Hiển thị các bài đăng có nhãn World Cup 2010. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn World Cup 2010. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2014

Nhanh hơn, Cao hơn, Mạnh hơn…



                                                                              

Sau một tháng “ăn dầm nằm dề” trên chiếc sofa để theo dõi không bỏ sót một trận thi đấu nào của World Cup 2010, tôi thấy vừa mệt mỏi, vừa hụt hẫng, vừa tiếc rẻ…Nhiều đêm thức giấc, cứ tưởng như đang mộng du: vội chạy ra phòng khách để mở máy truyền hình, nhưng rồi lại chợt nhớ đã hết mùa World Cup. Người ngợm cứ như đang say sóng. Cũng may, tôi không thích xem đua xe đạp cho lắm. Nếu không, mỗi đêm cứ phải “chạy” theo các tay đua trong “Tour de France” đang diễn ra bên Pháp, thì chắc thân tôi sẽ chỉ còn như một con tép và bao nhiêu công việc sẽ bị bỏ bê. Càng có nhiều cuộc thi đấu thể thao, càng có nhiều “giải trí” thì tôi lại càng thấy “khổ” hơn.
Làm việc cũng khổ, mà giải trí cũng khổ! Nhưng lao nhọc vốn là phần số của con người. Trong cuốn sách “The importance of Living” (Một Quan niệm về Sống Đẹp, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê), nhà văn Trung Hoa Lâm Ngữ Đường viết rằng trong vũ trụ này chỉ có loài đi hai chân là phải làm việc. Trừ một ít con ngựa kéo xe, vài con bò kéo cày, ngay các gia súc cũng không phải làm việc. Con chó săn của cảnh sát cũng rất ít khi phải làm nhiệm vụ; con chó giữ nhà, buổi sáng kiếm chỗ nắng ấm ngủ thẳng giấc rồi chơi giỡn gần như suốt ngày; con mèo quí phái nhứt định là không hề làm một việc gì để “mưu sinh”, rồi muốn đi chơi đâu thì đi. Còn loài người siêng năng, cũng bị “nhốt” trong chuồng, cũng bị thuần phục mà lại không được xã hội nuôi, phải làm việc cực khổ để kiếm lấy miếng ăn.
Ông Lâm ngữ Đường đưa ra suy nghĩ: “Tôi hoàn toàn nhận rằng nhân loại được hưởng nhiều cái lợi, như cái vui khoa học, cái vui đàm đạo và cái vui ảo tưởng. Nhưng vẫn còn sự tình cốt yếu này là đời sống chúng ta hóa ra phiền phức quá và chín mươi phần trăm hoạt động của ta là chỉ để lo việc kiếm ăn, mà sự tấn bộ làm cho việc kiếm ăn mỗi ngày một khó khăn cực nhọc, cực nhọc đến nổi chúng ta mất thèm ăn đi, ăn mất ngon đi. Dù đứng vào quan điểm một con thú rừng hay quan điểm của một triết gia thì sự tình đó cũng rất đổi là vô lý” (Lâm Ngữ Đường, sđd)
Đời sống con người quả là cơ cực. Nói theo Phật Giáo, đời là bể khổ. Kinh Thánh của người Do thái cũng đồng một quan điểm. Tác giả của “Sách ông Giob” than thở: “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch sao? Và chuỗi ngày lao lụng vất vả đâu khác gì đời kẻ làm thuê? Tựa người nô lệ mong bóng mát, như kẻ làm thuê đợi tiền công, cũng thế, gia tài của tôi là những tháng vô vọng, số phận của tôi là những đêm đau khổ ê chề.” (Sách Giob 7, 1- 3)
Một tác giả khác của Kinh Thánh ký tên là Qohelet lại còn bi quan hơn khi cho rằng tất cả mọi thứ trên đời này đều là “phù vân”. “Phù vân nối tiếp phù vân, tất cả chỉ là phù vân.” Ông triết lý: “Có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Điều ấy cũng chỉ là phù vân và là đại họa. Chuyện gì xảy ra cho con người sau bao mối bận tâm và bao gian lao vất vả mà nó phải chịu dưới ánh mặt trời?” (Sách Giảng Viên 2, 21-22)
Phải chăng đời chỉ là “lao nhọc vất vả” hay chỉ là “vui chơi”?
Năm 1938, trước khi đệ nhị thế chiến bùng nổ, một tác giả người Mỹ là ông Johan Huizinga đã viết một cuốn sách có tựa đề bằng tiếng La tinh “Homo Ludens” (con người “chơi”). Tác phẩm là một nghiên cứu về yếu tố “chơi” trong văn hóa. Ông Huizinga khẳng định rằng “chơi” là một yếu tố gắn liền với bản chất con người. Chơi không tùy thuộc vào trình độ văn minh nào. Theo ông, bất cứ ai có suy nghĩ cũng đều nhận ra rằng “chơi” là thuộc tính của con người, cho dẫu nó không có một khái niệm chung để diễn đạt về chơi. Ông Huizinga viết: “Chơi là điều không thể chối bỏ. Nếu muốn, bạn có thể chối bỏ hầu như mọi ý niệm trừu tượng như công bình, chân, thiện, mỹ, tâm trí, Thượng Đế. Bạn có thể chối bỏ “sự nghiêm chỉnh”, nhưng không thể chối bỏ cái “chơi”.” (x. Homo Ludens, a study of the Play Element in Culture, by Johan Huizinga , Wikipedia)
Không cần phải “động não” như ông Huizinga để khẳng định rằng “chơi” là một yếu tố bao trùm cuộc sống con người, người Miền Nam Việt nam, có lẽ do cuộc sống được thiên nhiên ưu đãi, cho nên thích chơi hơn thích làm hay đúng hơn làm chỉ để đủ sống và vui chơi. Không cần phải có của ngon vật lạ, chỉ cần một con ếch, một con rắn, một trái khế cũng đủ là một món nhậu để mời hàng xóm đến “lai rai năm ba sợi”. Gặp nhau, muốn biết sức khỏe của con cháu, người ta hỏi: “Thằng nhỏ (hay con nhỏ) nó có “chơi” không?” Có khỏe mới chơi được, cho nên chơi tức là khỏe hay đúng hơn khỏe để mà chơi.
Làm để ăn, ăn để khỏe, khỏe để chơi, chơi để khỏe…Tôi thường lẩn quẩn với tư tưởng ấy mỗi khi xem các trận thi đấu thể thao hay lăn xả vào các hoạt động giải trí. Các hoạt động giải trí gia tăng tỷ lệ thuận với sự tiến bộ. Càng tiến bộ, con người càng miệt mài giải trí. Càng tiến bộ, con người càng sáng chế ra nhiều trò giải trí hơn, “nghề chơi cũng lắm công phu” hơn. Cứ mở bất cứ một đài truyền hình nào cũng thấy được điều đó. Ngoại trừ các Đài tôn giáo, hầu như Đài Truyền Hình nào cũng dành phần lớn các chương trình cho việc giải trí. Ngày nay, giải trí đã trở thành một “kỹ nghệ” và là kỹ nghệ lớn nhứt trong mọi kỹ nghệ. Người sáng lập và điều hành kỹ nghệ giải trí giàu có đã đành, mà các nghệ sĩ từ ca nhạc sĩ, diễn viên, danh thủ thể thao…đều là những người có thu nhập cao hơn ai hết.
Nhưng có một nghịch lý không thể chối cãi được trong thế giới văn minh ngày nay là càng phát minh ra các trò giải trí, con người xem ra càng “buồn chán” hơn. Giải trí càng nhiều, nghệ thuật giải trí càng cao, con người lại càng cảm thấy “trống rỗng”.
Tôi vẫn nhớ mãi những suy tư của triết gia Pháp vào thế kỷ 17 là Blaise Pascal về điều mà ông gọi là “Giải trí”.  Ông viết: “Thỉnh thoảng, khi suy nghĩ về vấn đề này, tức những “xung động” của con người cũng như những nguy hiểm và mệt nhọc mà con người lao đầu vào trên sân cỏ, trong chiến tranh là nơi phát sinh bao nhiêu tranh cãi, đam mê, những toan tính liều lĩnh thường là xấu v.v, tôi khám phá ra rằng nỗi khốn khổ của con người chỉ xuất phát từ một điều: đó là không biết ngồi yên trong một căn phòng...” (Blaise Pascal, “Divertissement”, Les Pensées, Wikipedia)
Trong Hán Việt Từ Điển, Đào Duy Anh định nghĩa “giải trí” như sau: “Khi làm việc rồi, mở cho trí não được khoan khoái.”
Theo ý nghĩa này, thì chắc chắn triết gia Pascal không lên án tất cả mọi thứ “giải trí”. Ông nhìn nhận rằng “không có giải trí thì không có niềm vui; với giải trí thì không hề có sự buồn bã.” Nhưng theo ông, niềm hạnh phúc mà giải trí mang lại rất mong manh, bởi vì nó tùy thuộc vào “trăm nghìn tai nạn mang lại những đau buồn thật sự.” Không cần phải nghĩ đến những thứ giải trí “chết người” như cờ bạc, ma túy…một ly rượu để giải sầu, một điếu thuốc để làm cho trí não được khoan khoái, một ván cờ để gọi là “làm vui” bạn bè có khi cũng đưa đến những hậu quả khôn lường. Chính vì vậy mà ông Pascal khẳng định: “Điều duy nhứt an ủi chúng ta trong những lúc khốn khổ là giải trí, nhưng giải trí lại cũng là nỗi khốn khổ lớn nhứt của chúng ta.”
Là một người có niềm tin tôn giáo, ông triết gia người Pháp này cho rằng chính vì không có khả năng “ngồi yên” trong phòng, nghĩa là không chấp nhận cái thân phận giới hạn, “có cùng” của mình mà con người lao mình vào giải trí. “Giải trí” là một cuộc “chạy trốn” khỏi nỗi khốn khổ của mình. Xét cho cùng, giải trí chính là chạy trốn khỏi cái chết, khỏi cùng đích và ý nghĩa của cuộc sống.
Trong một màn quảng cáo cho chiếc xe đạp hiệu Schwinn trên TV, người ta thấy một thanh niên đang nhào lộn với chiếc xe đạp của mình. Một câu nói hiện lên: “Với chiếc xe đạp này bạn có thể nhào lộn.” Rồi thình lình, ở phía dưới màn ảnh, người ta lại thấy xuất hiện một cảnh ma quái:  một chiếc quan tài đang được từ từ hạ xuống huyệt kèm với lời thách thức: “Bạn sợ chết ư?”
Rõ ràng là những ông chủ của công ty Schwinn không chỉ quảng cáo cho chiếc xe đạp của mình. Họ còn muốn dạy cho trẻ con rằng chết là hết, cho nên chẳng có gì phải sợ hãi.
Trong một màn quảng cáo cho hiệu quần cáo “Union Bay”, người ta thấy hai thiếu niên mặc quần áo hiệu này đang đùa giởn với tử thần khi cho xe chạy với tốc độ chóng mặt hướng đến một bờ vực cao. Một người dùng tay áo của mình mắc vào cần tốc độ và nhảy xuống biển. Khi chiếc áo của người thanh niên nổi trên mặt biển, người ta đọc được trên màn ảnh: Union Bay, thời trang được làm để “tồn tại”.
Cả hai màn quảng cáo trên đây đều muốn nhắn gởi một thông điệp giống nhau: Chết là hết, cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì do đó không đáng sống. (x. Charles Colson, Burden of Truth)
Tôi cũng thường có ý nghĩ ấy mỗi khi theo dõi các màn đua xe. Cái chết trong gang tấc, nhưng xem chừng bị các tay đua coi nhẹ như tơ hồng. Tôi cũng không thể không nghĩ đến “cái chết” bị xem thường như thế trong các trận đấu quyền Anh hay các môn võ tự do. Người ta đùa giỡn với tử thần chẳng khác nào chuyện xảy ra trong cuốn phim “The Quick and the Dead” do một số tài tử gạo cội như Sharon Stone, Gene Hackman, Russell Crowe và Leonardo DiCaprio thủ diễn: chuyện thi đấu súng diễn ra như chuyện “thường ngày ở huyện” trong một thị trấn miền viễn Tây, Hoa kỳ trong thời kỳ lập quốc: chẳng còn biết làm gì, ông thị trưởng cứ  bày ra trò đấu súng. Cái chết bị xem nhẹ đến nỗi cha con của ông thị trưởng cũng thi đấu súng với nhau và người cha chẳng để rơi một giọt nước mắt tiếc thương nào khi bắn hạ đứa con trai độc nhứt của mình.
Thời đế quốc La mã, các võ sĩ phải thi đấu với nhau để sống còn. Họ không chọn cái chết. Người ta bắt họ phải chết để mua vui cho người khác. Ngày nay, bằng mọi cách xem ra con người “ve vãn” và “giỡn mặt” với cái chết để đạt được một kỷ lục.  Tôi còn nhớ: dạo tháng 4 năm 1996, mặc dù đã có nhiều cảnh báo về thời tiết xấu, một người cha vẫn để cho đứa con gái 7 tuổi của mình lái chiếc Cessna xuyên qua nước Mỹ. Ông tin tưởng và hy vọng rằng đứa con gái của mình sẽ là viên phi công trẻ nhứt bay xuyên qua lục địa. Nhưng tử thần đã không chịu “đầu hàng”. Tên của cô bé Jessica Dubross đã không bao giờ được ghi vào sách kỷ lục thế giới Guiness Book và chắc chắn người cha cũng không bao giờ có đủ một đời để tiếc thương và hối hận chỉ vì một chút danh vọng hão huyền.
Tôi không chút “hồ hởi” khi nhìn đám đông đón rước cô Jessica Watson 16 tuổi trở về Sydney dạo tháng 6 vừa qua, sau một lần vòng quanh thế giới một mình trên chiếc thuyền buồm  và đạt kỷ lục là cô gái trẻ nhứt thế giới đã lập được một thành tích như thế.
Tôi dị ứng với những kỷ lục như thế. Tôi chẳng tìm được niềm phấn khởi nào trong những môn giải trí chết người như vậy.
Với tôi, giải trí theo đúng nghĩa là một phương cách tìm lại  sự quân bình và niềm vui để quay trở về với ý nghĩa và cuộc sống độc điệu hàng ngày. Theo tôi, khẩu hiệu “Citius, Altius, Fortius” (nhanh hơn, cao hơn, mạnh hơn) được ghi trong các Thế Vận Hội và các sân vận động không phải là một thách thức để tôi đạt được những kỷ lục mới, mà chính là chạy nhanh hơn, vươn lên cao hơn và dũng mạnh hơn để nhìn xuống cuộc sống độc điệu mỗi ngày hầu tìm ra ý nghĩa cho cái gọi là “độc điệu” nhàm chán đó.
Ông “hoàng tử tý hon” của văn hào Antoine de Saint Exupéry đã có lý để nói với viên phi công: “Dân chúng trong xứ sở của ông trồng cả 5 ngàn cánh hoa hồng trong một ngôi vườn…vậy mà họ không tìm ra được điều đang tìm kiếm. Thật ra điều họ đang tìm kiếm có thể tìm thấy trong một cánh hoa hồng.” Và hoàng tử tý hon nói thêm: “Nhưng đôi mắt của con người thì mù lòa. Ông phải nhìn bằng trái tim.”
Tôi mong sao luôn được nhìn bằng con mắt của trái tim để có thể “giải trí” và tìm thấy niềm vui ngay trong những sinh hoạt độc điệu của cuộc sống mỗi ngày chứ không cần phải đợi làm việc xong rồi mới…“giải trí”.










Thứ Năm, 10 tháng 7, 2014

Những Con Bò Vàng


                                                                                

World Cup nào qua đi cũng để lại trong tôi một vài tên tuổi đáng nhớ. Nhưng lần này, tuyệt nhiên tôi thấy chẳng có ngôi sao nào ngoài “ông thần bạch tuộc” Paul. Chính ông thần này mới thực sự là cầu thủ số một của thế giới: tất cả 8 cú “sút” của ông đều chính xác. Ông xứng đáng lãnh chiếc cúp vô địch thế giới năm 2010.
Theo báo Le Monde, phát hành tại Pháp, thị trấn O Carballiaeo của Tây Ban Nha, nơi mà hằng năm có “Liên Hoan Bạch Tuộc” vào tháng 8, muốn mua lại ông thần này. Sau khi ăn mừng chiến thắng vô địch thế giới của đội tuyển quốc gia, thị trấn này đã quyết định trao tặng tước hiệu “công dân danh dự” cho “ông thần bạch tuộc” Paul. Thị trưởng O Carballaaeo tuyên bố với báo chí rằng ông hy vọng sẽ mời Paul đến tham dự “Liên Hoan Bạch Tuộc” của thị trấn. Nhưng xem ra lời mời này khó có thể thực hiện được, bởi vì hiện Paul đã trở thành một “siêu sao” của cả thế giới chứ không riêng Tây ban Nha.
Theo  nhiều nguồn tin báo chí, doanh gia tại vùng Galice, Tây Ban Nha đã quyên góp được khoảng 30 ngàn Âu kim để mua lại Paul. Nhưng có lẽ dự định này cũng sẽ không thành, bởi vì hiện Paul đang “nghỉ hưu” tại Đức, là nơi mà người ta nghĩ là những ngày cuối đời của “ông” không còn bao nhiêu nữa, bởi  năm nay “ông” đã được 2 tuổi rưỡi và trên nguyên tắc, “ông” chỉ còn sống được 6 tháng nữa mà thôi. Thôi, cứ để cho “ông” an hưởng “tuổi già” tại “tư gia” của ông. Biết đâu sang Tây Ban Nha, người ta lại chẳng cho ông vào…chảo bởi vì “bạch tuộc xào với dầu ôliu và khoai tây” (pulpo a la Gallega) là một món khoái khẩu của dân xứ bò tót.
Tôi mong sao “ông thần bạch tuộc” Paul sống thêm vài năm nữa, ít nhứt là tới World Cup 2014. Tuy nhiên, nghĩ đến ông, tôi lại thấy số phận của hai nhà hải dương học có công “lăng xê” ông lên thật là hẩm hiu. Xem ra trong chuyện này, ít có ai nghĩ đến sáng kiến độc đáo của họ. Tất cả danh dự đều được dành cho Paul. Thật là oái oăm: Thú vật đã qua mặt con người!
Chuyện của “ông thần bạch tuộc” Paul ở Đức khiến tôi liên tưởng đến một con thú khác cũng rất nổi tiếng hiện nay tại Hoa kỳ. Đó là con chó tên “Faith” (Niềm tin). Con chó này chào đời vào giữa đêm Giáng Sinh năm 2002. Nó chỉ có hai chân sau. Mẹ nó đã ruồng bỏ không cho nó được bú mớm. Chủ nhân của con vật đáng thương này nghĩ rằng nó không thể nào sống được nên vứt nó vào thùng rác. Nhưng may cho nó, một người đàn bà tên Jude Stringfellow đã nhặt được và mang nó về nuôi dưỡng. Bà Stringfellow tin rằng bà có thể cứu sống nó. Chính vì thế mà bà đặt cho nó cái tên là “Faith”. Niềm tin ở đây không hẳn là của con vật mà là của chính bà.
Đúng như tên bà Stringfellow đã đặt cho con chó tật nguyền, 6 tháng sau, nhờ sự tận tụy nuôi nấng và huấn luyện của bà, Faith đã có thể đi bằng hai chân sau và chạy nhảy tung tăng. Nó thích được cho đến công viên để nô đùa với đàn ngỗng trời. Và dĩ nhiên, đi đến đâu, con thú cũng trở thành trọng tâm chú ý của mọi người. Ai cũng yêu thương trìu mến nó.
Sự hiện diện của Faith mang lại cảm hứng và an ủi cho nhiều người. Faith thường được mang vào bệnh viện để nâng đỡ những người lâm trọng bệnh. Sự xuất hiện của nó giúp cho các bệnh nhân giữ vững được niềm tin và tăng thêm lòng can đảm để chống lại bệnh tật.
Người ta cũng mang Faith vào các trung tâm cải huấn thiếu niên để mang lại cảm hứng cho các em: nhiều em lên tinh thần khi nhìn thấy con vật. Nó cũng trở thành “cố vấn tâm lý” cho một số thương binh bị khủng hoảng vì chiến tranh. Dĩ nhiên, có lẽ không nơi nào Faith mang đến được nhiều nụ cười rạng rỡ cho bằng các viện dưỡng lão mỗi khi nó viếng thăm.
Faith nổi tiếng đến độ có cả một website riêng; mỗi tháng số  người xem lên đến cả 75 ngàn lượt và mỗi ngày Faith nhận được trên 300 emails của các fans hâm mộ.
Danh tiếng của Faith lại càng nổi lên hơn khi tạp chí “People Weekly Magazine” đưa hình ảnh của nó lên trang bìa số cuối năm 2008. Lần đầu tiên, “nhân vật” xuất hiện trên trang bìa của tờ báo nổi tiếng này là một con chó!
Ngay cả một nhựt báo nghiêm túc như tờ Washington Post cũng không tiếc lời “tung hô” con vật: “Sự ra đời của con vật là một động lực mạnh mẽ cho đất nước đang gặp nhiều sự xáo trộn này. Bản thân con vật mang nhiều nỗi bi thương nhưng nó đã mạnh dạn đứng dậy và nhìn đời với sự bao dung và hạnh phúc. Tên của nó là Faith (Niềm tin). Đó là một con chó đứng bằng hai chân sau và có thể hiên ngang tiến bước như tất cả mọi người trong xã hội này.” (x. Faith (dog), Wikipedia)
Với những dòng trên đây, tôi cứ tưởng mình đang đọc tiểu sử của một nhân vật lỗi lạc nào đó trong lịch sử nhân loại. Dĩ nhiên, hình ảnh của con chó đi bằng hai chân này gợi lên cho tôi những tâm tình cao đẹp như sức phấn đấu, lòng kiên nhẫn và nhứt là sự tôn trọng và yêu thương đối với những người khuyết tật. Tôi không phải là người “thù ghét súc vật”. Tôi cũng chẳng chống lại việc yêu thương chăm sóc “thú cưng”. Nhưng tôi có cảm tưởng rằng, cũng như số phận của hai nhà hải dương học Đức trên đây, người ta quên mất một nhân vật rất quan trọng trong câu chuyện: đó là bà Jude Stringfellow, người “mẹ nuôi” đã có công “dưỡng dục” và huấn luyện cho Faith biết đứng thẳng và đi bằng hai chân. Trong cuốn sách có tựa đề “With a Little Faith” (Với một chút niềm tin), bà Stringfellow đã kể lại lòng yêu thương, sự kiên nhẫn và dĩ nhiên “niềm tin” của bà trong việc huấn luyện Faith. Nếu phải đề cao thì hẳn phải đề cao “tấm lòng” và “niềm tin” của bà Stringfellow mới phải!
Chuyện “ông thần Bạch Tuộc” Paul và con chó Faith trên đây lại gợi lên cho tôi một con thú được tôn vinh khác, có lẽ xưa và nổi tiếng nhứt trong lịch sử nhân loại: “Con Bò Vàng” của người Do thái. Kinh Thánh Cựu Ước của Do thái và Kitô giáo thuật lại rằng sau khi thoát khỏi Ai cập và lang thang trong sa mạc trước khi vào Đất Hứa, người Do thái cũng muốn có một “vị thần” riêng để thờ như các dân tộc khác. Thế là thừa lúc ông Môisen, người lãnh đạo thành công cuộc “xuất hành” ra khỏi Ai Cập, đang bận đàm đạo với Thiên Chúa trên núi cao, dân chúng quyên góp tất cả vòng vàng nữ trang rồi đúc thành một con bò và sấp mình thờ lạy nó. Từ đó, “con bò vàng” này đã trở thành biểu trưng của một thứ tôn giáo mà người ta gọi là “tôn thờ ngẫu tượng”. Tức là, thay vì tôn thờ một Thiên Chúa Tạo Hóa, người ta lại sấp mình thờ lạy một tạo vật. Tạo vật ấy có thể là một tượng thú vô tri. Tạo vật ấy cũng có thể là bất cứ “của đời chóng qua” vô thường nào trên trần gian này. “Con bò vàng” của thời đại ngày nay có thể là tiền bạc, bằng cấp, kinh tế, quyền lực, danh vọng, sắc đẹp, thể thao, sức khỏe v.v. Con người có thể sấp mình thờ lạy, tung hô “con bò vàng” này và hy sinh tất cả mọi sự vì nó.
Dĩ nhiên, một khi trật tự các giá trị bị đảo độn, một khi những của phù hoa trở thành tuyệt đối, thì chính giá trị cao cả nhứt là con người bị khinh rẻ hay quên lãng. Trong cái trật tự bị đảo lộn ấy, vật chất được đặt lên trên tinh thần và có khi sinh mệnh của thú vật lại được xem trọng hơn sự sống của con người. Tựu trung, như văn hào Nga Alexander Solhenitsyn đã nói, con người gạt bỏ Thượng Đế ra khỏi cuộc sống của mình để tôn thờ các “con bò vàng”.
Năm 1983, trong diễn văn đọc khi nhận giải thưởng “Templeton” về những đóng góp trong việc thăng tiến các giá trị tôn giáo và tinh thần, nhà văn này đã phát biểu: “Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi còn là một đứa trẻ, tôi đã nghe người lớn giải thích về những đại họa đã giáng xuống nước Nga như sau: “Con người đã quên lãng Thiên Chúa; đây là lý do xảy ra mọi điều đó.” Kể từ đó, tôi đã trải qua 50 năm để nghiên cứu về lịch sử cuộc cách mạng của chúng tôi. Trong cố gắng ấy, tôi đã đọc hằng trăm cuốn sách, thu thập hằng trăm chứng từ của các cá nhân và viết được 8 cuốn sách để cố gắng “thu dọn” cái đống “xà bần” do cuộc nổi dậy ấy tạo ra. Nhưng ngày nay, nếu có ai bảo tôi phải cô đọng lại nguyên nhân chính của cuộc cách mạng tàn bạo đã nuốt trửng mạng sống của 60 triệu đồng bào của dân tộc chúng tôi, thì tôi không thể không lập lại một cách chính xách hơn rằng: “Con người đã quên lãng Thiên Chúa. Đây là lý do xảy ra mọi điều đó.” (Philip Yancey, Soul Survivor, Hodder & Stoughton, London 2001, trg 183)
Chủ nghĩa vô thần thường được tuyên xưng như là một thứ “tôn giáo” trong các chế độ Cộng sản đã và đang tế sát bao nhiêu sinh linh trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa như thế nào thì đã rõ. Khi “con thú” trong con người được lên ngôi thì đương nhiên nó phải đánh đổ cái phần nhân bản trong chính mình cũng như nơi người đồng loại.
Ngày nay, cho dẫu cái chủ nghĩa ấy không còn được hung hãn tuyên xưng và rao giảng nữa, nhưng cứ nhìn vào những gì đang diễn ra trong cái thế giới văn minh tiến bộ, người ta cũng vẫn có thể nhận ra bậc thang các giá trị đang bị đảo lộn. Đừng kể đến những vụ phá thai như cơm bữa trong các nước Cộng sản. Hãy nhìn vào luật cho phép phá thai hiện hành tại hầu hết các nước Tây Phương: không là một trật tự bị đảo lộn ư khi một mặt, người ta hô hào tranh đấu cho “quyền” của thú vật, mặt khác người ta lại xem việc phá thai, tức sát hại một con người vô phương tự vệ còn trong lòng mẹ như một cái “quyền”?  Hãy thử để cho lý trí được lên ngôi và hãy thành tâm lắng nghe tiếng nói của lương tâm, liệu có thể xem việc sát hại thai nhi vô tội còn trong lòng mẹ như một “quyền” không?
Những “của đời chóng qua” được tuyệt đối hóa và đặt lên ở đầu bậc thang các giá trị,  thú vật có mọi “quyền” như con người,  sát hại người vô tội được “hợp pháp hóa” thành một “quyền”: đây là nghịch lý, là “bi kịch” lớn nhứt của thời đại. Đã là “bi kịch” thì đương nhiên, nó diễn tả “nỗi buồn” hơn là “niềm vui” và hạnh phúc đích thực của con người. 
Trong tác phẩm “The Message in the Bottle” (Sứ điệp trong cái Chai), ông Walter Percy, triết gia người Mỹ qua đời năm 1990, đã nêu lên câu hỏi: “Tại sao con người quá “buồn thảm” trong thế kỷ 20?”  Tại sao ở vào một thời đại mà con người đã thành công trong việc thỏa mãn mọi nhu cầu của mình, lại buồn thảm như thế?
Có lẽ tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã liên tưởng đến câu hỏi trên đây khi viết bài “Tại sao người ta mê tín?”  Tôi hoàn toàn đồng ý với câu trả lời của ông: Con người mê tín là vì bất an. Tác giả đưa ra một thí dụ tại Việt nam: “Nếu sống ở Việt nam hay theo dõi tình hình chính trị và xã hội tại Việt nam nhiều, chúng ta sẽ thấy một thay đổi khủng khiếp của giới lãnh đạo Việt nam trước và sau đổi mới (hay mở cửa), chủ yếu là ở thái độ của họ đối với các vấn đề tâm linh. Trước, họ là những kẻ vô thần, công khai vô thần, hơn nữa, vô thần một cách cực đoan, đúng hơn: phản thần, chống lại mọi thần linh. Tôn giáo ư? Chỉ là những liều thuốc lú! Nhà thờ hay chùa ư? Dẹp được thì dẹp ngay! Thế rồi, đùng một cái, Việt nam mở cửa, các cán bộ từ cao xuống thấp trở nên giàu có, nhà cao cửa rộng, xe hơi hiệu này hiệu nọ, muốn gì cũng có. Họ bỗng thay đổi. Họ không trở thành tín đồ của các tôn giáo đâu. Thái độ của họ đối với các tôn giáo lớn như Công Giáo và Phật giáo vẫn đầy nghi kỵ. Họ chỉ trở thành những kẻ mê tín thôi. Trong nhà họ xuất hiện các bàn thờ đầy khói hương. Họ thờ gì? Thường là Phật và Thần Tài. Ngày lễ, họ lặn lội khắp nơi để cúng bái.” (Nguyễn Hưng Quốc, Tại sao người ta mê tín? Đối thoại on line 13/7/2010)
“Tại sao tôi cũng có lúc mê tín?” Thưa là bởi vì tôi cũng có lúc bất an. Đời sống chẳng lúc nào không có những “vọng động” bên ngoài. Mà tâm “an lạc” thì lại do tự bên trong. Nói theo chữ của nhà văn Vĩnh Hảo, nếu tâm tôi cứ “lăng xăng” theo những “con bò vàng” thì bất an là điều không sao tránh khỏi.
 Chu Thập, World Cup 2010







Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Lời Cám Ơn Muộn Màng


                                                                           

Theo một giai thoại, một hôm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bốc một lá số tử vi cho cái quạt ông dùng hàng ngày. Theo lá số, cái quạt này sẽ “tận số” vào ngày đó tháng đó. Đúng ngày, ông không làm gì cả, suốt ngày cứ ra vào xem chừng lá số tử vi của cái quạt sẽ ứng nghiệm như thế nào. Để cho chắc ăn, ông leo lên bộ ván ngựa, đặt cái quạt nằm sát bên người và dán chặt mắt vào nó. Bà vợ thấy chuyện “quái gở” nên bắt đầu tra gạn. Nhưng để “bảo mật”, ông dứt khoát không hé răng giải thích cho bà hiểu việc làm của ông. Đến một lúc không còn đủ kiên nhẫn, bà vợ túm lấy cái quạt và xé nát tan tành. Lúc bấy giờ, ông thày sấm mới thú nhận rằng số phận của cái quạt đã kết thúc đúng như lá số tử vi ông bốc cho nó.
Tôi thường nại đến giai thoại trên đây để hiểu “tử vi” theo cách thế của tôi. Với tôi, không có một định mệnh bất biến được sắp sẵn, mà chỉ có định mệnh do con người “làm ra”. Tôi luôn tâm đắc với câu nói: “Một hành động được lập lại trở thành một thói quen, một thói quen làm nên tư cách và một tư cách làm nên định mệnh.” Nghĩ như thế cho nên tôi không quan tâm đến tử vi và cũng chẳng màng đến các lời “sấm”.
Vậy mà, trong suốt mùa World Cup vừa qua, tôi cứ bị “ám ảnh” bởi hai vị “tiên tri”. Một là tiên tri Nostradamus của Pháp vào thế kỷ thứ 16. Nhiều người cho rằng hầu hết các tiên đoán của ông trong thế kỷ vừa qua đều đúng phóc. Riêng về World Cup 2010 này thì ngay từ lúc khai mạc, người ta đã diễn dịch một lời sấm của ông theo đó đội tuyển Tây Ban Nha sẽ vô địch thế giới.
Thật ra, với một đội tuyển vừa đoạt giải vô địch Âu châu cách đây hai năm, một lời sấm như thế chẳng gây nhiều ngạc nhiên lắm.
Chính vì thế mà giới cá độ thế giới lần này xem ra chú ý đến “ông thần Bạch Tuộc” Paul của Đức hơn. Thú vật có làm nhà “ngoại cảm” được chăng hay chỉ là chuyện trùng hợp ngẫu nhiên như trong trò đánh “chẵn lẻ”?  Cứ trước mỗi trận đấu có “sấm” của “ông thần bạch tuộc” này “bốc” là tôi thấy “rúng động”. Tôi cứ sợ điều “ông” đoán là đúng. Chính vì vậy mà lần nào tôi cũng đều “bắt” ngược lại với “sấm” của ông thần bạch tuộc. Hễ “ông” nói đội nào thắng thì tôi lại bắt đội khác. Chẳng hạn, trong trận chung kết, thần bạch tuộc tiên đoán đội Tây Ban Nha thắng thì tôi lại ủng hộ đội Hòa Lan.
Thật ra, sở dĩ tôi làm ngược lại như thế chẳng phải vì muốn “cải số” mà là vì tôi có “cảm tình” đặc biệt với những đội dưới cơ. Lúc nào cũng vậy, cứ thấy một đội tuyển dưới cơ bị tấn công là tôi ủng hộ đội đó. Tôi chỉ mong sao cho “ngựa về ngược”. Có lúc tôi tưởng mình cũng muốn khóc với những đội thua. Nhìn gương mặt thiểu não của các tuyển thủ cũng như những người ủng hộ họ, tôi thấy “cụt hứng”, chẳng muốn vui mừng chút nào ngay cả khi đội được tôi ủng hộ có chiến thắng.
Sau bất cứ cuộc thi đấu nào trong World Cup vừa qua, tôi cũng đều liên tưởng đến câu nói của cựu thủ tướng Anh Winston Churchill trong thời đệ nhị thế chiến: “Không gì buồn thảm bằng chiến thắng.” Chắc chắn, ông thủ tướng có lòng nhân ái này không thể nào cầm lòng được khi nhìn cảnh hoang tàn đổ nát hay xác người ngổn ngang trên chiến trường, dù thuộc phe nào. Làm sao có thể vui mừng được khi nhìn thấy cảnh tượng ấy.
Cuộc vui nào cũng qua đi. Lễ hội nào cũng có lúc phải kết thúc.World Cup đã bế mạc. Giờ đây, tôi thấy cần phải nhìn lại “chính mình” trong suốt một tháng “mất ăn mất ngủ” lăn lóc với trái banh trên màn hình vừa qua. Thi đấu không chỉ diễn ra trên sân cỏ. Trong tâm hồn của một khán giả như tôi cũng diễn ra một cuộc chiến đấu liên tục.
Thể thao không chỉ là một môn giải trí, mà còn là trường dạy nhân cách. Thể thao dạy cho tôi tinh thần thượng võ, đồng đội và liên đới. Thể thao cũng gợi lên trong tôi nhiều đức tính khác như sự cảm thông và ngay cả tha thứ nữa. Không gì cảm động bằng những cảnh như các cầu thủ ôm nhau, đổi áo cho nhau, kẻ thắng vỗ về người thua sau một trận đấu hay những cái bắt tay “làm hòa” sau khi có va chạm. Sẽ là một mất mát hay chiến bại đối với tôi, nếu sau mùa thể thao này, tôi không thấy mình lớn thêm một chút nào trong những “cử chỉ” đẹp ấy.
Nhưng trong những tình cảm thường xuất hiện trong tôi suốt mùa World Cup vừa qua, tôi nhận thấy điều cần trau dồi nhứt là lòng biết ơn. Tôi thấy mình cần phải biết ơn các cầu thủ.
Tôi phải cám ơn các cầu thủ vì họ là những người thường bị đối xử thiếu tôn trọng và “bạc bẽo” nhứt. Hãy thử nghe người Việt nam gọi tên các cầu thủ. Tôi chưa từng thấy có cầu thủ nào được gọi là “ông” cả. Tất cả đều là “thằng”. Thằng Pele, thằng Maradona, thằng Kaka, thằng Cristiano Ronaldo, thằng Klose, thằng David Villa, thằng Ramos, thằng Tim Cahill, thằng Robben, thằng Iniesta…Có khi họ chỉ còn là một con số như các tù nhân dưới thời Đức quốc xã như thằng số 9, thằng số 7, thằng số 10...Thắng trận thì được tung hô, nhưng nếu chẳng may thất trận, thì số phận của các cầu thủ thật bi đát. Bao nhiêu lời rủa sả độc ác đều có thể trút xuống trên đầu họ. Tôi thật đau lòng khi thấy các cầu thủ của hai đội tuyển Pháp và Ý phải trốn chui khi vừa ra khỏi phi trường. Tôi cảm thấy buồn tủi cho các cầu thủ Cameroon khi vừa ra khỏi phi trường đã được dàn chào bằng một biểu ngữ: “Các ông không yêu nước. Nhục cho các ông.”
Nhà văn Phan Lạc Phúc đã diễn tả đúng sự đối xử bạc bẽo và tàn nhẫn của khán giả dành cho các cầu thủ trong bài viết về “Nhà Báo Nói Huyền Vũ”. Nhà báo này đưa vợ đi xem một trận đấu giữa đội tuyển Thái Lan và đội tuyển Việt nam. Đây là lần đầu tiên bà Huyền Vũ vào sân Cộng Hòa để xem đá bóng, bởi vì trong trận đấu, con trai của bà là Quốc Bảo được vinh dự làm thủ môn của đội tuyển Việt nam. Chẳng may, trong trận đấu này, thành trì của đội Việt nam bị vây hãm tơi bời.
Ký giả Phan Lạc Phúc kể: “Một sự dồn nén nào đó đã thấy xuất hiện ra nơi khán giả với những tiếng ồn ào bất mãn khi thấy cầu thủ Miền Nam đá vụng về tan nát. Một trái sút xa của Thái lan từ 30m không có vẻ gì nguy hiểm. Trung vệ Cư không “cắt” để cho thủ môn Quốc Bảo bắt trái banh này. Nhưng không hiểu vì hốt hoảng trong một trận cầu quan trọng hay xúc động vì có những cặp mắt của những người thân yêu nhất đời anh đang theo dõi nên Quốc Bảo bắt “ói” trái banh này. Tiền đạo Thái Lan tràn đến, trung vệ Cư phải tackle hết mình mới đưa được trái banh ra khỏi đường biên cuối sân chịu phạt góc. Khi trái banh sắp được câu vào, trong cái yên lặng nặng nề của một cầu trường ẩn ức, Quốc Bảo bỗng trở thành đối tượng cho sự bất bình của khán giả. Một lời phê bình nặng nề đâu đó vang lên nơi khán đài bình dân: “Quốc Bảo về đi.” Ngay sau đó vài tiếng chửi thề đột ngột văng theo: “ĐM thằng Quốc Bảo.” Đó là phản ứng thường thấy nơi đám đông, độc ác một cách vô tình, a dua một cách vô ý thức. Tôi nhìn lên anh Huyền Vũ, anh là người quen thuộc với đám đông nên vẫn thấy anh bình tĩnh theo dõi trận đấu. Nhưng khi nhìn đến chị Huyền Vũ thì tôi thấy chị gục đầu, chiếc khăn bông che lấy mặt. Hình như chị không dám nhìn ai. Lần đầu tiên đến sân vận động định chia sẻ cùng chồng con một chút tiếng tăm, không ai ngờ chị lại phải chịu một sự mạ lỵ công khai nặng nề đến thế.” (Phan Lạc Phúc, Tuyển Tập Tạp Ghi, Văn Nghệ, 2002, trg 146-147)
Đúng như nhận xét của nhà văn Phan Lạc Phúc, khán giả thường “độc ác một cách vô tình, a dua một cách vô ý thức.” Riêng tôi, tôi cho rằng khán giả không chỉ độc ác và a dua, mà còn vô ơn nữa. Theo tôi, bất cứ đội tuyển và cầu thủ nào cũng đáng được vinh danh và biết ơn. Sức ép và kỳ vọng của cả một quốc gia đè nặng trên mỗi cầu thủ. Không có 31 đội tuyển tham gia thi đấu thì làm gì có một đội tuyển Tây Ban Nha vô địch. Không có 31 đội tuyển được đến Nam Phi thì làm gì mầu cờ sắc áo của nhiều nước được bay phất phới tại lục địa Phi Châu và bài quốc ca của những nước đó được vang dội trong cầu trường. Không có 32 đội tuyển thi đấu một cách tận tình “chết bỏ”, thì làm gì tôi và hàng tỉ khán giả trên khắp thế giới có được “niềm vui” trong suốt 31 ngày vừa qua.
Nghĩ như thế cho nên tôi thấy tự trong đáy lòng cần phải nói lên lời biết ơn đối với các đội tuyển và từng cầu thủ đã có mặt tại World Cup này. Chính họ đã khơi dậy nơi tôi sự biết ơn, tâm tình cơ bản nhứt mà nếu không có, tôi sợ mình không thể sống cho ra người.
Lễ hội “World Cup” đã qua, nhưng “di sản” còn lại của nó hẳn phải là lòng biết ơn và sự tôn trọng mà tôi thấy cần phải trau dồi hơn bao giờ hết. Hai tiếng “cám ơn” tưởng là một công thức sáo mòn, nhưng không có nó cuộc sống xã hội hẳn phải ngột ngạt khó thở. Có người Việt hải ngoại nào về Việt nam mà không nhận thấy rằng hai tiếng ấy đã hầu như trở nên quý hiếm trên cửa miệng và ngôn ngữ Việt nam hiện nay. Sự kiện ấy nói lên một cái gì còn sâu xa hơn là một công thức lịch sự, bởi vì nó phản ánh chính cái lỗ hổng đạo đức mà xã hội Việt nam đang bị nhận chìm vào. Vô thần thường cũng đi đôi với vô ơn. Trước kia, người Việt nam “ghi ơn” các chiến sĩ đã bỏ mình vì tổ quốc. Sau 1975, không có “ghi ơn”mà chỉ có “ghi công”. Một khi quan hệ giữa người với người chỉ còn được cân đo đong đếm bằng “công trạng”, thì dĩ nhiên những thành phần bị xem là “vô sản xuất” hay “khuyết tật” hay không còn “hữu ích” cho xã hội nữa, đương nhiên sẽ bị bạc đãi và khinh rẻ.
Chỉ có lòng biết ơn mới giúp cho con người biết nhận ra giá trị và “công trạng” của mọi người đang sống xung quanh mình. Lòng biết ơn sẽ mách bảo ta rằng dù có nghèo hèn đến đâu, bất cứ ai cũng có thể là “ân nhân” của ta. Lòng biết ơn lại càng mời gọi ta phải “thức tỉnh” để nhận ra những “ơn nghĩa” của những người gần gũi với ta nhứt.
Tôi đặc biệt nhớ lại bài học biết ơn vỡ lòng mà đức Gioan Phaolô đệ Nhứt, người chỉ lãnh đạo Giáo hội công giáo hoàn vũ trong đúng 33 ngày, đã để lại cùng với nụ cười không bao giờ tắt của ngài. Trong một cuộc gặp gỡ chung với khách hành hương, ngài kể lại câu chuyện với nội dung như sau: như mọi buổi sáng Chúa Nhựt, cha con của một gia đình nọ dắt nhau đi đá bóng. Người mẹ phải ở nhà làm đủ mọi việc. Đến trưa, người cha và các con về nhà; họ ngạc nhiên vô cùng vì trái với mọi khi, thay cho cơm bánh, họ chỉ thấy trên bàn ăn một đống rơm. Bụng đói, cha con người đàn ông bắt đầu càu nhàu trách móc người mẹ. Chờ cho những người đàn ông trút hết cơn giận, người mẹ mới ôn tồn nói: bao nhiêu năm tôi đã đầu tắt mặt tối hầu hạ các người, các người chưa hề nói một lời “cám ơn” với tôi. Vậy mà chỉ có một bữa tôi không dọn bữa, các người lại trách móc đủ điều.
Câu chuyện đơn sơ chỉ có thế. Nhưng vị giáo hoàng này muốn nhắc nhở các tín hữu về một bài học cơ bản nhứt trong Đạo, vốn cũng là đạo làm người. Bài học đó là lòng biết ơn đối với những người gần gũi và những người vô danh, xa lạ nhứt trong cuộc sống.
Tuy muộn màng, nhưng tôi cũng muốn nói “cám ơn” tất cả các cầu thủ và đội tuyển đã tham gia World Cup vừa qua. Họ không chỉ làm cho tôi “vui vài trống canh” trong những đêm thức trắng. Họ còn gợi lên cho tôi tâm tình biết ơn, để sau mùa World Cup này, tôi cũng thấy mình đạt được một chiến thắng vì thấy mình lớn thêm một chút trong nhân cách. Và cũng nhờ sự biết ơn này, tôi tin rằng, các cầu thủ của tất cả các mùa World Cup đã “đi qua đời tôi” sẽ không bao giờ bị quên lãng. Dù họ không bao giờ biết tôi là ai, nhưng tôi vẫn hân hạnh dành một chỗ trong tâm hồn tôi cho họ.
 Chu Thập, World Cup 2010








                                           

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Nỗi đau của người này, niềm vui của người kia



                                                                                 

Trước trận thi đấu nào của World Cup, tôi cũng đều đưa ra một dự đoán và hầu như dự đoán nào của tôi cũng đều sai. Chỉ có hai lần, tôi dự đoán gần đúng: một là trận Brasil-Bắc Hàn và hai là trận Đức-Úc ở vòng 1. Thật ra ai cũng đoán được đội hùng mạnh nhứt là Brasil sẽ thắng Bắc Hàn và Đức sẽ thắng Úc một cách dễ dàng. Nhưng tỷ số do tôi dự đoán quá sai biệt: tôi cứ tưởng Brasil sẽ “đè bẹp” Bắc Hàn và Úc không đến nỗi bị hạ với một tỷ số 4-0 “thê thảm” như thế. May mà tôi không đánh cá, nếu không thì chính tôi cũng “thua đậm”.
Quả thật, không ai có thể làm tiên tri một cách chính xác trong bóng đá. Hơn bất cứ lãnh vực nào, bóng đá là nơi mà không ai “học được chữ ngờ”. Có ai ngờ một đội “bí mật” và bị xếp hạng thấp nhứt như Bắc Hàn lại có thể cầm cự một cách vẻ vang trước người hùng Brasil. Có ai ngờ Đức lại bị một đội bị xem thường như Serbia hạ gục một cách thê thảm. Và có lẽ cũng chẳng ai ngờ con bò tót Tây Ban Nha lại bỏ chạy trước con chim bồ câu Thụy Sĩ. Chắc chắn từ đây cho đến hết mùa World Cup 2010 này, thế giới sẽ chứng kiến không biết bao nhiêu bất ngờ còn ngoạn mục hơn.
Thật ra, đó cũng là luật “thường hằng” của cuộc sống. Thắng thua, được mất là chuyện thường tình. Người Việt nam có lẽ dựa vào cái lẽ thường hằng ấy để tự an ủi: không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời. Lịch sử nhân loại là một chuỗi những thăng trầm: bao nhiêu đế quốc có hùng mạnh đến đâu rồi cũng sụp đổ. Hãy thử nhìn lại lịch sử của đế quốc La mã. Augustus Octavus Cesar sinh năm 63 trước công nguyên và băng hà năm 14 sau công nguyên, là người đã thiết lập một đế quốc được xem là cực thịnh và hùng mạnh nhứt trong lịch sử nhân loại. Nhưng thăng trầm là luật bất biến của lịch sử. Vào thế kỷ thứ tư, đế quốc này bắt đầu chia năm xẻ bảy. Ai có thế lực binh quyền, người đó tự xưng là hoàng đế. Một trong những vị tướng lãnh nổi tiếng vào thời đó là Maxenxius. Ông đã trấn áp các tướng lãnh khác và lên ngôi hoàng đế. Loạn lạc nổi tên tứ bề. Constantinus, một tướng lãnh khác không hàng phục, đã đứng lên tranh giành ráo riết với Maxenxius. Hai bên dàn quân đấu mặt nhau dưới chiến lũy thành La mã. Đêm trước khi giao tranh, Constantinus nằm mơ thấy một lá cờ có hình thánh giá với hàng chữ bằng tiếng La tinh “In hoc signo vinces” (cứ dấu này mà ngươi sẽ chiến thắng). Sáng ra, ông cho quân đội may lá cờ có hình thánh giá và viết hàng chữ ông thấy trong giấc mơ. Như một phép lạ, Constantinus đã chiến thắng một cách dễ dàng. Tin ở sức mạnh của biểu tượng Kitô giáo đã từng bị đế quốc triệt hạ, sau khi lên làm hoàng đế, Constantinus đã ban hành sắc chỉ ngưng bách hại Kitô giáo. Mười năm sau, ông chính thức gia nhập Kitô giáo và nhường thủ đô La mã của mình cho vị thủ lãnh của Giáo hội làm giáo đô. Về phần mình, ông cho dời thủ đô của đế quốc sang Hy lạp, cho xây dựng một thủ đô mới tại thành Byzance và lấy tên là Constantinople, nghĩa là thành phố của hoàng đế Constantinus. Nhưng năm 1453, quốc vương hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ Mahomet II đã tấn công chiếm được thành Constantinople và từ đó đổi tên thành Istanbul cho đến ngày nay.
Lịch sử của đế quốc hùng mạnh nhứt trong lịch sử nhân loại quả là lịch sử của một chuỗi những bất ngờ. Có ai ngờ một người dân chài vô danh miền Galilea, Palestine tên là Phêrô đã chịu chết treo trên thập giá tại thủ đô của đế quốc La mã để rồi cuối cùng chinh phục được toàn đế quốc ấy. Có ai ngờ một đế quốc lẫy lừng như La mã cuối cùng đã sụp đổ, biến mất khỏi bản đồ thế giới và chỉ để lại những vết tích hoang tàn đổ nát.
Cách đây 20 năm, có lẽ thế giới cũng không ngờ rằng cái khối cộng sản Đông Âu và đế quốc đỏ Liên Xô tưởng là “muôn năm” ấy cũng sụp đổ như những con cờ Domino.
Bà Huyện Thanh Quan, khi đứng trước di tích hoang phế của thành Cổ Loa, đã phải thốt lên: “Nghìn năm gương cũ soi kim cổ. Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.” Suy ngẫm về cuộc đời dâu bể, bể dâu, làm sao không khỏi thốt lên: “Nào ai học được chữ ngờ.” ( x.Táo Lé, Chuyện Đời, Dân Chúa Âu Châu 2002, trg 338-339)
Sân cỏ hẳn là nơi để kiểm nghiệm cái luật “dâu bể” ấy của cuộc đời. Không ai đoán trước được kết quả của những trận đấu và nhứt là ai cũng biết rằng thắng thua là chuyện đương nhiên phải xảy ra trong các trận thi đấu. Làm gì thì làm, cuối cùng cũng chỉ còn lại một đội vô địch. Lần lượt trong 31 ngày thi đấu, sớm hay muộn, lúc nào cũng có những đội sẽ rời Nam Phi để xách gói lên đường “hồi hương” với hai bàn tay trắng. Đã biết cái định luật chơi “tàn nhẫn” ấy, vậy mà vẫn có những phản ứng trông buồn cười.
Trong bất cứ trận thi đấu nào, tôi không chỉ theo dõi và tán thưởng những pha gây cấn và ngoạn mục trên sân cỏ, mà cũng để tâm quan sát phản ứng của khán giả. Các ống kính truyền hình thường “thu tóm” được những khoảnh khắc “lịch sử” rất đáng nghiền ngẫm. Ở đây là những tiếng hò hét reo mừng long trời lỡ đất. Đằng kia là những bộ mặt tiu nghỉu tưởng như có người thân qua đời. Tương phản nhứt là bộ mặt của các huấn luyện viên: một bên là nụ cười tự hào đắc thắng, một bên là bộ mặt đưa đám ma rầu rĩ.
Nhìn cái cảnh kẻ khóc người cười ấy, tôi lại nghĩ đến câu nói quen thuộc: “Nỗi đau của người này là niềm vui của người khác.” Trước hết, chúng ta có thể nghĩ đến cái đau xé ruột gan khi vượt cạn một mình của người mẹ và tiếng khóc chào đời của thơ nhi. Nỗi đau và tiếng khóc ấy lại mang đến những tiếng cười chào đón vỡ lở của người thân.
Chúng ta cũng có thể nghĩ đến bao nhiêu âm thầm đau khổ của cha mẹ cho con cái, của những người ngày đêm xả thân hy sinh vì người khác.
Nhưng bên cạnh những tiếng cười trổ sinh từ hy sinh cao cả ấy, có biết bao nhiêu nụ cười chỉ nở rộ trên sự đau khổ của người khác. Từ những tiếng cười man rợ của một bạo chúa Nero khi ra lệnh thiêu đốt thành La Mã để có cớ bách hại các tín hữu Kitô tiên khởi, từ những mãn nguyện độc ác của một Tần Thủy Hoàng khi đốt sách chôn học trò cho đến những  vũ điệu ma quái của những đồ tể như Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot và tất cả những lãnh tụ cộng sản khi sát tế hằng trăm triệu người vô tội trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa…trong lịch sử nhân loại, đã và mãi mãi vẫn có những con diều hâu chỉ biết truy hoan trên xác chết của người đồng loại.
Thật ra, những con diều hâu bay lượn trên xác chết ấy không đơn độc một mình. Các bạo chúa cười cợt trên cái chết của người đồng loại hẳn không hành động một mình. Hitler làm gì có đến ba đầu sáu tay để có thể sát hại đến 6 triệu người Do thái và gây ra bao nhiêu đau thương tang tóc cho cả thế giới. Bên cạnh ông, không chỉ có những tướng lãnh ngày đêm răm rắp tuân hành mệnh lệnh, mà còn có cả những anh giáo làng, những ông hàng thịt, những người nông dân chất phác…bỗng một buổi sáng nào đó cũng đứng lên hô hào đi săn lùng những người láng giềng của mình. Bên cạnh những Stalin, những Mao Trạch Đông, những Polpot hay những Hồ Chí Minh cũng có cả một bây diều hâu con nhào vô ăn có trên cái mâm cỗ “máu đổ thịt rơi” của người đồng loại.
Xét cho cùng, trong thâm cung sâu thẳm của cõi lòng, dường như ai cũng có thể cười trên nước mắt, nỗi đau của người đồng loại. Đừng nói đến những con người mà ông tổ của chủ nghĩa Marxit đã xếp vào hàng “súc vật quay mặt làm ngơ trước nỗi khổ đau của người đồng loại để chỉ biết chăm sóc cho bộ da của mình”, trong mỗi người chúng ta vẫn luôn tồn tại cái khuynh hướng muốn lấy tiếng khóc và nỗi đau của người khác làm niềm vui và hạnh phúc của mình. Chỉ cần một chút hồi tâm và thành tâm, có lẽ ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra con người “thật” của mình. Đó là con người chỉ cảm thấy hạnh phúc không phải vì giàu có mà vì giàu có hơn người khác, không phải vì có cái nhà, mà vì có cái nhà rộng lớn, đẹp đẽ và sang trọng hơn người khác, không phải vì có một cái xe để làm phương tiện di chuyển, mà vì có một cái xe đắt tiền hơn cái xe của người hàng xóm, không phải vì có một mảnh bằng, mà vì có một học vị cao hơn người khác, ngay cả  không phải vì một cái áo để “ăn chắc mặc bền”, mà chỉ vì cái hiệu nổi tiếng mà người khác không có…Tựu trung,  xem ra niềm hạnh phúc của chúng ta thường tỷ lệ thuận với sự thua kém hay  bất hạnh của người khác.
Ai cũng muốn sống hạnh phúc. Ai cũng đi tìm hạnh phúc. Nhưng thế nào là “hạnh phúc”?  Bàn đến vấn đề “hạnh phúc”, nhà văn Lâm Ngữ Đường của Trung Hoa luận như sau: “Trên thế giới này, hạnh phúc rất thường có tính tiêu cực: không đau khổ, không bị sỉ nhục, khổ hạnh, không có bệnh tật. Nhưng nhiều khi nó tích cực và lúc đó ta gọi nó là hoan lạc. Chẳng hạn, đối với tôi, những lúc như vầy là những lúc thật sung sướng: ngủ một đêm thẳng giấc, sáng dậy hít không khí đầy phổi và muốn hít vô cho thật sâu; lúc đó tôi cảm thấy nhẹ nhàng, như có cái gì lưu thông ở ngoài da và bắp thịt nơi ngực và tôi khoan khoái muốn làm việc; hoặc chân gác lên một chiếc ghế, thuốc cháy từ từ trong ống điếu; hoặc một ngày hè đi chơi, khát khô cả cổ, bỗng gặp một dòng suối trong mà chỉ nghe tiếng nước róc rách cũng đủ thấy khoái rồi, chạy lại, cởi giày ra, dầm chân trong dòng nước mát, thú tuyệt; hoặc sau một bữa ăn thật ngon, tôi ngả mình trong chiếc ghế bành, chung quanh không có một người nào mà tôi ghét cả, cùng nhau mạn đàm bâng quơ, vô mục đích.” (Lâm Ngữ Đường, Một Quan Niệm về Sống Đẹp, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, trg 117-118)
Trên đây là một trong rất nhiều quan niệm khác nhau về hạnh phúc. Riêng tôi, là một tín hữu Kitô, tôi luôn cố gắng sống theo giáo huấn của Chúa Giêsu về hạnh phúc. Dường như trong bài giảng đầu tiên của Ngài, Chúa Giêsu đã đưa ra một bí quyết về hạnh phúc. Ngài nói: Phúc cho những người nghèo khó, phúc cho những người hiền lành, phúc cho những người xây dựng hòa bình, phúc cho những người bị bách hại vì công lý v.v…Dường như bí quyết sống hạnh phúc nào cuối cùng cũng đều gắn liền với quan hệ với người khác. Xét cho cùng, không thể có hạnh phúc thực sự nếu chối bỏ quan hệ với người khác. Cái bí quyết sống hạnh phúc ấy cuối cùng được Chúa Giesu tóm gọn trong khuôn vàng thước ngọc là “Cho thì hạnh phúc hơn nhận lãnh”.
Ngạn ngữ Latinh có nói: “Không ai cho cái mình không có.” Cần phải “có” mới có thể “cho”. Nhưng tiền bạc, của cải vật chất không phải là điều duy nhứt chúng ta “có”. Nếu không có ai giàu có đến độ không có gì để lãnh nhận từ người khác và cũng không ai nghèo đến độ không có gì để trao tặng, thì quả thật ai trong chúng ta cũng có nhiều kho tàng để chia sẻ cho người khác. Không cứ phải có của cải vật chất mới có thể trao tặng. Chúng ta có vô số điều quý giá hơn của cải vật chất. Chúng ta có thể trao ban một nụ cười. Chúng ta có thể trao tặng một chút thời gian hay một chút không gian. Chúng ta có thể chia sẻ một cử chỉ khích lệ, một sự hiện diện, một lời nói ủi an. Chúng ta có thể san sớt một gánh nặng…Bao nhiêu quan tâm đến người khác là bấy nhiêu món quà dành cho họ. Thánh Phaolô, một trong những nhà tư tưởng đầu tiên của Kitô giáo, đã gói trọn cái bí quyết sống hạnh phúc ấy trong công thức: “vui với người vui, khóc với kẻ khóc.”
Là người xem nước Úc là quê hương thứ hai, tôi chia sẻ và thấu hiểu tâm tình của người Úc khi chứng kiến đội Socceroo bị “tàn sát”. Mỗi giây phút còn lại của trận đấu sau trái thứ tư lọt lưới đối với tôi chẳng khác gì những giây phút phải chứng kiến người thân của mình bị…tra tấn sống mà trói tay không làm gì được. Tôi cũng hiểu và thông cảm tâm trạng của người dân Nam Phi chán nản bỏ ra về trước tiếng còi kết thúc khi đội nhà bị “cùng chung cảnh ngộ” trong trận Nam Phi-Uruguay. Dù biết Socceroo không thể nào thay đổi thế trận, nhưng tôi vẫn muốn theo dõi đến phút chót. Bởi tôi tin rằng, “chia vui” thì không bao giờ tốt hơn “xẻ buồn”. Đó cũng chỉ là một sự khích lệ quá nhỏ giữa người với người mà tôi có thể thực hiện được trong mùa World Cup 2010 này với những đội banh “dưới cơ” vậy.

 Chu Thập, World Cup 2010







Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

Thần Thánh Cũng Phải Điên Cái Đầu…



                                                                            

Tôi nhớ hồi thập niên 1980 có xem bộ phim với tựa đề “The Gods Must Be Crazy” (thần thánh hẳn phải điên). Bộ phim ba tập này kể lại các cuộc phiêu lưu của một người Phi Châu thuộc một bộ lạc mà đời sống còn rất bán khai. Nhân vật chính của bộ phim tên là Xi. Xi và bộ lạc của anh sống rất hạnh phúc trong vùng sa mạc Kalahari. Họ sống hạnh phúc vì thần thánh lúc nào cũng cung cấp cho họ mọi sự; không một người nào trong bộ lạc cảm thấy thiếu thốn bất cứ thứ gì. Thế rồi, một ngày nọ, không rõ từ một chiếc máy bay nào đó, một chai Coca Cola lại rơi xuống còn nguyên vẹn trước mặt họ. Lúc đầu, người dân bộ lạc tưởng cái vật lạ lùng này là một quà tặng của thần thánh. Họ xử dụng nó vào đủ thứ việc. Cái chai cứ chuyền tay từ người này sang người khác. Sự kiện làm nẩy sinh một hiện tượng chưa từng có trước đó bao giờ: người ta bắt đầu đặt vấn đề về “quyền sở hữu”. Thế là người dân bộ lạc lại cảm nghiệm những điều mà họ chưa từng có bao giờ như ganh tỵ, tham lam, giận dữ, hận thù và dĩ nhiên bạo động.
Vì cái chai Coca Cola này là nguyên nhân gây ra bất ổn và bất hạnh cho người dân bộ lạc cho nên Xi cho nó là một thứ “đồ hung của dữ” và quyết định mang nó đến tận cùng trái đất cho khuất mắt. Và đó là khởi đầu của các cuộc mạo hiểm của anh tại nhiều nơi trên thế giới.
Lần đầu tiên được ra khỏi thế giới nhỏ bé của mình, dĩ nhiên Xi thấy cái gì cũng lạ: anh tưởng những người da trắng cao lớn là thần thánh. Sang cuốn phim thứ hai thì mắt anh cũng mở ra và anh kể lại cho con cái rằng những người da trắng to lớn, “nặng nề” biết một số ma thuật có thể làm cho mọi sự di chuyển. Tuy nhiên, họ không “thông minh” lắm vì họ không thể sống nếu không có ma thuật.
Không biết người làm phim có ý nhắn gởi sứ điệp nào cho chính người dân Phi Châu hiện nay không, nhưng theo dõi World Cup, tôi thấy ma thuật vẫn còn rất thịnh hành tại lục địa này.
Đạo nào cũng có thần thánh. Đạo “World Cup”, cách riêng, tại Phi Châu có nhiều thần thánh hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Có thần thánh cho nên dĩ nhiên phải có phù thủy để có thể tiếp xúc và “lèo lái” được thần thánh. Chính vì thế mà hơn bất cứ lúc nào, mùa World Cup là thời gian các phù thủy ăn nên làm ra nhứt. Ngay từ lúc mùa thi đấu chưa diễn ra thì các “vị tiên tri” này đã biết đội bóng nào sẽ vô địch rồi!  Không những tiên đoán kết quả, các thày phù thủy còn tung ra hết các thành công lực để trù yếm. Người ta bảo rằng đội tuyển Anh không thể “đè bẹp” được đội Algerie, vì một số thày phủ thủy Phi Châu đã ủng hộ đội tuyển này. Người Phi Châu còn nói rằng các thày phủ thủy Phi Châu đã dùng pháp thuật biến những con chim bồ câu nhỏ thành vật chắn chân các tuyển thủ Anh và giữ cho khung thành của Algerie không bị thủng lưới. Một bà phù thủy tên là Olga Mokewena còn khẳng định rằng bà đã nhìn thấy một con bồ câu xuất hiện vào buổi tối, thời điểm mà lẽ ra nó phải ngủ như những con bồ câu khác. Chính con chim không chịu đi ngủ này đã bảo vệ khung thành Algerie.
Người ta cũng giải thích rằng chính nhờ lá bùa của các thày phù thủy mà đội Nam Phi đã thắng đội Pháp ở vòng 1. Có lẽ ma thuật đã “tác động” thực sự trên các cầu thủ Pháp, cho nên một cầu thủ của đội tuyển Pháp đã bị trọng tài rút thể đỏ đuổi ra sân một cách rất vô lý và cuối cùng, những con gà trống “Gaulois” đành rút đầu xếp cánh về nước.
Nhưng không biết có phải vì các thày phù thủy Phi Châu “bắt ấn” không đủ “chặt” chăng mà cuối cùng chỉ còn lại một đội Phi Châu là Ghana lọt được vào vòng tứ kết. Tuy nhiên, sau trận thư hùng với Uruguay sáng thứ Bảy 3 tháng 7 vừa qua, mặc dù “trên cơ”, cuối cùng đội này cũng đành phải cuốn gói ra về.
Có lẽ “thần thánh” của người Phi Châu không mạnh bằng “Đức Chúa Trời” của dân Châu Mỹ Latinh chăng mà chẳng còn đội tuyển nào của Phi Châu được lọt vào vòng bán kết. Tuy không có thày phù thủy nào tháp tùng và bắt ấn ủng hộ, nhưng hầu hết các tuyển thủ Nam Mỹ đều biết tự mình “cầu nguyện”. Hình ảnh của nhiều tuyển thủ của lục địa này làm dấu thánh giá liên tục trên sân cỏ là chuyện quá quen thuộc.
Riêng lòng “mộ đạo” của huấn luyện viên Diego Maradona của đội tuyển Argentina là điều không thể chối cãi. Ông đã từng là thần tượng bóng đá của rất nhiều người. Ngay từ năm 1980, ông đã ký giao kèo 5 triệu Mỹ kim để sang Tây Ban Nha đá cho đội Barcelona. Nhưng tên tuổi và sự thành công của ông được nói đến nhiều nhứt trong các cuộc tranh tài World Cup tại Mehico hồi năm 1986. Cả thế giới vẫn nhớ mãi bàn thắng đầu tiên của ông trong trận bán kết giữa Argentina và Anh: Maradona đã nhảy lên đội đầu, nhưng lại dùng tay để đánh quả banh khéo léo đến độ qua mắt được trọng tài. Sau này, Maradona giải thích rằng anh ghi được bàn thắng ấy một phần nhỏ “nhờ cái đầu của anh và phần còn lại là do bàn tay của Chúa”!
Không biết có phải nhờ “bàn tay của Chúa” ấy không mà dưới sự dẫn dắt của ông, đội Argentina được xem là một trong những ứng viên sáng giá nhứt tại World Cup này. Không có thày phù thủy bên cạnh, nhưng trên tay ông lúc nào cũng có một tràng chuỗi. Phải chăng đây là “bùa mộ mạng” đã mang lại thành công cho ông và đội tuyển Argentina trong suốt những ngày thi đấu vừa qua tại World Cup? Tuy nhiên, dường như cái “bùa hộ mạng” ấy cũng không đủ mạnh cho nên trong trận tứ kết sáng Chúa nhựt 4 tháng 7, Argentina đã bị Đức đè bẹp không chút xót thương với tỷ số 4-0.
Cũng tội cho đội tuyển Brasil. Có lẽ chẳng có ai “sùng đạo” cho bằng các tuyển thủ của nước này. Nhưng xem chừng lời “bầu cử” của ông thánh da đen Martino Porres, vị thánh rất được sùng kính tại Brasil, không công hiệu mấy cho nên đội này đành chấp nhận “cúi đầu” trước đội Hòa Lan trong trận tứ kết.
Tôi không biết trong mùa World Cup này, trên thiên triều có diễn ra trận thư hùng nào giữa các thần linh của lụa địa Phi Châu và các thánh, Đức Mẹ và Đức Chúa Trời của Châu Mỹ Latinh không. Rõ ràng là ai cũng tin tưởng chạy đến với thần thánh của mình. Nhưng cũng rất rõ ràng là dù tất cả các đội tuyển  có thành khẩn cách mấy, cuối cùng chỉ còn lại một đội vô địch mà thôi. Tưởng tượng Đức Chúa Trời và các thần thánh phải bị “lôi kéo” vào các cuộc thi đấu, tôi nghĩ các vị hẳn cũng phải “ điên cái đầu”.
Một Đức Chúa Trời mà bị lôi kéo vào cái vòng “hỉ nộ ái ố” của con người thì cũng phải “hành động” như cách suy nghĩ của con người thôi. Trong khi Đức Chúa Trời của người Do Thái đã chọn dân Do Thái làm “Dân Riêng” của Ngài cho nên cái đêm trước khi họ được ông Môisen lãnh đạo trốn ra khỏi Ai Cập, Ngài đã sai một vị thiên sứ đi “qua” nhà của người Ai cập và tàn sát tất cả những đứa con trai đầu lòng của họ. Vì đã ban “Đất Hứa” cho họ cho nên trên đường tiến về vùng đất ấy, Ngài cho họ được quyền tàn sát bất cứ dân tộc nào.
Mặt khác, người Hồi giáo lại tin “Ông Chúa” của họ chọn ông Mahomet làm vị tiên tri cuối cùng của Ngài và chỉ có Hồi giáo là đạo duy nhứt chân thật, cho nên tất cả những ai ở ngoài đạo này đều bị xem là “những kẻ bất trung” hoặc cưỡng bách phải “cải đạo” hoặc phải bị tiêu diệt. “Ông Chúa” này lại còn hứa thưởng cho đàn ông một thiên đàng trong đó mỗi người được cưới đến 72 trinh nữ, cho nên không thiếu những người sẵn sàng ôm bom tự sát để tiêu diệt quân thù hầu được vào thiên đàng ấy.
Trong dòng lịch sử của Kitô giáo cũng thế, Đức Chúa Trời cứ phải đứng về phía các tín hữu Kitô cho nên chỉ có Kitô giáo mới có Chân lý. Và để áp đặt cái chân lý ấy, người ta đã mở ra các cuộc thập tự viễn chinh để tiêu diệt quân “ngoại đạo” hoặc lập ra Tòa Điều Tra để thiêu sống những kẻ “lạc giáo”. Hoặc nếu không tàn ác như thế thì khi đi truyền đạo, người ta cũng tự nhận mình đã lãnh nhận sứ mệnh từ Đức Chúa Trời để xóa bỏ mọi truyền thống tốt đẹp của các dân ngoại đạo.
Tội nghiệp thay cho Đức Chúa Trời, cứ bị lôi kéo theo suy nghĩ và niềm tin của con người, cho nên mới buộc phải tham gia vào những điều “ác đức” như thế!
Có khi người ta không ngại cầu xin những điều đi ngược lại với đạo đức mà chính tôn giáo họ đang theo dạy dỗ. Tôi có nghe kể: trước năm 1954, ở một làng Công giáo nào đó ngoài Bắc, một số dân thuyền chài cũng là những tên cướp chính hiệu. Họ không chỉ đi đánh cá, mà còn sống bằng nghề “cướp bể” và xem đó như một nghề chính đáng. Trước khi ra khơi, họ thường đến khấn: “Lạy Đức Bà, xin cho con đánh được chuyến này, thì con xin “râng” (dâng) Đức Bà thùng “rầu” (dầu để đốt đèn trong nhà thờ). Cũng tội nghiệp cho Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, nếu chẳng may tên cướp thành công thì Đức Mẹ lại mang tiếng đã nhậm lời cầu xin! Nhiều phần trăm câu chuyện này không mang tính trung thực nhưng nó nói lên cái tính “đòi hỏi” những chuyện hết sức “oái oăm” của con người.
Trong các thánh lễ của người công giáo, thỉnh thoảng tôi có nghe linh mục đọc các ý lễ “xin được như ý”, tức theo ước nguyện riêng của người xin. Tôi vẫn cứ thắc mắc hoài về điều xin được “như ý” ấy. Không biết Đức Chúa Trời có đáp ứng mọi lời cầu xin “như ý” không. Có khi “như ý” tôi mà lại “trái ý” người khác. Ngày mai, tôi muốn đi biển chơi hay tham gia một cuộc hành hương, dĩ nhiên “như ý” của tôi là phải có nắng ráo. Thế nhưng gần bên chỗ tôi đi chơi hay hành hương thì lại có mấy ông nông gia cũng ngày đêm xin được “như ý” là trời mưa xuống để cứu vãn mấy thuở đất khô cằn và mấy con trừu ốm đói từ bao năm qua. Chắc Đức Chúa Trời phải “điên đầu” vì vô số những “như ý” như thế!
Thần thánh không chỉ điên đầu với những người tín đồ của các tôn giáo mà ngay cả với những người tự xưng là vô thần. Chẳng hạn như ở Việt nam hiện nay, những người Cộng sản luôn tự xưng là vô thần lại là những người “đút lót” cho thần thánh nhiều nhứt. Báo Người Việt Online, 8/10/2004, viết: “Gần đây, ở miền Bắc Việt Nam, cả ở thành thị lẫn vùng nông thôn xuất hiện rất nhiều những ngôi nhà có kiến trúc kiểu đền phủ, điện thờ. Ở những nơi này người ta cầu cúng, hương khói nghi ngút, nến cháy đỏ ngày, đôi khi có cả hát chầu văn, hầu đồng bóng...” Theo bài báo, nếu số “đền phủ tại gia” lên đến con số nghìn vào năm 2004 thì chúng ta cũng có thể ước lượng “đội ngũ” những cô đồng cậu bóng, thày cúng hay nhà “ngoại cảm” nhiều cỡ nào. Bài báo kết luận: “Không biết các “cô” đã “xin” được lộc cho những ai nhưng chỉ thấy các “cô” càng ngày càng phất lên. Như cô Sảnh, từ một gia đình làm nông nghiệp nghèo kiết xác bỗng chốc xây được nhà ba tầng khang trang đầy đủ tiện nghi, sắm được cả một chiếc ôtô du lịch, sống ở vùng thôn quê đã có điện thoại bàn nhưng “cô” còn xài cả điện thoại di động xịn...”
Là một tín hữu Kitô cho nên tôi chỉ biết có mỗi một Đức Chúa Trời mà Chúa Giêsu đã nói cho tôi biết. Ngài nói rằng Đức Chúa Trời là Đấng cho mặt trời mọc lên trên người lương thiện cũng như kẻ gian ác chẳng chừa ai. Ngài nói rằng tất cả mọi người là con cái của Đức Chúa Trời chứ không chỉ có một dân tộc được tuyển chọn nào cả. Ngài cũng nói rằng Đức Chúa Trời quan phòng lo lắng cho mọi nhu cầu của từng người đến độ ngay cả có bao nhiêu sợi tóc trên đầu cũng được đếm cả. Suốt một đời, Chúa Giêsu sống theo Ý của Đức Chúa Trời, chứ không theo “như ý” mình. Và nhứt là, khi dạy các môn đệ cầu nguyện, Ngài bảo phải xin: “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.
Thời nội chiến Nam Bắc Mỹ, khi thấy ông cầu nguyện, người ta hỏi tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ George Washington cầu nguyện cho ai, ông trả lời rằng ông cầu nguyện để được “đứng về phía Thiên Chúa”.
Tôi cũng chỉ mong sao được luôn luôn “đứng về phía Thiên Chúa” vì biết rằng đời sống là một cuộc chiến trong đó, dù thắng hay thua, dù được hay mất, dù hạnh phúc hay khốn khổ, dù thành công hay thất bại và ngay cả khi tôi có “lầm đường lạc lối”…lúc nào cũng có một Đức Chúa Trời đã, đang và sẽ không ngừng ban mọi điều thiện hảo cho tôi, dìu dắt và hướng dẫn tôi, dĩ nhiên, một cách vô cùng mầu nhiệm theo Ý Ngài.

 Chu Thập, World Cup 2010

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

“Thắng Người nhờ Sức Mạnh, Thắng Mình do Dũng Khí”



                                                                                 

Cái cảnh thắng thua, khóc cười trong World Cup thường gợi lại cho tôi một vài câu ngạn ngữ Latinh mà tôi đã học được ở bậc trung học.
Năm 387 trước công nguyên, dưới sự lãnh đạo của tướng Brennus, một đạo binh Gaulois, tức tổ tiên của người Pháp hiện nay, đã tấn công thành La mã. Họ bao vây “Collis Capitolinus” là một trong 7 ngọn đồi chính của thành La Mã. Vì không muốn mất ngọn đồi huyết mạch của thành phố, cho nên người La mã đã xin được thương lượng và chịu đóng một số tiền chuộc để quân Gaulois trả lại ngọn đồi này. Tướng Brennus đòi một nghìn lạng vàng và người La mã đồng ý nộp đúng số vàng ấy.
Ghi lại biến cố này, Livius, một sử gia La mã vào thế kỷ thứ nhứt sau công nguyên, thuật lại rằng người Gaulois đã dùng một thứ đơn vị đo lường riêng của họ để cân số vàng mà người La mã phải giao nộp. Nhưng nhận thấy cái cân của người Gaulois không chính xác, người La mã mới lên tiếng than phiền với tướng Brennus. Ông tướng này liền rút gươm ném lên chiếc cân và tuyên bố “Vae victis!” (Khốn thay cho kẻ thua trận!) Rồi ông nói với họ rằng “đã thua rồi” thì chẳng còn bất cứ một thứ quyền nào nữa, kể cả quyền được khiếu nại. Không những thế, ông còn ra lệnh cho người La mã phải nộp nhiều hơn số vàng đã được ấn định.
Không chừng dựa vào giai thoại trên đây mà thi sĩ La Fontaine của Pháp đã sáng tác bài thơ ngụ ngôn “Con Chó Sói và Con Chiên” để rồi kết luận: “La raison du plus fort est toujours la meilleure!” (Lý của kẻ mạnh luôn thắng thế!)
Thật ra có phải lý của kẻ mạnh lúc nào cũng thắng thế không?
Vào thế kỷ thứ nhứt trước công nguyên, trước khi thành lập đế quốc La mã và tự xưng hoàng đế, Julius Caesar đã phải loại bỏ những đối thủ sừng sỏ nhứt. Ngoài tướng Antonius Marcus mà chúng ta biết nhiều qua cuốn phim nổi tiếng “Cleopatra” do Elizabeth Taylor và Richard Burton thủ diễn, Caesar còn phải chống cự với một tướng tài ba khác tên là Gnaeus Pompeius. Năm 48 trước công nguyên, Pompeius đã bị Caesar đánh bại trong trận Pharsalus. Ông đã trốn chạy sang Ai cập và bị mưu sát tại đó.
Vào thế kỷ thứ nhứt sau công nguyên, dưới thời hoàng đế Nero, thi sĩ Lucanus đã ghi lại trận đánh này trong thiên anh hùng ca có tựa đề là “Pharsalia”. Được trích dẫn nhiều nhứt từ thiên anh hùng ca này là câu “Victrix causa deis placuit, sed victa Catoni.” (xin tạm dịch:  “chiến thắng thì làm vui lòng các thần minh, nhưng bại trận thì lại làm vui lòng Cato). Cato là một chính trị gia và tướng lãnh rất thanh liêm được nhiều người mộ mến. Ông đứng về phía Pompeius cho nên không chấp nhận chiến thắng của Caesar và sẵn sàng mất tất cả hơn là đánh đổi sự thanh liêm chính trực của mình.
Để cho dễ hiểu, có lẽ nên mượn câu nói của danh tướng thời nhà Trần vào thế kỷ thứ 13 là Trần Bình Trọng để diễn nghĩa câu nói trên đây: “Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.”
Đây là một trong những câu nói nổi tiếng nhứt trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt nam. Danh ngôn này không những nói lên tinh thần ái quốc, mà còn là một bài học về những đức tính cao quý nhứt trong nhân cách con người là lòng tự trọng và danh dự.
Thua trong danh dự là một chiến thắng vẻ vang nhứt. Tôi luôn có ý tưởng ấy mỗi khi nghĩ về sự “bại trận” của một số đội tuyển tại World Cup 2010 này. Tôi đặc biệt nghĩ đến hai đội tuyển của Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan. Thua một trận, huề một trận, thắng một trận, thì dù không được vào vòng hai, với một đội tuyển chỉ mới chập chững  bước vào World Cup như Úc đại lợi, đây quả là một “chiến tích” đáng kể. Có cuốn gói ra về tay không, đội tuyển Úc đại lợi vẫn xứng đáng để mỉm cười mãn nguyện.
Riêng với đội tuyển tưởng không đáng được nhắc đến tại World Cup như Tân Tây Lan, thì đấu cả ba trận đều huề cả ba quả là một “kỳ tích”. Người ta hiểu được nụ cười rạng rỡ của các tuyển thủ và người dân nước này ngay cả khi không được vào vòng hai của World Cup.
Chiến đấu cho đến cùng, thua trong danh dự: đó hẳn phải là bài học mà hai đội tuyển Úc đại lợi và Tân Tây Lan có thể nhắn gởi cho chúng ta trong mùa World Cup này.
Từ cầu trường, tôi lại chạnh nghĩ đến chính trường. Những tiếng “thượng võ, danh dự, tự trọng” cũng vang lên trong tôi khi tôi nhìn gương mặt “khóc cười” của thủ tướng Kevin Rudd lúc đọc bài diễn văn từ chức sau cuộc “đảo chính” trong nội bộ Đảng Lao Động tối thứ Tư 23/6/10  vừa qua.
Tôi vốn có một cảm tình đặc biệt đối với ông thủ tướng này. Tôi chưa đánh giá được hết những gì ông đã làm cho đất nước. Nhưng sự kiện ông đã nhân danh quốc gia để lên tiếng xin lỗi người Thổ Dân Úc khi vừa mới nhậm chức thủ tướng khiến tôi luôn nghĩ rằng đây là một con người có một nhân cách lớn. So sánh với tính tham quyền cố vị của ông John Howard hay tính hung hăng con bọ xít của ông Tony Abbott, tôi tự nhiên thấy quý mến ông Rudd hơn. Là con người, ai cũng có lúc sai phạm, nhưng có lẽ ông Rudd là chính trị gia Úc mà tôi được nghe lời xin lỗi và chịu đứng ra nhận trách nhiệm về những sai sót của chính phủ nhiều nhất.Tôi lại càng khâm phục ông hơn khi biết ông tự ý rút lui hơn là tham gia vào cuộc đấu đá trong nội bộ đảng Lao Động. Tôi cũng muốn chia sẻ những cảm xúc của ông trong bài diễn văn từ chức. Có lúc ông uất nghẹn muốn khóc. Có lúc ông lại bông đùa cười cợt. Ông cũng chẳng hề lộ chút cay đắng nào với những người đã phản lại mình.
Với tôi, thủ tướng Rudd không phải là một kẻ chiến bại, mà là một người chiến thắng và chiến thắng trong danh dự.
Những năm đầu của bậc trung học, tôi rất say mê những câu chuyện trích từ tác phẩm “Lettres de mon Moulin” (những lá thư từ chiếc máy xay lúa của tôi) của nhà văn Pháp Alphonse Daudet vào thế kỷ thứ 19. Một trong những chuyện vẫn còn sống mãi trong ký ức của tôi là chuyện “con dê của ông Seguin”. Chuyện kể rằng ông Seguin có nuôi 6 con dê, tất cả đều bị chó sói ăn thịt vì chúng đều trốn lên núi. Nhưng ông Seguin vẫn không thất vọng. Ông mua một con dê nhỏ và đặt tên cho nó là Blanquette. Mặc dù rất được ông chủ thương yêu, chiều chuộng nhưng Blanquette vẫn cảm thấy tù túng mất tự do trong khu vườn nhà ông Seguin. Vốn là chuyện thần tiên viết cho trẻ con, cho nên trong câu chuyện, tác giả Alphonse Daudet cho con dê nói chuyện với chủ của mình. Nó nói với ông Seguin rằng nó muốn đi lên núi. Ông cảm thấy đau lòng lắm. Nhưng để nó không trốn lên núi, ông liền nhốt nó vào một cái chuồng. Chỉ có điều, ông quên đóng cánh cửa sổ cho nên con vật đã trèo qua đó để cuối cùng đi tìm tự do. Khi nó lên đến đỉnh núi thì màn đêm cũng vừa buông xuống. Nó vừa nghe được tiếng tù và của ông Seguin lẫn tiếng hú rợn người của con chó sói…Dù vậy, nó vẫn quyết định ở lại trên núi và chiến đấu chống lại con thú hung dữ. Cuối cùng, sau một đêm chiến đấu oanh liệt, khi bình minh vừa ló dạng, con dê của ông Seguin đã bị con chó sói cắn xé.
Có thể nhà văn Alphonse Daudet muốn gói trong câu chuyện một bài học sâu xa hơn. Nhưng lúc nhỏ, tôi vẫn nhận ra nơi con dê nhỏ của ông Seguin hình ảnh của một con người tự trọng, yêu thích tự do, không luồn cúi, sống và chiến đấu cho đến cùng với sự chọn lựa của mình. Với tôi, nó tượng trưng cho sức mạnh đích thực của con người. Đó là sức mạnh mà Lão Tử đã muốn nói đến qua câu: “Thắng nhơn giả hữu lực, tự thắng giả cường.” (Thắng người nhờ sức mạnh, thắng mình do dũng khí.)
Chiến thắng hay chiến bại là tùy ở cái nhìn của chúng ta về sức mạnh đích thực trong con người. Thoạt nhìn qua, làm sao thấy được sức mạnh trong chủ trương bất bạo động của một Mahatma Gandhi trong cuộc tranh đấu dành độc lập cho người Ấn độ hồi giữa thế kỷ trước? Với quyền sinh sát trong tay, chế độ phân biệt chủng tộc tại Nam Phi làm sao thấy được sức mạnh của 27 năm tù đày vô phương tự vệ của một Nelson Mandela?
Theo một chuyện thần thoại của xứ Phù Tang, ngày nọ một số vị thần trên thiên trào muốn tranh quyền bá chủ thế gian. Vị thần của Sấm Chớp tung ra những tiếng nổ long trời lở đất khiến cho cả vũ trụ rung chuyển. Ai cũng lo sợ.
Nhưng vị thần của Bão Tố vẫn không tỏ ra chút lo sợ nào. Ông làm cho mặt nước biển dâng lên và bao trùm vạn vật. Các vị thần khác thất sắc liền cầu khẩn xin tha. Thần Bão Tố liền vẫy tay một cái: sóng lặng, gió êm, nước từ từ rút đi.
Đến phiên mình, thần Âm Nhạc lên tiếng: “Sức mạnh không phải ở nơi sự phô trương của sức bạo tàn, vì nó chỉ có phá hoại mà không tạo lập. Sức mạnh nằm ở cái thuật khuất phục ấy bằng ý muốn của họ. Người ta cảm vì sự dịu dàng mà chịu khuất phục chớ không phải vì sợ mà chịu khuất phục.” Dứt lời, thần Âm Nhạc lấy ống tiêu, thổi lên một hơi nhẹ nhàng êm ái. Tất cả đều như bị sức mạnh của âm nhạc lôi cuốn vào giấc ngủ thôi miên.
Nhưng cuộc tỉ thí vẫn chưa kết thúc.Trước những biểu dương sức mạnh trên đây, có một vị thần vẫn ngồi yên bất động, không để lộ một chút xúc động nào. Khi trọng tài hỏi: liệu ngài có mù điếc không, vị thần này trả lời rằng mình vẫn thấy và vẫn nghe mọi sự, quả tim của ông cũng đập, tâm hồn ông cũng xao xuyến.
Vặn hỏi mãi, ông nói: “Tôi là “Điềm Đạm”. Tôi là kẻ biết huấn luyện cảm xúc của tôi.Tôi là kẻ đã làm chủ cảm xúc của tôi. Còn các ngài, các ngài chỉ là những kẻ làm nô lệ cho cảm xúc của mình, vì các ngài đã không thể chế ngự được nó…”
Nghe thế, trọng tài liền tuyên bố rằng quyền bá chủ thế gian thuộc về Thần Điềm Đạm, bởi vì vị thần này đã có thể làm chủ được chính mình” (theo Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Cái Dũng của Thánh Nhân, trg 17-21)
Chúng ta vẫn nghe nói: thắng một trăm trận không bằng làm chủ chính mình. Từ ngàn xưa, thi sĩ Tô Đông Pha đã nói: “Với người xưa, hào kiệt là kẻ có khí tiết hơn người. Nhưng nhơn tình có chỗ không nhịn được. Bởi vậy, kẻ thất phu gặp nhục, tuốt gươm đứng dậy, vươn mình xốc đánh. Cái đó chưa đủ gọi là Dũng. Kẻ đại dũng trong thiên hạ, trái lại, thình lình gặp những việc phi thường cũng không kinh sợ, bị những điều ngang trái cũng không giận. Đó là nhờ chỗ hoài bão của họ rất lớn và chỗ lập chí của họ rất xa vậy.” (sđd)
Trong những ngày xem World Cup, tôi thường ngẫm nghĩ về chữ Dũng ấy. Có thi đua thì đương nhiên có kẻ được người mất, kẻ thắng người thua. Thắng không kiêu, bại không nản: đó là cái Dũng đích thực mà tinh thần thượng võ phải có thể gợi lên nơi cầu thủ lẫn khán giả.
Trong các màn quảng cáo thường xuất hiện trên đài SBS trong mùa World Cup này, tôi thích nhứt là đoạn quảng cáo của “Optus”. Một thiếu niên theo dõi trên màn ảnh nhỏ của chiếc điện thoại di động một trận thư hùng giữa đội Socceroos và đủ mọi loài thú, từ voi, báo, sư tử đến đà điểu, cá sấu. Đội Socceroos đá lọt khung thành của đối phương do một chú cá sấu trấn giữ. Vậy mà kết thúc trận đấu, tất cả, người cũng như thú, đều “vui vẻ” ra khỏi sân. Màn quảng báo kết thúc với câu “với Optus đàng sau bóng đá, mọi sự đều có thể xảy ra”. Chuyện phi thường mà Optus muốn nói đến không hẳn là người ta có thể xem được mọi sự trên màn ảnh của điện thoại di động, mà là cái cảnh “người và thú” đều huề cả làng. “Thú” đã không cắn xé “người”; “thú” được thuần hóa và cũng có “tinh thần thể thao”.
Tinh thần thượng võ hay chiến thắng đích thực phải chăng không là thắng được chính mình, tức thuần hóa được cái “thú tính” vẫn luôn tiểm ẩn trong mình.
 Chu Thập, World Cup 2010