Hiển thị các bài đăng có nhãn Phục sinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phục sinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

Chúc mừng Phục Sinh hạnh phúc!

 

                         

 

                                                                                        


Hằng năm, cứ đến dịp Lễ Phục Sinh của Kitô giáo, tôi lại nhớ về Phi Luật tân là nơi tôi đã sống và làm việc trong nhiều năm.

Ở quốc gia có trên 80 phần trăm dân số theo Công giáo này, tôn giáo đã trở thành một yếu tố văn hóa ăn sâu vào cuộc sống của người dân cũng như có một tầm ảnh hưởng mạnh trong sinh hoạt chính trị.  Mỗi khi ký ức khơi dậy những kỷ niệm khó quên trong những năm tháng sống tại Phi Luật Tân, tôi không thể không nhớ đến hai biến cố quan trọng mà tôi đã chứng kiến.

Trước kết là cuộc cách mạng thường được mệnh danh là “Sức mạnh của quần chúng” (People Power Revolution). Tôi vẫn nhớ mãi những ngày từ 22 đến 25 tháng Hai năm 1986. Hưởng ứng lời kêu gọi của nhà lãnh đạo tôn giáo có thế giá nhứt tại Manila là hồng y Jaime Sin, theo ước tính có đến hai triệu người đã đổ xô về đại lộ lớn nhứt ở thủ đô. Ngoài tràng chuỗi mà người ta có thể thấy trên tay các nữ tu và nhiều người, không một người nào tham gia cuộc xuống đường mang theo bất kỳ một khí giới nào. Cuộc biểu tình ôn hòa cuối cùng đã buộc Tổng thống Ferdinand Marcos, người mà rất nhiều người dân Phi vào thời điểm đó xem như một nhà độc tài, phải ra đi lưu vong.

Biến cố thứ hai luôn được tôi ghi nhớ để không ngừng tri ân Giáo hội Công giáo Phi và người dân Phi đó là cuộc tranh đấu không ngừng nghỉ của Giáo hội này để những người tỵ nạn Việt Nam đến Phi Luật Tân sau năm 1990 được phép ở lại đất nước này và nhứt là được tự do sinh sống và làm ăn trước khi được đi định cư tại một nước thứ ba. Kể từ đầu thập niên 1990, các chính phủ tại các nước Đông Nam Á ra lệnh đóng cửa các trại tỵ nạn và cưỡng bách người tỵ nạn phải hồi hương. Riêng tại Phi Luật Tân và chỉ riêng tại Phi Luật Tân, nhờ sự can thiệp và tranh đấu quyết liệt của các vị giám mục Phi cũng như của chính người dân Phi, những người tỵ nạn Việt Nam “rớt” thanh lọc, nghĩa là không được cấp quy chế tỵ nạn, đã được chính phủ Phi cho phép ở lại. Như bầy ong vỡ tổ, những người tỵ nạn Việt Nam đã bung ra khắp miền đất nước Phi để tự lực cánh sinh và bất cứ nơi nào họ đến, họ cũng đều được người dân Phi đón tiếp và giúp đỡ.

Hồi tưởng lại những năm tháng sống tại Phi Luật Tân, lúc nào trong đầu tôi cũng hiện ra những khuôn mặt lương thiện, hiếu hòa và tử tế. Với tôi đó là khuôn mặt đích thực của Kitô giáo như được Chúa Giêsu rao giảng. Nhưng dĩ nhiên, ở đâu và thời nào, khuôn mặt đích thực  đó cũng đều có thể bị bóp méo đến độ dị dạng. Tôi thường có ý nghĩ ấy mỗi khi nhớ lại những ngày trước lễ Phục Sinh tại Phi Luật Tân, cách riêng ngày mà Kitô giáo gọi là Thứ Sáu Tuần Thánh. Trong ngày tưởng niệm Chúa chết, hình như cả nước Phi đều “chết” theo. Ra đường hầu như không thấy bóng của một chiếc xe nào qua lại. Lác đác trên những con đường nhựa giữa buổi trưa nắng gắt của mùa hè nhiệt đới, có những người đàn ông mình trần, đầu bịt khăn, đi chân không, dùng một chiếc roi tua tủa bằng thép để quất vào lưng đến độ máu chảy đầm đìa. Nhưng cảnh tượng ấy có lẽ không khủng khiếp bằng cuộc đóng đinh thật diễn ra tại một làng quê có tên Cutud, nằm cách Thủ đô Manila về hướng Tây Bắc khoảng hơn một giờ lái xe. Cứ mỗi ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngôi làng quê nghèo hẻo lánh này bỗng trở thành một điểm du lịch thu hút không ít người trong nước cũng như từ nước ngoài. Nếu tại thị trấn Oberammergau, Đức, cứ mỗi mười năm, người dân tham gia diễn lại tuồng “Thương Khó”, tức cuộc tử nạn của Chúa Giêsu thì tại làng Cutud, năm nào cũng đều có ba người tự nguyện chịu đóng đinh vào thập giá và được treo lên. Tất cả diễn ra chỉ trong vài phút ngắn ngủi, nhưng cuộc đóng đinh chỉ có thể bị xem như một biểu lộ niềm tin hoàn toàn “ngoài luồng”, nghĩa là không phù hợp với giáo lý Kitô giáo. Các nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo tại Phi Luật Tân đã không ngừng lên án một cuộc diễn tuồng như thế. Bởi lẽ ý nghĩa đích thực của cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá đã bị bóp méo để biến thành một màn trình diễn không phải của tình thương mà là sự độc ác.

Vốn là biểu tượng cốt lõi của Kitô giáo, Thập giá cũng là hình tượng bị lạm dụng, bôi bác và xúc phạm nhiều nhứt. Đọc lại lịch sử của Kitô giáo qua mọi thời kỳ, tôi cho rằng hành động bôi bác Thập giá đã diễn ra ngay từ Thế kỷ thứ Tư khi hoàng đế La Mã là Constantinus biến Kitô giáo thành một công cụ để thống nhứt và bành trướng đế quốc. Biến cố quan trọng nhứt đã làm biến dạng Kitô giáo và cách riêng biểu tượng Thập giá chính là cuộc chiến thắng của Constantinus trên một đối thủ sừng sỏ nhứt thời bấy giờ là hoàng đế Licinius. Ông giải thích rằng trong một giấc mơ hay một thị kiến giữa ban này, ông đã nhìn thấy hiện ra bóng Thập giá với hàng chữ bằng tiếng La tinh “Cứ dấu này mà ngươi chiến thắng” (In hoc signo vinces). Kể từ đó, Thập giá và lưỡi gươm luôn song hành trong tay ông. Để đánh bại các đối thủ và cũng như để tàn sát chính những người thân của mình. Năm 326, nghĩa là chỉ ba năm sau khi giương cao Thập giá để triệt hạ đối thủ Licinius, Constantinus đã ra tay sát hại hoàng hậu Fausta và ngay cả đứa con đầu lòng của mình (1).

Điều trớ trêu là chỉ một năm trước đó, mặc dù chưa hề là một tín hữu Kitô, ông đã ra lệnh triệu tập tất cả các giám mục trong đế quốc về một dinh thự sang trọng của ông tại thành phố Nicaea, nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Vào thời điểm đó, Kitô giáo chưa được tổ chức thành một Giáo hội thống nhứt; rải rác trong đế quốc, mỗi vị giám mục cai quản một cộng đồng riêng rẽ, với kinh kệ và “tín điều” riêng của mỗi địa phương. Chẳng hạn, có nơi người tín hữu tin rằng Chúa Giêsu là người được Thiên Chúa sai đến, nhưng Ngài không phải là Thiên Chúa. Có nơi, người tín hữu phải tin rằng Chúa Giêsu có hai bản tính: là người thực sự bằng xương bằng thịt, nhưng lại là Thiên Chúa. Chính vì muốn giải quyết những dị biệt này mà vị hoàng đế, vốn vẫn còn là một kẻ ngoại đạo, đã triệu tập khoảng 220 vị giám mục trên toàn đế quốc về Nicaea và buộc các vị phải đưa ra một bản “tín điều” chung, dĩ nhiên, do chính những nhà “thần học” của riêng ông đề ra. Bản “tín điều” đó ngày nay thường được gọi là “Kinh Tin Kính” mà người Công giáo phải tuyên xưng trong thánh lễ ngày Chúa nhựt (2).

Kể từ công nghị đầu tiên do Hoàng đế Constantinus triệu tập tại Nicaea hay còn được gọi là công đồng chung Nicaea, Kitô giáo không những không còn bị bách hại mà còn trở thành quốc giáo trong toàn Đế quốc La Mã. Trao cho Kitô giáo “Kinh Tin Kính” Hoàng đế Constantinus cũng trao cho Kitô giáo một thanh gươm để toàn quyền “chặt chém” tất cả những tín hữu nào không tuyên xưng Kinh này. Thật vậy, kể từ đó trong Kitô giáo đã có sự phân chia rạch ròi giữa các tín hữu chính thống và những kẻ bị xem là lạc giáo. Bị tuyên án là lạc giáo có nghĩa là bị loại ra khỏi cộng đồng và ngay cả có thể bị sát hại. Những trang sử đen tối nhứt của Kitô giáo đã được viết bằng chính thanh gươm ấy: từ những cuộc Thập tự chinh suốt thời Trung Cổ qua các Tòa Điều Tra, các giàn hỏa thiêu và sau đó là những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa các Giáo hội tại Âu Châu kể từ sau cuộc Cải Cách của Martin Luther vào Thế kỷ 16.

Lịch sử đã chứng minh: nơi nào có sự nhập nhằng giữa tôn giáo và nhà nước, nơi nào Thập giá và lưỡi gươm song hành với nhau, nơi đó có chiến tranh. Cuộc chiến giữa liên minh Hoa Kỳ-Israel và Iran hiện nay, ngoài các quyền lợi chính trị và kinh tế, còn cho thấy những tác hại của sự nhập nhằng giữa tôn giáo và nhà nước. Về phía chế độ thần quyền của Iran, điều đó đã quá hiển nhiên. Còn về phía liên minh Hoa Kỳ-Israel thì sao? Bên kia vô số những động lực thúc đẩy cuộc chiến được Tổng thống Donald Trump đưa ra, người ta vẫn ngửi được mùi của trầm hương trong khói súng.

Ngày 5 tháng Ba vừa qua, một nhóm mục sư Tin Lành từ khắp nước Mỹ đã tề tựu về Tòa Bạch Ốc để “đặt tay” lên người của ông Trump và cầu nguyện xin Chúa đổ tràn ân sủng xuống ông, bảo vệ ông và ban cho ông sự khôn ngoan để tiếp tục cuộc chiến với Iran. Riêng một vị mục sư có thế giá là Tom Mullins thì xin Chúa gìn giữ ông Trump, các binh sĩ Mỹ và giúp đất nước  “trở về” với vị trí “một quốc gia dưới sự cai trị của Chúa”.

Riêng Bộ trưởng Quốc phòng, nay được Trump tự ý đổi tên thành bộ chiến tranh, là ông Pete Hegseth thì cứ mỗi tháng đều đặn tổ chức một buổi cầu nguyện trong  Ngũ Giác Đài. Trong một buổi cầu nguyện mới đây, ông xin Chúa ban cho “sức mạnh tàn bạo vũ bão chống lại những kẻ không đáng xót thương”. Tại một cuộc họp báo mới đây, ông Hegseth đã trích đọc một câu trong một bài Thánh Vịnh trong Cựu Ước: “Chúc tụng Chúa là Đá Tảng của con, Đấng rèn luyện hai bàn tay con để gây chiến và những ngón tay con để chiến đấu”(3).

Những lời “cầu nguyện” trên đây nghe như vọng lại giọng điệu của nhà lãnh đạo của Giáo hội Chính thống Nga là thượng phụ Kirill. Thật vậy, trong một tài liệu được cho công bố sau khi Nga xâm lăng Ukraine, thượng phụ Kirill gọi hành động xâm lăng này là một “Cuộc Thánh Chiến” (4).

Rồi đây, như thường lệ, trong sứ điệp Phục Sinh mà ông Trump sẽ gởi đến toàn dân Mỹ, có lẽ ông cũng sẽ lập lại cùng một giọng điệu chửi bới, hằn học, đầy hận thù nhắm đến những đối thủ của ông để rồi cầu chúc “Happy Easter” (chúc mừng Phục Sinh hạnh phúc).

Tôi vẫn hay thắc mắc: tại sao  Lễ Giáng Sinh, người Mỹ chúc “vui” (Merry Christmas), còn Lễ Phục Sinh, họ lại chúc” hạnh phúc” (Happy Easter).

Với tôi “hạnh phúc” là một trong những ý niệm hàm hồ nhứt trong ngôn ngữ của nhân loại. Mỗi người đều có một quan niệm và trải nghiệm riêng về hạnh phúc. Và có lẽ mỗi tôn giáo cũng đề ra một “hiến chương” riêng về hạnh phúc. Riêng Kitô giáo, qua cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá, có lẽ cũng muốn nhắn gởi một bí quyết của hạnh phúc: con người chỉ có thể thật sự hạnh phúc khi họ biết sống vị tha, quảng đại, trao ban, nhân ái, cảm thông, tha thứ và tha thứ cho đến cùng như Đấng, khi bị treo trên Thập Giá, vẫn còn cầu nguyện: “Xin Cha tha cho chúng vì chúng lầm không hiểu việc chúng làm”(Luc 22,34).

Với ý nghĩ ấy, xin được “Chúc mừng Phục Sinh Hạnh Phúc” (Happy Easter) đến tất cả mọi người nhất là những người đang sống trong phập phồng lo sợ không biết bom rơi đạn lạc khi nào trong lúc này.

Chu Văn

 

 Chú thích

 

1. Constantine the Great: the Emperor who killed his family yet venerated as a saint, Greek Reporter, December 9, 2025.

2.The Future of Faith, Harvey Cox, Harper Collins Publisher, New York, 2009, trg 99-111.

3. Evangelical prayed over Trump for the War...Yahoo news 30 March 2026.

4. Russian Orthodox Church declares “ Holy War” against Ukraine and West, Atlantic Council, April 9, 2024.

 

 

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2022

Giải oan cho Thượng Đế

 

Chu Văn





Năm nào cũng vậy, những ngày trước lễ Phục Sinh của Kitô giáo, ra đường nhìn thiên hạ lũ lượt kéo nhau đi nghỉ, đến phố thị nghe ồn ào  nhộn nhịp hẳn ra, tự nhiên tôi cũng thấy vui. Cùng với niềm vui tự nhiên ấy, là một tín hữu Kitô, năm nào tôi cũng cố gắng tìm hiểu, đào sâu và sống sao cho phù hợp hơn với sứ điệp của lễ Phục Sinh.

Năm nay, các Giáo hội Tin Lành và Công giáo La mã mừng lễ Phục sinh vào ngày chủ nhựt 17 tháng Tư tới đây, trong khi đó ngày lễ lại được các Giáo hội Chính thống cũng như các cộng đồng tín hữu công giáo theo nghi lễ Đông Phương  cử hành vào một tuần lễ sau, tức ngày 24 tháng Tư. Nhưng dù có khác ngày và theo những nghi thức riêng, sứ điệp Phục Sinh, như được các vị lãnh đạo của Kitô giáo trên khắp thế giới dẫn giải vẫn là một. Đó là sứ điệp của Hòa Bình. Đó là sứ điệp của Tình Thương chiến thắng Hận Thù và những cái đuôi của Hận Thù là chiến tranh và chết chóc.

Trong bối cảnh của “chiến dịch quân sự đặc biệt” hay nói trắng ra là cuộc chiến xâm lược do Nga gây ra tại Ukraine, tôi đặc biệt chờ đợi “sứ điệp Phục Sinh” từ miệng của nhà lãnh đạo Giáo hội Chính thống Nga là Thượng phụ Kirill. Sở dĩ tôi chú ý đến nhà lãnh đạo tôn giáo này là bởi vì tiếng nói của ông chắc chắn đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc chiến xâm lược của Nga tại Ukraine.

Trong thời gian gần đây đã có rất nhiều người Nga xuống đường để phản đối cuộc chiến xâm lược do Vladimir Putin chủ xướng. Trong số những người phản đối cuộc chiến, người ta thấy có nhiều linh mục, giới trí thức và nghệ sĩ. Đã có hàng ngàn người bị bắt giữ vì tham gia các cuộc biểu tình. Tuy nhiên theo một cuộc thăm dò do hãng thăm dò độc lập duy nhứt tại Nga là Levada thực hiện, có đến hơn 80 phần trăm dân chúng Nga ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược do Putin phát động (1).

Dĩ nhiên, trong một chế độ độc tài như Nga, nơi mà hiện nay mọi thành phần bất đồng chính kiến cũng như các cơ quan truyền thông độc lập đều bị bịt miệng, những con số dường như cũng không còn “biết nói” nữa. Tuy nhiên, trình tự được chính Putin rêu rao trước khi mở cuộc chiến xâm lược vào Ukraine, cộng với những lời phát ra từ bục giảng của Thượng phụ Kirill, không cho phép tôi phớt lờ trước ảnh hưởng của nhà lãnh đạo tôn giáo này đối với nhận thức của người dân Nga về cuộc chiến hiện nay.

Trong nhiều tuần lễ qua, các nhà lãnh đạo tôn giáo trên khắp thế giới đã không ngừng van nài Thượng phụ Kirill lên tiếng chống lại cuộc chiến xâm lăng Ukraine do Putin điều động. Nhưng trong các bài giảng hằng tuần được truyền đi trên Đài Truyền Hình, dĩ nhiên của nhà nước Nga, vị thượng phụ này lúc nào cũng giữ nguyên một giọng: lúc nào ông cũng mặc cho cuộc chiến xâm lược của Putin một sứ mệnh cao cả là chiến đấu chống lại những sức mạnh của sự Dữ đang tìm cách hủy diệt sự hiệp nhứt mà Thượng Đế đã ban cho “Nước Nga Thánh Thiêng”.

Một ngày trước khi quân đội Nga tràn vào Ukraine, thượng phụ Kirill đã đăng đàn để ca ngợi các binh sĩ Nga như những người bảo vệ tổ quốc. Ông nói: “Họ (các binh sĩ Nga) không hề nghi ngờ rằng họ đã chọn một con đường rất đúng đắn trong cuộc sống của họ”. Rồi không đầy 2 tuần lễ sau khi quân đội Nga xâm chiếm lãnh thổ Ukraine, Thượng phụ Kirill biện hộ rằng cuộc xâm lược có một “ý nghĩa siêu hình” và cảnh cáo “đàn chiên” của ông rằng cái giá mà họ phải trả khi mở rộng vòng tay đón nhận văn minh tiêu thụ của thế giới Tây Phương và “tự do” mà thế giới này mang đến thật là khủng khiếp: đó là phải đứng ra tổ chức những cuộc diễu hành của những người đồng tính!

Trong một bài giảng hàng tuần khác để biện minh cho cuộc chiến xâm lược của Putin, Thượng phụ Kirill nói đến “sự thật của Thượng Đế”. Và theo “sự thật” đó thì người Nga, người Ukraine và người Belarus đều chung  chia  một gia sản tinh thần và dân tộc  cho nên cần phải được liên kết với nhau như một dân tộc. Đây chính là nội dung bài hiệu triệu  của Putin trước khi đưa quân sang xâm chiếm Ukraine (2). Với Putin và Kirill, xâm chiếm Ukraine, ngay cả bằng vô số tội ác chiến tranh và diệt chủng, biến quốc gia độc lập này thành một phần của Đại Nga là một nghĩa vụ thiêng liêng được chính Thượng Đế ủy thác!

Từ lâu Thượng phụ Kirill và Putin đã là 2 đồng minh rất thân cận với nhau. Họ gần gũi và đồng hóa với nhau như bóng với hình. Thượng phụ Kirill đã có lần mô tả 12 năm cầm quyền đầu tiên của Putin là “một phép lạ của Thượng Đế”. Về phần mình, Putin tiết lộ rằng chính thân phụ của Kirill, lúc làm một linh mục quản xứ tại một giáo xứ ở Leningrad đã rửa tội “chui” cho ông vào năm 1952. Hai người thường xuyên xuất hiện bên cạnh nhau trong những ngày lễ quan trọng, đặc biệt mỗi dịp lễ Phục Sinh, những lần thăm viếng các tu viện và hành hương đến những linh địa. Gắn kết với nhau hơn có lẽ là cái quá khứ KGB của cả hai. Putin đã từng là một điệp viên KGB. Còn Kirill, theo một số tài liệu trong Văn khố Nga, cũng đã từng là một điệp viên KGB trước khi xuất gia vào tu viện. Dạo đầu tháng Ba vừa qua, báo The Guardian của Nga có phỏng vấn một số người Ukraine. Được hỏi ý kiến về Thượng phụ Kirill, một số đã dựa vào Văn khố Nga để khẳng định rằng ông ta đã từng là một điệp viên  KGB và chính vì quá khứ này mà ông đã ủng hộ cuộc chiến xâm lược của Putin tại Ukraine (3).

Trong những năm gần đây, Putin ngày càng tỏ ra mình là một tín hữu rất “đạo đức”. Ông đeo trên cổ một sợ giây chuyền có gắn một cây thánh giá bằng bạc. Ông hôn kính các tượng ảnh. Đáng chú ý nhứt là lần ông để mình trần trầm người xuống một hồ nước lạnh trước các ống kính truyền hình. Theo Chính Thống giáo, đây là nghi thức qua đó một nam tín hữu bày tỏ sự trưởng thành và nam tính của mình trong ngày lễ Hiển Linh (tức lễ Ba Vua).

Putin là một tín hữu thuần thành hay là một ma đầu chính trị? Với vô số tội ác đã từng xảy ra tại Nga cũng như ngay cả ở hải ngoại và nhứt là những  tội ác chiến tranh đã và đang diễn ra tại Ukraine trong hơn một tháng qua, tôi không tin rằng Putin là tín đồ của bất cứ tôn giáo nào.

Còn ông giáo chủ Kirill, mỗi lần nhìn ông giương cây trượng dát vàng lên để giảng dạy, tôi không nhìn thấy thánh giá của Chúa Giêsu đâu cả, mà chỉ là lưỡi lê của cuồng vọng và hận thù, nhứt là khi nhìn thấy vô số tội ác do Putin đã và đang gây ra tại Ukraine, ông vẫn có thể muối mặt để cổ võ các binh sĩ tiếp tục tham gia vào tội ác, vì Nga là một “nước yêu chuộng hòa bình” (4).

Nhìn Thượng phụ Kirill múa gậy của bạo lực để tôn vinh Thượng Đế, tôi không thể không liên tưởng đến câu thần chú “Allahu Akbar” (Thượng Đế Vĩ Đại) được một số lãnh tụ Hồi giáo và những kẻ khủng bố hô lớn để sát hại những người vô tội.

Tội nghiệp Thượng Đế! Cứ bị người ta nhân danh để làm điều ác. Ngay cả một người nhân ái và từ bi như Đức Phật cũng cùng chung một số phận. Có một dạo thế giới nói đến rất nhiều về một nhà sư Miến Điện tên là Wirathu. Ông không ngần ngại tự nhận mình là một “Osama Bin Laden” của Miến Điện. Lãnh đạo một cộng đồng tu sĩ với hơn 2500 tăng sĩ, Wirathu đã qui tụ được hàng trăm ngàn khán thính giả qua các bài thuyết giảng của ông được truyền đi trên Facebook và YouTube. Nội dung của các bài thuyết pháp của nhà sư này lúc nào cũng xoay quanh sự thù hận đối với người Hồi Giáo, đặc biệt là người Hồi giáo thuộc sắc tộc Rohingya. Sự khích động của nhà sư Wirathu đã khiến cho hàng trăm người Rohingya bị giết chết và trên cả trăm ngàn người phải đi lánh nạn (5). Tạp chí Time đã có lý để gọi nhà sư này là “bộ mặt khủng bố của Phật Giáo”.

Nhìn chung, hình như lịch sử của bất cứ một tôn giáo có tổ chức nào cũng có những trang đẫm máu. Không bị bách hại vì niềm tin hay đạo pháp thì cũng nhân danh niềm tin hay đạo pháp để bách hại người khác.

Lịch sử của Kitô giáo của tôi đầy những trang như thế. Mỗi dịp lễ Phục Sinh, tôi thường nhìn lại những trang sử đó. Gần đây, tôi hay bị dằn xóc vì một câu chuyện trong Kinh Thánh mà Giáo Hội cho tôi nghe trong Đêm Vọng Phục Sinh. Đó là câu chuyện về cuộc xuất hành của người Do Thái ra khỏi kiếp nô lệ bên Ai Cập. Theo câu chuyện, để tạo sức ép buộc vua Pharaoh của Ai Cập phải để cho người Do Thái được tự do ra đi, Thượng Đế đã giáng xuống đất nước này không biết bao nhiêu tai họa. Nhưng vua Pharaoh vẫn cứ cứng lòng. Cuối cùng, trong đêm tối, Thượng Đế đã sai sứ thần xuống giết chết  tất cả các con trai đầu lòng của người Ai Cập và với quyền lực của Ngài, người Do Thái đã vượt qua được Biển Đỏ mà vẫn “ráo chân” (Sách Xuất Hành 12,29-42). Người Do Thái xem đây là một biến cố lịch sử. Kitô giáo xem câu chuyện như Lời Chúa. Vì là Lời Chúa cho nên sau khi lắng nghe câu chuyện, cộng đồng tín hữu đã cùng hòa tiếng trong ca khúc khải hoàn để chúc tụng Thượng Đế vì đã thực hiện một kỳ công vĩ đại như thế.

Mỗi năm, khi nghe lại câu chuyện Xuất Hành của người Do Thái, tôi hay nghĩ vẩn nghĩ  vơ: liệu có một Thượng Đế, vì chọn một dân tộc làm dân riêng mà tàn sát những đứa trẻ vô tội của một dân tộc khác không? Tôi sợ phải tuyên xưng một Thượng Đế như thế và dĩ nhiên tôi lại càng sợ hơn khi có người tự xưng mình là người được Thượng Đế “tuyển chọn” và được vô số người tung hô và sùng bái. Với tôi, thực tế là một trái ngược: con người đã “tuyển chọn” Thượng Đế theo ý muốn của họ.

Lễ Phục Sinh, Giáo Hội của tôi mời gọi tôi tuyên xưng rằng Chúa Giêsu đã thực sự sống lại. Trong suốt hơn 70 năm của cuộc hành trình đức tin, tôi chưa một lần “thấy” hay cảm nhận được Chúa Phục Sinh. Điều tôi chỉ có thể thấy được đó là Thập Giá và trên Thập Giá Ngài đã tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Ngài. Với cái chết trên Thập Giá, Ngài muốn chứng tỏ rằng chỉ có tình yêu, sự khoan nhượng, tấm lòng cảm thông và nhứt là sự tha thứ mới có thể chiến thắng được hận thù. Có lẽ đó mới thực sự là ý nghĩa của Phục Sinh. Với cái chết trên Thập Giá, Chúa Giêsu đã muốn giải oan cho Thượng Đế, bởi lẽ Thiên Chúa là Tình Yêu. Vì vậy, tôi tin rằng chỉ có những ai, ngay cả những kẻ tự xưng là vô thần, biết sống yêu thương mới thực sự cảm nhận được sự hiện hữu của Thượng Đế và giải oan cho Thượng Đế vì vô số tội ác mà con người đã gán cho Ngài hay nhân danh Ngài để thực hiện.

 

Chu Văn

 

 

 

Chú thích

1. Who are the everyday Russians rallying behind Putin’s war? https://www.aljazeera.com/news/2022/4/6/the-russians-who-rally-behind-putins-special-operation

2. Deborah Netburn, A spiritual defense of the war in Ukraine? Putin’s patriarch is trying, https://www.latimes.com/world-nation/story/2022-03-29/russian-orthodox-patriarch-offers-a-spiritual-defense-of-the-war-in-ukraine

3. Patriarch Kirill of Moscow, wikipedia

4. Patriarch urges soldiers to defend “peace-loving” Russia amid Ukraine campaign https://www.reuters.com/world/europe/patriarch-urges-soldiers-defend-peace-loving-russia-amid-ukraine-campaign-2022-04-03/

5. Buddist monk uses racism and rumours to spread hatred in Burma https://www.theguardian.com/world/2013/apr/18/buddhist-monk-spreads-hatred-burma

 

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

Hòa giải trong sự thật


Chu Thập
Phục sinh 2014
Hôm thứ Hai 7 tháng 4 năm 2014 vùa qua, Cộng hòa Rwanda, một quốc gia nằm ở miền Trung Đông Phi Châu, đã tổ chức tưởng niệm 20 năm cuộc  diệt chủng được xem là khủng khiếp nhứt trong lịch sử nhân loại. Khủng khiếp đến độ, tôi nhớ có đọc một bài tường thuật của một nhà truyền giáo, vốn đã chứng kiến cái cảnh trung bình cứ 10 giây có một người bị tàn sát một cách dã man, đã phải thốt lên: “Có lẽ quỷ dữ đã thoát ra khỏi hỏa ngục!” Chỉ trong 100 ngày, từ ngày 7 tháng Tư đến giữa tháng 7 năm 1994, đã có từ 500 ngàn đến một triệu người, mà phần lớn là người thuộc sắc tộc Tutsi, bị người Hutu sát hại. 20 năm sau, những nỗ lực tái thiết của quốc gia này được thực hiện song song với quyết tâm hòa giải và tha thứ. Một vài hình ảnh về hòa giải và tha thứ được trình chiếu trên Đài SBS trong chương trình tối thứ Ba 8 tháng 4 vừa qua, đã tạo ra trong tôi những cảm xúc thật mãnh liệt. Một phụ nữ Tutsi đã ôm chầm người thanh niên đã từng tấn công cô và tha thứ cho anh, sau khi người thanh niên này bị giam tù 8 năm. Câu chuyện của một người đàn ông khác còn cảm động hơn: anh đã thương và cưới con gái của một người đàn ông Hutu, người đã từng cộng tác vào việc sát hại gần 30 người thân trong gia đình của anh. Cả người phụ nữ lẫn người đàn ông thuộc sắc tộc Tutsi trên đây đều nói rằng họ không thể làm gì khác hơn là hòa giải với và tha thứ cho kẻ thù của mình. Nhưng dĩ nhiên, trên qui mô quốc gia, hòa giải và tha thứ chỉ có thể thực hiện được khi sự thật được nhìn nhận và phơi bày. Tưởng niệm cuộc diệt chủng đối với người dân Rwanda hiện nay chính là nhìn nhận rằng trong lịch sử đất nước đã từng có một cuộc diệt chủng dã man và những người đã từng chủ mưu hay nhúng tay vào tội ác đều phải nhận lãnh trách nhiệm và trả lại công lý cho các nạn nhân. Cũng như sự thật lịch sử về cuộc diệt chủng người Do Thái do Đức quốc xã chủ xướng, sự thật về bất cứ cuộc diệt chủng nào cũng đều phải được nhìn nhận như nền tảng để thực thi hòa giải.
Tại Nam Phi, tuy không có một cuộc diệt chủng trong suốt thời gian cai trị với chính sách phân biệt chủng tộc của thiểu số người da trắng, nhưng liền sau khi người tù của thế kỷ 20 là Nelson Mandela được trả tự do và trở thành người da đen đầu tiên được bầu làm tổng thống của quốc gia này, một Ủy ban có tên là “Sự Thật và Hòa Giải” đã được thiết lập. Mục đích của Ủy ban là kêu gọi tất cả những ai đã từng là nạn nhân của chế độ phân biệt chủng tộc ra làm chứng về tội ác của chế độ. Bên cạnh họ, những người đã từng tham gia vào tội ác trong chế độ này cũng được mời ra cung khai và nhìn nhận trách nhiệm của mình. Nam Phi hiện chưa phải là một nền dân chủ hoàn hảo, nhưng ít ra nền dân chủ này đã đặt nền móng trên sự thật. Không thể nói đến hòa giải và tha thứ khi sự thật không được tôn trọng và cũng không thể có dân chủ thật sự nếu nó không được xây dựng trên sự thật.
Nghe chuyện hòa giải dân tộc diễn ra đó đây trên thế giới, tôi cũng mong sao một ngày nào đó điều này cũng sẽ trở thành sự thật trên quê hương tôi. Tôi mừng thầm khi mới thoáng đọc được lời kêu gọi “lấy chân thành xóa hố sâu thù hận” của thứ trưởng ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Thanh Sơn. Ông này đã tổ chức được hai chuyến viếng thăm quần đảo Trường Sa dành riêng cho “kiều bào” Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài. Trong lần thứ ba sắp tới, ông loan báo sẽ có lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã tử trận để bảo vệ Hoàng Sa và các thuyền nhân tử nạn. Nghe cảm động muốn rơi nước mắt! Nhưng đọc kỹ bài phỏng vấn ông dành cho báo Tuổi Trẻ hôm 4 tháng Tư vừa qua (x. Đàn Chim Việt.Info 7/4/14), tôi hoàn toàn thất vọng, nếu không muốn nói “nổi giận” là khác.
Trong bài phỏng vấn, ông Nguyễn Thanh Sơn cho biết có mời “một số nhà báo, một số người xưa nay vẫn chống đối rất cực đoan”. Ngoài ra, còn có đại diện của 6 tôn giáo lớn tham dự. Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam còn cho biết lễ cầu siêu không chỉ dành riêng cho các anh hùng liệt sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh trong quá trình bảo vệ biển đảo cũng như “ghi nhận sự hi sinh của những người lính Việt Nam Cộng Hòa trong lực lượng hải quân đã bảo vệ Hoàng Sa năm 1974”. Không gì cảm động bằng khi nghe ông cũng nhắc đến việc “tưởng nhớ và thương tiếc những người dân Việt Nam vô tội đã ra đi và bị chết trong cuối thập kỷ 1970, đầu thập kỷ 1980”. Nhưng cái bộ mặt đểu giả của một tên Việt Cộng chính cống đã hiện nguyên hình khi ông giải thích: “Chúng tôi coi những thuyền nhân tử nạn là nạn nhân chiến tranh, ra đi vì bị tuyên truyền, kích động bởi thông tin một chiều, bởi khó khăn về  đời sống kinh tế và nhiều nguyên nhân khác”.
Một người tỵ nạn cộng sản như tôi không thể không cảm thấy bị xúc phạm khi bị xem như một thành phần bỏ nước ra đi vì “bị tuyên truyền, kích động bởi thông tin một chiều hoặc bởi khó khăn vì kinh tế” chớ không phải vì trốn chạy chế độ cộng sản độc tài khát máu. Tôi lại càng cảm thấy bị xúc phạm hơn nữa khi ông Nguyễn Thanh Sơn bảo rằng trong “rất nhiều năm qua, một số bà con cô bác chúng ta ở bên ngoài nghe thông tin một chiều, hiểu không đúng về tình hình đất nước, đặc biệt là chủ quyền biển đảo”.
Thì ra, ở đâu đó trên thế giới, hòa giải dân tộc là chuyện có thực. Còn tại Việt Nam ngày nay, dưới những khẩu hiệu hoa mỹ như “lấy chân thành xóa hố sâu hận thù”, hòa giải dân tộc chỉ là trò giả nhân giả nghĩa mà thôi. Tôi không tin có một người cộng sản nào dám nói và sống cho sự thật. Đã nói và sống cho sự thật thì còn gì là “cộng sản” nữa. Xét về lý thuyết, tôi chẳng hiểu hoặc chỉ hiểu lơ tơ mơ về ý thức hệ cộng sản. Nhưng nếu có ai định nghĩa “cộng sản” thiết yếu, nghĩa là tự bản chất, là “dối trá” thì tôi tin như kinh tin kính.
Theo tôi, để thực sự có hòa giải dân tộc thì trước tiên những người cộng sản phải nhìn nhận và tôn trọng sự thật đã. Trước hết là sự thật về con người của ông Hồ Chí Minh. Cho tới nay, đàng sau cái lớp phấn sáp bao phủ cái xác ướp thối tha đang được đặt trong lăng Ba Đình, là cả một trời “dối trá”: dối trá do chính ông Hồ tự dựng lên về mình để tự đưa mình lên chín tầng trời của tài năng và đức độ, dối trá do cả một chế độ độc tài đã “phịa” ra từ gần 70 năm nay.
Sau sự thật về con người của ông Hồ Chí Minh, những người cộng sản cũng phải nhìn nhận sự thật về không biết bao nhiêu tội ác mà ông Hồ đã gây ra cho các thành viên của các Đảng phái bên ngoài cộng sản, những người đã góp phần cho ông đưa cộng sản lên nắm chính quyền. Lịch sử vẫn còn đó. Người Việt Nam trong nước, vì chỉ biết thông tin một chiều, có thể không biết hoặc không màng đến sự thật ấy. Nhưng ở nước ngoài, nhứt là trong thời đại thông tin toàn cầu và sau khi chủ nghĩa cộng sản Liên Xô đã cáo chung và các chế độ cộng sản Đông Âu đã sụp đổ, người Việt tỵ nạn đang sống trong những nước dân chủ và tự do không hề bị thông tin một chiều lung lạc! Sự thật lịch sử đều đã được phơi bày rành rành ra đó.
Làm sao chối cãi được sự thật về cuộc Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” khiến cho bao nhiêu người vô tội đã bị sát hại bằng những phương pháp tàn bạo chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Phủ nhận sao được sự thật về những cuộc đấu tố dã man đối với các văn nghệ sĩ Miền Bắc trong thời Nhân Văn Giai Phẩm. Nhắm mắt làm ngơ sao được trước biến cố Mậu Thân ở Huế, trong đó có cả hàng ngàn người bị hành quyết hoặc chôn sống một cách dã man. Còn có chút lương tri liệu có thể không nhìn nhận thảm cảnh của “triệu triệu (chớ không phải chỉ có một triệu như cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói) người buồn” trong khi chỉ có “một triệu người vui” vì cuộc chiến phi lý dã man do những người cộng sản chủ xướng không? Và có lẽ phải đui mù, điếc lác cả thể lý và tinh thần thì may ra mới không nhìn nhận rằng bao nhiêu quân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa đã bị đày đọa và hành hạ cho đến chết trong những trại khổ sai được ngụy tạo dưới danh nghĩa “trại cải tạo”.
Và ngày nay, liệu có phải là chuyện thông tin một chiều không khi người dân trong nước cũng như ở hải ngoại cứ phải chứng kiến và nghe những vụ cướp ngày diễn ra như cơm bữa hoặc bao nhiêu người thiện chí cứ mở miệng góp ý, phê bình là bị tù, có khi cho đến chết như trường hợp mới nhứt là thày giáo Đinh Đăng Định. Nói gì đến những tệ nạn xã hội và thảm kịch của người phụ nữ Việt Nam phải bị bán đi làm vợ cho tứ phương thiên hạ. Nói gì đến chuyện người Việt Nam đi đến đâu cũng đều bị các nước láng giềng kêu gọi đề cao cảnh giác vì thói ăn cắp vặt hoặc chẳng có chút tư cách nào trong việc ăn uống trong các nhà hàng. Đó không phải là sự thật sao?
Xét cho cùng, chỉ có một sự thật mà người cộng sản phải nhìn nhận nếu muốn thực thi hòa giải: kể từ khi chủ nghĩa cộng sản bị áp đặt xuống Miền Bắc và kể từ khi Miền Nam Việt Nam bị “cướp” theo đúng nghĩa, cả dân tộc Việt Nam đã và đang  bị đọa đày trong lầm than, khốn khổ, nô lệ và chết chóc.
Là một tín hữu Ki-tô, trong những ngày này, khi thế giới Ki-tô giáo đang chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh, tôi thường suy nghĩ về hai chữ “hòa giải”. Các tín hữu được khuyến khích “hòa giải” với tha nhân xuyên qua việc xưng thú tội lỗi của mình. Sự việc diễn ra một cách kín đáo, chẳng ai biết được người tín hữu “xưng thú” điều gì khi họ đến gặp linh mục. Chỉ có điều chắc chắn là để được hòa giải với tha nhân, họ cần phải nhìn nhận những lỗi phạm và bất công cách này hay cách khác mình đã gây ra cho tha nhân. Niềm vui lớn nhứt mà có lẽ người tín hữu cảm nhận được khi hòa giải với tha nhân chính là cảm thấy mình được “giải thoát”: giải thoát khỏi xiềng xích của ích kỷ, hận thù và nhứt là dối trá.
Suy nghĩ về hai chữ “hòa giải”, tôi không thể không nhớ lại lời dạy của Chúa Giêsu: “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32).
Kể từ khi Miền Nam Việt Nam bị cộng sản “cướp”, ý nghĩa của hai chữ “giải phóng” đã hoàn toàn bị đảo lộn. Kẻ nô lệ tự cho mình là người giải phóng.  Ít ra có một người, vốn chỉ biết thông tin một chiều, là nhà báo Huy Đức cuối cùng đã “ngộ” ra rằng không phải bên “thắng cuộc” là người cộng sản mới là người giải phóng, mà chính người dân Miền Nam mới thực sự là người giải phóng, bởi lẽ chính họ mới mở mắt cho người miền Bắc biết được thế nào là dối trá, thế nào là sự thật và thế nào là tự do. Bao lâu vẫn còn bị trói buộc trong xiềng xích của hận thù và dối trá, nghĩa là không chịu nhìn nhận tội ác mình đã và đang gây ra cho dân tộc, thì xin chớ nói đến “giải phóng” và nhứt là hòa giải, bởi lẽ hòa giải chỉ có trong sự thật mà thôi.
Mà Sự Thật liệu có còn tồn tại ở Việt Nam sau gần bảy thập niên qua hay không?











Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

“Thú Người”


Chu Thập
Phục sinh 2013

Mỗi năm, cứ dịp lễ Phục Sinh của Kitô giáo, tôi lại được nhắc nhở về cuộc chiến triền miên trong con người. Ngôn ngữ nhà đạo gọi đó là cuộc song đấu giữa Ân sủng và Tội lỗi, giữa sự Sống và sự Chết. Nhưng dù không là tín đồ của một tôn giáo nào, có lẽ ai cũng cảm nghiệm được trong bản thân một cuộc chiến cam go diễn ra từng phút từng giây giữa thiện và ác. Có lẽ gợi hình hơn nếu gọi đó là cuộc chiến giữa “con thú” và “con người” trong cùng một cá nhân. Hình ảnh này phù hợp với định nghĩa quen thuộc: con người là “một con vật có lý trí”. Tiếng “Con Người” trong ngôn ngữ Việt Nam có lẽ diễn tả đầy đủ hơn cả bản tính con người. Trong con người vừa có “con” (tức con thú), vừa có “người” (tức nhân tính). Khi con người biết vận dụng lý trí trong cách cư xử thì con thú được chế ngự. Trái lại, khi con thú được thả lỏng và lên ngôi thì con người bị đè bẹp, có khi nhỏ lại và biến mất.
Tôi đã có những suy nghĩ trên đây khi đọc được một số bài bình luận về quyển tiểu thuyết có tựa đề “Thú Người” của nữ văn sĩ Herta Muller (x.Nguyễn Mạnh Trinh, Thú người và Herta Muller, VL 22/3/2013; Trịnh Bình An, đọc “Thú Người” của Herta Muller, ĐCV Online.net 27/3/2013).
Herta Muller là một nhà văn Rumani gốc Đức. Là một người đã trải qua những năm tháng nghẹt thở dưới chế độc cộng sản độc tài và độc ác tại Rumani, cho nên tất cả các tác phẩm của bà là một bản án tố cáo tội ác của chế độ cộng sản tại Rumani nói riêng và trong tất cả các chế độ cộng sản nói chung. Bà đã nhận được rất nhiều giải thưởng về văn học. Nhưng danh giá hơn cả là Giải Nobel Văn Chương mà bà đã được trao tặng hồi năm 2009. Chính vì các tác phẩm của bà là một lời tố cáo về sự độc ác dã man của các chế độ cộng sản, mà năm 2009, khi Giải Nobel Văn Chương được công bố, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã cấm dịch, in và phổ biến các tác phẩm của bà.
Trong các tác phẩm của bà Herta Muller, được nhắc đến nhiều nhất là quyển tiểu thuyết có tựa đề bằng tiếng Đức “Herztier”, với bản dịch Anh Ngữ là “The Land of Green Plums” (Đất nước của những trái mận xanh) và được tác giả Dương Hoàng Dung dịch sang tiếng Việt một cách sát nghĩa và chính xác là “Thú Người”. Tựa đề tiếng Đức “Herztier” gồm có hai từ: “Hert” là trái tim (ám chỉ con người) và “Tier”, tức con thú. Do đó, “Herztier” có nghĩa là trái tim thú.
Tác giả Trịnh Bình An đã giải thích như sau: “Bản tính con người gồm có hai phần: nhân tính và thú tính, với thú tính là bản năng sinh tồn. Dưới chế độ cộng sản, khi nhân tính bị sỉ nhục và bị bóp nát thì con người chỉ còn lại thú tính”.
Với những người chưa từng sống dưới chế độ cộng sản thì quả thật các tác phẩm của nhà văn Muller là một khai sáng. Nhưng với những ai đã từng nếm trải sự độc ác của chế độ cộng sản, dù chỉ 5 năm ở thập niên 70,80 như tôi hoặc hiện nay, chỉ sau một lần về thăm quê hương, thì những chuyện kể trong các tác phẩm của bà Muller có lẽ cũng chỉ nói lên một phần nhỏ của những gì đang diễn ra trong các chế độ cộng sản.
Khi Miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản, nhiều người đã có lý khi mỉa mai rằng “thú vật lên làm người, người xuống hàng súc vật”. Thật ra, không phải thú vật lên làm người cho bằng con người bị đày đọa đến độ đánh mất nhân tính và cư xử với nhau chẳng khác nào súc vật.
Trong lời tự bạch cho cuốn tiểu thuyết có tựa đề “Dạ Tiệc Quỷ”, nhà văn Võ Thị Hảo, hiện còn sống trong nước, đã viết như sau: “Tôi sinh ra cùng một món nợ của người khác.
Bắt đầu bằng Cải Cách Ruộng Đất ở Miền Bắc. Người bước vào cuộc ấy ở cửa này, khi bước ra cửa sau đã biến dạng.
Và còn nhiều cuộc bước ra bước vào nữa.
Chẳng còn ai có thể sống như cũ nữa.
Từ đó nhiều người lấy sự phản trắc và cướp bóc cùng dối trá để được sống, được hơn người, lấy sự giả mù, sự câm sự  điếc làm gậy dò đường.
Những rường mối gia đình, xã hội bỗng bở nát như bị mối xông. Con tố cha, vợ đổ oan cho chồng, bội phản ân nhân, đó là cách tồn tại khốn khổ của những người nô lệ không có nơi nào để đi, không có gì để bấu víu, thôi đành vô cùng tự mãn về cách hành xử của mình”.
Lúc nhỏ, đọc chuyện thần tiên, xem những cuốn phim về “người hóa thú”, tôi tin là chuyện có thật. Ngày nay, cách riêng trong các chế độ cộng sản, tôi thấy chuyện người hóa thú là thường. Con thú mà con người bị bắt buộc phải hóa thân thành không nhứt thiết phải có lông, có cánh, có sừng, có móng vuốt, có răng nanh...Nó vẫn ăn mặc như con người hay có khi còn sang trọng hơn con người, nhưng nó lại múa may quay cuồng trông chẳng khác nào con thú. Hãy thử nhìn cái đám đông người Bắc Hàn khóc lóc, tru khéo trước cái chết của lãnh tụ Kim Jong Il hay hung hăng reo hò sẵn sàng ăn thua đủ với Nam Hàn và đồng minh Hoa Kỳ. Nhìn cái đông khóc lóc hay reo hò một cách rập ràng như máy ấy, tôi thấy chẳng khác nào một bầy thú đã được thuần hóa và tập luyện một cách nhuần nhuyễn để làm theo lệnh của những người huấn luyện thú trong các gánh xiếc. Các chế độ cộng sản vốn là những bậc thầy trong việc áp dụng khám phá của Pavlov để tạo ra những phản xạ có điều kiện. Trong chế độ cộng sản, hầu như mọi hành xử của con người đều là những phản xạ có điều kiện, trong đó đói và sợ là hai cái roi tàn độc nhứt.
Trong chế độ cộng sản, có những người bị bắt buộc phải hóa thú, nhưng cũng không thiếu những người tự hóa thú để có được bộ da bóng mượt hơn người khác.
Trong một bài viết có tựa đề “Bóng Đè”, được đăng trên báo mạng Calitoday 29/3/2013 vừa qua, tác giả ký tên Huỳnh Văn Úc nói đến một sự hóa thú tiêu biểu trong chế độ cộng sản Việt Nam.  Nhân vật hóa thú này có bằng tiến sĩ, làm giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại thành phố. Vợ có bằng Đại học chuyên về Anh ngữ, hiện làm việc cho một tờ báo bằng Anh ngữ. Con gái lớn cũng có bằng đại học. Cậu con trai út đang theo học Luật tại Đại học Bolton, bên Vương quốc Anh. Sau khi cậu lấy xong bằng cử nhân luật, hắn sẽ cung cấp để cậu ở lại dọn tiến sĩ. Mỗi tháng cậu được tiếp tế đến 5 ngàn đô la.
Gia đình của “đại trí thức” này sống trong một ngôi biệt thự ba tầng. Một buổi tối nọ, trên màn ảnh truyền hình, họ lắng nghe ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang “giải trình”: “So với mục tiêu ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng thì chúng ta chưa làm tới. Trước đây chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia, người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì chết cái đất nước này, đâu có được…”
Đêm đó, khi lên giường, mắt vừa khép lại, nhà “đại trí thức” rơi vào một giấc mơ hãi hùng. Hắn thấy mình biến thành một con sâu. “Con sâu có chiều dài một mét bảy, đúng bằng chiều cao của hắn. Đôi mắt lồi ti hí và gian giảo, đôi râu con cong ngọ ngoạy. Lông màu nâu pha những sọc đen che phủ khắp người. Chân tay hắn biến mất. Mười ngón tay và mười ngón chân còn lại bây giờ bám vào hai bên thành bụng tạo điều kiện cho hắn di chuyển. Hắn bò ra phòng khách, trèo lên ghế salon. Vợ hắn đang ngồi uống trà ở đấy thất thanh hét lên: “Ôi con sâu!” Hắn bực mình đáp lại, bây giờ hắn bực và cáu lắm nên chẳng anh với lại em, chẳng mình với ta gì sất. “Ừ thì tao là sâu đấy! Tao không là sâu thì lấy đâu ra cái cơ ngơi đồ sộ này. Lấy đâu ra mỗi lần đi Phú Quý mua vàng, đếm dăm ba dây bọc chất dẻo mỗi dây chục cây? Lấy đâu ra tiền gửi cho con trai ăn học?” Vợ hắn gọi con gái về. Gọi cả con trai đang du học Anh Quốc. Con trai hắn tức tốc bay về. Hai đứa con thấy hắn thành sâu thì vừa ghê tởm, vừa thương hại, nước mắt rơi lã chã. Hắn quát lên: “Thôi đừng khóc lóc nữa! Khốn nạn thay là sự thương hại của các người!”  Hắn quát to lắm. Cái thân hình sâu của hắn gồng lên rồi lại chùng xuống. Đã đau đớn khó chịu như thế mà lại còn có người đập vào lưng. Đập mạnh lắm. Mạnh đến mức hắn ú ớ câu gì đó không rõ rồi vùng mình chồm dậy. Ôi nhẹ nhõm quá! Thoát được kiếp con sâu! Còn vợ hắn thì lầu bầu: “Em đã bảo với mình bao nhiêu lần rồi là khi ngủ đừng nằm nghiêng bên trái. Nằm như thế tim bị sức ép của cơ thể gây ra bóng đè. Khiếp! thét to quá đi thôi!” (Huỳnh Văn Úc, Bóng Đè, Calitoday 29/3/2013)
Bị ác mộng mới thấy mình biến thành sâu bọ tức là còn có chút lương tâm để nhận ra sự hóa thú đáng kinh tởm mà chính mình đã chọn lựa. Giấc mơ hãi hùng ấy có thể là cuộc chiến vốn không thể tránh né được mà nhiều người vì quyền lực, địa vị, tiền của, danh vọng…đành thối lui, bỏ cuộc, chạy trốn để được yên thân. Nhưng một khi cuộc chiến bắt buộc phải xảy ra ngay trong chính bản thân, thì liệu con người có thể ở yên được không? Một khi đã lên ngôi, thì cái bóng của con thú sẽ đè bẹp cho đến khi con người phải ngộp thở mà thôi!
Cuộc chiến giữa thiện và ác, giữa sự thật và dối trá, giữa thiên thần và ác quỷ, giữa con thú và con người…là điều tất yếu đang diễn ra trong từng mỗi cá nhân, bất kể đang sống ở xã hội nào. Chỉ có thắng hoặc thua chứ không có hưu chiến.
“Thú người” của nhà văn Herta Muller cũng là một tác phẩm tự thuật, qua đó tác giả kể lại chính cuộc “nội chiến” và biểu lộ nhân cách của mình. Như tác giả Trịnh Bình An đã ghi nhận: “Đó là nhân cách của một người quyết liệt trong đấu tranh nhưng đầy lòng thương cảm trong sáng tác. Rất nhiều sự kiện trong truyện là tự sự của chính Herta Muller: cha bà từng là sĩ quan SS. Khi còn là sinh viên, bà đã tham gia “Aktionsgruppe Banat”, tức tổ chức các nhà văn đấu tranh cho tự do ngôn luận dưới chế độ độc tài Ceaucescu. Khi đến làm việc trong xí nghiệp, bà từ chối cộng tác với mật vụ nên thường bị thẩm vấn, đe dọa. Cả cuộc đời nhà văn là một tấm gương bất khuất trước bạo quyền”.
Thật ra, nếu so sánh cuộc chiến của bà Muller với vô số người Việt Nam đã và đang sống dưới chế độ cộng sản, có lẽ gương kiên cường bất khuất của họ còn sáng ngời hơn nhiều. Làm sao có thể so sánh với một thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, với một nhà thơ Nguyễn Hữu Loan, với nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường hay với linh mục Nguyễn Văn Lý và biết bao nhiêu người đã và đang bị giam tù chỉ vì muốn được tự do tỏ bày tư tưởng của mình và nhất là được sống như những con người. Họ thực sự là những kẻ chiến thắng, bởi vì họ không chấp nhận để cho chế độ cộng sản biến họ thành con sâu, cái kiến hay bất cứ một loài thú nào.
Tôi không có cơ hội để tham gia vào cuộc chiến ấy. Thật ra, tôi cũng không biết mình có đủ can đảm, ý chí bất khuất và sự kiên cường để không bị hóa thú trong chế độ cộng sản không. Nhưng gương sáng của không biết bao nhiêu người, vì không chấp nhận trở thành sâu bọ trong chế độ cộng sản, đã dám hy sinh tất cả không thể không là nguồn cảm hứng cho tôi trong Mùa Phục Sinh này. Không cần phải sống trong chế độ cộng sản để bị cưỡng bách phải hóa thú, cuộc sống mỗi ngày cũng luôn đòi hỏi tôi phải chiến đấu không ngừng. Trong một xã hội thịnh vượng và tự do dân chủ, cuộc “nội chiến” của mỗi con người lại còn khốc liệt hơn. Bởi nó đòi hỏi một sự tự nguyện dấn thân, tự nguyện chia sẻ và tranh đấu vì lợi ích của người khác chứ không phải vì bị thiếu thốn hay áp bức. Trong cuộc chiến ấy, tôi biết rằng cứ mỗi lần tôi để cho cái tôi lớn lên bằng cách thả lỏng những tính toán ích kỷ, những khuynh hướng thấp hèn thắng thế là mỗi lần tôi cảm thấy phần “người” trong tôi nhỏ lại và phần “con thú” lại lớn lên.
Khi tính sổ cuối ngày tôi thường thấy ra một điều: hễ hôm nào tôi bận bịu gặp gỡ, chia sẻ những thân ái vụn vặt trong ngày với người khác mà quên đi cái “thằng tôi” thì phần “người” lại lớn lên. Phần “người” trong tôi chỉ có thể “sống mạnh sống hùng” nếu tôi sống cùng và sống với những người khác và cho người khác.






Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2018

Chúc mừng Phục Sinh hạnh phúc!



Chu Thập
Phục Sinh 2018
Nhân dịp lễ Phục Sinh của Kitô Giáo, tôi có đi xem cuốn phim “Mary Magdalene” đang được trình chiếu tại Úc. Cuốn phim  dường như muốn phục hồi danh dự cho vị thánh nữ thường được người công giáo Việt Nam tôn kính dưới tên gọi Maria Mađalêna. Thật vậy, kể từ Thế kỷ thứ 6, vị thánh này đã bị đồng hóa với cô gái điếm đã từng đến quỳ dưới chân Chúa Giêsu, xoa dầu lên chân Ngài và dùng tóc để lau như một cử chỉ bày tỏ sự sám hối. Nhưng vào năm 2016, Tòa Thánh Vatican đã chính thức lên tiếng giải thích rằng trong Kinh Thánh Tân Ước, có nhiều người mang tên Maria và thánh nữ Maria Mađalêna không hề là một cô gái điếm. Theo chuyện phim được đạo diễn Garth Davis thực hiện, Maria Mađalêna là một thiếu nữ xuất thân từ một làng đánh cá nghèo ở miền Galilêa. Điều đó có nghĩa là cô là một người đồng hương của Chúa Giêsu. Được Chúa Giêsu trừ quỷ, cô đã bỏ gia đình để  gia nhập vào nhóm môn đệ của Ngài, sống kiếp lang thang không nhà không cửa và đi theo Ngài cho đến khi Ngài bị bắt và bị treo lên thập giá tại Giêrusalem. Trong một chi tiết không được ghi lại trong Kinh Thánh, nhưng được làm nổi bật trong cuốn phim, người ta thấy Maria Mađalêna ngồi bên cạnh Chúa Giêsu trong bữa ăn cuối cùng của Ngài với các môn đệ thường được truyền thống Kitô Giáo gọi là bữa “Tiệc Ly”. Cuốn phim kết thúc với một biến cố quan trọng trong Kinh Thánh: Maria Mađalêna là người đầu tiên được “thấy” Chúa Giêsu Phục Sinh bên một bờ hồ.
Đây chính là cốt lõi của niềm tin Kitô Giáo. Mùa Phục Sinh, các tín hữu Kitô tuyên xưng Chúa Giêsu đã thực sự sống lại. Nhưng riêng tôi, cùng với niềm tin ấy, hàng năm cứ đến dịp lễ Phục Sinh, tôi thường suy nghĩ về sự liên kết và gắn bó giữa người sống và kẻ chết. Chết không phải là hết. Người quá cố vẫn tiếp tục “sống” trong lòng người sống: sống qua sự nghiệp họ để lại, sống qua những kỷ niệm và nhứt là sống qua tình yêu, sự gắn bó giữa họ và người sống. Tôi thường cảm nghiệm được điều đó mỗi khi nghĩ về cha tôi. Cha tôi qua đời khi tôi ở xa. Vì nhiều lý do, tôi không thể về tiễn đưa cha tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng. Nhưng cũng kể từ đó, tôi lại thấy gần gũi với cha tôi hơn bao giờ hết. Với tôi, cha tôi không nằm nghỉ yên trong một ngôi mộ ở quê tôi, mà vẫn sống một cách nào đó bên cạnh tôi. Sống đến độ tôi có thể “thấy” và truyện vãn với cha tôi như thể ông đang ở trước mặt tôi. Phải chăng đó không là ý nghĩa của hai chữ “như tại” thường được khắc trong các bức hoành phi của người Việt Nam.
Nếu người sống có thể “thấy” người chết và giữa người sống và kẻ chết vẫn có một mối giây liên kết vượt qua không gian và thời gian, thì giữa người sống với nhau, sự đồng cảm và thần giao cách cảm cũng rất thực hữu.
Văn hào Đức Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) đã có lần  giải thích về hiện tượng này: “Tất cả chúng ta đều đi trong huyền nhiệm. Chúng ta không biết điều gì đang khuấy động trong bầu khí quyển bao bọc xung quanh chúng ta và liên kết với thần trí của chúng ta như thế nào. Chỉ có điều rất chắc chắn là thỉnh thoảng chúng ta có thể để cho thần trí của chúng ta đi ra khỏi những giới hạn thể xác của nó: linh hồn của ai đó có thể quyết định tạo ảnh hưởng trên một người khác, dù chỉ bằng hiện diện một cách thinh lặng. Tôi có thể kể ra nhiều ví dụ về chuyện này. Đây là điều thường xảy ra cho tôi khi tôi đang đi bộ với một người quen và bất thần một hình ảnh sống động xuất hiện trong tâm trí tôi. Người đó liền tức thì nói về điều đó. Tôi cũng biết có một người, mặc dù không nói một lời nào, đã dùng sức mạnh tâm trí của mình để chấm dứt một câu chuyện đang nói dở dang với người khác... Tất cả chúng ta đều có những một luồng điện và những lực từ trường trong chúng ta. Cũng như một thỏi nam châm, chúng ta dùng chúng để thu hút hay để xua đuổi...Với những người đang yêu, lực từ trường này mạnh một cách đặc biệt và có thể tác động từ xa. Tôi đã từng cảm thấy muốn được ở bên cạnh một cô bạn gái của tôi và đã tưởng nghĩ  đến cô cho đến khi cô đến gặp tôi và nói: “Em cảm thấy đứng ngồi không yên trong phòng của em. Em không chịu đựng nổi cho nên đã tìm đến đây” (x.Jonathan Black, The Secret History of the World, Quercus, London, 2010, trg 272-273).
Những kinh nghiệm mà văn hào Goethe đã kể lại trên đây cũng đã từng xảy ra cho tôi. Có những lúc tôi tin chắc là mình đã đọc được tư tưởng của người khác. Cũng có lúc người khác như thể “đi guốc trong bụng tôi”. Tuy tôi không nói ra, họ hiểu được những tâm tư thầm kín của tôi. Có khi tôi và người thân của tôi cùng một lúc nói lên một ý nghĩ giống nhau. Có khi tôi vừa định gọi cho một người thân nào đó thì chuông điện thoại reo và chính người thân ấy đang gọi đến tôi. Với những người đang yêu nhau, đôi mắt của họ “biết nói”. Tựu trung, giữa người với người, như người Tây Phương thường nói, luôn có một phản ứng “hóa học” (chemistry). Có sự đồng cảm, mà cũng không thiếu ác cảm. Tự nhiên có những người mới gặp, tôi có cảm tình ngay và cũng không thiếu những người, tuy không quen biết, nhưng tự nhiên tôi lại cảm thấy “không ưa” nổi. Thành ra, đồng cảm là điều xem ra tự nhiên, nhưng phải học hỏi, tập tành và trau dồi con người mới biết thế nào là cảm thông với nhau.
Năm 2010, các chuyên gia tâm lý Gia Nã Đại đã cho công bố kết quả của một cuộc khảo sát về mức độ cảm thông khác nhau tại nhiều nước trên thế giới. Cuộc khảo sát đã được thực hiện với khoảng 100.000 người tại 63 nước và dựa trên Chỉ số Tương tác giữa Người với Người (Interpersonal Reactivity Index). Mức độ cảm thông được đo lường bằng hai mệnh đề: “Tôi thường có những cảm xúc dịu dàng và tỏ ra quan tâm đối với những người kém may mắn hơn tôi” và “Khi tôi cảm thấy thất vọng về một người nào đó, tôi thường cố gắng “xỏ chân vào giày của họ” một lúc”.
Kết quả cuộc khảo sát cho thấy có 10 nước đứng đầu thế giới về mức độ cảm thông, được xếp hạng theo thứ tự: Ecuador, Á Rập Saudi, Peru, Đan Mạch, Các vương quốc Á rập Thống nhất, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Đài Loan, Costa Rica, Kuwait. Nhìn chung, trong 10 nước đứng đầu thế giới về sự cảm thông, có 3 nước ở Trung Đông, 3 nước thuộc Châu Mỹ La Tinh và 2 nước nằm ở Đông Á. Cuộc khảo sát dường như cho thấy có một số cơ cấu xã hội giúp cho con người biết cảm thông với người khác nhiều hơn. Chẳng hạn những nền văn hóa đề cao cuộc sống tập thể và gia đình thường có chỉ số  cảm thông cao. Trong những nền văn hóa này, con người thường nhận ra mình như một thành phần của một nhóm xã hội và gia đình rộng lớn hơn để từ đó xem trọng sự hài hòa và mối quan tâm đến người khác. Có thể đó là lý do tại sao con người thuộc những nền văn hóa như thế dễ tỏ ra cảm thông hơn với người khác.
Kết quả cuộc khảo sát trên đây khiến cho nhiều người ngạc nhiên không ít khi nhìn đến thứ vị của Phần Lan (Finland). Trong nhiều năm qua, cuộc khảo sát về chỉ số hạnh phúc do Liên Hiệp Quốc thực hiện lúc nào cũng xếp Phần Lan vào hạng nhất nhì thế giới. Nhân Ngày Quốc Tế Hạnh Phúc năm nay, bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc đã dành địa vị số một cho quốc gia Bắc Âu này. Dựa vào những chỉ số về phúc lợi của người dân, Phần Lan được chấm là quốc gia hạnh phúc nhứt thế giới. Tuy nhiên, điều khiến cho nhiều người phải đặt câu hỏi là tại sao trong cuộc khảo sát về mức độ cảm thông, nước này lại tụt xuống tới hạng thứ 58 (x.https://www.psychologytoday.com/us/blog/the-empathy-gap/201707/no-empathy-isn-t-universal-value). Có thể vì hạnh phúc của người dân Phần Lan dựa trên những tiêu chuẩn khách quan (phúc lợi xã hội, hạ tầng cơ sở, cơ hội trong đời sống, việc làm, môi trường, y tế, giáo dục...) hơn là chủ quan (sự cố gắng, nỗ lực của cá nhân để thay đổi hoàn cảnh sống của chính họ và những người chung quanh)?
Trong các ý niệm trừu tượng của con người, dù thuộc văn hóa nào, hạnh phúc có lẽ là ý niệm mơ hồ nhứt. Hạnh phúc dường như lúc nào cũng tuột khỏi bất cứ một thứ khung định nghĩa nào. Hạnh phúc của người này có khi cũng khác với hạnh phúc của người khác. Mỗi người hạnh phúc một cách khác. Có người hạnh phúc khi san sẻ và trao ban cho người khác. Có người hạnh phúc khi thấy mình “hơn” người khác ở một điểm nào đó. Có người hạnh phúc khi thấy mình “khá” hơn so với một giai đoạn trước. Có người hạnh phúc theo một cuộc thăm dò này, nhưng lại không hạnh phúc trong một cuộc khảo sát khác. Chẳng hạn, theo sự xếp hạng trong bản phúc trình về hạnh phúc của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đứng tới hạng thứ 95. Còn theo kết quả mới được Tổ chức Nghiên cứu Kinh tế - Xã  hội Nes Economics Foundation thì Việt Nam lại đứng thứ 5 thế giới và thứ 2 trong khu vực Á Châu - Thái Bình Dương. Xem đó thì đủ biết hạnh phúc là một ý niệm rất tương đối. “Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột” là vậy.
Suốt cuộc đời, lúc nào tôi cũng đi tìm hạnh phúc và dĩ nhiên, vì hạnh phúc là một ý niệm tương đối và mơ hồ cho nên lúc nào tôi cũng cố gắng đi tìm cho mình một định nghĩa riêng về hạnh phúc. Nếu mẹ tôi còn sống và tôi được trở lại tuổi thơ thì có lẽ tôi cũng  sẽ bắt chước nhà thơ Đỗ Trung Quân trong nước để hỏi mẹ tôi: “Hạnh phúc là gì hở mẹ?” Mẹ tôi vốn là một bà mẹ “đạo đức”. Nếu quả thực đã thấm nhuần đạo lý của Chúa Giêsu thì có lẽ mẹ tôi sẽ mượn lời của Ngài để trả lời cho tôi: “Con ơi, cho thì hạnh phúc hơn nhận lãnh”.
Năm nào cũng vậy, mỗi dịp lễ Phục Sinh tôi thường gởi thư điện tử hay ngay cả gọi điện thoại để chúc mừng một số bạn bè và người thân “chúc mừng Phục Sinh hạnh phúc” (Happy Easter!). Lạ quá, tôi không hiểu tại sao Giáng Sinh thì người ta chúc nhau “Giáng Sinh vui vẻ!” (Merry Christmas). Còn Phục Sinh thì lại “Phục Sinh hạnh phúc”. Có thể vì Giáng sinh chúng ta vui vì nhận một món quà từ thượng giới là Hài nhi Giêsu trong khi đó Phục sinh là dịp chúng ta nhận thức được sự hiện diện của một Giêsu đã chết và sống lại. Như vậy, Phục sinh quả là dịp để đào sâu về ý nghĩa của hạnh phúc và cố gắng sống hạnh phúc. 
Tôi nhìn lại gương mặt thật đẹp và dễ thương của nữ tài tử Rooney Mara, người thủ vai thánh nữ Maria Mađalêna trong cuốn phim Mary Magdalene. Rạng rỡ nhứt là khi cô “thấy” lại Chúa Giêsu phục sinh bên bờ hồ. Ánh mắt của cô toát lên niềm vui và hạnh phúc đích thực của một người đang “thấy” người Thày chí thánh và thân yêu của mình.
Nghe nói cuốn phim Mary Magdalene được tặng cho một giải “Mâm Xôi” (Rotten Tomatoes) khá bự. Tôi không đủ trình độ phân tích nghệ thuật để phê phán về cuốn phim. Chỉ biết rằng sau khi xem cuốn phim tôi cảm nhận được một chân lý: khi người ta “thấy” và cảm thông được với người khác, đó là lúc con người hạnh phúc.
Cũng như mùa Giáng Sinh vui vẻ, mùa Phục Sinh hạnh phúc là mùa mời gọi tôi biết cố gắng ra khỏi cái tôi ích kỷ của mình để tưởng nghĩ đến người khác nhiều hơn, nhứt là những người bất hạnh và kém may mắn hơn tôi. Tôi tưởng tượng mình nghe được lời mẹ tôi nhắn nhủ: “Cho thì hạnh phúc hơn nhận lãnh, con ơi!”.