Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2019

Khuôn vàng



Chu Thập
19/5/19

Mới đây, báo The New York Times đã cho phổ biến tình trạng tài chính của Tổng thống Donald Trump từ năm 1985 đến năm 1994. Theo tài liệu, trong gần một thập niên này, tỷ phú địa ốc Trump đã thua lỗ hơn một tỷ Mỹ kim. Nhưng chỉ vài năm sau đó, với ngòi bút của “văn sĩ chuyên viết mướn” (ghostwriter) Tony Schwartz, ông đã cho xuất bản cuốn sách bán chạy như tôm tươi “The Art of the Deal” (Nghệ thuật Mặc cả). Trong cuốn sách nổi tiếng này, nhà địa ốc được bầu làm tổng thống khẳng định rằng, đúng như cái tên “Trump” tiền định của ông, hễ ông tung “lá bài chủ” ra tố, nghĩa là mặc cả và ngã giá thì lúc nào ông cũng thắng. Tự nhận mình là “chuyên gia đánh thuế” (tariff man), ông “tả xung hữu đột” với mọi thứ hàng hóa nhập cảng vào Mỹ, từ Gia Nã Đại, qua Mễ Tây Cơ đến Liên Âu và gần đây nhứt là Trung Cộng. Cuộc chiến thương mại mà ông cho là “tốt và dễ thắng” (trade wars are good and easy to win) hiện chưa kết thúc, nhưng trước mắt Trung Cộng đang liểng xiểng. Ai mà chẳng mừng khi thấy quốc gia cộng sản khổng lồ này bối rối và biết đâu nay mai chẳng sụp đổ kéo theo sự giải thể của đàn em cộng sản  Việt Nam.
Tổng thống Trump quả thực là người hễ đụng tới đâu là đẻ ra tiền tới đó. Mới đây, theo đài CNN, dựa theo báo cáo tài chính của ông được Tòa Bạch Ốc cho công bố, chỉ trong năm 2018, các cơ sở kinh doanh của ông, hiện do 2 người con trai của ông điều hành, đã kiếm sơ sơ cũng được 434 triệu Mỹ kim.
Tổng thống Trump lúc nào cũng tự hào về sự giàu có của mình. Lúc ra tranh cử tổng thống, ông tuyên bố tài sản của mình trị giá 10 tỷ Mỹ kim, mặc dù tạp chí Forbes, tờ báo chuyên điều tra về tài sản và xếp hạng các tỷ phú, lại chỉ đếm được khoảng 3 tỷ mà thôi. Hãnh diện về tài kinh doanh của mình, trong một tuýt bắn ra hồi năm 2014, ông viết như sau: “Tôi chưa bao giờ thấy một điều như thế: bất cứ điều gì nó đụng tới đều biến thành vàng”. Hay quá! Đây là một câu nói của Fred C. Trump về con trai Donald của ông (tức là tôi) (I’ve never seen anything like it, everything he touches turns to gold!” So nice, a quote by Fred C. Trump about his son Donald (me!)
Hư thực như thế nào tôi không biết, nhưng cái tuýt trên đây không thể không gợi lại cho tôi chuyện thần thoại về vua Midas, người hễ đụng tới đâu cũng biến thành vàng tới đó. Theo thần thoại, Midas là vua của vương quốc Phrygia, Tiểu Á. Ông có tất cả mọi sự mà bất cứ bậc vua chúa nào cũng đều mơ ước. Ông sống trong nhung lụa trong một tòa lâu đài vĩ đại. Chỉ khác với các vua chúa khác một điều: vua Midas sống một mình với cô công chúa. Mặc dù giàu có chẳng ai bằng, nhưng ông nghĩ rằng chỉ có vàng mới thực sự mang lại hạnh phúc cho ông. Suốt ngày ông chỉ biết ngồi đếm những đồng tiền vàng! Thỉnh thoảng ông còn dùng vàng để đắp lên người. Vàng lúc nào cũng là nỗi ám ảnh duy nhứt của vua Midas.
Ngày nọ, vị thần của rượu và yến tiệc là Dionysus đi rảo qua vương quốc của vua Midas. Silenus,người đồng hành của thần Dinonysus cảm thấy mệt mỏi cho nên đã dừng lại nghỉ chân trong ngôi vườn hồng cạnh cung điện của vua Midas. Tình cờ đi ngự uyển, vua Midas bắt gặp có người lạ mặt trong vườn hồng của mình. Ông liền mời Silenus vào cung điện, tiếp đãi tử tế và vài ngày sau đó, ông được hướng dẫn đến gặp thần Dionysus. Cảm kích trước lòng hiếu khách của vua Midas, thần Dionysus hứa sẽ cho ông bất cứ điều gì ông muốn. Không cần phải vò đầu bứt tóc, vua Midas liền xin: “Tôi muốn rằng bất cứ điều gì tôi đụng tới đều biến thành vàng”. Thần Dionysus hỏi ông đã suy nghĩ cẩn thận chưa, vua Midas vẫn tỏ ra cương quyết trong ước muốn của mình.
Ngày hôm sau, vừa thức giấc, vua Midas nhận thấy ước nguyện của mình đã thành sự thật: cái bàn nhỏ trong phòng ngủ vừa được ông chạm tới đã biến thành vàng! Ông chạy khắp nơi trong cung điện để xem điều ước muốn của mình có thật sự ứng nghiệm cho tất cả mọi thứ khác không. Tất cả mọi sự hễ được ông đụng tói đều biến thành vàng!.
Nhưng vua Midas không bao giờ nghĩ rằng ước nguyện cũng là một lời nguyền. Thật vậy, trong bữa ăn sáng, hễ ông đưa tay chạm đến bất cứ thức ăn nào, nó cũng đều biến thành vàng. Hoa hồng là loại hoa ông yêu thích nhứt. Nhưng khi ông vừa cầm một cánh hồng đưa lên mũi để ngửi mùi thơm của nó, cánh hoa cũng biến thành vàng. Vua Midas bắt đầu cảm thấy lo sợ. Vừa thấy cô con gái rượu đến gần, ông ôm chầm lấy cô, cô gái tức khắc biến thành một khối vàng.
Thần Dionysus nghe biết chuyện. Ông liền nói với vua Midas hãy đi ra sông Pactobus để rửa tay. Nhà vua làm theo và nhận thấy vàng tuôn chảy ra khỏi bàn tay của mình. Ông trở về cung điện và sờ vào bất cứ những gì đã bị hóa vàng. Mọi thứ đều trở lại bình thường. Niềm vui lớn nhứt của ông là ôm hôn cô con gái và thấy cô cũng trở lại trạng thái bình thường. Kể từ đó, vua Midas quyết định chia sẻ tài sản của mình cho dân chúng. Khi ông băng hà, dân chúng nhắc tới ông không chỉ như một “ông vua đụng tới đâu biến thành vàng tới đó”, mà  như một  người tử tế, quảng đại và luôn biết ơn về mọi thứ mình có.
Tôi không biết tổng thống Trump có biết câu chuyện thần thoại về vua Midas không. Nếu như bất cứ điều gì tôi đụng tới đều biến thành vàng cả thì còn gì khốn khổ bằng! Giấc mơ vàng có khác gì một cơn bệnh đâu.
Năm 1519, nhà thám hiểm Hernan Cortès và đoàn quân chinh phục của ông đặt chân lên đất Mễ Tây Cơ. Lúc bấy giờ, Mễ Tây Cơ vẫn còn là một hòn đảo biệt lập đối với thế giới bên ngoài. Người thổ dân Aztec nhanh chóng nhận thấy một điều là: những người khách lạ có một niềm ham mê kỳ lạ đối với một thứ kim loại màu vàng. Dĩ nhiên, người Arztec cũng đã từng biết sử dụng thứ kim loại này để làm đồ trang sức. Nhưng để mua bán hay đổi chác, họ lại dùng hột cocoa hay vải vóc mà thôi. Họ không thể hiểu nổi tại sao người Tây Ban Nha lại thích vàng đến thế. Khi người thổ dân Arztec hỏi ông Cortès tại sao người Tây Ban Nha thích vàng như thế, nhà thám hiểm này liền trả lời: “Bởi vì tôi và những người đồng hành của tôi mắc phải một chứng bệnh trong trái tim mà chỉ có vàng mới chữa được” (Yuval Noah Harari, Sapiens, a brief history of Humankind, Penguin Random House, London, 2011, trg 193).
Bài học tôi rút ra được từ câu chuyện của vua Midas là: người ta chỉ có thể chữa được những chứng bệnh trong trái tim bằng cách chia sẻ tài sản và của cải cho người khác mà thôi!
Cố thủ tướng Úc Bob Hawke vừa mới qua đời. Ông được tưởng nhớ như một người Úc vĩ đại nhứt. Về cuộc đời của ông, tôi đặc biệt nhớ đến một chi tiết: ông đã sinh ra và được giáo dục trong một gia đình Tin Lành. Cha ông là một mục sư. Thủ tướng Hawke kể lại rằng lúc nhỏ  ông thường được người cha nhắc nhở: “Con ơi, nếu con tin Chúa là Cha thì cũng hãy xem mọi người là anh em”. Lớn lên, ông nổi loạn, từ bỏ niềm tin tôn giáo, nhưng lúc nào cũng nhớ lời cha dặn “hãy xem mọi người là anh em”. Thay cho bài quốc ca “God save the Queen”, ông đã trao cho Úc Đại Lời một bản quốc ca mới có những lời như: “For those who’ve come across the seas, we have boundless plains to share, with courage let us combine to advance Australia Fair” (Với những người đến đây từ bốn biển, chúng ta có những bình nguyên bao la để chia sẻ, với lòng quả cảm tất cả chúng ta hãy kết hợp để tiến tới ngày Hội của Úc Đại Lợi). Những lời lẽ như thế chắc chắn phản ảnh tâm nguyện của thủ tướng Hawke là “xem mọi người là anh em”.
Cũng bằng thừa để nói rằng vàng bạc chẳng mang lại hạnh phúc đích thực cho con người. Trái lại nếu tôi  sống theo khuôn vàng “xem mọi người là anh em” để biết quảng đại, chia sẻ và cảm thông...chắc chắn tôi sẽ hạnh phúc hơn là “đụng đâu cũng biến thành vàng tới đó”.






Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2019

Vi nhân nan!


Chu Thập
12/05/19
Một ông bạn ở Marrickville, Sydney, mỗi lần thư đi tin lại với tôi đều ghi thêm một địa chỉ nghe rất nặng mùi kiếm hiệp là “Ma Cốc”. Bắt chước ông, tôi cũng gọi nơi tôi đang sống là “Cùng Cốc”. Chưa hẳn là “thâm sơn”, nhưng phía sau nhà tôi là cả một dãy núi thuộc lâm viên quốc gia. Không làm vua một cõi thì ít ra cũng hơn cả “quận công”, muốn làm gì thì làm mà chẳng sợ bị ai dòm ngó. Một cuộc sống như thế dĩ nhiên mang lại cho tôi nhiều cái thú, những cũng kéo theo nhiều thua thiệt. Phần lớn những người hàng xóm của tôi là dân Úc rặc. Gặp nhau cũng “Hello”, nhưng không dễ gì có được một quan hệ thân tình với họ. Có lúc tôi thèm gặp bạn bè ở miền Tây Sydney để bù khú và chén chú chén anh.
Nhiều người bảo: sống như thế thì thà chơi với chó còn hơn! Mà đúng vậy. Hiện tôi sống và  “chơi” với cậu chó trong nhà nhiều hơn với ai hết. Sáng sớm thức dậy đã thấy cậu đứng chờ ở cửa sau. Suốt ngày, ngoài những lúc lim dim ngủ ngày, cậu luôn có mặt bên cạnh tôi. Chiều đến, làm gì thì làm, cũng phải bỏ ra một giờ đề đưa cậu đi chơi ngoài công viên. Thân thiết với tôi như vậy cho nên cậu “dạy” cho tôi rất nhiều điều. Đúng hơn tôi học nơi cậu chó nhiều điều hơn tôi dạy cậu. Một trong những điều đó là: chó chẳng cần phải học làm chó mà vẫn sống được như chó! Dĩ nhiên, ở với người cho nên chó cũng được dạy dỗ, huấn luyện để làm theo một số mệnh lệnh của người như canh nhà, đuổi gà. Nhưng có rất nhiều điều, chẳng cần học mà cậu chó nhà tôi vẫn làm được.
Quan sát các sinh hoạt của cậu chó nhà tôi, tôi nghiệm ra một sự thật rất hiển nhiên là: thú vật chẳng cần phải học để làm thú vật! Tôi thấy rõ điều này nơi giống gà lôi rừng (bush turkey). Giống gà này sinh hoạt hoàn toàn khác với bất cứ loài có cánh nào. Cứ đến mùa sinh sản, chú gà trống bỏ ăn bỏ ngủ để dùng lá cây đắp một cái ụ cao có khi to bằng một chiếc xe hơi nhỏ. Sau đó chú moi vài cái lỗ sâu. Mấy chị gà mái nào muốn chọn chú làm cha của bày con của mình đều đến đẻ trứng vào đó. Sau đó, nhiệm vụ canh giữ “lâu đài tình ái” thuộc về chú gà trống. Chú canh phòng cái ổ trứng rất cẩn mật. Thỉnh thoảng chú thăm dò và điều chỉnh nhiệt độ trong ổ. Đủ ngày đầy tháng, mấy chú gà con mới nở phải tự mình tìm đường để ngoi ra khỏi cái ổ khổng lồ đó và ngay lập tức, chẳng cần cha mẹ dẫn dắt, chúng vẫn có thể bương chải đi kiếm ăn một mình. Con nào vượt qua được cái hành trình đầu đời đó thì “sống mạnh sống hùng”, không thể nào bị chó vật hay xe cán. Đây là hình ảnh rõ ràng nhứt cho tôi thấy thú vật chẳng cần học hành mà vẫn làm thú một cách đầy đủ. Có lúc bực tức khi thấy vườn tược của mình bị đám gà lôi rừng này phá nát, tôi chửi đổng: cái đám gà “mất dạy”! Chợt thấy mình vô lý quá: gà hay thú vật nói chung đâu có cần học hành hay được dạy dỗ đâu mà “mất dạy”!
Tôi ý thức về chân lý này hơn qua một giai thoại về Đức Khổng Tử. Một hôm, trên đường sang nước Tần, ngài và một số môn sinh gặp một số thiếu nhi đang chơi đùa giữa đường. Ngồi trên xe quan sát đám trẻ, ngài thấy một cậu bé không nô đùa với chúng bạn mà lại cặm cụi lấy cát đắp một cái thành nhỏ.
Đức Khổng Tử mới tiến lại gần và hỏi cậu bé: “Này cậu bé, cớ sao cậu không chơi đùa với mấy đứa trẻ kia?”  Cậu bé đáp: “Đùa giỡn thì vô ích, vì có thể bị rách áo quần, nhọc công mẹ vá, lại buồn lòng cha, nên tôi không đùa giỡn”. Nói xong, cậu lại tiếp tục đắp thành. Đức Khổng Tử lại hỏi: “Cậu không tránh đường cho xe của ta đi sao?” Cậu bé thản nhiên đáp: “Từ xưa đến giờ, xe phải tránh thành, chứ có bao giờ thành phải tránh xe đâu?” Nghe câu trả lời thật bất ngờ, Đức Khổng Tử liền xuống xe, tiến lại gần cậu bé và hỏi nhiều điều. Câu hỏi nào cũng được cậu bé trả lời vanh vách.
Đức Khổng Tử mới thắc mắc: “Năm nay cháu được bao nhiêu tuổi?” Cậu bé lịch sự đáp: “Thưa phu tử, cháu lên 6 ạ!”  Ngài ngạc nhiên: “Cháu mới 6 tuổi mà sao biết nhiều điều thế?” Câu bé liền giải thích: “Thưa phu tử, cháu nghe nói con cá nở ra 3 ngày đã bơi tung tăng từ hồ nọ đến hồ kia. Con thỏ 6 ngày đã chạy khắp đồng cỏ. Cháu sinh ra 6 năm mới được như thế!”
Không rõ có phải do được gợi hứng từ cuộc gặp gỡ trên đây không mà sau này Đức Khổng Tử đã nói một câu để đời: “Vi nhân nan” (làm người thì khó).  Và không biết có phải do thấm nhuần lời dạy của Đức Khổng Tử không, người Việt Nam kéo dài câu nói trên đây thành: làm người thì khó, làm chó thì dễ!  Câu ca dao rõ ràng có hàm ý khinh miệt  đối với loài chó. Câu chửi “đồ chó” là một lời mắng nhiếc thậm tệ. Mà đâu có riêng gì người Việt Nam, người Tây Phương, dù nuôi chó như thú cưng, cũng đâu có xem chó ra gì. Chê mắng ai thì bảo người đó là “con của chó cái!” Nghĩ cho cùng, chó đâu có đáng bị khinh bỉ như thế đâu. Bởi lẽ chó không làm điều xấu, chó không biết phân biệt phải trái và thiện ác. Nói cho cùng, chó đâu có ý thức về đạo đức.
Theo một định nghĩa cổ điển nhứt, người là “một con vật có lý trí”. Chính lý trí là làn ranh phân biệt rõ ràng giữa thú và người; người khác thú vì có lý trí. Chính lý trí mách bảo cho con người phải biết phân biệt điều ngay lẽ trái, điều thiện và điều ác. Chính lý trí luôn thúc đẩy con người phải sống theo những giá trị đạo đức. Chính lý trí luôn nhắc nhở con người phải sống cho ra người. Và sống cho ra người, từ cổ chí kim, lúc nào cũng được ghi khắc trong trái tim con người thành một quy luật mà người được tôn làm “Vạn Thế Sư Biểu” (Bậc Thày của Muôn Đời) đã tóm tắt bằng câu: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Cũng quy luật muôn đời ấy lại được Chúa Giêsu đề ra dưới một hình thức tích cực hơn: “Điều gì ngươi muốn người khác làm cho ngươi, hãy làm cho họ” (Mt 7,12).
Vi nhân, làm người, sống cho ra người chính là sống theo quy luật muôn đời ấy. Bất cứ ai biết hồi tâm, tỉnh táo một chút để nhìn lại cuộc hành trình làm người của mình, cũng đều phải thú nhận rằng làm người khó vô cùng. Bậc thánh hiền như Đức Khổng Tử mà còn phải đấm ngực thú nhận điều đó huống hồ là tôi.
Gừng càng già thì càng cay. Còn tôi, càng già càng thấy mình yếu nhược, bất lực và ngu dốt, nhứt là trong chuyện học làm người và sống cho ra người. Chỉ biết mượn tâm sự của nhà văn Nguyễn Đức Lập (1945-2016) để tự an ủi. Trong một bài tự truyện viết có lẽ cũng vào cái tuổi quá “thất thập cổ lai hi” như tôi, ông thú nhận: “Đức Phật là người đi mà không đến. Cái học của tôi cũng vậy, học thầy, học bạn, học sách, học báo, học đường, học chợ, học chỉ để mà học. “Dủ học dủ ngu”.
Ngày xưa thầy Tử Lộ hỏi Đức Không Tử khi nào thì chấm dứt sự học. Vị Vạn Thế Sư Biểu đã trả lời: “Khi huyệt đã đào nhẵn nhụi rồi, đất đã đắp chắc chắn rồi, người đi đưa đã quay chưn lui gót rồi, lúc đó mới hết học”. Và cái học khó nhứt vẫn là học làm sao sống cho ra con người”.







Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

Tiếng chuông Nhà Thờ Đức Bà Ba Lê



Chu Thập
2/5/19
Có một thời, không biết có phải do Hội chứng Stockholm không, tôi “yêu” cuồng nhiệt  Pháp quốc, cái đế quốc thực dân đã từng giẫm gót giày lên đất nước tôi và đày đọa dân tộc tôi đến cả trăm năm. Có lẽ do niềm tin tôn giáo và văn hóa mà tôi đã hấp thụ được từ các nhà truyền giáo người Pháp, tôi thấy cái gì của Pháp cũng nhứt cả: từ bánh mì, phó mát (fromage), rượu vang, bơ sữa, xe hơi, nhà lầu...đến thời trang, điện ảnh, văn chương, nghệ thuật, tư tưởng và ngôn ngữ...cái gì của Pháp cũng đều số một hết!
Tôi say mê nước Pháp đến độ chỉ đeo đuổi một ước mơ: đến Ba Lê rồi chết cũng được!  Trong thời gian chờ đợi trong trại tỵ nạn, mặc cho ai có bảo rằng đảng cầm quyền tại Pháp hồi đầu thập niên 1980 là đảng “xã hội”, tức có bà con giây mơ rễ má với cộng hòa “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam mà mình đã trốn chạy khỏi, tôi vẫn quyết chí đeo đuổi giấc mơ của mình là được trở thành công dân của “mẫu quốc”.
Tôi đến Pháp vào cuối tháng Mười năm 1982. Tuy vẫn còn sống trong một trại tạm trú ở ngoại ô Ba Lê, tôi thấy mình cũng đâu có thua gì ông Phán thời Pháp thuộc: “tối (cũng) sâm banh, sáng (cũng) sữa bò” như ai!  Sau vài ngày ăn uống ngủ nghê để lấy lại sức, tôi mới mon men tìm đường lên “Kinh thành Ánh sáng”. Đường trên lỗ miệng. Vả lại, hệ thống hỏa xa và xe điện ngầm ( Metro) ở Ba Lê thật thuận tiện. Chỉ cần trình độ “thoát nạn mù chữ” như tôi cũng đủ để khỏi bị lạc đường.
Bước ra khỏi xe điện ngầm, tôi bước đi những bước thật chậm rãi dọc theo bờ sông Seine, như người đang mơ một giấc mơ đẹp mà không muốn bị ai đánh thức. Nhưng điểm đến của chuyến thăm thú “Kinh thành Ánh sáng” của tôi dĩ nhiên là Nhà Thờ Đức Bà (Notre Dame de Paris). Là một người công giáo, tôi xem đây là một địa điểm hành hương. Với niềm tin tôn giáo được tiếp nhận và nhào nặn từ các nhà truyền giáo Pháp, muốn hay không tôi thấy mình đã bị ràng buộc vào cả một truyền thống “đạo” lâu đời của người Pháp. Với tôi, vào Nhà Thờ Đức Bà là đi lại cuộc hành trình tôn giáo của cả dân tộc Pháp từ gần hai ngàn năm qua!
Nhưng ở cái nước được xem là “Trưởng Nữ của Giáo Hội” này, mặc dù kể từ năm 1905 đã có sự phân biệt rạch ròi giữa Nhà Thờ và Nhà Nước, niềm tin tôn giáo và văn hóa vẫn tiếp tục quyện chặt lấy  nhau. Nhà Thờ Đức Bà là biểu trưng của sự phân biệt ấy. Di tích lịch sử đã có từ hơn 800 năm này không chỉ là một nơi thờ phượng hay địa điểm hành hương, mà cũng là một điểm du lịch thu hút mỗi năm trên cả chục triệu du khách. Không cần phải có niềm tin tôn giáo để bước vào nơi tôn nghiêm này. Tôi đã hòa mình vào dòng người qua lại trong đó không chỉ như một người hành hương, mà còn như khách thưởng lãm một công trình nghệ thuật.
Với tôi là một “con dân” thuộc địa của Pháp, có lẽ văn hào Victor Hugo (1802-1885) là người đã có công lớn nhứt để quảng bá cho công trình nghệ thuật này. Thật vậy, tôi biết đến Nhà Thờ Đức Bà qua các tác phẩm của đại văn hào này và dĩ nhiên tác phẩm nổi tiếng nhứt của ông về ngôi thánh đường này chính là “Nhà Thờ Đức Bà Ba Lê” (Notre Dame de Paris).
Bước vào ngôi thánh đường cổ kính này là đi lại từng bước của chính văn hào Victor Hugo. Phải nhiều lần chiêm ngắm lối kiến trúc cổ của ngôi thánh đường này ông mới tìm được nguồn cảm hứng để viết một cuốn tiểu thuyết có tính chất lịch sử với bối cảnh là kinh thành Ba Lê thời Trung Cổ.
Văn hào Victor Hugo đã đưa tôi đi một vòng trong nhà thờ  để rồi cuối cùng dừng lại ở một địa điểm được ông đưa vào vị trí trang trọng và quan trọng nhứt của nơi linh thiêng là gác chuông nhà thờ. Tôi đứng nhìn lên gác chuông thật lâu để sống lại những ngày khốn khổ của nhân vật chính của quyển tiểu thuyết của văn hào Victor Hugo là Quasimodo, được tài tử Mỹ Anthony Quinn hồi sinh trong cuốn phim nổi tiếng  có tựa đề “The Hunchbach of Notre Dame” được đạo diễn Pháp Jean Delannoy thực hiện và cho trình chiếu năm 1956. Lưng đã còng, gương mặt lại dị dạng, Quasimodo được người Việt Nam gọi một cách khinh bỉ là “Thằng gù Nhà thờ Đức Bà”. Kỳ thực, đàng sau những dị tật bẩm sinh bị xã hội khinh bỉ và ruồng rẫy ấy, người kéo chuông của Nhà thờ Đức Bà là một con người có  tâm hồn cao thượng luôn biết xả thân hy sinh vì người khác. Lẽ ra phải gọi ông là một người hùng hơn là một “thằng gù”!
Tôi chiêm ngắm vẻ đẹp thẩm mỹ của ngôi thánh đường Gothic là Nhà Thờ Đức Bà, nhưng văn hào Victor Hugo dường như muốn lôi kéo tôi đến một vẻ đẹp khác đáng được tìm kiếm và trân trọng hơn: đó là vẻ đẹp của tâm hồn con người. Đó là vẻ đẹp mà dao kéo thẩm mỹ và mỹ phẩm không thể tạo ra được. Đó là vẻ đẹp ẩn hiện đàng sau những bất toàn và ngay cả những dị tật thể hình mà con người cho là xấu xa gớm ghiếc nhứt. Đó là vẻ đẹp mà văn hào Victor Hugo luôn tìm kiếm và đề cao khi ông nói: “Có một quang cảnh vĩ đại hơn đại dương, đó là bầu trời. Có một quang cảnh vĩ đại hơn bầu trời, đó là nội tâm con người”.
Từ ngàn xưa, dường như người Nhật đã muốn nhấn mạnh đến vẻ đẹp ấy qua điều thường được gọi là “Triết lý Wabi Sabi”. “ Wabi Sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền Tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản trong đó các bậc thày đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của người tạo ra cái chén” ( x. Mai Thanh Truyết, Wabi Sabi - Triết lý của sự bất toàn https://www.tvvn.org/wabi-sabi-triet-ly-cua-su-bat-toan-mai-thanh-truyet/)
Đứng nhìn lên gác chuông Nhà Thờ Đức Bà, nghe văng vẳng tiếng chuông được kéo lên từ bàn tay của người gù Quasimodo, tôi cũng nghe vọng lại tiếng hát của ca sĩ Leonard Cohen (1934-2016) “Hãy rung lên những tiếng chuông khi chúng  còn có thể rung. Hãy quên đi của lễ dâng hoàn hảo của bạn. Trong mọi thứ đều có vết rạn nứt. Đó là cách thế mà ánh sáng len lỏi vào” (Ring the bells thay still can ring. Forget your perfect offering. There’s a crack in everything. That’s how the light gets in).
Nhà Thờ Đức Bà đã trải qua một trận hỏa hoạn chưa từng thấy. Nhưng dường như xuyên qua ngọn lửa cao ngút ấy, người gù Quasimodo vẫn tiếp tục kéo chuông để đưa ra một sứ điệp: vẫn có ánh sáng ở cuối đường hầm! Ông nhắc nhở tôi phải luôn tỉnh táo và lạc quan để tìm thấy vẻ đẹp thâm sâu trong nội tâm của mỗi người, nhứt là những người khốn khổ thường bị xã hội đẩy ra bên lề. Có lẽ ông cũng muốn lập lại một câu đáng ghi nhớ nhứt trong cuốn phim “Tiếng âm nhạc” (The sound of music): “Khi Chúa đóng một cánh cửa chính, thì ở một nơi nào đó Ngài mở ra một cánh cửa sổ” (When the Lord closes a door, somewhere He opens a window).




Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2019

Tôi học kinh Kim Cang



Chu Thập
15/4/19
Là người công giáo nhưng thỉnh thoảng tôi cũng nhận bừa mình là một phật tử. Dĩ nhiên với một câu thòng: theo cách thế của tôi! Và cách thế của tôi thì chẳng giống cung cách của bất cứ một phật tử thuần thành nào hết. Lúc nhỏ  tôi chưa hề được cha mẹ đưa  vào bất cứ ngôi chùa nào để trải qua một nghi thức gia nhập Phật Giáo  giống như phép rửa tội của Kitô Giáo. Lớn lên tôi cũng chưa một lần đặt chân vào ngôi chùa nào để tuyên xưng niềm tin hoặc thực hành đạo. Cho tới nay tôi cũng chưa một lần ăn chay, cúng dường hay làm công quả. Nói gì đến chuyện xuống tóc quy y hay có được một pháp danh! Còn niệm phật thì dĩ nhiên là chuyện hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Nhưng nếu như chỉ cần “buông dao cũng đã thành Phật” thì tôi tin rằng chỉ cần cố gắng sống theo lời dạy của Đức Phật cũng đủ để tự nhận là một phật tử. Tôi không hiểu nhiều về Phật Pháp hay giáo lý cao siêu của Phật Giáo. Nhưng nếu tôi có nổi hứng tuyên bố bậy bạ về Phật Giáo, tôi chẳng sợ bị xếp vào hạng “lạc đạo” hay “ngoại đạo” và bị trục xuất ra khỏi một Giáo hội Phật Giáo nào như trường hợp bị “dứt phép thông công”, nghĩa là bị trục xuất ra khỏi Giáo hội vốn thường xảy ra trong Công Giáo.
Tôi tự nhận mình là một phật tử bởi vì tôi muốn sống theo lời dạy của Đức Phật. Thật ra Đức Phật dạy bằng cuộc sống và gương sáng của Ngài hơn là bằng lời nói. Tôi tin như thế khi đọc bài “Cái Ăn” của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, một tác giả được nhiều người trong nước cũng như ở hải ngoại đọc và mộ mến (x.Đồ Hồng Ngọc , “Cái Ăn”, Thời Báo, Gia Nã Đại, trong mục Tạp ghi, 10 tháng Ba 2019).
Tác giả Đỗ Hồng Ngọc cho biết ông muốn tìm hiểu về kinh Kim Cang hay Kim Cang Năng Đoạn. Kinh này được cho là tuyền tập thu thập những lời giảng dạy của Đức Phật cách nay 2500 năm. “ Nhiều người nói kinh Kim Cang đọc thấy nóng cả người, thậm chí có người bị tẩu hỏa nhập ma”. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, vốn là một phật tử thuần thành, cũng nghĩ rằng qua kinh Kim Cang, ông “sẽ tiếp cận được với những lời dạy uyên áo, đạo lý cao siêu, pháp môn thượng thừa”. Thế nhưng ông đã chưng hửng khi đọc đoạn mở đầu của kinh Kim Cang, bởi vì đoạn này “đã kể lại một chuyện chẳng ăn nhập vào đâu, một chuyện rất bình thường, thậm chí tầm thường, đó là chuyện “cái ăn”.
Theo chuyện được ghi lại trong đoạn đầu của kinh Kim Cang, hôm đó là một ngày đại hội của Phật Giáo. Có hàng ngàn khách thập phương gồm các bậc chức sắc, đại Bồ Tát, đại A La Hán, đạo cao chức trọng tụ tập lại để nghe Đức Phật giảng dạy.  Mọi người đều trang nghiêm ngồi tĩnh tọa, không ai nói với ai lời nào, mà chỉ biết ngóng chờ Đức Phật mở miệng ban bố những lời vàng ngọc. Giữa không khí trang nghiêm trịnh trọng như thế, Đức Phật bỗng lẳng lặng đứng lên, khoác y vàng, cầm chiếc bình bát ung dung bước ra khỏi hội trường. Thì ra đã quá trưa rồi. Ngài cảm thấy đói cho nên cũng cần phải đi khất thực! Ngài đi một vòng trong thành Xá Vệ cho đến khi thấy vừa đủ thức ăn rồi mới quay lại hội trường và bày thức ăn ra... để ăn! Ăn xong, Ngài thu dọn chén bát đâu đó cho đàng hoàng, rồi rửa chân cho sạch sẽ, ngồi xếp bằng và nhập định tiếp! Ngài chẳng thèm nói lấy một câu hay tằng hắng một tiếng!
Từ giữa hội trường, một bậc vị vọng là Tu Bồ Đề xuất hiện. Ông cung kính cúi chào mọi người rồi cất lời: “Thật là tuyệt vời. Thật là tuyệt diệu. Thật xưa nay, chưa từng có như thế. Thế Tôn đã khéo léo dạy dỗ, khéo léo truyền trao, khéo léo gởi gấm cho các vị đang có mặt ở đây hôm nay”.
Tác giả Đỗ Hồng Ngọc kết luận: “Thì ra Phật có cách dạy riêng: không nói mà làm cho coi. Cái đó gọi là “demonstration”, biểu diễn, làm gương, làm cho bắt chước, một lối dạy kỹ năng sống (life skill) rất hiện đại”.
Câu chuyện được ghi lại trong đoạn mở đầu của kinh Kim Cang trên đây cho tôi thấy: Đức Phật không chỉ giảng dạy bằng cuộc sống và gương sáng, Ngài còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những việc tầm thường, nhỏ nhặt trong cuộc sống con người. Những việc càng nhỏ có khi lại là việc quan trọng nhứt trong cuộc sống con người, bởi vì chúng thể hiện tính tình và tư cách của con người. Có lẽ Chúa Giêsu cũng muốn nhấn mạnh đến điều đó khi Ngài dạy phải “tỉnh thức” luôn. Tôi nghĩ có lẽ đó cũng là ý nghĩa của hai chữ “chánh niệm” trong Phật Giáo. Thực hành “chánh niệm” chính là để hết toàn tâm trí vào mọi sinh hoạt và việc làm của mình. “Chánh niệm” ngay cả trong từng hơi thở của mình. “Chánh niệm” để không những làm chủ được chính mình, mà còn để nhận ra ý nghĩa và tầm quan trọng của mọi việc mình đang làm.
Tôi không biết một trong những vị thánh của Kitô Giáo được thế giới tôn làm sứ giả của hòa bình là thánh Phanxicô Assisi (1182-1226) có biết đến Đức Phật và có muốn trở thành một phật tử như tôi không, nhưng ngài cũng chủ trương rao giảng và “thuyết pháp” bằng cuộc sống và gương sáng hơn là bằng lời nói. Thu tập có tựa đề “Fioretti” (những bông hoa nhỏ) ghi lại những giai thoại về thánh nhân có kể lại rằng một hôm vị thánh của thời Trung Cổ này mời một người đệ tử tên là Leo cùng đi “thuyết giảng” với mình. Người đệ tử xem đây là một vinh dự lớn. Anh hăm hở đi theo thày để học cách “truyền đạo” cho người khác. Hai thày trò rảo qua khắp phố chợ, vừa đi vừa chào hỏi mọi người. Người đệ tử tưởng rằng khi đến một góc phố nào đó, thày mình sẽ dừng lại, qui tụ một đám đông để thuyết giảng cho họ nghe. Nhưng sau một vòng phố chợ, thày ra dấu cho người đệ tử cùng quay về nhà với mình. Người đệ tử liền nhắc nhỏ cho thày rằng thày chưa hoàn thành nhiệm vụ quan trọng là thuyết giảng. Nhưng thánh Phanxicô trả lời: chúng ta đã rao giảng rồi đó!  Vị thánh được tôn làm sứ giả của hòa bình đã thực hành “chánh niệm” trong từng đường đi nước bước của mình vậy!
Mới đây, các nhà nghiên cứu tại Hoa Kỳ có làm một cuộc thử nghiệm về kết quả của “chánh niệm” đối với sức khỏe tinh thần của con người. Khoảng 50 sinh viên được chia thành 2 nhóm để rửa chén bát. Trước khi bắt tay vào việc, một nhóm được cho đọc một đoạn sách dẫn giải về cách rửa chén bát cho có hiệu quả, một nhóm được cho nghe một đoạn nói về tầm quan trọng của “chánh niệm”, tức hiện diện, thức tỉnh và chú tâm vào việc rửa chén bát. Kết quả cho thấy sau khi làm xong công việc, nhóm được cho nghe về tầm quan trọng của “chánh niệm” cảm thấy hưng phấn, bớt căng thẳng, thư thái và bình an (x. https://www.psychologytoday.com/au/blog/life-death-and-the-self/201903/can-washing-dishes-make-you-feel-better).
Bài học về “chánh niệm” trên đây gợi lại cho tôi bí quyết sống hạnh phúc của một nhà tư tưởng người Đức ở Thế kỷ 13 là Meister Eckhart. Theo ông, để sống hạnh phúc cần xem trọng 3 điều: giây phút hiện tại là giây phút quan trọng nhứt, công việc đang làm là công việc quan trọng nhứt và người đang đối diện với ta là người quan trọng nhứt. Nghe đâu có khác gì bài học về “cái ăn” của Đức Phật trong kinh Kim Cang!


Thứ Hai, 8 tháng 4, 2019

Viết và Sống



Gởi bạn hiền V.P.
Chu Thập
Vi Phát là một họa sĩ, nhà điêu khắc và nhiếp ảnh gia được nhiều người Việt ở Úc Đại Lợi biết và mộ mến. Có lần ông giải bày rằng ông làm “nghệ thuật vị nghệ thuật” chớ không phải để kiếm sống. Ông sáng tác vì nhu cầu và sự thúc bách để sáng tác hơn là để mưu sinh. Có đến nhà ông mới thấy điều đó. Từ trong nhà ra ngoài ngõ, từ ngõ ra vườn, ở đâu cũng ngổn ngang những tác phẩm của ông, ở xó nào cũng có dấu ấn của bàn tay phù thủy của ông, chỗ nào cũng là khu triển lãm nghệ thuật của ông.  Không biết mai kia, sau khi ông về cội, có ai đó sẽ khám phá ra kho tàng nghệ thuật của ông không. Giá ông xuất hiện vào thời tôi còn ở bậc trung học, khi làm bài văn nghị luận với đề bài “nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật vị nhân sinh”, chắc chắn tôi không thể không nghĩ tới ông.
Nghệ sĩ sống chết cho nghệ thuật như Vi Phát không phải là hiếm. Có khi vì hết mình với nghệ thuật mà nhiều người mới có được cảm hứng để sáng tác. Nhưng nghệ sĩ cũng là con người. Họ cũng phải có phương tiện để sống. Với nhiều người, sáng tác nghệ thuật cũng là một nghề để kiếm cơm. Ngày nay hầu hết các nghệ sĩ nổi tiếng đều là những người giàu có. Họ hái ra tiền nhờ tài nghệ của họ. Điều này lại càng đúng hơn trong lãnh vực văn chương. Tôi nghĩ đến một trong những người phụ nữ giàu có nhứt thế giới hiện nay là bà J.K Rowling sau khi cho ra đời bộ tiểu thuyết giả tưởng Harry Potter. Rất có thể khi bắt tay vào việc sáng tác có lẽ người phụ nữ này không hề nghĩ đến tuyệt đỉnh của danh vọng và giàu có mà tác phẩm của bà đã mang lại cho bà. Nhưng với một số người, ngòi bút thường là cần câu để kiếm cơm. Không ngoa để bảo “nhà báo nói láo ăn tiền”. Điều này hoàn toàn đúng trong các chế độ độc tài, nhứt là độc tài đảng trị cộng sản. Trong chế độ cộng sản, có nhà văn nhà báo nào mà không uốn cong ngòi bút của mình để kiếm cơm và sống còn.
Điển hình của hình tượng ngòi bút bị uốn cong trong chế độ cộng sản là thi sĩ Xuân Diệu. Nhiều người ở miền Bắc khâm phục ông. Họ nâng ông lên thành một tấm gương sáng cho giới cầm bút, bởi vì ông “sáng tác” không ngừng nghỉ. Thật ra, sai lầm lớn nhứt của ông là nghĩ rằng tài năng của một nhà văn nhà thơ tùy thuộc vào số trang sách mình viết được. Thành ra, thay vì sáng tạo nghệ thuật, ông chỉ làm một nhà sản xuất; thay vì nhắm đến việc tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, ông lại miệt mài tăng thêm số chữ và số trang. Hơn nữa, trong khát vọng muốn làm một cái gì hữu ích cho xã hội (dĩ nhiên xã hội cộng sản) và chế độ mà ông đang cúc cung phục vụ, “ông đã đồng nhứt nhiệm vụ của một người cầm bút với nhiệm vụ của một cán bộ”. Nói cho cùng, “thay vì nhắm đến những giá trị thẩm mỹ lâu dài, ông chỉ nghĩ đến việc phục vụ những nhu cầu nhứt thời và khá phù phiếm của xã hội” (Nguyễn Hưng Quốc, Viết, trong tập san Việt, Cộng hòa Văn chương Thế kỷ 21, Úc Châu, 2000, trg 83). Thật đáng tiếc và cũng đáng thương cho một người đã từng là một nhà thơ tài hoa hay, như Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã nhận xét, “cực kỳ tài hoa của một thời, thời 1932-45, trong Phong trào Thơ Mới”.
Thật ra, trong chế độ cộng sản ở Việt Nam, nhan nhản như ruồi nhặng những con người như Xuân Diệu. Như Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã phân biệt: rất nhiều người được nâng lên hàng “văn sĩ” (écrivain) ở Việt Nam thật ra chỉ là những kẻ “dụng văn” (écrivant), tức những kẻ chỉ biết xếp 24 chữ cái cho ra câu cú mà thôi!
Gần đây tôi cũng tập tành “viết lách”. Tuy không bị buộc phải uốn cong ngòi bút để phục vụ cho một chế độ hay đảng phái chính trị nào hoặc phải rán nặn óc để kiếm chút cơm cháo, tôi thấy mình chưa vượt qua được ngưỡng cửa của một kẻ “dụng văn”. Có lúc tôi cảm thấy ngượng đến chín người khi được ai đó tặng cho danh hiệu “nhà văn” hay “ nhà báo”.
Nhưng tại sao tôi lại “viết lách”? Viết để làm gì? Có một thời tôi thích viết “nhựt ký”: ngày nào cũng ghi nhớ ngày tháng và viết xuống những cảm xúc và suy nghĩ của mình về một sự kiện hay một biến cố nào đó xảy ra cho mình hay xung quanh mình. Đọc lại thấy ngô nghê và buồn cười quá, sợ có người đọc được cười nhạo cho nên tôi xé bỏ hết. Vốn sống của tôi lại quá nghèo nàn cho nên tôi cũng chẳng bao giờ nghĩ đến việc viết hồi ký. Vả lại, như một giáo sư Triết của tôi đã khuyên, khi nào biết mình sắp chết và tin chắc tư tưởng của mình không còn thay đổi nữa, lúc đó hãy viết!
Hiện nay, thỉnh thoảng tôi cầm bút hí hoáy vài trang. “Viết chơi” như nhà văn Võ Phiến đã luận bàn (Võ Phiến, Viết Chơi, trong tập san Việt, Úc Đại Lợi 2000, trg 134) chớ không phải để kiếm cơm. Chẳng có lý do gì để “lách” và cũng chẳng xem đó như “di sản” muốn để lại cho hậu thế hoặc nhắm đến ai cả. Viết, với tôi hiện nay, trước hết là viết cho bản thân, là nói với chính mình.
Sở dĩ có chuyện nói với chính mình là bởi lúc nào tôi cũng nhận thấy trong tôi có 2 cái tôi: một cái tôi lúc nào cũng mách bảo tôi phải tiến tới dưới tấm bảng chỉ đường của lý trí và đạo đức và một cái tôi lúc nào cùng kéo tôi lùi lại với những bản năng thấp hèn. Đâu cần phải bị “nhị trùng bản ngã” (dédoublement de personalité) hay mắc chứng “tâm thần phân liệt” (schizophrenia) mới thấy trong mình lúc nào cũng có cuộc chiến giữa hai cái tôi ấy. Khi tôi cầm bút viết là lúc cái tôi của lý trí đang cố gắng nói phải trái với cái tôi của những bản năng thấp hèn trong tôi. Một cách cụ thể, mỗi khi tôi cầm bút, cái tôi của lý trí khuyên bảo cái tôi tham lam, ích kỷ, thù hận, vô cảm trong tôi ...hãy cố gắng làm chủ những cảm xúc tiêu cực để sống cho ra người tử tế hơn. Thành ra, với tôi, viết và sống là một. Viết những gì mình cố gắng sống và sống những gì mình viết. Tôi muốn hiểu câu nói “văn là người” (le stile c’est l’homme) hay “văn dĩ tải đạo” của người Á Đông theo ý nghĩa ấy. Hay như thi sĩ Boileau (1636-1711) của Pháp đã khuyên : “Điều gì được thai nghén kỹ càng mới được bày tỏ một cách rõ ràng” (Ce qui se concoit bien s’énonce clairement). Viết là thể hiện niềm xác tín được thai nghén, hình thành và sống một cách tích cực trong cuộc sống mỗi ngày.









Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019

Con Heo Đất của Mẹ Tôi



Chu Thập
Xuân Kỷ Hợi 2019
Mẹ tôi qua đời vào áp ngày cuối năm Âm lịch 1975, cho nên những ngày cuối năm là những ngày tôi nhớ mẹ nhiều nhứt. Nhớ công lao tảo tần, chắt chiu và vun vén của mẹ để lo cho gia đình đủ ăn đủ mặc. Chuẩn bị bước vào Năm Con Heo, nhớ mẹ, tôi thường liên tưởng đến con heo đất của mẹ.
Nhà tôi bị phá sản trong những năm đầu của thập niên 1950. Nhiều mất mát lớn lao đã xảy ra cho gia đình. Trí nhớ của tôi vừa đủ bén nhậy để ghi lại một số biến cố. Tôi vẫn nhớ như in một buổi sáng nọ, sau một đêm nghe có nhiều tiếng súng nổ gần nhà, cả gia đình đã thức giấc trong sự bàng hoàng khi chứng kiến nguyên một đàn trâu bò được cột giữ trong vườn trước nhà đã ngã gục. Mãi sau này tôi mới được giải thích rằng những viên đạn hạ sát đàn súc vật của gia đình tôi đã được bắn ra từ một đồn lính Tây gần nhà thờ, chỉ cách nhà tôi khoảng một trăm thước.
Rồi một buổi chiều khác, tôi vẫn nhớ mãi gương mặt hớt ha hớt hãi của cha tôi khi ông từ ngoài ruộng chạy về báo tin cho cả nhà biết rằng ruộng mía đường trên đồng Tây Cối cách nhà chừng 2 cây số cũng đã bị lính Tây nổi lửa thiêu rụi. Công cuộc kinh doanh của cha tôi coi như “tiêu tán đường”. Cha tôi chỉ còn giữ lại được vài miếng ruộng đủ để kiếm gạo cho cả nhà. Thời đó, lúa Thần Nông do Viện IRRI của Liên Hiệp Quốc (International Rice Research Institute, chuyên nghiên cứu về lúa có trụ sở đặt tại Phi Luật Tân) tìm ra chưa được du nhập vào Việt Nam. Cũng như các nông dân khác ở vùng quê tôi, cha tôi chỉ biết cậy dựa vào các giống lúa đặc sản của địa phương như Mắt Cu, Ba Thắc, Đồng Nai...Mỗi năm chỉ trồng được 2 mùa, nhưng những giống lúa địa phương này có sức kháng cự với rầy và sâu bọ cao cho nên thường cung cấp đủ lúa gạo cho người dân quê. Dĩ nhiên, cũng có những năm, do hạn hán hay vì một nguyên nhân nào đó, trắng tay hay phải “bán lúa giống” là chuyện thường xảy ra cho nhiều người trong đó có cha tôi.
Ngoài chuyện trâu bò và ruộng mía bị lính Tây xóa sạch, gia đình tôi còn phải trải qua một chuyện buồn khác mà một đứa trẻ  4, 5 tuổi như tôi vẫn còn ghi tạc trong ký ức. Ông cố tôi để lại gia tài cho ông nội tôi vốn là con trai một trong gia đình. Gia tài này lại được ông nội tôi truyền lại cho cha tôi là con trưởng nam trong gia đình. Không phải là một cơ ngơi đồ sộ, nhưng gia tài ông cố tôi để lại gồm có một mảnh vườn đủ lớn để trồng đủ các loại cây ăn trái và 2 gian nhà, cả hai đều được lợp bằng ngói âm dương. Riêng gian nhà dưới lại được cất toàn bằng gỗ: cửa chính, cửa sổ bằng gỗ, tường bằng gỗ và 2 phòng ngủ cũng bằng gỗ. Do bị phá sản và nợ nần chăng, cha tôi đành phải bán gian nhà dưới. Tôi vẫn nhớ mãi một ngày nọ nhiều người đã kéo tới nhà tôi. Họ dùng đủ mọi dụng cụ để tháo gỡ ngôi nhà. Tôi đứng nhìn người ta đang đập phá nhà mình mà không hiểu sự gì đang xảy ra cho gia đình.
Mới đây tôi có đọc được chuyện xảy ra ở Lộc Hưng như được tác giả Từ Thức bên Pháp và nhà báo Ngô Nhân Dụng của báo Người Việt ghi lại. Riêng tác giả Từ Thức viết rằng mỗi lần nghĩ đến chuyện đang xảy ra ở Lộc Hưng, ông không thể không nhớ lại hai hình ảnh: “Thứ nhất, video quay cảnh một người cha trèo lên đống nhà sập, té lên té xuống, đi tìm những mảnh đồ chơi của con. Thứ hai, hình một cháu gái áo đỏ buồn bã ngồi nhìn nhà mình bị kéo sập”.
Tác giả Từ Thức tự hỏi: “Cái gì diễn ra trong đầu một đứa bé nhìn cả thế giới của mình sụp đổ. Trong một xã hội bất nhân, tình cảm là một xa xí phẩm, còn ai bận tâm tới cái gì diễn ra trong đầu một đứa nhỏ?”
Tôi ngắm kỹ hình của cô bé được truyền thông của người Việt hải ngoại gọi là “cô bé áo đỏ” ở Lộc Hưng. Nhìn em ngồi chống tay lên cằm, ra chiều suy nghĩ như một người lớn, tôi biết em đã tới tuổi “biết buồn”, biết đau với những mất mát của gia đình và của riêng em. Còn tôi, khi người ta đến tháo gỡ gian nhà dưới của gia đình, tôi còn quá nhỏ để biết đau, biết buồn với nỗi mất mát của gia đình và dĩ nhiên cũng chẳng hiểu tại sao gia đình phải lâm vào một hoàn cảnh bi đát như thế.
Mãi sau này, khi lớn khôn một chút, tôi mới được cha tôi giải thích về nguyên nhân phá sản của gia đình. Cha tôi nói rằng ông có “lên núi” đi kháng chiến chống Tây một thời gian. Tôi chỉ nhớ mầy mậy là có những đêm khuya, trong nhà xuất hiện nhiều người mặc áo đen. Cha tôi theo Việt Minh mấy năm tôi không rõ và ông “dinh tê” về làng lúc nào tôi cũng chẳng biết. Sau này khi tôi có dịp nói chuyện với một số linh mục người Pháp đã từng điều khiển một trung tâm đào tạo linh mục, bí mật về cha tôi mới được vén mở. Số là ông anh thứ Sáu của tôi đã từng tu học tại trung tâm này. Đang học lớp Quatrième (tương đương với lớp đệ ngũ của chương trình Việt), anh tôi bị nhà trường đuổi về mà không đưa ra một lý do nào. Chuyện của anh tôi chỉ được làm sáng tỏ khi một linh mục người Pháp đã phá vỡ sự thinh lặng để cho tôi biết rằng sở dĩ anh tôi bị đuổi về là vì lúc đó đã có người tố cáo rằng cha tôi treo cờ Việt Minh trên nóc nhà thờ. Cha tôi hoàn toàn bác bỏ lời tố cáo này. Nhưng muốn hay không, cái giá mà ông phải trả vì những năm đi theo Việt Minh là sự phá sản ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình và con cái.  Và hơn ai hết, mẹ tôi là người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhứt.
Cũng như cha tôi, về học vấn, mẹ tôi chỉ “tốt nghiệp bình dân học vụ”. Vậy mà tiếng Tây (bồi), bà cũng “ba xí ba tú” như gió. Sách nào rơi vào tầm tay bà cũng đọc ráo. Riêng về chuyện buôn bán làm ăn thì có lẽ mẹ tôi “lanh” không ai bằng. Thời đó mà bà đã đi ra vào Sài Gòn như cơm bữa, trong khi đó đối với rất nhiều người dân làng tôi, “Hòn ngọc Viễn Đông” này là một thế giới hoàn toàn xa lạ.
Ngoài chuyện buôn bán, nguồn thu nhập chính của gia đình tôi, sau khi công việc làm ăn của cha tôi phá sản, là mấy con “heo đất” của mẹ tôi. “Heo đất” của mẹ tôi không phải là những cái “bủng bỉnh” bằng đất được nắn theo hình tượng con heo thường được người lớn mua cho trẻ con để tập chúng biết để dành tiền. “Heo đất” của mẹ tôi là heo bằng xương bằng thịt, nhưng vào những năm đầu của thập niên 1950, chưa có chuồng heo bằng xi măng cho nên quanh năm ngày tháng bị nhốt trong những cái chuồng được lợp bằng mái tranh và suốt ngày ủn ỉn bì bõm trên một nền đất lầy lội.
Heo đất của mẹ tôi gồm có 3 chị nái thuần chủng địa phương. Thời đó các giống heo ngoại quốc như Yorkshire chưa xuất hiện ở Việt Nam, người dân quê tôi chỉ biết nuôi giống heo bụng trắng, lưng đen, nhỏ con nhưng được cái mắn đẻ và đẻ sai. Đi đứng thì lúc nào vú mớm cũng lòng thòng chấm đất.
3 chị heo nái là 3 cái bủng bỉnh của mẹ tôi. Những đồng tiền cắc kiếm được từ đủ thứ công việc được mẹ tôi dồn vào việc mua cám, mua rau muống cho mấy chị heo. Một ít đất khô cằn được dùng để sản xuất khoai mì. Mì xắt lát phơi khô có lẽ là những món “cơm độn” khoái khẩu của heo. Cứ thế, heo lúc nào cũng “đủ ăn” và cứ đúng mùa theo sự tính toán của mẹ tôi để sinh con đẻ cái. Có lứa ra đời vào dịp Tết. Có lứa xuất hiện  vào lúc con cái trong nhà tựu trường. Mỗi lứa heo con bán ra là món tiền bỏ ống của mẹ tôi, đủ để đắp đổi chi tiêu trong gia đình và cũng đủ để cho anh em chúng tôi được ăn và học. Heo đực được rước về nhà đúng lúc để làm nghĩa vụ truyền giống. Tôi được may mắn chứng kiến chu kỳ sinh đẻ của mấy chị heo nái. Có những đêm, mẹ tôi chong đèn để làm bà mụ cho mấy  chị heo. Anh chị em chúng tôi quây quần xung quanh mẹ để hồi hộp theo dõi từng con heo con lọt lòng mẹ. Trẻ con nhà quê như tôi đâu cần phải học giáo dục sinh lý. Tắm sông thì ai cũng đều Adam và Eva như nhau. Thế nào là truyền giống và sinh sản thì đã có chú heo đực và mấy chị heo nái mách bảo.
Mẹ tôi đã âm thầm dạy cho chúng tôi nhiều bài học. Nhưng bài học quan trọng hơn cả là xuyên qua mấy con “heo đất”, mẹ tôi đã cho thấy rằng biết dành dụm và tích lũy ai cũng có thể vượt qua được những nguồn cơn khốn khó.
Thật ra, lúc nhỏ tôi cũng có nhiều lần được tặng cho một con heo đất. Nhưng heo đất của tôi là để ngắm cho đỡ ghiền hơn là để bỏ vào đó những đồng xu nhỏ. Lũ trẻ con nhà quê nghèo như tôi ít khi có tiền túi. Có chút đỉnh thì đem mua giây thun để làm ná bắn chim hay cước và lưỡi câu để câu cá, còn đâu mà bỏ ống. Một lần duy nhứt trong đời tôi có tiền rủng rỉnh trong túi là năm tôi lên 6,7 tuổi. Năm đó, không rõ từ đâu một con gà con lạc mẹ chạy vào vườn nhà tôi. Tôi xí được của trời cho. Con gà con được cho nhập bày với đám gà trong nhà.  6 tháng sau, nó trổ mã biến thành một chị gà mái. Nó cho tôi một bày gà con. Ba tháng sau, gần đến Tết, tôi nhờ bà chị cả bán bày gà giò lẫn gà mẹ. Tết năm đó, tôi trở thành “đại gia” giữa đám trẻ con nghèo.
Tết đến tôi nhớ mẹ tôi. Năm con heo, hình ảnh những con “heo đất” của mẹ tôi lại trở về. Tôi không có thói quen bỏ ống nuôi “heo đất”. Nhưng càng thêm tuổi, tôi càng nghiệm ra rằng trong cuộc sống những tích lũy trong tinh thần như giá trị  nhân bản và đạo đức quan trọng và cần thiết hơn tiền bạc. Chỉ có những giá trị này mới thực sự mang lại an bình và hạnh phúc đích thực cho con người. Người ta có thể thừa hưởng của cải vật chất do gia đình để lại. Nhưng phải “tu thân tích đức”, phải tập tành từng ngày con người mới thực sự giàu có nhờ sống theo những giá trị nhân bản, tinh thần và đạo đức.
Cả đời có lẽ tôi chỉ mới lập được 2 thành tích đáng kể  là bỏ thuốc lá và chạy bộ mỗi ngày. Năm 1975, tôi rước vào người đủ mọi tật xấu, trong đó ghiền thuốc lá là điều tệ hại nhứt. Năm 1990, khi nhận ra thuốc lá đã cướp đi nhiều cái răng, đục khoét bao tử và làm cho tim lúc nào cũng đập loạn xà ngầu...tôi quyết tâm bỏ thuốc lá. Nhưng chỉ sau 3 tháng tôi đã “sa ngã” lại. Tôi lại đứng lên và lần này tôi đã cầm cự được 6 tháng. Nhưng cũng như dân ghiền thuốc lào, “chôn điều xuống lại đào điếu lên”, tôi lại càng hút bạo hơn...Phải trày vi tróc vẩy năm lần bảy lượt, sau đúng một năm kiêng khem, tôi mới thực sự giã từ khói thuốc. Tôi xem đây như một cuộc giải phóng vĩ đại nhứt trong cuộc đời. Không gì sung sướng bằng khi thấy mình không còn làm nô lệ cho khói thuốc nữa! Bởi một khi thoát ách nô lệ khói thuốc, tôi thấy chẳng có tật xấu nào có thể cám dỗ tôi được nữa.
Tôi cũng có được một cảm nhận như thế khi tập được thói quen chạy bộ mỗi ngày. Cách đây 10 năm, bác sĩ tuyên án: tôi bị tiểu đường loại 2. Ý thức rằng đây là hậu quả của một cuộc sống thiếu kỷ luật, tôi thấy cần phải thay đổi cách sống. Tôi liền bắt tay vào việc chạy bộ mỗi ngày. Chỉ sau vài tháng, tôi đã tập được thói quen. Mặc dù không uống thuốc, kết quả lần thử máu nào cũng cho thấy bệnh tiểu đường đã được kiểm soát một cách tốt đẹp!
Với 2 thành tích trên đây, tôi nghiệm ra rằng muốn bỏ một thói quen xấu và tập một thói quen tốt, cần phải tập luyện và tu luyện mỗi ngày. Chẳng có ai trong một sớm một chiều trở thành một người xấu và cũng chẳng có ai trong một ngày biến thành một người tốt. Một nhân cách lớn luôn là thành quả của những cử chỉ tử tế âm thầm và nhỏ bé được lập đi lập lại mỗi ngày.
Mẹ tôi đã không trực tiếp giảng dạy cho tôi điều đó. Nhưng những con “heo đất” được mẹ tôi nuôi bằng những chắt chiu và hy sinh từng ngày lúc nào cũng gợi lên cho tôi bài học đó, nhứt là trong năm Con Heo này.







Hoa Kỳ: Tương lai của Kitô Giáo


02/02/19
Tại Hoa Kỳ, phân tách về niềm tin tôn giáo, nhiều người nhận thấy có 2 mẫu tín hữu tương phản nhau: một bên là danh ca Lady Gaga và nữ dân biểu thuộc Đảng Dân Chủ Alexandria Ocasio-Cortez và một bên là Phó tổng thống Mike Pence và phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Sarah Sanders.
Với cuốn phim A Star is Born, danh tiếng của nữ ca sĩ Lady Gaga nổi như cồn. Với cuốn phim này, cô đã được đề cử cho Giải Oscar. Mới đây cô ca sĩ này đã trực tiếp đối đầu với Phó tổng thống Mike Pence. Số là bà Karen, vợ ông Pence, đã xuất hiện tại một trường “đạo” vốn có chủ trương không nhận những học sinh đồng tính hoặc có cha mẹ đồng tính. Lady Gaga là người luôn công khai tuyên xưng niềm tôn giáo của mình và bày tỏ sự ủng hộ đối với cộng đồng đồng tính.
Nhân sự kiện bà Karen xuất hiện tại trường đạo có chủ trương loại trừ người đồng tính, Lady Gaga liền nêu đích danh Phó tống thống Pence để tra hỏi. Tại một buổi trình diễn ở Las Vegas mới đây, cô nói thẳng với ông: “Ông nói rằng chúng ta không nên kỳ thị chống lại Kitô Giáo. Ông là người đại diện tồi tệ nhất của thế nào là một tín hữu Kitô. Tôi là một nữ tín hữu Kitô và điều mà tôi biết về Kitô Giáo là chúng ta không nên có thành kiến và mỗi người đều được tôn trọng”.
Rồi mới đây, trên Đài Fox News, khi người dẫn chương trình là ông Sean Hannity muốn biết cái nhìn của bà về nữ dân biểu Alexandria Ocasio-Ortez liên quan đến vấn đề khí hậu thay đổi, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Sarah Sanders trả lời: “Tôi không nghĩ rằng chúng ta sẽ lắng nghe cô ta (Ocasio-Cortez) về nhiều vấn đề, nhất là những vấn đề mà chúng ta nên để cho một thẩm quyền cao hơn giải quyết”. Nữ phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc nói tiếp: “Và chắc chắn là chúng ta sẽ không lắng nghe vị nữ dân biểu mới tập tễnh này nói về ngày tận cùng thế giới”.
Bà Sarah Sanders ngụ ý sự kiện mới đây khi lên tiếng tại Nhà thờ Riverside Church ở New York trong một buổi lễ vinh danh cố mục sư Martin Luther King Jr, nữ dân biểu Ocasio-Ortex đã không ngừng tuyên xưng niềm tin tôn giáo của mình. Sau đó, trên trang mạng Twitter, cô đã trích dẫn một số đoạn trong Kinh Thánh như sau: Sáng Thế Ký chương Một: “Thiên Chúa nhìn vào thế giới và nói “thật là tốt đẹp” không phải một hai lần, mà đến 7 lần”. Sáng Thế Ký Chương 2: “Thiên Chúa truyền lệnh cho mọi người phải “phục vụ và bảo tồn vạn vật”. Sách Levi: “Thiên Chúa phán bảo rằng không những con người, mà đất đai cần cho sự sống còn của con người, cần phải được tôn trọng”.
Nữ dân biểu Ocasio-Cortez, Lady Gaga, Phó tổng thống Mike Pence và nữ phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Sarah Sanders chắc chắn không có cùng một quan điểm về bất cứ vấn đề nào. Tuy nhiên, cả bốn người đều tự nhận là tín hữu KtTô. Vậy thì tại sao họ lại bất đồng quan điểm với nhau?
Có thể xem 4 người như đại diện của nhiều loại tín hữu Kitô tại Hoa Kỳ ngày nay. Nhưng nhìn chung, có thể xếp họ thành 2 loại: bảo thủ và cấp tiến.
Vào khoảng cuối thập niên 1980, các tín hữu Kitô bảo thủ đã cho mình có quyền định nghĩa thế nào là một tín hữu Kitô. Họ nói rằng Kitô Giáo chỉ có một thứ luân lý duy nhất cần phải xiển dương và bảo vệ là phải chống lại những người đồng tính và kiểm soát quyền được chọn lựa của người phụ nữ trong việc sinh sản.
Ngày nay 2 vấn đề nổi cộm phân chia biên giới rõ ràng giữa Kitô Giáo bảo thủ và Kitô Giáo cấp tiến tại Hoa Kỳ là quyền của người đồng tính và khí hậu thay đổi. Các tín hữu cấp tiến tranh đấu và ủng hộ quyền của người đồng tính cũng như kêu gọi có những biện pháp để chống lại hiện tượng khí hậu thay đổi do con người tạo ra. Trong khi đó, các tín hữu Kitô bảo thủ chủ trương loại trừ người đồng tính và bác bỏ những bằng chứng của khoa học về hiện tượng khí hậu thay đổi.
Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy 2 vấn đề trên đây đã tạo ra một hố ngăn cách lớn giữa những người Mỹ. Theo một cuộc thăm dò do Viện Nghiên Cứu Về Tôn Giáo thực hiện năm 2017, có khoảng 2 phần 3 người công giáo (như trường hợp nữ dân biểu Ocasio-Cortez và nữ danh ca Lady Gaga), các tín hữu Chính Thống và Tin Lành tán thành hôn nhân đồng tính. Ngay cả trong số những người da trắng theo Tin Lành (như bà Sanders), cũng bắt đầu thay đổi não trạng: con số giới trẻ Tin lành ủng hộ hôn nhân đồng tính đã nhiều gấp 2 lần so với những người trên 65 tuổi. Trong khi đó, theo một cuộc thăm dò được Trung tâm Nghiên cứu Pew Research Center thực hiện hồi năm 2015, có đến 40 phần trăm tín hữu Tin Lành và 45 phần trăm người Công giáo tin rằng khí hậu thay đổi là do hoạt động của con người.
Ngoài quyền của người đồng tính và khí hậu thay đổi, các tín hữu Kitô Mỹ cũng đối chọi nhau về một số vấn đề khác như di dân và sinh sản. Nữ dân biểu Ocasio-Cortez và nữ danh ca Lady Gaga ủng hộ Tổ chức Kế hoạch hóa Gia đình (Planned Parenthood) có chủ trương cho phép phá thai. Phó tổng thống Mike Pence và phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Sanders có lập trường hoàn ngược lại.
Trong một tuýt nhân dịp Giáng Sinh vừa qua, nữ dân biểu Ocasio-Cortez đã cầu chúc: “Chúc mọi người Giáng Sinh vui, với những ngày nghỉ tràn đầy hạnh phúc bên gia đình và mọi người được yêu thương (kể cả những em bé tỵ nạn nằm trong các máng cỏ + cha mẹ các em). Trong khi đó thì nguyên Bộ trưởng Tư Pháp Jeff Sessions, một tín hữu Kitô bảo thủ, cũng nhân danh Kitô Giáo để biện minh cho chính sách chia cách trẻ em của Tổng thống Donald Trump. Nhiều đồng đạo của ông này đã phản đối lập trường của ông. Đã có trên 600 nhà lãnh đạo thuộc Giáo hội Methodist Thống nhất tại Hoa Kỳ đã đồng ký tên vào một tuyên ngôn chung để lên án lập trường của ông Sessions khi ông nhân danh Kitô Giáo để bênh vực cho lập trường chia cách trẻ em với cha mẹ của chúng khi họ di dân bất hợp pháp vào Mỹ. Các nhà lãnh đạo tôn giáo này nói rằng ông Sessions đã vi phạm luật của Giáo hội Methodist về chính sách di dân, lạm dụng trẻ em và kỳ thị chủng tộc. Giáo hội Methodist Thống nhất mà ông Sessions là thành viên hiện có khoảng 7 triệu thành viên. Trong Giáo hội này đã từng có những chia rẽ về những vấn đề liên quan đến việc nhìn nhận người đồng tính và vai trò của họ trong Giáo hội. Một số đã ủng hộ ông Sessions. Nhưng sự kiện trên 600 nhà lãnh đạo trong Giáo hội lên tiếng phản đối ông Sessions về lập trường của ông liên quan đến vấn đề di dân và người đồng tính cho thấy hiện đang có nhiều rạn nứt giữa những thành phần bảo thủ và cấp tiến trong Giáo hội.
Không riêng Giáo hội Methodist Thống nhất mới bị phân rẽ giữa hai khuynh hướng bảo thủ và cấp tiến. Giáo hội Baptist cũng đang rơi vào một tình trạng tương tự. Ngày nay, nội bộ của hai Giáo hội Tin Lành lớn nhất tại Mỹ này hiện đang lủng củng vì nhiều vấn đề. Cả hai Giáo hội đều bị xâu xé bởi những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề: liệu phụ nữ, người da màu, di dân và người đồng tính, vì phẩm giá của họ, có được đầy đủ quyền lợi, trách nhiệm và sự tôn trọng đúng đắn trong các cộng đồng của Giáo hội không.
Riêng Phó tổng thống Pence được nhiều người tuyên dương như một anh hùng trong việc “bảo vệ đức tin”. Ông đã từng kêu gọi phải chấm dứt việc phê bình chỉ trích nền giáo dục Kitô Giáo. Dĩ nhiên khi nói đến giáo dục Kitô Giáo, ông ám chỉ đến nền giáo dục Kitô Giáo bảo thủ.
Lady Gaga không chấp nhận một thứ Kitô Giáo như thế. Cô cũng nhân danh niềm tin tôn giáo của mình để chống lại thứ Kitô Giáo của Phó tổng thống Pence. Ông Pence đã rất được lòng một lãnh tụ nổi tiếng của Tin Lành bảo thủ là mục sư Franklin Graham. Vị mục sư này đã lên Faccebook đả kích thậm tệ Lady Gaga và vinh danh vợ chồng Pence như là “hạng tín hữu Kitô tốt nhất”. Trên Facebook, nhà lãnh đạo của Tin Lành Bảo Thủ tại Hoa Kỳ đã khuyên dạy: “Là tín hữu Kitô, đi theo Đức Kitô có nghĩa là đi theo giáo huấn của Lời Chúa. Kinh Thánh đã khẳng định rất rõ ràng rằng đồng tính là một tội, đó là chưa kể những tội khác và tất cả những người đồng tính đều phải trả một giá đắt. Chúng ta cần phải sống sao cho phù hợp với Lời Chúa. Chính Ngài là Đấng ban bố luật lệ, chứ không phải chúng ta. Ngài mới là Đấng định nghĩa thế nào là tội và Ngài làm điều đó vì yêu thương và thương xót. Xuyên qua sám hối và tin tưởng nơi Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô, Ngài đã mang lại một liều thuốc cho tội lỗi. Tôi biết Phó tổng thống Mike Pence và bà Pence và đối với tôi, cách sống của họ và cách biểu lộ niềm tin của họ cho thấy họ là hạng tín hữu Kitô tốt nhất. Đối với đất nước chúng ta, họ là một phúc lành lớn lao biết chừng nào!”
Thật ra, đây không chỉ là vấn đề riêng của các Giáo hội Tin Lành  mà là vấn đề chung của mọi tín hữu Kitô tại Hoa Kỳ. Họ phải tự nêu lên câu hỏi: liệu niềm tin tôn giáo có buộc họ phải đi theo khuynh hướng cấp tiến hay bảo thủ không? Đây là câu hỏi đã từng được đặt ra cho họ từ bao nhiêu năm qua. Trong quá khứ, chống hay ủng hộ chế độ nô lệ, bên nào cũng nhân danh Kitô Giáo để bảo vệ lập trường của mình. Giáo huấn Kitô Giáo đã từng được nại đến để kêu gọi xây dựng hòa bình mà cũng để biện minh cho chiến tranh.
Muốn biết ai đúng, ai sai có lẽ các tín hữu Kitô Mỹ nên trở lại với  cuộc đời và Giáo huấn của chính Chúa Giêsu được ghi lại trong Sách Tin Mừng theo thánh Luca. Thật vậy, Chúa Giêsu đã trích dẫn một câu trong sách Tiên tri Isaiah để nói về sứ mệnh của Ngài: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Người đã xức dầu cho tôi để sai tôi mang Tin mừng đến cho người nghèo. Ngài đã sai tôi đi công bố sự giải thoát cho người bị giam cầm, làm cho người mù được thấy, người bị áp bức được tự do và công bố một năm hồng ân”. Chúa Giêsu cũng chưa bao giờ trực tiếp hay gián tiếp lên án những người đồng tính. Ngài cũng nêu rõ “tiêu chuẩn” cần có để trở thành công dân nước Trời: Nước Trời là nơi dành cho những người đã cho người đói được ăn, người khát được uống, người khách lạ được tiếp rước, người trần truồng được áo mặc, người đau yếu được thăm viếng, người tù được hỏi han (Mt 25, 31-45).
Trong một ca khúc, Lady Gaga đã dùng từ “Little Monsters” (những con quái vật nhỏ) để chỉ những thành phần bị đẩy ra bên lề xã hội, những người dễ bị thương tích mà cô đang phục vụ. Nhiều người cho rằng nữ dân biểu Ocasio-Cortez là một kẻ nổi loạn. Cô muốn đạp đổ một thứ trật tự cũ do những người giàu có và quyền thế dựng lên và trả lại quyền bình đẳng và công lý cho những thành phần thấp cổ bé miệng trong xã hội. Có lẽ người nữ dân biểu công giáo 29 tuổi này nghĩ đến cử chỉ nổi loạn của Chúa Giêsu trong đền thờ Gierusalem chăng, khi Ngài nổi cơn tam bành để đánh đuổi những “con buôn” ra khỏi đền thờ.
Con số tín hữu Kitô Mỹ ủng hộ những người như Lady Gaga hay Ocasio-Cortez ngày càng đông. Nhiều người tin tưởng rằng tương lai của Kitô Giáo tại Mỹ sẽ giống nữ ca sĩ Lady Gaga hơn là Phó tổng thống Mike Pence.

(Theo: https://edition.cnn.com/2019/01/24/opinions/christianitys-future-looks-more-like-lady-gaga-than-mike-pence-graves-fitzsimmons/index.html)