Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022
Q & A
Thứ Năm, 28 tháng 4, 2022
Khi thằng người gỗ không muốn làm người
Chu Văn
Sự tàn bạo dã man của Vladimir Putin trong cuộc chiến
tranh xâm lăng Ukraine đã khiến cho nhiều người cho rằng lương tâm nhân loại đã
thức tỉnh. Thức tỉnh trước những hành động man rợ của tên đồ tể này đã đành, mà
quan trọng hơn chính là thức tỉnh trước sự dối trá trắng trợn của hắn. Không gì
bỉ ổi cho bằng biện minh cho tội ác bằng những lời dối trá và lật lọng mà không
một người nào còn có chút lương tri có thể chấp nhận được.
Có người đã tóm tắt một cách rất chính xác những lời dối
trá trâng tráo của Putin:
“Putin tuyên bố Ukraine muốn gia nhập NATO,
đây là một đe dọa với sự ổn định của nước Nga nên...ĐÁNH.
Putin nói Ukraine có vũ khí nguyên tử nên...ĐÁNH
Putin giải thích muốn ủng hộ đám ly khai ở
Donbass và XYZ nên...ĐÁNH
Putin lại nói rằng muốn diệt đám quốc xã ở
Ukraine nên...ĐÁNH
Và vừa rồi hắn nói: Trước sau gì rồi cũng phải
ĐÁNH Ukraine.
Dường như Putin và Trump có cùng dòng họ hoặc
ít nhất là sở hữu một gen đột biến giống nhau - gen nói láo. Nói láo không biết
xấu hổ, nói dối không cần một bằng chứng giả tạo.
Thật là trơ trẽn. Trước đây tôi chưa bao giờ
có ác cảm gì với người Nga, tôi thấy họ hiền lành, bình thường, không tự cao tự
đại. Tôi cũng chưa bao giờ nghe thấy chuyện phân biệt đối xử với người Nga ở
châu Âu. Thế nhưng, bây giờ tôi mới biết là không chỉ bị phân biệt đối xử, mà
người Nga còn sắp bị tiêu diệt như người Do Thái!
Ngày 3-4-2022, ở Berlin và nhiều thành phố
khác trên nước Đức đã diễn ra một cuộc biểu tình bằng xe hơi của người Nga.
Trên kính sau của một chiếc xe có biểu ngữ “No Fascism” (Nói không với chủ
nghĩa phát xít) với biểu tượng NATO bị gạch chéo.
Theo tôi, nếu Putin và người Nga làm những
chuyện này nhiều lần trước cuộc chiến Ukraine thì có lẽ hợp lý hơn. Nhưng cuộc
biểu tình diễn ra vào ngày thứ 38, sau khi Nga xâm lược Ukraine.
Và tôi đươc biết thêm (qua một bài báo): Ở Nga việc sử dụng
Holocaust (cuộc tàn sát người Do Thái do Hitler chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế
chiên) làm công cuộc cho chính trị đã mang tính truyền thống. Họ đang biến thủ
phạm thành nạn nhân và ngược lại!” (1)
“Biến thủ phạm thành nạn nhân và ngược lại” cho nên những
tên đồ tể cũng thường đảo ngược bậc thang các giá trị đạo đức. Họ trang điểm
khuôn mặt của mình bằng một lớp phấn đạo đức giả.
Tôi không ngạc nhiên chút nào khi nhìn thấy Putin trong
nhà thờ chính tòa Đấng Cứu Thế của Chính Thống Giáo ở Thủ đô Mạc Tư Khoa trong
ngày Lễ Phục Sinh 24 tháng Tư vừa qua. Nhưng không gì bỉ ổi bằng vừa tàn sát
người dân vô tội ở Ukraine lại vừa gởi đi một thông điệp Phục Sinh để đề cao “những
lý tưởng và giá trị đạo đức cũng như niềm tin vào sự sống, lòng thiện hảo và
công lý”. Riêng trong lời chúc mừng Phục Sinh dành cho Thượng phụ giáo chủ
Chính Thống Nga Kirill, Putin viết: “Trong những ngày nghỉ lễ Phục Sinh, tâm hồn
các tín hữu tràn ngập một niềm vui đặc biệt, một nỗi khao khát làm điều thiện
và giúp đỡ những người túng thiếu”. “Làm điều thiện” như Putin đang hiểu và thực
thi chính là giết người và giết người vô tội vạ!
Dường như Thượng phụ Kirill, người lúc nào cũng sát cánh
bên Putin cũng hiểu như thế về “lòng thiện hảo và công lý” cũng như thế nào là
“làm điều thiện”. Ông đã chúc lành cho các binh sĩ Nga trước khi họ lên đường
xâm lăng Ukraine. Trong sứ điệp Phục Sinh năm nay, ông cũng chỉ lập lại những
công thức sáo ngữ chứ không hề lên án hành động xâm lăng ngang ngược và tàn bạo
của Putin tại Ukraine.
Tựu trung, Putin đã dối trá và Kirill, lẽ ra là tiếng nói
của sự thật và lẽ phải rốt cục cũng phụ họa theo. Chỉ tội nghiệp cho người dân
Nga. Họ cũng chỉ biết hòa nhịp với dàn đồng ca ấy mà thôi. Trong những ngày đầu
khi Putin cho tiến quân xâm lăng Ukraine, đã có hàng chục ngàn người xuống đường
phản đối chiến tranh. Nhưng trong những tuần lễ gần đây, những cuộc biểu tình
như thế ngày càng trở nên hiếm hoi. Dĩ nhiên, dân chúng Nga có lý để sợ, bởi vì
Putin đã ra lệnh giam tù 15 năm những ai dám lên tiếng phản đối cuộc xâm lăng
Ukraine của hắn. Nhưng sự sợ hãi chỉ là một phần của câu chuyện. Thực tế cho thấy
rất đông người Nga đang đứng đàng sau lãnh tụ đồ tể của họ. Trước cuộc xâm
lăng, mức ủng hộ dành cho Putin chỉ có gần 70 phần trăm. Một tháng sau điều được
gọi là “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine, tỷ lệ ủng hộ dành cho hắn lên
đến 83 phần trăm. Cuộc chiến không chỉ diễn ra ở Ukraine, mà cũng xâu xé người
Nga không ít. Không thiếu người Nga hiện đang kết án và tố cáo bạn hữu, láng giềng,
đồng nghiệp và ngay cả người thân của mình nếu họ không ủng hộ cuộc chiếm xâm
lược của Putin. Trong một bài diễn văn, chính Putin đã khuyến khích và nuôi dưỡng
cuộc “nội chiến” ấy khi ca ngợi những người biết phân biệt ai là “những người
yêu nước thực sự và ai là những kẻ phản quốc”.
Dĩ nhiên, trong một chế độ độc tài khát máu như Nga hiện
nay, tỷ lệ ủng hộ 83 phần trăm dành cho Putin có thể chỉ nói lên một nửa sự thật.
Khi sự sợ hãi bao trùm cả nước thì những con số cũng phải rụt rè ít nói. Ai ủng
hộ, ai phản đối cuộc xâm lược, khó mà nhận diện một cách chính xác. Chỉ có một
điều chắc chắn mà người ta có thể khẳng định về tâm trạng hiện nay của người
dân Nga là: rất đông người Nga, nếu không muốn nói là đa số, hiện đang tỏ ra dửng
dưng và vô cảm trước những tội ác mà Putin đã và đang thực hiện tại Ukraine.
Nói tóm lại, như ký giả Shadi Hamid đã nhận định trong một bài viết được đăng
trên báo The Atlantic, “các chế độ độc tài vặn vẹo tâm hồn con người và bóp méo
các định chế luân lý tự nhiên. Làm như thế, họ khiến cho người công dân, hay
chính xác hơn những người dưới quyền họ, ít phải chịu trách nhiệm hơn về mặt đạo
đức. Để hoàn toàn chịu trách nhiệm về mặt đạo đức, con người phải được tự do để
chọn lựa giữa đúng và sai. Nhưng một sự chọn lựa như thế sẽ trở nên khó khăn
hơn nhiều trong một chế độ độc tài. Không phải ai cũng có thể can đảm và hy
sinh mạng sống và cuộc sống của mình để làm điều đúng “(2).
Những nhận định trên đây của ký giả Shadi Hamid về thế đứng
của người dân Nga trước cuộc chiến xâm lược của Putin tại Ukraine không thể
không đưa tôi trở về với quê hương Việt Nam, nhứt là trong những ngày cuối
tháng Tư hằng năm. Cuộc chiến tranh giữa Miền Nam tự do và Miền Bắc cộng sản
thiết yếu là cuộc chiến giữa Sự Thật và Dối Trá. Giữa thập niên 1950, vừa bước
vào tuổi khôn, không cần phải được tuyên truyền, thực tế của những vụ ám sát đã
mang đến cho một đứa trẻ như tôi niềm xác tín sâu xa rằng cộng sản là những người
“nói dối như Vẹm”. Rồi khi cộng quân đã
công khai xuất đầu lộ diện tại Miền Nam tôi lại càng thấy rõ hơn bộ mặt dối trá
của người cộng sản. Cuộc chiến mà các
lãnh tụ cộng sản gọi là “thần thánh” dưới chiêu bài “giải phóng” Miền Nam mà thực
chất là một cuộc xâm lược. Bao nhiêu người dân Miền Bắc đã bị lừa vì hai chữ
“giải phóng”. Một “bộ đội” Dương Thu Hương đã ngồi bệt xuống vệ đường giữa Sài
Gòn trong ngày “giải phóng” để ôm mặt khóc khi biết mình bị lừa. Chính ngày Miền
Nam được “giải phóng”, một nghệ sĩ Ái Vân đã hăm hở mang theo 2 cân gạo để tặng
cho bà con ở Sài Gòn, vì người dân Miền Nam phải đói khổ trong hàng bao nhiêu
năm trời dưới sự đô hộ của Mỹ.
Cùng với ý thức hệ cộng sản mà “bên thắng cuộc” đã áp đặt
lên Miền Nam, mặc dù chính họ cũng chẳng hiểu và cũng chẳng tin, họ cũng bao
trùm lên cả nước sự dối trá. Những kẻ thống trị dối trá. Người bị trị cũng phải
dối trá. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, người sau khi ra tù đã viết quyển tiểu thuyết tự
thuật nổi tiếng “Chuyện kể năm 2000”, đã lột tả triết lý sống rất sinh động của
người Việt Nam trong chế độ cộng sản hiện nay: “muốn tồn tại và vinh thăng trong cái xã hội ấy thì phải biết vờ, vờ
nói, vờ nghe, nghĩa là khi nói, biết mình nói dối nhưng vẫn phải vờ nói dối một
cách thành thật, khi nghe, biết mình không muốn nghe những vẫn phải vờ nghe một
cách thành khẩn”(3).
Tôi chỉ sống trong chế độ dối trá ấy hơn 5 năm. Mặc dù đã
chuẩn bị tinh thần để sống trong chế độ ấy, tâm hồn tôi cũng đã bị vặn vẹo,
nhân cách của tôi cũng bị thui chột. Tôi cũng đã chạy theo “dòng chảy” người ta
sao tôi vậy, nghĩa là cũng “vờ” để sống. Thoát khỏi chế độ dối trá ấy là để sống
tự do. Và tự do luôn đi với trách nhiệm. Trách nhiệm mà tôi cho là quan trọng
và ý nghĩa nhứt đối với một người tỵ nạn như tôi là phải cố gắng thật. Người ta
có thể thoát khỏi một chế độ độc tài dối trá mà vẫn mang theo sự dối trá như một
thứ “bửu bối”. Tôi nghĩ đến không ít những người đồng bào ruột thịt của tôi, những
người đã trốn khỏi chế độ cộng sản dối trá, nhưng lại sùng bái những lãnh tụ dối
trá.
Dối trá là một bản năng tự nhiên của mọi sinh vật. Các
chuyên gia tâm lý và các nhà sinh vật học theo thuyết tiến hóa cho rằng lừa dối
đã được khắc ghi trong bản chất của mọi sinh vật. Để sinh tồn, cây cỏ biến dạng để trông giống côn trùng và côn trùng cũng biết biến dạng
để trông giống cây cỏ. Thú vật cũng biết dùng đủ mọi “thủ đoạn” để thu hút “bạn
tình” hay đánh lừa kẻ thù. Dù có tiến hóa đến đâu, con người vẫn còn duy trì
cái bản năng dối trá ấy. Nếu chúng ta không nói dối liên tục thì chắc chắn
chúng ta cũng thường xuyên nói dối. Một cuộc nghiên cứu cho biết: cứ trong một
cuộc trò chuyện kéo dài 10 phút, chúng ta nói dối 3 lần và ngay cả nhiều hơn nữa
khi chúng ta sử dụng email hay gởi lời nhắn qua các phương tiện truyền thông hiện
đại (4). Kinh Thánh của Do Thái và Kitô giáo đã khẳng định: “Mọi người đều dối
trá” (Thánh Vịnh 116, 11). Nhưng cũng chỉ có con người mới ý thức được bản năng
dối trá của mình và biết rằng họ chỉ có thể trưởng thành nhờ cố gắng sống thật.
Sống lúc nào cũng là một cuộc chiến đấu giữa sự thật và dối trá. Cũng như cậu
bé người gỗ Pinocchio của nhà văn Ý Carlo Collodi (1826-1890), con người sẽ
không bao giờ là một con người có nhân cách nếu lấy dối trá làm lẽ sống.
Chu Văn
1.Lê Thanh Nhàn, thủ phạm và nạn nhân, sự lật lọng, báo
Tiếng Dân 17-4-2022
2.Shadi Hamid, Why the Russian people go along with
Putin’s war, The Atlantic 23/ 04/2022
3.Nguyễn Giụ Hùng, Vờ, Việt Báo 25/04/2022
4.Dallas G. Denery II, The Devil Wins, Princeton
University Press, 2015, trg 4.
Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2022
Can Đảm để Sống
Sau khi ra trường, bắt đầu sự nghiệp và đối diện với thực tế, con tôi rơi vào một cơn khủng hoảng lớn. Trong một phút tuyệt vọng, con tôi thổ lộ với tôi: "Mẹ ơi, con không muốn sống nữa!". Tôi rùng mình. Đây là một dấu hiệu đáng lo ngại. Thay vì tìm cách trấn an như một bản năng theo kiểu, "không sao đâu con, tất cả rồi sẽ ổn thôi!", tôi đánh một nước cờ liều. "Con không muốn sống thì con có thể chết nếu như con muốn." Con tôi trả lời: "nhưng con lại không có can đảm để chết!". "Vậy thì con phải có can đảm để sống!" tôi trả lời. Và may thay, cho tới bây giờ con tôi vẫn chưa có "can đảm để chết".
Nói với con "phải có can đảm để sống", tôi lại tự giật mình. Sống quả không phải là dễ. Tôi hiểu ý của con tôi. Sống không chỉ là ăn uống ngủ nghỉ làm việc vui chơi. Sống lại càng không phải chỉ là làm sao cho vừa lòng xếp, vui lòng những người xung quanh, dĩ hòa vi quý, ai chết mặc ai, sao cũng được miễn sao không ảnh hưởng đến mình. Sống thật ra là một hành trình tìm kiếm hạnh phúc ít ra cho chính mình. Đó là một hành trình nhiêu khê mà không sách vở nào có thể giúp ích được. Chiếc la bàn chỉ là lương tâm và lẽ phải. Một hành trình mà ta phải chiến đấu với ta qua mỗi suy nghĩ, mỗi quyết định. Đưa một thí dụ: có những nơi, người ta không được quyền nói hay làm điều mình nghĩ là đúng. Ngược lại có những nơi, người ta được quyền nói hay làm điều mình nghĩ là đúng nhưng họ lại làm những điều ngược lại. Một áp lực "bên ngoài" nào đó kiềm giữ họ lại. Nên cái Tôi bị dập! Và cái tôi biến thành cái Tồi. Sống trong cái tồi thì rất dễ. Ai sao mình vậy, người ta bậy mình cũng theo. Còn sống trong một cái Tôi viết hoa thì quả thật phải rất can đảm. Can đảm trong mọi giây phút làm người.
Cách đây mấy hôm, Tổng thống Zelensky của Ukraine được trao giải thưởng John F Kennedy dành cho những người can đảm. Theo ban tổ chức, ông Zelensky được chọn vì "ông đã hun đúc tinh thần yêu nước và hy sinh không mệt mỏi của người dân Ukraine trong cuộc chiến sinh tử cho đất nước họ" (1).
Với tôi, ông là người có can đảm để chết và thừa can đảm để Sống. Ông can đảm để chết vì ông chấp nhận ở lại và chiến đấu. Ông can đảm để sống vì ông không ngừng nói lên lẽ phải và sống cho lẽ phải. Dù ông sống hay chết, ông sẽ thành bất tử cho rất nhiều người. Những người muốn học cái "can đảm để sống" của ông.
Ông chưa qua tuổi tri thiên mệnh mà dám nói dám làm những điều những người quá tuổi tri thiên mệnh như tôi không dám nghĩ đến.
Ai tri thiên mệnh hơn ai?
Thi Văn 25/04/2022
(1)https://www.thenational.wales/news/20084903.ukraines-volodymyr-zelensky-gets-john-f-kennedy-award-defending-democracy/
Thứ Năm, 14 tháng 4, 2022
Đằng Sau Tiếng "Mẹ Ơi!"
Thi Văn
"Mẹ ơi!
Lá thư này là món quà con gởi Mẹ nhân ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3...Cám ơn Mẹ vì 9 năm đẹp nhất đời con. Cám ơn đã cho con tuổi thơ. Mẹ là người Mẹ tốt nhất trên đời. Con sẽ không bao giờ quên Mẹ! Con mong Mẹ được may mắn trên trời. Con mong Mẹ đến được thiên đàng. Con sẽ cố gắng sống thật đàng hoàng để cũng được đến thiên đàng.
Hôn Mẹ,
Tolya của Mẹ" (1)
Đây là lá thư của một bé trai 9 tuổi người Ukraine được đọc tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Em đã viết lá thư này cho người mẹ đã chết trong cuộc chiến đang diễn ra tại Ukraine. Em là một trong cả ngàn đứa trẻ bị mồ côi mà không biết số phận sẽ đi về đâu.
Tôi đọc mà không cầm được nước mắt. Tôi quả là một người con may mắn. Ở tuổi này mà tôi chưa phải viết một lá thư ngây thơ nhưng đầy đau khổ như vậy. Ngay cả con trai tôi cũng thật may mắn. Ở tuổi 30, con tôi chắc chắn chưa bao giờ nghĩ đến cái ngày phải dùng những lá thư viết tay để nói chuyện với mẹ mình. Tôi vẫn có mẹ và con tôi vẫn còn tôi.
Người ta nói cái hạnh phúc lớn nhất của mỗi một con thú hay con người trên trái đất này là ai cũng có một người mẹ. Một người mẹ mà dù cho hoàn cảnh thế nào cũng thương yêu con mình trên hết mọi sự. Một người mẹ mà dù cho con mình ở tuổi nào cũng không bao giờ muốn rời bỏ chúng. Vậy mà bây giờ cả ngàn đứa bé bị kẹt trong cuộc xâm lăng Ukraine của Putin đã bị mất đi cái hạnh phúc quý báu nhất đời mình. Tôi không hiểu người ta đã nhân danh cái gì để có thể làm điều đó. Ai cũng cần hạnh phúc. Ai cũng cầu hạnh phúc. Tại sao người ta có thể tước đi hạnh phúc của những đứa trẻ vô tội? Biện minh như thế nào đây? Chẳng có hạnh phúc nào, chẳng có "thiên đường" nào có thể xây dựng trên cái nền là sự bất hạnh của người khác. Cũng chẳng có cách nào để biện minh cho sự làm ngơ hay "vô tư" của chúng ta trước cái khổ của những đứa trẻ. Ai cũng từng là trẻ thơ. Ai cũng biết là trẻ thơ cần gì nhất. Hãy trở về trẻ thơ để đồng cảm với chúng. Ai cũng có con cháu. Hãy nhìn những đứa trẻ này như con cháu của mình. Nhiều người vẫn nghĩ rằng nhủ lòng thương là một thứ tình cảm "tiểu tư sản" cần che dấu. Chính vì che dấu mà chúng ta đang trở nên vô cảm. Chúng ta không còn mạnh dạn để bảo vệ người cô thế hay lẽ phải.
Vì vậy, hãy nhắm mắt lại. Hãy để lòng rung động. Hãy để tim thổn thức. Hãy để nước mắt rơi. Hãy để môi mấp máy nói lên lời thương yêu...
Vì, chúng ta đã được đưa vào đời bằng tình thương yêu của một người Mẹ, thì chỉ có tình thương yêu mới có thể tiếp tục làm đẹp cuộc sống này.
Chú thích:
1. https://news.yahoo.com/un-security-council-hears-russian-001238699.html
Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2022
Giải oan cho Thượng Đế
Chu Văn
Năm nào cũng vậy, những ngày trước lễ Phục Sinh của Kitô giáo, ra đường nhìn thiên hạ lũ lượt kéo nhau đi nghỉ, đến phố thị nghe ồn ào nhộn nhịp hẳn ra, tự nhiên tôi cũng thấy vui. Cùng với niềm vui tự nhiên ấy, là một tín hữu Kitô, năm nào tôi cũng cố gắng tìm hiểu, đào sâu và sống sao cho phù hợp hơn với sứ điệp của lễ Phục Sinh.
Năm nay, các Giáo hội Tin Lành và Công giáo La mã mừng lễ Phục sinh vào ngày chủ nhựt 17 tháng Tư tới đây, trong khi đó ngày lễ lại được các Giáo hội Chính thống cũng như các cộng đồng tín hữu công giáo theo nghi lễ Đông Phương cử hành vào một tuần lễ sau, tức ngày 24 tháng Tư. Nhưng dù có khác ngày và theo những nghi thức riêng, sứ điệp Phục Sinh, như được các vị lãnh đạo của Kitô giáo trên khắp thế giới dẫn giải vẫn là một. Đó là sứ điệp của Hòa Bình. Đó là sứ điệp của Tình Thương chiến thắng Hận Thù và những cái đuôi của Hận Thù là chiến tranh và chết chóc.
Trong bối cảnh của “chiến dịch quân sự đặc biệt” hay nói trắng ra là cuộc chiến xâm lược do Nga gây ra tại Ukraine, tôi đặc biệt chờ đợi “sứ điệp Phục Sinh” từ miệng của nhà lãnh đạo Giáo hội Chính thống Nga là Thượng phụ Kirill. Sở dĩ tôi chú ý đến nhà lãnh đạo tôn giáo này là bởi vì tiếng nói của ông chắc chắn đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc chiến xâm lược của Nga tại Ukraine.
Trong thời gian gần đây đã có rất nhiều người Nga xuống đường để phản đối cuộc chiến xâm lược do Vladimir Putin chủ xướng. Trong số những người phản đối cuộc chiến, người ta thấy có nhiều linh mục, giới trí thức và nghệ sĩ. Đã có hàng ngàn người bị bắt giữ vì tham gia các cuộc biểu tình. Tuy nhiên theo một cuộc thăm dò do hãng thăm dò độc lập duy nhứt tại Nga là Levada thực hiện, có đến hơn 80 phần trăm dân chúng Nga ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược do Putin phát động (1).
Dĩ nhiên, trong một chế độ độc tài như Nga, nơi mà hiện nay mọi thành phần bất đồng chính kiến cũng như các cơ quan truyền thông độc lập đều bị bịt miệng, những con số dường như cũng không còn “biết nói” nữa. Tuy nhiên, trình tự được chính Putin rêu rao trước khi mở cuộc chiến xâm lược vào Ukraine, cộng với những lời phát ra từ bục giảng của Thượng phụ Kirill, không cho phép tôi phớt lờ trước ảnh hưởng của nhà lãnh đạo tôn giáo này đối với nhận thức của người dân Nga về cuộc chiến hiện nay.
Trong nhiều tuần lễ qua, các nhà lãnh đạo tôn giáo trên khắp thế giới đã không ngừng van nài Thượng phụ Kirill lên tiếng chống lại cuộc chiến xâm lăng Ukraine do Putin điều động. Nhưng trong các bài giảng hằng tuần được truyền đi trên Đài Truyền Hình, dĩ nhiên của nhà nước Nga, vị thượng phụ này lúc nào cũng giữ nguyên một giọng: lúc nào ông cũng mặc cho cuộc chiến xâm lược của Putin một sứ mệnh cao cả là chiến đấu chống lại những sức mạnh của sự Dữ đang tìm cách hủy diệt sự hiệp nhứt mà Thượng Đế đã ban cho “Nước Nga Thánh Thiêng”.
Một ngày trước khi quân đội Nga tràn vào Ukraine, thượng phụ Kirill đã đăng đàn để ca ngợi các binh sĩ Nga như những người bảo vệ tổ quốc. Ông nói: “Họ (các binh sĩ Nga) không hề nghi ngờ rằng họ đã chọn một con đường rất đúng đắn trong cuộc sống của họ”. Rồi không đầy 2 tuần lễ sau khi quân đội Nga xâm chiếm lãnh thổ Ukraine, Thượng phụ Kirill biện hộ rằng cuộc xâm lược có một “ý nghĩa siêu hình” và cảnh cáo “đàn chiên” của ông rằng cái giá mà họ phải trả khi mở rộng vòng tay đón nhận văn minh tiêu thụ của thế giới Tây Phương và “tự do” mà thế giới này mang đến thật là khủng khiếp: đó là phải đứng ra tổ chức những cuộc diễu hành của những người đồng tính!
Trong một bài giảng hàng tuần khác để biện minh cho cuộc chiến xâm lược của Putin, Thượng phụ Kirill nói đến “sự thật của Thượng Đế”. Và theo “sự thật” đó thì người Nga, người Ukraine và người Belarus đều chung chia một gia sản tinh thần và dân tộc cho nên cần phải được liên kết với nhau như một dân tộc. Đây chính là nội dung bài hiệu triệu của Putin trước khi đưa quân sang xâm chiếm Ukraine (2). Với Putin và Kirill, xâm chiếm Ukraine, ngay cả bằng vô số tội ác chiến tranh và diệt chủng, biến quốc gia độc lập này thành một phần của Đại Nga là một nghĩa vụ thiêng liêng được chính Thượng Đế ủy thác!
Từ lâu Thượng phụ Kirill và Putin đã là 2 đồng minh rất thân cận với nhau. Họ gần gũi và đồng hóa với nhau như bóng với hình. Thượng phụ Kirill đã có lần mô tả 12 năm cầm quyền đầu tiên của Putin là “một phép lạ của Thượng Đế”. Về phần mình, Putin tiết lộ rằng chính thân phụ của Kirill, lúc làm một linh mục quản xứ tại một giáo xứ ở Leningrad đã rửa tội “chui” cho ông vào năm 1952. Hai người thường xuyên xuất hiện bên cạnh nhau trong những ngày lễ quan trọng, đặc biệt mỗi dịp lễ Phục Sinh, những lần thăm viếng các tu viện và hành hương đến những linh địa. Gắn kết với nhau hơn có lẽ là cái quá khứ KGB của cả hai. Putin đã từng là một điệp viên KGB. Còn Kirill, theo một số tài liệu trong Văn khố Nga, cũng đã từng là một điệp viên KGB trước khi xuất gia vào tu viện. Dạo đầu tháng Ba vừa qua, báo The Guardian của Nga có phỏng vấn một số người Ukraine. Được hỏi ý kiến về Thượng phụ Kirill, một số đã dựa vào Văn khố Nga để khẳng định rằng ông ta đã từng là một điệp viên KGB và chính vì quá khứ này mà ông đã ủng hộ cuộc chiến xâm lược của Putin tại Ukraine (3).
Trong những năm gần đây, Putin ngày càng tỏ ra mình là một tín hữu rất “đạo đức”. Ông đeo trên cổ một sợ giây chuyền có gắn một cây thánh giá bằng bạc. Ông hôn kính các tượng ảnh. Đáng chú ý nhứt là lần ông để mình trần trầm người xuống một hồ nước lạnh trước các ống kính truyền hình. Theo Chính Thống giáo, đây là nghi thức qua đó một nam tín hữu bày tỏ sự trưởng thành và nam tính của mình trong ngày lễ Hiển Linh (tức lễ Ba Vua).
Putin là một tín hữu thuần thành hay là một ma đầu chính trị? Với vô số tội ác đã từng xảy ra tại Nga cũng như ngay cả ở hải ngoại và nhứt là những tội ác chiến tranh đã và đang diễn ra tại Ukraine trong hơn một tháng qua, tôi không tin rằng Putin là tín đồ của bất cứ tôn giáo nào.
Còn ông giáo chủ Kirill, mỗi lần nhìn ông giương cây trượng dát vàng lên để giảng dạy, tôi không nhìn thấy thánh giá của Chúa Giêsu đâu cả, mà chỉ là lưỡi lê của cuồng vọng và hận thù, nhứt là khi nhìn thấy vô số tội ác do Putin đã và đang gây ra tại Ukraine, ông vẫn có thể muối mặt để cổ võ các binh sĩ tiếp tục tham gia vào tội ác, vì Nga là một “nước yêu chuộng hòa bình” (4).
Nhìn Thượng phụ Kirill múa gậy của bạo lực để tôn vinh Thượng Đế, tôi không thể không liên tưởng đến câu thần chú “Allahu Akbar” (Thượng Đế Vĩ Đại) được một số lãnh tụ Hồi giáo và những kẻ khủng bố hô lớn để sát hại những người vô tội.
Tội nghiệp Thượng Đế! Cứ bị người ta nhân danh để làm điều ác. Ngay cả một người nhân ái và từ bi như Đức Phật cũng cùng chung một số phận. Có một dạo thế giới nói đến rất nhiều về một nhà sư Miến Điện tên là Wirathu. Ông không ngần ngại tự nhận mình là một “Osama Bin Laden” của Miến Điện. Lãnh đạo một cộng đồng tu sĩ với hơn 2500 tăng sĩ, Wirathu đã qui tụ được hàng trăm ngàn khán thính giả qua các bài thuyết giảng của ông được truyền đi trên Facebook và YouTube. Nội dung của các bài thuyết pháp của nhà sư này lúc nào cũng xoay quanh sự thù hận đối với người Hồi Giáo, đặc biệt là người Hồi giáo thuộc sắc tộc Rohingya. Sự khích động của nhà sư Wirathu đã khiến cho hàng trăm người Rohingya bị giết chết và trên cả trăm ngàn người phải đi lánh nạn (5). Tạp chí Time đã có lý để gọi nhà sư này là “bộ mặt khủng bố của Phật Giáo”.
Nhìn chung, hình như lịch sử của bất cứ một tôn giáo có tổ chức nào cũng có những trang đẫm máu. Không bị bách hại vì niềm tin hay đạo pháp thì cũng nhân danh niềm tin hay đạo pháp để bách hại người khác.
Lịch sử của Kitô giáo của tôi đầy những trang như thế. Mỗi dịp lễ Phục Sinh, tôi thường nhìn lại những trang sử đó. Gần đây, tôi hay bị dằn xóc vì một câu chuyện trong Kinh Thánh mà Giáo Hội cho tôi nghe trong Đêm Vọng Phục Sinh. Đó là câu chuyện về cuộc xuất hành của người Do Thái ra khỏi kiếp nô lệ bên Ai Cập. Theo câu chuyện, để tạo sức ép buộc vua Pharaoh của Ai Cập phải để cho người Do Thái được tự do ra đi, Thượng Đế đã giáng xuống đất nước này không biết bao nhiêu tai họa. Nhưng vua Pharaoh vẫn cứ cứng lòng. Cuối cùng, trong đêm tối, Thượng Đế đã sai sứ thần xuống giết chết tất cả các con trai đầu lòng của người Ai Cập và với quyền lực của Ngài, người Do Thái đã vượt qua được Biển Đỏ mà vẫn “ráo chân” (Sách Xuất Hành 12,29-42). Người Do Thái xem đây là một biến cố lịch sử. Kitô giáo xem câu chuyện như Lời Chúa. Vì là Lời Chúa cho nên sau khi lắng nghe câu chuyện, cộng đồng tín hữu đã cùng hòa tiếng trong ca khúc khải hoàn để chúc tụng Thượng Đế vì đã thực hiện một kỳ công vĩ đại như thế.
Mỗi năm, khi nghe lại câu chuyện Xuất Hành của người Do Thái, tôi hay nghĩ vẩn nghĩ vơ: liệu có một Thượng Đế, vì chọn một dân tộc làm dân riêng mà tàn sát những đứa trẻ vô tội của một dân tộc khác không? Tôi sợ phải tuyên xưng một Thượng Đế như thế và dĩ nhiên tôi lại càng sợ hơn khi có người tự xưng mình là người được Thượng Đế “tuyển chọn” và được vô số người tung hô và sùng bái. Với tôi, thực tế là một trái ngược: con người đã “tuyển chọn” Thượng Đế theo ý muốn của họ.
Lễ Phục Sinh, Giáo Hội của tôi mời gọi tôi tuyên xưng rằng Chúa Giêsu đã thực sự sống lại. Trong suốt hơn 70 năm của cuộc hành trình đức tin, tôi chưa một lần “thấy” hay cảm nhận được Chúa Phục Sinh. Điều tôi chỉ có thể thấy được đó là Thập Giá và trên Thập Giá Ngài đã tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Ngài. Với cái chết trên Thập Giá, Ngài muốn chứng tỏ rằng chỉ có tình yêu, sự khoan nhượng, tấm lòng cảm thông và nhứt là sự tha thứ mới có thể chiến thắng được hận thù. Có lẽ đó mới thực sự là ý nghĩa của Phục Sinh. Với cái chết trên Thập Giá, Chúa Giêsu đã muốn giải oan cho Thượng Đế, bởi lẽ Thiên Chúa là Tình Yêu. Vì vậy, tôi tin rằng chỉ có những ai, ngay cả những kẻ tự xưng là vô thần, biết sống yêu thương mới thực sự cảm nhận được sự hiện hữu của Thượng Đế và giải oan cho Thượng Đế vì vô số tội ác mà con người đã gán cho Ngài hay nhân danh Ngài để thực hiện.
Chu Văn
Chú thích
1. Who are the everyday Russians rallying behind Putin’s war? https://www.aljazeera.com/news/2022/4/6/the-russians-who-rally-behind-putins-special-operation
2. Deborah Netburn, A spiritual defense of the war in Ukraine? Putin’s patriarch is trying, https://www.latimes.com/world-nation/story/2022-03-29/russian-orthodox-patriarch-offers-a-spiritual-defense-of-the-war-in-ukraine
3. Patriarch Kirill of Moscow, wikipedia
4. Patriarch urges soldiers to defend “peace-loving” Russia amid Ukraine campaign https://www.reuters.com/world/europe/patriarch-urges-soldiers-defend-peace-loving-russia-amid-ukraine-campaign-2022-04-03/
5. Buddist monk uses racism and rumours to spread hatred in Burma https://www.theguardian.com/world/2013/apr/18/buddhist-monk-spreads-hatred-burma
Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022
Những ván cờ
Thi Văn
Tôi không biết chơi cờ vua. Thế nhưng mỗi lần đi chợ ở phố Việt hay phố Tàu, tôi thích nhìn cảnh người ta tụ tập quanh bàn cờ. Tôi tin đây là một trong những sinh hoạt đặc trưng ở những khu phố Á Đông ở nước Úc.
Mù tịt về chơi cờ. Với tôi, các quân cờ chỉ khác nhau giữa trắng và đen, còn lại thì lô nhô như những con dấu. Vì vậy dưới con mắt của tôi, chẳng con nào quan trọng hơn con nào. Tôi thích quan sát cảnh chơi cờ chỉ vì tôi thích nhìn những biến chuyển của mỗi con người chung quanh bàn cờ. Nhìn họ tôi có thể đoán được diễn tiến thắng thua qua thái độ của họ.
Trước hết, với hai kỳ thủ, tôi có thể thấy họ hết sức nghiêm túc và tập trung ngay khi ván cờ vừa bắt đầu. Với họ, kể từ phút ấy, mọi sự trên đời không có gì là quan trọng nữa. Khuôn mặt của họ chỉ có sự tập trung và tinh thần quyết thắng. Bằng mọi giá, phải giữ được quân Vương. Tất cả mọi quân cờ khác có thể bị ra rìa nhưng quân Vương vẫn phải trụ được trên bàn cờ. Như vậy họ mới có thể chiến thắng.
Những người chung quanh cũng thường chia làm hai phe. Họ cũng nín thở theo dõi sự di chuyển của những quân cờ và đôi khi không kiềm được sự tán thưởng trước những nước cờ cao. Nước cờ càng cao, mồ hôi càng tuôn.
Khi ván cờ kết thúc, họ chia nhau những lời khen chê bàn luận. Và lại bày những bàn cờ khác. Những quân cờ lại được đặt vào vị trí. Tiếp tục vai trò của mình. Một bàn cờ với đầy đủ quân cờ tôi thấy dễ thương hơn một bàn cờ cuối mùa. Chúng trông thật thảm hại với vài con chơ vơ trên bàn cờ. Có khi tôi tự hỏi: các kỳ thủ có cảm nghĩ gì không khi họ loại một quân cờ. Trong sự tưởng tượng của tôi, tôi tin là chúng cũng buồn khi bị loại.
Nhiều năm qua tôi thường tự hỏi tại sao tôi bị mất nước một cách đau đớn "khi Đồng Minh tháo chạy". Người thì bảo tại vì chính phủ Miền Nam VN thối nát, tham nhũng. Tôi tin là có nhưng nếu so với chính phủ VN hiện nay thì sao? Tệ hơn ngàn lần, nhưng chẳng ai lung lay được. Người thì bảo phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ khiến chính phủ Mỹ phải rút quân. Tôi cũng tin như vậy vì với hơn 50 ngàn quân nhân tử trận, người dân Mỹ có quyền đau xót. Thế nhưng tại sao phải rút luôn cả việc viện trợ quân sự? Thế giới tự do đã chẳng từng cho rằng Miền Nam VN là tuyến đầu chống cộng cho cả vùng Đông Nam Á đó sao? Vì cảm thấy bị phản bội, cha tôi đã từ chối định cư ở Mỹ. Ông tin đã là đồng minh thì muôn đời là đồng minh.
Tôi ngây thơ mà cha tôi cũng ngây thơ. Tôi tiếc rằng cha tôi đã không sống cho đến ngày tôi thấm thía được cái "chân lý" của những người làm chính trị: "Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi quốc gia là vĩnh viễn" (Winston Churchill). Tôi thấy đau thật là đau vì "đến khi tôi hiểu thì tôi đã..." mất nước!
Thêm vào đó, khi nghe tổng thống Volodymyr Zelensky của Ukraine phát biểu: "Tôi không bao giờ muốn Ukraine trở thành một cái mảng trên bàn cờ thế giới để cho những tay chơi hạng gộc đẩy qua đẩy lại, hay dùng như một tấm bình phong, hoặc như một phần trong sự mặc cả" (1), tôi càng hiểu thêm rằng VN thân yêu của tôi chỉ là một quân cờ trên bàn cờ thế giới. Bàn cờ mà những tay chơi là những cường quốc. Và con chốt VN đã bị cho ra rìa, bị bức tử. VN trở thành con chốt thí.
Bàn cờ thế giới xoay chuyển không hiền lành như ván cờ nơi cuối phố, nơi mà người ta chỉ hao tốn mồ hôi và thời gian. Nơi đó, mỗi quân bài là một quốc gia, một dân tộc hoặc một nhóm người. Nơi đó, mỗi quân bài là cả một tập thể với cả một chiều dài lịch sử, gắn bó trên một vùng đất, một không gian. Nơi đó, khi một quân bài bị loại, là cả một dân tộc, một quốc gia phải giãy chết. Hãy nhìn cuộc chiến Ukraine đang xảy ra. Bạn sẽ thấy cái thống khổ của cả một dân tộc. Ukraine đang chiến đấu trong chết chóc, đau đớn và tuyệt vọng để tồn tại trong ván cờ. Ván cờ máu! Ván cờ mà Putin đã không ngần ngại tiêu diệt tất cả, từ nhân mạng đến tài sản. Giống như trên ván cờ, tất cả có thể bị loại. Cho dù “quân địch chết ba quân ta chết hết”. Miễn sao quân Vương vẫn trụ lại. Đúng là như Nguyễn Du đã viết "phơi thây trăm họ nên công một người". Công hay Tội?
Zelensky trong diễn văn nhậm chức của mình vào năm 2019 đã khẳng định: "Mỗi chúng ta (người dân Ukaine) là một tổng thống...và đây cũng là cơ hội mà chúng ta gánh vác chung trách nhiệm". (2).
Hãy làm tổng thống như Zelensky!
Thi Văn 6/4/2022
Chú thích:
(1) https://www.politico.eu/article/zelenskiy-airs-his-grievances-with-trump/
(2) https://vnexpress.net/bai-phat-bieu-nham-chuc-gay-chu-y-cua-tan-tong-thong-ukraine-3928444.html
Thứ Tư, 30 tháng 3, 2022
Tôi và Trịnh
Tôi vừa nhận được tin nhắn của con trai: Phim "Em và Trịnh" sẽ được trình chiếu trong năm nay 2022. Nghĩ cũng thấy vui vui. Khi con còn nhỏ, tôi cố duy trì tiếng Việt cho các con cực khổ như đạp xe lên dốc. Bây giờ, tin tức gì về Việt nam thì con tôi biết trước và báo cho tôi.
Thế nhưng, có cái gì đó nằng nặng trong ngực tôi. Đã lâu lắm rồi, tôi không còn nghe nhạc Trịnh Công Sơn nữa dù rằng tôi luôn có trong đầu một cuộn băng mở sẵn những bài hát quen thuộc của ông.
Tôi đã từng rung động, say mê nghe hoài không chán những bản tình ca của ông. Những ngày mới tập làm người ty nạn, mỗi lần nghe bài "Em còn nhớ hay em đã quên" là nước mắt tự động rơi. Nhạc phản chiến của ông cũng nói dùm tôi những phẫn nộ và đau khổ trong trái tim ngây thơ của tôi khi nhìn thấy những hình ảnh khốn khổ của chiến tranh. Nói chung, ông là một nghệ sĩ thành công, rất thành công.
Trong nhiều năm sau này, có một điều gì đó khiến tôi không còn hòa cảm được với những lời thơ những giòng nhạc đơn sơ nhưng độc đáo của ông. "Rằng hay thì thật là hay...". Đây là điều không đúng với tôi. Tôi thường thích thưởng thức nghệ thuật mà không cần thắc mắc về tác giả. Họ là ai, thích gì, ghét gì, chính kiến thế nào, nhân sinh quan ra sao. Với tôi, không là vấn đề. Hay là hay! Cho nên cái cảm giác "mất cảm giác" với "nhạc họ Trịnh" bắt buộc tôi phải đi tìm câu trả lời cho chính mình.
Trịnh Công Sơn, vào ngày 30/4/1975, đã lên Đài Phát Thanh Sài Gòn hát bài "Nối Vòng Tay Lớn" và kêu gọi mọi người dân Miền Nam, nhất là anh chị em nghệ sĩ "hãy vui mừng và hợp tác với chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước!" (1). Điều này không làm giảm đi sự yêu mến "nhạc họ Trịnh" của tôi. Có thể lúc đó ông nghĩ như nhiều người, cộng sản là tốt.
Tôi vẫn chưa có câu trả lời. Tôi tiếp tục đi tìm. Tài liệu về một người nổi tiếng như ông nhiều không vô kể. Ông được ca ngợi bằng tất cả những lời hay đẹp mà người ta có thể nghĩ ra. Đáng kể nhất có thể kể như: một người viết ca khúc thiên tài, một con người nhân bản, sống thật với chính mình, rung động trước nghịch cảnh chiến tranh, lên án chiến tranh...và là một hiện tượng. Trong rừng mỹ từ mà người ta dành cho ông, hôm nay, tôi tìm được một dòng ngắn: "Năm 1968, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã gặp bộ đội cụ Hồ trong 26 ngày đêm Cách mạng giải phóng Huế" (2).
Bây giờ thì tôi hiểu là cái linh tính của tôi nó đã "thấy" trước cái điều mà tôi không giải thích được. Trịnh Công Sơn "của tôi" đã là một chứng nhân sống của "vành khăn sô cho Huế".
Ông đã chọn bên ngay từ đầu và nhạc của ông cũng có mục đích chính trị. Ông không "vô tư" như tôi tưởng. Là hậu duệ của những người di cư chạy trốn Cộng sản 1954, tôi hiểu nỗi khổ đau cay đắng của cha mẹ tôi khi phải bỏ lại tất cả để di cư vào nam. Ông bà đã phải làm lại từ đầu, hy sinh thật nhiều để tôi có một tuổi thơ tốt đẹp dù trong một đất nước chiến tranh. Rồi chính vì tương lai con cái, ông bà lại một lần nữa dắt tôi bỏ nước ra đi. Tôi là nạn nhân của cộng sản.
Tôi mong rằng những thế hệ sau tôi sẽ thưởng thức nhạc Trịnh Công Sơn một cách hồn nhiên hơn, vô tư hơn. Tiếc rằng tôi thì mãi mãi không thể. Những bài hát của ông gợi lại tất cả những giai đoạn đau buồn của đất nước và nhất là của những người đàn bà già trẻ lớn nhỏ mà tôi là một. Chúng tôi, kể từ sau ngày Trịnh Công Sơn hát bài "Nối Vòng Tay Lớn", đã phải già đi trước tuổi, phải chia nhau những cảnh nghèo, những đảo lộn, những cay đắng, những giọt nước mắt, những thất bại, những thua thiệt trong âm thầm, bất lực và đau khổ. Cuộc đời của chúng tôi không là thơ, cũng chẳng là mơ, mà chỉ là những tiếng thở…dài. Tại sao ông đã không hát những điều đó lên giùm chúng tôi?? Tại sao ông "hát cho người nằm xuống" mà không hát cho những con người còn sống nhưng không được quyền sống như ý nguyện??
Ngày mai, 1/4/2022 là ngày giỗ 21 năm của Trịnh Công Sơn. Những dòng này coi như là một lần chia tay. Thẳng thắn và sòng phẳng.
Trịnh Công Sơn ơi, ông đã hát "Đại bác đêm đêm dội về thành phố người phu quét đường dừng chổi đứng nghe...". Nghe có vẻ trung thực và đơn giản. "Đại bác nghe quen như câu dạo buồn". Nghe như chuyện tuy buồn nhưng chỉ là chuyện "thường ngày ở huyện". Tất cả những gì ông diễn tả là sự thật. Nhưng tiếc thay chỉ là một nửa. Cái nửa kia của sự thật tôi thiết nghĩ ông đã tự biết rất rõ từ bao nhiêu năm trước và sau cái ngày thống nhất mà ông đã vui mừng. Cái thống nhất chưa bao giờ thống nhất.
Người nước nào cũng hãnh diện khi có những thiên tài. Việt nam ta cũng vậy. Người ta thường cho rằng hiền tài thì dễ kiếm chứ thiên tài thì hiếm.
Tôi rất mừng cho Ukraine, trong cuộc chiến này, họ không có một thiên tài Trịnh Công Sơn nhưng có một hiền tài Zelensky.
Thi Văn 31/3/2022
Chú Thích:
1) https://tienphong.vn/nhac-sy-trinh-cong-son-lam-gi-ngay-30-4-post624519.tpo#:~:text=Ng%C3%A0y%2030%2F4%2F1975%2C,khi%20ch%E1%BA%A5m%20d%E1%BB%A9t%20chi%E1%BA%BFn%20tranh.
(2) https://cadn.com.vn/nhac-si-trinh-cong-son-sau-ngay-dat-nuoc-thong-nhat-post224053.html
Thứ Tư, 23 tháng 3, 2022
Những vòng tay ôm
Thứ Tư, 16 tháng 3, 2022
Thế giới nhìn từ một xóm nhỏ
Chu Văn
Cái xóm nhỏ của tôi gồm có 16 nóc nhà tọa lạc trên một ngõ
cụt. Ngoại trừ 2 gia đình trẻ có con còn trong tuổi cắp sách đến trường, hầu hết
đều trong tình trạng mà người Úc gọi là “tổ trống” (empty nest). Nằm cách trục
lộ giao thông chính, phía sau lại tựa lưng vào một dãy núi thuộc lâm viên quốc
gia cho nên cái xóm nhỏ của tôi rất yên ắng. Không bị ô nhiễm về âm thanh đã
đành, cư dân trong xóm của tôi cũng rất hiếu hòa. Tôi chưa từng nghe có tiếng
cãi cọ, gấu ó nào vang ra từ bất cứ gia đình nào. Nhưng gần đây, đất bằng lại dậy
sóng. Và sóng gió lại nổi lên từ nóc nhà của người đàn bà mà tôi thường gọi là
bà Tàu. Bà đã từng sống trong một khu phố giàu gần Sydney. Nhưng sau khi ly dị
ông chồng người Úc nghiện ngập cờ bạc và rượu chè, bà dắt hai cậu con trai về
cái xóm nhỏ của chúng tôi. Cả hai đều đã bước vào đại học, nhưng sống rất âm thầm
và kín đáo.
Trong những năm đầu mới dọn về đây, bà Tàu sống rất cởi mở
và chan hòa với mọi người trong xóm. Nhưng không rõ do đâu, sức khỏe của bà
ngày càng sa sút. Thị lực ngày càng giảm. Sự giao tiếp của bà với người hàng
xóm cũng ngày càng thưa thớt và dĩ nhiên, sự tương tác của bà với người xung
quanh cũng ngày càng chua chát và gay gắt. Lúc đầu bà chỉ trút hết cơn giận dữ và những lời thóa mạ lên
ông phát thơ, vì ông cứ tỉnh bơ cho chiếc xe gắn máy của ông cày xéo trên thảm
cỏ trước nhà bà. Kế đó là những người hàng xóm nào vô tình để cho các cô cậu
chó của mình phóng uế bừa bãi trên thảm cỏ đó. Tiếng Anh ăn đong của tôi chưa đủ
để hiểu hết sự cộc cằn và thô tục trong những tràng chửi rủa của người đàn bà gốc
Hong Kong và có chồng Úc này, nhưng phải nói đó là những lời lẽ có sức khơi dậy
một cơn phẫn nộ khủng khiếp nơi những người hàng xóm của tôi.
Mắt mũi ngày càng yếu kém, bà Tàu ngày càng nghi ngờ tất
cả mọi người và giam mình vào cô đơn. Gần đây, được nhìn nhận như một người mù
(legally blind), bà Tàu được chính phủ cho người tới giúp đỡ trong mọi sinh hoạt
hàng ngày, từ cắt cỏ, dọn rác, đi chợ, nấu ăn và dọn dẹp trong nhà. Hai cậu con
trai, từ ngày ra trường và đi làm ăn ở xa, không bao giờ về thăm mẹ. Bà Tàu lại
lủi thủi trong nhà suốt ngày. Có lúc tôi cứ tưởng bà được đưa vào một viện dưỡng
lão hoặc ngay cả không chừng đã yên nghỉ ở một nơi nào đó không chừng. Cư dân
trong cái xóm nhỏ của tôi chỉ biết bà vẫn còn hiện hữu nhờ vào những lúc bà chửi
đổng. Đúng là “tôi chửi, vậy tôi hiện hữu”! Cứ năm ba bữa một lần, bà Tàu hé
cánh cửa sổ trước nhà, hướng ra đường và chửi. Cũng có điều lạ: ai cũng là kẻ
thù của bà cả, ngoại trừ gia đình tôi. Bà nói chuyện rất lịch sự và vui vẻ với
chúng tôi. Lễ tết đều gọi sang chúc mừng. Nhưng cách đây 2 tuần, khi nhịp độ chửi
đổng của bà gia tăng, nhà tôi gọi điện thoại sang khuyên nhủ và giải thích rằng
mọi người trong xóm đều là những người tốt hết. Thế là bà liền đưa ra một loạt
các “thuyết âm mưu” cho từng người hàng xóm để biện minh cho hành vi của mình.
Cuối cùng bà nổi cơn tam bành vì cho rằng chúng tôi cũng đứng về “phía kẻ thù”
để chống bà. Chúng tôi là những người cuối cùng trong xóm trở thành kẻ thù của
bà. Mỗi lần nghe bà chửi, mọi người trong xóm tôi đều ngao ngán lắc đầu: “Bà ta
bị bệnh tâm thần” rồi!
Tuy không phải là một chuyên gia tâm lý, nhưng tôi tin rằng
tôi không chẩn đoán sai khi bảo rằng bà Tàu đang mắc chứng hoang tưởng, vì bà
nhìn đâu cũng nghi ngờ, cũng thấy kẻ thù. Cái xóm nhỏ của tôi sẽ yên hàn biết
chừng nào nếu không có một người hoang tưởng như bà Tàu! Cũng may không ai
trong xóm tôi tin những cáo buộc hoang tưởng mà bà gán cho người khác. Không thì
chắc “hòa bình” sẽ bỏ xóm tôi mà đi.
Từ cái xóm nhỏ tôi nhìn ra ngôi làng lớn là thế giới ngày
nay và cũng nhận ra rằng ngôi làng lớn này có bất ổn và ngay cả trở thành một
nơi ngày càng nguy hiểm để sống là bởi vì thời nào cũng có những con người hoang
tưởng do thời thế đưa lên vị trí lãnh đạo. Tất cả các bạo chúa trong lịch sử
nhân loại đều là những kẻ hoang tưởng. Từ Tần Thủy Hoàng, Nero đến Stalin,
Hitler, Mao Trạch Đông, Pol Pot và ngay cả Hồ Chí Minh...nhân loại có khốn khổ
là bởi đã có những con người hoang tưởng như thế. Ngày nay, ngay giờ phút này
đây, hiện thế giới đang khốn đốn vì một bạo chúa hoang tưởng có lẽ còn khủng
khiếp hơn nhiều.
Khi Vladimir Putin đưa vũ khí hạt nhân ra đe dọa, tôi
không nghĩ đó là một lời đe dọa suông. Đã hoang tưởng lại bị dồn vào chân tường,
con người này sẽ không từ bất cứ một phương tiện nào miễn là không tỏ ra mình
là kẻ thua cuộc. Ông ta đã từng sử dụng vũ khí sinh học để đầu độc kẻ thù của
ông tại Salisbury, Anh Quốc. Ông cũng đã sử dụng vũ khí nguyên tử để tiêu diệt
Alexander Litvinenko, một cựu nhân viên KSB, người đã dám lên tiếng chỉ trích
ông, cũng tại Anh Quốc.
Hiện Putin đang giống như một con chuột bị dồn vào chân
tường. Hình ảnh con chuột bị dồn vào chân tường đã được chính ông sử dụng để
nói về một kinh nghiệm của tuổi thơ. Putin lớn lên trong một khu phố nghèo ở St
Peterburg. Đây là một khu phố đầy tội phạm và chuột. Năm 2000, ông chia sẻ về
tuổi thơ của mình: “Lối vào chung cư đầy chuột. Các bạn tôi và tôi dùng gậy gộc
để xua đuổi chúng. Lần nọ, tôi nhìn thấy một con chuột cống bự. Tôi đã rượt
theo nó cho đến khi dồn nó vào một chân tường. Nó không còn lối thoát nào.
Thình lình nó nhảy vào người tôi. Tôi ngạc nhiên và lo sợ. Bây giờ chính con
chuột là kẻ săn đuổi tôi. Nó nhảy lên nhảy xuống trên các bậc thang. Cũng may,
tôi nhanh tay hơn cho nên đóng sầm cửa vào mũi nó”.
Ngày nay có thể Putin thấy mình cũng giống như con chuột
bị dồn vào chân tường đó (1). Nhưng vì hoang tưởng ông không muốn và cũng không
thể chấp nhận thực tế đó. Nếu như trong tự điển của Nã Phá Luân không có từ “Không
thể” (impossible) thì trong đầu của Putin, hai tiếng “thất bại” và “thua cuộc”
cũng không bao giờ được nghĩ tới, mặc dù cuộc xâm lăng Ukraine đã cho thấy rốt
cuộc, con người mà một Donald Trump của Mỹ đã bái phục và xưng tụng như một
“thiên tài” (genius) và là người có óc phán đoán chín chắn (savvy) chỉ là một
“ông vua ở truồng” hoang tưởng, cô đơn và ngày đêm sống trong sợ hãi.
Trạng thái hoang tưởng của Putin có lẽ đã hiển hiện qua
chính những cái bàn dài hơn 5 thước thường được ông dùng để tiếp các nhà lãnh đạo
nước ngoài cũng như hội họp với bộ sậu của ông. Để mình trần cỡi ngựa, bắn
cung, câu cá, đánh vật...Putin lúc nào cũng muốn tỏ ra mình là một con người
dũng mạnh, nhưng lúc nào cũng sống trong cô đơn và sợ hãi. Sợ Covid-19 đã đành,
ông cũng sợ tất cả mọi người, ngay cả những cận thần trung thành nhứt như ngoại
trưởng Sergei Lavrov, các tướng lãnh, hội đồng an ninh quốc gia (2).
Hoang tưởng và bị dồn vào chân tường, Putin có thể làm bất
cứ điều gì để tỏ ra mình không bao giờ là một kẻ yếu nhược phải thua cuộc. Cuộc
chiến ở Ukraine không chỉ cho thấy cảnh máu đổ thịt rơi của một dân tộc, mà còn
là một mối đe dọa về một hiểm họa khủng khiếp có thể xảy ra bất cứ lúc nào vì sự
hoang tưởng của một bạo chúa.
Không một bạo chúa nào tự sức mình vươn lên và có đủ ba đầu
sáu tay để làm điều ác. Lịch sử thế giới từ Thế kỷ 20 đến nay cho thấy rõ điều
đó. Hitler đã được chính người dân Đức bầu lên. Hitler gây chiến tranh khắp
nơi, sát hạt người Do Thái và ngay cả đồng bào ruột thịt của mình nhờ chính bàn
tay của không biết bao nhiêu người tung hô và ái mộ ông. Chúng ta cũng có thể
nói như thế về những đồ tể khác như Stalin, như Mao Trạch Đông, như Polpot và
ngay cả Hồ Chí Minh. Đồ tể nào cũng là một kẻ hoang tưởng được chính những kẻ
hoang tưởng dựng lên.
Hoa Kỳ, dưới thời Tổng thống Joe Biden đã liên kết được
các nước đồng minh và thế giới tự do để chống lại một bạo chúa hoang tưởng ở
cách xa nửa vòng thế giới. Nhưng ngay trong biên giới của mình, cái bóng của
hoang tưởng có lẽ vẫn đang rập rình che khuất một phần của đất nước này. Các
chuyên gia trong Hội Chuyên gia Tâm lý Trị liệu của Mỹ (The American
Psychiatric Association) bị buộc phải tuân thủ một “Luật Nước Vàng” (Goldwater
Rule) không cho phép họ chẩn đoán về sức khỏe tâm thần của những “người của
công chúng” (public figures), cụ thể là của một tổng thống đương nhiệm. Nhưng cứ
qua hành động và các phát biểu của ông Donald Trump lúc còn tại vị, thật khó có
thể chối cãi rằng ông có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Một người tự nhận mình là
một “thiên tài ổn định” và “chỉ mình tôi có thể sửa sai” mọi sự, chỉ có thể được
xếp vào hạng hoang tưởng như Putin mà thôi. Có nên ngạc nhiên không, khi Trump
xem Putin như thần tượng và ngay cả giáo chủ? Nước Mỹ đã bầu một người như thế
làm tổng thống và mặc dù ông đã bị đánh bại trong một cuộc bầu cử tự do và công
bình, hiện vẫn còn cả khối người ở Mỹ và ngay cả ở Việt Nam tôn thờ và sùng bái
ông. Hoang tưởng vẫn còn là một căn bệnh nguy hiểm của thời đại. Nhiều người đã
chấp nhận khuất phục trước những lãnh tụ hoang tưởng vì cho rằng họ sẽ giúp
mình đạt những ước muốn hoang tưởng, ngông cuồng.
Năm 1992, khi chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung tại cái nôi
của nó là Nga, nhà chính trị học nổi tiếng là ông Francis Fukuyama đã cho xuất
bản tác phẩm có tựa đề “Sự chấm dứt của lịch sử và Người cuối cùng” (The End of
History and the Last Man). Trong cuốn sách, tác giả lập luận rằng sự lan rộng của
các nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản trên khắp thế giới và sự cáo chung chủ
nghĩa cộng sản ở chính cái nôi của nó báo hiệu rằng, nhân loại đang bước đến điểm
đến của quá trình tiến hóa của văn hóa xã hội. Thế nhưng, lịch sử trong 30 năm
qua và nhứt là sự xuất hiện của các chế độ dân túy, những chế độ tìm cách khơi
dậy những bất mãn của những người cho rằng họ bị thua thiệt, không chấp nhận một
xã hội dân chủ, bình đẳng và hòa đồng. Những người muốn quay về thời “hoàng
kim” của quá khứ. Đặc biệt sự ngự trị của các bạo chúa hoang tưởng mà thế giới
đang chứng kiến, cho thấy những lời “tiên tri” của tác giả Fukuyama đã không được
ứng nghiệm. Lịch sử vẫn cứ tiếp diễn bằng những hành động ngông cuồng của những
kẻ hoang tưởng lãnh tụ và những người chạy theo để tung hô.
Từ cái xóm nhỏ nhìn ra thế giới xung quanh, tôi cho rằng
hoang tưởng vẫn là một trong những căn bệnh
trầm kha của loài người. Không phải ai cũng bị hoang tưởng hay tâm thần. Nhưng
thống kê cho thấy tại Úc này (mà cũng có thể tương tự ở các nước phát triển) cứ
5 người thì có một người đã từng bị tâm thần một thời gian nào đó trong đời của
họ. Nếu có một thứ thuốc để phòng cho
căn bệnh hoang tưởng này thì đó chỉ có thể là luôn giữ một cái nhìn chính trực,
công bằng, khoan dung và vị tha về người khác, không xem người khác như phương
tiện để đạt cứu cánh của mình, mà đối xử với sự tôn trọng và nhứt là cảm thông.
Chú thích
1.Jamie Seidel, Sign Putin could use Russia’ s nuclear
weapons on Ukraine https://www.news.com.au/technology/innovation/military/sign-putin-could-use-russias-nuclear-weapons-on-ukraine/news-story/ea5c01da565485e9210e372aa38a11c5
2. Philip Bump, The bizarre, literal isolation of
Vladimir Putin https://www.washingtonpost.com/politics/2022/02/28/putin-bizarre-isolation/




.jpg)
.jpg)
.jpg)

.jpg)

.jpg)