Thứ Hai, 7 tháng 5, 2018

Nam-Bắc Triều Tiên: tương đồng và cách biệt



04/05/18
Chưa bao giờ thế giới chú ý đến Bán đảo Triều Tiên cho bằng lúc này, nhất là sau cuộc họp thượng đỉnh của hai nhà lãnh đạo Nam Bắc Triều Tiên hôm thứ Sáu 27 tháng Tư vừa qua. Hai miền Nam Bắc Triều Tiên gắn liền với nhau bằng những tương đồng về văn hóa và lịch sử, nhưng đồng thời lại xa cách nhau vì ý thức hệ.
Trong những ngày cuối cùng của Đệ Nhị Thế chiến, khi Nhật Bản chuẩn bị đầu hàng, vấn đề được đặt ra cho các nhà lãnh đạo Tây Phương cũng như phe cộng sản là: số phận của bán đảo Triều Tiên sẽ như thế nào sau khi Nhật Bản đầu hàng và rút ra khỏi vùng đất này?
Bán đảo Triều Tiên đã bị Nhật Bản chiếm đóng và cai trị từ năm 1910. Tháng Tám năm 1945, một ngày sau khi Thành phố Nagasaki của Nhật Bản bị bình địa bởi một trái bom nguyên tử của Hoa Kỳ, Liên Xô đã tuyên chiến với Nhật Bản. Nhật Bản đầu hàng và rút ra khỏi Triều Tiên. Tháng Tám năm 1945, Hoa Kỳ và Liên Xô đã đồng ý chia đôi Triều Tiên từ vĩ tuyến 38. Hoa Kỳ kiểm soát Nam Hàn, Liên Xô chiếm Bắc Hàn. Trên nguyên tắc, thỏa hiệp giữa 2 cường quốc chỉ có tính cách tạm thời, nghĩa là sẽ rút ra khỏi vùng đất bị chiếm đóng càng sớm càng tốt và để cho người Triều Tiên tự giải quyết lấy vấn đề của họ. Năm 1948, Liên Hiệp Quốc đã cố gắng dàn xếp để chính người dân Triều Tiên bỏ phiếu và quyết định về việc có nên thống nhất đất nước không.
Nhưng khoảng cách ý thức hệ giữa 2 miền quá lớn, khiến cho việc thống nhất đất nước bằng lá phiếu của người dân 2 miền bất thành. Cũng như Cộng sản Miền Bắc Việt Nam, Bắc Hàn cũng muốn thống nhất đất nước, nhưng thống nhất bằng vũ lực và theo ý thức hệ cộng sản. Do đó, Ngày 25 tháng Sáu năm 1950, sau nhiều cuộc đụng độ ở biên giới, Bắc Hàn Cộng Sản đã đưa quân sang xâm chiếm Nam Hàn. Với sự yểm trở của Hoa Kỳ, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã cho phép thành lập và gởi quân đội sang giúp Nam Hàn. Có trên 20 quốc gia tham gia vào lực lượng của Liên Hiệp Quốc. Bắc Hàn thì  lại được 2 nước đàn anh Trung Cộng và Liên Xô hậu thuẫn.
Trong 2 tháng đầu tiên của cuộc chiến, quân đội Mỹ và Nam Hàn bị buộc phải rút lui về Pusan, ở miền Nam Nam Hàn. Tháng Chín năm 1950, quân đội Liên Hiệp Quốc phản công, chận đứng đà tiến của quân đội Bắc Hàn và tiến đến Yalu là con sông nằm ở  biên giới Trung Quốc và Triều Tiên. Nhưng tháng Mười năm đó, Trung Cộng dùng chiến thuật biển người, xua quân vượt qua sông Yalu và tràn vào Triểu Tiên. Và đây cũng là tử huyệt của Trung Cộng và Bắc Hàn. Chiến thuật biển người của Trung Cộng đã thất bại nặng nề trước những cuộc dội bom rải thảm của Hoa Kỳ.
Những trận giao chiến đã chấm dứt ngày 27 tháng Bảy năm 1953 bằng một một thỏa ước đình chiến. Với thỏa ước này, một vùng phi quân sự đã được vẽ ra để chia đôi Triều Tiên và cho 2 bên được trao trả tù binh. Nhưng trên nguyên tắc cuộc chiến Triều Tiên vẫn chưa được chính thức kết thúc, nghĩa là vẫn chưa bao giờ có một hòa ước nào đã được ký kết. Trong cuộc họp thượng đỉnh tại vùng phi quân sự hôm thứ Sáu vừa qua, 2 nhà lãnh đạo của Nam và Bắc Hàn đã đồng ý ký một hòa ước vào cuối năm nay để chính thức kết thúc cuộc chiến.
Dù cho hòa ước có được ký kết đi nữa, vẫn có một khoảng cách   vời vợi giữa hai bên.
Bắc Hàn vẫn còn là một quốc gia cộng sản theo mô hình Stalin và hiện vẫn còn bị tố cáo về việc giam giữ hàng trăm ngàn người dân, kể cả trẻ con, trong các trại tù khổ sai và vô số nhà tù trên toàn quốc. Từ bao nhiêu năm qua, người dân Bắc Hàn không hề có một ý niệm nào về tự do ngôn luận và báo chí.
Những năm tự cô lập và bưng bít đã khiến cho nền kinh tế của Bắc Hàn hoàn toàn kiệt quệ. Nghèo đói là tình trạng bình thường của người dân Bắc Hàn. Theo các bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc, trên một phần ba dân số Bắc Hàn đang thiếu dinh dưỡng và phần lớn không hưởng được một nền y tế lành mạnh.
Trong khi đó Nam Hàn ngày càng chứng tỏ là một chế độ dân chủ thực sự. Sự phồn thịnh và cuộc sống của người dân Nam Hàn được xem là rất cao so với các nước phát triển khác trên thế giới. Dĩ nhiên, ở Nam Hàn vẫn còn có những tù nhân chính trị và lương tâm. Vì an ninh quốc gia, Nam Hàn hiện còn xem việc tỏ bày thiện cảm với Bắc Hàn như một hành động phản quốc. Nhưng so với Bắc Hàn, Nam Hàn là một quốc gia ít tham nhũng hơn nhiều.
Vì là một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ cho nên Nam Hàn vẫn còn được bảo vệ bởi 30.000 binh sĩ Mỹ và hàng năm Nam Hàn và Hoa Kỳ vẫn còn tổ chức những cuộc tập trận chung.
Một trong những dấu hiệu cho thấy sự cách biệt giữa 2 miền Nam Bắc Triều Tiên là dân số và kích thước của người dân. Mặc dù 2 miền có một diện tích bằng nhau, dân số Nam Hàn nhiều gấp đôi dân số Bắc Hàn: Nam Hàn có 51 triệu dân, Bắc Hàn chỉ có 25 triệu dân. Vì thiếu dinh dưỡng cho nên người dân Bắc Hàn nhỏ con hơn người dân Nam Hàn nhiều. Điều này được nhìn thấy rõ nơi học sinh tiểu học của 2 miền. Theo Giáo sư Daniel Schwekendiek, thuộc trường Đại học Hán Thành, trẻ con Nam Hàn cao hơn trẻ con Bắc Hàn cùng tuổi đến cả 4 centimét. Khoảng cách về tuổi thọ của người dân 2 miền cũng rất rõ: tuổi thọ trung bình của người dân Nam Hàn là 82, trong khi tuổi thọ của người dân Bắc Hàn chỉ có 70.
Cùng chung một văn hóa cho nên người dân 2 miền có chung với nhau nhiều món ăn vốn đã được truyền thụ từ nhiều thế hệ trước. Chẳng hạn, cả 2 miền đều có bánh tráng Dduk được làm bằng gạo. Học sinh của cả 2 miền đều ăn loại bánh ngọt Yeot trước khi làm bài thi vì cho rằng loại bánh này mang lại sự may mắn. Riêng món Kim chi thì lúc nào cũng là món ăn thuần túy của cả 2 miền.
Các cuộc lễ truyền thống của dân tộc mà người dân 2 miền cử hành hàng năm cũng giống nhau. Cả hai miền đều mừng Ngày Tết Nguyên đán, Ngày Tạ Ơn và Ngày Daeboreum, tức ngày rằm tháng Giêng. Cũng như người Việt Nam hay người Trung Hoa, dù sống ở đâu, người dân Bắc và Nam Hàn luôn xem trọng chữ Hiếu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.
Nhưng kể từ khi ý thức hệ cộng sản xâm nhập vào cuộc sống của người dân Bắc Hàn và nếp sống văn minh và dân chủ Tây Phương được du nhập vào Nam Hàn, khoàng cách văn hóa giữa hai miền cũng ngày càng lớn. Ngày nay, Nam Hàn ngày càng trở thành một “Trung  tâm Điện ảnh Hollywood ở Á châu”. Kỹ nghệ giải trí của Nam Hàn đã chiếm lĩnh nhiều thị trường tại Á Châu, kể cả Nhật Bản. Với khoảng 400 cơ sở sản xuất phim ảnh và âm nhạc, thị trường giải trí của Nam Hàn ngày càng mở rộng. Nhạc “K-pop”, phim tình cảm và các trò chơi điện thử của Nam Hàn đã tràn ngập Á Châu.
Trong chế độ Cộng sản Bắc Hàn, không những kỹ nghệ giải trí dậm chân tại chỗ đã đành, mà thời trang cũng không có đất sống. Tất cả mọi sinh hoạt của người dân đều bị kiểm soát. Quần Jeans, váy ngắn bị cấm. Ngay cả kiểu tóc của đàn ông con trai cũng được quy định.
Đám cưới ở Bắc Hàn dĩ nhiên cũng khác với đám cưới ở Nam Hàn. Ở Nam Hàn, cô dâu chú rể muốn tổ chức lễ cưới của họ như thế nào tùy ý thích của mỗi người. Tại Bắc Hàn, đám cưới phải được tổ chức đơn giản bao nhiêu có thể.
Kể từ khi tôn thờ các ông tổ Các Mác, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông... Bắc Hàn chính thức tự tuyên bố là một chế độ vô thần. Trong khi đó, tại Nam Hàn, trong những thập niên vừa qua, ngày càng có nhiều người theo Tin Lành và Công Giáo. Rất nhiều người đào tỵ khỏi Bắc Hàn cũng gia nhập Kitô Giáo.
Người dân Nam Hàn cũng hoàn toàn được tự do với thứ “tôn giáo” mới là Hệ thống Thông tin Toàn cầu Internet. Không có người dân Nam Hàn nào bị ngăn cản hay giới hạn trong việc sử dụng hệ thống Internet. Trong khi đó tại Bắc Hàn, chỉ có công chức cán bộ và giáo chức mới được phép nối kết với mạng lưới Internet và dĩ nhiên với sự theo dõi và kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan an ninh. Chính vì vậy mà tại Bắc Hàn hiện đang có một hiện tượng được gọi là “Du lịch Wi-Fi”: người dân Bắc Hàn tìm cách mua nhà gần các tòa đại sứ để dễ vào mạng lưới Internet. Chính vì vậy mà giá nhà ở Thủ đô Bình Nhưỡng ngày càng gia tăng.
Dĩ nhiên Bắc Hàn cũng có một hệ thống Internet riêng của mình gọi là Kwangmyong. Tuy nhiên,  hệ thống này không nối liền với hệ thống thông tin toàn cầu. Nó chỉ được thiết lập để cho người dân được “thông tin” về  “vinh quang” và sự “ vĩ đại” của triều đại cha truyền con nối Kim.
Cuộc gặp gỡ lịch sử của 2 nhà lãnh đạo Nam Bắc Triều Tiên đã mang lại một niềm hy vọng lớn lao cho thế giới. Bầu khí lạc quan và hy vọng cũng đã từng được nhen nhúm từ lâu trước khi có cuộc họp thượng đỉnh của 2 nhà lãnh đạo này. Trong nhiều tuần lễ, thế giới đã nghe tin Chủ tịch Kim Jong-un của Bắc Hàn hứa hẹn làm rất nhiều nhượng bộ. Ông hứa sẽ ngưng thử nghiệm vũ khí hạt nhân và cho đóng cửa Punggye-ri, trung tâm thử nghiệm nguyên tử của Bắc Hàn.
Thật ra chẳng có gì mới mẻ trong những lời hứa hẹn của Chủ tịch Kim Jong-un. Năm 1994, Chủ tịch Kim Jong-il, cha ông, cũng đã từng hứa hẹn chấm dứt chương trình hạt nhân và sẽ cho đóng cửa các trung tâm nguyên tử năng vào năm 2007. Ông còn để cho Cơ quan Giám sát Năng lượng Hạt nhân của Liên Hiệp Quốc được đến Bắc Hàn để theo dõi việc đóng cửa trung tâm nguyên tử Yongbyon. Tuy nhiên, tiến trình hòa bình đã hoàn toàn sụp đổ, bởi vì sau đó Bắc Hàn vẫn tiếp tục tinh luyện Uranium.
Vừa qua, tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in đã phấn khởi loan báo rằng Chủ tịch Kim Jong-un không còn đặt vấn đề về sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Nam Hàn nữa. Tổng thống Nam Hàn trích dẫn hầu như nguyên văn câu nói của Chủ tịch Kim Jong-un: “Chúng ta bị bao vây bởi các cường quốc là Nga, Nhật Bản và Trung Quốc, do đó, vì sự ổn định và hòa bình tại Đông Á, Hoa Kỳ cần phải tiếp tục ở lại (Triều Tiên)”. Mới nghe tưởng đây là một tuyên bố hoàn toàn mới mẻ từ miệng của một nhà lãnh đạo Bắc Hàn. Kỳ thực, trước đó cũng có người đã từng nói như thế và người đó không ai khác hơn là Chủ tịch Kim Jong-il, cha của Kim Jong-un. Thật vậy, năm 2000, trong cuộc họp thượng đỉnh với Tổng thống Nam Hàn lúc bấy giờ là ông Kim Dar-jung, Chủ tịch Kim Jong-il cũng đã từng đưa ra một lời tuyên bố tương tự như thế.  Cũng trong cuộc họp thượng đỉnh này, Tổng thống Kim Dae-jung và Chủ tịch Kim Jong-il đã đồng ý “chấm dứt sự thù nghịch và mở ra một kỷ nguyên mới của hòa giải và hợp tác” giữa hai miền Nam Bắc. Hồi năm 2007, sau cuộc họp thượng đỉnh giữa Tổng thống Nam Hàn Roh Moo -hyun và Chủ tịch Kim Jong-il, một tuyên ngôn chung về đẩy mạnh quan hệ Nam Bắc, Hòa bình và Thịnh vượng cũng đã được đưa ra.
Dưới ánh mặt trời ở Bắc Hàn, có lẽ chẳng có gì mới. Chế độ này thích cho thế giới ăn bánh vẽ và vẫn sẽ mãi mãi là một chế độ độc tài. Chủ tịch Kim Jong-un có thể hứa hẹn đủ thứ, nhưng thay đổi chế độ thì tuyệt nhiên không. Và bao lâu Bắc Hàn vẫn còn là một chế độ độc tài thì cuộc sống của người dân Bắc Hàn sẽ ngày càng lầm than khốn khổ hơn vì những tham vọng không đáy của các chủ tịch “đáng kính yêu” của họ.


(nguồn:
-http://www.dw.com/en/north-and-south-korea-how-different-are-they
-https://thediplomat.com/2018/04/after-the-moon-kim-summit-a-time-for-hope/)

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

Lưỡi không xương



Chu Thập
27/04/18
Tạp chí Time vừa cho công bố danh sách 100 người được xem là có nhiều ảnh hưởng nhứt trên thế giới hiện nay. Có tên trong danh sách những nhà lãnh đạo quốc gia năm nào mà chẳng có  Tổng thống Donald Trump, chủ tịch “mãn đời” Tập Cận Bình của Trung Cộng, chủ tịch “cha truyền con nối” Kim Jong-un của Bắc Hàn. Không hiểu sao năm nay, tên của tổng thống Nga Vladimir Putin lại lọt ra khỏi danh sách. Dĩ nhiên, chẳng có ai ngạc nhiên về “ảnh hưởng”  của Tổng thống Trump. Nhưng “tốt hay xấu còn tùy người đối diện”. Như bên Đức chẳng hạn, một cuộc thăm dò mới đây do Viện Forsa Institute thực hiện cho thấy hơn 75 phần trăm những người được hỏi ý kiến cho rằng Tổng thống Trump là người  đe dọa  hòa bình thế giới còn hơn cả tổng thống Nga  Putin. Không biết có phải vì vậy mà một người gây sóng gió khắp nơi như ông Putin lại không được Tạp chí Time chiếu cố tới không. Nhưng riêng về Tổng thống Trump, điều gây ngạc nhiên cho độc giả của báo Time là  năm nay, người viết lời giới thiệu về ông lại là Thượng nghị sĩ Ted Cruz.
Thượng nghị sĩ này đã từng cùng với Tổng thống Trump chạy đua vào Tòa Bạch Ốc trong cuộc bầu cử hồi tháng Mười Một năm 2016. Đây là hai đối thủ được xem là nặng ký nhứt trong nội bộ Đảng Cộng Hòa. Trong cuộc bầu cử sơ bộ ở cấp tiểu bang, họ đã không từ một mánh khóe hay lời lẽ nào để hạ bệ nhau. Với biệt tài sáng chế ra các thứ hỗn danh để tặng cho đối thủ của mình, ứng cử viên Trump đã gọi ông Cruz là “Ted dối trá” (Lyin’ Ted). Không dừng lại ở đó, ông Trump còn mang cả gia đình của ông Cruz ra tấn công và nhạo báng. Không những ông chê thậm tệ bà Heidi Cruz, vợ ông Cruz, mà còn đào mả cả cha ông Cruz lên để chửi khi khẳng định rằng ông này đã tham gia vào âm mưu sát hại cố tổng thống J.F Kennedy. Thật ra, đâu có riêng gì Thượng nghị sĩ Cruz, hầu như đối thủ chính trị nào của ông Trump cũng đều bị ông xem  là những kẻ dối trá cả. Tội nghiệp bà Hillary Clinton. Cho đến nay, cứ mỗi lần nhắc đến tên  bà, tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ lúc nào cũng kèm theo hai chữ “lươn lẹo” (Crooked Hillary).
Riêng ứng cử viên Cruz cũng không vừa gì. Ông cũng ăn miếng trả miếng đâu có thua gì ông Trump. Tại một cuộc vận động ở Tiểu bang Indiana, ông gọi ông Trump là một đứa con nít và nói với các phóng viên: “Người này (ông Trump) là một kẻ dối trá bệnh hoạn. Hắn ta không biết phân biệt sự thật và dối trá...Bất cứ điều dối trá nào hắn nói ra, hắn đều tin ngay tức khắc...Người này là một kẻ cực kỳ vô đạo (utterly amoral). Donald là một kẻ chuyên bắt nạt...Hành động bắt nạt không đến từ sức mạnh, mà đến từ sự yếu đuối”.
Thượng nghị sĩ Cruz đã chống ứng cử viên Trump đến độ tại Đại hội Đảng Cộng Hòa để chính thức đề cử ông Trump làm ứng cử viên của Đảng, ông đã bị đám đông la ó khi  tuyên bố dứt khoát không ủng hộ ông Trump và  kêu gọi mọi người hãy bỏ phiếu theo lương tâm.
Người ta tưởng ông Cruz sẽ không bao giờ tha thứ cho kẻ đã nhạo báng vợ mình và nhục mạ thân phụ của mình. Vậy mà trong lời  giới thiệu về Tổng thống Trump trong danh sách 100 người có nhiều ảnh hưởng nhứt trên thế giới hiện nay, Thượng nghị sĩ Cruz đã quay đúng 180 độ để ca ngợi đối thủ của mình. Trong một cuộc song đấu công bằng diễn ra trong tinh thần thượng võ, đây có thể là một hành động đáng ca ngợi. Nhưng trong chính trường, vốn là sân đấu mà sự dối trá và bôi bác thường được xem là luật chơi, quên thù riêng để tâng bốc đối thủ của mình như Thượng nghị sĩ Cruz đã làm là một thái độ khiến cho nhiều người phải đặt câu hỏi và hoài nghi về sự lương thiện của các chính trị gia.
Có lẽ chưa bao giờ ở Mỹ và trên thế giới, người ta nói đến sự dối trá cho bằng kể từ khi nhà tỷ phú địa ốc Donald Trump trở thành tổng thống của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Hai chữ “tin giả” do ông bỏ công quảng bá đã trở thành thời thượng. Hễ cứ phê bình hay chống lại ông là “tin giả”. Cái mũ “tin giả” được ông chụp lên hầu hết các cơ quan truyền thông chính tại Hoa Kỳ. Vì “bịa đặt” cho nên truyền thông Mỹ đã bị ông xếp vào hàng ngũ “kẻ thù của nhân dân”.
Nói chung, với Tổng thống Trump, hễ cứ đụng tới cá nhân ông là “dối trá”. Cựu giám đốc Cơ quan Điều tra Trung ương FBI James Comey  bị ông dán cho một cái nhãn “dối trá” to tướng lên người  vì dám cả gan viết hồi ký để bêu diễu ông như một “người nói dối bẩm sinh” (congenital liar), “không còn bị ràng buộc bởi sự thật” (untethered  to Truth) và “cực kỳ vô luân” (utterly amoral). Dường như cuộc “nội chiến” ở Mỹ hiện nay là cuộc chiến giữa Sự Thật và Dối Trá. Làm gì thì làm, hễ cứ có đụng độ nhau thì người ta lại lôi hai chữ “dối trá” ra như một thứ võ khí  để tấn công nhau.
Dù sao, cuộc chiến ấy cũng chẳng làm chết ai cả. Có chết chăng là cái chết trong lương tâm tập thể của cả một quốc gia mà thôi. Chưa bao giờ ở Mỹ người ta nói đến thời “hậu sự thật” (post truth era) cho bằng hiện nay. Như thể hai chữ “Sự Thật” đã biến mất khỏi từ điển Anh ngữ đang được sử dụng tại Hoa Kỳ. Chỉ tội cho một số nước nơi một số nhà lãnh đạo đang để lòi cái đuôi độc tài của họ ra. Trong khi ở Mỹ, dù cho truyền thông có loan “tin giả” cỡ nào đi nữa, cho tới nay chẳng có ký giả nào bị bỏ tù và cũng chẳng có tờ báo độc lập nào bị đóng cửa thì tại một số quốc gia như Phi Luật Tân, Thổ Nhĩ Kỳ hay ngay cả Miến Điện là quốc gia hiện đang được lãnh đạo bởi một người đã từng được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình chẳng hạn, kể từ khi cái mũ “tin giả” bị chụp xuống các cơ quan truyền thông độc lập, nhiều nhà báo đã khốn đốn và một số cơ quan ngôn luận đã bị đóng cửa hay phải tự ý đóng cửa. Ngay cả tại một nước thành viên của Liên Âu như Hung Gia Lợi, “tin giả” không còn nữa, bởi vì mọi cơ quan ngôn luận đều nằm gọn trong tay của chính phủ.
Suy nghĩ về hai chữ “dối trá” trên thế giới hiện nay, dĩ nhiên tôi không thể không liên tưởng đến Việt Nam của tôi, nhứt là khi người Việt tỵ nạn đang chuẩn bị tưỏng niệm ngày 30 tháng Tư. Với tôi, cuộc chiến tại Việt Nam không chỉ là cuộc chiến bằng súng đạn, mà thiết yếu là cuộc chiến giữa Sự Thật và Dối Trá và cuối cùng, sự thất thủ của Miền Nam Việt Nam thiết yếu cũng là chiến bại của chính Sự Thật. Chế độ cộng sản nào cũng đều được xây dựng trên dối trá. Chế độ cộng sản nào cũng tồn tại dựa trên dối trá.
Mới đây, tại Cuba,  Chủ tịch Raul Castro rút lui để nhường ngôi cho một  đảng viên cộng sản khác là ông Miguel Diaz-Canel. Cũng như trong các chế độ cộng sản khác, ông Diaz-Canel đã  “đắc cử” chủ tịch với 99.83 phần trăm số phiếu của Quốc hội Cuba. Ông Diaz-Canel chỉ mới 57 tuổi, nghĩa là sinh sau năm 1959, tức năm ông Fidel Castro thực hiện cuộc cách mạng “vô sản” và lên cầm quyền cho đến năm 2008 và truyền ngôi lại cho em ông là ông Raul Castro. Nhiều người hy vọng sẽ có sự thay đổi tại quốc gia cộng sản này: ông Diaz-Canel chào đời sau cuộc cách mạng năm 1959 và dòng họ Castro coi như đã cáo chung. Thật ra, bao lâu đảng cộng sản vẫn còn đó thì sự dối trá vẫn tiếp tục ngự trị và bao lâu sự dối trá vẫn còn là cột sống của chế độ, thì không cần phải là một nhà tiên tri, ai cũng có thể thấy trước khó có thể có sự thay đổi thật sự ở quốc gia hải đảo nghèo nàn lạc hậu này.
Cũng mới đây, nhiều người đã tỏ ra lạc quan khi nghe tin Chủ tịch Kim Jong-un của Bắc Hàn tuyên bố giải trừ vũ khí hạt nhân. Những người ủng hộ Tổng thống Trump, như Thượng nghị sĩ Ted Cruz đã viết trong lời giới thiệu về ông Trump, tin rằng  chính vì “Tổng thống Trump tỏ ra cứng rắn với Bắc Hàn mà Kim Jong-un mới chịu nhượng bộ ”. Tuy nhiên, nhận định về lời tuyên bố giải trừ võ khí hạt nhân của Kim Jong-un, nhà báo Ngô Nhân Dụng của báo Người Việt bên Mỹ đã có lý để khuyên Tổng thống Trump nên nhớ lại lời cảnh cáo của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”. Trong bài giới thiệu về Kim Jong-un trong danh sách 100 người có nhiều ảnh hưởng nhứt trên thế giới, ông Hyeonsed Lee, một người đã đào thoát khỏi Bắc Hàn năm 1997, đã đưa ra một lời cảnh cáo đáng sợ. Theo ông, mặc dù đã tiếp cận với nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản khi theo học tại Thụy Sĩ, Kim Jong-un lại tỏ ra tồi tệ hơn cha ông. Ông Lee cho biết: “Tại Bắc Hàn, hiện có trên 100.000 người phải đối diện với sự tra tấn và cái chết trong các trại tập trung lao động khổ sai. Đây là nơi mà một người đào tẩu đã chứng kiến cảnh một người mẹ bị buộc phải nhận nước đứa con thơ của mình. Để tỏ ra trung thành với chế độ, người ta phải tỏ ra câm điếc, mù lòa trong các trại khổ sai và trước các cuộc hành hình công khai. Các vệ binh có võ trang đang tuần tiễu tại dòng sông nơi mà tôi đã trốn qua Trung Cộng hồi năm 1997. Mới đây họ đã bắn gục một người phụ nữ khi bà tìm cách bơi qua giữa ban ngày. Tôi đã không bao giờ đào thoát được dưới chế độ Kim Jong-un. Hắn ta là người nguy hiểm nhứt trên trái đất”.
Có người nại đến sức mạnh kinh tế hiện nay của Trung Cộng để biện minh cho các chế độ cộng sản. Với sức mạnh kinh tế, Trung Cộng hiện đang muốn lãnh đạo thế giới về mọi mặt, dĩ nhiên kể cả trong việc kiểm soát chặt chẽ các cơ quan truyền thông xã hội và bóp nghẹt mọi tiếng nói của Sự Thật. Dù có hùng cường cỡ nào, trong thực chất, Trung Cộng vẫn là một chế độ xây dựng trên dối trá và tồn tại nhờ dối trá.
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã và đang đi theo con đường phát triển của Trung Cộng. Nhờ cởi mở về kinh tế, Việt Nam đã làm được những bước phát triển đáng kể. Nhưng song song với sự phát triển đó, chế độ cộng sản Việt Nam ngày càng siết chặt truyền thông, bóp nghẹt mọi tiếng nói của Sự Thật, giam giữ và đàn áp dã man tất cả những ai dám nói lên Sự Thật. Sau 43 năm áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên Miền Nam, người cộng sản ngày càng củng cố chế độ bằng sự dối trá. Ngoại trừ một số ít những nhà bất đồng chính kiến và những người dám nói lên Sự Thật, để sống còn trong chế độ dối trá, phần lớn đều cam chịu và ít hay nhiều thỏa hiệp với sự dối trá. Sự xuống cấp và băng hoại xã hội nói lên thái độ thỏa hiệp ấy.
Là người tỵ nạn cộng sản, tôi bỏ nước ra đi để mong được sống tự do và tìm một cuộc sống tốt đẹp xứng với phẩm giá con người. Bao lâu còn là người tỵ nạn, bấy lâu tôi vẫn còn là người chống cộng. Và chống cộng đối với tôi trên hết chính là chống lại dối trá, lươn lẹo, lường gạt và lừa bịp người khác.
Cuộc chiến chống Dối trá không ở đâu xa cả. Nó ở ngay trong chính bản thân tôi.






Thứ Hai, 30 tháng 4, 2018

Ngày Trái Đất 2018: chấm dứt nạn ô nhiễm vì chất nhựa



27/04/18
Ngày Chủ nhật 22 tháng Tư vừa qua, thế giới đã cử hành Ngày Trái Đất.
Ngày Trái đất đầu tiên đã được cử hành năm 1970. Người có công nhiều nhất trong việc tổ chức một Ngày Trái Đất để kêu gọi bảo vệ môi sinh là Thượng nghị sĩ Mỹ Gaylor Nelson. Vào thời điểm đó, tại Hoa Kỳ cũng như trên khắp thế giới, việc các hãng xưởng tuôn các hóa chất độc hại  vào không khí hay sông ngòi, biển khơi vẫn còn được xem là một hành động hợp pháp. Riêng Chính phủ Hoa Kỳ vẫn chưa thành lập Cơ quan Bảo vệ Môi sinh và cũng chẳng có bất cứ một luật lệ nào để bảo vệ môi sinh.
Thượng nghị sĩ Nelson đã phối hợp với Giáo sư Denis Hayed thuộc trường Đại học Harvard để tổ chức một Ngày Trái Đất trên toàn quốc Hoa Kỳ. Biến cố đã thành công vượt bực. Ngày 22 tháng Tư năm 1970, khoảng 20 triệu người Mỹ đã xuống đường biểu tình để yêu cầu chính phủ phải hành động để bảo vệ môi sinh. Tháng Mười Hai năm đó, Quốc hội Mỹ đã thông qua luật cho phép thành lập một Cơ quan Liên bang mới lấy tên là Cơ quan Bảo vệ Môi sinh gọi tắt là EPA (Environmental Protection Agency). Liền sau đó, Quốc hội Mỹ cũng đã thông qua một số luật như Luật Không Khí Trong Lành, Luật Nước Trong Sạch và Luật Bảo Vệ Các Chủng Loại Bị Đe Dọa Tuyệt Chủng.
Nhưng phải đợi đến 20 năm sau, 200 triệu người thuộc hơn 10 nước khác trên thế giới mới tham gia cử hành Ngày Trái Đất và đưa việc bảo vệ môi sinh lên hàng ưu tiên trong các vấn đề lớn của thế giới.
Ngày nay, đã có trên một tỷ người thuộc 192 nước trên thế giới đã tham gia vào các sinh hoạt của Ngày Trái Đất.
Trong việc bảo vệ môi sinh, mỗi năm Ngày Trái Đất được cử hành theo một chủ đề đặc biệt. Năm nay, Ngày Trái Đất chú trọng đến việc chấm dứt nạn ô nhiễm môi sinh vì chất nhựa. Chất nhựa hay ni lông (Plastic), hiện đang là một nan đề lớn của thế giới ngày nay. Ý thức hay không, nhiều người trong chúng ta đang sử dụng chất nhựa trong cuộc sống mỗi ngày: bao nhựa, chai nhựa, đĩa nhựa, chén bát nhựa, ống hút nhựa...cuộc sống của con người thời đại dường như lệ thuộc vào chất nhựa. Đó là chưa kể đến chất nhựa được sử dụng trong các thiết bị điện tử, xe hơi, quần áo và nước sơn.
Sau khi được sử dụng, các chất nhựa ấy đi đâu? Một số được tái sinh. Một số được chôn vùi trong các hố rác. Nhưng một phần rất lớn lại bị vất bừa bãi khắp nơi và cuối cùng chui ra các nguồn nước như sông ngòi, biển khơi.
Nhựa là một hóa chất không bao giờ tan biến. Theo một tài liệu nghiên cứu được phổ biến trên tạp chí khoa học Hóa học và Sinh học, chất nhựa  có thể tồn tại đến cả 2.000 năm hay lâu hơn. Theo Mạng lưới Ngày Trái Đất, chất nhựa được thải ra trên mặt đất hiện đang là một “cuộc khủng hoảng toàn cầu”. Trong một tuyên ngôn được cho công bố nhân Ngày Trái Đất năm nay, bà Valeria Merino, phó chủ tịch Mạng lưới Ngày Trái Đất,  nói rằng “nạn ô nhiễm vì chất nhựa hiện đang là một thách đố trước mắt. Chúng ta có thể thấy chất nhựa nổi lềnh bềnh trên các sông ngòi, biển khơi và ao hồ; nó làm nhơ bẩn cảnh trí và ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta cũng như tương lai của hàng tỷ trẻ em và giới trẻ. Tất cả chúng ta đều đã góp phần vào vấn đề này và phần lớn một cách vô ý thức”.
Một cuộc nghiên cứu do bà Jenna Jambeck, một kỹ sư về môi sinh thuộc trường Đại họ Georgia, Hoa Kỳ, thực hiện hồi năm 2015 cho thấy trong năm 2010  có khoảng 275 triệu tấn chất nhựa được thải  ra bờ biển của 192 quốc gia. Trong số này, có từ 4.8 đến 12.7 triệu tấn chảy ra biển khơi. Lượng chất nhựa được tống ra biển khơi ấy thường đi qua các sông ngòi, các trung tâm thành phố nằm dọc duyên hải, các hệ thống ống cống v.v. Chỉ có 20 phần trăm lượng chất nhựa thải ra biển khơi trực tiếp xuất phát từ hoạt động phế thải bất hợp pháp và kỹ nghệ đánh cá. Phần lớn chất nhựa tống ra biển khơi đều xuất phát từ các nguồn phế thải trên đất liền và ngay cả từ chính mỗi nhà dân cư.
Lượng chất nhựa được thải vào biển khơi dĩ nhiên tạo ra nguy cơ sống còn cho các sinh vật trong đại dương. Có khoảng 500 chủng loại khác nhau bị vướng vào các vật dụng bằng chất nhựa hay ăn phải chất nhựa. Cả hai đều là nguyên nhân dẫn đến cái chết cho nhiều sinh vật sống dưới nước. Tình trạng lại càng tồi tệ hơn bởi vì chất nhựa không bao giờ tan biến hoặc phải mất hàng bao thế kỷ mới có thể tan biến. Và ngay cả khi tan biến, chất nhựa cũng tiếp tục làm cho môi trường biển bị ô nhiễm trong hàng bao thế kỷ.
Phần lớn trong chúng ta quen mắt với chất nhựa được thải ra trên đất liền hay dọc theo các bờ biển. Nhưng điều đáng sợ hơn cả chính là sự ô nhiễm vì những vật li ti phát sinh từ chất nhựa khi tan biến. Những vật li ti này lớn không bằng 5 mi li mét. Phần lớn được tạo ra từ việc phân hủy của những sản phẩm bằng nhựa như bao bị, quần áo tổng hợp, bánh xe hơi và ngay cả các vật dụng trong phòng tắm.
Các sinh vật sống dưới nước như cây cỏ, rong, san hô và cá là những nạn nhân đầu tiên của việc ô nhiễm vì chất nhựa trong biển khơi. Biển khơi là một nguồn dinh dưỡng vô tận cho các loài sống dưới nước. Từ những vi sinh vật cho đến loài bạch tuột và cá voi đều được nuôi sống bằng kho lương thực trong lòng biển. Cây cỏ và thú vật sống dưới biển đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sự cân bằng sinh thái của trái đất. Tuy nhiên, do hành động phế thải ngày càng gia tăng của con người, sự cân bằng sinh thái ấy ngày càng bị đảo lộn. Con người tạo ra không biết bao nhiêu rác rưởi. Nhưng rác rưởi lại không tự nhiên biến mất mà lại được tống vào một nơi nào đó trên mặt đất. Cái triết lý thông thường của loài người lúc nào cũng là “xa mặt cách lòng”: con người cứ nghĩ rằng cứ chôn vùi rác rưởi ở một nơi nào đó là xong chuyện! Để giải quyết vấn đề theo thứ triết lý ấy, chúng ta chôn vùi rác rưởi xuống lòng đất hay tống nó đến một nơi gần nguồn nước để nó từ từ chìm ngập trong biển khơi. Điều mà mắt thường của con người không thể thấy được là chất nhựa chúng ta sử dụng đã trở thành thứ thuốc độc giết hại sự sống trong lòng biển. Và dĩ nhiên, biển bị ô nhiễm thì đương nhiên sự sống con người cũng bị đe dọa. Bởi lẽ 70 phần trăm dưỡng khí chúng ta thở là do các loài thảo mộc dưới biển sản xuất, 97 phần trăm nguồn nước trên trái đất đều được chứa đựng trong đại dương và 30 phần trăm thán khí do con người tạo ra đều được đại dương hứng lấy. Biển khơi bị ô nhiễm, sinh vật trong lòng biển bị bệnh tật, các sản phẩm từ lòng biển được chúng ta tiêu thụ dĩ nhiên cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta. Chưa nói đến tình trạng khan hiếm hải sản do ô nhiễm tạo ra. Đó là sợi giây liên đới giữa sự sống dưới biển và con người trên mặt đất.
Một cuộc nghiên cứu mới đây do Orb Media, một tổ chức truyền thông phi chính phủ có trụ sở tại Washington thực hiện, cho thấy có đến 94 phần trăm nguồn nước uống tại Hoa Kỳ và 93 phần trăm lượng nước đóng chai tại 9 quốc gia trên thế giới có chứa đựng những phân tử nhựa mà phần lớn có nguy cơ tạo ra bệnh tật.
Trong những năm gần đây, nhiều nước đã đưa ra những biện pháp cấm sử dụng một số hóa chất như Bisphenol A, một số muối và Ether có trong một số chất nhựa được sử dụng để chế tạo một số sản phẩm.
Theo bà Kathleen Rogers, Chủ tịch của Mạng lưới Ngày Trái Đất, một dấu hiệu đáng mừng là thế giới ngày càng ý thức về hiểm họa của nạn ô nhiễm vì chất nhựa và nhiều quốc gia và chính phủ hiện đang đi tiên phong trong cuộc chiến chống lại nạn ô nhiễm này.
Dĩ nhiên, chống lại nạn ô nhiễm vì chất nhựa không chỉ là chuyện của các chính phủ, mà còn phải là bổn phận của mỗi người công dân. Hiện nay hầu như chính phủ nào cũng khuyến khích và nâng đỡ kỹ nghệ tái sinh. Đây là một biện pháp quan trọng trong cuộc chiến chống lại nạn ô nhiễm vì chất nhựa. Nhưng kỹ nghệ tái sinh vẫn không tái sinh được tất cả mọi chất nhựa. Hiện vẫn còn một lượng rất lớn chất nhựa được đổ vào các hố rác hoặc vất bừa bãi trên mặt đất, ngay cả ở những vùng xa xôi hẻo lánh không có người ở. Nhiều địa phương không có ngay cả những hạ tầng cơ sở căn bản nhất để giải quyết chất thải, để lọc lựa và tái sinh chất nhựa.
Mới đây, có tin các nhà khoa học đã tình cờ khám phá ra được một loại chất men (Enzyme) có khả năng “ăn”, nghĩa làm tiêu hóa chất nhựa trong các chai lọ. Chất men này có thể “ăn” chất nhựa nội trong vòng vài ngày. Đây là công việc mà biển khơi phải mất hàng bao thế kỷ mới có thể làm được. Các nhà khoa học hy vọng có thể sử dụng loại chất men này để đưa chất nhựa trở về tình trạng nguyên thủy của nó. Tính trung bình, trên toàn thế giới, cứ mỗi phút có đến một triệu chai làm bằng chất nhựa được bán ra. Trong số này chỉ có 14 phần trăm được tái sinh. Số còn lại được tống vào biển khơi là nơi mà chất nhựa làm cho những vùng xa xôi nhất cũng bị ô nhiễm, làm hại sự sống trong biển khởi và ảnh hưởng đến nguồn hải sản con người sử dụng.
Chất men có khả năng “ăn” chất nhựa là một khám phá có nhiều triễn vọng cho cuộc chiến chống lại ô nhiễm vì chất nhựa của thế giới. Tuy nhiên, cho tới nay, vẫn chưa có biện pháp nào hữu hiện hơn trong cuộc chiến chống lại nạn ô nhiễm vì chất nhựa cho bằng giảm bớt việc sử dụng chất nhựa. Và đây chính là trách nhiệm của mỗi một người công dân trong từng quốc gia.
Trong cuộc chiến chống lại nạn ô nhiễm vì chất nhựa, mỗi người công dân có ý thức trách nhiệm đều có thể làm một số hành động cụ thể như được Mạng lưới Ngày Trái Đất gợi ý như sau:
*Mỗi lần mua một sản phẩm có chứa chất nhựa có thể vứt đi sau khi sử dụng, bạn có thể tự hỏi: Tôi có tuyệt đối cần nó không? Tôi có thể sử dụng một thứ khác mà tôi đã có không? Tôi có thể mua một thứ khác để sử dụng về lâu về dài không?
*Nên sử dụng các sản phẩm có chất nhựa một cách thích đáng và tránh không ném những sản phẩm đó gần bờ nước, bãi biển hay những nơi công cộng.
*Hễ thấy có rác rưởi bằng chất nhựa ở bất cứ nơi nào, hãy nhặt lấy, nhất là tại những ao hồ, sông suối và bãi biển.
*Nếu được nên mua quần áo và các sản phẩm được làm bằng những sợi tự nhiên
*Nên tham gia vào việc soạn thảo luật quy định việc giảm thiểu và tái sinh chất nhựa.

(nguồn:
- http://abcnews.go.com/International/earth-day-2018/story?i
-https://www.fauna-flora.org/conservation-challenges/ocean-plastic-pollution?)
-www.theguardian.com/environment/2018/apr/16/scientists-accidentally-create-mutant-enzyme-that-eats-plastic-bottles)

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2018

Tôi nhìn tôi trong người khác


Chu Thập
20/04/18
Ở thời đại kỹ thuật số này, nhiều lúc tôi mang mặc cảm bị bỏ lại đàng sau. Các phương tiện truyền thông thiết thân của con người thời đại như Ipad, Iphone...tôi hoàn toàn mù tịt. Cách đây không lâu, do nhà tôi thuyết phục, tôi cũng sắm cho mình một cái điện thoại cầm tay Nokia giá khoảng 20 Úc kim. Tôi chỉ mang theo lúc đi câu cá. Nhưng lúc hăng say kéo cá, tôi vô ý để cho chiếc điện thoại rơi xuống nước. Do thấm nước, nó hoàn toàn bị  “điếc”. Từ đó, tôi nghỉ chơi với điện thoại cầm tay luôn.
Hiện tại, tôi chỉ còn có mỗi một thiết bị có thể được xem như “vật bất ly thân” là chiếc máy vi tính trên bàn làm việc. Tôi không thể tưởng tượng mình có thể sống còn trong thế giới ngày nay mà không có chiếc máy vi tính. Nhưng trình độ bình dân học vụ của tôi về các kỹ thuật số cũng chỉ vừa đủ để tôi mở hộp thư điện tử, đọc tin tức và gõ vào phiếm như một cách tập thể dục trí óc mà thôi. Ngoài ra, tôi dốt đến độ chẳng dám tham gia vào bất cứ một trang mạng xã hội nào.
Cũng may, nhờ “trùm sò” trong việc chạy theo các phương tiện truyền thông hiện đại và cũng dè xẻn trong việc giao du trên các trang mạng xã hội, cho nên khi nổ ra vụ hồ sơ cá nhân của gần cả trăm triệu người sử dụng Facebook bị công ty thăm dò dư luận và hoạt đầu chính trị Cambridge Analytica đánh cắp, tôi thấy mình chả có gì để phải nao núng cả.
Ngày nay, ngoài mối đe dọa của chiến tranh nguyên tử, thế giới còn phải đối diện với điều mà nhiều người gọi là cuộc chiến tranh trên mạng hay tin học. Có thể đây là cuộc chiến quyết liệt và nguy hiểm nhứt của thế kỷ. Nhưng bên cạnh cuộc chiến tranh tin học ấy, trước mắt còn có một thứ dịch bệnh mà ngày nay không biết bao nhiêu người trên thế giới đang tự ý lao đầu vào. Dịch bệnh đó chính là sự nghiện ngập đối với các phương tiện truyền thông hiện đại.
Vài con số thống kê làm cho tôi phải giựt mình lo sợ. Tính trung bình, mỗi ngày con người thời đại mở điện thoại để đọc tin hay mở hộp thư điện tử đến 47 lần. Trong lúc còn thức, cứ 19 phút một lần, chúng ta mở điện thoại cầm tay một lần. Tổng cộng mỗi ngày chúng ta bỏ ra 5 tiếng đồng hồ để lướt qua màn ảnh của điện thoại cầm tay. Tỷ lệ những người vừa mới thức giấc đã mở điện thoại để xem thư từ hay tin tức lên đến 89 phần trăm.
Đây không phải là một cơn nghiện ngập hay một thứ dịch bệnh sao? Dịch bệnh nào cũng gây nguy hại cho sức khỏe của con người. Cả tinh thần lẫn thể lý. Nhiều người đã nhận ra điều đó.  Kết quả của một cuộc thăm dò được Hội Tâm Lý Gia Mỹ cho công bố hồi năm ngoái cho thấy tại Hoa Kỳ có đến 65 phần trăm người Mỹ nhận thấy rằng thỉnh thoảng không sử dụng điện thoại cầm tay có thể nâng cao sức khỏe tâm thần. Cũng trong năm vừa qua, một cuộc nghiên cứu do trường Đại học Texas thực hiện cho thấy chỉ cần một chiếc điện thoại “tinh khôn” để trước mặt cũng đủ để làm giảm bớt những kỹ năng tri thức căn bản của con người. Nói tóm lại, như chuyên gia tâm lý Adam Alter của trường Đại học New York nhận định, nỗi ám ảnh về kỹ thuật của con người thời đại quả là “một dịch bệnh đã bùng nổ” (x.Technology, The Masters of Mind control, tạp chí Time  23/4/2018).
Bất cứ một thứ nghiện ngập nào cũng có thể khiến cho con người trở thành nô lệ và giam hãm con người trong chính cái tôi ích kỷ của mình. Ngày nay, mỗi lần nghĩ đến dịch bệnh của thời đại và tình trạng tự nô lệ hóa của con người, tôi thường liên tưởng đến hình ảnh của đám đông trên các đường phố. Nhiều người chúi mũi vào màn ảnh của chiếc điện thoại đến độ quên hẳn sự hiện diện của người xung quanh và ngay cả những bất trắc có thể xảy ra trong giao thông. Nhiều người cười nói huyên thuyên và cư xử như người nói xàm giữa đám đông.
Nhưng đặc trưng nhứt của tình trạng nô lệ mà các phương tiện truyền thông hiện đại có thể tạo ra chính là việc tự chụp ảnh bằng điện thoại cầm tay (selfie). “Tự sướng”: tiếng Việt trong nước hiện nay nghe có vẻ gợi hình hơn. Tựu trung, nếu như có một thời trong các chế độ cộng sản, người dân tôn thờ lãnh tụ, thì ngày nay dường như con người lại tôn thờ cá nhân và cá nhân đó không ai khác hơn là cái tôi của mình. Cái tôi được đóng khung, được lộng kính. Cái tôi được trưng bày trên các trang mạng xã hội. Người ta tưởng đó là một cách tự đăng quang dễ dàng và không tốn kém. Kỳ thực, chúng ta càng bỏ giờ, bỏ công sức để tự quảng cáo trên các trang mạng xã hội, thì người khai thác để trục lợi không ai khác hơn là những người đã đẻ ra những trang mạng xã hội ấy. Họ lấy các dữ kiện cá nhân của chúng ta để bán cho các hãng quảng cáo và các nhà hoạt đầu chính trị. Chúng ta tưởng mình là khách hàng của Facebook hay Google. Thật ra chúng ta chỉ là những sản phầm để họ rao bán mà thôi. Trong chế độ nô lệ, con người bị xem như đồ vật hay sở hữu của người khác. Ngày nay, tinh vi hơn, con người có thể tự nô lệ hóa và tình nguyện trở thành sản phẩm để được người khác rao bán. Nói cho cùng, khi cái tôi của tôi được chính tôi tung hô và đề cao đó là lúc tôi biến thành tín đồ của một tôn giáo mới: tôn giáo này không tôn thờ một thần linh hay thượng đế nào khác hơn là chính tôi! Tôn giáo này khuyến dụ tôi tin tưởng rằng  tôi “hơn” người khác, nhu cầu của tôi quan trọng hơn nhu cầu của người khác và tôi phải được thụ hưởng tất cả những gì tôi ước muốn. Tôn giáo mới này thuyết phục tôi rằng những người bạn trên Facebook của tôi đang ngóng trông từng ngày để được nghe và nhìn thấy những kỳ công và thành tựu của tôi.
Dĩ nhiên, kỹ thuật được phát minh là để phục vụ con người. Nhưng kỹ thuật của thời đại dường như không còn phục vụ con người nữa, mà đang biến con người thành nô lệ  và dẫn dắt con người vào thứ tôn giáo mới đề cao cái tôi này.
Tại Hoa Kỳ và nhiều nước Tây Phương, ngọn lửa của tôn giáo mới này đã bùng cháy vào khoảng thập niên 1970. Với tôn giáo mới này, người ta xem mặc cảm tự ti và sút kém là cội rễ của mọi thứ tệ nạn tâm lý cũng như xã hội, từ lo lắng đến trầm cảm, từ bạo hành trong gia đình đến lạm dụng tình dục trẻ con. Đối lại với mặc cảm tự ti, tôn giáo mới này kêu gọi các tín đồ phải luôn tỏ ra tự tin, phải xem mình là người tài giỏi và ngay cả “hơn” người khác.
Trong suốt gần 4 thập niên, các chuyên gia tâm lý Mỹ đã bỏ công nghiên cứu về ảnh hưởng của thái độ lạc quan và sự tự tin đối với sự thành công cũng như sức khỏe tâm thần của học sinh trung học tại Hoa Kỳ. Khẳng định cốt lõi được đưa ra trong cuộc trắc nghiệm là: “Tôi là một người quan trọng”. Trong thập niên 1950, chỉ có 12 phần trăm học sinh trung học đồng ý với khẳng định này. Nhưng năm 1989, tỷ lệ này đã tăng lên đến 80 phần trăm. Cũng trong chiều hướng này, từ giữa thập niên 1980 đến giữa thập niên 2000, sự tự tin và tự phụ của các sinh viên Mỹ được đo lường bằng mệnh đề “Tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn nếu không đạt được điều tôi đáng được”. Kết quả cho thấy tỷ lệ của lòng tự tin và tự phụ  nơi các sinh viên Mỹ tăng thêm 30 phần trăm.
Cùng một tuổi với tôi, Tổng thống Donald Trump không thuộc thế hệ sinh viên nói trên. Nhưng cái kiểu nói của ông: “cái gì tôi cũng nhứt, tôi thông minh nhứt, tôi học những trường danh giá nhứt, tôi thành công nhứt...tôi là một thiên tài” có lẽ cũng nói lên một phần nào niềm tin của tôn giáo đề cao cái tôi hiện nay. Cái gì cũng cái tôi trước hết, cái gì cũng cái tôi trên hết. Ngày nay, chữ cái “I” trong Ipad hay Iphone dĩ nhiên gợi lên chữ Intelligence (thông mình hay tinh khôn) mà cũng gián tiếp đề cao cái tôi. Một cuộc nghiên cứu về 15 triệu cuốn sách của Google Ngram cho thấy giữa năm 1900 và năm 1974, chữ “tôi” chỉ được sử dụng khoảng 50 phần trăm, nhưng từ giữa năm 1975 đến năm 2007, tỷ lệ này lại tăng lên hơn 87 phần trăm (x.https://www.psychologytoday.com/us/blog/the-power-insight/201711/maslows-hierarchy-is-the-source-our-self-obsession?)
Minh triết, đạo giáo, luân lý, tôn giáo... ở thời đại nào cũng khuyên dạy con người khiêm tốn. Tất cả các bậc vĩ nhân đích thực trong lịch sử nhân loại, từ cổ chí kim, đều tỏ ra là những con người khiêm tốn. Một người thông minh tài trí và lỗi lạc nhứt trong Thế kỷ 20 như nhà bác học Albert Einstein lúc nào cũng tỏ ra khiêm tốn. Năm 1922, sau khi được tin mình được trao tặng giải thưởng Nobel về vật lý, ông đi Nhật Bản. Một nhân viên khách sạn giúp đưa hành lý của ông lên phòng. Không có sẵn tiền túi để tặng cho người này, ông liền lấy một mảnh giấy và bày tỏ lòng biết ơn của mình bằng câu nói: “Một cuộc sống bình lặng và khiêm tốn sẽ mang lại nhiều hạnh phúc hơn việc đeo đuổi thành công và cái đuôi của nó là sự mỏi mệt không ngừng”. Xem đó như một món quà vô giá, nhân viên phục vụ khách sạn này đã cất giữ mảnh giấy ấy. Mới đây, nghĩa là gần một trăm năm sau, mảnh giấy có câu nói trên đây đã được mang ra bán đấu giá tại Jerusalem. Lúc đầu người ta hy vọng giá cao nhứt của mảnh giấy sẽ chỉ từ 5000 đến 8000 Mỹ kim. Nhưng không ngờ người cháu của nhân viên khách sạn trên đây đã bất ngờ trở thành triệu phú, bởi vì có người đã mua mảnh giấy ấy với giá gần 2 triệu Mỹ kim. Mảnh giấy ấy có giá trị có lẽ không phải vì có thủ bút của nhà bác học cho bằng được in đậm bằng chính tấm lòng khiêm tốn của ông. Thật có lý để gán cho ông câu nói nổi tiếng: “Có hai thứ vô cực: một là vũ trụ, hai là sự ngu xuẩn của con người”. Nếu như thông minh và biết nhiều như ông mà lúc nào cũng tỏ ra khiêm tốn thì cái ngu lớn nhứt của con người chính là lòng tự phụ.
Người khiêm tốn đích thực, theo tôi nghĩ, không phải là người  “hạ mình” đến độ chối bỏ phẩm giá và giá trị của mình, mà chính là “biết” giới hạn của mình, thành thật với chính mình và hơn nữa, biết nhận ra và tôn trọng phẩm giá và giá trị của người khác, bất luận giàu nghèo, sang hèn, thông minh hay đần độn. Một cách nào đó, sự khiêm tốn đích thực luôn đi đôi với niềm cảm thông và sự quan tâm đến người khác.
Trước năm 1975, nhà văn nữ Túy Hồng có viết một quyển tiểu thuyết có tựa đề ngộ nghĩnh: “Tôi nhìn tôi trên vách”. Nhìn trên vách, dĩ nhiên tôi chỉ thấy cái bóng của tôi. Cái bóng của tôi không phải là con người thật của tôi. Nhưng có khi tôi lại suốt đời chạy theo cái bóng giả tạo ấy. Ngày nay, với chiếc điện thoại tinh khôn, lúc nào tôi cũng có thể nhìn thấy tôi và chỉ thấy có mỗi mình tôi. Không phải là một cái bóng, nhưng cái tôi trên màn ảnh của chiếc điện thoại tinh khôn ấy cũng chỉ là một cái tôi giả tạo.
Cái tôi dễ bị đánh mất và nghịch lý lớn nhứt trong cuộc đời là khi tôi quên mình để biết sống và quan tâm đến người khác, chính là lúc tôi tìm gặp lại chính mình. Nụ cười chân tình của một người khi gặp lại tôi cho tôi biết ít ra tôi đã để lại một hình ảnh tốt đẹp của tôi nơi họ. Ánh mắt của người đối diện là ống kính chân thực nhứt để tôi nhìn thấy tôi.
Mỗi ngày mở mắt ra, tôi nhìn thấy tôi trong người khác và tôi gặp lại tôi qua người khác.










Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

Kẻ chiến thắng đích thực


  
Chu Thập
23/04/14
Mỗi năm, cứ đến ngày Anzac 25 tháng 4, tuy không phải là dân Úc chính hiệu, tôi cũng hướng lòng về Gallipoli, Thổ Nhĩ Kỳ, để tưởng nhớ các chiến sĩ Úc đã bỏ mình trong thời Đệ nhứt Thế chiến và dĩ nhiên cùng với họ, tôi cũng không quên tất cả những binh sĩ Úc đã hy sinh trong  mọi cuộc chiến có sự tham gia của quân đội Úc. Lòng biết ơn không cho phép tôi loại trừ họ, bằng cách này hay cách khác, ra khỏi ký ức của mình.
Biết ơn các chiến sĩ Úc, tôi thấy cũng không thể quên được tấm lòng của một người Thổ Nhĩ Kỳ đã từng được thế giới đề cao như một trong những nhân vật vĩ đại nhứt trong lịch sử nhân loại: cố tổng thống Mustapha Kemal Ataturk (1881-1938). Đúng như tước hiệu “Ataturk” (cha già dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ) đã được trao tặng duy nhứt cho một mình ông, Mustapha Kemal, vị tổng thống đầu tiên của Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ, đã có công khai sinh ra một quốc gia dân chủ đầu tiên trong thế giới Hồi giáo và biến Thổ Nhĩ Kỳ thành một đất nước văn minh, tiến bộ. Nhưng đáng ghi nhận nhứt nơi ông, theo tôi nghĩ, chính là tấm lòng độ lượng biết dẹp bỏ hận thù để xây dựng tình thương và củng cố quan hệ thân hữu với các nước cựu thù. Việc cho phép và khuyến khích chỉnh trang các nghĩa trang của quân đội Đồng Minh, cách riêng quân đội Úc, tại Gallipoli là một cử chỉ cụ thể nói lên tấm lòng độ lượng ấy. Là một vị tướng chỉ huy thành công trong việc đẩy lui quân đội Đồng Minh trong trận chiến Gallipoli, Mustapha Kemal đã không cư xử với thái độ đắc thắng của một kẻ chiến thắng. Trái lại, ông đã xem những người nằm xuống của bên chiến bại như bạn hữu và ngay cả như những người con của đất nước mình. Năm 1934, trong bài diễn văn đọc trước một phái đoàn gồm người Úc, Tây Tân Lan và Anh đến viếng thăm trận địa Gallipoli, vị tổng thống đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ đã ngỏ lời về các chiến sĩ Đồng Minh đã ngã gục tại đây bằng những lời lẽ như sau:
“Những vị anh hùng này đã đổ máu và đã hy sinh mạng sống của mình. Giờ đây, các bạn đang nằm trên mảnh đất của một nước bạn. Do đó, các bạn hãy nghỉ yên.
Đối với chúng tôi, không có sự khác biệt giữa những “Johnny” (tên gọi quen thuộc của Anh, Mỹ, Úc, Gia Nã Đại và Tân Tây Lan) và những “Mehmet” (tên gọi quen thuộc của người Thổ Nhĩ Kỳ) tại những nơi họ đang nằm nghỉ bên cạnh nhau trong đất nước của chúng tôi.
Về phần mình, hỡi các bà mẹ là những người đã gởi con ra khỏi đất nước của mình, các bà hãy lau sạch nước mắt. Con trai của các bà hiện đang nằm trong lòng chúng tôi và đang nghỉ giấc bình an.
Sau khi đã bỏ mình trên mảnh đất này, họ cũng đã trở thành con cái của chúng tôi.”
(http://www.awm.gov.au/encyclopedia/ataturk.asp)
Vị cha già dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ có vĩ đại là bởi tấm lòng độ lượng và khoan nhượng của ông. Hẳn tổng thống Mustapha Kemal là người rất am hiểu lịch sử Hoa Kỳ, nhứt là trong thời kỳ lập quốc, bởi vì cử chỉ khoan nhượng của ông không thể không làm tôi nhớ lại thái độ cao thượng của một trong những nhà lập quốc vĩ đại của Hoa Kỳ là tổng thống Abraham Lincoln (1809-1865), người thường được mệnh danh là Nhà Giải phóng Vĩ đại. Vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ này đã để lại một bài diễn văn được xem là một trong những văn kiện hay nhứt bằng Anh Ngữ trong suốt lịch sử nhân loại. Bài diễn văn thường mệnh danh là “bài diễn văn Gettysburg” vì được đọc trong  buổi lễ cung hiến Nghĩa trang Chiến sĩ quốc gia tại Gettysburg, tiểu bang Pennsylvania ngày 19 tháng 11 năm 1863, bốn tháng rưỡi sau khi xảy ra trận Gettysburg đẫm máu trong đó quân đội Liên bang dành được chiến thắng vẻ vang. Trong bài diễn văn lịch sử dài 272 chữ và kéo dài không quá 3 phút, tổng thống Lincoln đã đề cao gương anh dũng hy sinh của các chiến sĩ của Liên Bang cũng như của Liên Minh miền Nam. Ông mở đầu bài diễn văn bằng cách nhấn mạnh đến lý tưởng tự do và bình đẳng: “Tám mươi bảy năm trước, cha ông chúng ta đã tạo dựng trên lục địa này một quốc gia mới được thai nghén trong Tự Do, được cung hiến cho niềm xác tín rằng mọi người sinh ra đều Bình Đẳng”. Chính vì lý tưởng và niềm xác tín ấy mà hai bên, Liên Bang cũng như Liên Minh Miền Nam đã gặp nhau trên “bãi chiến trường này”. Theo tổng thống Lincoln, chính các chiến sĩ, bất luận thuộc bên nào, mới là những người đã cung hiến mảnh đất này. Kết thúc bài diễn văn, tổng thống Lincoln nói: “Thế giới sẽ không quan tâm, cũng chẳng nhớ đến những gì chúng ta đang nói ở đây, nhưng thế giới sẽ không bao giờ quên những gì họ đã làm tại đây.”
(http://www.abrahamlincolnonline.org/lincoln/speeches/gettysburg.htm)
Dĩ nhiên, thế giới đã không bao giờ quên cuộc nội chiến nhờ đó Hoa Kỳ đã trưởng thành hơn trong lý tưởng Tự Do và niềm xác tín về Bình Đẳng. Nhưng chính tổng thống Lincoln đã xóa bỏ làn ranh giữa hai chiến tuyến để đề cao gương anh dũng hy sinh của các chiến sĩ, bất luận thuộc bên nào, mà thế giới vẫn mãi mãi không bao giờ quên được “bài diễn văn Gettysburg” của ông.
“Bài diễn văn Gettysburg” của tổng thống Lincoln nay đã được đúng 150 tuổi. Bài diễn văn của tổng thống Mustapha Kemal tại nghĩa trang Gallipoli cũng đã tròn 80 tuổi. Thời xa xưa, nhiều vị nguyên thủ quốc gia đã biết nghĩ đến chuyện xóa bỏ hận thù để chỉ nghĩ đến hòa giải và tha thứ, cũng như bày tỏ một niềm tôn kính sâu xa đối với các tử sĩ, bất luận họ thuộc bên “thắng cuộc” hay bên “chiến bại”.
Có bao giờ người Việt Nam chúng ta sẽ nghe được một bài diễn văn như thế tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa không? Tôi mong điều đó biết chừng nào! Tôi chưa từng đặt chân vào Nghĩa Trang này, trước cũng như sau năm 1975. Nhưng tôi tin rằng nhà văn Giao Chỉ đã không quá phóng đại hay thêu dệt khi mô tả lại tình trạng của Nghĩa Trang này như sau: “Ngày 30/4/1975”, quê hương Việt Nam vào tay cộng sản. Sau những chiến dịch đánh tư sản mại bản, đánh tư thương, và đánh tất cả các ngành khác mà chung qui là chúng tịch thu tất cả cơ sở kinh doanh sản xuất của tư nhân và chia chác tài sản quốc gia. Đó là về vật chất, còn về con người thì hằng trăm ngàn quân nhân, viên chức, cán bộ, và một số dân thường, bị chúng đẩy vào các trại tù mà chúng gọi là trại cải tạo không thời hạn. Đó là hành hạ trả thù người còn sống, còn đối với những quân nhân tử trận nằm im trong lòng đất vẫn bị hành hạ trả thù, bằng cách ủi bằng các nghĩa trang địa phương để xây dựng nhà ở hay cơ sở trên đó. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cũng bị phá hoại dưới nhiều hình thức khác nhau, do một đơn vị quân đội của họ trú đóng nơi đây đập phá. Trong thập niên 1990, có tin CSVN giao cho một công ty Đài Loan xây dựng khu kỹ nghệ, nhiều thân nhân xôn xao vội vàng bốc mộ, nhưng không rõ việc gì đã xảy ra mà họ không thực hiện. Do vậy mà Nghĩa Trang vẫn còn đó dù chỉ là từng phần từng mảng trong điêu tàn hoang phế!...
Theo tác giả có bút hiệu “Người Giữ Mộ” thì năm 1983, sau khi ra tù, tác giả đến nơi an nghỉ của những chiến sĩ đã tròn nhiệm vụ với quốc gia dân tộc, để cảm nhận cảnh tiêu điều hoang phế của Nghĩa Trang! Loại cây Hắn Hương rất nhiều rất cao, che phủ Nghĩa Trang, phải len chân mới di chuyển được. Tất cả mộ bia đều bị đập phá hình, khoảng 50% mộ bia ngã xuống đất, phần còn lại thì ngả nghiêng xiêu vẹo, riêng bia của 8 vị Tướng bị đập phá hoàn toàn, nắp xi măng trên phần mộ bị nhà cầm quyền đem cấp phát cho các cơ quan của họ, trong đó có câu lạc bộ bệnh viện Từ Dũ. Thân “Con Ong”, tức là những khu đất phần mộ, trở nên loang lở do bị đào xới” (Việt Báo, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, 19/4/2014).
30 tháng Tư hàng năm, đọc lại những dòng trên đây mà thấy xót xa. Người sống, dù thế nào đi nữa, cũng có thể bương chải để sống còn. Nhưng người chết, nhứt là những người vị quốc vong thân, nếu không được mồ yên mả đẹp thì lẽ ra, vì truyền thống “nghĩa tử nghĩa tận” của dân tộc, không đến nỗi phải bị mang ra cày xéo thêm một lần nữa. Vậy mà “Bên thắng cuộc” vẫn cứ say men chiến thắng và say cả máu người để tiếp tục dẫm đạp lên phần linh thiêng nhứt của con người là mộ phần.
Chiến tranh nào cũng có hồi kết thúc. Có kẻ chiến thắng. Có người chiến bại. 30/4/1975, như nhà báo Huy Đức trong nước đã ghi lại trong tác phẩm “Bên Thắng Cuộc”, muốn hay không, xét về quân sự, rõ ràng là những người cộng sản Miền Bắc đã đánh cho “Mỹ cút, Ngụy nhào”. Nhưng cũng do chính tác giả này nhận định, “kẻ thắng cuộc” đích thực lại không phải là những người cộng sản Miền Bắc, mà chính là Miền Nam Tự Do. Chỉ cần hình ảnh của một “bộ đội” Dương Thu Hương, khi vào “tiếp thu” Sài Gòn, đã phải ngồi ôm mặt khóc ròng trước cảnh tượng của một Miền Nam Tự Do và Thịnh Vượng (vì biết mình bị Bác và Đảng lừa gạt) cũng đủ để nói lên ai mới thực sự là “Bên Thắng Cuộc”. Có anh bộ đội bà con từ Bắc vào Nam thăm thân nhân. Mặc dù sau 1975, thiếu ăn thiếu mặc, gia đình người thân cũng cố làm một bữa cơm xoàng để đãi anh. Không ngờ, chỉ thưởng thức món rau muống chẻ trộn thịt bò thôi, anh đã luôn miệng khen: “Sao mà nó ngon thế, sao mà nó “đế quốc” thế, sao mà nó “nãng mạn” thế”. Không cần phải là một Dương Thu Hương, khi khám phá ra bộ mặt thật của thịnh vượng, tự do của Miền Nam, mới bưng mặt khóc. Có lẽ tôi cũng sẽ khóc khi nhìn gương mặt ngây ngô của anh “bộ đội cụ Hồ” lần đầu tiên được thưởng thức món rau muống chẻ trộn dầu giấm ăn với thịt bò của đế quốc! Khóc vì sao thấy trên đời này có những người tội nghiệp đến thế.
Miền Nam không chỉ giải phóng Miền Bắc bằng sự giàu có, tự do và dân chủ, mà còn “chiến thắng” bằng tình người và tinh thần nhân bản vốn đã hoàn toàn bị thui chột dưới chế độ cộng sản Miền Bắc.
Tưởng niệm các chiến sĩ Úc trong Ngày Anzac, nhưng tâm hồn tôi lại hướng đến Ngày 30 tháng Tư Đen, ngày mà nhà văn Liêu Thái trong nước đã gọi là “Ngày Oan Hồn”, ngày đã đẩy không biết bao nhiêu người Việt Nam đang sống cũng như đã qua đời thành những oan hồn vất vưởng không nơi cư trú. Nhìn nghĩa trang Gallipoli mãi bên tận Thổ Nhĩ Kỳ, tôi lại hình dung ra Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Đọc lại “bài diễn văn Gettysburg” của tổng thống Abraham Lincoln, lắng nghe những lời của tổng thống Mustapha Kemal tại nghĩa trang Gallipoli, tôi không thể không nghĩ đến chiến thắng đích thực trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào. Đó là chiến thắng của hòa giải và tha thứ trên bất khoan nhượng và hận thù. Đó là chiến thắng của tình người và lòng vị tha  trên những toan tính ích kỷ. Đó là chiến thắng của Sự Thật trên Dối Trá và Lừa Gạt .
Nghi lễ của ngày Anzac nào cũng bắt đầu vào lúc hừng đông và kết thúc khi mặt trời vừa ló dạng. Tôi cũng mong có ngày mặt trời của Sự Thật, Công Lý và nhứt là Tình Thương  sớm chiếu tỏa trên quê hương vẫn còn đắm chìm trong tăm tối của Hận Thù và Khốn Khổ.