹt và có lẽ cũng chẳng phải làm một kiểu tóc đặc biệt nào cả. Người tham dự muốn đứng đâu cũng được, ăn mặc thế nào cũng xong và thơ nhi thì tha hồ chạy qua chạy lại và được “tự do ngôn luận” nói cười. Nhưng có lẽ dễ thương nhứt là lúc trao đổi lời hứa hôn, chú r đã bật khóc một cách ngon lành.
Tôi nghĩ một số người Việt có mặt trong hôn lễ hôm đó không thể không liên tưởng đến hình ảnh của đôi đũa lệch khi nhìn cặp uyên ương. Chú rể là một người Úc cao lớn, dềnh dàng. Mỗi lần muốn hôn cô dâu, anh phải uốn cong người một cách thật khổ sở, nhưng dĩ nhiên cũng thật dễ thương. Cô dâu là một cô gái Việt Nam nhỏ bé, mảnh khảnh. Nhưng theo phiếu lý lịch mà tôi được biết, cô dâu là một tiến sĩ khoa học, hiện đang có một công việc làm tốt. Chú rể chỉ mới tốt nghiệp đại học, hiện chỉ làm việc bán phần.
Tôi thích diễn tiến của nghi lễ “dân sự” do một phụ nữ người Úc cử hành. Chắc đã phải nghiên cứu “hồ sơ” của đôi tân hôn rất kỹ, cho nên trước khi hai người trao đổi hôn ước và đeo nhẫn cho nhau, vị chủ hôn này đã đưa mọi người hiện diện phải rưng rưng cảm động và cười chảy nước mắt theo từng diễn tiến của một cuộc tình mà tôi nghĩ, nếu được lắng nghe, có lẽ các nhà làm phim ở Hollywood hẳn phải tìm cách đưa lên màn ảnh thôi. Từ lúc quen nhau qua Internet đến lúc góp gạo nấu cơm chung và “sống thử” trước khi chính thức trao nhẫn cho nhau, đôi bạn trẻ lúc nào cũng “tương kính như tân” và luôn cố gắng để thích nghi với nhau vì vô số những khác biệt giữa hai người. Tất cả câu chuyện tình của họ là những chuyện nhỏ, rất nhỏ hàng ngày. Nhưng tất cả nói lên sự cần nhau để hóa giải những khác biệt và bất toàn của nhau. Tôi vẫn nhớ mãi câu nói ví von của chú rể khi thề thốt với cô dâu: “Anh là chiếc xe còn em là đầu máy” (I’m the Car, you are the Engine). Chiếc xe có mẫu mã “hoành tráng” cách mấy, nhưng nếu không có “đầu máy” thì làm sao chạy được. Còn đầu máy, dù có tối tân và tinh vi đến đâu, nếu không có “bánh xe” thì cũng dậm chân tại chỗ thôi. Nhưng có một chi tiết trong cung cách hầu như tương phản nhau của cặp tân hôn được vị chủ hôn nhấn mạnh là: chú rể là một chàng thanh niên vụng về, “luộm thuộm” (messy) nhưng nhiệt tình và tốt bụng trong khi cô dâu là người mực thước, chín chắn, luôn suy tính như một khoa học gia, nhưng lúc nào cũng tế nhị trong cách đối nhân xử thế.
Tôi đã tham dự không biết bao nhiêu lễ cưới, phần lớn được cử hành theo nghi lễ tôn giáo. Tôi đã nghe không biết bao nhiêu “bài giảng” của các vị chức sắc tôn giáo. Nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên, tôi đã cố gắng “nuốt” từng lời trong bài chia sẻ và nhắn nhủ của vị chủ hôn cũng như những lời thề thốt vượt ra ngoài khuôn phép và công thức chiếu lệ của đôi tân hôn. Tất cả đều qui về một chủ điểm là những khác biệt và bất toàn của con người. Hôn nhân hay tình yêu là một cuộc hành trình để chấp nhận và sống với những bất toàn và thiếu sót của người mình yêu.
Từ trên đồi nhìn xuống vịnh Sydney, ngắm các thuyền bè qua lại trên sóng nước, tôi nghĩ miên man về cuộc hành trình ấy. Xét cho cùng, bí quyết của hạnh phúc chính là biết chấp nhận và sống với những bất toàn của mình cũng như của tha nhân.
Trên báo mạng “Psychologytoday”, tôi  đọc được ý tưởng ấy trong một bài viết của giáo sư Arthur Dobrin, hiện đang giảng dạy về môn đạo đức tại đại học Hofstra, Hoa Kỳ. Tác giả ghi lại một giai thoại về nhà bác học Robert Alexander Watson-Watt (1892-1973), người đi tiên phong trong việc phát triển ngành “Radar”. Chính ông là người đã sáng chế ra một hệ thống để dò tìm máy bay. Phát minh này đã góp phần vào chiến thắng của Không lực hoàng gia Anh trong thời Đệ Nhị thế chiến.
Giải thích về quyết định tại sao phải dùng một hệ thống “radar” chưa được hoàn hảo để bảo vệ bờ biển của Anh Quốc, ông Watson-Watt nói rằng giữa ba điều phải chọn lựa: một là điều tốt nhứt nhưng không thể thực hiện được, hai là điều tốt nhứt nhưng luôn đến muộn và ba là điều không tốt nhứt nhưng ở trong tầm tay, ông luôn chọn lựa điều thứ ba.
Thời trung học, tôi đã học thuộc lòng câu ngạn ngữ Pháp “Thà có một đồng trong tay còn hơn 2 đồng chưa có” (un tiens vaut mieux que deux tu l’auras) được thi sĩ Jean de La Fontaine trích dẫn trong bài thơ ngụ ngôn “Con cá nhỏ và người câu cá” (Le petit Poisson et le Pêcheur). Cho tới ngày nay, mỗi lần bị cám dỗ muốn có thái độ “cầu toàn” đối với bản thân hay người khác, tôi thường đem câu nói trên đây là nghiền ngẫm. Nó giúp tôi biết chấp nhận những giới hạn của mình và sống với giây phút hiện tại hơn.
Cách đây gần 200 năm, một văn hào Pháp khác là Francois Voltaire (1694-1778), đã tóm tắt cái triết lý ấy trong câu nói: “Sự toàn hảo là kẻ thù của điều thiện”. Tôi nhận thấy hầu hết các nhà sáng lập tôn giáo đều đề ra những lý tưởng sống cao quý tưởng chừng như không thể thực hiện được. Nhưng trong đối nhân xử thế, lúc nào các ngài cũng kêu gọi con người luôn biết tỏ ra cảm thông để chấp nhận, chớ không lên án những thiếu sót và lầm lỡ của người khác. Tôi nghĩ đến cung cách của Chúa Giêsu khi Ngài ngồi đồng bàn với những người thu thuế và gặp gỡ các cô gái điếm, vốn là hạng người mà vì cầu toàn và tự cho mình là người đạo đức, những người thuộc nhóm “biệt phái”, tức muốn tách biệt ra khỏi đám người phàm phu tục tử, luôn đẩy ra bên lề xã hội. Đúng như văn hào Voltaire đã nói “cái toàn hảo là kẻ thù của điều thiện”. Trong lịch sử nhân loại, con người cứ phải lập đi lập lại tấn tuồng: họ nhân danh sự hoàn hảo để bách hại và triệt hạ người khác. Như ai đó đã nói, con đường dẫn xuống địa ngục được lát toàn bằng thiện ý, tức ý muốn làm điều toàn hảo. Chủ nghĩa cộng sản, xét cho cùng, cũng là một thứ tôn giáo tôn thờ điều toàn hảo. Vì muốn xây dựng một thiên đàng trần gian không có cảnh người bóc lột người, người ta đã sát hại hàng triệu triệu sinh linh để gọi là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
Theo giáo sư Dobrin, một lý do khiến cho mục tiêu hoàn hảo “phản tác dụng” là vì những  cố gắng cần có để đạt được mục tiêu ấy đòi hỏi quá nhiều năng lực và khi đạt được thì mục tiêu ấy lại chẳng còn hữu dụng nữa. Chuyện “radar” được Không lực hoàng gia Anh sử dụng hồi năm 1940 là một thí dụ điển hình. Nếu không sử dụng một phương tiện chưa hoàn hảo hiện đang có trong tay mà phải chờ đợi cái hoàn hảo và tốt nhứt thì Không lực hoàng gia Anh có lẽ đã bị Đức Quốc Xã tiệt diệt mất rồi.
Chân lý nền tảng nhứt trong cuộc sống mà có lẽ ai cũng phải nhận ra là: con người vẫn mãi mãi bất toàn và giới hạn. Sự hiểu biết không đến một lúc mà phải tốn bao nhiêu công sức để tìm tòi và thử nghiệm mới tìm thấy là một bằng chứng hùng hồn nhứt về giới hạn của con người. Sự đào thải trong suy nghĩ và phát minh cũng nói lên điều đó. Các lý thuyết khoa học cứ chồng chất lên nhau và có khi loại trừ nhau. Mỗi ngày lại thêm một phát minh mới. Các tiện nghi vừa được trình làng ngày hôm trước, ngày hôm sau có thể đã lỗi thời. Con người thời đại đã chế ngự được không biết bao nhiêu bệnh tật, nhưng vẫn phải mãi mãi bó tay trước vô số những điều bất trắc xảy ra cho sự sống con người. Sự bùng nổ của dịch bệnh Ebola, một lần nữa nói lên tính giới hạn và sự sống mong manh của con người. Sự kiện ấy cho thấy con người sẽ chẳng bao giờ đạt được cái hoàn hảo. Điều được xem là tốt đẹp ở một thời, một nơi và với một người nào đó, có thể không còn phù hợp với một thời khác, một nơi khác hay với một người khác.
Chính vì không thể đạt được mà điều hoàn hảo thường dẫn đến thất vọng cho con người. Không những dẫn đến thất vọng, việc tôn thờ và đeo đuổi điều hoàn hảo cũng có thể đẩy con người vào thái độ cuồng tín. Nếu người cộng sản đã muốn lùa mọi người vào các trại tập trung để gọi là cải tạo tư tưởng hầu xây dựng một thế giới hoàn hảo, thì ngày nay một số người hồi giáo quá khích cũng không chủ trương khác hơn: họ muốn qui tất cả thế giới về một mối để chỉ nhìn nhận và thờ phượng Đấng Allah của họ. Cái thế giới hoàn hảo mà những người hồi giáo quá khích này muốn xây dựng sẽ chẳng bao giờ đến, mà trước mắt người ta chỉ thấy cảnh tàn sát, giết người một cách man rợ mà có lẽ không một nền văn minh nào từ cổ chí kim có thể chấp nhận được.
Suy nghĩ về những bất toàn và thiếu sót của con người, nhứt là trong bối cảnh tôn giáo, tôi thấy hiện ra trước mắt hình ảnh thật đẹp của cái hôn bình an, hòa giải và tha thứ mà trong chuyến viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ mới đây, vị đại diện của trên một tỷ người công giáo trên khắp thế giới là Đức Phanxicô đã trao cho vị đại diện của Giáo hội Chính thống là Đức Thượng Phụ Bartôlômêô I. Cách đây 1000 năm, hai truyền thống Kitô giáo lớn nhất thế giới này đã loại trừ nhau, “tuyệt thông” với nhau chỉ vì không chấp nhận những khác biệt và dĩ nhiên những bất toàn lịch sử của nhau. Cái hôn mà các nhà lãnh đạo tôn giáo lớn trên thế giới có thể trao cho nhau dường như muốn nói lên rằng bề dày lịch sử của các tôn giáo gia tăng không phải vì các di tích, các đền hay tượng thờ, mà do những bước đi tới để tháo gỡ những nghi kỵ, để chấp nhận những khác biệt và nhứt là bất toàn của các tổ chức tôn giáo, vốn chỉ là công trình bất toàn của con người bất toàn. Chỉ có những bước đi như thế mới thể hiện được bộ mặt đích thực mà tôn giáo nào và người có tôn giáo nào cũng luôn được nhắc nhở để tỏ bày: đó là bộ mặt của khoan nhượng, cảm thông và tha thứ.
Vào những dịp cuối năm, nhìn lại cuộc hành trình của mình là điều mà dù có tôn giáo hay không, có lẽ ai cũng được khuyến khích để làm. Tôi thấy hồi đầu tuần này thủ tướng Tony Abbott đã làm một cử chỉ đáng ca ngợi: ông đã tự đấm ngực để nhận lỗi về những thất bại của chính phủ do ông lãnh đạo. Lâu nay, vốn giữ thói hung hăng con bọ xít của những ngày làm đối lập, lúc nào ông cũng huênh hoang về những thành tích của mình và không bao giờ chấp nhận những bất toàn và thiếu sót trong các chính sách do ông đề ra.
Với cá nhân tôi, nhìn lại các quan hệ của mình với tha nhân và với chính bản thân là điều kiện để có được cái tâm an bình. Đạo lý của ông bà tổ tiên dạy phải “thương người như thể thương thân”. Trong các giới răn của đạo làm người, “thương thân” là điều cơ bản nhứt. Thương mình là chấp nhận và tha thứ cho những bất toàn và lầm lỡ của mình. Không chấp nhận và hòa giải với bản thân thì làm sao mới có được niềm an bình. Và dĩ nhiên, không chấp nhận, cảm thông và tha thứ cho bản thân thì làm sao có thể chấp nhận những khác biệt và tha thứ cho những bất toàn, lầm lỡ của tha nhân.
Nghĩ như thế cho nên trong Mùa Giáng Sinh năm nay, tự dưng tôi nghĩ đến sự “thiện tâm” cần có đối với bản thân và tự cầu chúc cho mình: bình an dưới thế cho người thiện tâm!



Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

Đã Sống!


                                                                           Chu Thập
10.05.11

Nhà viết tạp ghi Huy Phương, sau một vòng tả oán về cuộc sống tất bật tại Mỹ, đã kết luận: “Ôi! Nước Mỹ lạnh lùng. Nước Mỹ khép kín. Nước Mỹ thiếu tình người…Các sinh hoạt tập trung vào các khu kỹ nghệ, các khu thương mãi. Ngày thường bạn thử lái xe đi một vòng vào các khu dân cư mà xem sao, nó chẳng có sinh khí chút nào, kiểu vườn không nhà trống, kiểu vùng tạm chiếm “vắng bóng trâu cày trên đồng, vắng bóng heo gà trong sân” (P.D). Và con người lạnh lùng, đầu môi chót lưỡi, miệng nói: “Hi! How do you do!” nhưng trong lòng thì chẳng mảy may rung động…” (Huy Phương, Nước Mỹ Lạnh Lùng, tuyển tập tạp ghi, Nam Việt, Hoa kỳ 2006, trg 30)
Nước Úc miệt dưới của tôi nổi tiếng là nơi có nhiều thành phố “đáng sống” nhứt trên thế giới. Mới đây, nhân Ngày của Mẹ, người ta cũng trích dẫn kết quả của một cuộc thăm dò nào đó để bảo rằng Úc là nơi tốt nhứt để “làm mẹ”.Trong cuộc sống hằng ngày, tôi cũng đã từng nhận được những cử chỉ ân cần, tử tế của rất nhiều người Úc và rất hãnh diện được làm một người Úc.
Tuy nhiên, khi đọc mấy dòng tạp ghi trên đây của nhà văn Huy Phương, tôi thấy Nước Úc của tôi cũng “lạnh lùng” không kém. Tôi có cảm nhận ấy nhân cái chết của cụ bà hàng xóm của tôi.
Bà cụ ở sát vách nhà tôi. Linh tính đã nhiều lần mách bảo với tôi rằng cụ bà 81 tuổi này sẽ ra đi vào một lúc không ai hay biết. Mà thật như vậy. Một buổi sáng cách đây một tuần, nếu không có xe cứu thương đến, nếu không có bóng cảnh sát xuất hiện và cuối cùng nếu không có xe nhà quàn đậu trước nhà, thì tôi không tin là bà cụ đã ra đi vào đêm hôm trước. Cách đó hai tối, nhà tôi và tôi có sang giúp đỡ cụ. Chúng tôi thật ái ngại khi phải đưa cụ lên giường và bỏ cụ lại một mình.
Sau khi người chồng qua đời cách đây 5 năm, cụ bà sống một mình, nhưng tương đối không neo đơn lắm. Thỉnh thoảng, người con gái và con cháu bà cũng đến thăm nom. Tháng Giêng vừa qua, họ còn cho bà làm một chuyến đi Cruise trên biển hơn một tuần lễ. Nhân viên chăm sóc (carer) thì một tuần đôi ba lần cũng đến giúp đỡ bà. Nhìn bên ngoài, người ta tưởng bà có thể sống độc lập và tự lo cho mình trong hầu hết mọi nhu cầu. Thực tế, tôi ái ngại là bởi đã thấy xuất hiện nơi bà những hội chứng của căn bệnh “mất trí” (dementia) đang tấn công não bộ của bà. Một trong những dấu hiệu đó là nói trước quên sau và thường lập đi lập lại một điều đến năm lần bảy lượt. Đã từng là một giáo sư âm nhạc, cụ bà vẫn còn thỉnh thoảng gõ đàn Piano. Nhựt báo, cụ cũng đọc mỗi ngày. Nhưng tiếng đàn và tin tức hằng ngày trên báo đã không ngăn cản được tiến trình thoái hóa của não bộ. Dù vậy, tuyệt nhiên, cụ cương quyết không để cho người con gái đưa vào viện dưỡng lão. Có lẽ cụ đã thấy trước cái chết bất đắc kỳ tử của mình và muốn được ra đi trong khung cảnh bình yên của ngôi nhà thân thương của mình chăng?
Và cụ đã lặng lẽ ra đi. Lặng lẽ đến độ buổi sáng hôm đó, cả cái xóm nhỏ của tôi không ai hay biết. Nếu ở Việt nam hay trong một khu có đông người Việt sinh sống thì có lẽ người ta đã ùa đến nhà, nếu không vì hiếu kỳ, thì cũng để chia sẻ niềm đau với người thân của cụ bà. Đàng này, từ nhà nhìn ra, tôi thấy cái xóm nhỏ với gần 20 nóc nhà của tôi vẫn bình lặng và “lạnh lùng” như không có chuyện gì xảy ra.
Hôm đưa đám ma bà cụ, tôi lại càng thấy cái xóm nhỏ của tôi lạnh lùng hơn nữa. Ngoài gia đình tôi và một người đàn bà gốc Hoa mới dọn về được vài năm, tôi không thấy có một người nào trong xóm có mặt trong đám tang. Cũng lạ thật, mới hôm tiệc Giáng Sinh của khu xóm hồi năm ngóai, hầu như mọi người đều có mặt và tỏ ra rất thân thiện với bà. Vậy mà, cái “nghĩa tử nghĩa tận” xem ra chẳng có ý nghĩa gì đối với những người láng giềng của bà cụ!
Thực ra, có xảy ra một đám ma như thế, tôi mới hiểu thêm cái văn hóa của người Úc. Sự ra đi của bà cụ hàng xóm là dịp để tôi tham dự một đám tang của người Úc. Tôi thấy nó khác với đám tang của người Việt mình xa lắm. Không có những tiếng kêu gào thương khóc, dù là khóc dối như những người “khóc mướn”. Ai bảo người Úc hay người Tây phương nói chung chỉ biết môi mép bên ngoài!
Điều lôi kéo sự chú ý của tôi nhiều nhứt là trong tang lễ, tôi nhận thấy người con gái của cụ mặc một chiếc áo đầm màu hồng tươi, trên cổ có choàng một giây vải cũng màu hồng. Người con rể và 3 cậu con trai cũng thắt cà vạt mầu hồng. Nếu bảo họ phục sức cho một đám cưới hay một ngày vui thì cũng chẳng sai. Nhà thờ cũng được chưng bày những bông hoa màu hồng. Nếu không có quan tài với những cành hoa hồng phủ lên trên thì ai vào cũng có thể nghĩ mình đang tham dự một lễ cưới. Vào cuối buổi lễ, khi người con gái lên diễn đàn để chia sẻ tâm tình, tôi mới hiểu. Thì ra, lúc sinh thời, cụ bà rất thích mầu hồng. Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều là trong tang lễ không những không có tiếng khóc, mà các bài Kinh Thánh được chọn trong thánh lễ cũng muốn làm toát lên bầu khí “hân hoan” hơn là tang chế. Riêng vị linh mục chủ lễ, trong suốt buổi lễ, đã tập trung các lời nhắn nhủ vào hai chữ “celebrate” (ăn mừng, tán dương): Mừng bà đã có một cuộc sống tràn đầy, sung mãn, vui tươi, hạnh phúc và tán dương lối sống luôn tốt bụng, lạc quan, hòa nhã, ân cần của cụ bà!  Điều này thì tôi xin được làm chứng. Tôi chưa từng nghe cụ than thở về bất cứ điều gì. Mỗi lần có dịp trao đổi, cụ đều nói rằng cụ luôn cảm thấy hài lòng và hạnh phúc với cuộc sống của mình, ngay cả lần cụ phải vĩnh biệt một trong hai người con cách đây gần một năm.
Đây quả là một đám tang đặc biệt mà tôi chưa từng tham dự. Từ nhà thờ đến nghĩa trang, nó cho tôi cái cảm giác thanh thản, hân hoan và vui mừng hơn là buồn thảm. Khi một người đã sống vui, sống hài lòng, sống sung mãn với những gì mình có, thì dù có ra đi trong hoàn cảnh nào, người đó cũng để lại cho chúng ta nhiều niềm vui hơn là buồn khổ. Tự nhiên, tôi nhớ lại kiểu nói mà người La mã ngày xưa thường xử dụng để nói về người quá cố. Họ không gọi người chết là người đã ra đi, đã khuất núi, đã mất, đã mãn phần, đã “băng hà” hay ngay cả đang yên giấc, dù có là giấc ngủ nghìn thu…mà là người “đã sống” (vixit).
Thật vậy,  cụ bà láng giềng của tôi “đã sống” và đã sống một cách sung mãn cho nên đã để lại cho tôi một di sản quý báu nhứt là tình yêu đối với cuộc sống. Cụ ưa thích mầu hồng bởi vì mầu hồng là mầu của hân hoan, hy vọng và lạc quan.
“Yêu cuộc sống” này, nghe thì dễ dàng, nhưng thực tế không phải lúc nào cũng trôi chảy, bởi vì cuộc sống không phải lúc nào cũng toàn mầu hồng. Có cuộc sống nào mà không có khó khăn, vất vả và khổ đau. Trong phần đề tựa cho cuốn sách “Ethics for the New Millennium” (Đạo lý cho Thiên nhiên kỷ mới), đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng chia sẻ: “Mất quê hương vào tuổi mười sáu và trở thành một người tỵ nạn vào tuổi hai mươi bốn, tôi đã đối diện với rất nhiều khó khăn suốt dòng đời. Khi nhìn lại, tôi thấy rất nhiều điều tưởng chừng không thể vượt qua nổi, chẳng những vì không thể tránh, mà còn không sao có được một giải pháp thuận lợi. Tuy nhiên, trên mặt tâm an bình và sức khỏe thể lý, tôi có thể tự cho rằng mình đã đương đầu tương đối tốt. Nhờ vậy, tôi có thể ứng phó với nghịch cảnh bằng trọn vẹn tiềm năng tinh thần, thể lý và tâm linh. Tôi đã không thể làm khác hơn nữa. Nếu tâm tôi tràn ngập ưu tư và vô vọng, sức khỏe sẽ bị tổn hại…
Khắp mọi nơi và trong bất cứ xã hội nào, người ta cũng đều chịu đựng đau khổ và nghịch cảnh, ngay cả những người thừa hưởng tự do và phồn vinh vật chất. Thật vậy, dường như sự thiếu hạnh phúc mà loài người chúng ta phải chịu đựng đa phần đều do chính chúng ta tạo ra. Do vậy, theo nguyên tắc, điều đó có thể tránh. Nhìn chung, tôi còn thấy, các cá nhân với hành vi hợp luân lý thường hạnh phúc và mãn nguyện hơn những người không màng đến luân lý. Điều này minh xác niềm xác tín của tôi là nếu chúng ta có thể tái định hướng tư tưởng và cảm xúc của mình và chỉnh đốn phẩm hạnh, chúng ta có thể không những đối phó với các nỗi khổ dễ dàng hơn, mà còn ngăn ngừa được sự khởi dậy của chúng ngay từ đầu.” (Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đạo lý cho Thiên niên kỷ Mới, bản dịch của Linh Thụy)
Đọc những giòng trên đây của bậc thày về nghệ thuật sống hạnh phúc và đối chiếu với cuộc sống của cụ bà láng giềng mà tôi có dịp chứng kiến, tôi càng xác tín rằng dù trong hoàn cảnh nào, ai cũng đều có thể cảm nếm được niềm vui và hạnh phúc  mà cuộc sống luôn mang lại cho chúng ta. Dù “cuộc đời chỉ trao cho chúng ta một trái chanh, chúng ta cũng có thể vắt ra để làm ra được một ly nước chanh” mà thưởng thức.
Nhìn lại những quan hệ hài hòa và tốt đẹp mà bà cụ láng giềng của tôi luôn có với những người xung quanh, tôi cũng nghĩ rút ra được một bài học cho tôi là: nếu tôi luôn cư xử tử tế với mọi người thì tâm hồn tôi mới có bình an và hạnh phúc. Cái kinh nghiệm thường ngày luôn cảnh cáo tôi rằng nếu tâm tư tôi lúc nào cũng nuôi dưỡng đố kỵ, ganh tương và nhứt là thù hận thì chắc chắn tôi chẳng bao giờ có được bình an và hạnh phúc.
Trong những ngày vừa qua, mỗi khi nghĩ đến cái gương “đã sống” của cụ bà hàng xóm, tôi cũng không thể tránh khỏi hình ảnh cái chết thảm thương của trùm khủng bố Osama Bin Laden. Cái chết của ông cũng là dịp để cho vô số người Mỹ và không biết bao nhiêu người trên thế giới “celebrate”. Thế giới của những người còn biết suy nghĩ bằng lý trí bình thường và với những cảm xúc thật sự “nhân bản” hẳn phải vui mừng. Vui mừng không phải vì giết được một kẻ thù, cho bằng vì trút bỏ được cái gánh nặng khủng khiếp của hận thù và bộ mặt của sự Dữ.
Thực tình mà nói, nhìn cho kỹ, tôi thấy gương mặt của ông Bin Laden không đến nỗi “dữ dằn” như Hitler, Stalin, như Mao Trạch đông. Có lúc tôi cũng thấy gương mặt ấy nở một nụ cười mà bình thường người ta nghĩ là của một “đạo sĩ” khắc khổ hơn là của một biểu tượng của độc ác.
Tôi thấy thương hại ông. Dĩ nhiên, nếu ông cũng tin có một Thượng Đế như tôi, thì sau cái chết, khi phải ra trước mặt Ngài, ông phải chịu trách nhiệm về cái chết của vô số những người vô tội mà ông đã sát hại. Nhưng “phán xét” là chuyện của bên kia thế giới. Chẳng ai có thể biết “trắng đen” về chuyện ấy. Tôi chỉ nghĩ đến chuyện của cuộc sống tại thế này. Là một con người cũng có một lương tâm như tôi, liệu ông có thể “vui mừng” khi sát hại những người vô tội không? Tâm hồn ông có thể bình an khi nhìn thấy máu của vô số sinh linh mà ông đã nhúng tay vào không?  Liệu trong cuộc sống chui sống nhủi trong hang động ở Afghanistan hay ở Abbottabad, Pakistan, ông có thực sự “sống” như một con người bình thường không?  Không, với tôi, Osama Bin Laden “đã chết” từ lâu rồi! Ông “đã chết” trong nấm mồ của hận thù do chính ông tự đào cho mình.
Hình ảnh của ông gợi lại cho tôi bài thơ có tựa đề “Conscience” (lương tâm) của thi hào Pháp Victor Hugo hồi thế kỷ 19. Bài thơ dựa trên Kinh Thánh kể lại chuyện Cain giết em mình là Abel và bị Thiên Chúa hiện ra tra hỏi: “Em ngươi đâu?” Trong bài thơ, lương tâm được tượng trưng bằng một con mắt mà cho dù được trú ẩn dưới hố sâu, Cain vẫn nhìn thấy. “L’oeil était dans la tombe et regardait Cain.” (con mắt vẫn hiện diện trong mộ và nhìn Cain)










Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

Thuận Thiên Giả Tồn



                                                                                Chu Thập
23.05.11




Nhà tôi có nuôi vài chị gà mái chuyên đẻ trứng và một cặp vịt Muscovy mà người Việt nam gọi là vịt xiêm hay ngan. Đây là một trong những nguồn thư giãn của tôi.
Với tôi, sự hiện diện của gia súc, gia cầm lúc nào cũng mang lại niềm vui cho con người. Lúc còn nhỏ, mỗi ngày cứ tờ mờ sáng, tôi có cái thú đi lượm trứng vịt trong vườn. Giữa cảnh tranh sáng tranh tối, cứ thấy có một “điểm trắng” thì biết đích thị là trứng vịt. Giống vịt mất bản năng làm mẹ thường chỉ đẻ về đêm hay gần sáng. Ở nhà quê hầu như nhà nào cũng nuôi năm mười con để chuẩn bị ăn Tết hay mừng lễ Giáng Sinh, nếu là người Công giáo. Trong khi chờ đợi thì trứng vịt cũng là một món ăn đậm đà quê hương: chỉ cần luộc lên vài trứng, dầm trong nước mắm ớt, chấm với rau luộc, đặc biệt là bầu luộc thì tôi vui chẳng khác gì thằng Bờm, có đổi “ba bò chín trâu” cũng chẳng muốn cười.
Riêng trứng gà thì quý hơn. Nếu không cho gà mái ấp thì mẹ tôi cũng để dành một số để gọi là “xin lễ” hay biếu ông cha sở. May lắm mới còn sót lại vài trứng và lũ con chỉ được “với tới” khi đau bịnh mà thôi.
Cũng may, nhờ mấy chị heo nái siêng đẻ và nhứt là nhờ tài vun vén của một bà mẹ luôn biết thiết lập “ngân sách” gia đình cho nên anh chị em chúng tôi không đến nỗi thiếu ăn thiếu mặc.
Có heo gà vịt, có lúa đầy bồ, cho nên cũng phải có chó mèo cho đề huề. Mèo thì dĩ nhiên phải túc trực thường xuyên trong nhà vì chuột lập ấp chiến lược ngay bên bồ lúa. Cũng may cho mèo, vào cái thời tôi còn nhỏ, mèo chưa phải là một món “tiểu hổ” khoái khẩu đối với dân làng cho nên đa số thường “mãn phần” khi quá già hay bị xe cán, xui xẻo lắm mới bị lũ nhỏ tinh nghịch chúng tôi trấn nước vì không thích cái tiếng kêu “meo meo” khó chịu và cái nhìn khó ưa của chúng.
Tội nghiệp nhứt có lẽ là mấy con chó trong nhà. Một bà chị lớn của tôi lập gia đình rồi mà chưa có đủ khả năng để “ra riêng” cho nên mấy anh chị em chúng tôi luôn có cháu để ẵm suốt ngày. Ngoài nghĩa vụ giữ nhà, mấy con chó trong nhà luôn tỏ ra đắc lực trong công tác dọn dẹp “vệ sinh” đối với mấy đứa cháu nhỏ. Mỗi sáng, hễ bà chị xốc một đứa cháu lên để “xi xi” vài tiếng thì vàng, vện, mực, trắng gì cũng có mặt ngay. Trung thành như vậy đó, vậy mà làng xóm hễ có lễ lạc thì ít nhứt cũng có một con phải bị cho vào bao bố mang ra trấn nước để được giải thoát khỏi kiếp chó.
Trong khi ở quê mình, vào thời trước, chó mèo như là những trợ thủ đắc lực trong gia đình chứ chẳng mấy ai nuôi để lấy tiếng sang. Mãi cho đến khi ra khỏi nước, tôi vẫn coi gia súc gia cầm như nhau, chưa có chút “cảm tình riêng” với chó mèo. Nhứt là hồi mới đến Pháp. Đến cái thời “chó chết” sau 1975, người dân xã hội chủ nghĩa đói meo, không có đủ vải để che tấm thân gầy, thì ở đây trên truyền hình “mẫu quốc” lúc nào cũng có những màn quảng cáo về đồ ăn cho chó mèo, ra đường thì thấy người ta dắt mấy cô cậu chó ăn mặc bảnh bao, lại còn tự do phóng uế ngay giữa đường phố thủ đô, thấy bắt ngứa con mắt. Cho nên, thằng người tỵ nạn như tôi đâm ra ghét chó, ghét mèo, ghét lây cái đám nhà giàu trưởng giả cứ lên giọng bênh vực súc vật.
Phải mất đi bao nhiêu năm, sau khi để cho bơ sữa, rượu vang thấm vào da thịt, tôi mới bắt đầu làm quen với cái thói trưởng giả và có chút cảm tình với chó mèo nuôi trong nhà. Dù vậy cho tới nay, dù có nhập gia tùy tục và hội nhập đến đâu, tôi cũng không thể nào cho phép chúng nó được “bình đẳng” để leo lên ngồi chễm chệ trên bộ salông trong phòng khách hay ngủ chung trên giường. Và dĩ nhiên, “chơi với chó để nó liếm mặt” thì còn lâu!  Hiện nay, tôi thấy không  cần có chó để giữ nhà, không cần có mèo để bắt chuột và cũng chưa đến nỗi cô đơn để phải “làm bạn” với chó mèo. Cứ nghĩ đến chuyện phải bế chó đi chích ngừa, “bưng bô” hay tắm gội cho chúng nó là tôi thấy oải rồi ! Bù lại, tôi lại có vài chị gà mái và một cặp vịt xiêm cũng dễ thương như những loài “thú cưng” khác.
Mấy chị gà mái của tôi có lẽ sẽ muôn đời “đồng trinh sạch sẽ” bởi vì luật của vùng tôi ở cấm nuôi gà cồ. Không có bóng gà trống, các chị cứ thi nhau đẻ. Và vì chưa một lần được làm mẹ cho nên các chị hay than thở, thở than suốt ngày. Nhằm lúc trở trời mưa gió, các chị đình công cả đám.
Kể từ lúc có cặp vịt xiêm tôi thấy vui hơn. Cách đây hai tuần, sau đúng 28 ngày nằm ấp, chị vịt mái của tôi cho ra đời tám chú vịt con thật dễ thương. Trong 28 ngày, tôi nghĩ phải quan sát cảnh vịt mái nằm ấp mới cảm nhận được tình mẫu tử. Dù đã tự làm một cái ổ thật êm bằng những cọng cỏ rác, vịt mẹ còn tiếp tục rứt thêm những cọng lông của chính mình để che phủ ổ trứng cho thật dầy rồi mới nhẹ nhàng nằm lên ấp. Có những ngày liền vịt mẹ không rời khỏi ổ một phút, cùng lắm chỉ đứng lên hoặc đổi thế nằm mà thôi. Những ngày cuối cùng thì tuyệt nhiên, chị không màng đến chuyện ăn uống.
Nhưng cảm động nhứt phải là giây phút cái trứng khẩy mỏ, con vịt con kêu chít chít và chuẩn bị ra đời. Sự sống quả là huyền diệu.
Sự sống ấy lại càng huyền diệu hơn khi đàn vịt con líu lo líu lít suốt ngày. Chẳng khác nào trong nhà có tiếng trẻ con. Những lúc đầu óc căng thẳng, tôi đứng nhìn lũ vịt hằng giờ mà không biết chán. Chỉ cần hai, ba ngày tuổi là chúng nó đã biết tự lập, sục sạo khắp nơi. Vịt mẹ của tôi, tuy không biết “dậm chân” giận dữ mỗi khi tôi bắt con nó, nhưng lúc nào cũng thể hiện một thứ tình mẫu tử thật “huyền nhiệm”. Những lúc vịt mẹ dùng mỏ “khỉa khỉa” trên mấy con vịt con tôi thấy chẳng khác nào người mẹ nựng con. Gặp những lúc trời mưa hay trở lạnh, người ta mới cảm nhận được sự bao bọc chở che của mẹ vịt. Tối đến, vịt con ríu rít theo mẹ vào chuồng. Những ngày mưa gió vừa qua, tôi nghĩ chẳng có nơi nào “ấm” hơn cái ổ vịt của tôi. Mẹ vịt có thể “hy sinh” đứng cả đêm để cho con cái được quây quần xung quanh.
Mỗi lần đứng ngắm nhìn đàn vịt con bên vịt mẹ, tôi không thể không nghĩ đến cái bản năng kỳ diệu được phú bẩm cho thú vật. Có chấp nhận một Đấng Tạo Hóa hay không, không ai có thể chối cãi được cái bản năng ấy nơi thú vật. Có cảm giác, biết đau đớn, vui buồn đã đành, mà trong một số cử chỉ, thú vật  cũng cho tôi cái cảm tưởng như thể chúng biết “suy nghĩ” và thể hiện điều mà chúng ta gọi là tình yêu.
Mới đây, tôi đọc được một mẩu tin khá ngộ nghĩnh trên báo mạng “The National Catholic Register”, một tờ báo Công giáo phát hành tại Hoa kỳ. Tại một giáo xứ nọ, vị linh mục nhận thấy giáo dân của mình cứ từ từ bỏ giáo xứ để kéo nhau đến thờ phượng tại một “siêu thánh đường” (megachurch) Tin lành bên cạnh. Trong “siêu thánh đường” này có màn ảnh rộng, có chiếu hình, có ban nhạc kích động và dĩ nhiên, vị mục sư thuyết giảng cũng hùng hồn cho nên bài giảng cũng ít buồn ngủ hơn các linh mục. Làm thế nào để lôi kéo giáo dân trở về giáo xứ? Vị linh mục nghĩ nát óc mà không tìm được giải pháp. Thế rồi dịp may lại đến. Một tờ báo địa phương loan báo rằng một gánh xiếc sắp đóng cửa, muốn tìm một nơi nương tựa cho 5 chú khỉ. Vị linh mục liền chộp lấy thời cơ: còn đâu là nơi thích hợp hơn để đón tiếp 5 chú hề gánh xiếc này cho bằng nhà xứ. Thật ra, vị linh mục đã có một hậu ý: vì biết 5 chú khỉ đã được huấn luyện nhuần nhuyễn, ông nghĩ đến việc xử dụng chúng vào việc giúp lễ trên bàn thờ. Thật không thể tưởng tượng.  Năm chú khỉ làm công việc trên bàn thờ còn nghiêm trang sốt sắng hơn cả các cậu bé hay cô bé giúp lễ. Được cho mặc quần áo “giúp lễ”, các chú lại chắp tay nghiêm trang, mắt lim dim trông chẳng khác nào các tu sĩ đang cầu nguyện và xuất thần. Kết quả đã diễn ra như vị linh mục dự đoán, giáo dân từ từ trở về giáo xứ, sự đóng góp ngày càng gia tăng. Nhiều trẻ em xin cha mẹ cho phép tham dự thánh lễ mỗi ngày. Hiện người ta đang nghĩ đến chuyện huấn luyện mấy chú chó để đảm nhiệm việc tiến dâng của lễ lên bàn thờ!
Các nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo tại Hoa kỳ chưa chính thức lên tiếng về sáng kiến “táo bạo” này của vị linh mục. Nhưng nghĩ cho cùng, xem ra sáng kiến cũng chẳng có gì đi ngược với tinh thần đích thực của Kitô giáo. Kinh Thánh há chăng viết rằng mọi tạo vật đều cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa đó sao? Tạo điều kiện cho khỉ chó đại diện cho thú vật để được có mặt trên bàn thờ và góp phần vào việc tế lễ và ngợi khen Thiên Chúa chẳng phải là một điều “chính đáng và phải đạo” sao?  Thánh Phanxicô Assisi, vị thánh sống tại Ý vào thời Trung cổ, cũng đã tiên phong trong cử chỉ táo bạo này khi gọi các tạo vật, kể cả muôn tinh tú là “anh chị em” của mình. Ngày nay, vị thánh này được cả thế giới nhìn nhận như sứ giả của Hòa bình. Assisi đã trở thành biểu tượng của hòa bình thế giới. Chính vì thế mà ngày 26 tháng 10 năm 1986, đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã mời các vị đại diện của các tôn giáo trên thế giới về đây để cầu nguyện cho hòa bình thế giới theo tinh thần của thánh Phanxicô.
Theo vị thánh này, để có hòa bình, trước tiên con người cần phải có hòa bình với thiên nhiên. Đây chắc chắn cũng là ý tưởng nổi bật của Phật Giáo. Có lẽ không có tôn giáo nào kêu gọi con người sống hòa bình với thiên nhiên cho bằng tôn giáo này. Nếu muôn thú cỏ cây được con người tôn trọng như cùng thuộc về một gia đình chung là thiên nhiên, thì làm sao con người lại không nhìn nhận người đồng loại như anh chị em của mình?
Nhân ngày của Mẹ, tôi tưởng nhớ người mẹ quá cố của tôi đã đành, tôi cũng nghĩ đến Người Mẹ chung mà thế giới ngày càng quan tâm tới là Mẹ Thiên Nhiên.
Mới đây, bà Amy Chua, một giáo sư luật tại đại học Yale, Hoa kỳ đã cho xuất bản một cuốn sách tự thuật có tựa đề “Battle Hymn of the Tiger Mother” (bài ca chiến thắng của bà Mẹ dữ như cọp). Trong cuốn sách gây nhiều tranh cãi, bà Amy Chua, một người gốc Hoa, đề cao sự nghiêm khắc của thân phụ khi bà còn theo học tại Philippines và tự xưng là “một người mẹ dữ như cọp” trong việc giáo dục hai đứa con gái của bà. Muốn hay không, ít có ai phủ nhận rằng sự nghiêm khắc của các cha mẹ người Hoa đã hỗ trợ rất nhiều trong sự thành công của con cái trong việc học hành.
Tôi thường nghĩ đến Mẹ Thiên Nhiên với hình ảnh của Người Mẹ dữ như cọp này. Thực vậy, Mẹ Thiên Nhiên thường tỏ ra rất nghiêm khắc. Những vùng đất bị sa mạc hóa, những hải đảo đang bị nhấn chìm, những cơn bão lụt tại Queensland, Victoria Úc, trận động đất, sóng thần đưa đến tai họa phóng xạ tại Nhựt hôm11/3 vừa qua, những “con ma đụn” khủng khiếp (tornado) mới đây tại một số tiểu bang miền Nam Hoa kỳ…là những cảnh cáo của Mẹ Thiên Nhiên. Với tôi, qua những thiên tai ấy, Mẹ Thiên Nhiên muốn nhắc nhở con người rằng khoa học và kỹ thuật, dù có tiến bộ đến đâu, cũng không bao giờ bảo đảm cho con người một sự an toàn tuyệt đối. Thế giới vừa kỷ niệm 25 năm vụ nổ lò nguyên tử tại Chernobyl, Ukraine. Những bóng ma vẫn còn lảng vảng tại vùng đất hoang tàn này sẽ mãi mãi cất lên tiếng kêu than và oán trách về sự dựa cậy vào khoa học kỹ thuật và thái độ tự mãn của con người.
Mẹ Thiên Nhiên cũng có lúc tỏ ra “phẫn nộ” để nói với loài người rằng Mẹ đang bị lợi dụng, khai thác, bóc lột, xài xể một cách bừa bãi, vô tội vạ. Mẹ Thiên Nhiên khẩn khoản nài van rằng thế giới chỉ thực sự có hòa bình khi nào con người biết tôn trọng và bảo tồn môi sinh. Làm sao có hòa bình được khi con người chưa có hòa bình với Mẹ Thiên Nhiên?
Hòa bình thế giới quả là chuyện “đại sự”. Nhưng mỗi lần đứng ngắm nhìn đàn vịt của tôi đang vui đùa dưới bóng lá giây su và mướp leo chung một giàn, tôi lại nghĩ đến hòa bình. Có tìm được an bình trong thiên nhiên, với thiên nhiên, con người mới có thể xây dựng hòa bình với tha nhân.






Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Đàng sau cùng một nụ cười


Chu Thập
28.11.14


Mấy hôm nay, theo dõi tin tức về việc Trung Quốc thực hiện dự án xây đảo nhân tạo trên bãi đá Vĩnh Thử mà Việt Nam gọi là Đá Chữ Thập, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, tôi lại bị ám ảnh bởi nụ cười của Chủ tịch Tập Cận Bình. Tôi cũng thấy thương hại cho sự “ngây ngô” của Thủ tướng Tony Abbott của tôi. Ông tin như tin đóng cột rằng với Chủ tịch Tập Cận Bình “bầu khí ổn định và hòa bình trong nước cũng như bầu khí hòa bình quốc tế là điều rất quan trọng đối với Trung Quốc”. Trong bữa tiệc khoản đãi ông Tập Cận Bình nhân dịp ông này đến Úc Đại Lợi tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G20, thủ tướng của tôi cũng đã không tiếc lời ca ngợi lời tuyên bố của ông Tập Cận Bình rằng cộng hòa xã hội chủ nghĩa Trung Quốc sẽ hoàn toàn “dân chủ” vào năm 2050. Có lẽ Thủ tướng Abbott chưa từng sống một ngày trong bất cứ một thiên đàng cộng sản nào cho nên dĩ nhiên chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Tôi vẫn thắc mắc: một người học rộng hiểu nhiều cũng như có nhiều kinh nghiệm trong sinh hoạt chính trị như ông lại chẳng hiểu gì về ý nghĩa của hai chữ “dân chủ” trong cái đầu có sạn của người cộng sản. Nói cho cùng,  có lẽ Thủ tướng Abbott chẳng thấy gì khác ngoài những lời tuyên bố theo bài bản cộng sản của ông Tập Cận Bình và nhứt là đàng sau nụ cười của ông. Giá như được ông vấn kiến, thì chắc chắn người Việt tỵ nạn nào cũng sẽ khuyên ông bằng câu nói bất hủ của Cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: Đừng tin những gì cộng sản nói!
Muốn tìm hiểu thêm chân dung của con người luôn có nụ cười nửa miệng này, tôi đọc lại bài báo của ký giả Jonathan Kaiman đăng trên báo “The Observer” (Người Quan Sát) phát hành tại Anh Quốc cách đây đúng một năm, nhân dịp thủ tướng Anh David Cameron viếng thăm Trung Quốc.
Mở đầu bài báo, ký giả Kaiman kể lại rằng đầu tháng 11 năm 2013, Chủ tịch Tập Cận Bình đến thăm một vùng nông thôn thuộc tỉnh Hồ Nam. Ông vào nhà một phụ nữ có lẽ lớn tuổi hơn ông. Mặc dù chủ tịch Trung Quốc quen được mọi người xưng gọi một cách đầy kính trọng và thân thương là “Xi Dada” (Bác Tập), người phụ nữ quê mùa, chơn chất này cũng cảm thấy bối rối không biết phải “bẩm thưa” như thế nào cho phải phép. Con người quyền lực nhứt nước bèn hỏi tuổi của người phụ nữ. Người đàn bà cho biết mình đã 64 tuổi. Chủ tịch Tập Cận Bình liền nắm tay bà và nói: “Bà là chị của tôi”. Tất cả mọi cơ quan truyền thông công cụ của nhà nước đều thuật lại cuộc gặp gỡ và đều đề cao thái độ bình dân, sự gần gũi và thân tình của chủ tịch đối với người nông dân nghèo.
Thế nhưng, chỉ ba tuần sau đó, Trung Quốc bất thần và đơn phương tuyên bố làm chủ toàn vùng phòng không trong vùng biển đang bị tranh chấp ở Biển Đông. Hành động ngang ngược này dĩ nhiên đã tạo ra một cuộc khủng hoảng có liên hệ đến nhiều nước. Nhựt Bản, Đại Hàn và Hoa Kỳ đã không ngần ngại thách thức sức mạnh đang lên của Trung Quốc bằng cách cho máy bay lượn trên vùng vừa được Trung Quốc “nhận diện phòng không”. Dĩ nhiên, Trung Quốc cũng cho máy bay của mình bay lên để gọi là diễu võ dương oai. Theo các nhà phân tách, vì Chủ tịch Tập Cận Bình cũng là thống soái của quân đội nhân dân Trung Quốc cho nên ngoài ông ra, không ai khác dám đứng đàng sau hành động ngang ngược này.
Kể từ khi lên “nắm” quyền theo đúng nghĩa, Chủ tịch Tập Cận Bình đã cam kết tự do hóa thị trường, nhưng lại tiếp tục làm chủ và kiểm soát các công ty quốc doanh. Ông không ngừng rêu rao về những cử chỉ “đẹp” của Trung Quốc ở nước ngoài, nhưng lại hạnh hẹ và “ăn hiếp” các nước láng giềng. Ông hứa theo đuổi chủ trương minh bạch và trong suốt nhưng lại thẳng tay đàn áp bất cứ nhóm “xã hội dân sự” nào trong nước. Chỉ một năm sau khi lên nắm quyền sinh sát trong tay, Chủ tịch Tập Cận Bình đã không nương tay đối với những người bất đồng chính kiến và bất cứ người nào đòi hỏi quyền tự do ngôn luận. Chuyện ông ta đàn áp, dứt khoát không lắng nghe hay đối thoại với phong trào cách mạng “dù vàng” (Yellow Umbrella Revolution) của giới trẻ và người dân Hông Kông là một ví dụ điển hình của thế nào là “dân chủ” Xã Hội Chủ Nghĩa. Ông siết chặt việc kiểm soát đối với truyền thông, nhứt là mạng lưới Internet và ngay cả Phong Trào Công Dân Mới, một nhóm những người tranh đấu đòi hỏi chính phủ cần phải tỏ ra minh bạch. Các cơ quan truyền thông công cụ tuyên xưng ông là người của quần chúng. Nhưng các nhà phân tách gọi ông là một con người độc ác, tàn bạo, luôn có tính toán, nhứt là để tạo cho mình hình ảnh của một lãnh tụ nhân đạo, gần gũi với dân chúng.
Hình ảnh dễ hiểu nhứt để nói về con người đang nắm giữ vận mệnh của trên một tỷ người dân Trung Quốc và hiện đang thao túng trên khắp thế giới này, hẳn phải là con “kỳ nhông”, giống vật bò sát luôn biết thay hình đổi dạng tùy theo môi trường và tình huống. Trong nước hay đối với một số nước láng giềng, cách riêng trong Biển Đông, rõ ràng người ta chỉ có thể gọi ông là một hung thần. Nhưng ra nước ngoài, ông lại đeo vào một chiếc mặt nạ khác: lúc nào cũng mỉm cười nơi công cộng chớ không lạnh lùng như người máy Hồ Cẩm Đào. Ông tỏ ra mình là một con người cởi mở khi cho biết rất thích xem phim ảnh của Hollywood cũng như liên hiệp bóng rổ NBA của Mỹ. Theo tiết lộ của Wikileaks, ông có một bà chị đang sống tại Gia Nã Đại. Còn con gái ông, cô Xi Mingze, hiện đang theo học tại trường đại học danh tiếng Harvard của Mỹ dưới một tên khác.
Theo giáo sư Bo Zhiyue, hiện đang giảng dạy về môn chính trị Trung Quốc tại đại học quốc gia Singapore, Chủ tịch Tập Cận Bình là một người đang mang nhiều cái mũ khác nhau trên đầu. Ông giáo sư này nói rằng ông đang “cố gắng hiểu ông Tập Cận Bình thực sự là ai”.
Với một người tỵ nạn cộng sản như tôi thì hiểu được một người cộng sản, nhứt là một người cộng sản đầy quyền lực như ông Tập Cận Bình, có gì là khó đâu. Với tôi, tất cả các “Bác” cộng sản đều là những diễn viên sân khấu tồi: nụ cười, tiếng khóc, bộ mặt bình dân và nhân ái của họ không thể nào che đậy được sự tham quyền, độc ác, tàn bạo và nhứt là dối trá của họ. Tập Cận Bình đơn giản cũng chỉ là một con người như thế mà thôi!
Cũng may, thế giới lúc nào cũng nhận diện được bộ mặt giả nhân giả nghĩa của người cộng sản và nhìn ra được thế nào là nụ cười nhân ái, tấm lòng chân thực. Tạp chí Reader’s Digest ấn bản Úc Châu, số ra tháng 12 này đã giúp tôi có được một cái nhìn như thế. Cùng với chân dung của Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo tinh thần của hơn một tỷ người công giáo trên khắp thế giới được in ở trang bìa, tạp chí Reader’s Digest  gọi nhà lãnh đạo tôn giáo này là “vị giáo hoàng vui tươi” và giúp tôi hiểu được chìa khóa của một niềm vui đích thực.
Trong bức chân dung của Đức Phanxicô được in nơi trang bìa của tạp chí Reader’s Digest, người ta thấy nhà lãnh đạo tôn giáo này cũng có hầu như một nụ cười như chủ tịch Tập Cận Bình. Quả thực, hai lãnh tụ này có những điểm giống nhau. Cả hai đều lãnh đạo một “dân số” trên một tỷ người. Cả hai đều được tạp chí Forbes, trong số ra gần đây, xếp vào vị trí gần nhau nếu xét về quyền lực: Chủ tịch Tập Cận Bình đứng hạng 3, Đức Phanxicô đứng hạng 4. Cả hai đều gần gũi với dân chúng. Và nhứt là cả hai đều có một nụ cười giống nhau. Nhưng khoảng cách giữa hai nụ cười là cả một vực thẳm: một bên là sự biểu lộ của lòng nhân ái, một bên lại che dấu sự dối trá và độc ác.
Ký giả Austen Ivereigh, tác giả của cuốn sách “The Great Reformer: Francis and the making of a Radical Pope” (Nhà Đại Cải Cách: Đức Phanxicô và sự hình thành của một vị Giáo hoàng Cấp Tiến) và bài báo đăng trên tạp chí Reader’s Digest cho biết lúc còn làm hồng y tổng giám mục ở thủ đô Buenos Aires, Á Căn Đình, tuy lúc nào cũng gần gũi với dân chúng, sống cuộc sống đơn sơ, nghèo khó, Đức Phanxicô lại là một con người kín đáo, không thích được chụp hình và ít khi cho phỏng vấn. Ngài không khoe khoang, không “biểu diễn” về cuộc sống bình dân của mình. Ngài sống nghèo vì thực sự yêu thương người nghèo.
Ký giả Ivereigh đã tóm tắt hai bí quyết của cuộc sống đơn sơ, bình dị và nụ cười thân ái của nhà lãnh đạo tôn giáo này. “Một là bạn chỉ có thể xóa bỏ nghèo đói bằng cách yêu thương người nghèo. Hai là bạn không thể yêu thương người nghèo nếu bạn vẫn bám chặt vào tiền của”. Dĩ nhiên, đi đôi với tiền của là quyền lực, danh vọng, ý thức hệ...Đó là tất cả những gì mà Đức Phanxicô muốn nói lên đàng sau nụ cười nhân ái của ngài và nhứt là qua việc ngài cho bán đấu giá tất cả “của cải” của mình để lấy tiền giúp người nghèo. Và đương nhiên đó cũng là bí quyết của một niềm vui đích thực mà ngài muốn nhắn gởi cho con người thời đại.
Tôi không tin rằng đó cũng là những gì mà chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc muốn biểu lộ qua nụ cười luôn nở trên môi ông. Bởi lẽ nếu thực sự yêu thương người nghèo và con người nói chung, ông đã chẳng tỏ ra tàn bạo với tất cả những người bất đồng chính kiến với ông, ông đã chẳng tỏ ra tham vọng bá quyền đối với các nước láng giềng. Cười và vui luôn đi đôi với nhau. Nếu hiểu như ký giả Ivereigh về niềm vui của Đức Phanxicô vì được yêu thương và phục vụ người nghèo, thì tôi e rằng nụ cười của chủ tịch Tập Cận Bình khó biểu lộ được một niềm vui như thế.
Thế giới đã bước vào Mùa Giáng Sinh. Ý nghĩa tôn giáo của mùa lễ có thể đã bị lãng quên. Nhưng ít ra cái cốt lõi của Giáng Sinh vẫn luôn còn đó: ai cũng thấy rộn lên niềm vui. Dĩ nhiên, có trăm ngàn niềm vui. Vui được nghỉ ngơi. Vui được đi du lịch. Vui được gặp gỡ. Vui được tiệc tùng. Vui được nhận quà. Vui được đoàn tụ gia đình... Nhưng ý nghĩa nhứt và đáng tìm kiếm nhứt trong mùa Giáng Sinh hẳn phải là niềm vui được san sẻ, trao ban và nhứt là trao ban cho những người túng thiếu. Thế giới này có thể thừa mứa của cải, nhưng chẳng bao giờ thiếu người nghèo. Và dĩ nhiên, con người thời đại có thể có tất cả mọi sự, nhưng lại vẫn nghèo về niềm vui đích thực.
Nụ cười của bạo chúa thời đại Tập Cận Bình chắc chắn không gợi lên cho tôi niềm vui nào cả. Có chăng chỉ là thái độ nghi kỵ và sự uất hận.  Nhưng nhìn vào nụ cười của Đức Phanxicô, “vị giáo hoàng vui tươi” (the Joyful Pope) nơi trang bìa của tạp chí Reader’s Digest ở khởi đầu mùa Giáng Sinh này, tôi không thể không cảm thấy được thôi thúc để đi tìm kiếm niềm vui đích thực. Nơi cuộc sống đơn sơ và nhứt là nụ cười nhân ái của ngài, tôi đã tìm thấy bí quyết của một niềm vui đích thực: sống yêu thương và nhứt là yêu thương người nghèo, những người dễ bị tổn thương nhứt, những người bị đẩy ra bên lề xã hội, những người đang bị lãng quên...tôi sẽ cảm nhận được niềm vui đích thực!



Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Món Quà Trao Nhau


                                                                           Chu Thập
Giáng sinh 2010

Những ngày chuẩn bị Giáng Sinh, đi rảo một vòng phố xá, tôi nhận thấy hầu như ai cũng “tất bật” với chuyện mua sắm quà tặng. Giáng Sinh không chỉ là mùa để nghỉ ngơi, gặp gỡ, sum họp gia đình hay ăn uống, mà còn là dịp để “trao tặng”.
Ở trong nước dưới thời xã hội chủ nghĩa hiện nay, “tặng quà” đã trở thành một thứ “phong tục”. Nói theo kiểu nói dân gian, việc gì cũng phải có thủ tục “đầu tiên”. Tổ chức “Minh Bạch Quốc Tế” vừa cho công bố một bản báo cáo về tình hình tham nhũng tại Việt nam. Báo “Đời sống và Pháp Luật” trong nước, số ra ngày 16 tháng 12, cũng trích dẫn báo cáo của tổ chức này như sau: tham nhũng tập trung vào các lãnh vực như cảnh sát 82 %, giáo dục 67%, cán bộ công chức nhà nước 61%, tư pháp 52%. Để gọi là làm sáng tỏ báo cáo này, báo Đời sống và Pháp luật đã phỏng vấn ông Lê Mạnh Luân, phó văn phòng Ban chỉ đạo Phòng chống Tham nhũng Trung ương. Ông này trút hết “tội lỗi” lên đầu người dân, bởi vì, theo ông, người dân “cố tình đưa tiền chạy chọt” và bởi vì “khó phân biệt quà biếu với hối lộ”. Ông quan này nói chuyện huề trớt như sau: “Tham nhũng nước nào cũng có, nhưng ở các nước, công chức hưởng lương 40 ngàn USD thì việc chống tham nhũng không đến nỗi khó, nhưng ở ta lương công chức trung bình vài triệu đồng/tháng thì khó ổn định cuộc sống nên dễ sa ngã. Thêm vào đó luật của chúng ta cũng chưa rõ ràng, ý thức tôn trọng pháp luật của người dân còn hạn chế. Chúng ta còn có những phong tục tập quán cứ giúp đỡ nhau thì có quà cám ơn, ranh giới khó phân biệt đâu là quà và đâu là hối lộ.” (x.Việt báo online 17/12/2010)
Có lẽ người dân Úc không có “phong tục tập quán cứ giúp đỡ nhau thì có quà cám ơn” cho nên mỗi năm cứ đến lễ Giáng Sinh, người ta lại phải nhắc nhở nhau về nghĩa cử này. Trong một xã hội ngày càng bị “tục hóa”, ý nghĩa của ngày lễ tôn giáo này có thể bị đánh mất, nhưng ít ra sứ điệp cốt lõi của ngày lễ vẫn còn đó: lễ Giáng Sinh vẫn mãi mãi là lễ của trao tặng. Lòng vị tha vẫn cao quý hơn tính ích kỷ. Thế giới vẫn tốt đẹp hơn khi con người biết trao tặng cho nhau.
Nhưng “tặng quà” là cả một nghệ thuật. Tặng quà trước hết là “nghĩ” đến người khác. Có nhiều hôm, mất cả mấy tiếng đồng hồ trong các thương xá, chúng tôi loay hoay mãi mà không biết phải mua những món quà nào vừa ý mình và cũng đẹp ý người nhận. Tôi nghĩ có lẽ nhiều người Úc cũng lúng túng như chúng tôi trong việc đi mua sắm quà tặng trong mùa Giáng Sinh. Lúng túng là phải, bởi vì có biết bao nhiêu “quà tặng” không được người nhận “trân quý” và xử dụng.
Mới đây, tuần báo “Wyndham Weekly” đã cho công bố kết quả của một cuộc thăm dò do viện “The Australia Institute” thực hiện, theo đó trong mùa Giáng Sinh năm ngoái, có khoảng 6 triệu người Úc nhận được một hay nhiều món quà  mà họ không bao giờ xử dụng hoặc sau đó mang đi cho.
Ông Richard Denniss, giám đốc điều hành của Viện “The Australia Institute” giải thích rằng những món quà “không mong mà phải nhận” là một sự phí phạm trị giá khoảng 798 triệu Úc kim về tiền bạc, thời giờ và công sức. Theo ông Denniss, “nền văn hóa bị bắt buộc phải cho” này chỉ làm giàu cho các công ty thương mại và những nơi cấp thẻ tín dụng là các ngân hàng lớn.
Cuộc thăm dò cũng cho thấy có đến một phần tư người dân Úc tặng quà cho những người mà họ không muốn tặng chút nào. Và một phần tư những người tặng quà bất đắc dĩ này không thể trả nợ tín dụng hàng tháng. Ông Denniss nói: “Khoảng một triệu người Úc phải chi tiền để mua quà mà lẽ ra họ không nên mua” (x. Cathnews 15/12/2010)
Tặng quà quả là cả một nghệ thuật. Không theo đúng quy luật của nghệ thuật này, thì người tặng quà phải “đau khổ” mà người nhận cũng chẳng sung sướng gì. Tờ báo địa phương của tôi, trong số ra tuần này, có đưa ra lời khuyên: “Hãy suy nghĩ cho kỹ trước khi tặng một con thú cưng.” Hội đồng thành phố kêu gọi người dân hãy cân nhắc trước khi mua tặng một con mèo hay một con chó để làm quà Giáng Sinh. Mỗi năm không biết bao nhiêu mèo chó được mua làm quà tặng cuối cùng đều được mang đến các trung tâm “thú vật mồ côi” của thị xã, khiến phải tốn thêm tiền đóng thuế của người dân để nuôi mấy con vật vô chủ và không được thừa nhận này. Một nghị viên của hội đồng thị xã nói rằng: “người ta mua tặng những con thú mà người nhận không nhứt thiết cần đến. Thế là những con thú ấy bị mang bỏ ngoài đường hay trong rừng; chúng sủa inh ỏi vì không được chú ý đến. Tiền đóng thuế của người dân lại phải chi ra để lo cho mấy con thú này đã đành, mà súc vật trong rừng cũng bị những con thú hoang này cắn xé.” (x. Express Advocate)
“Phải suy nghĩ cho kỹ” trước khi mua quà. Tôi nghĩ đây là một lời khuyên thực tế mà có lẽ ai cũng nên đón nhận mỗi khi “nghĩ” đến ai đó và muốn mua quà tặng cho họ. Muốn mua quà dĩ nhiên phải có tiền. Nhưng kinh nghiệm của cuộc sống lắm khi lại cho chúng ta thấy rằng không phải quà tặng càng đắt thì càng có giá trị. Một đứa bé có thể ngụp lặn và ngộp thở trong cái kho đồ chơi của nó mà vẫn cảm thấy không được yêu thương, nếu không cảm nhận được sự gần gũi, thân mật, vỗ về, âu yếm của cha mẹ nó. Một người vợ sẽ cảm thấy “trống rỗng” nếu không muốn nói là cay đắng khi nhận được một bó hoa của người chồng từ xa gởi về, nhưng biết rõ rằng ông đang “đi lại” với một người đàn bà khác. Một người mẹ đang sống trong một viện dưỡng lão có lẽ cũng chẳng thấy “ ấm lòng” hơn vì được người con năm thì mười họa mới ghé tạt qua để tặng cho một hộp chocolate. Chúng ta có thể kể ra vô số tình huống trong đó quà tặng, dù có đắt giá đến đâu, cũng không mang lại niềm vui đích thực cho người nhận. Tựu trung, như người ta vẫn thường nói, quà tặng mà không có người tặng là một quà tặng trơ trụi, trống rỗng. Giá trị của quà tặng không nằm trong quà tặng mà nơi “trái tim” mà con người muốn đặt vào đó. Nói cho cùng, trong ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh, tặng quà đích thực chính là trao tặng chính mình.
Tiến sĩ Norman Vincent Peale, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “The power of positive thinking” (sức mạnh của tư tưởng tích cực) có kể một câu chuyện thật mà tôi cho là một trong những câu chuyện Giáng Sinh đẹp nhứt: Thành phố New York của Hoa kỳ chắc chắn phải là một trong những thành phố “hoành tráng” nhứt trong mùa Giáng Sinh. Trong những giờ phút cuối của buổi chiều chuẩn bị lễ Giáng Sinh, ai cũng vội vã đi sắm quà. Đặc biệt nhứt là tại đại lộ “Fifth Avenue”. Chẳng có nơi nào trên thế giới có thể sánh kịp với khu phố này về sự giàu sang, quyền lực và dư dật. Ở đây, tiền bạc xem ra không phải là vấn đề. Nếu có vấn đề thì vấn đề đó là: những người nhận quà giàu có đến độ thật khó tìm được một món quà hợp với họ hay qua đó mình có thể thực sự nói với họ: “Tôi yêu mến bạn!”
Một thiếu nữ tên là Ursula cũng gặp vấn đề như thế. Cô là một người Thụy sĩ đến Hoa kỳ để học Anh văn. Không có khả năng trang trải học phí, cô xin đến giúp việc cho một gia đình giàu có ở New York. Nhân mùa Giáng Sinh, cô cũng muốn tỏ lòng biết ơn với gia đình đang cưu mang mình. Nhưng với đồng lương khiêm tốn, cô thấy mình không tài nào mua được một món quà cho “xứng” với gia đình giàu có này.
Một ý nghĩ chợt đến với cô: “Quả thật, trong thành phố này, nhiều người giàu có hơn mình. Nhưng chắc chắn đâu đó cũng còn có những người nghèo hơn mình.” Nghĩ như thế cho nên vào ngày áp lễ Giáng Sinh, nhân được nghỉ việc, cô liền ra phố mua một cái áo dành cho một thơ nhi và dùng giấy gói quà bao lại. Sau đó, cô đến gặp người bảo vệ làm việc trong thương xá và hỏi cho biết đâu là khu khố nghèo nhứt của New York. Người bảo vệ liền nói đến khu Harlem hay khu “Lower East Side”. Nhưng mấy địa danh này xem ra chẳng có ý nghĩa gì đối với cô gái. Cô ra khỏi tiệm và đi dọc theo các con đường cho đến khi gặp một viên cảnh sát. Khi cô hỏi tên một con đường nghèo nhứt trong khu Harlem, viên cảnh sát liền lắc đầu nói: “Cô ơi, không có chỗ cho cô ở khu Harlem đâu.”
Gặp một phụ nữ, cô cũng hỏi đâu là khu phố của những người nghèo. Nhưng người đàn bà cũng lắc đầu rồi bỏ đi. Cuối cùng, cô gặp được một nhân viên của “Salvation Army” (một tổ chức từ thiện của Giáo hội tin lành). Người nhân viên này bảo cô chờ thêm vài tiếng đồng hồ nữa khi hết phiên trực ông sẽ hướng dẫn cô đi taxi với giá rẻ để đến nơi cô muốn. Người tài xế taxi tốt bụng đã chở người nhân viên của Salvation Army và Ursula đến con đường được xem là nghèo nhứt trong khu Harlem. Nhân viên từ thiện định mời cô cùng với ông đi bộ lên lầu ba của một chung cư để trao món quà cho gia đình nghèo. Nhưng cô gái lắc đầu giải thích rằng đây không phải là quà của cô, mà là của một người khác nhờ cô trao hộ. Nhân viên của Salvation Army đành lặng lẽ mang gói quà lên tận gia đình của người nghèo.
Khi đưa cô về lại đại lộ “Fifth Avenue” là nơi cô đang sống, người tài xế taxi nói rằng cô không phải trả tiền. Cô ngạc nhiên, nhưng ông giải thích: “Cô đừng lo. Đã có người trả rồi.” Nói xong, ông mỉm cười rồi cho xe chạy.
Buổi sáng ngày Giáng Sinh, Ursula thức dậy thật sớm. Cô dọn bàn và chuẩn bị mọi sự cho bữa ăn sáng của gia đình. Cô cám ơn mọi người vì đã tặng quà cho cô. Nhận ra thắc mắc trong ánh mắt của mọi người, cô kể lại những gì cô đã làm chiều hôm trước, chuyện cô gặp nhân viên của tổ chức Salvation Army và người tài xế taxi tốt bụng, rồi nói: “Tôi cố gắng nhân danh quý vị để làm một nghĩa cử. Đó chính là món quà Giáng Sinh tôi xin được dành cho quý vị.”
Tiến sĩ Norman Vincent Peale cho biết: sở dĩ ông biết rõ câu chuyện là bởi vì gia đình ông chính là nơi mà cô gái người Thụy sĩ trên đây đã giúp việc. Ông kết luận: “Cô đã trao ban một điều cao cả: đó là một món quà từ trái tim của cô, một hành động tử tế được thực thi trong danh nghĩa của chúng tôi.
Thật là lạ lùng, phải không? Một cô gái Thụy sĩ nhút nhát, đơn độc trong một đô thị lạnh lùng. Có thể bạn cho rằng điều người thiếu nữ này làm chẳng ảnh hưởng đến bất kỳ ai. Kỳ thực, khi cố gắng trao ban tình yêu, cô đã mang tinh thần đích thực của Lễ Giáng Sinh vào trong cuộc sống của chúng tôi: đó là tinh thần trao ban vô vị lợi. Đó là bí quyết của Ursula và cô đã chia sẻ với tất cả chúng tôi.” (Stories for the Heart, compiled by Alice Gray, nxb Multnomah Books, Oregon, Hoa kỳ, trg 81-85)
Nếu phải “suy nghĩ cho kỹ” trước khi mua quà và tặng quà Giáng Sinh, thì có lẽ ý nghĩ của tôi trước tiên hướng đến những người mà tôi sẽ tặng quà. Tôi “nghĩ” đến người nhận quà hơn là món quà tôi sẽ trao tặng. Nếu như người ta thường nói “bác ái bắt đầu từ trong nhà”, thì những người tôi phải nghĩ đến trước tiên là những người thân của tôi. Trong xã hội dư dật này, có lẽ họ không cần những món quà “vật chất” của tôi cho bằng “trái tim” của tôi. Món quà tôi cần trao tặng cho họ không phải là những gì mà tiền bạc có thể mua được: họ cần tôi chấp nhận họ với những bất toàn của họ, họ cần sự hiện diện yêu thương, những cử chỉ thân ái, những lời nói vỗ về, khuyến khích, nâng đỡ; họ cần một chút thì giờ của tôi; họ cần một chút “gương sáng” của tôi; họ cần một chút “chịu đựng” của tôi. Và nhứt là và trên hết mọi sự, họ cần sự tha thứ của tôi, bởi vì tha thứ là trao ban đến 70 lần 7. Trong đa số các ngôn ngữ Tây phương, từ chỉ sự tha thứ cũng có nghĩa là “cho nhiều hơn”.
Nhưng để cho sự “trao tặng” của tôi được vô vị lợi, tôi cần nghĩ đến những người không được hay ít được “nghĩ” đến: đó là những người nghèo khổ, các bệnh nhân, những người bị đẩy ra bên lề xã hội. Họ cần sự giúp đỡ thiết thực của tôi, nhứt là trong mùa Giáng Sinh này.
Trao tặng từ trái tim và một cách vô vị lợi, tôi nhận thấy rằng người được nhận lãnh nhiều hơn cả lại là chính tôi, bởi vì mỗi một nghĩa cử tôi làm cho tha nhân, dù nhỏ mọn đến đâu, cũng làm cho nhân cách của tôi được lớn thêm.
Cho nên, có thể nói rằng: khi trao tặng cho người khác bằng tất cả tấm lòng, lại chính là lúc tôi tự “sắm” cho mình một món quà Giáng sinh vừa ý nhất.





Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Tứ Hải Giai Huynh Đệ


                                                                                   Chu Thập
12/4/11
Đọc tin bác sĩ Philipp Roesler được bầu làm chủ tịch đảng Dân chủ Tự do và trở thành phó thủ tướng Đức, theo thói quen “thấy người sang bắt quàng làm họ”, tôi cũng cảm thấy hãnh diện được làm người Việt nam. Tên họ của ông bác sĩ 38 tuổi này là Đức rặc, ông lại cao lớn chẳng khác nào một người Tây phương, nhưng nhìn kỹ ông vẫn là một người da vàng, tóc đen, mũi tẹt như tôi, cho nên tôi lại càng thấy “vẻ vang dân Việt” hơn.
Tuy nhiên, trong niềm vui chung của dân tộc này, nếu phải nghĩ đến những người cần được vinh danh, thì tư tưởng của tôi lại hướng về những người đã góp phần làm nên sự nghiệp của ông Philipp Roesler. Dĩ nhiên, phải có tài trí, sự phấn đấu và đức độ cá nhân cao, ông mới vươn lên một địa vị như thế trong guồng máy chính trị và xã hội Đức hiện nay, nhứt là ở vào một lứa tuổi tương đối trẻ như ông. Nhưng một đứa trẻ mồ côi như ông chỉ có thể thành đạt được nhờ những tấm lòng vàng mà thôi. Tôi nghĩ đến trước tiên những nữ tu trông coi cô nhi viện, chiếc nôi của tình người, nơi ông được đón tiếp và dưỡng dục trong những ngày đầu đời cách đây 38 năm. Không có bàn tay ôm ấp và chăm sóc của các nữ tu thì liệu đứa bé bị bỏ rơi ngày nào có được một địa vị như hiện nay không?
Người thứ hai tôi nghĩ đến nhiều hơn là ông bà Roesler, người đã nhận ông làm con nuôi và đưa về Đức để dưỡng dục như một người con ruột thịt trong gia đình khi ông chỉ mới 9 tháng tuổi. Chắc chắn chỉ có tình thương gia đình và một môi trường giáo dục gia đình thuận tiện mới có thể bảo đảm cho phó thủ tướng tương lai của Đức một nền giáo dục đầy đủ về mọi mặt như thế.
Dĩ nhiên, bất hạnh có thể trở thành một động lực giúp con người vươn lên. Trong một bài viết có tựa đề “Những người mồ côi lãnh đạo thế giới”, được đăng tải trong một tạp chí y khoa có uy tín tại Hoa kỳ, một tác giả nọ đã tìm hiểu về cuộc đời của 300 nhà lãnh đạo đã từng có ảnh hưởng lớn lao đối với lịch sử thế giới. Sau khi tìm kiếm sợi chỉ xuyên suốt của các cuộc đời ngoại hạng này, tác giả khám phá ra rằng tất cả những nhà lãnh đạo này đã từng lớn lên như những đứa trẻ mồ côi hay đã từng có một tuổi thơ bất hạnh. Trong danh sách của 300 nhà lãnh đạo lừng danh này người ta đọc được những tên tuổi như đại đế Alexandre, Julius Caesar, Robespierre, George Washington, hoàng đế Napoléon, nữ hoàng Victoria, nữ thủ tướng Do thái Golda Meir và ngay cả một số bạo chúa như Hitler, Lenin, Stalin và Fidel Castro (trích trong Philip Yancey, Where is God When it Hurts). Nhưng đã là những cuộc đời ngoại hạng, thì những trường hợp “vươn lên” từ bất hạnh như những lãnh tụ trên đây không phải là số phận chung của mọi đứa trẻ mồ côi. Nếu không được đón nhận, nuôi nấng, dạy dỗ và nhứt là yêu thương thì phần lớn những đứa trẻ mồ côi đều có một cuộc đời bất hạnh, buồn thảm.
Ở đâu và thời đại nào cũng có trẻ em mồ côi. Ngày nay, tại các nước văn minh, các cô nhi viện được thay thế bằng những hình thức “ gia đình”  khác nhân bản hơn. Chẳng hạn tại Úc đại lợi, từ thập niên 1970, các cô nhi viện trên toàn quốc đều bị đóng cửa. Thay vào đó, các gia đình được khuyến khích đón nhận các trẻ em mồ côi hay trẻ em từ những gia đình đổ vỡ hoặc không có khả năng nuôi dạy con cái. Hiện nay trên toàn quốc có khoảng 36.000 trẻ em được chăm sóc trong các gia đình bảo trợ, cha mẹ nuôi hay sống với người thân. Con số này đã gia tăng gấp đôi trong vòng một thập niên. Tổng cộng trên toàn nước Úc hiện có 8050 gia đình nhận nuôi trẻ em mồ côi hay từ những gia đình không có khả năng nuôi dạy con cái. Một nửa các gia đình bảo dưỡng này đều đã có hai hay nhiều đứa con. Có khoảng năm phần trăm đã có trên 5 đứa con.
Phụ trương “Good Weekend” của báo The Sydney Morning Herald, trong số ra cuối tuần 9 tháng 4 vừa qua, có ghi lại một bài phóng sự về một gia đình bảo dưỡng tại một vùng quê thuộc tiểu bang New South Wales. Với tựa đề “Niềm hy vọng đang sống ở đây”, bài báo kể lại các sinh họat của gia đình ông bà Terry và Val Brown. Ở tuổi trên 70, với con cái đã khôn lớn và ra riêng, ông bà Brown hiện đang nuôi dạy 4 nguời con gái nuôi: một em đã chuẩn bị buớc vào tuổi truởng thành, hai em ở tuổi vị thành niên và một em chín tuổi. Tất cả đều đuợc gởi học trong một truờng công giáo. Bà Val thú nhận rằng mình không phải là một người công giáo thuần thành, nhưng bà muốn dành cho con cái bà một nền giáo dục nhân bản đầy đủ. Bà cho biết: khi mới về nhà bà, những đứa trẻ này không hề có bất cứ một khái niệm nào về đúng sai, thiện ác.
Tất bật với đủ mọi công việc từ nấu ăn, giặt giũ, đưa đón con cái đến truờng, cụ bà trên 70 tuổi này nói: “Chúng tôi không có giờ để “già”. Thuơng yêu 4 đứa con nuôi như con ruột thịt, bà Val nói rằng “những đứa trẻ là gia đình của bà” và bà sẽ chiến đấu cho tới cùng để chúng không bị mang đi khỏi gia đình bà.
Truớc khi trở thành cha mẹ bảo dưỡng, ông bà Brown đã phải trải qua nhiều thủ tục kéo dài đến 6 tháng, bao gồm những cuối tuần hội thảo, phỏng vấn liên tục và điều tra của cảnh sát. Nhiều gia đình đã bỏ cuộc vì những thủ tục rất khắt khe này.
Hiện tại, trung bình mỗi tuần lễ, ông bà Brown được chính phủ trợ cấp thêm 775 Úc kim để chăm sóc cho 3 đứa trẻ còn trong tuổi vị thành niên. Nhưng chắc chắn tiền bạc không phải là động lực khiến họ nhận nuôi dưỡng những đứa trẻ bất hạnh này. Với sự đồng ý của con cái, hai ông bà còn hứa sẽ để lại nhà cửa và tài sản cho những đứa con nuôi.
Các trẻ em mồ côi ở Việt nam chắc phải còn lâu mới gặp được một sự may mắn như thế. Kể từ khi các tôn giáo không còn được phép mở các cô nhi viện, số phận của các em lại càng thêm bi đát hơn. Nhưng giữa một xã hội khô cạn tình người ấy mà còn bắt gặp được những tấm lòng vàng thì không những số phận của các em mồ côi mà cả tương lai của đất nước hẳn sẽ phải sáng sủa hơn. Đã có cô “Tim” người Thụy Sĩ với ngôi nhà may mắn. Đã có nhiều tổ chức không chính phủ chuyên chăm sóc các em đường phố. Nhưng “Trung Tâm Hiền Lương” tại xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An hẳn phải là  một nơi mà các trẻ em mồ côi Việt nam cảm nhận được tấm lòng vàng hơn cả. Mục “Chuyện Việt Nam” trên báo Việt luận số ra ngày 29 tháng 3 vừa qua có kể lại câu chuyện của anh Tạ Duy Sáu, giám đốc của Trung Tâm này. Xin được phép đọc lại câu chuyện: Là con út trong một gia đình nghèo có 6 người con, năm anh lên 10 tuổi thì người cha ngã bệnh, nằm liệt giường; các anh chị đành phải đi tha phương cầu thực. Nhưng tai họa ụp xuống khi một người anh và một người chị qua đời sau một cơn bạo bệnh. Kế đó, một người chị khác cũng mắc bệnh rồi bị bại liệt.
Chuẩn bị lên cấp hai, anh Sáu đành bỏ học theo mẹ ra đồng bắt cua, mò ốc. Năm 17 tuổi, anh lại khăn gói vào Đak lak làm phu mỏ. Nhưng bao nhiêu tiền dành dụm chưa kịp gởi về gia đình đều bị cướp đường lột sạch. Anh nói: “Không tiền, không nghề, chữ hiếu chưa được báo đặng, chẳng dám về quê, tôi vào Sài Gòn với hai bàn tay trắng.”
Anh kể tiếp: “Đói, bệnh, vô vọng, tôi đi như kẻ bụi đời và gục xuống bên lề một công viên. May mà tôi được hai cha con một ông mù hát rong cứu sống với lưng bát cháo. Tôi chợt nhận ra cái đạo của cuộc đời này. Tôi đã đứng thẳng dậy, lang thang khắp các con phố, làm đủ việc: bán vé số, bán báo rong, rửa bát thuê, khuân vác…Ngày cha mất, nhận được tin từ quê nhà mà tôi bất lực vì không có tiền về.”
Nhưng “như là duyên số”, anh gặp được người con gái cùng quê đồng cảnh ngộ. Họ lấy nhau và đưa nhau về quê sống. Chính tại quê nhà mà anh đã chứng kiến cảnh đời éo le của những em bé mồ côi, những người tật nguyền không nơi nương tựa. Hình ảnh cha con người mù hát rong lại hiện về trong tâm trí anh. Anh tự nhủ: “Người ta khổ như thế mà còn giúp đỡ mình, tại sao mình không thể giúp người khác?” Thế là hai vợ chồng anh liền bàn với nhau thế chấp tài sản, vay tiền để thành lập trung tâm để cưu mang, giúp đỡ trẻ em mồ côi, tật nguyền không nơi nương tựa. Những ngày đầu khi đi gom trẻ em mồ côi về nuôi, hai vợ chồng anh đã phải chống chọi với nhiều dư luận ác ý: người bảo đây là một việc làm điên rồ, người lại đồn thổi đó là âm mưu đón trẻ mồ côi về để bán sang Trung quốc. Công an lại làm khó dễ đủ điều.
Hiện Trung tâm đang cưu mang 46 em khuyết tật, mồ côi. Các em được dạy nghề để kiếm sống.
Nói về những giá trị đạo đức làm nền tảng cho họat động từ thiện của mình, anh Sáu giải thích: “Nhiều đoàn khách đến thăm trung tâm, ngắm nhìn những bức tượng Phật, những lời khuyên răn của đạo Phật bày ở gian chính giữa, hỏi rằng phải chăng chúng tôi theo đạo Phật?  Không, vợ chồng tôi chỉ theo “đạo đời”. Còn đạo Phật, đơn giản, tôi thấm thía những lời răn của Phật nên trưng ra đó để thường xuyên nhắc nhở mình phải sống nhân ái.” (x. Việt Luận 29/3/2011)
Nhân ái, từ bi của Phật Giáo, bác ái của Kitô giáo hay nói như anh Sáu, “ đạo đời”…tất cả đều quy về giới răn mà người Việt nam nào cũng thuộc nằm lòng: “Thương người như thể thuơng thân” hay câu chữ Hán quen thuộc “tứ hải giai huynh đệ”. Bất luận mầu da, chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, chính kiến…ở đâu con người cũng đều có thể nhận ra là anh em của nhau. Ngay nay, ý niệm “gia đình nhân loại” lại càng giúp cho con người ý thức hơn về tình huynh đệ đại đồng ấy. Càng lúc thế giới càng ý thức về mối giây huynh đệ liên kết các dân tộc lại với nhau. Năm 1967, các nước Tây phương đã can thiệp vào Nigeria để chấm dứt cuộc nội chiến khiến cho hàng triệu người phải chết đói. Năm 1992, NATO đã can thiệp vào Rwanda để chấm dứt cuộc chiến tranh diệt chủng và năm 1994, Liên minh này cũng đã giúp chận đứng những cuộc tấn công của Serbia nhắm vào Kosovo. Nay, các cuộc không kích của Tây phương vào Libya theo lệnh của Liên hiệp quốc và sự can thiệp vào Cote d’Ivoire cũng không ngoài mục đích bảo vệ thường dân, những người anh em trong cùng một đại gia đình.
Tất cả những hành động can thiệp quân sự trên đây đều dựa trên lý thuyết “Trách nhiệm bảo vệ” thường được gọi tắt là “R2P, tức “Responsibility to Protect” (trách nhiệm phải bảo vệ). Lý thuyết này thật đơn giản: nhân quyền là phổ cập, mỗi một quốc gia đều phải bảo vệ nhân quyền; khi một quốc gia không thể bảo vệ nhân quyền thì các nước khác phải bảo vệ chúng. Lý thuyết này chắc chắn phải được xây dựng trên một ý niệm nền tảng được mọi người nhìn nhận: đó là tình huynh đệ đại đồng.
Nhân lọai ngày càng ý thức rằng thế giới là một đại gia đình trong đó chuyện “đèn nhà ai nấy sáng” xem ra không còn ý nghĩa nữa, bởi lẽ mọi người đều là “anh em trong cùng một nhà và đều có trách nhiệm liên đới với nhau”.
Tôi vẫn thường ngẫm nghĩ về bài học mà một vị linh sư nọ đã dạy cho các môn đệ của ông. Một hôm, vị linh sư đặt câu hỏi: “Khi nào thì người ta phân biệt được ngày với đêm?” Người thì bảo: người ta biết được đêm đã tàn và ngày mới đang lên khi từ đàng xa người ta có thể phân biệt được rõ ràng một con bò và một con trâu. Người lại cho rằng khi nào ta có thể phân biệt được một cây xoài với một cây mít, thì đó là lúc đêm đã hết và bình minh đã ló dạng. Vị thày ôn tồn bảo: “Các con ạ, ta chỉ thực sự biết đêm đã chấm dứt và ngày đang lên, khi từ đằng xa ta có thể nhận ra một người đang đi tới như người anh em của ta.”