Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

Nhanh hơn, Cao hơn, Mạnh hơn…



                                                                              

Sau một tháng “ăn dầm nằm dề” trên chiếc sofa để theo dõi không bỏ sót một trận thi đấu nào của World Cup 2010, tôi thấy vừa mệt mỏi, vừa hụt hẫng, vừa tiếc rẻ…Nhiều đêm thức giấc, cứ tưởng như đang mộng du: vội chạy ra phòng khách để mở máy truyền hình, nhưng rồi lại chợt nhớ đã hết mùa World Cup. Người ngợm cứ như đang say sóng. Cũng may, tôi không thích xem đua xe đạp cho lắm. Nếu không, mỗi đêm cứ phải “chạy” theo các tay đua trong “Tour de France” đang diễn ra bên Pháp, thì chắc thân tôi sẽ chỉ còn như một con tép và bao nhiêu công việc sẽ bị bỏ bê. Càng có nhiều cuộc thi đấu thể thao, càng có nhiều “giải trí” thì tôi lại càng thấy “khổ” hơn.
Làm việc cũng khổ, mà giải trí cũng khổ! Nhưng lao nhọc vốn là phần số của con người. Trong cuốn sách “The importance of Living” (Một Quan niệm về Sống Đẹp, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê), nhà văn Trung Hoa Lâm Ngữ Đường viết rằng trong vũ trụ này chỉ có loài đi hai chân là phải làm việc. Trừ một ít con ngựa kéo xe, vài con bò kéo cày, ngay các gia súc cũng không phải làm việc. Con chó săn của cảnh sát cũng rất ít khi phải làm nhiệm vụ; con chó giữ nhà, buổi sáng kiếm chỗ nắng ấm ngủ thẳng giấc rồi chơi giỡn gần như suốt ngày; con mèo quí phái nhứt định là không hề làm một việc gì để “mưu sinh”, rồi muốn đi chơi đâu thì đi. Còn loài người siêng năng, cũng bị “nhốt” trong chuồng, cũng bị thuần phục mà lại không được xã hội nuôi, phải làm việc cực khổ để kiếm lấy miếng ăn.
Ông Lâm ngữ Đường đưa ra suy nghĩ: “Tôi hoàn toàn nhận rằng nhân loại được hưởng nhiều cái lợi, như cái vui khoa học, cái vui đàm đạo và cái vui ảo tưởng. Nhưng vẫn còn sự tình cốt yếu này là đời sống chúng ta hóa ra phiền phức quá và chín mươi phần trăm hoạt động của ta là chỉ để lo việc kiếm ăn, mà sự tấn bộ làm cho việc kiếm ăn mỗi ngày một khó khăn cực nhọc, cực nhọc đến nổi chúng ta mất thèm ăn đi, ăn mất ngon đi. Dù đứng vào quan điểm một con thú rừng hay quan điểm của một triết gia thì sự tình đó cũng rất đổi là vô lý” (Lâm Ngữ Đường, sđd)
Đời sống con người quả là cơ cực. Nói theo Phật Giáo, đời là bể khổ. Kinh Thánh của người Do thái cũng đồng một quan điểm. Tác giả của “Sách ông Giob” than thở: “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch sao? Và chuỗi ngày lao lụng vất vả đâu khác gì đời kẻ làm thuê? Tựa người nô lệ mong bóng mát, như kẻ làm thuê đợi tiền công, cũng thế, gia tài của tôi là những tháng vô vọng, số phận của tôi là những đêm đau khổ ê chề.” (Sách Giob 7, 1- 3)
Một tác giả khác của Kinh Thánh ký tên là Qohelet lại còn bi quan hơn khi cho rằng tất cả mọi thứ trên đời này đều là “phù vân”. “Phù vân nối tiếp phù vân, tất cả chỉ là phù vân.” Ông triết lý: “Có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Điều ấy cũng chỉ là phù vân và là đại họa. Chuyện gì xảy ra cho con người sau bao mối bận tâm và bao gian lao vất vả mà nó phải chịu dưới ánh mặt trời?” (Sách Giảng Viên 2, 21-22)
Phải chăng đời chỉ là “lao nhọc vất vả” hay chỉ là “vui chơi”?
Năm 1938, trước khi đệ nhị thế chiến bùng nổ, một tác giả người Mỹ là ông Johan Huizinga đã viết một cuốn sách có tựa đề bằng tiếng La tinh “Homo Ludens” (con người “chơi”). Tác phẩm là một nghiên cứu về yếu tố “chơi” trong văn hóa. Ông Huizinga khẳng định rằng “chơi” là một yếu tố gắn liền với bản chất con người. Chơi không tùy thuộc vào trình độ văn minh nào. Theo ông, bất cứ ai có suy nghĩ cũng đều nhận ra rằng “chơi” là thuộc tính của con người, cho dẫu nó không có một khái niệm chung để diễn đạt về chơi. Ông Huizinga viết: “Chơi là điều không thể chối bỏ. Nếu muốn, bạn có thể chối bỏ hầu như mọi ý niệm trừu tượng như công bình, chân, thiện, mỹ, tâm trí, Thượng Đế. Bạn có thể chối bỏ “sự nghiêm chỉnh”, nhưng không thể chối bỏ cái “chơi”.” (x. Homo Ludens, a study of the Play Element in Culture, by Johan Huizinga , Wikipedia)
Không cần phải “động não” như ông Huizinga để khẳng định rằng “chơi” là một yếu tố bao trùm cuộc sống con người, người Miền Nam Việt nam, có lẽ do cuộc sống được thiên nhiên ưu đãi, cho nên thích chơi hơn thích làm hay đúng hơn làm chỉ để đủ sống và vui chơi. Không cần phải có của ngon vật lạ, chỉ cần một con ếch, một con rắn, một trái khế cũng đủ là một món nhậu để mời hàng xóm đến “lai rai năm ba sợi”. Gặp nhau, muốn biết sức khỏe của con cháu, người ta hỏi: “Thằng nhỏ (hay con nhỏ) nó có “chơi” không?” Có khỏe mới chơi được, cho nên chơi tức là khỏe hay đúng hơn khỏe để mà chơi.
Làm để ăn, ăn để khỏe, khỏe để chơi, chơi để khỏe…Tôi thường lẩn quẩn với tư tưởng ấy mỗi khi xem các trận thi đấu thể thao hay lăn xả vào các hoạt động giải trí. Các hoạt động giải trí gia tăng tỷ lệ thuận với sự tiến bộ. Càng tiến bộ, con người càng miệt mài giải trí. Càng tiến bộ, con người càng sáng chế ra nhiều trò giải trí hơn, “nghề chơi cũng lắm công phu” hơn. Cứ mở bất cứ một đài truyền hình nào cũng thấy được điều đó. Ngoại trừ các Đài tôn giáo, hầu như Đài Truyền Hình nào cũng dành phần lớn các chương trình cho việc giải trí. Ngày nay, giải trí đã trở thành một “kỹ nghệ” và là kỹ nghệ lớn nhứt trong mọi kỹ nghệ. Người sáng lập và điều hành kỹ nghệ giải trí giàu có đã đành, mà các nghệ sĩ từ ca nhạc sĩ, diễn viên, danh thủ thể thao…đều là những người có thu nhập cao hơn ai hết.
Nhưng có một nghịch lý không thể chối cãi được trong thế giới văn minh ngày nay là càng phát minh ra các trò giải trí, con người xem ra càng “buồn chán” hơn. Giải trí càng nhiều, nghệ thuật giải trí càng cao, con người lại càng cảm thấy “trống rỗng”.
Tôi vẫn nhớ mãi những suy tư của triết gia Pháp vào thế kỷ 17 là Blaise Pascal về điều mà ông gọi là “Giải trí”.  Ông viết: “Thỉnh thoảng, khi suy nghĩ về vấn đề này, tức những “xung động” của con người cũng như những nguy hiểm và mệt nhọc mà con người lao đầu vào trên sân cỏ, trong chiến tranh là nơi phát sinh bao nhiêu tranh cãi, đam mê, những toan tính liều lĩnh thường là xấu v.v, tôi khám phá ra rằng nỗi khốn khổ của con người chỉ xuất phát từ một điều: đó là không biết ngồi yên trong một căn phòng...” (Blaise Pascal, “Divertissement”, Les Pensées, Wikipedia)
Trong Hán Việt Từ Điển, Đào Duy Anh định nghĩa “giải trí” như sau: “Khi làm việc rồi, mở cho trí não được khoan khoái.”
Theo ý nghĩa này, thì chắc chắn triết gia Pascal không lên án tất cả mọi thứ “giải trí”. Ông nhìn nhận rằng “không có giải trí thì không có niềm vui; với giải trí thì không hề có sự buồn bã.” Nhưng theo ông, niềm hạnh phúc mà giải trí mang lại rất mong manh, bởi vì nó tùy thuộc vào “trăm nghìn tai nạn mang lại những đau buồn thật sự.” Không cần phải nghĩ đến những thứ giải trí “chết người” như cờ bạc, ma túy…một ly rượu để giải sầu, một điếu thuốc để làm cho trí não được khoan khoái, một ván cờ để gọi là “làm vui” bạn bè có khi cũng đưa đến những hậu quả khôn lường. Chính vì vậy mà ông Pascal khẳng định: “Điều duy nhứt an ủi chúng ta trong những lúc khốn khổ là giải trí, nhưng giải trí lại cũng là nỗi khốn khổ lớn nhứt của chúng ta.”
Là một người có niềm tin tôn giáo, ông triết gia người Pháp này cho rằng chính vì không có khả năng “ngồi yên” trong phòng, nghĩa là không chấp nhận cái thân phận giới hạn, “có cùng” của mình mà con người lao mình vào giải trí. “Giải trí” là một cuộc “chạy trốn” khỏi nỗi khốn khổ của mình. Xét cho cùng, giải trí chính là chạy trốn khỏi cái chết, khỏi cùng đích và ý nghĩa của cuộc sống.
Trong một màn quảng cáo cho chiếc xe đạp hiệu Schwinn trên TV, người ta thấy một thanh niên đang nhào lộn với chiếc xe đạp của mình. Một câu nói hiện lên: “Với chiếc xe đạp này bạn có thể nhào lộn.” Rồi thình lình, ở phía dưới màn ảnh, người ta lại thấy xuất hiện một cảnh ma quái:  một chiếc quan tài đang được từ từ hạ xuống huyệt kèm với lời thách thức: “Bạn sợ chết ư?”
Rõ ràng là những ông chủ của công ty Schwinn không chỉ quảng cáo cho chiếc xe đạp của mình. Họ còn muốn dạy cho trẻ con rằng chết là hết, cho nên chẳng có gì phải sợ hãi.
Trong một màn quảng cáo cho hiệu quần cáo “Union Bay”, người ta thấy hai thiếu niên mặc quần áo hiệu này đang đùa giởn với tử thần khi cho xe chạy với tốc độ chóng mặt hướng đến một bờ vực cao. Một người dùng tay áo của mình mắc vào cần tốc độ và nhảy xuống biển. Khi chiếc áo của người thanh niên nổi trên mặt biển, người ta đọc được trên màn ảnh: Union Bay, thời trang được làm để “tồn tại”.
Cả hai màn quảng cáo trên đây đều muốn nhắn gởi một thông điệp giống nhau: Chết là hết, cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì do đó không đáng sống. (x. Charles Colson, Burden of Truth)
Tôi cũng thường có ý nghĩ ấy mỗi khi theo dõi các màn đua xe. Cái chết trong gang tấc, nhưng xem chừng bị các tay đua coi nhẹ như tơ hồng. Tôi cũng không thể không nghĩ đến “cái chết” bị xem thường như thế trong các trận đấu quyền Anh hay các môn võ tự do. Người ta đùa giỡn với tử thần chẳng khác nào chuyện xảy ra trong cuốn phim “The Quick and the Dead” do một số tài tử gạo cội như Sharon Stone, Gene Hackman, Russell Crowe và Leonardo DiCaprio thủ diễn: chuyện thi đấu súng diễn ra như chuyện “thường ngày ở huyện” trong một thị trấn miền viễn Tây, Hoa kỳ trong thời kỳ lập quốc: chẳng còn biết làm gì, ông thị trưởng cứ  bày ra trò đấu súng. Cái chết bị xem nhẹ đến nỗi cha con của ông thị trưởng cũng thi đấu súng với nhau và người cha chẳng để rơi một giọt nước mắt tiếc thương nào khi bắn hạ đứa con trai độc nhứt của mình.
Thời đế quốc La mã, các võ sĩ phải thi đấu với nhau để sống còn. Họ không chọn cái chết. Người ta bắt họ phải chết để mua vui cho người khác. Ngày nay, bằng mọi cách xem ra con người “ve vãn” và “giỡn mặt” với cái chết để đạt được một kỷ lục.  Tôi còn nhớ: dạo tháng 4 năm 1996, mặc dù đã có nhiều cảnh báo về thời tiết xấu, một người cha vẫn để cho đứa con gái 7 tuổi của mình lái chiếc Cessna xuyên qua nước Mỹ. Ông tin tưởng và hy vọng rằng đứa con gái của mình sẽ là viên phi công trẻ nhứt bay xuyên qua lục địa. Nhưng tử thần đã không chịu “đầu hàng”. Tên của cô bé Jessica Dubross đã không bao giờ được ghi vào sách kỷ lục thế giới Guiness Book và chắc chắn người cha cũng không bao giờ có đủ một đời để tiếc thương và hối hận chỉ vì một chút danh vọng hão huyền.
Tôi không chút “hồ hởi” khi nhìn đám đông đón rước cô Jessica Watson 16 tuổi trở về Sydney dạo tháng 6 vừa qua, sau một lần vòng quanh thế giới một mình trên chiếc thuyền buồm  và đạt kỷ lục là cô gái trẻ nhứt thế giới đã lập được một thành tích như thế.
Tôi dị ứng với những kỷ lục như thế. Tôi chẳng tìm được niềm phấn khởi nào trong những môn giải trí chết người như vậy.
Với tôi, giải trí theo đúng nghĩa là một phương cách tìm lại  sự quân bình và niềm vui để quay trở về với ý nghĩa và cuộc sống độc điệu hàng ngày. Theo tôi, khẩu hiệu “Citius, Altius, Fortius” (nhanh hơn, cao hơn, mạnh hơn) được ghi trong các Thế Vận Hội và các sân vận động không phải là một thách thức để tôi đạt được những kỷ lục mới, mà chính là chạy nhanh hơn, vươn lên cao hơn và dũng mạnh hơn để nhìn xuống cuộc sống độc điệu mỗi ngày hầu tìm ra ý nghĩa cho cái gọi là “độc điệu” nhàm chán đó.
Ông “hoàng tử tý hon” của văn hào Antoine de Saint Exupéry đã có lý để nói với viên phi công: “Dân chúng trong xứ sở của ông trồng cả 5 ngàn cánh hoa hồng trong một ngôi vườn…vậy mà họ không tìm ra được điều đang tìm kiếm. Thật ra điều họ đang tìm kiếm có thể tìm thấy trong một cánh hoa hồng.” Và hoàng tử tý hon nói thêm: “Nhưng đôi mắt của con người thì mù lòa. Ông phải nhìn bằng trái tim.”
Tôi mong sao luôn được nhìn bằng con mắt của trái tim để có thể “giải trí” và tìm thấy niềm vui ngay trong những sinh hoạt độc điệu của cuộc sống mỗi ngày chứ không cần phải đợi làm việc xong rồi mới…“giải trí”.










Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2014

Chút tình tự dân tộc



Giải Túc cầu Thế giới nào cũng để lại một “dấu ấn” riêng. Làm sao nhắc đến  danh thủ Maradona của Argentina mà không nhớ đến “Bàn Tay Chúa” của ông trong trận tứ kết Giải Túc cầu Thế giới năm 1986 giữa Anh Quốc và Argentina. Trận đấu chỉ diễn ra 4 năm sau cuộc chiến Falklands giữa hai nước cho nên bên cạnh thể thao , chính trị  lại càng làm cho  cuộc đọ sức  giữa hai nước thêm căng thẳng hơn .  Nhưng chính đây là trận đấu đã làm nổi bật thiên tài bóng đá của Maradona. Ở phút thứ 54, danh thủ này đã lừa banh qua được 5 cầu thủ Anh và chọc thủng lưới  khung thành của Anh. Nhưng cú “làm bàn” để đời của ông đã diễn ra 4 phút trước đó: nhảy lên đội đầu, nhưng ông đã dùng bàn tay đánh banh vào khung thành Anh. Cú “đánh banh” khéo léo đến độ qua mắt được trọng tài và dĩ nhiên khéo léo đến độ chính Maradona đã gọi cú làm bàn đó là do “Bàn Tay của Chúa”. Nhưng dù cho Maradona có khéo léo đến đâu và dù cho Argentina có đoạt giải vô địch năm đó, mãi mãi hành động của danh thủ này vẫn bị xem là một cú “ăn gian”. Mà đã là “ăn gian” thì dù có điệu nghệ và khéo léo đến đâu cũng vẫn là một hành động không thể biện minh được.
Trong lịch sử bóng tròn, so với những danh thủ nổi tiếng như Maradona, tôi dành nhiều ngưỡng mộ  cho Zinedine Zidane của đội gà trống Pháp hơn. Nhắc đến danh thủ này, có lẽ người ta không chỉ nhớ đến vinh quang mà ông đã mang về cho nước Pháp trong Giải Túc cầu Thế giới năm 1998. Với kỹ thuật, “viễn kiến” và nhứt là lối chơi thanh nhả của ông, ông thực sự xứng đáng được tặng cho những danh hiệu như :cầu thủ Âu Châu xuất sắc nhứt trong 50 năm qua, ba lần được Liên Hội Túc Cầu Thế Giới FIFA tặng cho danh hiệu “cầu thủ xuất sắc nhứt” của năm . Nhưng tên tuổi của danh thủ được ái mộ nhứt thế giới này lại dính liền với một hình ảnh cũng làm cho ông nổi tiếng không kém: đó là “cú húc” đầu vào ngực của cầu thủ Ý Marco Materazzi trong trận Pháp – Ý mùa Túc cầu Thế giới năm 2006. Lãnh thẻ đỏ và bị đuổi ra sân tức khắc quả là một nỗi nhục lớn cho một cầu thủ cũng như đội tuyển và quốc gia của mình, bởi vì thiếu Zidane,  Pháp đã phải nhường chức vô địch cho Ý. Về sau người ta hiểu được tại sao Zidane đã có một phản ứng “bạo động” như thế. Trong những cuộc phỏng vấn sau này, chính ông tiết lộ rằng sở dĩ ông đã phải dùng bạo lực để đáp trả lại vì Marco Materazzi đã cố tình chọc tức ông bằng cách nói những lời xúc phạm đến em gái của ông. Một cuộc thăm dò tại Pháp cho biết có đến 61 phần trăm dân Pháp nói rằng họ đã tha thứ cho hành động của ông, trong khi 52 phần trăm bày tỏ sự cảm thông đối với ông. Điều đó có nghĩa là dù có là thần tượng đang được “tôn thờ”, Zidane đã làm một hành động đáng tiếc mà về sau chính ông cũng luôn hối hận. Ông đã nhìn nhận rằng cho dẫu có được phép ở lại trên sân cỏ để tiếp tục thi đấu và giúp Pháp chiến thắng Ý đi nữa, ông vẫn không thể nào tha thứ cho mình vì cử chỉ bạo động đáng tiếc ấy. Một văn sĩ nào đó của Pháp đã viết rằng thật là điều tốt để chúng ta thấy rằng người hùng của chúng ta cũng chỉ là một con người yếu đuối. Zidane đã chiếu sáng trên sân cỏ. Nhưng có lẽ hình ảnh của ông lại tỏa sáng hơn qua “cú húc” lịch sử đáng tiếc ấy. Nhà điêu khác người Algeria Adel Abdessemed đã tái tạo lại khoảnh khắc lịch sử ấy qua bức tượng đồng cao gần 4 thước. Thoạt tiên bức tượng được trưng bày tại bảo tàng viện Pompidou ở thủ đô Paris, sau đó được dời sang Doha, Qatar. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, vì sự chống đối của người dân địa phương, bức tượng đã được tháo gỡ và dời đi nơi khác. Nhưng dù có được đặt ở đâu và với mục đích vinh danh một cầu thủ đi nữa, bức tượng có lẽ vẫn nhắc nhở rằng  bất cứ cử chỉ bạo động nào trên sân cỏ, dù là của một danh thủ như Zidane, cũng vẫn là một điều đáng tiếc.
Nhưng nếu như “Bàn Tay Chúa” của Maradona năm 1986 và “cú húc” của Zidane năm 2006 là điều đáng tiếc thì “dấu ấn” của Giải Túc Cầu Thế Giới năm nay là “cú cắn” của danh thủ Luis Suarez, Uruguay có lẽ chỉ có thể đáng lên án mà thôi. Những thước phim thu được cho thấy rõ ràng rằng danh thủ này đã thực sự có hành động bỉ ổi này đối với cầu thủ Giorgio Chiellini của đội tuyển Ý trong trận thi đấu vòng một giữa Ý và Uruguay. Đây là lần thứ 3 Suarez đã “cắn” đối thủ như thế. Từ lâu nay, tôi đã không dành cho con ngựa chứng thích làm “Dracula” này bất cứ một sự ngưỡng mộ nào, dù anh có được xem là linh hồn của đổi tuyển Uruguay hay là chân “sút” số một của Câu lạc bộ Liverpool. Nhứt quá tam thì quả là quá sức rồi. “Bàn Tay Chúa” của Maradona là một hành động “ăn gian” nhưng không xúc phạm đến ai. “Cú húc” của Zidane là một cử chỉ bạo động có thể gây thương tích cho đối thủ, nhưng xét cho cùng cũng chỉ là một hành động tức nước vỡ bờ trước sự khiêu thích của đối phương mà thôi. Đằng này, với “cú cắn” được lập lại đến lần thứ 3 và không vì một lý do nào cả, thì hành động của Suarez chỉ có thể hiểu là một cử chỉ bệnh hoạn mà thôi.
Nhưng điều đáng suy nghĩ, theo tôi, chính là phản ứng của toàn dân Uruguay, kể cả nguyên thủ quốc gia là vị tổng thống đã từng được tôi ngưỡng mộ là ông Jose Mujica, người vẫn luôn được ca tụng như vị tổng thống có cuộc đơn sơ , nghèo nàn nhứt thế giới. Cả nước đã phẫn nộ khi Ủy ban kỷ luật của  Liên Hội Túc Cầu Thế Giới FIFA treo giò Suarez bốn tháng, cấm anh ra sân trong 9 trận đấu quốc tế và phạt anh 100.000 Francs Thụy Sĩ (=121.179 Úc kim). Riêng tổng thống Mujica gọi các nhà lãnh đạo của FIFA là “ đồ chó đẻ”(sons of bitches).
Có lẽ không nơi nào cho thấy con người biểu lộ tinh thần dân tộc và lòng yêu nước cho bằng trong Giải Túc Cầu Thế Giới. Cứ nhìn lên khán đài để xem người ta hò hét, cầu nguyện, cười và ngay cả khóc thì đủ biết chẳng có lúc nào tinh thần dân tộc lại được nâng cao cho bằng khi quả banh bắt đầu lăng trên sân cỏ. Dĩ  nhiên, đó là một trong những hình ảnh đẹp mà chỉ có túc cầu mới có thể tạo ra. Đẹp hơn nữa là sau khi tan trận, cùng với tinh thần thượng võ luôn được xiển dương qua các trận thi đấu, khán giả ra về, dù có buồn thúi ruột khi đội gà nhà của mình thua, cũng vẫn có thể cư xử thân tình với khán giả đối phương. Bên cạnh hình ảnh đẹp của lòng yêu nước và tinh thần dân tộc ấy tôi lại thấy có một cử chỉ “yêu nước” trông chẳng giống ai: người Việt Nam nào theo dõi trận đấu vào vòng tứ kết giữa Pháp và Nigeria sáng thứ ba 1 tháng 7 vừa qua, khi nhìn lên hàng ghế đầu của khán đài có lẽ không thể không thấy một lá cờ đỏ sao vàng to tổ bố cứ chốc chốc được một ông hay bà Việt Cộng nào đó giương lên, phất qua phẩy lại. Bình thường thì tôi dễ “sôi máu” mỗi khi nhìn thấy lá cờ máu này, nhưng lần này tôi chỉ thấy vô duyên và trơ trẻn khi lòng yêu nước của ông hay bà Việt cộng này đặt không đúng chỗ. Trận đấu giữa Pháp và Nigeria có mắc mớ gì đến cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đâu mà đưa cờ ra phất!
Khi tinh thần dân tộc và lòng yêu nước bị đặt không đúng chỗ hoặc bị khích động để biến thành chủ nghĩa dân tộc, nó trở thành một thứ trò hề. Nhưng không những là trò hề mà có khi còn tạo ra cả thảm họa cho dân tộc và cả thế giới nữa. Trước mắt là thứ chủ nghĩa dân tộc mà người muốn trở thành tổng thống mãn đời hoặc một thứ nga hoàng như ông Vladimir Putin đang khích động nơi người dân Nga. Không riêng Ukraine mà các nước Tây Phương cũng như cả thế giới đều bị lôi kéo vào cuộc khủng hoảng tại đây khi ông Putin ngang nhiên đem quân xâm chiếm lãnh thổ của nước này.
Nhìn sang trời Đông, chủ nghĩa dân tộc của những người lúc nào cũng xem mình như cái rốn hay trung tâm của thế giới để muốn xâm chiếm lãnh thổ và lãnh hải của bất cứ nước nào, hiện cũng đang gây bất ổn và xáo trộn cho toàn vùng và ngay cả thế giới. Thế giới có lý do để lo sợ bởi vì chỉ cần một nước Đức bị chủ nghĩa dân tộc mù quáng của Hitler lôi kéo cũng đủ để biến cả thế giới thành một chiến trường điêu linh. Ngày nay, khi hai người khổng lồ Nga Hoa hợp lại để khích động chủ nghĩa dân tộc mù quáng thì chắc chắn viễn ảnh của thế giới sẽ càng u ám hơn nhiều.
Lịch sử dường như đang được lập lại. Nhìn lại Đệ nhứt Thế chiến mà thế giới vừa mới kỷ niệm sự bùng nỗ hôm 28 tháng 6 vừa qua, người ta cũng thấy, bên cạnh nhiều nguyên nhân mà vụ ám sát đại công tước Franz Ferdinand của đế quốc Áo-Hung là một “kích hoạt”, chủ nghĩa dân tộc vẫn được xem là yếu tố chính gây ra thảm họa khiến cho trên 20 triệu người thiệt mạng. Thời đó, hầu như Đại cường Âu Châu nào cũng đều cổ súy cho một thứ niềm tin thái quá vào sự trổi vượt của mình về văn hóa, kinh tế và quân sự. Ngoại trừ Pháp, vốn đại bại trong cuộc chiến với Phổ năm 1871, hầu như  chưa có quốc gia giàu mạnh nào của Âu Châu đã nếm mùi chiến tranh trong hơn nửa thế kỷ. Cuộc chạy đua võ trang và sự phát triển những kỹ thuật quân sự lại càng tạo ra cái ảo tưởng của sự bất chiến bại của các cường quốc. Người Anh thì tự hào về sức mạnh của hải quân được củng cố nhờ sự thịnh vượng của cả một đế quốc. Người Đức cũng đặt tin tưởng nơi các chiến hạm và người Phổ thì lại cho rằng chẳng nước nào hơn mình về kinh nghiệm chiến trường. Riêng người Nga thì tin rằng đế quốc của mình luôn được Thượng Đế, nhờ một quân đội với  một triệu rưởi người, che chở. Tuy bị Phổ đánh te tua, Pháp vẫn cứ tin tưởng ở sự kiên cố của cả hệ thống thành lủy của mình...Chính cái chủ nghĩa dân tộc mù quáng ấy đã trở thành một trong những nguyên nhân chính đẩy thế giới vào một cuộc chiến tranh tàn khốc và ngu xuẩn.
Tôi chống lại bất cứ chủ nghĩa dân tộc nào. Với tôi chẳng có dân tộc nào đứng trên dân tộc nào. Sự bình đẳng về phẩm giá của mỗi người cũng phải được áp dụng cho mọi dân tộc.
Mới đây, tôi nghe nói  một số nhà “trí thức” trong nước đã tổ chức một hội nghị lấy tên là “Thoát Trung”. Thoát khỏi “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” và nhứt là thoát khỏi vòng vay của Trung Quốc hiện nay thì tôi hoàn toàn giơ tay ủng hộ. Nhưng có phải vì mối đe dọa mất đất, mất biển của mình mà tôi phải tẩy chay văn hóa Trung Hoa không? Có phải vì Trung Cộng xâm chiếm nước tôi mà tôi phải thù người Tàu và ghét tất cả những người Việt Nam gốc Tàu không?...Lúc nhỏ, mỗi lần học câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn”, tôi cứ nghĩ cái núi Thái Sơn ấy nằm ở đâu ngoài Bắc hoặc như khi nói đến giấc mơ Nam Kha, tôi cũng cứ nghĩ đây là một địa danh của Việt Nam. Làm sao muốn được “văn hay chữ tốt” mà tôi không xử dụng thành ngữ điển tích của văn hóa Trung Hoa. Làm như thế thì có khác nào cũng bảo dân Âu Châu ngày nay phải từ bỏ văn hóa La Hy?
Bản sắc của tôi, của dân tộc tôi, dù muốn dù không, đã được nhào nặn như thế. Tôi tự hào về bản sắc dân tộc của tôi. Tôi hãnh diện về  văn hóa và thần thái của dân tộc tôi. Nhưng tôi thấy mình không thể bế quan tỏa cảng trước cái hay, cái đẹp, cái tinh túy của các dân tộc khác. Tôi biết mình trở nên phong phú hơn nhờ tiếp cận với văn hóa của các dân tộc khác.
Tôi say mê theo dõi các trận thi đấu của Giải Túc Cầu Thế Giới. Nhưng tôi cũng chăm chú lắng nghe và nhập tâm với lời kêu gọi hầu như lúc nào cũng được đưa ra trong một màn quảng cáo ở đầu mỗi trận đấu: không phải vì chúng ta “giống nhau” mà chúng ta làm được mọi sự, cho bằng  vì chúng ta khác biệt.

Chu Thập, World Cup 2014


Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

Những Con Bò Vàng


                                                                                

World Cup nào qua đi cũng để lại trong tôi một vài tên tuổi đáng nhớ. Nhưng lần này, tuyệt nhiên tôi thấy chẳng có ngôi sao nào ngoài “ông thần bạch tuộc” Paul. Chính ông thần này mới thực sự là cầu thủ số một của thế giới: tất cả 8 cú “sút” của ông đều chính xác. Ông xứng đáng lãnh chiếc cúp vô địch thế giới năm 2010.
Theo báo Le Monde, phát hành tại Pháp, thị trấn O Carballiaeo của Tây Ban Nha, nơi mà hằng năm có “Liên Hoan Bạch Tuộc” vào tháng 8, muốn mua lại ông thần này. Sau khi ăn mừng chiến thắng vô địch thế giới của đội tuyển quốc gia, thị trấn này đã quyết định trao tặng tước hiệu “công dân danh dự” cho “ông thần bạch tuộc” Paul. Thị trưởng O Carballaaeo tuyên bố với báo chí rằng ông hy vọng sẽ mời Paul đến tham dự “Liên Hoan Bạch Tuộc” của thị trấn. Nhưng xem ra lời mời này khó có thể thực hiện được, bởi vì hiện Paul đã trở thành một “siêu sao” của cả thế giới chứ không riêng Tây ban Nha.
Theo  nhiều nguồn tin báo chí, doanh gia tại vùng Galice, Tây Ban Nha đã quyên góp được khoảng 30 ngàn Âu kim để mua lại Paul. Nhưng có lẽ dự định này cũng sẽ không thành, bởi vì hiện Paul đang “nghỉ hưu” tại Đức, là nơi mà người ta nghĩ là những ngày cuối đời của “ông” không còn bao nhiêu nữa, bởi  năm nay “ông” đã được 2 tuổi rưỡi và trên nguyên tắc, “ông” chỉ còn sống được 6 tháng nữa mà thôi. Thôi, cứ để cho “ông” an hưởng “tuổi già” tại “tư gia” của ông. Biết đâu sang Tây Ban Nha, người ta lại chẳng cho ông vào…chảo bởi vì “bạch tuộc xào với dầu ôliu và khoai tây” (pulpo a la Gallega) là một món khoái khẩu của dân xứ bò tót.
Tôi mong sao “ông thần bạch tuộc” Paul sống thêm vài năm nữa, ít nhứt là tới World Cup 2014. Tuy nhiên, nghĩ đến ông, tôi lại thấy số phận của hai nhà hải dương học có công “lăng xê” ông lên thật là hẩm hiu. Xem ra trong chuyện này, ít có ai nghĩ đến sáng kiến độc đáo của họ. Tất cả danh dự đều được dành cho Paul. Thật là oái oăm: Thú vật đã qua mặt con người!
Chuyện của “ông thần bạch tuộc” Paul ở Đức khiến tôi liên tưởng đến một con thú khác cũng rất nổi tiếng hiện nay tại Hoa kỳ. Đó là con chó tên “Faith” (Niềm tin). Con chó này chào đời vào giữa đêm Giáng Sinh năm 2002. Nó chỉ có hai chân sau. Mẹ nó đã ruồng bỏ không cho nó được bú mớm. Chủ nhân của con vật đáng thương này nghĩ rằng nó không thể nào sống được nên vứt nó vào thùng rác. Nhưng may cho nó, một người đàn bà tên Jude Stringfellow đã nhặt được và mang nó về nuôi dưỡng. Bà Stringfellow tin rằng bà có thể cứu sống nó. Chính vì thế mà bà đặt cho nó cái tên là “Faith”. Niềm tin ở đây không hẳn là của con vật mà là của chính bà.
Đúng như tên bà Stringfellow đã đặt cho con chó tật nguyền, 6 tháng sau, nhờ sự tận tụy nuôi nấng và huấn luyện của bà, Faith đã có thể đi bằng hai chân sau và chạy nhảy tung tăng. Nó thích được cho đến công viên để nô đùa với đàn ngỗng trời. Và dĩ nhiên, đi đến đâu, con thú cũng trở thành trọng tâm chú ý của mọi người. Ai cũng yêu thương trìu mến nó.
Sự hiện diện của Faith mang lại cảm hứng và an ủi cho nhiều người. Faith thường được mang vào bệnh viện để nâng đỡ những người lâm trọng bệnh. Sự xuất hiện của nó giúp cho các bệnh nhân giữ vững được niềm tin và tăng thêm lòng can đảm để chống lại bệnh tật.
Người ta cũng mang Faith vào các trung tâm cải huấn thiếu niên để mang lại cảm hứng cho các em: nhiều em lên tinh thần khi nhìn thấy con vật. Nó cũng trở thành “cố vấn tâm lý” cho một số thương binh bị khủng hoảng vì chiến tranh. Dĩ nhiên, có lẽ không nơi nào Faith mang đến được nhiều nụ cười rạng rỡ cho bằng các viện dưỡng lão mỗi khi nó viếng thăm.
Faith nổi tiếng đến độ có cả một website riêng; mỗi tháng số  người xem lên đến cả 75 ngàn lượt và mỗi ngày Faith nhận được trên 300 emails của các fans hâm mộ.
Danh tiếng của Faith lại càng nổi lên hơn khi tạp chí “People Weekly Magazine” đưa hình ảnh của nó lên trang bìa số cuối năm 2008. Lần đầu tiên, “nhân vật” xuất hiện trên trang bìa của tờ báo nổi tiếng này là một con chó!
Ngay cả một nhựt báo nghiêm túc như tờ Washington Post cũng không tiếc lời “tung hô” con vật: “Sự ra đời của con vật là một động lực mạnh mẽ cho đất nước đang gặp nhiều sự xáo trộn này. Bản thân con vật mang nhiều nỗi bi thương nhưng nó đã mạnh dạn đứng dậy và nhìn đời với sự bao dung và hạnh phúc. Tên của nó là Faith (Niềm tin). Đó là một con chó đứng bằng hai chân sau và có thể hiên ngang tiến bước như tất cả mọi người trong xã hội này.” (x. Faith (dog), Wikipedia)
Với những dòng trên đây, tôi cứ tưởng mình đang đọc tiểu sử của một nhân vật lỗi lạc nào đó trong lịch sử nhân loại. Dĩ nhiên, hình ảnh của con chó đi bằng hai chân này gợi lên cho tôi những tâm tình cao đẹp như sức phấn đấu, lòng kiên nhẫn và nhứt là sự tôn trọng và yêu thương đối với những người khuyết tật. Tôi không phải là người “thù ghét súc vật”. Tôi cũng chẳng chống lại việc yêu thương chăm sóc “thú cưng”. Nhưng tôi có cảm tưởng rằng, cũng như số phận của hai nhà hải dương học Đức trên đây, người ta quên mất một nhân vật rất quan trọng trong câu chuyện: đó là bà Jude Stringfellow, người “mẹ nuôi” đã có công “dưỡng dục” và huấn luyện cho Faith biết đứng thẳng và đi bằng hai chân. Trong cuốn sách có tựa đề “With a Little Faith” (Với một chút niềm tin), bà Stringfellow đã kể lại lòng yêu thương, sự kiên nhẫn và dĩ nhiên “niềm tin” của bà trong việc huấn luyện Faith. Nếu phải đề cao thì hẳn phải đề cao “tấm lòng” và “niềm tin” của bà Stringfellow mới phải!
Chuyện “ông thần Bạch Tuộc” Paul và con chó Faith trên đây lại gợi lên cho tôi một con thú được tôn vinh khác, có lẽ xưa và nổi tiếng nhứt trong lịch sử nhân loại: “Con Bò Vàng” của người Do thái. Kinh Thánh Cựu Ước của Do thái và Kitô giáo thuật lại rằng sau khi thoát khỏi Ai cập và lang thang trong sa mạc trước khi vào Đất Hứa, người Do thái cũng muốn có một “vị thần” riêng để thờ như các dân tộc khác. Thế là thừa lúc ông Môisen, người lãnh đạo thành công cuộc “xuất hành” ra khỏi Ai Cập, đang bận đàm đạo với Thiên Chúa trên núi cao, dân chúng quyên góp tất cả vòng vàng nữ trang rồi đúc thành một con bò và sấp mình thờ lạy nó. Từ đó, “con bò vàng” này đã trở thành biểu trưng của một thứ tôn giáo mà người ta gọi là “tôn thờ ngẫu tượng”. Tức là, thay vì tôn thờ một Thiên Chúa Tạo Hóa, người ta lại sấp mình thờ lạy một tạo vật. Tạo vật ấy có thể là một tượng thú vô tri. Tạo vật ấy cũng có thể là bất cứ “của đời chóng qua” vô thường nào trên trần gian này. “Con bò vàng” của thời đại ngày nay có thể là tiền bạc, bằng cấp, kinh tế, quyền lực, danh vọng, sắc đẹp, thể thao, sức khỏe v.v. Con người có thể sấp mình thờ lạy, tung hô “con bò vàng” này và hy sinh tất cả mọi sự vì nó.
Dĩ nhiên, một khi trật tự các giá trị bị đảo độn, một khi những của phù hoa trở thành tuyệt đối, thì chính giá trị cao cả nhứt là con người bị khinh rẻ hay quên lãng. Trong cái trật tự bị đảo lộn ấy, vật chất được đặt lên trên tinh thần và có khi sinh mệnh của thú vật lại được xem trọng hơn sự sống của con người. Tựu trung, như văn hào Nga Alexander Solhenitsyn đã nói, con người gạt bỏ Thượng Đế ra khỏi cuộc sống của mình để tôn thờ các “con bò vàng”.
Năm 1983, trong diễn văn đọc khi nhận giải thưởng “Templeton” về những đóng góp trong việc thăng tiến các giá trị tôn giáo và tinh thần, nhà văn này đã phát biểu: “Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi còn là một đứa trẻ, tôi đã nghe người lớn giải thích về những đại họa đã giáng xuống nước Nga như sau: “Con người đã quên lãng Thiên Chúa; đây là lý do xảy ra mọi điều đó.” Kể từ đó, tôi đã trải qua 50 năm để nghiên cứu về lịch sử cuộc cách mạng của chúng tôi. Trong cố gắng ấy, tôi đã đọc hằng trăm cuốn sách, thu thập hằng trăm chứng từ của các cá nhân và viết được 8 cuốn sách để cố gắng “thu dọn” cái đống “xà bần” do cuộc nổi dậy ấy tạo ra. Nhưng ngày nay, nếu có ai bảo tôi phải cô đọng lại nguyên nhân chính của cuộc cách mạng tàn bạo đã nuốt trửng mạng sống của 60 triệu đồng bào của dân tộc chúng tôi, thì tôi không thể không lập lại một cách chính xách hơn rằng: “Con người đã quên lãng Thiên Chúa. Đây là lý do xảy ra mọi điều đó.” (Philip Yancey, Soul Survivor, Hodder & Stoughton, London 2001, trg 183)
Chủ nghĩa vô thần thường được tuyên xưng như là một thứ “tôn giáo” trong các chế độ Cộng sản đã và đang tế sát bao nhiêu sinh linh trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa như thế nào thì đã rõ. Khi “con thú” trong con người được lên ngôi thì đương nhiên nó phải đánh đổ cái phần nhân bản trong chính mình cũng như nơi người đồng loại.
Ngày nay, cho dẫu cái chủ nghĩa ấy không còn được hung hãn tuyên xưng và rao giảng nữa, nhưng cứ nhìn vào những gì đang diễn ra trong cái thế giới văn minh tiến bộ, người ta cũng vẫn có thể nhận ra bậc thang các giá trị đang bị đảo lộn. Đừng kể đến những vụ phá thai như cơm bữa trong các nước Cộng sản. Hãy nhìn vào luật cho phép phá thai hiện hành tại hầu hết các nước Tây Phương: không là một trật tự bị đảo lộn ư khi một mặt, người ta hô hào tranh đấu cho “quyền” của thú vật, mặt khác người ta lại xem việc phá thai, tức sát hại một con người vô phương tự vệ còn trong lòng mẹ như một cái “quyền”?  Hãy thử để cho lý trí được lên ngôi và hãy thành tâm lắng nghe tiếng nói của lương tâm, liệu có thể xem việc sát hại thai nhi vô tội còn trong lòng mẹ như một “quyền” không?
Những “của đời chóng qua” được tuyệt đối hóa và đặt lên ở đầu bậc thang các giá trị,  thú vật có mọi “quyền” như con người,  sát hại người vô tội được “hợp pháp hóa” thành một “quyền”: đây là nghịch lý, là “bi kịch” lớn nhứt của thời đại. Đã là “bi kịch” thì đương nhiên, nó diễn tả “nỗi buồn” hơn là “niềm vui” và hạnh phúc đích thực của con người. 
Trong tác phẩm “The Message in the Bottle” (Sứ điệp trong cái Chai), ông Walter Percy, triết gia người Mỹ qua đời năm 1990, đã nêu lên câu hỏi: “Tại sao con người quá “buồn thảm” trong thế kỷ 20?”  Tại sao ở vào một thời đại mà con người đã thành công trong việc thỏa mãn mọi nhu cầu của mình, lại buồn thảm như thế?
Có lẽ tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã liên tưởng đến câu hỏi trên đây khi viết bài “Tại sao người ta mê tín?”  Tôi hoàn toàn đồng ý với câu trả lời của ông: Con người mê tín là vì bất an. Tác giả đưa ra một thí dụ tại Việt nam: “Nếu sống ở Việt nam hay theo dõi tình hình chính trị và xã hội tại Việt nam nhiều, chúng ta sẽ thấy một thay đổi khủng khiếp của giới lãnh đạo Việt nam trước và sau đổi mới (hay mở cửa), chủ yếu là ở thái độ của họ đối với các vấn đề tâm linh. Trước, họ là những kẻ vô thần, công khai vô thần, hơn nữa, vô thần một cách cực đoan, đúng hơn: phản thần, chống lại mọi thần linh. Tôn giáo ư? Chỉ là những liều thuốc lú! Nhà thờ hay chùa ư? Dẹp được thì dẹp ngay! Thế rồi, đùng một cái, Việt nam mở cửa, các cán bộ từ cao xuống thấp trở nên giàu có, nhà cao cửa rộng, xe hơi hiệu này hiệu nọ, muốn gì cũng có. Họ bỗng thay đổi. Họ không trở thành tín đồ của các tôn giáo đâu. Thái độ của họ đối với các tôn giáo lớn như Công Giáo và Phật giáo vẫn đầy nghi kỵ. Họ chỉ trở thành những kẻ mê tín thôi. Trong nhà họ xuất hiện các bàn thờ đầy khói hương. Họ thờ gì? Thường là Phật và Thần Tài. Ngày lễ, họ lặn lội khắp nơi để cúng bái.” (Nguyễn Hưng Quốc, Tại sao người ta mê tín? Đối thoại on line 13/7/2010)
“Tại sao tôi cũng có lúc mê tín?” Thưa là bởi vì tôi cũng có lúc bất an. Đời sống chẳng lúc nào không có những “vọng động” bên ngoài. Mà tâm “an lạc” thì lại do tự bên trong. Nói theo chữ của nhà văn Vĩnh Hảo, nếu tâm tôi cứ “lăng xăng” theo những “con bò vàng” thì bất an là điều không sao tránh khỏi.
 Chu Thập, World Cup 2010







Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Bên kia mầu cờ sắc áo và mầu da chủng tộc


Blue Poles-Jackson Pollock

Thượng viện Liên bang Úc sẽ bắt đầu hoạt động với một “đội hình” mới vào đầu tháng 7, 2014 tới đây. Số phận của chính phủ Liên Đảng và dĩ nhiên cuộc sống của người dân tùy thuộc vào cuộc “đấu đá” sắp tới của Thượng viện.
Để tìm một hình tượng khả dĩ mô tả được bộ mặt mới của Thượng viện, thượng nghị sĩ độc lập đại diện cho tiểu bang Nam Úc là ông Nick Xenophon nói rằng nếu so sánh Thượng viện với một bức tranh thì ông cho rằng nó chẳng phải là một phong cảnh. Nó cũng chẳng phải là một bức tranh siêu thực của họa sĩ Pablo Picasso mà người ta muốn treo ngược, treo xuôi kiểu nào cũng được. Theo thượng nghị sĩ Xenophon, Thượng viện với bộ mặt mới sẽ giống như bức tranh “Blue Poles” (những cây trụ xanh) của họa sĩ  Mỹ Jackson Pollock hiện đang được treo ở Phòng Nghệ Thuật không cách xa Tòa nhà Quốc hội Liên bang bao nhiêu. Thoạt tiên, vào năm 1952, họa sĩ Pollock không đặt tên cho bức tranh mà chỉ đánh số “Number 11”. Hai năm sau, trong một cuộc triển lãm tại Sydney, bức tranh được đặt tên là “Blue Poles”. Năm 1973, Phòng triển lãm nghệ thuật Úc “National Gallery of Australia” đã mua lại bức tranh với giá 1.3 triệu Úc kim.
Tôi đã cố gắng vận dụng tất cả khả năng thưởng thức nghệ thuật của mình để chiêm ngưỡng bức tranh này. Nhưng thú thật, tôi thấy mình còn tệ hơn cả 5 người mù đi “xem” voi. Tôi chẳng “thấy” được gì cả. Với tôi đó chỉ là một mớ mầu sắc hỗn loạn được pha trộn với nhau. Phải chăng thượng nghị sĩ Xenophon muốn nói đến cái cảnh “bát nháo” ấy của Thượng viện Liên bang khi mang ra so sánh với bức tranh “Blue Poles” này ?
Sự so sánh của thượng nghị sĩ Xenephon gợi lên cho tôi một ý nghĩ: con người ta có thể hợp lại với nhau để làm nên một bức tranh. Tôi chưa được một lần đặt chân vào bên trong Quốc hội Liên bang để xem “bức tranh” ấy đẹp xấu như thế nào. Nhưng trong thời gian này, hầu như ngày nào tôi cũng được chiêm ngưỡng một bức tranh “đẹp”. Đó là bức tranh của các trận thi đấu trong  Giải Túc Cầu Thế Giới 2014 tại Ba Tây.

Với tôi, đây là một bức tranh muôn mầu, sặc sỡ, nhưng lại rất hài hòa. Trên khán đài lúc nào cũng đông nghẹt, mầu cờ sắc áo của khán giả tạo nên một cảnh vật, đúng như chúng ta thường nói, “đẹp như trong tranh”. Nhưng tôi thích nhìn ngắm mầu sắc trên sân cỏ hơn. Nếu có sự tham gia thi đấu của hai đội mạnh nhứt nhì Á Châu là Nhựt Bản và Đại Hàn, thì quả thực từ trắng, đen, vàng, nâu...mầu da nào cũng được tô đậm trên sân cỏ. Mỗi lần theo dõi một trận đấu có một đội của Châu Mỹ La Tinh tham dự, tôi cứ ngẫm nghĩ: máu của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Phi Châu mạnh thật! Lục địa này đã được tô vẽ bằng đủ mọi mầu da: trắng cũng có mà đen, nâu, cà phê sữa gì cũng có cả. Có ai chiêm ngưỡng bức tranh túc cầu thế giới mà không nghĩ đến thế giới đại đồng, trong đó không có mầu da nào là trội vượt hơn mầu da khác, trong đó mọi người đều có thể và phải là anh em một nhà với nhau. Tôi không thể không nghĩ đến thế giới đại đồng ấy khi xem trận thi đấu giữa đội tuyển Đức và đội tuyển Ghana, Phi Châu sáng chúa Nhựt 22 tháng 6 vừa qua. Bên đội Đức có một cầu thủ tên là Jérôme Boateng. Bên đội Ghana cũng có một cầu thủ tên là Kevin Prince Boateng. Thì ra đây là hai anh em ruột thịt, nhưng họ đã chọn hai mầu cờ sắc áo khác nhau. Dù có đối nghịch với nhau trên sân cỏ, hai cầu thủ này vẫn mãi mãi là anh em ruột thịt với nhau. Mầu cờ sắc áo đã không thể chia cách được họ. Nhìn rộng ra, tôi cũng nghĩ rằng mầu da chủng tộc không thể đặt các cầu thủ của các quốc gia vào cảnh không đội trời chung với nhau. Sau một trận đấu, bên ngoài sân cỏ, bên kia mầu cờ sắc áo và ngay cả mầu da chủng tộc, mọi người vẫn có thể là anh em với nhau.
Tình huynh đệ đại đồng của con người, được các cầu thủ nêu cao, hẳn nhiên phải đặt nền tảng trên chính sự bình đẳng phát xuất từ chính phẩm giá của con người. Đây hẳn phải là giá trị nền tảng được nêu cao trong các vận động trường. Làm sao không nghĩ đến giá trị này khi nhìn thấy khẩu hiệu “No to Racism” (Hãy nói không với chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc) cứ chốc chốc lại hiện lên trong các bảng quảng cáo trong các sân vận động. Khẩu hiệu này nhắc nhở tôi rằng bên kia mầu cờ sắc áo của quốc gia dân tộc, bên kia mầu da của chủng tộc, mỗi người đều có một giá trị bình đẳng như nhau. Nói như thế không có nghĩa là “đánh đồng” hay san bằng mọi khác biệt và khoảng cách giữa người với người. Tài năng của các cầu thủ được phô diễn trên sân cỏ cũng như mầu da của họ là một bằng chứng rõ ràng nhứt về sự khác biệt giữa người với người. Thượng Đế dường như muốn thách thức con người khi tạo dựng họ chẳng ai giống ai. Có người thông minh, có người đần độn. Có người khỏe mạnh, có người ốm yếu. Có người xinh đẹp, có người xấu xí. Có người tài ba, có người vụng về...Nhưng cái giá trị tiềm ẩn bên trong mỗi người thì lại như nhau. Đó là thứ giá trị không thể đo lường được bằng bất cứ thước đo nào trên trần gian này. Câu thơ được thi sĩ Bùi Giáng cảm tác để ca tụng cái vẻ đẹp bên trong của người phụ nữ “Em ơi, em đẹp vô cùng, vì em có cái lạ lùng bên trong”, có lẽ cũng nên được áp dụng cho chính cái phẩm giá bất di nhượng và bất khả xâm phạm của mỗi một con người.
Nhận ra được giá trị và phẩm giá nội tại ấy của mỗi một con người có khi đòi hỏi nơi tôi một sự can đảm phi thường. Tôi không biết mình có đủ can đảm như ông thánh Phanxicô Assisi, vị thánh nổi tiếng của Kitô giáo vào thời Trung cổ tại Ý không. Một ngày kia, vị thánh được thế giới ngày nay mệnh danh là “sứ giả của hòa bình” này gặp một người phung cùi. Trước đó, với thánh nhân, chỉ cần nhìn thấy một người phung cùi thôi cũng đủ đã tởm rồi. Vậy mà hôm đó, với cái nhìn xuyên suốt để nhận ra phẩm giá của người phung cùi, ngài đã bước xuống ngựa, ôm lấy anh và hôn anh. Kể từ sau cử chỉ ấy, ngày ngày thánh nhân đều tìm đến nhà của những người bị đẩy ra bên lề xã hội ấy để được gần gũi với họ, trở thành một người bạn của họ và ngay cả phục vụ họ như một đày tớ.
Tôi cũng tin rằng chính với niềm xác tín sâu xa về phẩm giá nội tại cao cả của mỗi một con người mà dạo tháng 11 năm vừa qua Đức giáo hoàng Phanxicô đã làm một cử chỉ thật cảm động: ngài đã ôm hôn một người đàn ông mắc chứng bệnh mà y học gọi là “neurofibromatosis” loại một. Người mắc chứng bệnh này trông chẳng khác nào một người phung cùi, với khuôn mặt dị dạng và lớp da sần sù khiến không một ai muốn chạm đến hoặc đến gần. Ngay cả người cha ruột của ông, hiện đang sống trong một viện dưỡng lão, dù được ông đến chăm sóc mỗi ngày, cũng không muốn chạm đến người ông. Vậy mà Đức Phanxicô đã vượt qua được mọi thứ rào cản để ôm hôn ông. Với cử chỉ này, nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo muốn cho thế giới thấy được giá trị thâm sâu của mỗi một con người và nhắn gởi rằng chúng ta chẳng có gì để sợ hãi trước những dị biệt của người khác.
Cử chỉ của Đức Phanxicô không khỏi làm tôi nhớ lại câu chuyện của Joseph Merrick (1862-1890). Merrick cũng mắc chứng “neurofibromatosis” loại một như người đàn ông được Đức Phanxicô ôm hôn. Đầu và thân thể ông dị dạng, xấu xí  và gớm ghiếc đến độ người ta đặt cho ông cái tên là “Người Voi”. Ông  được một gánh xiếc nhốt vào chiếc cũi để mang sang Bỉ làm trò cười cho thiên hạ. Nhưng nhờ một bác sĩ thương tình giúp đỡ, Merrick đã được giải thoát khỏi gánh xiếc và được  phục hồi nhân phẩm. Bên kia khuôn mặt và thân hình dị dạng ấy, viên bác sĩ đầy lòng nhân ái đã nhìn ra được cả một tâm hồn nhạy cảm và cao thượng. Về sau, trong những lá thư gởi cho người quen, Merrick lúc nào cũng mượn một câu trong bài thơ có tựa đề “False Greatness” (sự vĩ đại giả tạo) của thi sĩ Anh  Isaac Watts (1674-1748) để kết thúc: “I would be measured by the soul” (chỉ có thể đánh giá tôi bằng tâm hồn của tôi mà thôi).
Thế giới ngày nay đã làm được không biết bao nhiêu bước nhảy vọt vĩ đại trong những khám phá, phát minh và ứng dụng khoa học. Nhưng như ai đó đã nói, có khi lên mặt trăng xem ra còn dễ hơn bước một bước đến gần với người hàng xóm. Có biết bao nhiêu điều mà thi sĩ Watts đã gọi là “sự vĩ đại giả tạo” đã khiến cho con người đui mù và điếc lác trước giá trị của người đồng loại của mình. Suốt dòng lịch sử nhân loại, không biết bao nhiêu thiên tài đã xuất hiện. Họ là những người có những tài năng mà người khác không có. Trong lãnh vực nào chúng ta cũng thấy có người tài năng. Thể thao mà cụ thể là túc cầu là lãnh vực có nhiều tài năng hơn cả. Tôi ngưỡng mộ các danh thủ. Nếu điều quan trọng nhứt trong cuộc sống của tôi là trở thành một danh thủ, một nhà vô địch hay một người nổi tiếng trong bất cứ lãnh vực nào, thì dĩ nhiên chỉ có một loại người để tôi tôn trọng là những người nổi tiếng. Và vì chỉ biết có mỗi một hạng người nổi tiếng như thế cho nên có thể tôi chẳng màng đến những người vô danh trong cái đám đông vô danh, nhứt là những người vì một lý do nào đó bị đẩy ra bên lề xã hội. Tôi biết tôi chẳng khác nào một người mù trước phẩm giá và giá trị nội tại của mỗi một con người. Tôi chỉ chạy theo “sự vĩ đại giả tạo” vốn sẽ mai một với thời gian.
Nhìn người như thế cho nên có lẽ tôi cũng chẳng ý thức được chính giá trị của mình. Tôi là một người thiếu “tự trọng” theo đúng nghĩa. Mà kỳ thực, khi đã thiếu “tự trọng” thì tôi cũng chẳng còn thực sự tôn trọng người khác vì giá trị đích thực của họ cho bằng chạy chỉ chạy theo những thứ hào nhoáng bên ngoài.
Tự trọng và tôn trọng, xét cho cùng, cũng chỉ là hai mặt của một đồng tiền. Tôi không thể “tự trọng” mà đồng thời không tôn trọng giá trị đích thực của người khác. Và ngược lại, khi tôn trọng giá trị đích thực của người khác, tôi lại thấy mình mới thực sự biết “tự trọng”.
Trên thế giới ngày nay, vẫn còn triệu triệu con người mà phẩm giá đang bị chà đạp và chối bỏ. Họ là những phụ nữ bị mang đi bán làm nô lệ tình dục. Họ là các công nhân, vì kế sinh nhai, phải bị  đày đọa trong những điều kiện làm việc vô nhân đạo. Họ là những người tỵ nạn ngay trên chính quê hương của mình hoặc bị trôi dạt vào một bến bờ vô định. Họ là những trẻ em lang thang đầu đường xó chợ, không có cơ hội cắp sách đến trường và ngay cả phần lương thực mỗi ngày. Họ là nạn nhân của những chế độ độc tài áp bức hay bạo lực gia đình. Họ là những bệnh nhân đang quằn quại từng ngày trong giường bệnh, trong các viện dưỡng lão...Và ngay trong cái xứ sở “may mắn” này, họ là vô số những người tôi gặp gỡ mỗi ngày, mỗi người với một gánh nặng và nỗi khổ  riêng. Tôi tin rằng lòng “tự trọng” của tôi chỉ lớn thêm nếu tôi biết nhìn họ không xuyên  qua mầu da hay ngoại diện, mà qua chính cái vẻ đẹp “lạ lùng” bên trong mỗi người.
Chu Thập, 27.6.2014



Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Lời Cám Ơn Muộn Màng


                                                                           

Theo một giai thoại, một hôm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bốc một lá số tử vi cho cái quạt ông dùng hàng ngày. Theo lá số, cái quạt này sẽ “tận số” vào ngày đó tháng đó. Đúng ngày, ông không làm gì cả, suốt ngày cứ ra vào xem chừng lá số tử vi của cái quạt sẽ ứng nghiệm như thế nào. Để cho chắc ăn, ông leo lên bộ ván ngựa, đặt cái quạt nằm sát bên người và dán chặt mắt vào nó. Bà vợ thấy chuyện “quái gở” nên bắt đầu tra gạn. Nhưng để “bảo mật”, ông dứt khoát không hé răng giải thích cho bà hiểu việc làm của ông. Đến một lúc không còn đủ kiên nhẫn, bà vợ túm lấy cái quạt và xé nát tan tành. Lúc bấy giờ, ông thày sấm mới thú nhận rằng số phận của cái quạt đã kết thúc đúng như lá số tử vi ông bốc cho nó.
Tôi thường nại đến giai thoại trên đây để hiểu “tử vi” theo cách thế của tôi. Với tôi, không có một định mệnh bất biến được sắp sẵn, mà chỉ có định mệnh do con người “làm ra”. Tôi luôn tâm đắc với câu nói: “Một hành động được lập lại trở thành một thói quen, một thói quen làm nên tư cách và một tư cách làm nên định mệnh.” Nghĩ như thế cho nên tôi không quan tâm đến tử vi và cũng chẳng màng đến các lời “sấm”.
Vậy mà, trong suốt mùa World Cup vừa qua, tôi cứ bị “ám ảnh” bởi hai vị “tiên tri”. Một là tiên tri Nostradamus của Pháp vào thế kỷ thứ 16. Nhiều người cho rằng hầu hết các tiên đoán của ông trong thế kỷ vừa qua đều đúng phóc. Riêng về World Cup 2010 này thì ngay từ lúc khai mạc, người ta đã diễn dịch một lời sấm của ông theo đó đội tuyển Tây Ban Nha sẽ vô địch thế giới.
Thật ra, với một đội tuyển vừa đoạt giải vô địch Âu châu cách đây hai năm, một lời sấm như thế chẳng gây nhiều ngạc nhiên lắm.
Chính vì thế mà giới cá độ thế giới lần này xem ra chú ý đến “ông thần Bạch Tuộc” Paul của Đức hơn. Thú vật có làm nhà “ngoại cảm” được chăng hay chỉ là chuyện trùng hợp ngẫu nhiên như trong trò đánh “chẵn lẻ”?  Cứ trước mỗi trận đấu có “sấm” của “ông thần bạch tuộc” này “bốc” là tôi thấy “rúng động”. Tôi cứ sợ điều “ông” đoán là đúng. Chính vì vậy mà lần nào tôi cũng đều “bắt” ngược lại với “sấm” của ông thần bạch tuộc. Hễ “ông” nói đội nào thắng thì tôi lại bắt đội khác. Chẳng hạn, trong trận chung kết, thần bạch tuộc tiên đoán đội Tây Ban Nha thắng thì tôi lại ủng hộ đội Hòa Lan.
Thật ra, sở dĩ tôi làm ngược lại như thế chẳng phải vì muốn “cải số” mà là vì tôi có “cảm tình” đặc biệt với những đội dưới cơ. Lúc nào cũng vậy, cứ thấy một đội tuyển dưới cơ bị tấn công là tôi ủng hộ đội đó. Tôi chỉ mong sao cho “ngựa về ngược”. Có lúc tôi tưởng mình cũng muốn khóc với những đội thua. Nhìn gương mặt thiểu não của các tuyển thủ cũng như những người ủng hộ họ, tôi thấy “cụt hứng”, chẳng muốn vui mừng chút nào ngay cả khi đội được tôi ủng hộ có chiến thắng.
Sau bất cứ cuộc thi đấu nào trong World Cup vừa qua, tôi cũng đều liên tưởng đến câu nói của cựu thủ tướng Anh Winston Churchill trong thời đệ nhị thế chiến: “Không gì buồn thảm bằng chiến thắng.” Chắc chắn, ông thủ tướng có lòng nhân ái này không thể nào cầm lòng được khi nhìn cảnh hoang tàn đổ nát hay xác người ngổn ngang trên chiến trường, dù thuộc phe nào. Làm sao có thể vui mừng được khi nhìn thấy cảnh tượng ấy.
Cuộc vui nào cũng qua đi. Lễ hội nào cũng có lúc phải kết thúc.World Cup đã bế mạc. Giờ đây, tôi thấy cần phải nhìn lại “chính mình” trong suốt một tháng “mất ăn mất ngủ” lăn lóc với trái banh trên màn hình vừa qua. Thi đấu không chỉ diễn ra trên sân cỏ. Trong tâm hồn của một khán giả như tôi cũng diễn ra một cuộc chiến đấu liên tục.
Thể thao không chỉ là một môn giải trí, mà còn là trường dạy nhân cách. Thể thao dạy cho tôi tinh thần thượng võ, đồng đội và liên đới. Thể thao cũng gợi lên trong tôi nhiều đức tính khác như sự cảm thông và ngay cả tha thứ nữa. Không gì cảm động bằng những cảnh như các cầu thủ ôm nhau, đổi áo cho nhau, kẻ thắng vỗ về người thua sau một trận đấu hay những cái bắt tay “làm hòa” sau khi có va chạm. Sẽ là một mất mát hay chiến bại đối với tôi, nếu sau mùa thể thao này, tôi không thấy mình lớn thêm một chút nào trong những “cử chỉ” đẹp ấy.
Nhưng trong những tình cảm thường xuất hiện trong tôi suốt mùa World Cup vừa qua, tôi nhận thấy điều cần trau dồi nhứt là lòng biết ơn. Tôi thấy mình cần phải biết ơn các cầu thủ.
Tôi phải cám ơn các cầu thủ vì họ là những người thường bị đối xử thiếu tôn trọng và “bạc bẽo” nhứt. Hãy thử nghe người Việt nam gọi tên các cầu thủ. Tôi chưa từng thấy có cầu thủ nào được gọi là “ông” cả. Tất cả đều là “thằng”. Thằng Pele, thằng Maradona, thằng Kaka, thằng Cristiano Ronaldo, thằng Klose, thằng David Villa, thằng Ramos, thằng Tim Cahill, thằng Robben, thằng Iniesta…Có khi họ chỉ còn là một con số như các tù nhân dưới thời Đức quốc xã như thằng số 9, thằng số 7, thằng số 10...Thắng trận thì được tung hô, nhưng nếu chẳng may thất trận, thì số phận của các cầu thủ thật bi đát. Bao nhiêu lời rủa sả độc ác đều có thể trút xuống trên đầu họ. Tôi thật đau lòng khi thấy các cầu thủ của hai đội tuyển Pháp và Ý phải trốn chui khi vừa ra khỏi phi trường. Tôi cảm thấy buồn tủi cho các cầu thủ Cameroon khi vừa ra khỏi phi trường đã được dàn chào bằng một biểu ngữ: “Các ông không yêu nước. Nhục cho các ông.”
Nhà văn Phan Lạc Phúc đã diễn tả đúng sự đối xử bạc bẽo và tàn nhẫn của khán giả dành cho các cầu thủ trong bài viết về “Nhà Báo Nói Huyền Vũ”. Nhà báo này đưa vợ đi xem một trận đấu giữa đội tuyển Thái Lan và đội tuyển Việt nam. Đây là lần đầu tiên bà Huyền Vũ vào sân Cộng Hòa để xem đá bóng, bởi vì trong trận đấu, con trai của bà là Quốc Bảo được vinh dự làm thủ môn của đội tuyển Việt nam. Chẳng may, trong trận đấu này, thành trì của đội Việt nam bị vây hãm tơi bời.
Ký giả Phan Lạc Phúc kể: “Một sự dồn nén nào đó đã thấy xuất hiện ra nơi khán giả với những tiếng ồn ào bất mãn khi thấy cầu thủ Miền Nam đá vụng về tan nát. Một trái sút xa của Thái lan từ 30m không có vẻ gì nguy hiểm. Trung vệ Cư không “cắt” để cho thủ môn Quốc Bảo bắt trái banh này. Nhưng không hiểu vì hốt hoảng trong một trận cầu quan trọng hay xúc động vì có những cặp mắt của những người thân yêu nhất đời anh đang theo dõi nên Quốc Bảo bắt “ói” trái banh này. Tiền đạo Thái Lan tràn đến, trung vệ Cư phải tackle hết mình mới đưa được trái banh ra khỏi đường biên cuối sân chịu phạt góc. Khi trái banh sắp được câu vào, trong cái yên lặng nặng nề của một cầu trường ẩn ức, Quốc Bảo bỗng trở thành đối tượng cho sự bất bình của khán giả. Một lời phê bình nặng nề đâu đó vang lên nơi khán đài bình dân: “Quốc Bảo về đi.” Ngay sau đó vài tiếng chửi thề đột ngột văng theo: “ĐM thằng Quốc Bảo.” Đó là phản ứng thường thấy nơi đám đông, độc ác một cách vô tình, a dua một cách vô ý thức. Tôi nhìn lên anh Huyền Vũ, anh là người quen thuộc với đám đông nên vẫn thấy anh bình tĩnh theo dõi trận đấu. Nhưng khi nhìn đến chị Huyền Vũ thì tôi thấy chị gục đầu, chiếc khăn bông che lấy mặt. Hình như chị không dám nhìn ai. Lần đầu tiên đến sân vận động định chia sẻ cùng chồng con một chút tiếng tăm, không ai ngờ chị lại phải chịu một sự mạ lỵ công khai nặng nề đến thế.” (Phan Lạc Phúc, Tuyển Tập Tạp Ghi, Văn Nghệ, 2002, trg 146-147)
Đúng như nhận xét của nhà văn Phan Lạc Phúc, khán giả thường “độc ác một cách vô tình, a dua một cách vô ý thức.” Riêng tôi, tôi cho rằng khán giả không chỉ độc ác và a dua, mà còn vô ơn nữa. Theo tôi, bất cứ đội tuyển và cầu thủ nào cũng đáng được vinh danh và biết ơn. Sức ép và kỳ vọng của cả một quốc gia đè nặng trên mỗi cầu thủ. Không có 31 đội tuyển tham gia thi đấu thì làm gì có một đội tuyển Tây Ban Nha vô địch. Không có 31 đội tuyển được đến Nam Phi thì làm gì mầu cờ sắc áo của nhiều nước được bay phất phới tại lục địa Phi Châu và bài quốc ca của những nước đó được vang dội trong cầu trường. Không có 32 đội tuyển thi đấu một cách tận tình “chết bỏ”, thì làm gì tôi và hàng tỉ khán giả trên khắp thế giới có được “niềm vui” trong suốt 31 ngày vừa qua.
Nghĩ như thế cho nên tôi thấy tự trong đáy lòng cần phải nói lên lời biết ơn đối với các đội tuyển và từng cầu thủ đã có mặt tại World Cup này. Chính họ đã khơi dậy nơi tôi sự biết ơn, tâm tình cơ bản nhứt mà nếu không có, tôi sợ mình không thể sống cho ra người.
Lễ hội “World Cup” đã qua, nhưng “di sản” còn lại của nó hẳn phải là lòng biết ơn và sự tôn trọng mà tôi thấy cần phải trau dồi hơn bao giờ hết. Hai tiếng “cám ơn” tưởng là một công thức sáo mòn, nhưng không có nó cuộc sống xã hội hẳn phải ngột ngạt khó thở. Có người Việt hải ngoại nào về Việt nam mà không nhận thấy rằng hai tiếng ấy đã hầu như trở nên quý hiếm trên cửa miệng và ngôn ngữ Việt nam hiện nay. Sự kiện ấy nói lên một cái gì còn sâu xa hơn là một công thức lịch sự, bởi vì nó phản ánh chính cái lỗ hổng đạo đức mà xã hội Việt nam đang bị nhận chìm vào. Vô thần thường cũng đi đôi với vô ơn. Trước kia, người Việt nam “ghi ơn” các chiến sĩ đã bỏ mình vì tổ quốc. Sau 1975, không có “ghi ơn”mà chỉ có “ghi công”. Một khi quan hệ giữa người với người chỉ còn được cân đo đong đếm bằng “công trạng”, thì dĩ nhiên những thành phần bị xem là “vô sản xuất” hay “khuyết tật” hay không còn “hữu ích” cho xã hội nữa, đương nhiên sẽ bị bạc đãi và khinh rẻ.
Chỉ có lòng biết ơn mới giúp cho con người biết nhận ra giá trị và “công trạng” của mọi người đang sống xung quanh mình. Lòng biết ơn sẽ mách bảo ta rằng dù có nghèo hèn đến đâu, bất cứ ai cũng có thể là “ân nhân” của ta. Lòng biết ơn lại càng mời gọi ta phải “thức tỉnh” để nhận ra những “ơn nghĩa” của những người gần gũi với ta nhứt.
Tôi đặc biệt nhớ lại bài học biết ơn vỡ lòng mà đức Gioan Phaolô đệ Nhứt, người chỉ lãnh đạo Giáo hội công giáo hoàn vũ trong đúng 33 ngày, đã để lại cùng với nụ cười không bao giờ tắt của ngài. Trong một cuộc gặp gỡ chung với khách hành hương, ngài kể lại câu chuyện với nội dung như sau: như mọi buổi sáng Chúa Nhựt, cha con của một gia đình nọ dắt nhau đi đá bóng. Người mẹ phải ở nhà làm đủ mọi việc. Đến trưa, người cha và các con về nhà; họ ngạc nhiên vô cùng vì trái với mọi khi, thay cho cơm bánh, họ chỉ thấy trên bàn ăn một đống rơm. Bụng đói, cha con người đàn ông bắt đầu càu nhàu trách móc người mẹ. Chờ cho những người đàn ông trút hết cơn giận, người mẹ mới ôn tồn nói: bao nhiêu năm tôi đã đầu tắt mặt tối hầu hạ các người, các người chưa hề nói một lời “cám ơn” với tôi. Vậy mà chỉ có một bữa tôi không dọn bữa, các người lại trách móc đủ điều.
Câu chuyện đơn sơ chỉ có thế. Nhưng vị giáo hoàng này muốn nhắc nhở các tín hữu về một bài học cơ bản nhứt trong Đạo, vốn cũng là đạo làm người. Bài học đó là lòng biết ơn đối với những người gần gũi và những người vô danh, xa lạ nhứt trong cuộc sống.
Tuy muộn màng, nhưng tôi cũng muốn nói “cám ơn” tất cả các cầu thủ và đội tuyển đã tham gia World Cup vừa qua. Họ không chỉ làm cho tôi “vui vài trống canh” trong những đêm thức trắng. Họ còn gợi lên cho tôi tâm tình biết ơn, để sau mùa World Cup này, tôi cũng thấy mình đạt được một chiến thắng vì thấy mình lớn thêm một chút trong nhân cách. Và cũng nhờ sự biết ơn này, tôi tin rằng, các cầu thủ của tất cả các mùa World Cup đã “đi qua đời tôi” sẽ không bao giờ bị quên lãng. Dù họ không bao giờ biết tôi là ai, nhưng tôi vẫn hân hạnh dành một chỗ trong tâm hồn tôi cho họ.
 Chu Thập, World Cup 2010








                                           

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Nỗi đau của người này, niềm vui của người kia



                                                                                 

Trước trận thi đấu nào của World Cup, tôi cũng đều đưa ra một dự đoán và hầu như dự đoán nào của tôi cũng đều sai. Chỉ có hai lần, tôi dự đoán gần đúng: một là trận Brasil-Bắc Hàn và hai là trận Đức-Úc ở vòng 1. Thật ra ai cũng đoán được đội hùng mạnh nhứt là Brasil sẽ thắng Bắc Hàn và Đức sẽ thắng Úc một cách dễ dàng. Nhưng tỷ số do tôi dự đoán quá sai biệt: tôi cứ tưởng Brasil sẽ “đè bẹp” Bắc Hàn và Úc không đến nỗi bị hạ với một tỷ số 4-0 “thê thảm” như thế. May mà tôi không đánh cá, nếu không thì chính tôi cũng “thua đậm”.
Quả thật, không ai có thể làm tiên tri một cách chính xác trong bóng đá. Hơn bất cứ lãnh vực nào, bóng đá là nơi mà không ai “học được chữ ngờ”. Có ai ngờ một đội “bí mật” và bị xếp hạng thấp nhứt như Bắc Hàn lại có thể cầm cự một cách vẻ vang trước người hùng Brasil. Có ai ngờ Đức lại bị một đội bị xem thường như Serbia hạ gục một cách thê thảm. Và có lẽ cũng chẳng ai ngờ con bò tót Tây Ban Nha lại bỏ chạy trước con chim bồ câu Thụy Sĩ. Chắc chắn từ đây cho đến hết mùa World Cup 2010 này, thế giới sẽ chứng kiến không biết bao nhiêu bất ngờ còn ngoạn mục hơn.
Thật ra, đó cũng là luật “thường hằng” của cuộc sống. Thắng thua, được mất là chuyện thường tình. Người Việt nam có lẽ dựa vào cái lẽ thường hằng ấy để tự an ủi: không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời. Lịch sử nhân loại là một chuỗi những thăng trầm: bao nhiêu đế quốc có hùng mạnh đến đâu rồi cũng sụp đổ. Hãy thử nhìn lại lịch sử của đế quốc La mã. Augustus Octavus Cesar sinh năm 63 trước công nguyên và băng hà năm 14 sau công nguyên, là người đã thiết lập một đế quốc được xem là cực thịnh và hùng mạnh nhứt trong lịch sử nhân loại. Nhưng thăng trầm là luật bất biến của lịch sử. Vào thế kỷ thứ tư, đế quốc này bắt đầu chia năm xẻ bảy. Ai có thế lực binh quyền, người đó tự xưng là hoàng đế. Một trong những vị tướng lãnh nổi tiếng vào thời đó là Maxenxius. Ông đã trấn áp các tướng lãnh khác và lên ngôi hoàng đế. Loạn lạc nổi tên tứ bề. Constantinus, một tướng lãnh khác không hàng phục, đã đứng lên tranh giành ráo riết với Maxenxius. Hai bên dàn quân đấu mặt nhau dưới chiến lũy thành La mã. Đêm trước khi giao tranh, Constantinus nằm mơ thấy một lá cờ có hình thánh giá với hàng chữ bằng tiếng La tinh “In hoc signo vinces” (cứ dấu này mà ngươi sẽ chiến thắng). Sáng ra, ông cho quân đội may lá cờ có hình thánh giá và viết hàng chữ ông thấy trong giấc mơ. Như một phép lạ, Constantinus đã chiến thắng một cách dễ dàng. Tin ở sức mạnh của biểu tượng Kitô giáo đã từng bị đế quốc triệt hạ, sau khi lên làm hoàng đế, Constantinus đã ban hành sắc chỉ ngưng bách hại Kitô giáo. Mười năm sau, ông chính thức gia nhập Kitô giáo và nhường thủ đô La mã của mình cho vị thủ lãnh của Giáo hội làm giáo đô. Về phần mình, ông cho dời thủ đô của đế quốc sang Hy lạp, cho xây dựng một thủ đô mới tại thành Byzance và lấy tên là Constantinople, nghĩa là thành phố của hoàng đế Constantinus. Nhưng năm 1453, quốc vương hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ Mahomet II đã tấn công chiếm được thành Constantinople và từ đó đổi tên thành Istanbul cho đến ngày nay.
Lịch sử của đế quốc hùng mạnh nhứt trong lịch sử nhân loại quả là lịch sử của một chuỗi những bất ngờ. Có ai ngờ một người dân chài vô danh miền Galilea, Palestine tên là Phêrô đã chịu chết treo trên thập giá tại thủ đô của đế quốc La mã để rồi cuối cùng chinh phục được toàn đế quốc ấy. Có ai ngờ một đế quốc lẫy lừng như La mã cuối cùng đã sụp đổ, biến mất khỏi bản đồ thế giới và chỉ để lại những vết tích hoang tàn đổ nát.
Cách đây 20 năm, có lẽ thế giới cũng không ngờ rằng cái khối cộng sản Đông Âu và đế quốc đỏ Liên Xô tưởng là “muôn năm” ấy cũng sụp đổ như những con cờ Domino.
Bà Huyện Thanh Quan, khi đứng trước di tích hoang phế của thành Cổ Loa, đã phải thốt lên: “Nghìn năm gương cũ soi kim cổ. Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.” Suy ngẫm về cuộc đời dâu bể, bể dâu, làm sao không khỏi thốt lên: “Nào ai học được chữ ngờ.” ( x.Táo Lé, Chuyện Đời, Dân Chúa Âu Châu 2002, trg 338-339)
Sân cỏ hẳn là nơi để kiểm nghiệm cái luật “dâu bể” ấy của cuộc đời. Không ai đoán trước được kết quả của những trận đấu và nhứt là ai cũng biết rằng thắng thua là chuyện đương nhiên phải xảy ra trong các trận thi đấu. Làm gì thì làm, cuối cùng cũng chỉ còn lại một đội vô địch. Lần lượt trong 31 ngày thi đấu, sớm hay muộn, lúc nào cũng có những đội sẽ rời Nam Phi để xách gói lên đường “hồi hương” với hai bàn tay trắng. Đã biết cái định luật chơi “tàn nhẫn” ấy, vậy mà vẫn có những phản ứng trông buồn cười.
Trong bất cứ trận thi đấu nào, tôi không chỉ theo dõi và tán thưởng những pha gây cấn và ngoạn mục trên sân cỏ, mà cũng để tâm quan sát phản ứng của khán giả. Các ống kính truyền hình thường “thu tóm” được những khoảnh khắc “lịch sử” rất đáng nghiền ngẫm. Ở đây là những tiếng hò hét reo mừng long trời lỡ đất. Đằng kia là những bộ mặt tiu nghỉu tưởng như có người thân qua đời. Tương phản nhứt là bộ mặt của các huấn luyện viên: một bên là nụ cười tự hào đắc thắng, một bên là bộ mặt đưa đám ma rầu rĩ.
Nhìn cái cảnh kẻ khóc người cười ấy, tôi lại nghĩ đến câu nói quen thuộc: “Nỗi đau của người này là niềm vui của người khác.” Trước hết, chúng ta có thể nghĩ đến cái đau xé ruột gan khi vượt cạn một mình của người mẹ và tiếng khóc chào đời của thơ nhi. Nỗi đau và tiếng khóc ấy lại mang đến những tiếng cười chào đón vỡ lở của người thân.
Chúng ta cũng có thể nghĩ đến bao nhiêu âm thầm đau khổ của cha mẹ cho con cái, của những người ngày đêm xả thân hy sinh vì người khác.
Nhưng bên cạnh những tiếng cười trổ sinh từ hy sinh cao cả ấy, có biết bao nhiêu nụ cười chỉ nở rộ trên sự đau khổ của người khác. Từ những tiếng cười man rợ của một bạo chúa Nero khi ra lệnh thiêu đốt thành La Mã để có cớ bách hại các tín hữu Kitô tiên khởi, từ những mãn nguyện độc ác của một Tần Thủy Hoàng khi đốt sách chôn học trò cho đến những  vũ điệu ma quái của những đồ tể như Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot và tất cả những lãnh tụ cộng sản khi sát tế hằng trăm triệu người vô tội trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa…trong lịch sử nhân loại, đã và mãi mãi vẫn có những con diều hâu chỉ biết truy hoan trên xác chết của người đồng loại.
Thật ra, những con diều hâu bay lượn trên xác chết ấy không đơn độc một mình. Các bạo chúa cười cợt trên cái chết của người đồng loại hẳn không hành động một mình. Hitler làm gì có đến ba đầu sáu tay để có thể sát hại đến 6 triệu người Do thái và gây ra bao nhiêu đau thương tang tóc cho cả thế giới. Bên cạnh ông, không chỉ có những tướng lãnh ngày đêm răm rắp tuân hành mệnh lệnh, mà còn có cả những anh giáo làng, những ông hàng thịt, những người nông dân chất phác…bỗng một buổi sáng nào đó cũng đứng lên hô hào đi săn lùng những người láng giềng của mình. Bên cạnh những Stalin, những Mao Trạch Đông, những Polpot hay những Hồ Chí Minh cũng có cả một bây diều hâu con nhào vô ăn có trên cái mâm cỗ “máu đổ thịt rơi” của người đồng loại.
Xét cho cùng, trong thâm cung sâu thẳm của cõi lòng, dường như ai cũng có thể cười trên nước mắt, nỗi đau của người đồng loại. Đừng nói đến những con người mà ông tổ của chủ nghĩa Marxit đã xếp vào hàng “súc vật quay mặt làm ngơ trước nỗi khổ đau của người đồng loại để chỉ biết chăm sóc cho bộ da của mình”, trong mỗi người chúng ta vẫn luôn tồn tại cái khuynh hướng muốn lấy tiếng khóc và nỗi đau của người khác làm niềm vui và hạnh phúc của mình. Chỉ cần một chút hồi tâm và thành tâm, có lẽ ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra con người “thật” của mình. Đó là con người chỉ cảm thấy hạnh phúc không phải vì giàu có mà vì giàu có hơn người khác, không phải vì có cái nhà, mà vì có cái nhà rộng lớn, đẹp đẽ và sang trọng hơn người khác, không phải vì có một cái xe để làm phương tiện di chuyển, mà vì có một cái xe đắt tiền hơn cái xe của người hàng xóm, không phải vì có một mảnh bằng, mà vì có một học vị cao hơn người khác, ngay cả  không phải vì một cái áo để “ăn chắc mặc bền”, mà chỉ vì cái hiệu nổi tiếng mà người khác không có…Tựu trung,  xem ra niềm hạnh phúc của chúng ta thường tỷ lệ thuận với sự thua kém hay  bất hạnh của người khác.
Ai cũng muốn sống hạnh phúc. Ai cũng đi tìm hạnh phúc. Nhưng thế nào là “hạnh phúc”?  Bàn đến vấn đề “hạnh phúc”, nhà văn Lâm Ngữ Đường của Trung Hoa luận như sau: “Trên thế giới này, hạnh phúc rất thường có tính tiêu cực: không đau khổ, không bị sỉ nhục, khổ hạnh, không có bệnh tật. Nhưng nhiều khi nó tích cực và lúc đó ta gọi nó là hoan lạc. Chẳng hạn, đối với tôi, những lúc như vầy là những lúc thật sung sướng: ngủ một đêm thẳng giấc, sáng dậy hít không khí đầy phổi và muốn hít vô cho thật sâu; lúc đó tôi cảm thấy nhẹ nhàng, như có cái gì lưu thông ở ngoài da và bắp thịt nơi ngực và tôi khoan khoái muốn làm việc; hoặc chân gác lên một chiếc ghế, thuốc cháy từ từ trong ống điếu; hoặc một ngày hè đi chơi, khát khô cả cổ, bỗng gặp một dòng suối trong mà chỉ nghe tiếng nước róc rách cũng đủ thấy khoái rồi, chạy lại, cởi giày ra, dầm chân trong dòng nước mát, thú tuyệt; hoặc sau một bữa ăn thật ngon, tôi ngả mình trong chiếc ghế bành, chung quanh không có một người nào mà tôi ghét cả, cùng nhau mạn đàm bâng quơ, vô mục đích.” (Lâm Ngữ Đường, Một Quan Niệm về Sống Đẹp, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, trg 117-118)
Trên đây là một trong rất nhiều quan niệm khác nhau về hạnh phúc. Riêng tôi, là một tín hữu Kitô, tôi luôn cố gắng sống theo giáo huấn của Chúa Giêsu về hạnh phúc. Dường như trong bài giảng đầu tiên của Ngài, Chúa Giêsu đã đưa ra một bí quyết về hạnh phúc. Ngài nói: Phúc cho những người nghèo khó, phúc cho những người hiền lành, phúc cho những người xây dựng hòa bình, phúc cho những người bị bách hại vì công lý v.v…Dường như bí quyết sống hạnh phúc nào cuối cùng cũng đều gắn liền với quan hệ với người khác. Xét cho cùng, không thể có hạnh phúc thực sự nếu chối bỏ quan hệ với người khác. Cái bí quyết sống hạnh phúc ấy cuối cùng được Chúa Giesu tóm gọn trong khuôn vàng thước ngọc là “Cho thì hạnh phúc hơn nhận lãnh”.
Ngạn ngữ Latinh có nói: “Không ai cho cái mình không có.” Cần phải “có” mới có thể “cho”. Nhưng tiền bạc, của cải vật chất không phải là điều duy nhứt chúng ta “có”. Nếu không có ai giàu có đến độ không có gì để lãnh nhận từ người khác và cũng không ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng, thì quả thật ai trong chúng ta cũng có nhiều kho tàng để chia sẻ cho người khác. Không cứ phải có của cải vật chất mới có thể trao tặng. Chúng ta có vô số điều quý giá hơn của cải vật chất. Chúng ta có thể trao ban một nụ cười. Chúng ta có thể trao tặng một chút thời gian hay một chút không gian. Chúng ta có thể chia sẻ một cử chỉ khích lệ, một sự hiện diện, một lời nói ủi an. Chúng ta có thể san sớt một gánh nặng…Bao nhiêu quan tâm đến người khác là bấy nhiêu món quà dành cho họ. Thánh Phaolô, một trong những nhà tư tưởng đầu tiên của Kitô giáo, đã gói trọn cái bí quyết sống hạnh phúc ấy trong công thức: “vui với người vui, khóc với kẻ khóc.”
Là người xem nước Úc là quê hương thứ hai, tôi chia sẻ và thấu hiểu tâm tình của người Úc khi chứng kiến đội Socceroo bị “tàn sát”. Mỗi giây phút còn lại của trận đấu sau trái thứ tư lọt lưới đối với tôi chẳng khác gì những giây phút phải chứng kiến người thân của mình bị…tra tấn sống mà trói tay không làm gì được. Tôi cũng hiểu và thông cảm tâm trạng của người dân Nam Phi chán nản bỏ ra về trước tiếng còi kết thúc khi đội nhà bị “cùng chung cảnh ngộ” trong trận Nam Phi-Uruguay. Dù biết Socceroo không thể nào thay đổi thế trận, nhưng tôi vẫn muốn theo dõi đến phút chót. Bởi tôi tin rằng, “chia vui” thì không bao giờ tốt hơn “xẻ buồn”. Đó cũng chỉ là một sự khích lệ quá nhỏ giữa người với người mà tôi có thể thực hiện được trong mùa World Cup 2010 này với những đội banh “dưới cơ” vậy.

 Chu Thập, World Cup 2010