Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

Treo đầu dê bán thịt chó



Chu Thập

Không hiểu tại sao trong người tôi chẳng có chút máu Tây nào cả mà tôi lại thèm bánh mì hơn phở. Dĩ nhiên, phải là bánh mì do người Việt làm mới được. Cứ mỗi lần xuống núi về thành phố, tôi phải tìm mua cho bằng được bánh mì thịt, ổ thì ăn tại chỗ, ổ nữa mang về nhà. Ở Hornsby, ngoại ô Đông Bắc Sydney, có một tiệm phở với cái tên nghe rất tự tin là “Phở Ngon”. Ngon cỡ nào thì còn tùy khẩu vị và sự thẩm định của mỗi thực khách. Nhưng riêng cá nhân tôi, sau khi thử một hai lần, thấy không hợp khẩu vị, tôi đành quay trở về với chân lý “cơm nhà vẫn hơn phở chợ”. Cho nên cứ mỗi lần vào tiệm “phở ngon” này tôi không ăn phở mà lại gọi bánh mì thịt trước sự ngỡ ngàng của những người chạy bàn.
Phải công nhận bánh mì tây do người Việt chế biến có một hương vị độc đáo hơn bánh mì chính cống do Tây làm. Người Việt cũng giỏi “khắc phục” khó khăn nên ngay cả khi đến thăm trại tỵ nạn Palawan, Phi Luật Tân, tôi cũng được thưởng thức bánh mì nóng dòn nướng bằng những lò tự chế. Thời gian ở Pháp, tôi cũng đã nghe chính miệng mấy ông tây bà đầm từng sống ở Việt Nam bảo như thế. Bánh mì tây chính cống mà không có cả một khay “phó mát” (fromage) và rượu vang đỏ đi kèm sau mỗi bữa ăn, thì chắc chắn thua xa bánh mì nóng của Việt Nam chỉ được trét một chút “bơ” margarine, chớ đừng nói tới ổ bánh mì thịt.
Lúc mới lớn, tôi có một thằng bạn cùng xóm cũng thích ăn bánh mì như tôi. Không rõ do kinh nghiệm bản thân hay do ai đó mách bảo, nó tuyên bố như đinh đóng cột rằng “mỗi buổi tối ăn một ổ bánh mì nóng có trét bơ” sẽ mau lớn và “to con”. Vào cái thời mà cuốn sách “Bắp thịt Trước Đã” có in hình của lực sĩ đẹp Nguyễn Công Áng ngoài bìa do Bác sĩ Phạm Văn Tươi biên soạn đang thu hút thanh thiếu niên, tôi không đeo đuổi giấc mơ “làm người Quang Trung” của nhà văn Duyên Anh, mà chỉ thích có một thân hình vạm vỡ nở nang, ít nhứt cũng phải như anh Vọi trong “Trống Mái” của Khái Hưng. Thế là mỗi buổi chiều, nếu không ra sân banh thì chúng tôi cũng tập cử tạ và tối đến rủ nhau đi mua bánh mì nóng có trét bơ margarine. Hôm nào túi tiền rủng rỉnh mới dám chơi sang để trang bị cho ổ bánh mì nóng thêm chút xíu mại và đủ các thứ phụ tùng. Có lẽ do lớn lên và “to con” hơn một chút nhờ những ổ bánh mì của thuở hàn vi mà ngày nay, đi đâu tôi cũng thấy thèm bánh mì tây của người Việt Nam. Vì khẩu vị cũng có, mà vì tình tự dân tộc cũng có. Với tôi, ổ bánh mì nóng của người Việt Nam hải ngoại ăn đứt bánh mì của các sắc dân khác. Còn bánh mì thịt thì đúng là một phát minh riêng của người Việt Nam.
Có lần đi thăm một gia đình quen biết tại Mascot gần phi trường Sydney, tôi cảm thấy thật hãnh diện khi chứng kiến một đoàn người, phần lớn là dân Úc trắng, dài đến cả hàng trăm thước đang nối đuôi nhau trước một tiệm bánh mì thịt của Việt Nam. Sang Mỹ, tôi lại càng thấy hãnh diện hơn vì ổ bánh mì của người Việt. Có lẽ những thương hiệu như “Lee’s Sandwich” hay “Bánh mì Ba Lẹ” không chỉ nổi tiếng trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, mà cũng chẳng còn xa lạ với người Mỹ. Ngồi trên xe đò Hoàng trên lộ trình San José - Little Saigon, xem các băng ca nhạc kịch của Thúy Nga Paris by Night hay Trung Tâm Asia và thưởng thức ổ bánh mì thịt của người Việt Nam, thì dù cho đường có dài cách mấy, cũng cảm thấy thú vị và ít lên ruột hơn đi máy bay.
Đã góp phần vào kho tàng ẩm thực của thế giới, người Việt hải ngoại cũng làm cho ngôn ngữ thế giới thêm phong phú hơn. Mà đâu chỉ có ngày nay. Ngay cả cái thời mấy chú lính Mỹ G.I mới sang Việt Nam, các “me mỹ” hay “chị em ta” cũng đã sáng chế và dạy cho mấy anh một số ngữ vựng hay thành ngữ mà ngày nay hầu như quốc gia Anh thoại nào cũng đều sử dụng. Chẳng hạn như câu “long time no see” (lâu rồi không gặp!), không biết dân Úc chính hiệu có biết rằng đây là một thành ngữ do người Việt Nam sáng chế ra không.
Nghe nói thời Pháp thuộc, người Việt không những sáng chế thêm nhiều từ cho tiếng Pháp, mà còn dạy mấy anh Tây nói cả tiếng lái nữa. Như một bà “me tây” nào đó đưa chồng đi sắm sửa. Hỏi giá một món hàng, thấy đắt quá, bà ghé tai nói nhỏ với ông chồng: “Très chaud” (nóng quá!). Ông chồng Tây hiểu ngay. Trời đang lạnh mà bà nói như thế tức là muốn nói lái: “trop cher” (đắt quá).
Nhưng độc đáo nhứt vẫn là danh hiệu “Hot Bread” được người Việt ở Úc dùng để “rửa tội” cho ổ bánh mì nóng của mình. Ngày nay, thương hiệu này đã đi vào hầu như mọi hang cùng ngõ hẻm của Úc Đại Lợi. Cứ thấy “Hot Bread” là biết ngay của người Việt. Nhưng dân Úc chính cống cứ nói tới “hot” (nóng) là nghĩ ngay đến gia vị và nhứt là sự “hưng phấn” về tình dục, chớ ai lại cho đó là hơi nóng bốc lên từ ổ bánh mì mới ra lò. Tôi nghe kể về một ông Việt Nam nào đó, không biết có phải là chủ tiệm “Hot Bread” không, một hôm có việc phải đến ngân hàng. Do bất đồng ngôn ngữ cho nên giữa anh và cô nhân viên ngân hàng phải to tiếng với nhau. Đến một lúc, để xoa dịu tình hình, anh mới xuống nước nói với cô: “You are so hot today!” (hôm nay cô nóng nảy quá!). Nhưng với lỗ tai của một người Úc, đặt trong ngữ cảnh này, “hot” chỉ có thể hiểu là “nóng về lửa tình” mà thôi. Nghe như vậy chắc chắn cô nhân viên ngân hàng phải đỏ mặt. Không biết cái ông Việt Nam vô tình “sàm sỡ” này có bị ăn một cái tát nào không.
Mỗi ngôn ngữ đều có cái “thần thái” riêng của nó. Do đó, như người ta thường nói “dịch là phản bội”. Nhưng ít nhứt trong trường hợp của “Hot Bread”, người Việt mình đã tỏ ra rất trung thực. Nóng thì bảo là nóng, chớ không có một ẩn ý nào khác. Có đâu như hai công ty bán lẻ lớn nhứt Úc Đại Lợi ngày nay là Coles và Woolworth.
Tôi mới đọc một bài viết có tựa đề “Fresh is what they say it is” (tạm dịch là “tươi theo ý họ muốn nói”) trên báo The Sydney Morning Herald số ra cuối tuần 6,7 tháng 7 vừa qua. Bài báo cũng đề cập đến chuyện bánh mì. Nhưng không phải bánh mì nóng của Việt Nam, mà là bánh mì “Panini” của Ý được bày bán trong các siêu thị Coles. Trên bao bì của bánh Panini, Coles quảng cáo “fresh, baked in store” (bánh nóng, nướng tại chỗ). Cũng như hàng triệu người Úc khác, một khách hàng đã mua bánh mang về nhà và khám phá ra rằng cái bánh mới ra lò này đang bị đông đá ở bên trong.
Ký giả Sarah Whyte, tác giả của bài báo, viết rằng “trong thế giới nhuộm mầu sặc sỡ của các siêu thị, chữ “fresh” (nóng, mới ra lò, tươi) không có ý nghĩa đơn giản của nó nữa”. Các sản phẩm được mô tả là sản xuất tại chỗ hay mới lấy từ trong lò ra, có khi đã phải băng qua cả 15 ngàn cây số trước khi được bày bán trên các kệ hàng.
Theo ước tính, mỗi tuần lễ có đến 32 triệu người đi mua sắm tại các siêu thị Coles và Woolworth. Cứ một Úc kim tiêu ra thì có đến 80 xu dùng để mua thức ăn. Và thức ăn nào, đặc biệt là trái cây và rau quả, cũng đều được dán thêm một lời mời gọi rất “đường mật” và “bắt mắt” là “nóng hổi, tươi”.
Ông Peter McDonald, một giảng sư về kinh doanh thuộc Đại học Sydney, nói rằng từ “fresh” (tươi) được dán trên các món hàng bị lạm dụng”.
Hãng truyền thông Fairfax Media đã phát giác rằng những đóa hoa được dán nhãn hiệu “xanh tươi vừa mới được cắt từ vườn ra” (freshly cut flowers) trong Coles và Woolworths, trong thực tế được nhập cảng từ Kenya và Columbia. Các loại cam quít được bày bán trong Coles với nhãn hiệu “được trồng tại Úc” thật ra lại được nhập cảng từ Pháp. Ngay cả bánh mì được ghi “nóng hổi mới ra lò” (freshly baked bread) cũng xuất phát từ Ái Nhĩ Lan, Đức và Đan Mạch.
Khi ông Martin Fisk, người mua bánh “Panini” còn đông lạnh bên trong biên thư yêu cầu Coles giải thích về ý nghĩa của chữ “Fresh” thì một nhân viên phục vụ khách hàng (customer service) của Coles mới email trả lời rằng từ “Fresh” được dùng theo nhiều nghĩa khi nói về bánh mì, hoa, trái cây và sữa. Nhân viên này giải thích rằng mặc dù có trải qua một số tiến trình, các sản phẩm này vẫn giữ nguyên phẩm chất nguyên thủy. Do đó, từ “fresh” cũng có thể được sử dụng để chỉ những sản phẩm đã từng được đông lạnh trước đó.
Nhưng Ủy ban cạnh tranh và bảo vệ người tiêu thụ (The Australian Competition and Consumer) đâu có đồng ý với cái lối định nghĩa “ba phải” trên đây của Coles về từ “fresh”. Trong 4 tuần lễ vừa qua, Ủy ban này đã tố cáo Coles cố tình đánh lừa khách hàng khi dán chữ “fresh” lên bánh mì đông lạnh. Hồi tháng trước, Coles đã bị kiện ra Tòa án liên bang vì các lời quảng cáo của siêu thị này có nội dung “ngụy tạo và đánh lừa” khách hàng, nhứt là đối với các loại bánh mì.
Hôm thứ Hai tuần trước, Coles đã bị tòa phạt 61 ngàn Úc kim vì đánh lừa khách hàng khi dán lên một số trái cây và rau quả nhãn hiệu “được trồng tại Úc”, trong khi chúng lại được nhập cảng từ Pháp và Mỹ.
Cuộc chiến “ngữ nghĩa” hiện cũng đã lôi kéo một số nhân vật có thế giá tại Úc Đại Lợi. Ông Jeff Kennett, cựu Thủ hiến tiểu bang Victoria đã than phiền với Ủy ban Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu thụ rằng hồi năm ngoái ông có mua bánh mì hiệu “Cuisine Royale”; trên bao bì có ghi “vừa mới ra lò”, nhưng nhìn kỹ lại thấy làm tại Ái Nhĩ Lan.
Ngay cả cựu Thủ tướng Malcolm Fraser cũng phẫn nộ với hệ thống siêu thị Coles. Ông kêu gọi tẩy chay loại rau quả có dán nhãn hiệu “trồng tại Úc” hay “giúp Úc tự sản xuất” nhưng trong thực tế lại được nhập cảng từ nước ngoài.
Hệ thống siêu thị Woolworths cũng chẳng thua gì Coles trong việc sử dụng các nhãn hiệu mập mờ để đánh lừa người tiêu thụ. Woolworths hiện đang có tất cả 900 siêu thị trên toàn Úc Đại Lợi. Mỗi tuần lễ có khoảng 19.5 triệu lượt người viếng thăm các siêu thị của Woolworths. Mới đây, một khách hàng đã than phiền với Ủy ban Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu thụ rằng ông ta đã mua loại bánh mì “Ciabatta” tại một siêu thị Woolworth. Mặc dù ngoài bao bì có ghi “bánh nóng ra ngày hôm nay, bán ngày hôm nay”, nhưng thực tế bánh đã làm từ mấy ngày trước. Tổng giám đốc về thực phẩm tươi của Woolworths là ông Pat McEntee cũng giải thích lòng vòng rằng chữ “fresh” được công ty của ông sử dụng chỉ có nghĩa là “đồ ăn không có chất bảo quản, không bị chế biến quá mức cho nên vẫn giữ được bản chất nguyên thủy”.
Tựu trung, ở đâu và thời nào cũng có chuyện treo đầu dê bán thịt chó. Có khác chăng là ở mức độ tinh vi mà thôi. Cách đây mấy tháng, thịt bò xay nhuyễn đóng hộp của Pháp, qua sự soi rọi của kính hiển vi, đã lòi ra cái mặt thịt ngựa. Hay như mới đây, công ty nuôi gà Steggles của Úc bị tố cáo vì quảng cáo gà “đi bộ” nhưng lại bán gà công nghiệp. Thời xa xưa, người ta còn phân biệt được cái đầu dê với đầu chó hoặc ngửi được mùi vị khác nhau của hai loại thịt này. Ngày nay, ở những nước như Trung Quốc hay cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giống gì cũng làm giả được và nhứt là làm giả bằng các thứ độc chất. Ở những nước văn minh, nhờ sự kiểm soát của chính phủ và sự theo dõi của các cơ quan truyền thông, tuy có lừa được người tiêu thụ, người ta cũng chỉ lừa được ở một mức độ có thể tạm dung thứ được. Nhưng dù ở mức độ nào, đã lừa thì phải gọi đúng theo tên gọi của nó là lừa mà thôi.
Tôi hy vọng sẽ chẳng có ai than phiền hay đâm đơn kiện mấy cái lò bánh mì “Hot Bread” của tôi vì bánh mì “nóng” mà mua vào buổi chiều thì có khi cũng teo tóp và dai không kém gì cao su.
Bàn chuyện “ngữ nghĩa” về hai chữ “nóng” và “tươi” là cũng chỉ để tự nhắc nhở mình phải biết sống trung thực. Lại nhớ đến lời dạy của Chúa Giêsu: “Có thì nói có, không thì nói không. Thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra.”









Thứ Hai, 13 tháng 2, 2017

Từ địa ngục Syria đến thiên đàng Thụy Điển



10.01.17

Omar al-Shogre là một trong hàng trăm ngàn tù nhân trong chế độ độc tài của Tổng thống Bashar al-Assad tại Syria. Anh đã trải qua 3 năm trong 10 trại tù với những cuộc tra tấn dã man nhất. Vậy mà ngày nay sau khi đã được định cư tại Thụy Điển, người thanh niên 21 tuổi này nói rằng thời gian tù đày là “những ngày tháng đẹp nhất” trong đời anh.
Ngày 11 tháng Sáu năm 2015, lần đầu tiên sau gần 3 năm bị giam tù, Shogre nhìn thấy ánh sáng. Anh chỉ còn cân nặng 35 ký và đầu không còn một sợi tóc. Trên một chuyến xe buýt gần Thủ đô Damascus, khi anh chào hỏi mọi người, chẳng có người nào buồn nhìn anh, vì họ đã quá quen thuộc với những khuôn mặt như thế.
Một năm sau, với chiếc quần jeans và chiếc áo thun ngắn, Shogre chạy bộ dọc theo một bờ sông ở Stockholm, Thụy Điển. Anh đã hòa nhập vào dòng người đang vui hưởng cuộc sống trong ấm no và tự do.
Shogre là một trong rất ít tù nhân Syria được may mắn như thế. Theo tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) trên 17.000 người Syria đã bị sát hại trong các trại tù rải rác trên khắp Syria từ giữa tháng Ba năm 2011 đến tháng 12 năm 2015. Riêng Liên Hiệp Quốc đã không ngừng lên tiếng tố cáo chính phủ của Tổng thống Bashar al-Assad đã và đang phạm “những tội ác chống lại nhân loại như tiêu diệt, sát hại, hãm hiếp...tra tấn và giam tù”.
Tháng 11 năm 2012,  khi vừa tròn  17 tuổi, Shogre đã cùng với 3 người anh em bà con khác  bị bắt giữ tại Tartous, một tỉnh nằm ở Đông bộ Syria. Hai trong 3 người anh em bà con này đã chết trong tù. Shogre nói rằng anh không biết tại sao mình bị bắt giữ. Lính của chính phủ đã xông vào nhà của dì anh và không một lời giải thích, họ đã đấm túi bụi vào mặt anh cho đến khi máu me chảy đầm đìa. Sau đó họ lùa anh và 3 người anh em bà con lên xe về trại giam.
Từ đó,  Shogre đã bị chuyển đi qua 10 trại giam để rồi cuối cùng lọt vào nhà tù nổi tiếng Sednaya, nằm giữa vùng núi hiểm trở cách Thủ đô Damascus 30 cây số. Sau đó, anh đã trải qua một năm chín tháng trong một trung tâm có tên là “Chi Nhánh 215” (Branch 215). Đây là một trung tâm thẩm vấn của quân đội Syria nằm giữa Thủ đô Damascus. Các tù nhân gọi đây là “Chi nhánh Tử thần”.
Chia sẻ những gì mình đã trải qua tại “Chi nhánh Từ thần” này với một phóng viên của Đài Aljazeera, Shogre cho biết: “Các tù nhân phải thường xuyên chứng kiến cảnh một tù nhân bị cưỡng bách phải giao hợp với một tù nhân khác hoặc một trưởng phòng giam hãm hiếp một tù nhân khác.” Các tù nhân trẻ như Shogre rất sợ phải chứng kiến những cảnh như thế, vì không biết những điều tồi bại như thế có xảy ra cho họ không.
Tại “Chi nhánh Tử thần”, trong 7 tháng đầu tiên, Shogre đã bị biệt giam. Sau đó, được đưa vào một phòng giam khác, anh đã tận mắt chứng kiến cảnh các tù nhân ốm đau bị giam lại trong một phòng để chờ chết. Những người nào còn rán chống cự sẽ bị đánh đập cho đến khi không còn sức để chống cự.
Bị tra tấn và chết là chuyện thường tình trong nhà tù. Shogre cho biết: “Rất nhiều người bị hãm hiếp và sau đó bị giết chết. Đây là một điều khủng khiếp, nhưng đó là chuyện bình thường trong tù”. Anh nói rằng tù nhân bị hãm hiếp cũng như những người bị tra tấn và giết chết, tất cả đều chỉ như một thây chết đối với các tù nhân khác.
Sednaya là nhà tù cuối cùng và tồi tệ nhất đối với Shogre. Ngày 15 tháng Tám năm 2014, anh được “đón nhận” vào nhà tù này bằng một trận đòn bán sống bán chết. Anh kể lại: “Chúng tôi gồm 10 người, được cho đứng xếp hàng và một cai tù bắt đầu đánh hết người này đến người khác. Trong 15 ngày liền, tôi không thể mở mắt hay đứng dậy”.
Một tháng sau, anh được dẫn đến một tòa án. Sau một phiên xử kéo dài không quá 5 giây, anh bị kết án vì tội khủng bố. Đây là tội danh dành cho tất cả những ai hoạt động chống Chính phủ Assad. Shogre đã từng tham gia vào những cuộc biểu tình chống chính phủ trong cuộc cách mạng hồi năm 2011. Anh cho biết đã bị buộc phải nhận tội làm 10 căn cước giả.
Trong nhà tù Sednaya, thức ăn mà các cai tù mang đến cho các tù nhân chỉ gồm vài cái trứng và một ít bánh mì. Đây không phải là khẩu phần của một người, mà là của ít nhất trên 10 người. Cùng với thức ăn, các cai tù cũng thủ sẵn những cây gậy bằng kim khí để đánh các tù nhân. Shogre nhớ lại: thức ăn trong tù Sednaya lúc nào cũng hòa lẫn với máu của tù nhân. Nhưng dù sao, anh nói một cách mỉa mai, trong máu vẫn còn có chút muối!
Tổ chức Ân xá Quốc tế đã thực hiện nhiều cuộc điều tra về các nhà tù tại Syria. Tổ chức này nói rằng tất cả  những gì được Shogre mô tả về các nhà tù tại nước này đều trung thực. Nhiều tù nhân đã có thể ghi lại một cách chính xác ngày giờ và các chi tiết về những gì đã họ đã trải qua trong các nhà tù tại Syria. Bà Nicolette Boehland, một chuyên viên của Tổ chức Ân xá Quốc tế đặc trách về các nhà tù tại Syria giải thích rằng sở dĩ các tù nhân cố gắng ghi nhớ từng chi tiết về những năm tháng tù đày của họ tại Syria là để sử dụng sau này. Họ xem đó như một hành động phản kháng.
Cho tới nay, giấc ngủ của Shogre lúc nào cũng bị lấp đầy bởi những điều khủng khiếp mà anh đã trải qua trong các nhà tù ở Syria. Anh giải thích: “Khi ngủ, tôi luôn mơ thấy mình bị tra tấn. Tôi thấy những người anh em họ của tôi bị giết chết. Thức dậy sau những cơn ác mộng khủng khiếp ấy và thấy mình đang ở trong một căn phòng chứ không phải một nhà tù, tôi cảm thấy rất sung sướng”.
Nhưng ngày nay, khi ngồi bên một bờ hồ bên cạnh nhà ở Thụy Điển, Shogre huýt sáo lớn, mỉm cười và nhìn chim trời bay lượn trên nước.
Mặc dù thời gian tù đày là những tháng ngày đen tối và sầu thảm nhất trong cuộc sống, người thanh niên Syria này lại nói rằng “ đó  là những ngày đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Tôi đã “thành nhân”. Đó là trường đại học tốt nhất. Tôi vào tù như một đứa trẻ và tôi đã học để  sống”. Nhìn thấy cái phúc trong cái họa, anh nói rằng nếu anh đã luôn sống trong hạnh phúc thì anh đã chẳng bao giờ biết được ý nghĩa của hạnh phúc.
Bên cạnh các cai tù đã từng tra tấn anh và anh vẫn tiếp tục thù ghét, Shogre nói rằng anh cũng nhận ra những gì là tốt đẹp nhất trong bản tính con người. Các tù nhân khác đã giúp anh chiến đấu để sống còn. Họ đã chia sẻ thức ăn cho anh và ngay cả  mua chuộc các cai tù để họ không giết anh. Mặc dù trong nhà tù Sednaya tù nhân không được phép thực hành đạo, Shogre vẫn âm thầm đọc 18 chương trong Kinh Coran trong thời gian bị biệt giam và thì thầm chia sẻ với các bạn tù khác.
Chuyện Shogre được ra khỏi tù bắt đầu vào tháng Năm năm 2013. Đó là thời điểm cha và hai người anh của anh bị giết chết trong một cuộc tàn sát. Mẹ và những anh chị em khác của anh trốn sang Thổ Nhĩ Kỳ. Tại đây họ đã kiếm  được 15.000 Mỹ kim để chạy chọt cho anh ra khỏi tù.
Tháng Sáu năm 2015, Shogre nhận được một lệnh tha trong đó có ghi rõ anh phải bị giam 3 năm 4 tháng vì các “hoạt động khủng bố”. Nhưng nhờ “lao động nặng”, anh được tha sớm, nghĩa là chỉ bị giam có một phần tư bản án.
Sau khi nhận được lệnh tha, Shogre bị bịt mắt và chở đến một nơi xa lạ để anh tự tìm đường về nhà. Mặc dù toàn bộ gia đình còn lại hiện đang ở Thổ Nhĩ Kỳ, Shogre đã chọn Thủy Điển làm quê hương thứ hai. Tại đây, anh đã được chữa trị về bệnh lao phổi mà anh đã bị lây nhiễm trong tù. Tại Thủ đô Stockholm, Thụy Điển, anh đã có một mái nhà ấm cúng và những người bạn đầy cảm thông. Tuy nhiên anh vẫn lo sợ rằng Chính phủ Syria sẽ tìm cách trả thù vì anh đã tố cáo trước thế giới chế độ lao tù tại Syria. Anh không biết điều gì sẽ xảy ra cho gia đình của anh tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Đó là tâm trạng chung của rất nhiều người tỵ nạn Syria đã từng bị Chế độ Assad giam giữ. Chuyên gia tâm lý Jalah Nofal, người cũng đã từng trải qua 9 năm trong các nhà tù của Chế độ Assad hồi thập niên 1980, nói rằng những vấn đề chính của các cựu tù nhân Syria chính là trầm cảm và lo lắng. Chuyên gia tâm lý này khuyên họ đừng tự xem mình như những nạn nhân, mà là những người còn sống sót và hãy nghĩ đến sức mạnh của mình. Đôi khi các cựu tù nhân Syria vẫn cứ để mình bị ám ảnh bởi số phận của những bạn tù trong còn nước. Họ nói: “Làm sao tôi có thể tự do cười đùa, ăn ngon khi các bạn tôi vẫn còn đau khổ?”
Dĩ nhiên, không phải tất cả mọi cựu tù nhân Syria đều sống trong sợ hãi và lo lắng. Hanada al- Refai là một ngoại lệ. Người phụ nữ này đã trải qua 7 tháng trong các nhà tù của Chế độ Assad. Một người em trai của bà đã bị giết trong tù. Riêng bà đã trải qua không biết bao nhiêu cuộc tra tấn. Khủng khiếp nhất là khi bà bị buộc phải ăn uống trong cái “bô” dùng cho vệ sinh cá nhân và bị thẩm vấn trong một phòng đầy máu và những thứ do các tù nhân mửa ra cũng như bị đánh đập và đe dọa giết chết. Nhưng bà đã chiến đấu để sống còn hầu, như bà đã nói tại một hội nghị tìm kiếm hòa bình cho Syria được tổ chức tại Geneva, “trở thành một tiếng nói cho các nạn nhân” của chế độ vô nhân đạo của Assad.
Bà Refai cho biết: là một giáo viên và là một người mẹ, bà ít quan tâm đến chính trị. Nhưng cứ tưởng rằng cũng như người Ai Cập, người dân Syria sẽ có đủ can đảm để thực hiện một cuộc cách mạng ôn hòa để buộc nhà độc tài Assad phải ra đi, ba đã tham gia các cuộc biểu tình vốn đã diễn ra đầu tiên tại Thành phố Deraa của bà, nơi được xem như chiếc nôi của cuộc cách mạng. Bà đã thu thập các băng hình của các cuộc biểu tình và đưa lên mạng để cho thế giới thấy được điều gì đang diễn ra tại Syria. Nhưng tháng Ba năm 2012, bà bị bắt. Em trai của bà, vốn là một thẩm phán trong một tòa án quân sự, đến thăm bà. Một tuần lễ sau, ông cũng bị bắt. Sau hai năm và hai tháng bị giam tù, ông đã bị giết chết. Cho tới nay, gia đình vẫn chưa nhận được thi thể của ông.
Kể từ khi diễn ra cuộc cách mạng tại Syria năm 2011, theo ước tính có hơn 200.000 người Syria, kể cả phụ nữ và trẻ con, đã bị giam giữ như tù nhân chính trị. Bà Refai cho biết đã gặp trong tù ít nhất hơn 65 phụ nữ tuổi từ 12 đến 85.
Rất nhiều người Syria, sau khi thoát khỏi cảnh tù đày và được các nước đón nhận như người tỵ nạn, đã cương quyết trở thành tiếng nói của các nạn nhân để nói cho thế giới biết bộ mặt tàn bạo, độc ác của Chế độ Assad. Rụt rè như người thanh niên Shogre hay cương quyết  như bà Refai, tất cả đều muốn trở thành một tiếng nói sống động về chế độ độc tài vô nhân đạo ấy. Người Mỹ có lẽ sẽ bị bịt tai bịt mắt lại trước thảm cảnh của người dân Syria kể từ khi Tổng thống Donald Trump ký sắc lệnh hành chính ngưng chương trình tỵ nạn dành cho người Syria.


(nguồn: http://www.aljazeera.com/indepth/features/2017/01/alive-surviving-assad-prison-cells)

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Hòa nhã và tử tế hơn!





Chu Thập
04.07.13


Theo dõi những diễn biến trong nội bộ của Đảng Lao Động trong những ngày vừa qua, tôi thấy sinh hoạt chính trị quả là một cuộc đấu đá thô bạo. Những người có giây thần kinh mỏng manh như tôi đừng mong chen chân vào chốn này. Tôi thầm phục các chính trị gia trong các nước dân chủ tự do, nhất là những người nắm giữ địa vị lãnh đạo. Lúc nào họ cũng có thể tỏ ra là người quân tử và cao thượng: người chiến thắng vẫn ca ngợi những thành tựu của kẻ chiến bại; kẻ thua cuộc, dù lòng ruột có héo hon đến đâu, cũng vẫn chúc mừng người vừa đánh bại mình!
Có lẽ đã thấm đòn với những đấu đá trong nội bộ Lao Động và thấy trước viễn ảnh của một cuộc xâu xé cũng sẽ rất thô bạo giữa Lao Động và Liên Đảng cho nên, trong bài diễn văn đầu tiên tại Quốc hội Liên bang sau khi dành lại quyền lãnh đạo Đảng Lao Động, Thủ tướng Kevin Rudd đã kêu gọi các vị đại diện của dân hãy tỏ ra “hòa nhã và tử tế hơn” trong các cuộc tranh luận.
Lời kêu gọi này của Thủ tướng Rudd khiến tôi nhớ lại bài diễn văn đầu tiên mà bà Margaret Thatcher đã đọc tại Quốc hội Anh sau khi được bầu làm thủ tướng. Trong bài diễn văn, bà đã trích dẫn lời kinh của thánh Phanxicô Assisi, vị thánh thời Trung cổ được cả thế giới ngày nay xem như sứ giả của hòa bình. Bà Thatcher nói: “Nơi nào có bất hòa, chúng ta hãy mang lại an hòa.” (x.Margaret Thatcher, The Downing Street Years, Harper Collins Publishers, London, 1993, p.19)
Nghe cứ như từ tòa giảng của một nhà lãnh đạo tinh thần. Thật vậy, xây dựng hòa bình và sống “hòa nhã và tử tế” là cốt lõi của giáo huấn trong bất cứ tôn giáo nào. Sở dĩ chúng ta thường nói “tôn giáo nào cũng tốt” là bởi tôn giáo nào cũng dạy con người “ăn ngay ở lành”, nghĩa là đối xử tử tế với nhau.
Trở lại cầm quyền lần này, có lẽ ý thức được sự cần thiết của thái độ “hòa nhã và tử tế” trong việc đối nhân xử thế chăng mà vị thủ tướng vốn từng mang tiếng là thô lỗ, cộc cằn đối với các cộng sự viên, đã mang theo một Quyển Kinh Thánh để tuyên thệ trước mặt Tổng toàn quyền. Nhưng đâu phải chỉ có Kinh Thánh của Do thái và Kitô giáo mới khuyên dạy con người sống “hòa nhã và tử tế”. Kinh Coran của người Hồi giáo cũng chỉ dạy có thế. Thành ra, khi tuyên thệ nhậm chức, người hồi giáo đầu tiên được bổ nhiệm vào nội các chính phủ là ông Ed Husic, thư ký của thủ tướng tại Quốc hội, đã cầm theo một Quyển Kinh Coran. Tôi nghĩ thầm: giá như người ta mang tất cả những quyển "Kinh Thánh" của các tôn giáo đến đặt trên bàn của Tổng toàn quyền và nội các chính phủ đến tuyên thệ thì đẹp biết mấy!
Lần đầu tiên theo dõi một phiên họp của Quốc hội, tôi cũng nhận thấy một chi tiết có ý nghĩa: khi tuyên bố khai mạc phiên họp, bà Anna Burke, Chủ tịch Hạ Viện, đã mời mọi người đứng lên đọc “Kinh Lạy Cha”. Chắc chắn, một khi tuyên bố tách khỏi mẫu quốc Anh để thành lập cộng hòa, thế nào Úc Đại Lợi cũng sẽ bãi bỏ nghi thức “tôn giáo” này. Nhưng bỏ qua một bên truyền thống tôn giáo của mẫu quốc mà Úc Đại Lợi vẫn còn phải tôn trọng, tôi thấy rằng trong bối cảnh sôi sục hiện nay, nếu các vị đại diện của dân, bất luận thuộc tôn giáo nào, biết chăm chú lắng nghe hay đọc Kinh Lạy Cha, họ cũng sẽ nhận ra cùng một sứ điệp: hãy cư xử “hòa nhã và tử tế” với nhau, bởi vì đỉnh điểm của lời kinh này chính là cam kết “như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Tất cả những vế trước của Lời Kinh, từ việc xin cho “Danh Cha cả sáng” đến “Nước Cha trị đến”…đều chỉ có ý nghĩa và trở thành hiện thực nếu con người biết tha thứ cho nhau, nghĩa là biết vượt qua bất hòa để xây dựng hòa bình với nhau.
“Nhân Danh Cha” hay để bảo vệ tôn giáo, đức tin, Đạo Pháp mà loại trừ hay sát hại người khác là một thái độ mâu thuẫn. Chẳng có giáo huấn của tôn giáo nào chấp nhận hay khuyến khích như thế cả.
Cuồng tín tôn giáo là vết nhơ lớn nhứt trong lịch sử nhân loại. Là một tín hữu Kitô, tôi không thể không cảm thấy đau buồn vì lịch sử của Kitô giáo đã được viết lên với rất nhiều trang đầy dẫy những hành vi cuồng tín, trong đó lố bịch nhứt là hình ảnh thánh giá sánh vai với lưỡi gươm hay họng súng.
Là một người có tôn giáo, tôi cũng cảm thấy nhục nhã không kém khi chứng kiến vô số những hành vi cuồng tín, khủng bố do các tín đồ tôn giáo nhân danh thần minh, thượng đế, đấng sáng lập đạo hay đạo pháp…để miệt thị, loại trừ, sát hại người không đồng tín ngưỡng với mình. Thật là đắng cay khi phải nghe cố nhạc sĩ John Lennon của ban The Beatles gào thét: “Hãy thử tưởng tượng một thế giới không có tôn giáo. Mọi dân tộc sẽ sống trong hòa bình”. Tôn giáo gây chia rẽ hiềm khích ư? Hay chính con người lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ và hiềm khích? Tôn giáo dạy con người bạo động ư? Hay chính con người mới nhân danh tôn giáo để gây bạo động?
Gần đây, tôi cảm thấy lo ngại khi theo dõi những xung đột tôn giáo tại Miến Điện. Có lẽ chẳng có nơi nào các tín đồ phật giáo tỏ ra khoan nhượng, hòa nhã và tử tế cho bằng tại nước này. Các sư sãi, nếu có xuống đường một cách ôn hòa và bất bạo động, ngay cả sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình, thì cũng chỉ để bênh vực cho quyền lợi của người dân. Tôi khâm phục các nhà sư đã xả thân hy sinh trong cuộc phản kháng dân sự bất bạo động dạo tháng 9 năm 2007. Nhiều nhà sư đã bị nhà cầm quyền quân phiệt Miến Điện sát hại một cách dã man. Các vị này đã không “tử vì đạo” cho bằng chết cho nhân quyền, cho tự do và quyền sống của người khác. Thật đáng khâm phục gương hy sinh cao cả của những nhà sư như thế!
Nhưng mới đây, tạp chí Time, trong số ra ngày 1 tháng 7 vừa qua, lại trình bày điều mà tạp chí này gọi là “Bộ mặt khủng bố của Phật giáo” (The Face of Buddhist Terror). Đó là tựa đề trên hình bìa của tờ báo, kèm với bức hình của nhà sư Wirathu, người đang kêu gọi các phật tử mở “thánh chiến” chống lại người hồi giáo tại Miến Điện.
Theo phóng viên Hannah Beech, tại một ngôi chùa ở Mandalay, thành phố lớn thứ hai sau Thủ đô Rangoon, nhà sư Wirathu, người được mệnh danh là “Bin Laden của Miến Điện”, đã nói với các tín đồ rằng “Đã đến lúc không còn phải ngồi yên nữa. Đây là lúc phải đứng lên, làm cho máu sôi sục”.
Hiện nay máu đang sôi sục trong rất nhiều phật tử Miến Điện và dĩ nhiên máu của người hồi giáo lại tiếp tục chảy. Trong năm vừa qua, theo lời hiệu triệu của nhà sư Wirathu, một số tín đồ phật giáo cuồng tín đã tấn công cộng đồng hồi giáo thiểu số tại nước này. Các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền cho biết đã có hàng trăm tín đồ hồi giáo bị giết chết. Phần lớn nạn nhân là những người Rohingya, nhóm thiểu số hồi giáo lớn nhứt tại Miến Điện. Dù chỉ chiếm có 5 phần trăm trong tổng số 60 triệu dân, những người hồi giáo này vẫn bị nhà sư Wirathu xem như một mối đe dọa cho xứ sở và văn hóa Miến Điện. Nhà sư này giải thích với các tín đồ: “Người hồi giáo sinh sản rất nhanh, họ cưỡng chiếm và hãm hiếp đàn bà con gái của chúng ta. Họ sẽ chiếm xứ sở của chúng ta. Tôi không để cho họ làm điều đó. Chúng ta phải gìn giữ bản sắc phật giáo của Miến Điện”.
Theo phóng viên Beech, Phật giáo cuồng tín hiện đang thâm nhập vào nhiều nước tại Á châu. Năm nay, tại Sri Lanka, một trong những nước có tỷ lệ tín đồ phật giáo cao nhứt thế giới, các tổ chức phật giáo ái quốc vốn có liên hệ với các viên chức cấp cao trong chính phủ, đang tạo uy thế; các nhà sư đã góp phần vào việc phá hủy tài sản của người hồi giáo và các tín hữu Kitô. Tại miền Nam Thái Lan, nơi cuộc nổi dậy của người hồi giáo đã khiến cho 5 ngàn người bị giết chết hồi năm 2004, quân đội hiện đang huấn luyện cho các dân quân và cũng thường tháp tùng các nhà sư mỗi khi các vị đi khất thực. Tại chùa Wat Lak Muang, ở Patani, hiện có 10 nhà sư trụ trì, nhưng có đến 100 binh sĩ canh gác. Sư đoàn 23 bộ binh của quân đội Thái hiện đặt bản doanh ngay trong khu vực của ngôi chùa. Mỗi năm có đến hàng ngàn thanh niên phật tử tình nguyện đến đây để được thụ huấn về quân sự và sau đó trở về canh giữ làng mạc của mình. Nhà sư Purassaro, một trong những vị đang trụ trì tại ngôi chùa cho biết ông hiện đang có 3 khẩu súng. Nhà sư này giải thích: “Là một phật tử, có thể tôi cảm thấy có lỗi. Nhưng chúng tôi phải tự bảo vệ”.
Dĩ nhiên, đưa quân đội và súng ống vào nhà chùa cũng có nghĩa là nhắn gởi với người hồi giáo rằng họ đang là một mối đe dọa. Về phía người hồi giáo, họ cũng sẽ cảm nhận rằng họ không phải là thành phần của dân tộc và đất nước. Mối nghi ngờ giữa hai bên đã lên đến cực độ. Hầu như nhà sư Thái nào tại miền Nam Thái Lan cũng đều cho rằng hồi giáo là một tôn giáo của bạo động và các đền thờ hồi giáo là nơi cất giữ võ khí. Đối lại với bạo động, một số nhà sư và phật tử đã từ bỏ tinh thần khoan nhượng và tha thứ của Phật Giáo để đi vào con đường ăn miếng trả miếng của bạo động.
Đây cũng chính là con đường mà nhà sư Wirathu của Miến Điện đã chọn. Hơn ai hết, nhà sư này biết rõ rằng dung hòa tinh thần vô chấp, khoan nhượng, bao dung và tha thứ của Phật Giáo với hận thù, bạo động là điều hoàn toàn đi ngược lại với giáo lý Nhà Phật. Nhưng ông lại biện minh: “Trong Phật Giáo, chúng tôi không được phép tấn công. Nhưng chúng tôi có quyền bảo vệ cộng đồng của chúng tôi”. Và “tự vệ” cuối cùng lại đồng nghĩa với loại trừ, trả đũa, tấn công và dĩ nhiên bạo động, thù hận và sát hại.
Dĩ nhiên, những người phật tử chân chính không bao giờ chấp nhận cách hành xử “mắt đền mắt răng thế răng” ấy. Ở những nơi mà hận thù đã cao chất ngất, người ta vẫn còn chứng kiến được tinh thần bao dung và tha thứ của Phật Giáo. Hồi năm 2011, một buổi sáng nọ, một nhà sư Thái trụ trì tại chùa Wat Lak Muang, tên là Watcharapong Suttha, đang đi khất thực với sự hộ tống của binh sĩ. Một quả bom đã phát nổ. Nhà sư bị thương nặng. Một nửa thân thể của ông bị ghim đầy những mảnh bom. Hiện nay, ông đã cởi áo cà sa. Mắt ông bị mờ đi và thân thể ông đầy sẹo. Nhưng ông không hề lên tiếng trách móc bất kỳ ai. Ông nói: “Hồi giáo là một tôn giáo ôn hòa, cũng như Phật Giáo và mọi tôn giáo khác. Nếu chúng ta đổ tội cho người hồi giáo, họ cũng sẽ đổ tội cho chúng ta và bạo động sẽ không bao giờ chấm dứt.” (x.Time, 1/7/2013)
Đây chính là tiếng nói đích thực của tôn giáo. Trên thế giới hiện đang xảy ra nhiều xung đột bạo động với sự can dự của các tín đồ tôn giáo. Có người nhân danh tôn giáo, đức tin, đạo pháp để khích động hận thù và tạo ra bạo động, chiến tranh. Nhưng chắc chắn, tự trong cốt lõi, tôn giáo nào cũng chỉ dạy con người “ăn ngay ở lành” mà thôi. Đó là giới răn chung của mọi giáo pháp. Đó là nơi gặp gỡ của mọi tôn giáo và cũng là nơi gặp gỡ của mọi con người. Khi con người biết cư xử “hòa nhã và tử tế” với nhau, họ mới thật sự “sống đạo” theo đúng tinh thần của tôn giáo mình.



Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

Vượt qua số phận!


Chu Thập
25.06.13

Được làm công dân Úc cho nên tôi cũng thường hướng lòng về mẫu quốc. Từ chuyện ông Hoàng tế Philip đau bụng phải vào nhà thương đến chuyện Nữ hoàng Elizabeth II cười thỏa chí khi con ngựa “Estimate” của bà thắng giải “The Royal Ascot Gold Cup” trị giá 250 ngàn bảng Anh hôm thứ Năm tuần trước và nhất là chuyện cô công chúa hay cậu hoàng tử của vợ chồng Thái tử William và Công nương Kate sẽ chào đời nội trong tuần này, tôi đều theo dõi tất! Mà có riêng gì tôi đâu. Trong khi chờ đợi một ngày nào đó Úc Đại Lợi sẽ tự cắt cuống rún lìa khỏi mẫu quốc Anh để trở thành một “cộng hòa”, ai mà chẳng thích hóng chuyện của các ông hoàng bà chúa bên đó. Tạp chí Reader’s Digest, số ra tháng này, đã chẳng dành trang chủ để bày tỏ cảm xúc của thần dân Úc đối với hoàng gia đó sao. Cứ theo dõi chuyện của những ông hoàng bà chúa bên Vương quốc Anh mà thấy thèm. Họ sướng thiệt. Đã sinh ra và lớn lên trong nhung lụa, họ lại còn được tiếng tăm nữa.
Nhưng đâu phải chỉ có ông hoàng bà chúa thứ thiệt mới sướng. Mấy ông “thượng đế” tự phong trong vài chế độ cộng sản còn rơi rớt lại trên thế giới cũng có thua gì đâu. Họ cũng hành xử theo lối cha truyền con nối. Họ cũng có “thái tử Đảng”. Mấy ông thái tử và công chúa đảng này lại được gởi sang du học tại các nước “tư bản đang dẫy chết” để về nước lại tiếp tục hô hào “thần dân” tiến lên thiên đàng xã hội chủ nghĩa và xây dựng vương quốc cộng sản. Đúng là chuyện “con vua thì được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Những lúc tôi tỏ ra bực tức một chút về những bất công trong cuộc đời, nhà tôi lại "mỉa mai" vỗ về: “Gối rơm ôm phận gối rơm, có đâu dưới thấp mà chồm lên cao”.
Thật ra, mỗi người sinh ra đều có một “số phận” cả. Có ai muốn được sinh ra đâu. Có ai chọn cha mẹ hay đất nước để chào đời đâu. Và dĩ nhiên, có ai chọn làm một thằng người đần độn, khuyết tật, kém thông minh và nghèo đói đâu. Số phận là điều mà chẳng có ai có thể thay đổi được. Có lột xác bao nhiêu cũng vẫn là mình. Như trường hợp một phụ nữ Trung Hoa nào đó được báo Việt Luận tường thuật cách đây không lâu, vì lỡ sinh ra với “nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai” cho nên cô đã phải nhờ đến dao kéo can thiệp để hóa kiếp thành một thiếu nữ kiều diễm và lập gia đình. Chẳng may, cô thay hình đổi dạng được nhưng lại không đổi được các “gen” di truyền bên trong, cho nên mấy đứa con cô sinh ra đều là một bản sao của cô trước khi cô giải phẫu thẩm mỹ. Thấy vợ mình đẹp như người mẫu mà con cái lại xấu xí, anh chồng sinh nghi bèn tra hỏi. Được vợ thú nhận có đi thẩm mỹ viện trước khi lấy chồng, anh chồng đã đâm đơn ly dị và đòi cô vợ phải bồi thường  bởi  vì anh cho rằng cô đã lừa dối anh.
Chẳng ai có thể thay đổi được số phận, nhưng ai cũng có thể vượt qua được số phận. Tôi thường có ý nghĩ ấy mỗi khi thấy Nick Vujicic, một người Úc sinh ra cụt cả tay chân, xuất hiện trước công chúng để thuyết giảng về sức mạnh của ý chí và niềm tin tôn giáo. Anh vẫn mãi mãi là một người khuyết tật. Tay chân anh sẽ chẳng bao giờ mọc ra để anh trở thành một con người bình thường. Nhưng nhờ ý chí và niềm tin tôn giáo, Nick đã vượt qua được những mất mát của số phận để vươn lên thành một người lúc nào cũng có thể mang lại niềm cảm hứng cho người khác.
Sinh ra, có người giàu kẻ nghèo, người thông minh, kẻ đần độn, người xinh đẹp, kẻ xấu xí, có người lành lặn khỏe mạnh, có kẻ khuyết tật ốm đau…nhưng đã là bình đẳng thì chẳng có ai hơn ai và nhất là chẳng có dân tộc nào hơn dân tộc nào. Cách đây mấy năm, có một nhà bác học “thông minh” đĩnh đạc, bởi đã được trao tặng giải Nobel Y Khoa, nhưng lại tỏ ra “ngu xuẩn” vô cùng khi đưa ra những tuyên bố có tính kỳ thị chủng tộc đối với người Phi Châu. Nhà bác học này là ông James Watson, người Mỹ được trao tặng giải thưởng Nobel về Y học và sinh lý học năm 1962.  Trong một cuộc phỏng vấn dành cho một tờ báo Anh, ông khẳng định rằng khả năng trí tuệ của người da đen thua kém trí tuệ của người da trắng, cho nên ông rất thất vọng về tương lai của lục địa Phi Châu. Ông giải thích rằng “toàn bộ chính sách xã hội của Hoa kỳ được xây dựng trên cơ sở cho rằng khả năng trí tuệ của người dân Phi Châu ngang bằng với người Mỹ, nhưng các công trình nghiên cứu lại khẳng định rằng không phải như vậy”. Nhà bác học này tin rằng trong vài năm nữa, rất có thể khoa học sẽ tìm ra được loại “gen” chịu trách nhiệm về những khác biệt trên bình diện trí tuệ của con người.
Ông Watson được thế giới biết đến như một trong những người đã tạo được bước đột phá trong lịch sử khoa học. Vào thập niên 1950 của thế kỷ trước, khi làm việc tại trường Đại học Cambridge, ông đã cùng với một nhóm  nhà nghiên cứu khám phá được chuỗi xoắn kép của cấu trúc DNA. Chính nhờ thành tựu này mà ông được trao tặng giải Nobel.
Giỏi giang như thế, nhưng có lẽ ông Watson đã không tỏ ra “thông minh” chút nào khi miệt thị người da đen là giống người kém thông minh. Bị cả thế giới lên án, ông Watson đã phải công khai cải chính những lời tuyên bố đầy kỳ thị của mình và xin lỗi công chúng.
Dĩ nhiên, kể từ khi ông Watson vén màn bí mật của sự sống qua khám phá cấu trúc DNA trong cơ thể con người, thế giới đã bắt đầu quan tâm đến “gen” di truyền. Các nhà khoa học bắt đầu đeo đuổi việc giải mã “gen” của con người khi họ nhận thấy rằng “gen” không chỉ quy định hình dạng cơ thể của mỗi người, mà còn có thể ảnh hưởng đến hành vi, cảm xúc và tâm tính  của chúng ta.
Theo luận cứ của nhiều nhà khoa học ngày nay, “số phận” của chúng ta bị kiểm soát bởi DNA mà chúng ta đã nhận được từ cha mẹ khi sinh ra. Họ cho rằng con người là “tù nhân” của di truyền. Họ quan sát một nhóm người, tính điểm cho mỗi người về mức độ hạnh phúc trong cuộc sống, rồi tìm xem sự khác biệt về “gen” giữa nhóm người hạnh phúc nhứt và nhóm ít hạnh phúc nhứt. Từ đó, họ đi đến kết luận: “gen” quyết định rất nhiều khía cạnh trong cuộc sống con người. Khả năng bị trầm cảm, bị ung thư hay ngay cả hạnh phúc đều nằm trong “gen” cả. Đây quả là một “tin buồn”, bởi vì con người thực sự chẳng còn có chút hy vọng nào để cải thiện hay thay đổi “gen” và vượt qua số phận của mình. Và dĩ nhiên, trách nhiệm của con người cũng được giảm thiểu tối đa. Nếu tôi có lười biếng là bởi cha tôi đã lười biếng và truyền lại cho tôi cái “gen” này; tôi không thể nào thay đổi được. Đừng trách tại sao tôi lười biếng!
Có thật sự DNA hay “Gen” đã quyết định mọi hành vi, cảm xúc, tâm tính và ngay cả “tật xấu” của tôi không?  Mới đây, trong tác phẩm có tựa đề “The Wisdom of Your Cells” (sự khôn ngoan của tế bào của bạn), Bác sĩ Bruce H Lipton đã phản bác luận điểm trên đây. Tác giả khẳng định rằng chúng ta không phải là một tù nhân trong bộ “gen” có trong con người chúng ta; chúng ta không phải là một cỗ máy sinh học chỉ biết tuân theo các quá trình sinh hóa của cơ thể. Theo ông, chúng ta có thể tác động trên các quá trình đó hay ngay cả thay đổi các yếu tố sinh học của cơ thể chúng ta.
Theo ông, ““gen” góp phần không nhỏ trong việc vận hành, điều phối mọi hoạt động của tế bào, nhưng chính những thông tin được nhập vào từ môi trường mới là thứ điều khiển cách sinh tồn của tế bào. Màng tế bào chính là nơi tiếp nhận những thông tin, tín hiệu từ môi trường. Do đó chính màng tế bào mới là bộ vi xử lý của tế bào. Do DNA ở trong nhân của mỗi tế bào đều lưu trữ mọi thông tin và chức năng của các tế bào khác thông qua 25 ngàn “gen”, cho nên các tế bào gốc đều có tiềm năng để biến đổi thành mọi loại tế bào khác trong cơ thể mà chúng muốn. Điều kiện để tác động đến tiềm năng, quá trình phát triển đó chính là điều kiện môi trường. Tùy vào môi trường yêu cầu, cần loại bỏ tế bào nào thì tế bào gốc có thể biến đổi thành kiểu tế bào đó. Nói cách khác, chính chúng ta mới là người “lập trình” nên các tế bào của chúng ta, thông qua những kinh nghiệm sống, suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta…"
Bác sĩ Lipton giải thích rằng chúng ta thu nhận thông tin từ môi trường và điều chỉnh sinh lý học của cơ thể. Nhưng dĩ nhiên, điều quan trọng chính là nhận thức của chúng ta. Nhận thức sai lầm có thể khiến chúng ta làm những điều chỉnh sai lầm lên cơ thể, thậm chí hủy hoại cơ thể.
Ông đưa ra lời khuyên chí lý: “Nếu như cuộc sống diễn ra không thuận lợi, thay vì tìm cách điều chỉnh “gen”, hãy điều chỉnh tâm trí và thái độ sống” của chúng ta.
Lời khuyên đây của Bác sĩ Lipton mang lại cho tôi nhiều an ủi mỗi khi nhìn lại “số phận” của mình. Nhiều lúc, khi gặp thất bại, tôi thường đổ lỗi cho số phận và dễ bị cám dỗ muốn buông xuôi bỏ cuộc, mặc cho dòng đời xô đẩy. Nhưng nhìn lại, tôi cũng thấy rằng phần lớn những “thành công” tôi có được là do ý chí của tôi, tức ý muốn vươn lên và vượt qua “số phận” của mình.
Tôi vẫn thích xem lại cuốn phim “Karaté kid” được trình chiếu năm 1984. Phim kể về câu chuyện học võ lạ thường của một cậu bé. Đây là một cậu bé ốm yếu, thường bị chúng bạn ăn hiếp. Tức khí, cậu liền đi mua một quyển sách luyện võ về nhà để tự học. Nhưng lý thuyết trong sách vở chẳng giúp được bao nhiêu. Cậu vẫn tiếp tục bị chúng bạn đánh đập.
Một hôm, tình cờ cậu gặp được một ông thày Thái cực đạo, người Nhựt, tên là Miyagi. Cậu kể lể về tình cảnh của mình. Ông thày thương tình liền nhận cậu làm đệ tử. Cậu mừng như gặp được thuốc tiên, cứ tưởng ông thày sẽ dạy cho mình những bài học cao cấp vượt bực. Nhưng ông Miyagi xem ra chẳng truyền cho cậu món nghề nào cả. Ông bảo cậu phải dẹp lý thuyết qua một bên. Sau đó, ông ra lệnh cho cậu  đi tỉa cây cho ông. Ông bảo: nhớ tập trung ý chí vào việc tỉa cây. Khi chạm tay vào cành lá thì ý thức rằng mình đang động tới lá cành.
Mấy ngày sau, cậu bé nài nỉ xin ông dạy võ cho cậu. Nhưng ông lại bảo cậu đi lau xe cho ông. Ông dặn: nhớ lau theo nhịp thở; tay phải xoáy vòng vào thì hít hơi vào, tay trái xoáy vòng ra thì thở hơi ra.
Làm xong công tác, tuy mồ hôi nhễ nhại, cậu bé cũng cố gắng tỏ ra kiên nhẫn, vì nghĩ rằng cứ chịu khó lau xe thì chắc chắn thế nào ông thày cũng truyền nghề cho. Ngày hôm sau, cậu trở lại, nhưng ông thày cũng chẳng chịu truyền cho cậu ngón võ nào cả, mà chỉ bảo cậu đi lau sàn nhà, cũng theo thế xoáy vòng tay theo nhịp hít thở như hôm trước.
Ngày kế tiếp, thay vì được dạy võ như mong đợi, cậu bé lại bị ông thày bắt đi sơn hàng rào gỗ. Ông lại dặn: “Cũng hít thở theo chiều tay lên xuống”. Xong công tác, cậu bé nghĩ bụng: thế nào cũng được truyền nghề. Nhưng ông thày lại bắt cậu phải vào phía trong để sơn tiếp. Lần này, không còn đủ kiên nhẫn nữa, cậu liền phản đối và định bỏ đi. Lúc bấy giờ, ông thày mới giải thích: những gì ta đang truyền cho con làm, chính là luyện võ đó! Karaté có nghĩa là phải trống tay, cho nguồn lực từ bên trong vọt lên. Đừng cậy dựa vào bên ngoài. Lực ở trong đầu. Lực ở trong tâm”. Rồi ông tiếp tục dạy cậu cách giữ thăng bằng khi gặp xung khắc. Cứ thế, nhờ kiên nhẫn tập luyện, cậu bé đã trở thành một cao thủ có thể đánh bại những kẻ bắt nạt mình.
Tôi nghĩ cuộc đời chẳng khác nào một trường luyện võ, vốn là môn học đòi hỏi nhiều kiên nhẫn hơn cả. Và đối thủ cần được vượt qua và đánh bại hơn cả chính là “số phận” của mỗi người. Chúng ta không thể thay đổi được “số phận”, nhưng chúng ta lại có thể vạch ra cho mình một "số mệnh" để đeo đuổi.











Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

Ăn Học, Học Ăn


                                                                        Chu Thập 
Tết Âm lịch 2011

Những ngày đầu năm, cùng với lời cầu chúc “khang an hạnh phúc”, bạn bè cũng thường gởi kèm cho tôi những lời khuyên thực tế. Ở cái tuổi đang bắt đầu “trượt” xuống bên kia sườn đồi của cuộc sống, tôi nhận thấy hầu như quyết tâm đầu năm nào của tôi cũng đều xoay quanh vấn đề sức khỏe. Tựu trung, phải sống như thế nào để được “trường thọ”, phải ăn uống như thế nào để được khỏe mạnh và nhứt là không trở thành gánh nặng cho người thân: đó là tâm niệm đầu năm của tôi.
Trong số những khuôn vàng thước ngọc về việc chăm sóc sức khỏe, tôi đặc biệt chú ý đến bản “Cẩm nang sống năm 2011” mà một ông bạn cùng một “mail đàn” (forum online) đã gởi đến cho tôi nhân dịp chúc Tết. Bản cẩm nang gồm 39 điều tâm niệm bao gồm mọi lãnh vực của cuộc sống từ thể xác đến tâm linh và xã hội. Dường như sức khỏe được xem là quan trọng nhứt, cho nên những lời khuyên về việc ăn uống được đặt lên hàng đầu của bản cẩm nang. Tôi thấy thật dễ nhớ: “một là uống thật nhiều nước, hai là ăn sáng giống như vua, ăn trưa giống như ông hoàng và ăn tối giống như kẻ ăn xin, ba là ăn nhiều thức ăn từ trên cây và ăn ít thức ăn được chế tạo trong nhà máy.”  Đây là 3 “câu kinh” mà tôi đã cố gắng “tụng” và mang ra thực hành từ bao nhiêu năm nay. Nước thì ở Úc này luôn có sẵn và lại trong lành nữa. Sáng nào lúc thức dậy, tôi cũng cố gắng “tu” nguyên một lít. Lúc đầu thấy khó chịu. Nhưng bây giờ, tôi có cảm tưởng như mình chưa sống trọn vẹn một ngày nếu không bắt đầu bằng “nghi thức” này. Còn chuyện “ăn sáng như vua, ăn trưa như ông hoàng và ăn tối như ăn mày” thì tôi thấy cũng chẳng khó khăn gì. Riêng việc ăn hoa quả hái từ trên cây thì một người “nhà quê” như tôi lúc nào cũng chủ trương “trồng lấy” mà ăn, mùa nào ăn thức đó; vừa tiết kiệm lại vừa có được cây trái được bón bằng “phân hữu cơ” thời thượng của người Úc!
Thêm vào “cẩm nang sống năm 2011” trên đây, tạp chí Reader’s  Digest, ấn bản Úc Châu, số ra tháng giêng vừa qua, cũng có một bài viết củng cố quyết tâm đầu năm của tôi. Với tựa đề “Những luật lệ mới về thực phẩm cho năm 2011”, nhà dinh dưỡng học Michael Pollan đã trình bày một số nguyên tắc về ăn uống mà tôi xin được tóm lược như sau:
Nguyên tắc đầu tiên của ông là phải ăn thực phẩm, chứ không phải các hóa chất giống thực phẩm. Tác giả nói rằng mỗi năm có đến 17.000 sản phẩm mới được trình làng trong các siêu thị trên khắp thế giới. Nhưng theo ông, hầu hết các sản phẩm này không đáng được gọi là thực phẩm, mà chỉ là những hóa chất giống thực phẩm. Đây là những sản phẩm đã được chế biến và gồm hầu hết những thành phần mà không một người bình thường nào muốn giữ trong tủ đồ ăn.
Nguyên tắc thứ hai mà tác giả đề nghị là “hãy ăn những thức ăn nào có thể bị hư”. Nghe như có vẻ nghịch lý, nhưng tác giả giải thích rằng thức ăn càng được chế biến thì càng được tinh lọc khỏi các loại nấm, vi khuẩn cho nên cũng càng đánh mất phẩm chất dinh dưỡng của nó. Theo tác giả, thức ăn thực sự phải là thức ăn sống (alive). Như vậy nó cũng có một giai đoạn tươi tốt rồi tiến dần đến chỗ bị hư thối. Không thể “trơ gan cùng tuế nguyệt” được.
Nguyên tắc thứ ba được tác giả Pollan nhấn mạnh là hãy “tránh những thức ăn có chứa đựng hơn 5 thành tố”. Theo nhà dinh dưỡng học này, thức ăn càng có nhiều thành tố là thức ăn càng được chế biến và như vậy càng đánh mất giá trị dinh dưỡng của nó.
Nhưng quan trọng hơn cả trong các nguyên tắc được đề nghị là “nên ăn nhiều hoa quả, nhứt là rau cỏ”. Các nhà khoa học có thể không đồng ý với nhau về bậc thang giá trị của các thức ăn chống oxit hóa, của các thức ăn có chứa chất xơ hay Omega 3. Nhưng tất cả đều cho rằng đây là những thức ăn tốt. Hơn nữa, khi ăn rau quả, chúng ta sẽ không phải tốn nhiều công sức để đốt  năng lượng.
Về rau quả, tác giả cũng khuyên chúng ta nên ăn các loại rau quả có nhiều màu sắc khác nhau. Màu sắc của rau quả phản ảnh những đặc tính chống Oxit hóa khác nhau của từng loại.
Cũng về cây trái, tác giả viết rằng trong thiên nhiên, đường hầu như luôn luôn được chứa đựng cùng một lúc với chất xơ là thành phần làm cho thức ăn được tiêu hóa chậm lại và cho chúng ta cái cảm giác được no trước khi chúng ta “ngốn” vào quá nhiều năng lượng. Do đó, tác giả khuyên chúng ta nên ăn trái cây hơn uống nước ép từ trái cây.
Ngày xưa, chỉ có người giàu mới thích ăn gạo trắng. Ngày nay, phép dinh dưỡng lại bảo chúng ta rằng “gạo càng trắng thì ta càng mau chết”. Tác giả khuyên chúng ta nên ăn cơm và bánh làm từ gạo lức bởi vì trong tình trạng này, thức ăn chứa đựng nhiều chất sơ, sinh tố B cũng như nhiều chất béo lành mạnh.
Cuối cùng, tôi nghĩ đây có lẽ là nguyên tắc quan trọng nhứt trong dinh dưỡng học: “Hãy ngừng ăn trước khi đầy bụng”. Người Nhựt bản thường trích dẫn nguyên tắc “hara hachi bu”, theo đó chỉ nên ăn đến 80 phần trăm khả năng chứa đựng của bao tử. Truyền thống Ayurvedic bên Ấn độ khuyên dân chúng ăn đến khoảng 75 phần trăm sức chứa của bao tử. Người Trung hoa thì lại bảo chúng ta phải dừng lại khi bụng đã đầy đến 70 phần trăm. Riêng tiên tri Mahomet có nói rằng một cái bụng đầy là một cái bụng chỉ chứa một phần ba thức ăn, một phần ba chất lỏng và một phần ba không khí, nói cách khác, nghĩa là một phần ba bụng trống.
Những nguyên tắc về dinh dưỡng trên đây xem ra không phải là những khám phá mới. Tôi đã từng được đọc ở đâu đó và cũng đã từng mang ra thực hành. Đầu năm và nhứt là đầu năm trong giai đoạn xế chiều của cuộc đời này, tôi bỗng “ngộ” ra một điều là chuyện “ăn uống”, ai cũng cho là “ngon ăn”, vậy mà rốt cục, so với những môn học khác, nó lại là cái môn “khó nuốt” nhứt. Người Việt nam nào cũng biết rằng bài học cơ bản, đầu tiên vẫn là “học ăn”: học ăn rồi mới tới học nói học gói học mở…Ông bà chúng ta ngày xưa chẳng có chút kiến thức nào về dinh dưỡng học và ngay cả về vệ sinh thường thức. Cho tới cái tuổi sắp có trí khôn, tôi vẫn có thể nhớ như in hình ảnh mẹ tôi nhai cơm mớm cho cô em gái út của tôi. Chắc chắn, cái miệng nhai trầu của mẹ tôi cũng đã từng nghiền nát thức ăn để mớm cho tôi. Hình ảnh bà “già trầu” mớm cơm cho con ăn cũng đẹp chẳng kém gì hình ảnh của con chim cánh cụt cố gắng chắt mót những giọt sữa còn sót lại trong cơ thể để trao cho đứa con vừa thoát ra khỏi vỏ hay hình ảnh của gà mẹ, chim mẹ xẻ từng hạt thóc ra cho đàn con của mình. Học ăn là như thế. Ăn, như thế, cũng có nghĩa là chia sẻ một phần sự sống của mình cho người khác.
Bài học ấy lại càng được làm sáng tỏ hơn khi ông bà chúng ta dạy “ăn coi nồi ngồi coi hướng”. Tựu trung, thái độ nhân bản nhứt khi ngồi vào bàn ăn chính là phải ý thức về sự hiện diện của người ngồi đồng bàn với mình. Ăn là ăn cùng, ăn với người khác.
Lúc tôi còn nhỏ, gia đình tôi không thuộc thành phần khá giả hay quanh năm ngày tháng có của ăn của để. Nhưng nhờ một bà mẹ biết vun vén, chắt chiu cho nên tôi có cái may mắn được gởi vào học trong một dòng tu Công giáo. So với lũ trẻ chăn trâu trong làng, tôi được xem là người có “ăn học” (đúng theo nghĩa đen), nghĩa là vừa được ăn uống tuy không ngon nhưng đầy đủ vừa có được chút “chữ nghĩa”. Suốt thời gian “tu học” này, tôi nhận thấy chuyện “học ăn” vẫn là một trong những điều cam go nhứt. Trong lớp, chúng tôi ganh nhau từng điểm học đã đành, trên sân cỏ chúng tôi cũng sống chết với nhau trong từng đường banh cú sút. Nhưng ở vào cái tuổi mới lớn, dành ăn là chuyện thường. Mỗi bàn ăn trong nhà cơm thường có 4 chỗ, các món ăn được chia phần cho 4 người. Vậy mà nhiều bữa, vừa ngồi xuống, có thằng “mất dạy” đã dành lấy hai phần ăn. Vậy là một thằng trong 4 đứa đành trơ mỏ ngậm miệng ăn cơm với nước mắm. Có khi, thua một bữa cá độ bóng tròn hay bóng chuyền, phần tráng miệng hay ngay cả phần ăn chính cũng thuộc về kẻ chiến thắng. Vậy mà nó chẳng “ăn coi nồi ngồi coi hướng” gì cả. Mặc cho ánh mắt “van xin” của kẻ chiến bại, nó vẫn cứ an nhiên tự tại “chén” trọn phần dành cho kẻ chiến thắng.
Suốt thời trung học, tôi thấy “học ăn” vẫn là môn khó nhứt. Tuần nào, trong giờ học về phép lịch sự, chúng tôi cũng được nhắc nhở rằng ngồi trên bàn ăn không nên chống cùi chỏ trên bàn, miệng đang nhai không được nói cũng không được nhai “nhóp nhép”…Mấy cái phép lặt vặt ấy thì tôi thấy dễ nhớ và cũng dễ thực hành. Nhưng cái chuyện “ăn coi nồi ngồi coi hướng” thì quả là gay go. Nó gay go là bởi chạm đến con người của mình. Tư cách con người thường dễ lộ ra trên bàn ăn. Ích kỷ hay vị tha, tôn trọng hay bất kính, nhường nhịn hay ăn thua đủ, tự chế hay gây hấn…thường được biểu lộ khi có miếng vào miếng ra hay nhứt là khi rượu vào lời ra. Do đó, cho tới giờ này, sau bao nhiêu năm được cho “ăn học” đầy đủ, với không biết bao nhiêu kiến thức được tiếp thu trong trường đời, qua không biết bao nhiêu tiếp xúc và va chạm, tôi vẫn còn chưa bao giờ “tốt nghiệp” ở cái trường học làm người trong đó môn “học ăn” là điều cơ bản nhứt.
Với tôi, chỉ khi nào thấy mình hoàn toàn biết sống vị tha, lúc đó tôi mới dám tự nhận mình đã thực sự đã “học ăn”. Bao lâu miếng ăn vẫn còn là miếng tồi tàn, khiến tôi có thể nhắm mắt làm ngơ trước cái đói, nỗi khổ đau của người đồng loại để ôm chặt lấy “hầu bao” của mình và ung dung ngồi thưởng thức của ngon vật lạ trên bàn ăn, thì cho dù có là người được “ăn học”, tôi vẫn chưa phải là người đã “học ăn”. Là một tín hữu Kitô, tôi thường suy niệm về bài dụ ngôn “người nghèo Lazaro” trong sách Tin mừng theo thánh Luca. Với tôi, đây là một trong những trang đẹp nhứt trong các sách Tin mừng. Nếu người môn đệ của Chúa Giêsu thực thi lời dạy của Ngài qua câu chuyện này thì họ đã sống cái cốt lõi của Đạo. Chuyện kể về một người giàu có ngày ngày yến tiệt linh đình. Ngay trước cổng nhà người giàu, có một người nghèo, ghẻ chóc đầy mình, thèm được ăn những mảnh vụn từ bàn ăn của ông rơi xuống. Nhưng mặc cho chó có đến liếm vào người hành khất, người phú hộ vẫn ăn uống như thể không hề có sự hiện diện của một người nghèo ngay trước cổng nhà mình. Thế rồi cả hai đều chết, người nghèo được siêu thoát, người giàu bị trầm luân…Qua câu chuyện này, Chúa Giêsu muốn nhắn gởi cho các môn đệ của Ngài rằng nếu người giàu có bị trầm luân là bởi ông đã có cuộc sống “ác đức” và hành vi ác đức của ông chính là sống dửng dưng trước nỗi khổ đau của người đồng loại.
Thời gian gần đây, tôi thường suy nghĩ về điều này sau khi theo dõi bài phóng sự của phóng viên Alastair Leithhead của đài BBC (x. Việt Luận Tết tân mão 2011). Ký giả này ghi lại một số hình ảnh về cuộc sống ăn chơi của giới tư bản đỏ tại Việt nam như những chiếc xe hơi đắt tiền, những chiếc xe mô tô Harley mà một thành viên của câu lạc bộ chơi xe nói rằng “không có nơi nào khác trên thế giới có nhiều xe sang” như ở Việt nam. Nhưng điều được phóng viên Leithhead chú ý nhứt chính là tô phở giá 35 Mỹ kim tại Hà nội. Trong tiệm phở, một thực khách thú nhận với phóng viên Leithhead rằng “ông vừa ăn món phở đặc biệt của nhà hàng và gần như cảm thấy có lỗi khi nói với phóng viên này rằng ông làm việc cho chính phủ”. Thì ra ở Việt nam vẫn còn có những “quan chức” có một lương tâm còn một ít răng để “cắn rứt”. Phóng viên Leithhead còn nhìn thấy một Ủy viên Trung ương Đảng bước nhanh ra khỏi cửa và chui vào một chiếc Mercedes. Liệu khi ăn tô phở giá 35 Mỹ kim, các quan chức này có còn biết xốn xang hay xấu hổ không?
Không rõ ai đó đã nói: trong một đất nước nghèo nàn, mình được ăn sung mặc sướng là một điều đáng xấu hổ.
Ăn là một “chuyện thường ngày ở huyện” mà ai cũng phải có cho đến mãn đời. Còn sống thì còn phải ăn. Cho nên chuyện “học ăn” của tôi cơ hồ không có ngày “ra trường”. Nhưng ít ra, trong lúc này tôi cũng cố gắng tránh cái cảnh ăn rồi sinh bịnh hay ăn rồi lại thấy xốn xang, áy náy.
Ngồi ăn bữa cơm đạm bạc một mình mà vẫn thấy ngon miệng, vẫn thấy gần gũi với những người cùng khổ cũng có thể gọi là một nghệ thuật ăn.





Thứ Hai, 30 tháng 1, 2017

Bài học ngày Tết


Chu Thập
Tết Đinh Dậu 2017
Người già thường lội ngược dòng thời gian để  trở về  với tuổi thơ bởi vì tuổi thơ có nhiều kỷ niệm đẹp và đáng nhớ hơn cả. Một trong những kỷ niệm đẹp nhứt trong tuổi thơ của tôi dĩ nhiên là ba ngày Tết. Chỉ có đến Tết, trẻ con nhà nghèo như tôi mới được mỗi năm một lần mặc quần áo mới. Chỉ có Tết, trẻ con đói ăn như tôi mới được ăn no và no đến cành hông “phát ách”. Chỉ có Tết, trẻ con với cái túi quần quanh năm ngày tháng trống rỗng như tôi mới có rủng rỉnh chút đỉnh vài đồng bạc cắc để “bầu cua cá cọp” với bạn bè. Nhưng đáng ghi nhớ nhứt về ba ngày Tết đối với tôi chính là những bài học vỡ lòng về đối nhân xử thế.
Tôi vẫn còn nhớ như in cứ mỗi sáng sớm ngày đầu năm, sau khi được cho mặc quần áo mới, tôi được mẹ bắt phải ôn lại câu chào hỏi và “mừng tuổi”, tức chúc Tết, mà tôi phải đọc làu làu trước mặt tất cả những người lớn tuổi trong họ hàng nội ngoại. Mẹ tôi dặn phải khoanh tay và cúi đầu chào như thế nào, phải khoan thai đọc rõ từng lời chào, câu chúc. Mẹ tôi còn bảo đảm rằng cái túi của tôi có căn phồng tiền lì xì hay không là tùy tôi “trả bài” có xuôi chảy hay không. Và quan trọng hơn cả, mẹ tôi dặn di dặn lại rằng sau khi nhận tiền lì xì, phải cúi đầu và thưa “con cám ơn” cho thật rõ ràng. Chỉ cần đi một vòng các gia đình nội ngoại từ đầu trên xuống xóm dưới trong không quá một tiếng đồng hồ trong ngày mùng Một Tết là tôi đã thuộc nằm lòng công thức chào hỏi, chúc Tết và cám ơn mà mẹ tôi đã dạy. Tôi vốn là một đứa trẻ ngổ ngáo và “mất dạy”. Vậy mà cái bộ nhớ thơ dại của tôi vẫn còn đủ mềm mại để được uốn nắn và ghi lại bài học vỡ lòng ấy. Một cách nào đó, tôi đã học làm người ngay từ cái tuổi thơ dại ấy.
Nhưng người ta đâu chỉ học làm người từ tuổi thơ. Tuổi thơ cũng dạy cho người lớn rất nhiều bài học. Khi nói đến “người thày” tuổi thơ, tôi thường nghĩ đến sự trong trắng, hồn nhiên, chân thành, vui tươi, vô tư và lạc quan của trẻ con. Nhưng còn có một bài học  khác quan trọng hơn trong cách đối nhân xử thế mà trẻ con có thể dạy cho tôi, đó là tấm lòng quảng đại và vị tha.
Đây là bài học mà tôi đã học được từ đứa cháu ngoại 3 tuổi của bà chị của tôi. Cứ mỗi lần thấy người lớn bận bịu với công việc nhà như nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa hay làm vườn, nó thường đến gần và nói bằng tiếng Anh: “I want to help!” hay “I am happy to help!” (Con muốn giúp đỡ. Con thích giúp đỡ). Lần đầu tiên, khi nghe một câu nói như thế xuất phát từ miệng của một đứa trẻ 3 tuổi, tôi cứ tưởng như đó là tiếng nói của một vị thiên thần nào đó. Tôi cứ đinh ninh rằng  bà chị tôi đã khéo dạy đứa cháu ngoại như thế. Nhưng chị tôi nói rằng nó đã học được bài học đó từ màn ảnh truyền hình và nhứt là ở nhà trẻ. Tôi nghiệm ra một điều: trẻ con có thể  học làm người từ lúc bập bẹ biết nói và nhứt là từ lúc đi đến nhà trẻ là môi trường xã hội đầu tiên của nó.
Lâu lắm rồi, tôi có đọc một  cuốn sách có tựa đề “All I Really Need to Know, I learned in Kindergarten” (Tất cả những gì tôi thực sự cần biết, tôi đã học được trong trường mẫu giáo). Cuốn sách này đã được một mục sư tin lành người Mỹ là ông Robert Fulghum viết cách đây  đã 30 năm. Cuốn sách đã cũ, những có giá trị vượt thời gian.
Tôi không được may mắn như Mục sư Fulghum, vì tôi đã chẳng bao giờ có cơ hội để học được những bài học vỡ lòng như thế ở trường mẫu giáo. Tôi không thể nào quên được ngày đầu tiên cắp sách đến trường. Đó là một buổi sáng khi tôi vừa mới được 5 tuổi. Mẹ tôi mua cho tôi một cuốn vần rồi dắt tôi đến “trường mẫu giáo” của làng tôi. “Trường mẫu giáo” của làng tôi thật ra chỉ là một cái phản bằng tre nằm bên chái của  một ngôi nhà tranh thấp lè tè. Học sinh mẫu giáo trong làng tôi gồm khoảng 20 đứa trẻ. Tất cả đều ngồi xếp bằng trên chiếc phản đó. Còn cô giáo là một người đàn bà độc thân mà chúng tôi quen gọi là “Cô Sáu Thay”. Không biết cô đã bao nhiêu tuổi. Nhưng miệng cô không còn một cái răng nào cả. Vậy mà lúc nào cô cũng ngậm một điếu thuốc rê. Mỗi buổi sáng, sau khi cho lũ trẻ yên vị trên phản và bắt đầu “tụng” a, á, ớ, bê, xê, dê, đê...cô lủi ra vườn để xắt chuối nấu cháo heo. Thỉnh thoảng, những lúc bầy ve trên phản im tiếng hay hò hét, cãi cọ hoặc đánh nhau, cô liền cầm cây roi bằng tre chạy vào và đập liên hồi xuống một khoảng trống trên phản. Trật tự được vãn hồi, lũ ve bắt đầu lại bài trường ca “a,á, ớ, bê, xê, dê, đê...” và cô lại tiếp tục đi xắt chuối...Vậy mà như một phép lạ, sau một năm mài mấy cái quần trên phản của nhà Cô Sáu Thay và xé không dưới 5 cuốn vần, tôi tốt nghiệp trường mẫu giáo; không biết chữ nghĩa đã chui vào đầu tôi như thế nào mà tôi đã có đủ trình độ để lên tiểu học. Chỉ có điều, ngoài 24 chữ cái ra, Cô Sáu Thay chẳng dạy cho tôi bài học làm người nào cả.
Trẻ con ngày nay may mắn hơn. Văn minh đích thực cũng đồng nghĩa với tử tế. Ngay từ trường mẫu giáo, học sinh đã học được một số bài học về làm người tử tế như được Mục sư Fulghum ghi lại trong cuốn sách của ông: “Chia sẻ mọi sự, chơi đúng luật, không đánh người khác, lấy chỗ nào thì phải trả lại chỗ đó, dọn dẹp cho ngăn nắp, không lấy của người khác, hãy xin lỗi nếu xúc phạm đến người khác, rửa tay trước khi ăn, kéo nước sau khi đi vệ sinh....” Tôi nghĩ đây là “thập tự giới” trong đạo đức làm người không những  cần phải dạy cho học sinh mới cắp sách đến trường, mà cả người lớn, nhứt là những người có địa vị trong xã hội, cũng phải mang ra tụng niệm và thực hành mỗi ngày nếu muốn sống cho ra người trưởng thành, văn minh và tử tế.
Giáo sư Karlyn Crowley, giám đốc của Trung tâm “Cassandra Voss”, Hoa Kỳ  (chuyên về giáo dục và gây ý thức về giới tính) có lẽ đã nghĩ đến chuyện học làm người mà chẳng có ai dám tự phụ vỗ ngực cho rằng mình đã tốt nghiệp, cho nên nhân ngày tân Tổng thống Donald Trump tuyên thệ nhậm chức hôm thứ Sáu 20 tháng Giêng vừa qua, bà mới viết trên báo mạng “Psychology Today” một bài với tựa đề: “Gởi tân Tổng thống của chúng ta: lời khuyên từ những đứa trẻ 5 tuổi” (To Our New President: Advice From 5-year Olds). Tác giả có nhắc đến cuốn sách của Mục sư Fulghum và kể lại rằng  cô giáo của trường mẫu giáo nơi con gái bà đang học đã hỏi các học sinh chỉ mới 5 và 6 tuổi như sau: “Các em muốn khuyên gì cho tân tổng thống của chúng ta?” Và lời khuyên mà các em học sinh mẫu giáo đã nhắn gởi cho tân tổng thống Mỹ có nội dung như sau: “Hãy tử tế với mọi người. Hãy biết nghĩ đến người khác. Hãy biết tôn trọng người khác. Hãy cố gắng hết sức. Hãy giúp đỡ người khác. Hãy chia sẻ. Hãy tỏ ra lịch sự tử tế trong lời nói. Hãy biết cộng tác. Hãy tỏ ra công bình. Hãy lắng nghe người khác khi họ đang nói. Đừng bao giờ tỏ ra đê tiện. Muốn được người khác đối xử như thế nào thì cũng hãy đối xử với họ như vậy...”
Giáo sư Crowley viết: “Tôi đã khóc khi đọc danh sách (những lời khuyên trên đây). Chúng đơn sơ. Nhưng thật là thiết yếu. Những học sinh mẫu giáo này nắm bắt được điều mà người lớn không nhận ra. Các em đưa chúng ta trở về với những nguyên tắc nền tảng (trong cuộc sống). Đó là những nguyên tắc mà chúng ta cần phải có để đối thoại với người khác...”
Tôi không biết những lời khuyên từ các em học sinh mẫu giáo trên đây có đến tay tân Tổng thống Donald Trump không và liệu ông có muốn đón nhận những lời khuyên từ miệng của những người cần được lắng nghe hơn cả là những đứa trẻ 5, 6 tuổi này không.
Tổng thống Trump đã được chính dân chúng Mỹ bầu lên. Đây không chỉ là chiến thắng riêng của ông, mà là của dân chúng Mỹ và của nền dân chủ Mỹ. Ông quả là một người tài ba. Nhưng theo dõi những cử chỉ, lời ăn tiếng nói, những phản ứng của ông  trong suốt cuộc vận động bầu cử và ngay cả trong 2 tháng chuẩn bị tuyên thệ nhậm chức, cứ dựa theo những bài học vỡ lòng như Mục sư Fulghum đã ghi nhận và lời khuyên của các em học sinh mẫu giáo trên đây, tôi e rằng ứng cử viên Trump dường như hoặc chưa từng cắp sách đến trường mẫu giáo hoặc chẳng bao giờ học những bài học vỡ lòng về học làm người hoặc có học mà chẳng bao giờ muốn mang ra áp dụng cả.
Trật tự thế giới có lẽ đã thay đổi liền sau khi Tổng thống Trump tuyên thệ nhậm chức. Và Hoa Kỳ cũng đã thay đổi, như ông đã nói trong bài diễn văn nhậm chức, “tại đây, lúc này” ngay khi ông vừa tuyên thệ. Tốt hay xấu thì tôi không biết, nhưng chắc chắn đã có sự thay đổi trong nước Mỹ kể từ giây phút Tổng thống Trump nhậm chức. Và tôi cũng hy vọng rằng những lời khuyên nền tảng của các em học sinh mẫu giáo sẽ giúp chính ông thay đổi và trưởng thành hơn. Và như một trong 18 phụ tá đã từng làm việc trong Tòa Bạch Ốc dưới hai nhiệm kỳ của cựu Tổng thống Barack Obama đã so sánh: thắng cử cũng giống như những cuộc thi đấu bóng rổ ở địa phương nhỏ thôi, còn làm việc tại Tòa Bạch Ốc mới thực sự là những trận đấu cấp quốc gia. Viên phụ tá này khuyên: “Bạn không thông minh như bạn nghĩ đâu...Hãy tỏ ra hết sức khiêm tốn, bởi vì bạn sẽ chóng nhận ra rằng sẽ có những điều bất trắc không lường được và làm những quyết định là một việc rất phức tạp” (x. Time 22/1/2017 trg 25).
Đầu năm Âm Lịch, khi ôn lại bài học vỡ lòng về làm người trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc và đọc được lời khuyên của các em học sinh mẫu giáo Mỹ gởi cho tân Tổng thống Trump, tôi thấy phải luôn tự nhủ: mình đã thêm tuổi và già đầu, nhưng cũng vẫn chưa bao giờ dừng lại trong sự trưởng thành. Còn sống là còn phải cố gắng để trưởng thành hơn. Trưởng thành hơn, nhứt là trong cách cư xử với người khác.
Ở tuổi thơ, khi đi “mừng tuổi” người lớn, tôi được lì xì. Tôi xem đó như một phần thưởng dành cho những cố gắng học làm người của tôi. Ngày nay, tôi không còn trông đợi một phần thưởng như thế nữa. Có chăng là mỗi lần cố gắng sống tử tế với người khác, tôi cảm thấy mình bước thêm một bước trong tiến trình trưởng thành vốn không bao giờ có điểm đến. Phải chăng đó không phải là phần thưởng đáng mong đợi sao?