Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

Syria: các tín hữu Kitô giữa hai làn đạn


14.04.17
Hôm nay là ngày được Kitô Giáo gọi là Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Trong ngày hôm nay, các tín hữu Kitô tưởng niệm một cách đặc biệt cái chết của Chúa Giêsu. Theo thông lệ, hôm nay các tín hữu cũng hướng về Thánh Địa Palestine, chiếc nôi khai sinh của Kitô Giáo và bày tỏ sự cảm thông với những người đồng đạo tại vùng đất này cũng như tại Trung Đông nói chung. Trong những ngày này, số phận của các tín hữu Kitô tại Syria lại càng đáng được quan tâm đến hơn cả, nhất là sau khi Hoa Kỳ đã phóng hỏa tiễn xuống một phi trường quân sự của Syria để trừng phạt việc nước này sử dụng bom hơi ngạt Sarin để gây tử vong và thương tích cho nhiều thường dân vô tội.
Theo Kinh Thánh của Kitô Giáo, một trong những vị thánh tông đồ cột trụ của Kitô Giáo là thánh Phaolô, trên đường đi truy nã các tín hữu Kitô tiên khởi, đã đến Damascus, nay là Thủ đô của Syria. Tại đây vị thánh này đã được Chúa Giêsu hiện ra để tra vấn: “Saolô, sao ngươi bách hại Ta?” Từ một kẻ cuồng tín thù ghét các tín hữu Kitô, Phaolô đã biến thành một tông đồ nhiệt thành đi khắp nơi để truyền đạo.
Syria là nơi có rất nhiều di tích lịch sử của Kitô Giáo. Gần Aleppo, Bắc Syria, thành phố nổi tiếng trong cuộc chiến tranh kéo dài trong 6 năm qua tại nước này, có một nhà thờ mang tên thánh Simeon “Cột”. Được mệnh danh là “Cột” vì vị thánh này đã tu trên một cột trụ đến cả chục năm. Còn tại vùng núi ở phía Tây Thành phố Homs, người ta vẫn còn nhìn thấy lâu đài có tên là “Krak” thuộc Hội hiệp sĩ Kitô Giáo. Đây là một lâu đài được thiết lập trong thời Thập tự Viễn chinh thời Trung Cổ để chống lại Hồi giáo.
Được phe nổi dậy sử dụng làm căn cứ, tòa lâu đài này đã bị hư hại nhiều vì những cuộc oanh tạc của Chính phủ Syria.
Nhiều di tích lịch sử của Kitô Giáo bị tàn phá đã đành, mà cộng đồng Kitô Giáo tại Syria cũng  bị cuộc nội chiến chiếu cố một cách đặc biệt. Trước sự đe dọa của các thánh chiến quân Hồi giáo cực đoan, hàng chục ngàn tín hữu Kitô  đã bị buộc phải rời bỏ nhà cửa để đi lánh nạn.
Trong những vùng bị “Quốc gia Hồi giáo” kiểm soát, các tín hữu Kitô bị cưỡng bách phải cải đạo sang Hồi giáo, phải đóng thuế tôn giáo hoặc phải đối đầu với cái chết. Dạo tháng Hai năm 2015, tại Tỉnh Hassakeh, Đông Bắc Syria, có tin hàng trăm tín hữu Kitô đã bị tổ chức khủng bố này bắt cóc. Một số vị lãnh đạo tinh thần cũng bị những kẻ có vũ trang mà người ta nghi ngờ là thành viên của mặt trận Nusra, một chi nhánh của Al-Qaeda tại Syria bắt cóc.
Trước sự đe dọa của những người Hồi giáo cực đoan thuộc mặt trận Nusra và “Quốc gia Hồi giáo”, các tín hữu Kitô Syria bị chia năm xẻ bảy trong những chọn lựa chính trị của họ: người thì gia nhập hàng ngũ các dân quân người Kurd, kẻ chiến đấu bên cạnh các kháng chiến quân thuộc phe nổi dậy, một số đứng về phía các lực lượng của chính phủ.
Vào thập niên 1920, các tín hữu Kitô chiếm đến 30 phần trăm dân số Syria. Ngày nay trong tổng số dân 22 triệu người, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 10 phần trăm. Với 70 phần trăm dân số, người Hồi giáo thuộc Hệ phái Sunni được xem là đa số tại Syria. Người Alawite, một chi nhánh thuộc Hệ phái Hồi giáo Shiite chiếm khoảng 12 phần trăm. Tổng thống Assad là người thuộc sắc tộc Alawite này. Ngoài ra cũng có một thiểu số thuộc các hệ phái Hồi giáo khác. Người ta hiểu được lý do tại sao trong cuộc nội chiến, các nước theo Hệ phái Shiite như Iran và Hezbollah tại Liban ủng hộ Tổng thống Assad, trong khi đó hầu hết các nước theo Hồi giáo thuộc Hệ phái Sunni tại Trung Đông đều yểm trợ cho phe nổi dậy.
Phần lớn các tín hữu Kitô Syria thuộc các Giáo hội có nghi lễ riêng thường được gọi là “Đông phương”. Cổ xưa nhất và có đông tín hữu nhất tại Syria là Giáo hội Chính thống Hy lạp. Giáo hội này hiện có khoảng 500.000 tín hữu. Kế đến là Giáo hội Armeni Tông truyền với khoảng từ 112.000 đến 160.000 người. Bên cạnh đó là Giáo hội Chính thống Syria với 89.000 tín hữu.
Mặc dù có nghi lễ riêng gọi là “Đông phương”, một số Giáo hội Kitô tại Syria tự nhận là Công giáo và nằm trong hệ thống tổ chức của Giáo hội Công giáo hoàn vũ. Trong số này, với từ 118.000 đến 240.000 tín hữu, Giáo hội Công giáo Melkit Hy lạp được xem là Giáo hội Công giáo lớn nhất tại Syria. Ngoài ra cũng phải kể đến sự có mặt tại Syria của một số Giáo hội Công giáo khác như Giáo hội Công giáo Maronit Antiokia, Giáo hội Công giáo Armeni, Giáo hội Công giáo Syria và Giáo hội Công giáo Calđê.
Dù chỉ là một thiểu số trong xã hội, các tín hữu Kitô lại thuộc thành phần ưu tú tại Syria. Họ tham gia vào các nhóm chính trị khác nhau, kể cả các phong trào Á Rập tục hóa và xã hội chủ nghĩa.
Đảng Baath đã lên cầm quyền tại Syria từ năm 1963 đến nay. Người sáng lập đảng này là một tín hữu Kitô. Các tín hữu Kitô đã từng nắm những chức vụ cao trong nội bộ  Đảng Baath, cũng như trong chính phủ và các lực lượng an ninh. Dù vậy nếu so với các đồng nghiệp thuộc Sắc tộc Alawite và Hệ phái Sunni, các tín hữu Kitô vẫn không có thực quyền.
Mặc dù cũng giống như những người Syria khác họ chỉ có những quyền tự do dân sự và chính trị rất giới hạn, các tín hữu Kitô vẫn được thân phụ của đương kim Tổng thống Assad là cố Tổng thống Hafez al-Assad bảo vệ và dành cho nhiều đặc ân. Tổng thống Hafez đã cai trị Syria từ năm 1971 đến năm 2000. Lên kế vị cha, Tổng thống Assad cũng dành cho các tín hữu Kitô nhiều ưu đãi. Thật ra, không chỉ riêng thiểu số các tín hữu Kitô, người Hồi giáo thuộc Hệ phái Sunni cũng ủng hộ cha con ông Assad, bởi vì họ xem cả hai nhà lãnh đạo này như những người bảo đảm sự ổn định cho xứ sở.
Khi cuộc cách mạng đòi hỏi dân chủ bộc phát tại Syria dạo tháng Ba năm 2011, thoạt tiên nhiều tín hữu Kitô đã tỏ ra dè dặt. Họ không muốn đứng về phe nào. Tuy nhiên, khi Chính phủ Assad gia tăng các cuộc đàn áp và phe nổi dậy bắt đầu tự trang bị khí giới, nhiều tín hữu Kitô đã dần dần bị lôi cuốn vào cuộc xung đột.
Các cuộc giao chiến giữa chính phủ và nhiều phe nhóm khác nhau đã khiến cho hàng chục ngàn tín hữu Kitô phải đi lánh nạn hoặc bỏ nước ra đi. Hồi năm ngoái, nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo Melkit Hy lạp là Đức thượng phụ Gregorios III Laham đã cho biết có trên 1000 tín hữu Ki Tô đã bị sát hại, nhiều ngôi làng hoàn toàn bị bình địa và hàng chục ngôi thánh đường và trung tâm của các Giáo hội bị hư hại hay phá hủy.
Đây chính là lý do đã khiến cho một số tín hữu Kitô bày tỏ sự ủng hộ đối với Tổng thống Assad, nhất là khi các cuộc bạo động vì lý do tôn giáo gia tăng và các nhóm Hồi giáo cực đoan kêu gọi thành lập “Quốc gia Hồi giáo”.
Nhiều tín hữu Kitô Syria lo sợ rằng nếu Tổng thống Assad bị lật đổ, họ sẽ trở thành mục tiêu tấn công và các cộng đồng tín hữu sẽ bị tàn phá như đã từng xảy ra tại Iraq sau khi quân đội Hoa Kỳ xâm chiếm nước này hồi năm 2003. Các tín hữu Kitô cũng lo sợ bởi vì họ đã nhìn thấy các đảng Hồi giáo lên cầm quyền tại Ai Cập và Tunisia sau cuộc cách mạng thường được gọi là Mùa Xuân Á Rập.
Trong tình thế này, nhiều cộng đồng Kitô giáo đã đáp lại lời kêu gọi của Chính phủ Assad để thành lập các nhóm thanh niên vũ trang được gọi là “các ủy ban nhân dân” hầu tự vệ chống lại các cuộc tấn công của phe nổi dậy.
Dĩ nhiên, không phải tất cả các cộng đồng Kitô đều ngả theo Tổng thống Assad. Cũng có nhiều nhóm đã gia nhập hàng ngũ đối lập. Nhiều người đã tỏ ra rất tích cực trong các tổ chức chính trị như Hội đồng Quốc gia Syria. Lãnh tụ của Hội đồng này là ông George Sabra, một người cộng sản kỳ cựu xuất thân từ một gia đình Kitô Giáo. Nhiều tín hữu Kitô cũng gia nhập tổ chức có tên là “Các Ủy ban Phối hợp Địa phương”, một trong những mạng lưới đối lập nổi tiếng tại Syria. Các tín hữu Kitô thuộc phe đối lập đã tố cáo chính phủ cố tình tạo ra căng thẳng giữa các tổ chức tôn giáo, cũng như sử dụng các lực lượng an ninh gồm người Alawite và các dân quân Alawite để tấn công những người Hồi giáo thuộc Hệ phái Sunni. Ngoài ra, họ cũng cho rằng Chính phủ Assad cố tình rêu rao rằng phe nổi dậy là một mối đe dọa đối với  các nhóm thiểu số tại Syria.
Ngày 22 tháng Tư năm 2013, đã có hai chức sắc thuộc hàng giáo phẩm của các Giáo hội Kitô tại Syria bị một nhóm vũ trang bắt cóc. Cả hai vị chức sắc này đều thuộc Giáo hội Chính thống Syria. Hai vị bị bắt cóc khi tham gia vào một công tác cứu trợ nhân đạo.
Trước đó vài ngày, một trong hai vị là Giám mục Yohanna Ibrahim đã nói với Đài BBC rằng cả hai phía, chính phủ cũng như phe nổi dậy, đều phải chịu trách nhiệm về cuộc xung đột hiện nay. Vị giám mục này khẳng định rằng các tín hữu Kitô không hề là đối tượng của những vụ tấn công của người Hồi giáo. Theo ông, tại Syria không hề có cuộc bách hại nào đối với các tín hữu Kitô và cũng không hề có bất cứ kế hoạch nào để sát hại họ. Ông khẳng định rằng tại Syria “ai cũng trọng nể các tín hữu Ki Tô”.
Thế nhưng ngày 15 tháng Tư vừa qua, trong một lá thư gởi cho một tổ chức từ thiện Công giáo, Đức thượng phụ Công giáo Gregorios cảnh cáo rằng “tại Syria không còn bất cứ một nơi nào được xem là an toàn nữa. Tại Syria, tương lai của các tín hữu Kitô không bị đe dọa bởi người Hồi giáo mà do sự hỗn loạn...và sự thâm nhập của các nhóm cuồng tín và cực đoan”.
Theo nhà lãnh đạo Công giáo này, mối đe dọa đối với Kitô Giáo tại Syria có nhiều hệ lụy đối với tương lai của tôn giáo trong toàn vùng Trung Đông, bởi vì từ hàng chục thập niên qua, Syria đã từng là nơi tỵ nạn đối với các tín hữu Kitô từ các nước láng giềng như Liban, Iraq cũng như khắp nơi trong vùng.
Đêm thứ Năm 6 tháng Bảy vừa qua, Hải quân Mỹ từ hạm đội thứ 6 đặt căn cứ ở Địa Trung Hải đã phóng 59 hỏa tiễn nhắm vào một phi trường của Syria, nơi được xem là cứ địa phát xuất cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học vào Thị trấn Khan Sheikhoun. Dù từ  bên nào, bất cứ một cuộc dội bom nào cũng đều tạo tử vong và thương vong. Liệu đây có phải là một hành động chỉ có tính cách tượng trưng hay răn đe của Tổng thống Donald Trump không? Hay nó sẽ dẫn đến những hệ lụy trầm trọng hơn mà thế giới không lường trước được? Nhưng dù thế nào đi nữa, bất cứ sự leo thang chiến tranh nào cũng tạo ra nhiều thiệt hại về nhân mạng và khủng hoảng về nhân đạo trong đó những người phải gánh chịu nhiều hơn cả vẫn là thường dân và trong số thường dân, những người ở giữa 2 làn đạn như các tín hữu Kitô Syria có lẽ sẽ phải đau khổ nhiều hơn.




Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Mùa cá tháng Tư



Chu Thập
07.04.17
Buổi tối 31 tháng Ba vừa qua, đứng câu cá một mình trong một góc hồ, tôi nghĩ miên man đến “Cá tháng Tư”. Tôi học được cái trò nói dối và gạt gẫm vô hại nhưng dễ thương này kể từ khi bước chân lên bậc trung học hồi cuối thập niên 1950. Nói chung, trước năm 1975, cứ mỗi tối 31 tháng Ba, tôi thường nằm vắt tay lên trán để suy nghĩ và tìm cho bằng được một lời nói dối thật độc đáo để đánh  lừa người khác, thường là những tên ngây ngô dễ tin và dễ mắc bẫy nhứt. Thích thú  nhứt là khi chính mình bị một ông giáo sư gạt. Nhưng sung sướng hơn vẫn là lừa được một ông giáo sư. Có đau cách mấy thày trò cũng chỉ biết nhìn nhau để cười trừ mà thôi.
Là dân câu cá tôi vẫn thắc mắc không biết tại sao ngày tự do nói láo và gạt gẫm lại được gọi là “cá tháng Tư” (Poisson d’ Avril). Có người giải thích rằng sở dĩ cá được nhắc đến vào ngày đầu tháng Tư  vì đây là lúc chấm dứt thời gian chay tịnh của Kitô Giáo. Trong suốt 5 tuần lễ được gọi là “Mùa Chay”, cá phải là món ăn chính của các tín hữu. Dân hảo cá như tôi cứ đến “Mùa Chay” lại mang mặc cảm tội lỗi vì thấy mình chẳng có “chay tịnh” gì cả! Nhưng tại sao lại gắn liền “cá tháng Tư” với chuyện được phép nói dối để lừa người khác thì tôi vẫn không tìm thấy mối liên hệ nào cả.
Về nguồn gốc của “cá tháng Tư”, tôi thích lối giải thích có liên quan đến  chuyện câu cá hơn. Theo lối giải thích này, tại một số nước ở Âu Châu, mùa câu cá bắt đầu vào ngày mùng một tháng Tư hoặc để cho cá sinh sản, mùa câu cá cũng chấm dứt vào ngày này. Để làm  quà cho dân câu cá và cũng để chế diễu họ một chút chăng, người ta biếu họ một con cá mòi. Món quà lại được kín đáo đặt nhẹ lên lưng người câu cá. Vì dân câu thường mặc những bộ quần áo rộng thùng thình cho nên không hề hay biết có con cá ở phía sau lưng. Con cá mòi  dần dần bị phân hủy và thối rã. Nạn nhân bị chọc quê mà không hề hay biết.  Từ đó mới phát sinh thói quen tặng những món quà nhỏ để chọc cười. Thật ra, các văn khố lịch sử tại nhiều nước ở Âu Châu cho thấy mùa câu khai mạc hay chấm dứt không hẳn vào ngày một tháng Tư. Thành ra lối giải thích trên đây về nguồn gốc của “cá tháng Tư”xem ra cũng không có tính thuyết phục. Dù sao, vì câu cá cũng là một thứ ghiền, dân câu có lúc cũng ngớ ngẩn và liều đến độ chẳng màng đến thời tiết, sóng gió nguy hiểm và giờ giấc cho nên bị tổ trác là chuyện thường. Nếu có  xem dân câu là nạn nhân của “cá tháng Tư” thì cũng hợp lý thôi!
Đã lâu lắm rồi tôi không còn là nạn nhân của “cá tháng Tư” và tôi cũng chẳng còn cảm thấy thú vị để tham gia vào cái trò nói dối vô hại và dễ thương này nữa. Trò chơi này có lẽ đã chấm dứt với tôi  kể từ khi cả nước Việt Nam đã trở thành một thứ ao “cá tháng Tư”. Thật ra, phải nói mùa “cá tháng Tư” đã bắt đầu ở Việt Nam từ năm 1945 khi ổng tổ của dối trá  đọc bản tuyên ngôn độc lập. Ngay từ lúc ấy, Cựu hoàng Bảo Đại đã nhận ra điều đó khi ông ngao ngán tâm sự với Thủ tướng Trần Trọng Kim: “Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn” (x. Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn, Nxb Vĩnh Sơn, 1969, trg 146). Không riêng Cựu hoàng Bảo Đại, Thủ tướng Trần Trọng Kim và không biết bao nhiêu người Việt Nam khác, cả thế giới cũng bị “bọn du côn” đánh lừa trong suốt cuộc chiến Việt Nam. Thế giới bị lừa đến độ trao giải Nobel Hòa Bình cho  đại diện của một chế độ chỉ biết cai trị bằng súng đạn, dùi cui, nhà tù và gây đau thương tang tóc cho cả dân tộc. Ngày nay trong chế độ ấy, từng giờ từng phút người dân cứ phải “ăn cá tháng Tư” của dối trá, lọc lừa  đến độ gần như đánh mất khái niệm về sự thật. Thật vậy, trong một chế độ xây dựng trên sự dối trá, sự thật chỉ còn là một danh từ vô nghĩa.
Tôi không biết thế giới này sẽ đi về đâu khi ngày càng có nhiều nhà lãnh đạo “dân túy”. “Dân túy”, nói như Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo, luôn dẫn đến độc tài, bởi lẽ chế độ độc tài nào cũng xây dựng trên dối trá. Tôi không nghĩ rằng một lãnh tụ “dân túy” như Tổng thống Donald Trump có thể thiết lập được một chế độ độc tài tại Hoa Kỳ, cho dẫu qua những lời tuyên bố, cách hành xử của mình, ông luôn tỏ ra không màng đến sự thật.
“Phải chăng Sự Thật đã chết rồi?” Đó là câu hỏi được đăng trên trang bìa của tạp chí Time số ra ngày 3 tháng Tư vừa qua, sau khi ký giả Michael Scherer của tạp chí này đã có cuộc phỏng vấn kéo dài 20 phút đồng hồ với Tổng thống Trump. Trong cuộc phỏng vấn, Tổng thống Trump tự nhận mình là một người “có trực giác rất mạnh” và trực giác của ông luôn luôn đúng. Chẳng hạn, theo ông, ai cũng bảo rằng bà Hilary Clinton sẽ chiến thắng vẻ vang trong cuộc bầu cử vừa qua, nhưng riêng ông, ông tin chắc rằng mình sẽ thắng và ông đã thắng. Ai cũng bảo rằng người dân Anh sẽ không bao giờ bỏ phiếu để tách khỏi Liên Âu, riêng ông đã tuyên bố ngược lại và ông đã đoán đúng. Ông đã mô tả Thủ đô Brussels, Bỉ Quốc như một “lò khủng bố” và sự thật đã xảy ra đúng như thế.
Nhưng nhà “tiên tri” Trump không phải lúc nào cũng tiên đoán đúng. Chẳng hạn ông khăng khăng bảo rằng Tổng thống Barack Obama đã ra lệnh “nghe lén” ông tại tòa nhà Trump Tower của ông khi diễn ra cuộc vận động tranh cử hồi năm ngoái. Nhưng cho tới nay chẳng có ủy ban điều tra nào tìm ra bằng chứng về cáo buộc này. Cả ông lẫn bộ sậu của ông đều tìm cách cãi chày cãi cối mà không hề nhận rằng mình đã đoán mò hoặc tiếp nhận thông tin từ những nguồn không đáng tin cậy.
“Tiên tri” Trump luôn tỏ ra gàn dở khi biện minh cho những lời tuyên bố vô căn cứ của mình. Chẳng hạn, tại một cuộc biểu tình quy tụ những người ủng hộ ông ở Tiểu bang Florida dạo tháng 2 vừa qua, ông khẳng định như đinh đóng cột rằng “mới tối hôm qua đây” (last night) đã xảy ra một cuộc khủng bố tại Thụy Điển do người di dân (Hồi giáo) thực hiện. Sự thật chẳng có bất cứ một biến cố nào như thế đã xảy ra vào hôm tối trước đó tại Thụy Điển. Chính phủ Thụy Điển đã phải yêu cầu Tòa đại sứ Mỹ tại Stockholm đưa ra một lời giải thích thích đáng về chuyện này. Nhưng vài ngày sau, cảnh sát Thụy Điển có bắt giữ một số người sau khi có xảy ra một cuộc bạo động tại một khu ngoại ô có đông người di dân sinh sống. Chộp được cơ hội, nhà “tiên tri” Trump liền bảo: “Thấy chưa, tôi đã báo trước mà!”
Không bao giờ nhà “tiên tri” này nhìn nhận mình lỡ lời hoặc nói gàn nói dở. Chẳng hạn, ông khẳng định một cách chắc nịch rằng có ít nhứt 3 triệu lá phiếu bất hợp pháp của người di dân lậu đã được dồn cho ứng cử viên Clinton khiến ông phải thua bà này đến cả 3 triệu phiếu phổ thông. Đưa ra một con số mà không có bất cứ bằng chứng nào, nhưng ông vẫn không chịu nhìn nhận rằng mình đã “nói bừa”, ông lại gỡ gạc với ký giả Scherer: “Tôi đang thành lập một ủy ban về chuyện này”.
Theo nhận định của ký giả Scherer, cuộc nói chuyện giữa ông và nhà “tiên tri” càng kéo dài,  thì “sự phân biệt giữa sự thật và dối trá càng lu mờ”. Trong cuộc vận động tranh cử, ông khẳng định rằng thân phụ của Thượng nghị sĩ Ted Cruz đã âm mưu để  ám sát cố Tổng thống John F. Kennedy. Ngày nay sau khi được bầu làm tổng thống, tiên tri “Trump”, người luôn xem các tin tức của các cơ quan truyền thông đại chúng là “giả” và coi truyền thông là “Kẻ thù của nhân dân Mỹ”,  lại nói rằng đây là nguồn tin ông đọc được từ báo The National Enquirer. Điều mỉa mai là tại Mỹ ai cũng biết rằng đây  là một tờ báo lá cải không đứng đắn!
Khi ký giả Scherer gợi ý rằng ông phải lên tiếng xin lỗi vì những lời tuyên bố như thế, nhà “tiên tri” liền nói: “Tôi chỉ trích dẫn báo chí mà thôi”.
Theo ghi nhận của ký giả Scherer, lúc còn là một doanh gia, Tổng thống Trump luôn đề cao điều mà ông gọi là “dối trá chiến thuật” (strategic falsehood). Ông luôn cố tình nói lên những điều không thật để thu hút thính giả. Và cũng với tật cố hữu là không bao giờ nhìn nhận mình sai lầm để phải lên tiếng xin lỗi, ông lại ngụy biện và nói quanh co. Chẳng hạn, dưới thời Tổng thống Obama, Bộ Lao Động cho công bố một thống kê cho thấy có sự hạ giảm trong tình trạng thất nghiệp tại Hoa Kỳ. Tổng thống Trump liền nói rằng đây là một con số thống kê giả hiệu. Thế rồi, mới đây khi cũng chính Bộ Lao Động này đưa ra bằng chứng cho thấy nạn thất nghiệp đã giảm, Tổng thống Trump liền nhận định xuyên qua một phát ngôn viên: “Trước kia con số này có thể sai, nhưng nay thì rất đúng”. Đúng như người Việt Nam thường nói, “miệng nhà quan có gan có thép”, nghĩa là muốn nói sao cũng được, muốn lộng giả thành chân cũng được. Nhưng bình luận về việc xem thường sự thật của Tổng thống Trump, báo The Wall Street Journal xem ra đã vẽ ra một chân dung chính xác hơn khi so sánh ông với “một gã say rượu, cố bám vào một chai rượu Gin trống rỗng, nhưng đầy những chuyện bịa đặt”.
Nhưng liệu “tiên tri” Trump có thể tiếp tục cho người dân Mỹ ăn “cá tháng Tư”mãi như thế không? Triết gia Hannah Arendt (1906-1975), như được tạp chí Time trích dẫn, có nói rằng “Sự Thật có tính độc tài”. Chính vì vậy mà Sự Thật luôn bị các bạo chúa thù ghét. Theo ký giả Scherer, “mặc dù Tổng thống Trump chỉ xuất hiện như một bạo chúa trong đầu óc của những người chống đối ông kịch liệt nhứt, trong thực tế ông thường ăn nói chẳng khác nào một bạo chúa”. Bước vào tuần lễ thứ 3 sau khi nhậm chức tổng thống, ông đã bắn đi một thông điệp trên Tweeter như sau: “Bất cứ cuộc thăm dò tiêu cực nào cũng đều là tin giả”. Tỷ lệ  ủng hộ của dân chúng Mỹ dành cho ông như được Viện thăm dò dư luận Gallup công bố đã xuống dưới mức 40 phần trăm sau khi Hạ Viện do Đảng Cộng Hòa của ông kiểm soát đã không thông qua được chương trình bảo hiểm y tế của ông.
Một mức ủng hộ thấp như thế cho thấy người dân Mỹ đã bắt đầu chán “cá tháng Tư” của Tổng thống Trump. Nền tảng vững chắc của quốc gia có nền dân chủ lâu đời nhứt thế giới này vẫn là Sự Thật. Chính vì vậy mà thế hệ người Mỹ nào cũng đều thuộc nằm lòng huyền thoại về cây đào của vị tổng thống tiên khởi của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ là George Washington. Theo câu chuyện được truyền tụng, khi được 6 tuổi, cậu bé Washington đã được tặng cho một chiếc rìu. Một hôm cậu bé đã lỡ tay chặt đứt cây đào của cha cậu. Người cha đã nổi giận. Ông muốn biết ai là thủ phạm. Cậu bé Washington đã đến trước mặt cha và nói: “Con không thể nói dối. Chính con là người đã dùng rìu để đốn cây đào”. Người cha liền ôm cậu con trai vào lòng và nói rằng sự lương thiện của con mình còn có giá trị hơn cả ngàn cây đào.
Trong mắt tôi, lúc nào Hoa Kỳ cũng vĩ đại. Có mất đâu mà phải “làm cho vĩ đại trở lại”! Vĩ đại ở chỗ được xây dựng trên Sự Thật và sự lương thiện, nhứt là của những nhà lãnh đạo đất nước. Mà đâu chỉ có một quốc gia hùng mạnh mới vĩ đại. Con người ai cũng có thể trở thành “vĩ đại” nếu họ sống cho Sự Thật cho đến cùng.









Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Nói lời phải giữ lấy lời…


Chu Thập
10.09.13

Không hiểu tại sao lúc nhỏ tôi thường nghe người lớn nói: “nhà báo nói láo ăn tiền”. Thời tiểu học, vì “bận” trốn học cho nên tôi không có giờ để đọc báo. Lên trung học, nhứt là vào thời Đệ nhị cộng hòa, thỉnh thoảng tôi cũng cầm tờ “nhựt trình” hàng ngày của cha tôi để lướt qua bản tin “từ thành đến tỉnh”. Trước khi Việt cộng đến, Miền Nam Việt Nam cũng có đến cả chục tờ báo. Không biết mấy ông nhà báo thời đó có “nói láo”không. Nhưng ít nhứt báo độc lập và đối lập thì không thiếu. Mãi cho đến sau 75, tôi mới ngộ ra thế nào là “nhà báo nói láo ăn tiền”. Chuyện mấy ông nhà báo Việt cộng ngồi nhà rung đùi, nhậu nhẹt, hút xách mà vẫn có thể viết được phóng sự về các biến cố xảy ra ở đâu đâu là chuyện chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Có ông còn viết phóng sự trước khi xảy ra biến cố nữa là! Mấy ông nhà báo cộng sản nói láo hay đến độ thời mồ ma cộng sản Liên Xô, dân chúng Nga phải kéo nhau đến tòa soạn báo “Pravda” (Sự Thật) để mua thực phẩm. Biết đâu một dạo người dân cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chẳng chạy đến tòa soạn báo “Nhân Dân” để xếp hàng chờ mua thực phẩm theo chế độ tem phiếu!


Ngày nay, ở nước ngoài, tôi thấy “nói láo ăn tiền” đối với nhà báo không phải là chuyện dễ đâu. Có chuyện gì mà người ta không kiểm chứng được. Viết bậy, viết láo, nếu không bị kiện cáo, đòi bồi thường hay đi tù thì cũng bị “treo bút” như chơi. Chắc vì sợ bị kiện mà nhà báo ở Úc cũng không “nói láo” cho lắm nên được xếp hạng 43, cũng đỡ khổ.

Trong các thứ nghề, tôi nhận thấy có lẽ chỉ có nghề quảng cáo là được phép “nói láo ăn tiền” mà thôi. Đây cũng là một thứ nghề được phép quấy rầy người khác mà không sợ bị tẩy chay. Ngày nay, có chạy đàng nào cũng không tránh khỏi phải thấy hay nghe quảng cáo. Cứ bước ra ngõ là đã thấy quảng cáo. Cứ vào Internet ra là bị bao vây bởi quảng cáo. Và nhứt là cứ mở truyền thanh truyền hình ra là bị oanh tạc bởi quảng cáo. Có lúc tôi ngồi tính xem mỗi ngày mình phải “bị” tra tấn bởi quảng cáo bao nhiêu lần: có lẽ không dưới một trăm lần! Chỉ riêng khi ngồi trước màn ảnh truyền hình, đặc biệt là khi theo dõi một chương trình giải trí hay học hỏi, trung bình cứ 5 phút là phải xem và nghe một loạt quảng cáo cũng có một thời lượng tương đương với những gì mình đang thưởng thức. Xem một chương trình kéo dài nửa giờ, mình phải chịu đựng các màn quảng cáo cũng đến nửa giờ hoặc hơn. Ngoại trừ thơ nhi, có lẽ chẳng có ai muốn “thưởng thức” các chương trình quảng cáo cả. “Quảng cáo” đã chẳng đồng nghĩa với “nói láo” hay “ba xạo” đó sao. Thế giới của quảng cáo là thế giới không tưởng trong đó chuyện gì cũng có thể xảy ra được cả. Phục mấy ông bà quảng cáo: họ có óc tưởng tượng phong phú đến độ chuyện gì cũng vẽ ra được. Cái sướng của họ là được quyền nói láo “như thiệt” mà chẳng sợ bị ai tố cáo hay tẩy chay cả.

Dĩ nhiên, vì biết quảng cáo là “nói láo ăn tiền” cho nên chẳng mấy ai tin họ. Chẳng thế mà trong 30 thứ ngành nghề trong xã hội, quảng cáo, bán xe, bán bảo hiểm, bán nhà…là bốn nghề ít được dân chúng Úc tin tưởng nhứt.Nhưng kể cũng lạ. Bất cứ cuộc thăm dò nào về lòng tin của dân chúng Úc đối với các ngành nghề trong xã hội cũng đều xếp các chính trị gia ngang ngửa với quảng cáo và mấy nghề trên đây. Thì ra làm chính trị là phải biết nói láo. Ai nói láo hay, nói láo mà thuyết phục được người nghe thì người đó thắng. Một chính sách được một Đảng chính trị hay một lãnh tụ chính trị đề ra có khác gì với một màn quảng cáo về hàng hóa đâu. Cứ nghe hay đọc thử một cương lĩnh của một ứng cử viên hay một đảng phái trong mùa bầu cử ở bất cứ nơi nào trên thế giới tự do, thì nói như kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa khi nhận định về chương trình hành động của tổng thống Barack Obama trong nhiệm kỳ đầu, người ta cũng có thể mang cả cung trăng ra mà rao bán nữa! Nói theo Á Đông chúng ta thì quảng cáo trong chính trị cũng chẳng khác với “sơn đông mãi võ” bao nhiêu.

Về vị tổng thống người Mỹ gốc Phi Châu đầu tiên này, nhân cuộc khủng hoảng tại Syria, người ta lại bắt đầu nghi ngờ về thiện chí xây dựng hòa bình của ông. Ông đã đắc cử một phần vì đã chống lại chiến tranh Iraq mà ông gọi là một “cuộc chiến ngu xuẩn”. Khai mở nhiệm kỳ đầu tiên, ông đã đi khắp nơi, nhứt là đến thế giới hồi giáo để đưa bàn tay ra để đối phương cũng phải mở rộng bàn tay ra bắt lấy. Những thành tựu về hòa giải của ông đã xứng đáng để mang về cho ông giải thưởng Nobel Hòa Bình. Nhưng nếu con đường nào cũng dẫn ông tổng thống “diều hâu” George Bush Jr đến thủ đô Bagdad của Iraq thì một Obama khôi nguyên của giải thưởng Nobel Hòa Bình cuối cùng cũng đành chọn con đường dẫn đến Damascus của Syria, tức con đường của sức mạnh bạo lực thay cho lý trí. Đa số người dân Mỹ chống lại việc trả đũa hay trừng phạt Syria vì đã xử dụng vũ khí hóa học để sát hại chính dân mình. Nhiều tổ chức dân sự và tôn giáo trên khắp thế giới cũng lên tiếng kêu gọi Hoa Kỳ hãy tự chế. Nhưng cho tới nay, tổng thống Obama vẫn một mực yêu cầu Quốc Hội ủng hộ quyết định của ông nhằm tấn công vào Syria.

Con người “hòa giải” và không ngừng lên án chiến tranh như tổng thống Obama cuối cùng rồi cũng hiện nguyên hình là một người hiếu chiến. Làm chính trị mà tuân giữ cam kết và những lời hứa đâu phải là chuyện dễ. Có lẽ cũng vì vậy mà người dân Úc không đặt niềm tin nơi các chính trị gia. Chỉ cần nhìn lại lịch sử gần đây của quốc gia miệt dưới này, cũng đủ để thấy rằng các lãnh tụ chính trị là người “nuốt lời” dễ hơn bất cứ hạng người nào trong xã hội. Từ ông John Howard đến ông Rudd, rồi bà Gillard, có vị thủ tướng nào mà chẳng hứa hẹn và thề thốt đủ điều, nhưng liền sau đó sẵn sàng quên bẵng đi những gì mình đã cam kết.

Liệu tân thủ tướng Tony Abbott, người đã từng được mệnh danh là “ông thày dòng điên”, có phải là một ngoại lệ không? Ông đã cam kết tái lập niềm tin nơi dân chúng. Dân chúng đã đặt tin tưởng nơi ông. Nhưng tôi vẫn lo ngại rằng trong cái nghề vốn chỉ ngang ngửa hay đứng trên nghề quảng cáo, bán xe hơi, bán bảo hiểm và bán nhà một chút về “chữ tín”, rồi ra ông tân thủ tướng của tôi có lẽ cũng sẽ “xí xóa” để “nuốt lời” và thanh minh rằng vì tình thế không cho phép cho nên buộc lòng phải “nuốt lời” mà thôi.Có những nghề như y tá hay bác sĩ chẳng hạn được dân chúng đặt tin tưởng vào hầu như tuyệt đối. Nhưng lý do hiện hữu của họ không phải là lòng tin của người khác cho bằng chính lương tâm chức nghiệp.  Họ làm việc vì sự đòi hỏi của lương tâm hơn là vì niềm tin của người khác.Trong khi đó, những người phải dùng ba tấc lưỡi của mình để thuyết phục người khác thì chắc chắn chỉ có thể sống còn nhờ vào lòng tin của người khác mà thôi. Người khác tin tưởng, họ được bầu chọn và tưởng thưởng. Người khác không tín nhiệm, họ ngả nghiêng và bị tẩy chay. Đó là số phận tất yếu của những người không đáp trả lại niềm tin tưởng của người khác bằng “chữ tín”.

Tôi liên tưởng đến câu chuyện của một tên trộm bất đắc dĩ phải làm thiền sư. Một phú ông nọ có một ao cá. Ngày nọ, trong cơn túng quẩn, một anh nông dân đã xâm nhập vào vườn của ông để bắt trộm cá trong ao. Không may cho anh, vì nghi ngờ có người lẻn vào lãnh địa của mình cho nên phú ông mới sai gia nhân đi lùng sục khắp trong vườn. Trông thấy đèn đuốc sáng trưng đang tiến về phía mình, tên trộm cá biết mình đang bị săn bắt. Nhưng vốn là một người thông minh, anh liền cởi phăng áo ra và lấy bùn dưới ao trét lên người. Sau đó, anh rón rén đến ngồi dưới một gốc cây bên cạnh bờ ao, mắt nghiền nhắm lại như thể đang ngồi thiền. Sau một hồi tìm kiếm, toán gia nhân của phú ông không nhận ra dấu hiệu nào cho thấy có người xâm nhập gia cư bất hợp pháp hay trộm cắp, mà chỉ thấy có một người đàn ông đang trong tư thế thiền định. Họ về thuật lại cho phú ông nghe. Nghe thế phú ông rất vui mừng vì tin rằng có một tu sĩ “đạo đức” đã chọn dinh cơ của ông làm nơi thiền định. Ông liền chạy ra bờ ao và cung kính dâng lên cho vị tu sĩ những phẩm vật quý giá nhứt để bày tỏ tấm lòng thành kính của mình. Ngày hôm sau, tin tức về “vị tu sĩ vĩ đại” đã được lan truyền đi khắp vùng. Người ta đổ xô đến để kính bái vị tu sĩ và dâng cúng cho ông hoa trái cũng như tiền bạc. Người nông dân nghèo cùng đường bất đắc dĩ phải chọn con đường tu trì nghĩ bụng: “Từ nay mình có thể ngồi yên sống bằng niềm tin của mọi người thay vì phải lao nhọc vất vả như trước”. Và thế là anh tiếp tục ngồi dưới gốc cây bên cạnh ao cá của phú ông để thiền định và tận hưởng sự cung phụng của dân chúng.

Thật ra đâu có riêng gì trong lãnh vực tôn giáo người ta mới sống nhờ niềm tin của người khác. Trong ngành nghề, trong địa vị nào trong xã hội hay trong hoàn cảnh nào, con người cũng cần được người khác tin tưởng. Nhưng bù lại, để được người khác tin tưởng, mình cần phải tỏ ra là người đáng tin tưởng.

Người trọng “chữ tín” là người giữ điều mình hứa hẹn và cam kết. Cha ông chúng ta đã chẳng dạy: “Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay” sao. Trọng chữ tín là một phẩm chất cao quý của con người. Học lõm bõm vài chữ Hán, tôi cũng biết rằng “Chữ Tín” được kết hợp bởi bộ “Nhân” và chữ “Ngôn”, hàm ý rằng lời nói của con người cần phải phù hợp với hành vi, nghĩa là nói sao phải làm vậy mới tạo được lòng tin nơi người khác. Điều này có giá trị đặc biệt trong chính trị, tức việc trị nước. Một quốc gia có thể sụp đổ nếu không được xây dựng trên lòng tin. Giàu có thịnh vượng đến đâu, một quốc gia vẫn đánh mất “linh hồn” của mình nếu không có chữ tín.

Sách Luận ngữ có chép rằng một hôm một trong những đệ tử trung thành của Đức Khổng Tử là Tử Cống hỏi ngài rằng đâu là những yếu tố giúp thành công trong việc cai trị đất nước. Đức Khổng Tử kể ra 3 điểm quan trọng là: phải có đủ lương thực, phải có đủ binh lính và được lòng dân. Tử Cống lại hỏi: Nếu bất đắc dĩ phải bỏ một trong ba yếu tố đó thì thứ nào cần phải bỏ trước. Đức Khổng Tử trả lời: “Bỏ binh lính”. Tử Cống lại hỏi: “Nếu bất đắc dĩ phải bỏ thêm một điều nữa thì phải bỏ điều gì?” Đức Khổng Tử nói: “Bỏ lương thực”. Rồi ngài giải thích: “Từ xưa đến nay, ai cũng phải chết. Nhưng nhân dân mà mất niềm tin thì nước không đứng vững được”.

Bài học của Đức Khổng Tử không chỉ áp dụng vào việc cai trị đất nước, mà cũng có giá trị cho cuộc sống của từng cá nhân. Người bạo động, nghĩa là chỉ biết có sức mạnh của bạo động không phải là người có dũng lực thật sự. Bạo động là dấu hiệu của sợ hãi và yếu nhược. Người giàu có của cải vật chất cũng không đương nhiên là người hạnh phúc. Quyền lực, nhứt là quyền lực do của cải vật chất mang lại, chỉ là thứ quyền lực chóng tàn. Trái lại, người có “chữ tín” sẽ có tất cả. Giữ chữ tín là không để “mất” chính mình.Tôi cứ suy gẫm về câu chuyện của một bà cụ bán rau nghèo ở một gốc phố nào đó tại Hà Nội. Nhiều cô gái “chảnh” dừng lại nhìn các bó rau rồi nói như tát nước vào cụ: “Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn”. Cám cảnh trước hoàn cảnh đáng thương của cụ bà, một người đàn ông tốt bụng đã bỏ ra mười ngàn để mua hết mớ rau của bà. Nhưng vì phải đi làm, ông nhờ bà giữ giùm để chiều về sẽ trở lại lấy mớ rau. Nhưng rồi vì bận việc, ông đã quên trở lại. Vài tuần sau, ông có việc phải đi qua chỗ bà cụ ngồi bán rau, nhưng không thấy cụ đâu cả. Hỏi ra mới biết buổi chiều hôm đó, bà cụ ngồi dưới mưa bên mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng cụ nhứt quyết không bán…Nghe đâu cụ bị cảm lạnh và qua đời.

Cụ đâu biết rằng mình đã vô tình mang cả chữ tín ra khỏi xã hội Việt nam.          

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Nạn tảo hôn tại một vài nơi trên thế giới


07.04.17

Theo một thống kê được báo Spiegel, Đức, trích dẫn, mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 15 triệu thiếu nữ vị thành niên trở thành vợ. Trung bình, cứ mỗi phút có khoảng 28 em bị cưỡng bách phải kết hôn. Đây là số phận được một số thiếu nữ vị thành niên tại các nước Ethiopia, Ấn Độ và Ba Tây chia sẻ với phóng viên Natalia Otero của báo  Spiegel.
Abaynesh là một trong số rất nhiều cô dâu vị thành niên tại Ethiopia. Người vợ trẻ này cho biết: liền sau khi kết hôn, cô muốn được tiếp tục cắp sách đến trường, nhưng gia đình cô và gia đình chồng đều không cho phép cô làm điều đó. Hiện Abaynesh phải sống với chồng trong một ngôi nhà tranh vách đất tại một làng quê nghèo ở Gindero thuộc Tỉnh Ambara, miền Tây Bắc Ethiopia. Tài sản của cập vợ chồng trẻ này gồm vỏn vẹn 2 con lừa. Họ nghèo đến độ chẳng sắm nổi một chiếc đồng hồ để coi giờ. Mỗi buổi sáng, khi mặt trời chưa lên, người vợ 14 tuổi đã phải thức dậy và ra bờ sông để kín nước. Mặc dù bụng mang dạ chửa, cô phải mang trên đôi vai gầy một chum nước nặng hơn 20 ký.
Bị cưỡng bách kết hôn khi chỉ mới được 11 tuổi, tên Abaynesh của cô đã bị gia đình chồng bắt đổi thành Jemata. Cô dâu trẻ rất muốn giữ lại tên Abaynesh vì nó tượng trưng cho khát vọng của cô là muốn được học hành và trở thành một bác sĩ. Nhưng cùng với tên của mình, giấc mộng được học hành của cô cũng đã tan thành mây khói.
Tại Ethiopia, các cô gái vị thành niên thường bị cưỡng bách kết hôn bằng 2 cách. Thông thường nhất là thông qua sự dàn xếp giữa hai gia đình. Cách thứ hai cũng thường xảy ra là bị bắt cóc. Nếu một cô gái vị thành niên không chịu kết hôn, người đàn ông  muốn lấy cô làm vợ sẽ bắt cóc cô. Khi xảy ra một vụ bắt cóc như thế, cha mẹ của cô dâu không còn một chọn lựa nào khác hơn là chấp nhận việc đã rồi, bởi vì truyền thống và danh dự gia đình đòi hỏi họ phải làm như thế.
Có đến 41 phần trăm phụ nữ Ethiopia tuổi từ 20 đến 24 bị cưỡng bách kết hôn khi còn là trẻ con. Cũng theo thống kê, cứ 4 phụ nữ Ethiopia thì có 3 người tuổi từ 15 đến 49 đã phải trải qua một cuộc giải phẩu để cắt âm vật. Abaynesh là một trong số phụ nữ như thế. Cô đã bị giải phẩu để cắt âm vật chỉ vài ngày sau khi chào đời.
Những tập tục như thế hiện vẫn còn tại hơn 20 nước trên thế giới mà phần lớn là Phi Châu. Đôi khi bị cắt âm vật được xem như một điều kiện để kết hôn.
Chuyện bị cưỡng bách phải kết hôn khi còn ở tuổi học trò của Abaynesh ở Ethiopia cũng giống như trường hợp của Ramgani ở Ấn Độ. Chia sẻ câu chuyện của mình với phóng viên của báo Spiegel, Ramgani nói: “Tôi muốn được học xong trung học”. Việc nhà nhiều đến nỗi Ramgani làm không xuể cho nên luôn đến trường trễ. Cô chỉ vừa mới được 18 tuổi, nhưng đã lập gia đình khi vừa tròn 14. Gia đình chồng đã bắt cô phải về ở chung với họ. Câu chuyện của cô là một cuộc chiến đấu triền miên để vượt qua só phận. Đó là số phận của người phụ nữ sinh ra trong một ngôi làng nhỏ thuộc Quận Bilwara, Tiểu bang Rajasthan, miền Tây Ấn Độ.
Trong Tiểu bang Rajasthan có đến 65 phần trăm phụ nữ tuổi từ 20 đến 24 đã phải lập gia đình trước khi được 18 tuổi. Nhìn chung, trên toàn quốc, có khoảng 26 triệu phụ nữ Ấn Độ lập gia đình ở tuổi vị thành niên.
Kailash Brijwash là giám đốc của Jatan, một tổ chức đã từng hoạt động trong 15 năm qua để tìm cách chấm dứt nạn tảo hôn tại Ấn Độ. Ông nói rằng những con số trên đây chỉ phản ảnh những dữ kiện được chính phủ thu thập. Thật ra con số các thiếu nữ lập gia đình ở tuổi vị thành niên tại Ấn Độ còn cao hơn nhiều.
Ramgani thuộc Sắc tộc Jat, phần lớn tập trung tại những vùng nông thôn Bắc Ấn Độ và Pakistan. Theo truyền thống của sắc tộc này, giữa vợ chồng không hề có sự bình đẳng. Chẳng hạn, nếu người chồng ngồi trên ghế thì người vợ phải ngồi dưới đất; trong nhà nếu người chồng đứng thì người vợ cũng phải đứng cho đến khi người chồng ra khỏi nhà. Truyền thống này là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tệ nạn tảo hôn.
Gia đình Ramgani có tất cả 9 chị em gái. Tất cả 9 cô đều lập gia đình theo những nghi thức kéo dài trong nhiều ngày. Một trong những đứa em của Ramgani, tuy mới được 11 tuổi, cũng đã phải đến ở nhà chồng.
Tại Ấn Độ, gia đình cô dâu phải nộp của hồi môn và đứng ra tổ chức hôn lễ. Để bớt tốn phí, các gia đình thường tổ chức đám cưới tập thể cho các cô gái trong gia đình. Nhiều em gái nhỏ cũng đành phải nối gót các chị để về nhà chồng.
Thông thường, vì phải kết hôn lúc còn quá nhỏ, các cô dâu trẻ được phép ở lại với gia đình cho đến tuổi dậy thì. Một khi rời bỏ gia đình, các cô dâu trẻ phải lo việc nhà trong nhà chồng. Rất ít em được tiếp tục học hành như trường hợp Ramgani.
Trong gia đình nhà chồng, Ramgani nhìn thấy các cô em chồng được cắp sách đến trường, còn mình thì thông. Cô không thể chấp nhận số phận ấy cho nên đã nói chuyện với chú của mình. Ông này đã cùng với cha cô thuyết phục gia đình nhà chồng cho phép Ramgani được trở về gia đình và tiếp tục đi học.
Nhưng không phải tất cả mọi cô dâu trẻ ở Ấn Độ đều được may mắn như Ramgani. Arti Khatik, mặc dù chỉ mới 16 tuổi, đã là mẹ của đứa trẻ 10 tháng tuổi. Khatik lập gia đình khi cô chỉ mới được 7 tuổi. 6 hay 7 năm sau cô mới về nhà chồng. Khatik kể lại rằng cô bị chồng cưỡng hiếp và mất trinh năm 14 tuổi. Ngày nay, cô chỉ còn một mơ ước là thoát khỏi tay người chồng này. Suốt ngày anh ta rượu chè be bét mà chẳng màng đến đứa con. Có chăng là mỗi khi anh ta muốn có quan hệ tình dục với người vợ.
Trên nguyên tắc, luật pháp ở Ấn Độ rất nghiêm khắc về vấn đề tảo hôn. Theo luật, phụ nữ  phải được 18 tuổi mới được phép kết hôn. Còn đối với đàn ông, tuổi hợp pháp để lập gia đình phải là 21. Tuy nhiên, một đại diện của Chính phủ Ấn Độ tại Quận Bilwara nói rằng luật này không bao giờ được áp dụng.
Theo ông Brijwash, chỉ có giáo dục may ra mới giúp chấm dứt được tập tục tảo hôn. Tổ chức Jatan mà ông Brijwash là người sáng lập hiện đang gây ý thức nơi giới trẻ Ấn Độ về quyền của phụ nữ. Nhờ được hiểu biết như thế, nhiều thanh niên Ấn Độ đã tranh đấu để ngăn chận việc tảo hôn đối với những người em gái của mình.
Được trở về gia đình cha mẹ để tiếp tục học hành, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất hiện nay của Ramgani. Cô biết rằng gia đình chồng lúc nào cũng muốn cô trở về nhà chồng. Cô nói: “Nếu họ (gia đình chồng) bắt tôi phải trở lại với chồng tôi, tôi sẽ chạy trốn”.
Trong chuyện tảo hôn của Abaynesh ở Ethiopia hay chuyện của Ramgani ở Ấn Độ đều có sự can thiệp và dàn xếp của chính gia đình các cô. Tại Ba Tây, việc cưỡng bách kết hôn đối với các thiếu nữ vị thành niên diễn ra trong một cách thế khác.
Nayane và người em song sinh Nayara của mình hiện đang sống chung với cô trong một căn phòng tồi tàn tại Parque União, trong khu ổ chuột Maré, phía bắc Thành phố Rio de Janeiro. Nayane đang đặt ngồi trên đùi mình đứa con gái nhỏ chỉ mới 10 tháng tuổi.
Hai chị em song sinh Nayane và Nayara hiện chỉ mới được 15 tuổi, nhưng không được cắp sách đến trường. Khi trao đổi với phóng viên của báo  Spiegel, Nayane đang chuẩn bị để tham dự một buổi nhạc kích động. Chính tại một buổi nhạc kích động như thế mà em đã gặp người cha của đứa con của mình. Người mẹ trẻ này vẫn còn in hình của người đàn ông trên chiếc áo thun của cô. Người đàn ông này đã từng tham gia buôn bán ma túy và bị giết chết trong một cuộc bố ráp của cảnh sát Ba Tây cách đây 6 tháng. Cùng sống chung với cô, từ 3 tháng qua, người chị em song sinh của cô là Nayara  không được phép rời khỏi nhà. Đây là lệnh trừng phạt do “Lãnh tụ Đỏ” (Red Command), một  băng đảng ma túy hiện đang kiểm soát trong khu ổ chuột, đề ra. Sở dĩ Nayara bị trừng phạt là vì cô có quan hệ với một người thuộc một băng đảng thù nghịch của “Lãnh tụ Đỏ”.
Ba Tây hiện đang đứng hàng thứ tư trên thế giới về con số các em gái vị thành niên bị cưỡng bách kết hôn. Gần một triệu phụ nữ tuổi từ 20 đến 24 lập gia đình khi chưa được 15 tuổi và 3 triệu phụ nữ kết hôn trước khi đủ 18 tuổi. Tại Ba Tây, tuổi tối thiểu để kết hôn là 16, nhưng với điều kiện phải có sự ưng thuận của cha mẹ. Tuy nhiên, hạn tuổi này có thể hạ thấp trong trường hợp các cô gái có mang.
Mang thai ở tuổi vị thành niên là một lý do để kết hôn tại nhiều nước. Nhưng tại Ba Tây đây là lý do chính. Theo bà Vanessa Fonseca, điều hợp viên của một tổ chức phi chính phủ có tên là Promunda, có hai lý do chính khiến các cô gái vị thành niên muốn kết hôn: một là được ổn định về kinh tế, hai là được tự do.
Khác với các nước khác, như trường hợp Ethiopia hay Ấn Độ, các cuộc kết hôn của các cô gái vị thành niên tại Ba Tây thường không được tổ chức một cách công khai. Các cô gái thường tự động kết hôn và tìm cách “thoát ly”.
Nayane chưa bao giờ chính thức kết hôn với người đàn ông là cha của đứa con của mình. Nhưng cô cho biết các bạn của cô thường tìm cách “thoát ly” để đến sống với người bạn tình của họ. Họ làm như thế để thoát khỏi sự kiểm soát của cha mẹ mình.
Mặc dù không bị cưỡng bách kết hôn như  tại Ấn Độ và Ethiopia, các bé gái Ba Tây cũng phải đối mặt với nhiều hệ lụy do thoát ly và kết hôn trước khi trưởng thành. Các em phải bỏ học, hứng  chịu sự bạo hành của chồng. Ngoài ra vì mang thai ở tuổi vị thành niên, các em cũng gặp nhiều vấn đề về sức khỏe. Đây là vấn đề mà xã hội và các tiểu bang tại Ba Tây không muốn biết đến.
Christiane là một phụ nữ  đã kết hôn sau khi có mang lúc chỉ mới 16 tuổi. Chị hiện đang sống trong cùng một khu ổ chuột như Nayane.  19 năm sau khi kết hôn ở tuổi vị thành niên, người phụ nữ này đã tái hôn và có thêm hai đứa con với người chồng sau. Chị nói rằng đây là một thứ vòng lẩn quẩn cứ tiếp diễn không ngừng. Theo chị, sở dĩ các trẻ em gái bỏ nhà ra đi và kết hôn sớm là vì các em muốn trốn khỏi gia đình trong đó các em bị bạo hành cũng như thiếu tình thương của cha mẹ.
Các bạn của Nayane, người nào cũng phấn son lòe lẹt. Họ đến để đón cô đi dự buổi ca nhạc. Tiếng đàn tiếng trống đã làm rộn cả xóm. Những con đường nhỏ trong khu ổ chuột đầy ứ thanh thiếu niên, có em chỉ mới 12 tuổi. Họ đến đó không chỉ để nghe nhạc, mà còn để uống rượu, hút thuốc và dĩ nhiên cũng sử dụng ma túy. Và có thể họ cũng có cả quan hệ tình dục nữa. Đó là bức tranh điển hình của những khu ổ chuột tại các thành phố lớn ở Ba Tây, nơi các thiếu nữ ở tuổi vị thành niên do có mang phải kết hôn hoặc kết hôn để thoát ly khỏi sự ràng buộc và kiểm soát của gia đình.

(Tổng hợp từ báo Spiegel Online)


Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

Nào ai lấy thước mà đo lòng người


Chu Thập
31.03.17
Mới đây tôi có nghe báo chí ở Việt Nam cũng như của người Việt hải ngoại nhắc đến tên của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Trước năm 1975, những người thuộc thế hệ của tôi, nếu không trực tiếp đọc một số tác phẩm của bà, thì ít nhứt cũng nghe nói đến bà, một trong những ngôi sao sáng trong bầu trời văn học Miền Nam.
Theo một bản tin của báo Tuổi Trẻ trong nước được một số báo của người Việt hải ngoại trích thuật, toàn bộ sự nghiệp của bà, vốn sau năm 1975 bị xếp vào loại văn hóa đồi trụy, nay đã được Công ty Sách Phương Nam mua tác quyền để cho in lại. Điều này có nghĩa là chế độ cộng sản đã “xá giải” cho bà.
Nhưng bản tin trên đây không làm tôi chú ý cho bằng cuộc phỏng vấn qua đó nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ cho biết trước năm 1975, bà “viết văn là để nuôi 4 đứa con, trong đó có một đứa bị tàn tật”. Bà kể: “Mấy đứa con được tôi giao đứa lớn trông đứa nhỏ, đến chiều về nhà, có hôm thấy đứa con bị tàn tật đói nằm trên vũng nước đái, thiệt tôi muốn chết cho rồi”. Sau năm 1975, dù là con gái của một cán bộ kháng chiến, bà không thể tiếp tục cầm bút, mà phải bươn chải với những công việc cực nhọc như buôn bán vặt, làm lơ xe đò, làm rẫy, chăn dê, trồng cà phê để nuôi con, nhứt là đứa con gái đang sống đời thực vật. Điều khiến tôi cảm động và cũng thắc mắc nhiều nhứt là khi nhà văn nay đã ngoài 80 tuổi này  giải thích: “Vậy mà chính đứa con tàn tật này lại là đứa nuôi tôi vào lúc tuổi già”.
Tôi chưa hình dung được người con gái tàn tật và đang sống đời thực vật này “nuôi” mẹ mình như thế nào. Nhưng tôi tin chắc rằng một người tàn tật, dù dưới mắt người khác, nếu không là gánh nặng thì cũng chẳng làm nên tích sự gì, cũng  vẫn có thể mang lại nguồn vui và lẽ sống cho người thân của mình. Tôi rất thường nghĩ đến gương mặt của người con gái bị “đao” (Down Syndrome) mà tôi gặp hầu như mỗi ngày ở ngã ba phía trước nhà. Gọi là “cô gái” vì trông cô chẳng khác nào một thiếu nữ vị thành niên. Nhưng thật ra, theo giải thích của người cha mà tôi đã có dịp trao đổi, ít nhứt cô cũng đã bước vào tuổi tứ tuần. Gương mặt của cô lúc nào cũng tỏa ra niềm vui và sự trong trắng. Nhưng vui hơn có lẽ là cha mẹ của cô. Hầu như ngày nào họ cũng tiễn cô ra đầu ngõ, đứng nhìn theo với ánh mắt trìu mến và chờ cho đến khi cô băng qua đường để đến một hợp tác xã dành cho người khuyết tật ở góc đường mới trở vô nhà. Một cách nào đó, tôi hiểu được ý nghĩa của chữ “nuôi” mà nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ đã sử dụng để nói về mối quan hệ yêu thương, nâng đỡ giữa bà và người con gái tàn tật của bà. Tôi nghĩ: trên thế gian này, chẳng có người nào, dù tàn tật đến đâu, là người vô dụng hay là gánh nặng cho gia đình và xã hội cả. Mỗi người, theo cách thế riêng của mình, đều có chỗ đứng và sự đóng góp riêng của mình cho gia đình và xã hội. Nếu nhân loại có làm được một bước vĩ đại, thì bước vĩ đại đó chính là ngày càng nhìn nhận và tỏ ra tôn trọng người khuyết tật và dành cho họ một chỗ ưu tiên trong xã hội. Bởi lẽ người khuyết tật nào cũng mang lại niềm cảm hứng và dạy cho người khác nhiều bài học.
Đây là điều tôi cảm nhận được khi đọc bài phóng sự của Đài Aljazeera về một cô gái bị “đao” người Panama 19 tuổi tên là Maria Jose Paiz. Cô gái khuyết tật này đã từng xuất hiện trên một chương trình quảng cáo thương mại. Cô cũng đã từng nói chuyện tại Trụ sở Liên Hiệp Quốc và hiện cô cũng có một trang mạng riêng trên một trong những tờ báo có nhiều độc giả nhứt tại Panama.
Nhân Ngày Quốc Tế về Hội chứng Down được thế giới cử hành hôm 21 tháng 3 vừa qua, Maria nói rằng Hội chứng “Đao” không phải là một chứng bệnh, mà chỉ là một tai nạn di truyền. Cô cảm thấy buồn khi người ta bảo cô mắc “bệnh đao”. Cô nhìn nhận rằng cô có nhiều khó khăn hơn người khác. Chẳng hạn kết bạn là một điều khó khăn đối với cô vì cô không luôn hiểu được người khác. Nhưng bù lại, cô vẫn cảm thấy mình có đủ “tài” để làm được rất nhiều điều. Chẳng hạn cô có tài nhảy múa, viết văn và ngay cả làm “cố vấn”. Cô cho biết đã từng nói chuyện với những bậc phụ huynh có con có hội chứng “đao”. Cô khuyên họ hãy cố gắng hiểu và lắng nghe chúng mỗi khi chúng bày tỏ ý kiến.
Tháng 12 năm 2016 vừa qua, cô gái khuyết tật này đã mãn trung học. Cô thổ lộ một số tham vọng của mình. Trước hết là vào đại học để theo ngành truyền thông và sản xuất các chương trình truyền hình. Hiện nay cô đang có mặt tại Madrid, Tây Ban Nha để học nấu ăn cũng như những kỹ năng cần thiết khác cho cuộc sống. Và dĩ nhiên, cũng như rất nhiều cô gái trẻ khác, cô cũng có một người bạn trai mà cô rất mong được làm vợ.
Câu chuyện của cô gái “đao” người Panama trên đây đã mở mắt cho tôi về rất nhiều bí ẩn trong cuộc sống người khuyết tật dồng thời đòi hỏi tôi phải tôn trọng và cảm thông hơn là xem thường hoặc ngay cả khinh miệt. Nếu tôi có bước thêm một bước trong sự trưởng thành thì bước đó trước tiên phải là sự tôn trọng đối với những người khuyết tật và nhìn nhận những khác biệt nơi người khác.
Lúc nhỏ tôi không được giáo dục nhiều về nhân cách và học làm người. Xã hội của tuổi thơ của tôi là một xã hội trọng nam khinh nữ và khinh dể người tàn tật. Trong nhà đứa con trai nào cũng là một ông vua con. Trong lớp học hay ở ngoài đường, cứ gặp người tàn tật là trêu cười và chọc ghẹo. Riêng về phái tính thì mãi cho đến khi tôi trốn khỏi Việt Nam, xã hội, văn hóa và ngay cả “nhà đạo” của tôi lúc nào cũng đều tỏ ra rất “rạch ròi”: con người ta sinh ra hoặc là nam hoặc là nữ, chớ không thể nào là “ái nam ái nữ” được. Thật ra, lúc nhỏ và khi còn ở Việt Nam, họa hiếm lắm tôi mới thấy có một người “lại cái”. Dĩ nhiên một người như thế chỉ có thể là mục tiêu của chế diễu và trêu chọc mà thôi. Ngày nay với sự tiến bộ của nhiều bộ môn khoa học, nhứt là xã hội học và tâm lý học, bộ mặt của xã hội ngày càng đa diện hơn và đòi hỏi phải có sự tôn trọng đối với những dị biệt của người khác. Khác về văn hóa, khác về tôn giáo, khác về sức khỏe thể lý, khác về phái tính, khác về khuynh hướng tính dục. Vũ trụ ngày càng bao la và bí ẩn đã đành, mà con người đối với tôi lại càng bí ẩn hơn.
Tạp chí Time số ra ngày 27 tháng Ba vừa qua đã dành những trang chính để nói đến tính đa diện của xã hội Mỹ ngày nay, cách riêng về phái tính. Bài phóng sự của tạp chí này mở đầu với một cảnh tượng xảy ra tại một trường trung học ở thành phố Park City, Tiểu bang Utah. Các học sinh sắp hàng để nhận chìa khóa hộc tủ cất quần áo và đồ đạc khi sinh hoạt thể thao. Trước đây, hộc tủ cất quần áo và đồ đạc thường được phân chia dựa theo hai phái tính nam hoặc nữ hay cùng lắm đồng tính. Và trong giới đồng tính, người ta chỉ thấy có đồng tính nữ (lesbian), đồng tính nam (gay) lưỡng tính (bisexual) và chuyển giống (transgender). Nhưng nay, trong sân trường trung học Park City, người ta lại thấy có nhiều nhóm khác nữa. Có cả một nhóm gọi là “xuyên giống” (pansexual). Họ là những người mà người ta không thể xếp vào bất cứ sự phân loại nào. Cộng đồng đồng tính tại Hoa Kỳ được gọi tắt là “LGBT” (Lesbian,Gay, Bisexual, Transgender) nay có thêm chữ “Q” (queer). Tra từ điển, tôi mới biết từ này chỉ một nhóm người tự nhận là không thuộc phái tính hay bất cứ khuynh hướng tính dục nào. Trước đây, bản sắc con người thường chỉ được định nghĩa dựa theo hai phái tính nam hay nữ, đồng tính hay không đồng tính. Nay ngày càng có nhiều người xuất đầu lộ diện để nói rằng họ chẳng thuộc về nhóm nào trên đây cả.
Chính vì nhìn nhận và tôn trọng sự khác biệt này mà các nhà lập pháp thuộc nhiều cấp khác nhau tại Hoa Kỳ đã phải làm ra những luật mới để qui định về căn cước cũng như việc sử dụng nhà vệ sinh công cộng. Chẳng hạn tháng Hai vừa qua, Tiểu bang California đã thông qua luật để, ngoài phái nam và phái nữ truyền thống, còn  thêm một phái tính mới vào thẻ căn cước hay bằng lái xe. Các thành phố trên toàn quốc Hoa Kỳ cũng thông qua luật yêu cầu các phòng vệ sinh cá nhân nơi công cộng phải thêm vào hàng chữ “dành cho mọi phái tính” hay “dành cho người không thuộc phái tính nào” (gender neutral). Ngay trong Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Barack Obama cũng cho thiết lập những phòng vệ sinh như thế.
Bộ mặt của xã hội quả thật ngày càng đa diện. Con người ngày càng ý thức về căn tính của mình hơn. Theo tổ chức có tên “GLAAD” chuyên bênh vực quyền của những người đồng tính, nói chung, có đến 20 phần trăm những người sinh ra trong thiên niên kỷ mới tự nhận mình không thuộc phái tính nào. Với thế hệ sinh sau Đệ Nhị Thế chiến, tỷ lệ nào chỉ có khoảng 7 phần trăm.
Những ngày đầu khi mới chân ướt chân ráo bước vào xã hội Tây Phương, tôi cảm thấy ngỡ ngàng và ngay cả khó chịu khi nhìn thấy hoặc nghe nói đến những sinh hoạt công khai của giới đồng tính. Tình cờ xem một cuốn phim mô tả một cách sống sượng quan hệ tình dục giữa hai người đồng tính nam, tôi cảm thấy như muốn ói mửa. Phải mất một thời gian khá lâu tôi mới thấy rằng để thực sự hội nhập vào xã hội Tây Phương, một trong những bài học đầu tiên tôi phải học là tập làm quen với xã hội của người đồng tính và của những người tự nhận không thuộc khuynh hướng tính dục nào. Xét cho cùng đó là một trong những nguyên tắc nền tảng của cuộc sống xã hội: chấp nhận tính đa diện và sự dị biệt của xã hội loài người. Lòng người vẫn mãi mãi là một bí ẩn sâu kín mà người ta không thể áp dụng bất cứ thước đo hay chuẩn mực nào để dò thấu. Lý trí của tôi có thể không hiểu được những bí ẩn của lòng người. Nhưng trái tim tôi lại thúc đẩy tôi phải tỏ ra khoan nhượng và  cảm thông trước những bí ẩn ấy. Kính nghiệm bản thân thường cho tôi thấy rằng chỉ với thái độ khoan nhượng và cảm thông tôi mới nhận ra được giá trị, chỗ đứng và sự đóng góp của người khác cho gia đình và xã hội.
Trong gia đình tôi không có người khuyết tật. Tôi chưa có được kinh nghiệm được “nuôi” bởi một người khuyết tật như nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Nhưng bất cứ một người khuyết tật hay một sự khác biệt nào nơi người khác cũng đều có thể là một thách đố mời gọi tôi thực thi sự khoan nhượng và cảm thông. Một cách nào đó, tôi được họ “nuôi” để lớn lên trong nhân cách và tình người.