Thứ Tư, 15 tháng 6, 2016

Đồng Đạo






Chu Thập
18.9.12

Tôi sinh ra và lớn lên trong một ngôi làng, xét về mặt tôn giáo, rất đặc biệt. Làng tôi được chia thành ba “xóm”. Dọc theo tỉnh lộ là “xóm đạo”, tức “đặc khu” của người Công giáo. “Xóm đồng”, tức gần đồng ruộng, gồm toàn những người mà người Công giáo chúng tôi gọi là “người bên lương”, người “ngoại đạo”. Nhưng khu mà chúng tôi gọi là “xóm dưới” lại  là nơi sống chung hòa bình giữa “lương giáo”.
Tôi chưa từng nghe nói đến lịch sử của ngôi làng của tôi. Không biết “lương” hay “giáo”, ai là cư dân đầu tiên của ngôi làng ở miền trung Trung Việt này. Chỉ có một điều chắc chắn là “xóm giáo” của tôi có lẽ đã hiện diện trong ngôi làng này ít nhứt cũng đã trên 200 năm. Thật ra cho tới nay, chẳng có người dân làng nào mất giờ để điều tra hay tranh cãi về chỗ đứng “lịch sử” của mình trong làng cả. Tất cả mọi người, không phân biệt tôn giáo, đều sống chung hòa bình với nhau có lẽ theo cái truyền thống “tam giáo đề huề” vốn đã có từ  xa xưa. Vả lại, dù có khác tôn giáo, giây mơ rễ má giữa “lương giáo” lại chằng chịt với nhau. Chính vì “chín đời không nhìn trời đánh” mà tôi có rất nhiều chú, bác, cô, dì, cậu...là người “bên lương”. Ra đường chào mệt nghỉ thôi. Không gặp nhau trong nhà thờ thì cũng giáp mặt nhau ngoài bờ ruộng, bên sông nước.
Có lẽ để “giữ đức tin” chăng, người Công giáo luôn tỏ ra khắng khít với nhau hơn. Chuyện cưới hỏi rất khắt khe. Có lỡ thương ai khác đạo thì cũng đành ca bài “tình chỉ đẹp khi còn dang dở” thôi. Còn muốn làm dâu làm rể trong xóm đạo của tôi thì đành phải bỏ đạo của mình để mà “trở lại đạo” của chúng tôi. Chuyện giáo dục con em thì lại càng khó khăn hơn: phụ huynh Công giáo “buộc” phải cho con em theo học trong trường của giáo xứ do các nữ tu điều khiển. Ngoài các môn học chính trong trường, mỗi ngày thứ Năm, tức ngày nghỉ,  trẻ con Công giáo còn phải theo học một giờ giáo lý mà ngày xưa chúng tôi gọi là “chín thiên mười giái”, tức 9 bài học về các tín điều phải tin và 10 giới răn phải tuân giữ. Không rõ do xích mích như thế nào đó với ông cha sở mà cha tôi đã “nổi loạn” bằng cách lôi cổ ông anh kề của tôi ra khỏi trường giáo xứ và gởi xuống học ở “trường tỉnh”, tức trường công.
Nhưng dù theo bậc tiểu học ở đâu, lên đến bậc trung học, học sinh “lương giáo” chúng tôi đều trở thành bạn học của nhau cả. Biên giới của tôn giáo lại càng được vượt qua hơn khi chúng tôi ra sân cỏ, bởi vì ở đây không có màu cờ hay sắc áo của tôn giáo, mà chỉ có một đội banh duy nhứt là đội banh của làng mà thôi. Hễ gặp nhau là vui vẻ cả làng, bất luận theo tôn giáo nào.
Tôi giới thiệu vài nét về ngôi làng của tôi như thế là để khẳng định một điều: rõ ràng là các tín đồ của các tôn giáo khác nhau vẫn có thể sống chung hòa bình với nhau. Điều này đã từng có trong ngôi làng nhỏ bé của tôi và trên toàn cõi Việt nam. Điều này cũng đã từng xảy ra ở khởi đầu lịch sử của Kitô giáo tại Trung đông. Điển hình nhứt phải kể đến trường hợp Liban: tại đây các tín hữu Kitô và người Hồi giáo đã từng sống chung hòa bình với nhau trong hằng bao thế kỷ và ngày nay thực thi một hình thức dân chủ độc nhứt vô nhị: tổng thống nước này luôn là một tín hữu Kitô và thủ tướng là một người Hồi giáo. Cuộc sống chung hòa bình và chia sẻ quyền lực một cách hài hòa như thế đã có một thời làm cho Liban trở thành một quốc gia thịnh vượng được mệnh danh là Thụy sĩ của Trung đông.
Quyền lực và tham vọng dễ gây chia rẽ. Và tôn giáo là con mồi dễ bị quyền lực và tham vọng nuốt trửng nhứt. Lịch sử của Kitô giáo có thể là một điển hình. Khi mới được khai sinh, Kitô giáo, như Chúa Giêsu đã báo trước, chỉ là “một đàn chiên nhỏ bé” bị bách hại dã man. Nhưng vào thế kỷ thứ 4, khi hoàng đế  Constantino “trở lại” ki tô giáo, cả đế quốc La mã đã cùng với ông  đã  “được” hay bị “rửa tội” và Kitô giáo đã trở thành quốc giáo. Một khi quyền lực chính trị muốn thống trị tôn giáo thì đương nhiên đạo lý của tôn giáo cũng bị bóp méo, lèo lái cho đúng với tham vọng chính trị của người đang nắm quyền cai trị. Trong hàng bao thế kỷ, người ta vẫn mặc nhiên chấp nhận châm ngôn: vua theo đạo nào thì thần dân cũng phải theo đạo ấy (cujus regio, ejus religio). Đó là diền mối của bao nhiêu cuộc chiến tranh vì tôn giáo, từ các cuộc thập tự viễn chinh cho đến những cuộc chiến tranh giữa Tin lành và Công giáo ở Âu châu trước kia và ngay cả ngày nay vẫn còn âm ỉ tại Bắc Ái nhĩ lan.
Thật ra, có chiến tranh là chiến tranh giữa những người không cùng một tôn giáo mà thôi. Giữa các tôn giáo làm sao có chiến tranh được, bởi vì tôn giáo nào mà chẳng khuyên con người ăn ngay ở lành, sống hòa thuận, tránh chiến tranh và xây dựng hòa bình. Có Đấng Sáng Lập tôn giáo nào mà chẳng dạy con người sống yêu thương, nhẫn nhục, cảm thông và tha thứ?
Nhân danh tôn giáo để gây chiến tranh, bạo động hay khích động hận thù là chối bỏ sự chân chính của tôn giáo mình đang theo, là bôi nhọ và xúc phạm đến chính Đấng sáng lập tôn giáo. Những cuộc bạo động của những người Hồi giáo quá khích trên khắp thế giới trong những ngày vừa qua không chỉ tố cáo những kẻ xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người khác khi bôi nhọ Đấng sáng lập tôn giáo của họ, mà cũng cho thấy rằng con người cũng có thể bôi bác hình ảnh của Đấng sáng lập tôn giáo khi xử dụng bạo động và hận thù để gọi là trừng phạt kẻ xúc phạm đến tôn giáo của mình.
Ở vào thời đại mà hai chữ khoan nhượng luôn được đề cao, tôi không thể hiểu được tại sao vẫn có những người ngang nhiên xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người khác khi tìm cách báng bổ Đấng sáng lập tôn giáo của họ. Năm 1989, tác giả Salman Rushdie, người Anh gốc Ấn độ đã phải trốn chui trốn nhủi sau khi cho xuất bản cuốn sách có tựa đề “The Satanic Verses” (những vần thơ ác quỷ) có nội dung bôi bác, xúc phạm đến tiên tri Mahomet. Năm 2004, ông Theo Van Gogh, một nhà đạo diễn người Hòa lan đã bị giết chết  vì làm một cuốn phim để lên án sự đối xử tệ bạc của Hồi giáo đối với phụ nữ. Năm 2005, những bức hình hí họa bôi bác tiên tri Mahomet được đăng trên một tờ báo tại Đan Mạch cũng đã tạo nên một làn sóng phản đối bạo động tại nhiều nước. Khiêu khích nhứt có lẽ là hành động đốt Kinh Coran của mục sư Terry Jones tại tiểu bang Florida, Hoa kỳ.
Nhưng có lẽ chưa có hành động khiêu khích và xúc phạm nào kích động hận thù của những người Hồi giáo quá khích trên khắp thế giới cho bằng cuốn phim có tựa đề “The  Innocence of Muslims” (sự ngây ngô của người hồi giáo) được sản xuất tại Hoa kỳ mà cho tới nay người ta vẫn chưa biết ai là đạo diễn hay nhà sản xuất. Cuốn phim  không những gọi Hồi giáo là một “ung nhọt” của thế giới, mà còn vẽ ra một tiên tri Mahomet với những nét thô tục không thể chấp nhận được.
Xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người khác là điều đáng lên án đã đành, nhưng xử dụng bạo lực và giết người, nhứt là những người vô tội như ông Chris Stevens, đại sứ Hoa kỳ tại Lybia và một số nhân viên sứ quán Mỹ tại đây, cũng là một hành động bôi bác tôn giáo và xúc phạm đến Đấng sáng lập tôn giáo của mình không kém.
Tôi tin chắc rằng nếu Tiên Tri Mahomet có trở lại trần gian thì chắc chắn ngài cũng chẳng “chấp nê” chuyện người ta bôi bác mình. Và dĩ nhiên, ngài cũng chẳng hề ban hành giáo lệnh “Fatwa” để truy lùng những kẻ “vô đạo” chối bỏ hay xúc phạm đến ngài.
Thế giới Tây phương luôn có một cái nhìn lệch lạc về tiên tri Mahomet. Tây phương có cả một lịch sử dài về thù nghịch đối với người Hồi giáo. Lịch sử ấy bắt nguồn từ thời Thập tự viễn chinh. Vào thế kỷ 12, các tu sĩ Kitô giáo tại Âu châu nhấn mạnh rằng Hồi giáo là một tôn giáo bạo động và Mahomet là người có chủ trương truyền đạo bằng gươm giáo. Chính cái nhìn lệch lạc ấy khiến cho Tây phương khó có thể có một cái nhìn khách quan về tiên tri Mahomet. Ngày nay, một số cơ quan truyền thông Tây phương vẫn còn giữ thái độ thù nghịch đối với vị tiên tri này. Có người cho rằng ngài là kẻ “nghiện ngập chiến tranh”. Có người còn đi xa hơn khi bảo ngài là một tên khủng bố và ấu dâm.
Trong cuốn sách có tựa đề “Mahomet: tiên tri cho thời đại chúng ta” (Muhammad: prophet for our time, NXB Harper Press, 2006), tác giả Karen Amstrong, người đã từng là một nữ tu Công giáo và hiện đang là một trong những nhà chuyên môn có thế giá về lịch sử các tôn giáo, viết rằng “cả cuộc đời của tiên tri Mahomet là một cuộc “thánh chiến” (Jihad). Theo tác giả, Jihad không hề có nghĩa là chiến tranh tôn giáo hay nhân danh tôn giáo, mà là một cuộc chiến đấu nội tâm để chống lại những khuynh hướng thấp hèn trong bản thân như lòng tham lam, tính kiêu ngạo. Nói tóm lại, tiên tri Mahomet không hề là một con người bạo động.
Giả như ngài có xuất hiện trong đám đông người Hồi giáo biểu tình phản đối trước tòa lãnh sự Mỹ tại Sydney hồi tuần qua, có lẽ ngài không những không cảm thấy hãnh diện chút nào, mà còn hãi hùng là khác khi nhìn thấy trong đám đông có một phụ nữ Hồi giáo dắt theo một đứa con nhỏ trên tay có cầm một tấm bảng với hàng chữ “Chặt đầu tất cả những ai lăng mạ Đấng Tiên Tri”. Ngài cũng sẽ khiếp sợ biết bao khi đến Pakistan để chứng kiến cảnh một giáo sĩ Hồi giáo dàn dựng chuyện đốt kinh Coran để có cớ bắt và kết án tử hình một em bé gái mắc bệnh Down. Nói gì đến Afghanistan. Liệu ngài có dám đến đó để gặp gỡ và khuyến dụ người Taliban từ bỏ bạo động không?
Không riêng Tiên Tri Mahomet mà bất cứ Đấng sáng lập tôn giáo nào cũng thế thôi. Các ngài chỉ mong có một thế giới hòa bình và khoan nhượng, trong đó, bất luận thuộc tôn giáo nào, mọi người đều có thể sống chung hòa bình với nhau, bởi vì cốt lõi của tôn giáo chính là tình thương, sự khoan nhượng, lòng cảm thông và tha thứ. Trái lại, yếu tính của vô đạo không phải là chối bỏ thế giới vô hình, mà là rao giảng và gieo rắc hận thù và bạo động.
Danlambao Blog, một trang mạng được nhiều người Việt nam trong nước theo dõi, trong một số ra dạo đầu tháng 7 vừa qua, có trích đăng một bài viết từ một trang mạng có tên là Tanyth Lawless với tựa đề: “Giáo chủ Cộng sản: Karl Marx là người thờ quỷ Sa tăng”. Với sự tham khảo rộng rãi từ nhiều nguồn tài liệu, bài viết có trích lại một bài thơ của K.Marx với tựa đề “Lời khẩn cầu của kẻ tuyệt vọng” (Invocation of One in Despair), trong đó có một câu như sau: “Ta không còn lại gì ngoài thù hận”.
Chủ nghĩa cộng sản không chỉ đề ra một giải pháp kinh tế cho thế giới. Chủ nghĩa này thiết yếu là một tôn giáo và là một tôn giáo xây dựng trên hận thù. Tác giả của bài báo trên trang mạng Danlambao viết: “Marx đối với nhân loại không hề có yêu thương, mà chỉ có thù hận. Hơn 100 năm qua, chủ nghĩa cộng sản thực tiễn đã thực hiện giấc mộng của tín đồ Sa tăng. Marx đã đem đến cho nhân loại tai ương và thống khổ lớn phi thi thường”. Thù hận là tên gọi đích thức của vô đạo.
Tôi được sinh ra và lớn lên như một tín hữu Kitô. Như Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, đã nói “tôn giáo nào bạn cho là tốt nhứt đối với bạn, thì đó là tôn giáo tốt nhứt”, tôi vẫn xem Kitô giáo là tôn giáo tốt nhứt đối với tôi. Nhưng không vì thế mà tôi dám khinh thường các tôn giáo khác. Tôi xác tín rằng không gì làm “ố danh đạo” của tôi và xúc phạm đến Đấng sáng lập tôn giáo của tôi cho bằng nhân danh Ngài để cư xử bạo động và hận thù dù dưới bất cứ hình thức nào.
Mỗi tuần tôi đến nhà thờ một lần để gặp gỡ với những người chia sẻ cùng một niềm tin với tôi. Nhưng trong cuộc sống hằng ngày, tại công sở, nơi phố chợ, trên đường đi, bất cứ nơi nào và trong cảnh huống nào...tôi cũng gặp được rất nhiều người đến từ đủ mọi tín ngưỡng cũng như vô tín ngưỡng. Giữa tôi và họ có sợi giây liên kết của tình người, sự tương kính, tình liên đới, sự tử tế và yêu thương. Đã và đang phải cùng dùng chung với nhau những con đường, thì tại sao lại không thể gọi nhau là đồng đạo?




Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

Trẻ con trong những vùng có xung đột.


10.6.16

Trẻ con trong những vùng có xung đột là một thế hệ bị đánh mất, bởi vì các em không được cắp sách đến trường như những trẻ em bình thường khác. Không được học hành cho nên những trẻ em này không có cơ hội để học hỏi và phát huy những kỹ năng cần thiết để có thể trở thành những thành viên có thể đóng góp vào việc xây dựng xã hội. Thế hệ những đứa trẻ bị đánh mất như thế quả là một thảm kịch lớn của thời đại.
Năm 2000, Liên Hiệp Quốc đã đề ra một loạt những mục tiêu được gọi là “Những Mục tiêu Phát triển của Thiên niên kỷ”. Đứng đầu danh sách chính là xóa đói giảm nghèo. Năm nay, Liên Hiệp Quốc đã duyệt xét lại các mục tiêu và đặt tên cho kế hoạch là “Những Mục tiêu Phát triển Bền vững”. Đứng đầu danh sách những mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hiếp Quốc cũng vẫn là xóa bỏ nghèo đói.
Phải nhìn nhận rằng trong hai thập niên vừa qua, những nỗ lực xóa đói giảm nghèo của cộng đồng thế giới đã đạt được những thành công đáng kể. Con số những người sống trong nghèo đói đã giảm đi hơn một nửa, từ 1.9 tỷ trong năm 1990 xuống còn 835 triệu trong năm 2015 vừa qua. Tuy công cuộc xóa đói giảm nghèo đã có những tiến bộ như thế, thế giới Á Rập vẫn tiếp tục kéo lê trong cuộc chiến chống lại nghèo đói. Thật vậy, theo Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc gọi tắt là UNDP, giữa năm 2010 và 2012, tỷ lệ của số người trong thế giới Á Rập mỗi ngày kiếm được không tới 1.25 Mỹ kim đã gia tăng từ 4.1 phần trăm lên đến 7.4 phần trăm. Trước đó, các nước trong vùng đã tiến bộ rất nhiều trong việc xóa đói giảm nghèo. Nhưng gần đây, tình trạng bất ổn chính trị, xung đột và chiến tranh đã khiến gia tăng tình trạng nghèo đói.
Cuộc xung đột dai dẳng tại Syria, Iraq và Yemen chính là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói trong vùng. Tại Syria, sau 5 năm nội chiến, theo ước tính có đến 80 phần trăm dân số phải sống trong nghèo đói và tuổi thọ trung bình của người dân giảm bớt đến 20 năm.
Tại Iraq, gần một thập niên sau cuộc xâm chiếm của Hoa Kỳ hồi năm 2003, tỷ lệ nghèo đói gia tăng đáng kể: những số liệu thống kê của Ngân Hàng Thế Giới cho thấy có đến 28 phần trăm các gia đình Iraq sống ngay cả dưới mức nghèo đói. Hàng loạt dân chúng phải di tản khỏi những vùng bị tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” chiếm đóng và kiểm soát, giá dầu trên thị trường thế giới sụt giảm, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng cao. Đây là những nguyên nhân khiến cho Chính phủ Iraq, mặc dù đang có trong tay cả kho dầu, vẫn không có đủ khả năng để đối phó với tình trạng nghèo đói trong nước.
Riêng tại Yemen, tỷ lệ nghèo đói đã gia tăng từ 42 phần trăm trong năm 2009 lên đến 54.5 phần trăm trong năm 2012.
Các cuộc nổi dậy thường được mệnh danh là “Mùa Xuân Á Rập” hồi năm 2011 đã khơi dậy được một làn sóng lạc quan nơi dân chúng. Nhưng các nước Bắc Phi vẫn tiếp tục đối phó với những thách đố kinh tế khiến cho tỷ lệ nghèo đói gia tăng trong nhiều vùng.
Tại Ai Cập, quốc gia có đông dân số nhất trong thế giới Á Rập, năm năm bất ổn chính trị đã ảnh hưởng sâu đậm đến kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, kỹ nghệ du lịch sút giảm, nguồn dự trữ ngoại tệ cạn dần, đồng bạc mất giá...đó là những nguyên nhân đã khiến cho 26 phần trăm trong tổng số 90 triệu dân Ai Cập phải sống dưới mức nghèo khó.
Tại Tunisia, mặc dù việc chuyển giao quyền lực đã diễn ra một cách tương đối êm thắm, cứ 6 người dân thì có một người phải sống dưới mức nghèo khó. Người ta không ngạc nhiên tại sao Tunisia là một trong nước cung cấp chiến binh nhiều nhất cho “Quốc gia Hồi giáo”. Chính các nhà lãnh đạo của nước này cũng đã nhìn nhận mối giây liên hệ  trực tiếp giữa nghèo đói và khủng bố.
Trong các lãnh thổ của người Palestine, những giới hạn khắt khe do Chính phủ Israel áp đặt đã khiến cho người dân ở đây khó tìm được công ăn việc làm. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói. Gần 2 năm sau cuộc chiến tại Dải Gaza, các nỗ lực tái thiết đã hầu như dậm chân tại chỗ. Thiếu nguyên liệu để kiến thiết, nguồn viện trợ lại chậm đến cho nên tình trạng nghèo đói tại Palestine chỉ có thể ngày càng gia tăng mà thôi.
Xung đột và chiến tranh dẫn đến nghèo đói và nghèo đói dẫn đến thất học. Và trẻ em chính là nạn nhân đầu tiên.  Đây là bức tranh dễ nhìn thấy nhất trong những vùng có xung đột, cách riêng tại Trung Đông.
Theo một bản phúc trình của tổ chức UNICEF ( Quỹ Nhi đồng của Liên Hiệp Quốc), cuộc xung đột tại Trung Đông và Bắc Phi đã khiến cho 13 triệu trẻ em không còn điều kiện để cắp sách đến trường. Hiện tượng trẻ em không được cắp sách đến trường không những là một thách đố về mặt luân lý, mà còn kéo theo những hệ lụy tiêu cực về lâu về dài cho cả những người tỵ nạn lẫn các xã hội.
Giáo dục cung cấp cho trẻ em những kỹ năng cần thiết để trở thành những con người hữu dụng cho xã hội. Tiếc thay, những đứa trẻ tỵ nạn trốn chạy khỏi những nước như Syria, Iraq, Palestine và Yemen hiện không có được những điều kiện bình thường để học hành trong những nước mà các em đang tạm trú hay định cư.
Trong rất nhiều trường hợp, trẻ em không được học hành trong nhiều năm trường. Đối với các em này, một khi đến tuổi trưởng thành, tìm được công ăn việc làm không phải là điều dễ dàng.
Ngoài việc giáo dục, các trường học còn có một vai trò quan trọng khác là tạo điều kiện cho học sinh được hội nhập vào xã hội. Trẻ em sinh ra và lớn lên trong những vùng có xung đột không có đủ điều kiện để có được một sự phát triển bình thường về mặt trí năng và xã hội. Ngoài ra, sự thiệt mất gia đình và người thân cũng tạo ra những vết thương tâm lý nghiêm trọng nơi các em này.
Các chương trình cứu trợ nhân đạo thường chỉ chú trọng đến việc cung cấp lương thực và nơi ăn chốn ở, nhưng lại không quan tâm đủ đến những hậu quả của những chấn thương tâm lý mà trẻ con trong các vùng có xung đột phải gánh chịu.
Không được giáo dục, cộng với tâm trạng thất vọng và vô vọng, trẻ con trong những vùng có xung đột dễ trở thành miếng mồi ngon để các tổ chức khủng bố “cực đoan hóa”.
Theo một bản phúc trình Tổ chức UNICEF, trẻ em trong các vùng có xung đột, nhất là tại Syria ngày càng bị chiêu mộ để chiến đấu trong các phe phái đang tranh chấp. Sở dĩ trẻ em trong các vùng có xung đột dễ bị lôi kéo vào chiến tranh là vì các em cảm thấy mỏi mệt khi phải làm việc lâu giờ trong các xưởng thợ với đồng lương chết đói. Trong khi đó nếu cầm súng để chiến đấu, các em có thể được trả lương mỗi tháng không dưới 400 Mỹ kim. Không có kỹ năng để làm những công việc với đồng lương hậu hĩ, các em không có chọn lựa nào khác hơn là gia nhập vào một tổ chức chiến đấu.
Trước khi rơi vào tình trạng hỗn loạn như hiện nay, Syria là quốc gia có đến 99 phần trăm trẻ em được cắp sách đến trường. Cuộc chiến đã cướp đi quyền được đi học của không biết bao nhiêu trẻ em. Cũng may, tại những nước mở cửa đón nhận người tỵ nạn, nhiều em đã có thể trở lại trường học. Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ đã đón nhận từ 200 đến 300 ngàn trẻ em vào các trường học của họ. Dĩ nhiên, tình trạng quá tải của số học sinh cũng tạo ra nhiều khó khăn cho hạ tầng cơ sở giáo dục của hai nước này.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, phần lớn các lớp học đương nhiên được dạy bằng tiếng Thổ. Đây là một vấn đề lớn cho các học sinh đến từ những nước nói tiếng Á Rập.
Mặc dù nhận được tài trợ từ các ân nhân trên khắp thê giới, các nước đón nhận người tỵ nạn vẫn không đủ khả năng để đáp ứng với nhu cầu giáo dục dành cho các trẻ em tỵ nạn. Thành ra, các em này vẫn không thể nhận được một sự giáo dục toàn diện tại các nước đón nhận người tỵ nạn.
Một trong những sáng kiến đáng ca ngợi trong việc giải quyết các khó khăn trong công tác giáo dục dành cho trẻ con tỵ nạn là Chương trình “No Lost Generation” (Đừng để mất một thế hệ) của Quỹ Nhi Đồng UNICEP. Được khởi sự từ năm 2013, chương trình này đã giúp tài trợ cho 600 cơ sở được đặt tên là “Câu lạc bộ trường học” (School clubs). Các “câu lạc bộ” này giúp các trẻ em tỵ nạn học rút để bù đắp lại những mất mát trong một thời gian dài không được cắp sách đến trường.
Chương trình này cũng tạo điều kiện để các trẻ em tỵ nạn được ghi danh học trong các trường tại Jordan và Liban. Cũng trong chiều hướng này, Liên Hiệp Quốc đã thành lập Quỹ “Education Cannot Wait” (Giáo dục không thể chờ đợi). Chương trình này đặc biệt nhắm đến các trẻ em trong các vùng có xung đột tại Syria.
Những sáng kiến như thế đã giúp cho trẻ em trong những vùng có xung đột được cắp sách đến trường một cách bình thường cũng như tạo điều kiện để nhiều em có thể theo kịp các lớp học sau nhiều năm bị gián đoạn.
Đáp lại với tấm lòng quảng đại của các ân nhân đã đóng góp vào các chương trình trên đây, các trẻ em tỵ nạn cũng chứng tỏ được một ý chí và can đảm phi thường.
Batoul là một em bé gái tỵ nạn Palestine 14 tuổi. Em đã chào đời và lớn lên trong xung đột và chiến tranh. Trong cuộc vượt thoát sang Liban, cha và em của Batoul đã bị giết chết. Hiện Batoul đang theo học trong một trường học được thiết lập trong trại tỵ nạn. Mặc dù phải trải qua một thảm kịch đau đớn như thế, cô gái này vẫn có thể đứng đầu trong lớp về mọi mặt. Em nói: “Giáo dục mang lại cho em niềm hy vọng”. Gương của Batoul cho thấy nhờ được cắp sách đến trường, trẻ em tỵ nạn, mặc dù đã trải qua quá nhiều mất mát, vẫn có thể học hành một cách bình thường, phát huy các kỹ năng và trở thành những con người hữu dụng cho xã hội. Chính với niềm tin và hy vọng đó mà các tổ chức nhân đạo, các cơ quan thiện nguyện đã và đang ra sức hoạt động để giúp cho hàng triệu trẻ em tại những vùng có xung đột có được cơ hội và điều kiện học hành một cách bình thường. Cơ quan Cứu trợ và Hoạt động của Liên Hiệp Quốc (United Nations Relief and Works Agency: UNRWA) hiện đang phối hợp những hoạt động như thế. Cơ quan này hiện đang điều khiển 692 trường học tại Gaza, Tây Ngạn, Jordan, Liban và Syria. Nhiều thiện nguyện viên hoạt động trong chương trình này đã bị sát hại hay mất tích trong các cuộc xung đột. Nhưng vì tương lai của các trẻ em trong những vùng có xung đột cũng như vì lương lai của nhân loại, các thiện nguyện viên vẫn kiên trì trong công tác giáo dục của họ. Như Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon đã nhắc nhở tại cuộc họp thượng đỉnh thế giới về tình nhân đạo (World Humanitarian Summit) được tổ chức tại Thủ đô Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ hôm 23 tháng 5 vừa qua, chỉ có “một nhân loại”. Và tình nhân loại ấy được cùng chia sẻ bởi tất cả mọi người đang có mặt trên thế giới này, bất luận họ đang sống trong những nơi không có chiến tranh hay tại những vùng có xung đột.

(Nguồn:http://www.aljazeera.com/indepth/opinion/2016/05/lost-generation-children-conflict-zones)




Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016

Bài học từ nước Mỹ


Chu Thập
3.6.16

Dân Việt Nam đã dành cho Tổng thống Mỹ Barack Obama một cuộc đón tiếp nồng nhiệt chưa từng thấy: hàng trăm ngàn người đã đứng dọc các đường phố tại Hà Nội và Sài Gòn để hoan nghênh nguyên thủ của một quốc gia mà những người cộng sản Việt Nam vẫn luôn xếp vào hàng thế lực thù địch. Theo tôi, đó là hiện tượng đáng chú ý và có ý nghĩa nhứt trong chuyến viếng thăm Việt Nam vừa qua của Tổng thống Obama. Trong chuyến viếng thăm, còn có rất nhiều điểm cần có thời gian để giải mã. Nhưng hình ảnh rõ nét, dễ hiểu và có một ý nghĩa dễ nắm bắt nhứt vẫn là những cái vẫy tay, những lời chào đón thân thiện và nhiệt tình mà dân chúng Việt Nam đã dành cho Tổng thống Obama.
Dĩ nhiên, với tài năng và đức độ của mình, Tổng thống Obama có một sức thu hút đặc biệt đối với người dân Việt Nam. Nhưng theo tôi, sở dĩ người dân Việt Nam đã say mê ông tống thống gốc Phi Châu này là bởi vì ông là hiện thân và biểu tượng của những giá trị của một quốc gia mà họ mong mỏi tìm kiếm nhưng chưa bao giờ nhìn thấy trong đất nước mình, nhứt là từ 41 năm qua, kể từ khi người cộng sản áp đặt chế độ độc tài toàn trị lên toàn đất nước. Chỉ mới hơn 200 năm lập quốc, Hoa Kỳ đã đứng đầu thế giới về hầu như mọi mặt. Hoa Kỳ có những đại học danh giá nhứt thế giới. Hoa Kỳ là quốc gia có nhiều bằng phát minh về khoa học nhứt thế giới. Tuy vẫn còn giới hạn, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia có nền dân chủ cao nhứt thế giới. Hoa Kỳ vẫn là đất nước của cơ hội và  mơ ước đối với hầu hết mọi người trên thế giới này.
Không rõ học được từ đâu mà đầu thập niên 1950, bất cứ điều gì hay đẹp, lũ trẻ chúng tôi đều gọi là “Mỹ”: “Mỹ á!” nghĩa là đẹp quá! “Mỹ á!” nghĩa là hay quá! Ngày nay, dĩ nhiên với tầm nhìn và nhận thức có phần được mở rộng và chín chắn hơn, không phải cái gì của Mỹ cũng đều là hay, là đẹp đối với tôi. Nhưng dù có muốn “chống Mỹ cứu nước” đến cỡ nào, tôi cũng phải nhìn nhận rằng Hoa Kỳ là một quốc gia vĩ đại có rất nhiều điều để tôi học hỏi. Tôi luôn cố gắng tìm hiểu và chắt lọc những giá trị hay đặc điểm làm nên sự vĩ đại của Hoa Kỳ.
Mới đây, trên báo mạng Psychology Today, Tiến sĩ Deborah J. Cohan đã tóm tắt 5 “đức tính” mà theo bà bất cứ một sinh viên đại học Mỹ nào cũng cần phải trau dồi.
Trước hết là tính hiếu kỳ. Hiếu kỳ, tức khả năng biết ngạc nhiên để không ngừng đặt câu hỏi hoặc có óc tò mò. Hiếu kỳ không phải chỉ là đặc điểm của tuổi thơ mà là đòi hỏi phải có của bất cứ ai muốn thực sự suy nghĩ bằng chính cái đầu của mình hầu có thể tiến bộ trong việc trau dồi kiến thức và nhứt là để sống cho ra người tử tế. Trong chuyến viếng thăm Việt Nam vừa qua, tôi nhận thấy hình như Tổng thống Obama đã muốn chứng tỏ cái khả năng ấy khi đưa ra nhận xét rằng ông chưa bao giờ nhìn thấy ở đâu có nhiều xe gắn máy như ở Việt Nam. Không biết có phải vì thành thật hay muốn mỉa mai nhắn gởi một sứ điệp gì khác không, ông nói rằng lần sau ông sẽ thử băng qua đường trong dòng xe gắn máy chằng chịt như nêm ấy! Những người cộng sản Việt Nam và người dân Việt Nam có bao giờ thắc mắc tại sao nước mình lại “giàu” xe gắn máy  đến như thế và nhứt là người Việt Nam lúc nào cũng phải luồn lách để đi lại và để sống còn không. Không biết các bậc tiến sĩ chạy đầy đường ở Việt Nam có bao giờ động não để còn biết đặt vấn đề về cái hệ thống giao thông vốn gây ra tai nạn chết người hàng đầu thế giới này không?
Đức tính thứ hai mà một sinh viên đại học của Mỹ cần trau dồi, theo Tiến sĩ  Cohan là óc phê phán. Theo nữ tiến sĩ này, “mục đích trọng tâm của nhà trường và bên kia nhà trường là cần phải rũ bỏ những điều đã tiếp nhận được mà không hề phê phán để phát huy một cái nhìn có tính phê phán đối với các vấn đề xã hội. Không ngừng mở to đôi mắt và làm cho đầu óc luôn được tươi mát là điều tối quan trọng trong cuộc sống”. Tiến sĩ Cohan khuyên các sinh viên mới tốt nghiệp nên không ngừng nêu lên hai câu hỏi nghìn đời của nhân loại là: “Như thế nào?” (How?)  và “tại sao?” (Why?)  Sẽ không bao giờ có khám phá khoa học hay phát minh nếu không có những câu hỏi như thế. Một đất nước trong đó các nhà lãnh đạo và người dân không bao giờ biết đặt những câu hỏi như thế sẽ không bao giờ thoát ra khỏi tình trạng trì trệ và lạc hậu. Không gì đáng mong chờ cho Việt Nam hiện nay cho bằng những câu hỏi như thế. Tôi hiểu được tại sao mới đây, khi một cô giáo tên là Trần Thị Lam đặt bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh? Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn”, trong và ngoài nước đã có rất nhiều phản ứng tích cực: ai cũng mong ngày càng có nhiều người trong nước biết nêu lên những  cái “ngộ” như thế. Có nhiều cái chết đang diễn ra ở Việt nam chớ không phải chỉ có “cá chết”. Nhưng đáng lo ngại nhứt có lẽ chính là cái chết của những cái đầu không còn biết nêu lên những câu hỏi “như thế nào?” và “tại sao?” về tình hình đất nước, về vận mệnh dân tộc, về lỗ hổng đạo đức, về cuộc “tổng khủng hoảng về nhân cách”,  về những vấn đề xã hội...
Bên cạnh tính hiếu kỳ và óc phê phán, Tiến sĩ Cohan cũng xem trọng một đức tính khác mà sinh viên Mỹ cần phải trau dồi: đó là óc chiêm niệm. Hiểu một cách đơn giản, chiêm niệm là suy nghĩ và đào sâu để tìm thấy ý nghĩa sâu xa của sự vật. Thi sĩ và triết gia Mỹ Henry David Thoreau (1817-1862) được Tiến sĩ Cohan trích dẫn có đưa ra một lời khuyên: “Hãy cố gắng sống gần gũi bao nhiêu có thể với cội nguồn tuôn trào sự sống của bạn”. Cuộc sống không chỉ được cấu thành  bởi những giá trị vật chất. Để có ý nghĩa cuộc sống cần phải được xây dựng trên những giá trị tinh thần. Do vậy, trau dồi cuộc sống tâm linh là điều quan trọng. Dù ngày nay, Hoa Kỳ có là một đất nước ngày càng bị tục hóa và duy vật đến đâu, không ai chối cãi được rằng quốc gia này đã từng được cha ông họ xây dựng trên một trong những nền tảng vững chắc là các giá trị tinh thần và đặc biệt là tôn giáo. Hiến pháp của quốc gia này vẫn còn giữ nguyên lời mở đầu: “Thượng Đế đã tạo dựng mọi người bình đẳng”. “Cha già dân tộc Việt Nam” cóp nhặt và đưa vào tuyên ngôn độc lập nhưng có lẽ chẳng hiểu và cũng chẳng tin tưởng  điều đó. “Thượng Đế là Đấng chúng tôi tin tưởng” (In God we trust), dù có tiến bộ đến đâu, có lẽ Hoa Kỳ khó xóa bỏ được niềm tin ấy khỏi đồng bạc của mình. Dù cho ngày nay, có thể tỷ lệ người dân Mỹ thuộc về một tôn giáo có tổ chức ngày càng sút giảm và dù con số những người tự xưng là vô thần ngày càng gia tăng, nền tảng tâm linh và đạo đức vẫn không bao giờ phai mờ khỏi xã hội. Như nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo đã từng nói, con người có thể “có đạo” mà không cần phải thuộc về một tôn giáo hay phải đến một nơi thờ phượng.
Sự chiêm niệm dẫn đến đức tính thứ tư được Tiến sĩ Cohan kêu gọi các sinh viên Mỹ trau dồi là sự cảm thông. Bà viết: “Sự chiêm niệm dẫn đến lòng cảm thông. Với sự cảm thông, các sinh viên trau dồi được mối thiện cảm đối với thế giới bên kia bản thân họ”. Tổng thống Obama không phải là một nhà lãnh đạo tôn giáo. Nhưng nơi ông thái độ sống luôn đi kèm với lời nói. Có khi ông nói bằng hành động hơn lời nói. Nhiều lần ông đã khóc khi đề cập  đến  tệ nạn dùng súng giết người như cơm bữa tại Hoa Kỳ. Đến Việt Nam, dĩ nhiên các bài diễn văn của ông đều đã được các cố vấn soạn sẵn và cân nhắc từng ý, từng chữ. Nhưng có lẽ những giây phút cảm động nhứt vẫn là những lúc ông ứng khẩu để chia sẻ tâm tình của mình hoặc nói lên những kinh nghiệm cá nhân. Một chút kỷ niệm được ông chia sẻ hẳn đã đánh động người dân Việt Nam khi ông kể lại rằng năm 1975 khi lên 13 tuổi, tại tiểu bang Hawai là nơi một đứa con lai như ông lần đầu tiên ông đã chứng kiến làn sóng người tỵ nạn Việt Nam đến Hoa Kỳ. Với chút kỷ niệm ấy, có lẽ Tổng thống Obama đã muốn bày tỏ sự cảm thông của ông với các nạn nhân của các chế độ độc tài, nhứt là độc tài cộng sản. Tại Hiroshima, khi đến viếng thăm Đài tưởng niệm Hòa Bình, ông đã ôm lấy nạn nhân còn sống sót của trái bom nguyên tử đầu tiên do Hoa Kỳ ném xuống thành phố này. Là một luật sư có tài ăn nói, nhưng Tổng thống Obama có lẽ bày tỏ sự hùng biện bằng cử chỉ cảm thông hơn bằng lời nói. Nếu đem so sánh Tổng thống Obama với Chủ tịch nước Việt Nam, ông Trần Đại Quang khi hai người đứng bên cạnh nhau, ai cũng thấy sự khác biệt một trời một vực. Một bên là biểu tượng của sự cởi mở, tự nhiên, vui tươi và nhứt là thái độ cảm thông. Một bên là bộ mặt lạnh lùng, vô cảm, lúc nào cũng hầm hập căm thù. Đã từng là Bộ trưởng Bộ Công an, nắm trong tay quyền sinh sát và chịu trách nhiệm về cái chết oan của không biết bao nhiêu mạng người, người được Đảng cộng sản Việt Nam đưa lên địa vị nguyên thủ quốc gia có lẽ chưa một lần hiểu được thế nào là sự cảm thông đối với đồng bào ruột thịt hay người đồng loại của mình.
Tôi cho rằng sự cảm thông là đức tính nhân bản quan trọng nhứt trong tòa nhà nhân cách. Tiến sĩ Cohan có nói đến đức tính cuối cùng mà các sinh viên Mỹ cần trau dồi là sự thông đạt. Thời Trung học, tôi luôn tâm niệm một câu nói của Thi sĩ Pháp Nicolas Boileau (1636-1711): “Điều gì được nghiền ngẫm kỹ càng thì cũng được phát biểu một cách rõ ràng” (Ce qui se concoit bien s’énonce clairement). Ngày nay, trong các xã hội tân tiến, luật sư là một trong những nghề có thế giá nhứt. Người Việt Nam thời xưa vẫn gọi họ là “thày cãi”. Họ là những người có tài ăn nói hơn người. Họ là những người có lý luận sắc bén, chặt chẽ, biện bác khúc chiết và diễn đạt một cách thấu đáo. Chính vì vậy mà trong sinh hoạt chính trị, như tại Úc Đại Lợi chẳng hạn, giới luật sư chiếm một tỷ lệ quan trọng. Nhưng với tôi, dù là giáo sĩ trên tòa giảng hay chính trị gia trong đấu trường chính trị, nếu thiếu thái độ cảm thông thì những lời phát biểu của họ cũng chỉ là những tiếng kêu inh ỏi và trống rỗng. Nếu những gì họ nói ra chưa phải là những gì đã từng được họ “thai nghén” ( concevoir), nghiền ngẫm và sống, họ chỉ là những thùng rỗng kêu to mà thôi. Sự thông đạt đích thực chỉ có thể xuất phát từ trái tim. Tôi hiểu được tại sao người đang ở đỉnh cao của quyền lực tại Việt Nam thường bị dân chúng gán cho biệt hiệu “Lú”. “Lú” không những vì ông chỉ biết nói những lời dối trá, mà ngay cả những điều ông có tầm chương trích cứu từ kho tàng của chủ nghĩa cộng sản để nói ra, chính ông cũng chẳng hiểu gì. Ông và những người cộng sản như ông chẳng khác nào những con vẹt hay thậm chí những người máy không có trái tim. Tiếng nói được phát ra từ miệng các ông chỉ là những âm thanh vô hồn thiếu sức sống và nhứt là thiếu hẳn sự cảm thông cho nên không thể thông đạt, nghĩa là không thể đi vào tim óc của người nghe.
Có thể nói, từ con người của Tổng thống Obama và từ nước Mỹ, nếu có điều gì tôi đã học được và lấy làm tâm đắc, thì điều đó trước tiên phải là sự cảm thông.





Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

Đạo nào cũng là đạo...



Chu Thập
9.8.12



Thập niên 1960, khi người Mỹ bắt đầu đến Việt nam thì người Việt cũng tập làm quen với văn minh và văn hóa Mỹ. Tôi còn nhớ lúc đó, trước khi vào phim chính, ngoài việc đứng lên chào quốc kỳ, người đi xem “xi nê” cũng được “giáo đầu” bằng một đoạn phim tài liệu giới thiệu về Hiệp chủng quốc Hoa kỳ. Mở đầu đoạn phim nào, người hướng dẫn chương trình cũng luôn giới thiệu: “Nước Mỹ có nhiều chuyện...sau đây là một số chuyện”....Tôi “mê” nước Mỹ từ lúc đó. Sao bên Mỹ cái gì cũng vĩ đại và đẹp quá! Thật ra, có ai mà không “mơ” được đến và sống ở Mỹ. Có căm thù đế quốc Mỹ đến đâu người ta cũng tìm cách gởi tiền, mua nhà và nhứt là gởi con sang học bên đó. Có “chống Mỹ cứu nước” cỡ nào, khi “cùng sào” thì cũng “đào tỵ” sang Mỹ mà thôi. “Giấc mơ Mỹ quốc” vẫn cứ đeo đuổi nhiều người trên thế giới này. Nước Mỹ vẫn có nhiều chuyện để đáng được đề cao.
Với tôi, trong những ngày này, một trong những chuyện đáng được nói đến để ca ngợi nước Mỹ là chuyện bầu cử. Ở cái quốc gia “kém dân chủ” gấp cả triệu lần so với “nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam” này, hệ thống bầu cử vẫn minh bạch và công bằng hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Cứ 4 năm một lần, lần nào tôi cũng theo dõi chuyện bầu cử tổng thống Mỹ chẳng khác nào các cuộc tranh tài trong Giải Túc Cầu Thế Giới. Hồi hộp và gây cấn quá đi, bởi vì một ông tổng thống mới của Hoa kỳ lúc nào cũng ảnh hưởng đến cục diện cả thế giới. Suốt cuộc vận động bầu cử, từ sơ bộ trong mỗi Đảng đến cuộc chạy đua chỉ còn 2 ứng cử viên, các bài diễn văn của các ứng cử viên và một số nhân vật thân cận với họ nghe đã làm sao!
Nhưng có một yếu tố mà tôi tin là luôn góp phần làm nên sức mạnh của đệ nhứt siêu cường này. Yếu tố đó chính là niềm tin tôn giáo. Hãy thử nghe lại các bài diễn văn trong các cuộc vận động bầu cử. Dù có hung hăng tấn công đối phương đến đâu, ứng cử viên hay người ủng hộ gà nhà nào cũng đều kết thúc bài nói chuyện của mình bằng công thức: “God bless you. God bless America” (Xin Thượng Đế chúc lành cho quý vị. Xin Thượng Đế chúc lành cho Mỹ quốc).
Có phải vì được Thượng Đế chúc phúc mà Hiệp chủng quốc Hoa kỳ mới cường thịnh như ngày nay không? Tôi không tin như thế. Trong cuốn hồi ký Ngàn giọt lệ rơi, bà Đặng Mỹ Dung thường nhắc lại câu nói của ông ngoại bà: “Ông Trời không có can thiệp vào chuyện của con người” đâu. Mỗi khi nhìn vào lịch sử nhân loại, tôi cũng thường nghĩ như thế. Kinh Thánh của Do thái giáo có thuật lại câu chuyện lừa đảo để chiếm đoạt phúc lành của tổ phụ Giacob. Giacob có một người anh tên là Esau. Thân phụ của hai ông là ông Isaac, thương ông Esau nhiều hơn và theo truyền thống, chỉ muốn “chúc lành” cho người con trưởng. Nhưng vì ông Isaac mù lòa và bà mẹ lại thương cậu con út Giacob hơn, cho nên bà mới lập mưu chiếm đoạt phúc lành cho cậu. Bị lừa gạt cho nên cụ ông Isaac đã tuôn đổ mọi phúc lành của Thượng Đế xuống trên cậu em Giacob. Nhờ những phúc lành đó mà về sau Giacob trở thành tổ phụ của 12 chi tộc Israel. Còn ông anh Esau, có lẽ vì không được chúc lành, cho nên trở thành cha già của dân tộc luôn bị đọa đày là Palestine.
Đọc lại câu chuyện này, tôi cho rằng Thượng Đế có lẽ cũng đành phải chào thua trước mưu mẹo và sự độc ác của con người. Nhưng Thượng Đế mà Chúa Giâsu bảo là “cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ” (Mt 5, 45), chắc chắn không phải là Đấng chúc lành cho người này mà loại trừ người khác hay thương yêu người này mà ghét bỏ người khác.
Nhìn về vị thế đệ nhứt siêu cường của Hoa kỳ ngày nay, tôi không tin rằng quốc gia này được Thượng Đế chúc lành hơn những nước khác. Sở dĩ quốc gia này được như thế là vì luôn xem trọng niềm tin tôn giáo. Khó chối cãi được rằng những nhà lập quốc Hoa kỳ đã đặt nền tảng quốc gia trên niềm tin tôn giáo. Người ta có thể thấy rõ điều đó trong những dòng mở đầu của bản tuyên ngôn độc lập ngày 4 tháng 7 năm 1776: “Tất cả mọi người đều được tạo dựng bình đẳng, họ được Đấng Tạo Hóa phú bẩm cho một số quyền bất khả xâm phạm, trong đó có Quyền Sống, Quyền Tự Do và Quyền đeo đuổi Hạnh phúc”.  Có lẽ không nhận ra hành động tuyên xưng niềm tin tôn giáo của các nhà lập quốc Hoa kỳ cho nên người cộng sản vô thần  Hồ chí Minh đã “đạo” nguyên si đoạn mở đầu trên đây và đưa vào bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945.
Người ta chỉ có thể hiểu được chỗ đứng ấy của niềm tin tôn giáo của người Mỹ khi nhớ lại rằng hầu hết các nhà lập quốc Hoa kỳ đều là những người đã trốn chạy khỏi Âu châu vì bị bách hại tôn giáo. Với họ, tự do tôn giáo vẫn là quyền cao cả nhứt trong cuộc sống con người.
Ngày nay, sống trong những chế độ có sự tách biệt rõ ràng giữa tôn giáo và nhà nước, nghe những khẩu hiệu như “God bless” hoặc nhìn thấy câu “In God we trust” (chúng tôi tin tưởng nơi Thượng Đế) vẫn còn in trên đồng Mỹ kim hoặc chứng kiến cảnh một tân tổng thống Mỹ đặt tay trên Kinh Thánh để tuyên thệ...nhiều người hẳn sẽ cho là chướng tai gai mắt lắm. Nhưng có lẽ Hoa kỳ sẽ chẳng còn là Hoa kỳ khi những khẩu hiệu và hình ảnh ấy bị xóa bỏ ra khỏi nơi công cộng và cuộc sống của người dân.  Hoa kỳ vẫn là một quốc gia luôn tôn trọng nguyên tắc về sự tách biệt giữa tôn giáo và nhà nước. Quốc gia này vẫn còn được xem là văn minh tiến bộ và giàu có nhứt thế giới. Nhưng đại đa số người dân nước này vẫn còn nhìn nhận chỗ đứng quan trọng của niềm tin tôn giáo trong cuộc sống của họ.
Nhưng dĩ nhiên, vốn có tinh thần thực dụng, khi đề cao niềm tin trong tôn giáo, người Mỹ luôn chứng tỏ mối liên kết giữa cuộc sống thực tiễn và niềm tin tôn giáo. Niềm tin đó hẳn phải là động lực thúc đẩy họ nỗ lực để làm cho đất nước phồn vinh và cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Nhứt là niềm tin đó kêu gọi họ quảng đại chia sẻ với người khác nhiều hơn. Có lẽ chưa có dân tộc nào trên thế giới này có truyền thống làm “từ thiện” cao cho bằng người dân Mỹ. Nói đến Mỹ quốc là phải nói đến những nhà hoạt động từ thiện nổi tiếng như vợ chồng Bill Gates, như Warren Buffet...Khó có thể giải thích được một tấm lòng vị tha như thế mà không nhìn nhận cái truyền thống san sẻ trao ban đã được niềm tin tôn giáo nhào nặn.
Mới đây, khi ông Mitt Romney, nguyên thống đốc tiểu bang Massachusetts ra tranh cử tổng thống, người ta chú ý đến giáo phái Mormon mà ông là thành viên. Muốn tìm một bằng chứng cho thấy ảnh hưởng của niềm tin tôn giáo đối với cuộc sống xã hội như thế nào tại Hoa kỳ, có lẽ người ta chỉ cần đến tiểu bang Utah. Từ một tiểu bang nắng cháy khô cằn, các tín đồ của giáo phái này đã biến Utah, đặc biệt là thành phố Salt Lake City thành một nơi trù phú, một địa điểm du lịch nổi tiếng và nhứt là một nơi thanh bình có ít tệ nạn xã hội nhứt tại Hoa kỳ. Lịch sử của Thành phố Salt Lake City là câu chuyện về một niềm tin tôn giáo đã thúc đẩy con người hăng say làm việc và hiến thân phục vụ.
Mới đây, tôi có xem trên Đài truyền hình SBS một cuốn phim tài liệu về một giáo phái khác có tên là Amish. Tài liệu này gợi lại cho tôi cuốn phim “The Silent Witness” (người chứng âm thầm) do tài tử gạo cội Harrison Ford thủ diễn mà tôi đã được xem hồi năm 1985. Cuốn phim kể lại cuộc điều tra của một viên cảnh sát về một vụ giết người mà nhân chứng là một cậu bé thuộc giáo phái Amish. Xem sinh hoạt của người Amish trong cuốn phim (vốn được quay trong một ngôi làng của người Amish thuộc tiểu bang Pennsylvania), tôi cứ tưởng đây là chuyện xa xưa vào thời Trung cổ bên Âu châu.
Phim tài liệu có tựa đề “Meet the Amish” (gặp gỡ người Amish) được chiếu trên đài SBS cho thấy cuộc sống thực tế của các tín đồ thuộc giáo phái này. Là những người đã trốn chạy cuộc bách hại tôn giáo tại Thụy sĩ hồi thế kỷ 17, những người này đã tìm đến Hoa kỳ và tiếp tục giữ nguyên phong tục tập quán của cha ông họ. Họ sống quây quần với nhau thành những ngôi làng nhỏ. Họ khước từ mọi văn minh tiến bộ của kỹ thuật. Giữa một xã hội văn minh tiến bộ nhứt thế giới, họ vẫn còn di chuyển bằng những chiếc xe ngựa, kín nước bằng quạt gió, thắp những ngọn đèn dầu... Nhưng điều gây xúc động nhiều nhứt cho tôi chính là chủ trương sống hiếu hòa, bất bạo động, khiêm tốn, tránh đương đầu và nhứt là tương trợ nhau. Với tôi, những ngôi làng Amish hiện hữu ngay giữa một xã hội phồn vinh nhưng đày bất ổn này là mẫu mực của một xã hội hòa bình. Tôi không cần biết giáo lý của tôn giáo này. Tôi cho rằng những người thuộc giáo phái Amish này mới thực sự là những người có đạo và biết sống đạo, bởi vì cốt lõi của đạo là gì nếu không phải là sống tử tế, công bằng, hiếu hòa, nhẫn nhục, phục vụ, hy sinh, tha thứ, cảm thông, quên mình...
Lúc nhỏ, tôi được dạy dỗ phải phân biệt người “có đạo” với người “không có đạo”. Dĩ nhiên, con nhà “có đạo” là các tín hữu Kitô như tôi. Còn “không có đạo” là tín đồ của những tôn giáo ngoài Kitô giáo. Khái niệm “tôn giáo” do người Tây phương nhồi nhét vào đầu tôi khiến tôi có cái nhìn tách biệt ấy. Về phương diện này, nếu bảo tôn giáo gây chia rẽ và ngay cả hận thù thì cũng chẳng có gì quá đáng. Lịch sử thế giới và ngay trong từng dân tộc vốn đầy dẫy những cuộc chiến tranh vì tôn giáo.
Ngày nay, tôi thích khái niệm “Đạo” hơn. Có người có tôn giáo nhưng lại chẳng thể hiện sự “có đạo” chút nào trong cuộc sống. Ngược lại không thiếu những người chẳng thuộc tôn giáo nào hay tự xưng vô thần nhưng lại “có đạo” hơn ai hết. Tôi nghĩ đến trước tiên hai nhà hiền triết vĩ đại nhứt của Á đông là Đức Phật Thích Ca và Đức Khổng Tử. Xét theo phạm trù “tôn giáo” của Tây phương thì hai vị là những nhà “vô thần” chính hiệu. Cả hai vị đều không màng đến cuộc sống mai hậu hay thế giới thần linh. Về điểm này, Đức Khổng Tử đã tỏ ra rất minh bạch. Một hôm, Tử Cống hỏi ngài: “Trên trời có thật là có thần linh tồn tại không ạ?” Đức Khổng Tử ngước mặt nhìn trời rồi trả lời: “Trên không trung, theo ý ta, ngoài tinh tú và mặt trăng mặt trời, chẳng còn gì nữa.” Giải thích về sự kiện người ta thường tế trời, ngài nói: “Đó chẳng qua là một sự gởi gắm về tinh thần của mọi người. Thí dụ gặp năm hạn hán, mọi người đều cho rằng đây là trừng phạt của Ông Trời. Cho nên mới tế trời để cầu mưa. Kỳ thực, tế trời cũng chưa nhất định đã mưa. Trong trí nhớ của ta, đã nhiều lần có tình trạng thế này: càng tế trời càng hạn hán, cuối cùng lúa mạ chết hết, mùa màng mất trắng”.
Tử Cống hỏi tiếp: “Vậy thì người chết đi rồi, liệu có linh hồn tồn tại thật không?” Đức Khổng Tử khẳng định: “Người chết như đèn tắt, chỉ còn cái xác, còn lại chẳng có gì tồn tại cả” (x. Khúc Xuân Lễ, Khổng Tử truyện, bản dịch của Ông văn Tùng, NXB Văn học, trg 319).
Nhìn về cuộc sống mai hậu như thế, Đức Khổng Tử đâu có xa lạ với chủ trương của người vô thần. Nhưng không gì xúc phạm bằng nếu bảo rằng nhà hiền triết đã từng đề ra Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín làm nền tảng cho cuộc sống cá nhân và xã hội là một người “không có đạo”. Còn ai “có đạo” cho bằng ngài! Còn ai đáng được “phong thánh” cho bằng ngài! Đức Khổng Tử vẫn còn được tôn thờ chẳng có gì là lạ.
Có nhiều tôn giáo và mỗi tôn giáo đều có tín điều, luật lệ, phẩm trật, quyền bính, có “con chiên”, có “chủ chăn”, có tăng lữ, có tín đồ...Nhưng với tôi chỉ có một “Đạo”. Đó là đạo làm người, đạo sống tử tế, đạo sống yêu thương, đạo cảm thông và tha thứ...Con người có thể chia rẽ vì tôn giáo, nhưng chẳng ai nhân danh “Đạo làm người” ấy để mà đấu đá, loại trừ, tiêu diệt nhau. Tôi có thể bị “dứt phép thông công”, bị “vạ tuyệt thông” hay trục xuất ra khỏi cộng đồng Giáo hội của tôi vì có thể bị cho là “lạc giáo”. Nhưng tôi tin chắc rằng chẳng ai có thể loại trừ tôi ra khỏi “Đạo làm người” cả.


Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

Bắc Hàn: trái bom nổ chậm của thế giới!




3.6.16
Nhân cuộc họp thượng đỉnh của khối G7 tại Nhật Bản (26-27 tháng Năm 2016), Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã đến thăm Đài Tưởng niệm Hòa Bình tại Hiroshima. Ông là tổng thống Mỹ đầu tiên đặt chân đến Hiroshima, thành phố đã bị trái bom nguyên tử đầu tiên do Hoa Kỳ ném xuống biến thành phố thành bình địa. Tổng thống Obama đã làm một cử chỉ đầy cảm động khi vòng tay ôm lấy một nạn nhân của bom nguyên tử. Và cùng với cử chỉ tượng trưng này, ông đã kêu gọi thế giới hãy loại bỏ mọi thứ vũ khí hạt nhân. Tổng thống Mỹ nói: “Cách đây 70 năm, thần chết từ trời cao đã ụp phủ xuống và thế giới đã thay đổi”. Tổng thống Obama nói rằng bom nguyên tử đã “chứng minh rằng nhân loại đã nắm trong tay những phương tiện để tự hủy”.
Chắc chắn nhà lãnh đạo của cường quốc số một thế giới này không chỉ ngỏ lời với các nước trong khối G7, với Nga, với những nước đang có hoặc đang lăm le chế tạo bom nguyên tử, mà trước tiên cho Trung Cộng và tên côn đồ được nước này nuôi dưỡng để đe dọa thế giới là Bắc Hàn. Đây là một mối đe dọa có thật, chứ không phải giả tạo, bởi vì hiện nay không ai biết phải làm cách nào để ngăn cản Bắc Hàn chế tạo, cho thử nghiệm và ngay cả sử dụng bom hạt nhân để tấn công thế giới tự do. Điều đáng sợ nhất cho thế giới là chẳng ai đoán được lãnh tụ búng ra sữa của quốc gia cộng sản khép kín này đang nghĩ gì trong đầu và sẽ làm gì.
Dạo tháng Giêng vừa qua, Bắc Hàn đã cho nổ dưới lòng đất một trái bom hạt nhân. Đây là lần thứ tư Bắc Hàn cho thử nghiệm bom hạt nhân và đây là lần đầu tiên nước này tuyên bố rằng họ có thể chế tạo một vũ khí “nhiệt hạch tâm” (thermonuclear). 
Một tháng sau đó, Bắc Hàn lại phóng được một vệ tinh. Từ đó, quốc gia cộng sản cha truyền con nối này càng gia tăng các cuộc thử nghiệm về kỹ thuật phóng hỏa tiễn. Tháng Ba vừa qua, lãnh tụ Kim Jong Un đã đứng chụp hình trước một mẫu đầu đạn hạt nhân và chiếc xe chở một hỏa tiễn tầm xa. Rồi mới đây, ngày 7 tháng 5 vừa qua, ông tuyên bố trước Đại hội Đảng Lao Động (tức Đảng Cộng Sản Bắc Hàn) tại Bình Nhưỡng rằng các vũ khí hạt nhân và chương trình chế tạo và thử nghiệm hỏa tiễn đã mang lại cho đất nước “vinh dự và niềm tự hào dân tộc”. Ông còn khoe rằng ông có thể “biến Manhattan (trung tâm doanh nghiệp và kinh tế của Hoa Kỳ) thành tro bụi”.
Theo các chuyên gia, các cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn không đương nhiên cho thấy nước này có khả năng chế tạo được một trái bom khinh khí. Vệ tinh do Bắc Hàn chế tạo dường như chưa hoạt động và một số cuộc thử nghiệm hỏa tiễn cũng thất bại. Kim Jong Un có lẽ chỉ biết nói xàm cho vui. Tuy nhiên, tiên đoán được những hậu quả của một loạt thử nghiệm vừa qua cũng không phải là điều dễ dàng. Chuyên gia Mark Fitzpatrick, thuộc Viện Quốc tế Nghiên cứu Chiến lược, cho rằng “không phải chỉ vì Bình Nhưỡng muốn chúng ta chú ý đến họ mà chúng ta nên làm ngơ”.
Dù có lạc quan đến đâu, không ai có thể nghi ngờ về chuyện Bắc Hàn hiện đang có vũ khí hạt nhân trong tay và họ đang đe dọa không chỉ người anh em Nam Hàn mà còn cả Nhật Bản và căn cứ Mỹ ở đảo Guam. Nhiều chuyên gia tin rằng Bắc Hàn hiện đang tìm cách chế tạo một loại hỏa tiễn có gắn đầu đạn nguyên tử có khả năng bay tới Hoa Kỳ vào đầu thập niên tới.
Từ năm 1994, thế giới đã thất bại trong việc kìm hãm tham vọng chế tạo vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn sau khi Lãnh tụ Kim Jong Il, cha của Kim Jong Un đe dọa tẩy chay Thỏa ước Cấm Phát triển Vũ khí Hạt nhân. Dưới thời Tổng thống Bill Clinton, Hoa Kỳ đã hứa tặng cho Bắc Hàn hai lò phản ứng hạt nhân cũng như viện trợ kinh tế và tháo gỡ cấm vận với điều kiện là nước này phải chấm dứt chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân. Nhưng Bắc Hàn chỉ “hứa lèo”. Năm 2002, Bắc Hàn đã rút tên khỏi Thỏa ước Cấm Phát triển Vũ khí Hạt nhân.
Nhưng trước mối đe dọa do Bắc Hàn đặt ra, thế giới đã không bỏ cuộc. Các cuộc thương thuyết “6 bên” gồm có Trung Cộng, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga, Nam Hàn và Bắc Hàn đã được tổ chức. Năm 2005, kết quả của các cuộc thương thuyết xem ra khả quan khi Hoa Kỳ tuyên bố  nhìn nhận rằng  Bắc Hàn là một quốc gia có chủ quyền không hề có ý xâm lăng nước nào và Bắc Hàn cũng đồng ý trở lại với Thỏa ước Ngăn cấm Phát triển Vũ khí Hạt nhân. Điều đó có nghĩa là quốc gia cộng sản này sẵn sàng để cho Cơ quan Năng lượng Nguyên tử của Liên Hiệp Quốc (gọi tắt là IAEA) được giám sát các cơ sở hạt nhân của mình và đồng ý từ bỏ “mọi vũ khí và chương trình hạt nhân hiện hữu”.
Mặc dù năm 2006, Bắc Hàn đã thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên của mình, các cuộc thương thảo “6 bên” vẫn cứ tiếp tục và tiếp tục một cách uể oải cho đến tháng Tư năm 2009. Thế rồi, chỉ trong một thời gian kéo dài không đầy 7 tuần lễ, Bắc Hàn lại thách thức nghị quyết 1718 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và tống cổ các thanh tra viên của Cơ quan Năng lượng ra khỏi Bình Nhưỡng, đồng thời phóng đi vệ tinh có gắn hỏa tiễn ba tầng Unha-2.  Kể từ đó, Bắc Hàn ngày càng xem trời bằng vung và tỏ ra hung hăng hơn trong tham vọng chế tạo và thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Đầu năm 2012, mặc dù cộng đồng thế giới muốn tỏ ra hòa hoãn hơn khi đề nghị viện trợ kinh tế để đổi lấy việc Bắc Hàn ngưng thử nghiệm vũ khí hạt nhân, nước này lại loan báo một vụ phóng hỏa tiễn nữa.
Đứng trước thái độ nước đôi và thiếu minh bạch của một số nước trong tham vọng chế tạo vũ khí hạt nhân, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama  cho biết ông sẽ làm mọi nỗ lực để chận đứng tham vọng này. Ít ra với Cộng hòa Hồi giáo Iran, các cuộc thương thuyết đã đạt được những kết quả khả quan. Nhưng với Bắc Hàn, Hoa Kỳ và cả thế giới đều chào thua.
Cấm vận kinh tế vốn là một đòn mạnh đối với các chế độ độc tài. Iran đã từng bị liểng xiểng vì nước này lệ thuộc vào việc xuất cảng dầu và khí đốt. Và mặc dù đang cai trị bằng bàn tay sắt, các nhà lãnh đạo của Cộng hòa Hồi giáo Iran vẫn còn biết quan tâm đến cuộc sống của người dân và sự phẫn nộ mà cuộc sống thiếu thốn có thể gây ra nơi họ. Chính vì vậy mà cuối cùng nước này đã chấp nhận ngưng chương trình hạt nhân để đổi lấy việc bãi bỏ cấm vận.
Nhưng nếu cấm vận kinh tế đã thực sự tác động đến Iran thì với Bắc Hàn biện pháp này đã không tỏ ra hiệu quả. Hồi năm 1994, Tổng thống Bill Clinton đã có lúc định cho phép dội bom xuống Bình Nhưỡng. Nhưng cuối cùng, ông đã rút lại ý định vì nghĩ rằng hành động này sẽ tạo ra một cuộc chiến mới trên bán đảo Triều Tiên và có thể sát hại đến hàng triệu triệu người. Năm 2006, khi Bắc Hàn cho thử nghiệm vũ khí hạt nhân, Hoa Kỳ cũng đành loại bỏ mọi biện pháp quân sự. Thành ra, dù có bị cấm vận, Bắc Hàn vẫn tiếp tục thách thức cộng đồng thế giới.
Sở dĩ cấm vận không ảnh hưởng nhiều đối với kinh tế của Bắc Hàn là bởi vì nước này vẫn còn có một chỗ dựa vững chắc là Trung Cộng. Đối tác của 90 phần trăm ngoại thương của Bắc Hàn là Trung Cộng. Và sở dĩ người cộng sản khổng lồ Trung Cộng không muốn bỏ rơi tên côn đồ Bắc Hàn là bởi vì lo sợ rằng sự sụp đổ của kinh tế Bắc Hàn sẽ khiến cho một làn sóng người tỵ nạn không thể kiểm soát được ùa vào nước mình. Ngoài ra, Trung Cộng vẫn luôn thấy rằng cần phải có một tên côn đồ như thế để quậy phá quốc gia đồng minh thân cận của Hoa Kỳ là Nam Hàn.
Cấm vận cũng chẳng làm cho Lãnh tụ Kim Jung Un phải mất ăn mất ngủ, bởi vì cậu ta chẳng bao giờ màng đến những hệ lụy chính trị mà cuộc sống khốn khổ của người dân có thể tạo ra: Bắc Hàn có lẽ là nơi duy nhất trên thế giới không có bất đồng chính kiến. Ngay cả vào thập niên 1990, khi có hàng trăm ngàn người chết đói đi nữa, người ta cũng chẳng hề nghe được bất cứ một tiếng nói bất đồng chính kiến nào.
Kim Jung Un hiện xem vũ khí hạt nhân mình đang có trong tay  như một điều kiện sống còn của chế độ cha truyền con nối của Bắc Hàn. Với nhà lãnh đạo non trẻ này vũ khí hạt nhân là một thứ bài chủ để đòi hỏi thế giới bên ngoài phải nể trọng Bắc Hàn. Thành ra, với Bắc Hàn, vũ khí hạt nhân không phải là chuyện để mang ra thương lượng và đổi chác.
Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới đang trông chờ vào một thái độ cứng rắn của Trung Cộng đối với thái độ thách thức của Bắc Hàn. Nhưng xem ra Trung Cộng vẫn tiếp tục đi nước đôi trong các cuộc thương thuyết với Bắc Hàn. Kể từ năm 2013, sau khi Kim Jung Un ra lệnh hành quyết người dượng của mình là ông Jang Song Taek, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng, tức nhân vật chỉ đứng thứ nhì sau lãnh tụ tối cao, Trung Cộng có tỏ ra bất bình, bởi vì ông Taek vốn là người luôn có quan hệ tốt đẹp với nước đàn anh. Nhưng Trung Cộng chỉ đưa ra những biện pháp vừa đủ để gọi là làm cho Kim Jung Un phải thay đổi thái độ, nhưng lại không đủ mạnh để trừng phạt Bắc Hàn vì lúc nào cũng lo sợ rằng sự sụp đổ của chế độ này sẽ khiến cho người tỵ nạn ùa vào nước mình.
Đứng trước đe dọa của Bắc Hàn, Hoa Kỳ và Nam Hàn hiện đang thảo luận về việc thiết lập hệ thống THAAD, tức hệ thống phi đạn nhằm phá hủy các phi đạn của Bắc Hàn trước khi chúng đạt đến mục tiêu. Nhưng dự án này hiện đang bị Trung Cộng chống đối quyết liệt. Trung Cộng đe dọa rằng hệ thống THAAD mà Hoa Kỳ muốn thiết lập tại Nam Hàn sẽ phá vỡ mối quan hệ tốt đẹp giữa Trung Cộng và Nam Hàn.
Cũng như các cấm vận kinh tế, hệ thống THAAD là giải pháp cần làm để đối phó với mối đe dọa của Bắc Hàn đối với không chỉ Nam Hàn và Hoa Kỳ, mà còn với cả thế giới. Tuy nhiên, cũng như vấn vận kinh tế, hệ thống THAAD xem ra cũng chẳng khiến cho Bắc Hàn lùi bước trong tham vọng hạt nhân điền cuồng của mình.
Thật ra điểm nhắm của Bắc Hàn chưa hẳn là Nam Hàn và Hoa Kỳ hay toàn thế giới, mà chính là Trung Cộng. Bắc Hàn biết rõ rằng Trung Cộng đang cần họ. Trung Cộng cần có họ như một tên côn đồ để quậy phá Nam Hàn, đồng minh thân cận của Hoa Kỳ. Nhưng điều đáng lo sợ nhất đối với Trung Cộng chính là sự sụp đổ của chế độ cộng sản Bắc Hàn, bởi vì nếu điều này xảy ra, họ sẽ phải gánh chịu những hệ lụy nghiêm trọng nhất mà làn sóng tỵ nạn từ Bắc Hàn sẽ tạo ra. Nhưng theo một số nhà bình luận, cũng có một lý do khác khiến Trung Cộng tiếp tục nuôi dưỡng Bắc Hàn: Trung Cộng lo sợ rằng nếu chế độ cộng sản Bắc Hàn sụp đổ, tên côn đồ Kim Jung Un có thể cho nổ tung kho vũ khí hạt nhân của mình để tự sát. Đây có thể là điều mà lãnh tụ mặt còn búng ra sữa này muốn cho cả thế giới tin là cậu dám làm. Và như báo The Economist của Anh dự báo, đây không hẳn là một hành động “thấu cáy”, bởi vì chẳng ai biết được Kim Jung Un đang nghĩ gì trong đầu!

Nguồn: http://www.economist.com/news/briefing/21699449-kim-jong-un-home-straight-making-his-country-serious-nuclear-power-nobody-knows







Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2016

Vũ khí sát thương


Chu Thập
27.05.16
Time 30.5.16
Trên trang bìa của tạp chí Time số ra ngày 30 tháng 5 này, người ta thấy hình của một thiếu niên người Phi Châu, ngồi bó gối trông thật buồn thảm. Cậu bé này là nạn nhân của một cuộc nội chiến đẫm máu tại Nam Sudan từ năm 2013 đến năm 2015. Có một dạo, kể từ năm 2011, thỉnh thoảng các cơ quan truyền thông thế giới có nhắc đến tên của Nam Sudan, bởi vì đây là quốc gia non trẻ nhất vừa mới giành được độc lập. Rồi sau đó, ngay cả khi cuộc nội chiến giữa các phe phái và sắc tộc tại quốc gia này có cướp đi mạng sống của không biết bao nhiêu người, thế giới xem ra chẳng buồn muốn biết chuyện gì đã và đang xảy ra tại quốc gia vừa mới có tên trên bản đồ thế giới này.
Cần phải khép lại quá khứ để nhìn về tương lai. Đó là lời an ủi và khuyến khích người ta thường ngỏ với các nạn nhân của chiến tranh, nhứt là nạn nhân của những cuộc nội chiến. Dường như trí nhớ của các nhà lãnh đạo quốc gia dễ dãi hơn người dân thường: họ dễ quên và cũng cố tình quên đi hoặc che đậy quá khứ để chỉ hướng đến tương lai. Nhưng liệu các nạn nhân như cậu bé được tạp chí Time cho đăng hình  ở trang bìa của số mới nhứt này có thể dễ dàng quên đi cái quá khứ đầy thương tích của mình không?
Như tạp chí Time đã mở đầu bài phóng sự, “người chết vẫn còn lên tiếng trong những giấc mơ của cậu. Họ hỏi cậu có còn nhớ thời gian họ bị nhốt chung trong “conex” không. Và họ bảo cậu đừng quên”. Theo lời người thiếu niên 13 tuổi này kể lại, buổi sáng ngày 22 hay 23 tháng 10 năm ngoái, cậu đang chăn bò thì lính của quân đội chính phủ xuất hiện. Họ dùng roi bằng giây điện lùa cậu và khoảng 50 người đàn ông khác như thể lùa súc vật và đẩy  vào một thùng “conex” bỏ trống bên cạnh một cơ sở truyền giáo của Giáo hội Công giáo đang bị bỏ hoang vì chiến tranh. Chỉ có những người Việt Nam nào đã từng bị người cộng sản nhốt vào “conex” mới hiểu được sự dã man tàn bạo của con người đối với con người. 53 người bị nhốt chung trong một thùng “conex” giữa cái nóng hừng hực  của Phi Châu thì chẳng khác nào bị đưa vào lò hơi ngạt của Đức Quốc Xã trong thời Đệ nhị thế chiến. Không cần hơi ngạt, hơi nóng và tình trạng thiếu dưỡng khí cũng đủ để sát hại các nạn nhân.
Một thiếu phụ đứng nép từ xa kể lại rằng buổi chiều ngày hôm sau, khi những người lính của quân đội chính phủ đến mở cửa  thùng “conex” thì tất cả những người bị nhốt trong đó đều đã chết; thân thể họ đã tái xanh. Chồng và người con rể của chị nằm trong số những người xấu số ấy. Chỉ có người thiếu niên trên đây được may mắn sống sót. Cậu vẫn không hiểu tại sao mình bị bắt nhốt vào thùng “conex”. Và cậu cũng chẳng hiểu được tại sao mình còn sống sót.
Người thiếu niên và các nạn nhân bị nhốt trong thùng “conex” là người dân sinh sống tại vùng Leer, nơi mà Chính phủ Nam Sudan xem như một “ổ phản động”. Tại đây, thay vì được trả lương, quân đội chính phủ được cho phép cướp bóc và hãm hiếp tùy thích.
Theo tổ chức “The International Crisis Group” (Khủng hoảng Quốc tế), số nạn nhân bị giết chết trong cuộc nội chiến tại Nam Sudan lên đến hơn 10 ngàn người. Nay cuộc nội chiến đã kết thúc. Phó tổng thống, người đã ly khai để chống lại chính phủ và làm dấy lên cuộc nội chiến, đã được phục hồi. Cánh cửa quá khứ như đã được khép lại. Chính phủ Nam Sudan hoàn toàn phủ nhận câu chuyện của người thiếu niên sống sót từ thùng “conex”. Hoặc giả nếu có xảy ra thì theo chính phủ  đó chỉ là tội ác của phe nổi dậy nhằm tạo áp lực lên chính phủ và ngăn chận tiến trình hòa bình. Câu chuyện dường như ngày càng lu mờ và lui dần vào quá khứ. Nhưng với các nạn nhân còn sống sót như người thiếu niên trên đây hoặc thân nhân của những người đã từng bị sát hại trong cuộc nội chiến, có lẽ hồn ma của người chết vẫn còn ẩn hiện nơi nào đó để không ngừng nhắc nhở họ về tội ác của con người, dù được gây ra bởi phía bên nào.
Đó không chỉ là chuyện của Nam Sudan. Lịch sử nhân loại, nhứt là trong thế kỷ 20 vừa qua, đầy dẫy những trang buồn thảm như thế. Con số hơn 10 ngàn nạn nhân và câu chuyện của người thiếu niên Nam Sudan có lẽ chẳng là gì so với câu chuyện của 18 triệu người bị đưa vào các quần đảo Gulag dưới thời đồ tể Stalin và chẳng bao giờ trở về. Câu chuyện đó cũng chẳng là gì so với câu chuyện của 6 triệu người Do Thái bị sát sinh trong các trại tập trung và lò hơi ngạt của Hitler. Câu chuyện đó cũng chẳng là gì so với câu chuyện của trên 30 triệu người Trung Hoa bị đồ tể Mao Trạch Đông sát hại trong “Bước nhảy vọt vĩ đại” và Cuộc Cách mạng Văn hóa mà thế giới vừa mới tưởng niệm đúng 50 năm. Còn nếu so với câu chuyện của 2 triệu người Cam Bốt bị Polpot sát hại trong những “cánh đồng giết người”, thì cuộc nội chiến tại Nam Sudan cũng chỉ là một bóng mờ. Và dĩ nhiên, nếu so với cuộc chiến “thần thánh” đánh cho “Mỹ cút ngụy nhào” do cộng sản Miền Bắc phát động để lấy Miền Nam Việt Nam dâng cho quan thày Liên Xô và Trung Cộng, thì cuộc nội chiến chỉ kéo dài vài năm ở Nam Sudan chẳng là gì. Nếu hồn ma của những người đã từng bị nhốt chung trong “conex” cùng với người thiếu niên Nam Sudan vẫn còn lởn vởn trong những giấc mơ của cậu và nhắc nhở cậu đừng bao giờ quên, thì tiếng kêu của hàng triệu nạn nhân trong cuộc chiến do cộng sản gây ra, của hàng trăm ngàn hồn ma bị sát hại trong các trại tù sau năm 1975, của hàng triệu người bỏ mình trên đại dương trong cuộc vượt biển đi tìm tự do, của không biết bao nhiêu nạn nhân của chế độ cộng sản kể từ sau năm 1975 cho đến nay...có lẽ còn mãnh liệt hơn nhiều. “Đừng quên”: làm sao người Việt Nam hiện nay, nhứt là cộng đồng người Việt tỵ nạn rải rác khắp nơi trên thế giới có thể quên được trang sử đau thương của dân tộc, nhứt là khi trang sử ấy vẫn còn vấy máu và vẫn  được chế độ cộng sản  tiếp tục viết.
Trong những ngày vừa qua, các cơ quan truyền thông quốc tế, nhứt là của Hoa Kỳ, đã tha hồ bình luận về chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng thống Barack Obama. Được hợp đồng bán cho Vietjet của Việt Nam cả trăm chiếc máy bay, được đưa tổ chức thiện nguyện Peace Corps vào Việt Nam để dạy Anh ngữ cho người Việt Nam và nhứt là tháo gỡ được lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam...chính sách ngoại giao đặt nhân quyền lên hàng đầu của Hoa Kỳ  không thấy đâu cả. Chỉ thấy Hoa Kỳ là nước đang hưởng lợi trước mắt và cũng trước mắt chế độ cộng sản  độc tài xem ra ngày càng có tính chính danh và kiên cố và dĩ nhiên ngày càng được công khai và ngang nhiên đàn áp người dân trong nước. Một số nhà bình luận đã xem chuyến viếng thăm lịch sử của Tổng thống Obama như một hành động khép lại trang sử của quá khứ để hướng về một tương lai tốt đẹp cho quan hệ giữa hai nước. Người ta cũng đã từng “bình” như thế về các chuyến viếng thăm của hai vị tiền nhiệm của ông Obama là ông Bill Clinton và ông George W Bush. Ba vị này lật và khép lại trang sử của quá khứ một cách quá dễ dàng, bởi vì cả ba vị này chưa từng có mặt trong cuộc chiến tại Việt Nam. Có đến Việt Nam họ cũng được long trọng đón tiếp với cờ xí ngập trời. Làm sao họ hiểu được nỗi đau của những người Việt Nam đã từng trải qua cuộc chiến, đã từng  là nạn nhân của chế độ cộng sản độc tài.
Hơn cả mấy ông tổng thống Mỹ, chế độ cộng sản hiện nay cũng đang cố tình lấp liếm, che đậy và ngay cả xóa bỏ trang sử đầy những hành động tàn ác vô nhân đạo của họ. Họ mừng biết chừng nào khi chính một nước cựu thù như Hoa Kỳ muốn giúp họ khép lại trang sử ấy.
Nhưng đừng ai bảo một người Việt tỵ nạn như tôi khép lại quá khứ. Tôi không thể khép lại quá khứ bởi vì cũng như người thiếu niên Nam Sudan trên đây,  trong các giấc mơ lúc nào tôi cũng thấy chập chờn hồn ma của không biết bao nhiêu nạn nhân của chế độ cộng sản Việt Nam. Tôi cũng không thể khép lại quá khứ bởi vì những gì đang xảy ra ở Nga, ở Trung Cộng và nhứt là ở Việt Nam đều nói với tôi rằng khi những trang sử đau thương của quá khứ bị chối bỏ và khép lại, người ta lại thấy tái hiện cũng chính những hành động độc ác của quá khứ. Một Vladimir Putin của Nga đang tìm cách chối bỏ tội ác của Stalin bằng cách khoác vào người chiếc áo  độc tài khát máu của chính Stalin. Một Tập Cận Bình của Trung Cộng đã không bao giờ nhìn nhận tội ác của đồ tể Mao Trạch Đông là bởi hiện đang đi theo con đường bá quyền và tàn bạo của chính ông này. Còn tại Việt Nam, chế độ cộng sản vẫn tiếp tục “ăn mày dĩ vãng”, nghĩa là vẫn tự hào về những tội ác trong quá khứ và tự cho mình có chính danh để tiếp tục đàn áp người dân.
Tôi tin như đinh đóng cột rằng bao lâu người cộng sản Việt Nam tiếp tục che đậy và chối bỏ vô số tội ác của họ trong quá khứ, họ sẽ không bao giờ chấm dứt những hành động tội ác như đang diễn ra hàng ngày hiện nay.
Với chuyến viếng thăm vừa qua, Tổng thống Obama đã tháo gỡ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam. Rồi đây, đủ loại vũ khí sát thương của Hoa Kỳ sẽ tràn vào Việt Nam. Dĩ nhiên đây là một mối lợi lớn cho Hoa Kỳ. Tôi không biết với các vũ khí sát thương ấy, Việt Nam có đủ sức chống đỡ với người láng giềng khổng lồ đang sải từng bước chân rộng lớn trên lãnh thổ và lãnh hải của mình không. Trước mắt, tôi chỉ biết rằng người cộng sản Việt Nam đang nắm trong tay một thứ vũ khí sát thương độc hại nhứt đó là chế độ độc tài khát máu và càng lúc họ càng tỏ ra hung hãn và độc ác với người dân hơn bất cứ lúc nào.
Tôn giáo nào cũng thường nhắc nhở tôi sám hối. Sám hối là hành vi nền tảng trong đạo. Sám hối là trước tiên biết nhận ra những lầm lỗi của mình để rồi tìm cách chuộc lại lỗi lầm bằng những cố gắng sống lương thiện. Thật ra, đâu chỉ người có tôn giáo mới biết sám hối. Cứ bỏ gươm xuống thì ai mà chẳng thành phật! Trái lại vẫn khư khư bám lấy các thứ “vũ khí sát thương” là ích kỷ, hận thù, tham lam và nhứt là mù quáng thì dĩ nhiên làm sao  có thể cư xử  vị tha, quảng đại, hòa nhã,  cảm thông, tha thứ...đối với người khác.
Hồn ma của không biết bao nhiêu nạn nhân của sự độc ác của con người, nhứt là của chế độ cộng sản Việt Nam, vẫn cứ luôn hiện diện trong tôi để nhắc nhở tôi: “đừng quên”. “Đừng quên” để quyết tâm đừng đi lại con đường độc ác, đừng tìm cách đối xử độc ác với người đồng loại, đừng ăn miếng trả miếng...