Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

Tunisia sau Mùa Xuân Á Rập


31.7.15

Ngày 26 tháng 6 vừa qua, vào đúng giờ ngọ, tại một bãi biển nổi tiếng ở thành phố Sousse, Tunisia, một người thanh niên đã rút khẩu súng dấu trong chiếc dù ra và bắn xối xả vào đám đông. Trước khi bị cảnh sát bắn hạ, người thanh niên 23 tuổi tên là Seifeddine Rezgui đã hạ sát 38 người trong đó có 30 khách du lịch người Anh. Hành động bắn giết  tại thành phố biển Sousse trên đây được xem là cuộc tấn công khủng bố dã man nhất trong lịch sử hiện đại của Tunisia. Đây là cuộc tấn công khủng bố thứ hai trong năm nay. Ngày 18 tháng 3 vừa qua, hai tay súng đã xông vào Bảo tàng viện Bardo ở thủ đô Tunis và bắn gục 22 người, phần lớn là du khách.
Tên khủng bố tại bãi biển Sousse trên đây có lẽ đã nhận được sự yểm trợ và hướng dẫn rất tỉ mỉ của những tên khủng bố khác mà người ta cho là có liên hệ với Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” IS.  Cuối tháng 6 vừa qua, một nhân viên an ninh Tunisia đã cho hãng thông tấn AP biết rằng Rezgui và hai tay súng tại Bảo tàng viện Bardo đã từng đến Libya để theo một khóa huấn luyện trong các căn cứ khủng bố.
Gia đình của Rezgui và những người hàng xóm của anh tại đảo Gaafour đã không biết phải giải thích như thế nào với các ký giả về việc người thanh niên đã bị nhồi sọ đ trở thành một tên khủng bố như thế.
Tuy nhiên, tại Tunisia, sau cuộc Cách mạng thuờng được mệnh danh là “Mùa Xuân Á Rập”, những câu chuyện tương tự như của Rezgui không  gây ngạc nhiên chút nào. Quốc gia Bắc Phi này tưởng đã trở thành biểu tượng cho một cuộc cách mạng thành công, nhưng không ngờ đã trở thành nguồn cung cấp thánh chiến quân lớn nhất cho Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”.
Theo uớc tính, kể từ tháng 3 năm 2011, đã có khoảng 3000 người Tunisia đã rời bỏ xứ sở để gia nhập vào Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” tại Syria và Iraq. Đã có hàng trăm người hồi hương. Nhưng chính phủ Tunisia lo ngại rằng trong số này có cả trăm người như Rezgui, sẵn sàng đưa cuộc xung đột vũ trang về xứ sở và không từ bỏ bất cứ hành động khủng bố nào.
Tại sao Tunisia, cái nôi của “Mùa Xuân Á Rập” lại biến thành nguồn cung cấp nhân sự cho Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” ? Nhiều người giải thích rằng những nguyên nhân thúc đẩy cuộc “Cách mạng Hoa Lài” như nền kinh tế trì trệ, tệ nạn tham nhũng, tỷ lệ giới trẻ thất nghiệp cao, hiện vẫn còn đó. Do bất mãn, giới trẻ Tunisia đã trở thành miếng mồi ngon cho tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”.
Jabeur Amami, một thanh niên 31 tuổi là một điển hình. Tốt nghiệp kỹ sư sau cuộc cách mạng, nhưng Amami vẫn không tìm được việc làm. Anh bắt đầu tìm đến đền thờ địa phương tại Sidi Bouzid, một thành phố nghèo cách Gaafour khoảng 177 cây số về hướng Nam. Gaafour chính là thành phố nơi thủ phạm của vụ bắn giết tại bãi biên Sousse đã lớn lên. Cũng chính tại quảng trường chính ở Sidi Bouzid mà dạo tháng 12 năm 2010, người thanh niên tên là Mohammad Bouazizi đã tự thiêu, châm ngòi cho cuộc cách mạng “Mùa Xuân Á Rập” tại Trung Đông. Không bao lâu sau đó, các đảng “Hồi Giáo” nở rộ tại Tunisia, khai thác triệt để sự bất mãn của dân chúng, cách riêng giới trẻ. Người chị gái của Amami tên là Hayet, một nhà hoạt động xã hội, cho biết các nhà thuyết giảng Hồi Giáo cực đoan tại Sidi Bouzid phân phát truyền đơn và mở các lớp học sau các buổi cầu nguyện để giảng giải cho giới trẻ về Hồi Giáo. Trong thực tế, theo bà Hayet, “đây chỉ là một cuộc ty não”.
Ngày 4 tháng 7 năm 2014, chỉ vài ngày sau khi Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” tuyên bố thành lập quốc gia, bà Hayet đã thức dậy trong bàng hoàng khi khám phá ra rằng người em trai của bà đã bỏ gia đình ra đi. Người thanh niên đã đến Syria để gia nhập vào Tổ chức “Quốc gia Hồi giáo”. Nhưng tại đây, thất vọng với điều được gọi là “thánh chiến”, Amami mới hiểu được rằng tổ chức này chỉ hoạt động vì tham vọng và tư lợi cá nhân hơn là đánh đổ chế độ độc tài của tổng thống Bashar Assad. Ngày 7 tháng 9 năm đó, Amami trở về Tunisia. Anh đã bị bắt tại phi trường với cáo buộc tham gia một tổ chức khủng bố. Với hy vọng có thể ngăn ngừa thanh thiếu niên Tunisia đi theo con đường của em mình, bà Hayet đã đưa ra nhiều sáng kiến để giúp cho các thanh niên vừa tốt nghiệp có thể tìm được công ăn việc làm.
Một số người Tunisia nói rằng chính phủ nước này đã không nỗ lực đủ để đối phó với những người đang chiêu mộ giới trẻ vào con đường khủng bố hoặc ngăn ngừa các thánh chiến quân rời bỏ xứ sở. Ngày 17 tháng Tư vừa qua, Bộ trưởng Nội vụ Tunisia, ông Najem Gharsali cho biết  kể từ tháng Ba năm 2013 , bộ của ông đã ngăn cản  được 12.490 người Tunisia rời bỏ xứ sở để tham gia chiến đấu tại Iraq, Libya và Syria.
Chính phủ mới đắc cử gần đây, mặc dù phải đương đầu với những khó khăn về kinh tế cũng như tình trạng bất ổn chính trị ở biên giới, vẫn cam kết sẽ làm nhiều hơn để chống lại chủ nghĩa cực đoan. Tuy nhiên, bao lâu chính phủ này không tạo ra được một tương lai tốt đẹp cho giới trẻ Tunisia, thì sự bất mãn và phẫn nộ đã từng châm ngòi n cho cuộc cách mạng dân chủ dạo tháng 12 năm 2010, cũng sẽ nuôi dưỡng chủ nghĩa cực đoan mà thôi (x. Time, Tunisia’s Jihadist Pipeline, 20/7/2015).
Tunisia là quốc gia nằm ở cực Bắc Phi Châu, với diện tích khoảng 165 ngàn cây số vng và trên dưới 11 triệu dân. Là một trong những quốc gia Phi Châu có chỉ số phát triển cao, Tunisia có quan hệ thân thiết với Liên Âu và là thành viên của Khối Pháp Thoại, Liên Hiệp Á Rập Magreb, Liên Hiệp Á Rập và Liên Hiệp Phi Châu. Nhờ có quan hệ mật thiết với Âu Châu, đặc biệt là với Pháp và Ý, so với các nước Phi Châu khác, Tunisia theo đuổi chính sách tư hữu hóa và có một nền kỹ nghệ tương đối hiện đại.
Vào thời cổ, người dân Tunisia thuộc giống người Berbères. Tổ tiên của họ là người Phenixi đã có mặt tại vùng đất này tử thế kỷ thứ 12 trước Công nguyên. Họ đã xây  dựng được một thành phố nổi tiếng là Carthage. Đây là nơi đã từng xảy ra những cuộc chiến giữa Hy Lạp và Tunisia cũng như giữa Tunisia và người La Mã. Đế quốc La Mã đã mang đến Tunisia không những lối kiến trúc của họ mà còn cả Kitô Giáo nữa. Nhưng ngay từ thế kỷ đầu của kỷ nguyên Hồi Giáo, tức thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên, Tunisia đã bị những người Á Rập theo Hồi Giáo xâm chiếm. Kế đó, từ năm 1534 đến năm 1574, Tunisia lại chịu sự đô hộ của Đế Quốc Thổ. Mãi cho đến năm 1881, người Pháp mới đặt chân đến Tunisia và biến nước này thành thuộc địa. Vào thời đó, người Pháp và người Ý đổ xô đến định cư tại nước này.
Năm 1956, dưới sự lãnh đạo của ông Habib Bourguiba, Tunisia đã giành được độc lập. Trở thành tổng thống đầu tiên của Tunisia, Bourguiba đã cai trị đất nước bằng bàn tay sắt. Từ năm 1956 cho đến năm 2010, tức năm xảy ra cuộc cách mạng “Mùa Xuân Á Rập”, Tunisia là một trong nước phải trải qua những chế độ độc tài nhất trong thế giới Á Rập.
Tháng 11 năm 1987, khi các bác sĩ tuyên bố Tổng thống Bourguiba không còn đủ khả năng để cai trị đất nước nữa, Thủ tướng Zine El Abidien Ben Ali đã thực hiện một cuộc đảo chính không đổ máu và lên làm tổng thống. Từ đó, ông liên tiếp được tái cử trong nhiều nhiệm kỳ. Mãi cho đến tháng Giêng năm 2011, cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc “Cách mạng Hoa Lài” do cuộc tự thiêu của người thanh niên Bouazizi khởi xướng, Tổng thống Ben Ali đành phải bỏ trốn ra nước ngoài.
Tổng thống Ben Ali và gia đình ông bị cáo buộc về hai tội là tham nhũng và tham lạm công quỹ quốc gia. Hầu hết doanh nghiệp trong nước đều nằm dưới sự kiểm soát của gia đình ông. Đệ nhất phu nhân Leila Ben Ali được mô tả như một người phụ nữ “bị bệnh mua sắm”. Bà sử dụng máy bay của chính phủ để thường xuyên đi mua sắm ở các thủ đô thời trang tại Âu Châu.
Các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền như Ân Xá Quốc Tế, Freedom House (Ngôi nhà Tự do)...đã thu thập rất nhiều tài liệu cho thấy các quyền căn bản của con người và quyền chính trị tại Tunisia đều đã không được tôn trọng dưới thời Tổng thống Ben Ali. Chế độ của ông đã hoàn toàn bóp nghẹt hoạt động của các tổ chức nhân quyền trong nước. Năm 2008, Tunisia được xếp hạng thứ 143 trong tổng số 173 nước trên thế giới về thành tích vi phạm nhân quyền.
Sau cuộc “Cách mạng Hoa Lài” và bầu cử tự do, một số tổ chức không chính phủ đã được tổ chức lại và hàng trăm tổ chức khác xuất hiện. Đáng chú ý nhất là Tổ chức có tên “Liên Minh Nhân Quyền Tunisia”. Đây là tổ chức nhân quyền đầu tiên tại Phi Châu và trong thế giới Á Rập. Trước đây tổ chức này phải chịu sự chi phối và kiểm soát chặt chẽ của chính phủ, nay đã được hoàn toàn tự do để hoạt động.
Sau cuộc cách mạng, một số tổ chức của người Hồi Giáo thuộc hệ phái Salafi có khuynh hướng cực đoan trong việc áp dụng luật Hồi Giáo, đã xuất hiện. Các nhóm này đã tìm cách áp chế tự do của văn nghệ sĩ, nhưng gặp sự chống đối của đa số người Hồi giáo tại Tunisia. 98 phần trăm dân số Tunisia theo Hồi giáo. Chỉ có khoảng 2 phần trăm theo Kitô Giáo, Do Thái Giáo hoặc một số tôn giáo khác. Phần lớn người Hồi Giáo tại Tunisia thuộc hệ phái Sunni. Mặc dù Hiến Pháp Tunisia tuyên bố Hồi Giáo là Quốc Giáo và đòi hỏi tổng thống nước này phải là một tín đồ Hồi Giáo, các tôn giáo khác vẫn được tự do hoạt động; các quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và thực hành đạo vẫn được tôn trọng. Ngoài ra, Tunisia cũng là một quốc gia thế tục, nghĩa là tôn giáo không những tách biệt khỏi chính trị mà còn ngay cả trong đời sống công cộng. Ngay cả trước khi xảy ra cuộc “cách mạng Hoa Lài”, chính phủ hạn chế việc mang khăn trùm đầu (hijab) trong các cơ quan chính phủ, trên đường phố và trong các cuộc hội họp công cộng. Chính phủ Tunisia cho rằng khăn “Hijab” có nguồn gốc ngoại lai không phù hợp với văn hóa dân tộc. Năm 2006, chính Tổng thống Ben Ali tuyên bố rằng ông sẽ chống lại việc mang khăn “Hijab” vì ông cho rằng đây là một lối phục sức của riêng một sắc dân, chứ không của chung toàn dân. Theo một số nguồn tin, cảnh sát Tunisia còn làm khó dễ những người đàn ông có “ngoại diện Hồi Giáo” như để râu chẳng hạn; họ có thể bị bắt giữ và đôi khi bị buộc phải cạo râu.
Tuy nhiên, sau cuộc cách mạng, một chính phủ Hồi Giáo dung hòa hơn đã cho nhiều tự do hơn trong việc thực hành đạo. Nhưng đây cũng là một cánh cửa được mở ra cho những nhóm cực đoan như hệ phái Salafi là những người luôn kêu gọi áp dụng Luật Hồi Giáo Sharia một cách khắt khe.
Nhìn chung, người Tunisia tỏ ra khoan nhượng đối với tự do tôn giáo. Họ thường không quan tâm đến tín ngưỡng của người khác. Như vậy, như tạp chí Time đã nhận xét, những nguyên nhân khiến cho giới trẻ Tunisia dễ bị đầu độc, “cực đoan hóa” và bị tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” chiêu mộ, không phải là niềm tin tôn giáo, cho bằng là tình trạng kinh tế trì trệ, tỷ lệ thất nghiệp cao của giới trẻ và tệ nạn tham nhũng.


Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

Một thế giới không hận thù


                                                                              
                                                                                            Chu Thập
31.7.15
Trên tạp chí Reader’s Digest, số tháng Tư năm 2013, tôi đọc được một câu chuyện về tha thứ thật cảm động. Nhân vật chính của câu chuyện là một thanh niên Hồi giáo đến từ Bangladesh tên là Rais Bhuiyan. Chuyện thương tâm đến với anh chỉ đúng 10 ngày sau khi xảy ra cuộc tấn công khủng bố nhắm vào Ngũ Giác Đài và Tòa Tháp Đôi ngày 11 tháng 9 năm 2001.
Sau khi nhận được “thẻ xanh” để trở thành thường trú nhân được một năm, Rais đã rời bỏ New York để đến thành phố Dallas, tiểu bang Texas, với hy vọng tìm được một việc làm tốt hơn, mặc dù bạn bè anh cảnh cáo rằng người dân tại đây không có nhiều thiện cảm đối với người di dân. Nhưng niềm hy vọng được đón rước người vợ sắp cưới khiến anh luôn tỏ ra lạc quan.
Anh không ngờ rằng lời cảnh cáo của bạn bè đã trở thành sự thật. Buổi trưa ngày 21 tháng 9 năm đó, giữa lúc Rais đang làm thêm giờ phụ trội tại một trạm xăng, một người đàn ông da trắng 31 tuổi tên là Mark Stroman đã xông vào tiệm và làm hành động mà ông ta nói rằng “hàng triệu người Mỹ cũng muốn làm” sau biến cố 11 tháng 9. Đứng cách Rais khoảng 1 thước 2, với cây súng săn hai nòng, ông nhả đạn vào người anh.
Khi Mark vừa bước vào trong trạm xăng, Rais cứ nghĩ rằng anh sẽ phải đối phó với một vụ cướp thứ nhì kể từ khi anh đến làm việc tại đây. Lần đó anh ngỡ tên cướp là một người bình thường, muốn xách súng đi gạ bán như người dân tại tiểu bang Texas vẫn thường làm, cho nên mới hỏi: “Giá cây súng bao nhiêu?”
Lần này, anh cũng cố gắng tỏ ra bình thản và thân thiện với người đang cầm trên tay khẩu súng hai nòng. Nhưng chưa kịp mở miệng, Rais đã phải trả lời cho câu hỏi của Mark: “Mày đến từ nước nào?” Kể từ sau ngày 11 tháng 9, đây không phải là một câu hỏi bình thường nữa. Cách đó vài ngày, Rais cũng đã từng trả lời một câu hỏi như thế cho các viên cảnh sát thường ghé vào tiệm để mua bánh kẹo, nước giải khát. Anh ngạc nhiên vô cùng, vì nhiều người Mỹ vẫn nghĩ rằng chỉ có người Á Rập mới theo Hồi Giáo.
Sau khi Mark cho nổ súng vào người anh, Rais có cảm tưởng như có “hàng triệu con ong đang chích vào mặt anh”.
Sau này, tên sát nhân cho cảnh sát biết rằng hắn đang truy lùng những người Á Rập. Hắn phịa ra rằng mình có một người em gái đã bị sát hại trong vụ tấn công khủng bố vào một trong hai tòa nhà tháp đôi. Hắn cũng nói rằng ngoài người Á Rập, hắn cũng không tha những di dân đến từ Pakistan và Ấn Độ. Trước Rais, hắn đã hạ sát một người Ấn Độ.
Ra trước tòa, tên sát nhân không để lộ bất cứ một cử chỉ hối hận nào. Năm 2002, Mark đã bị tòa kết án tử hình vì tội giết người Ấn Độ.
Về phần mình, Rais được may mắn thoát chết mặc dù nhận đến 38 mảnh đạn trên mặt, sọ và mắt.Vì không có bảo hiểm y tế để được chữa trị đầy đủ, Rais bị mù một mắt. Ngoài ra, mỗi lần làm một cử động nhỏ trên đầu, anh cũng cảm thấy rất đau đớn.
Là một tín hữu Hồi Giáo thuần thành, mỗi ngày anh cũng cầu nguyện 5 lần. Cứ mỗi lần đầu anh chạm xuống nền nhà, anh cảm thấy đau đớn tột cùng. Mẹ anh đã từng nói rằng anh là một người “cứng đầu”. Bây giờ anh mới thực sự nhận ra điều đó.
Sau khi Mark bị đưa vào hành lang tử thần, cuộc sống của Rais cũng không sáng sủa hơn. Không tiền, không xe, lại mang theo một lố hóa đơn y tế đến cả chục ngàn Mỹ Kim. Ngoài ra, người bạn và đồng thời cũng là chủ của tiệm xăng đã không tỏ ra tận tình với anh như trước nữa khiến anh cảm thấy mình chỉ còn là gánh nặng cho người khác. Nhưng Rais không chịu bỏ cuộc, nghĩa là quay đầu về nước. Anh cương quyết ở lại Dallas, mặc dù vẫn còn lo sợ mỗi khi ra khỏi nhà. Bị trầm cảm nặng sau chấn thương, nhưng anh cũng không có đủ tiền để được tư vấn về tâm lý. Năm 2003, sau khi đã suy nghĩ và cầu nguyện, anh quyết định đi xin việc làm và lần này, anh được nhận như một chân chạy bàn trong một nhà hàng. Qua trung gian một người bạn bác sĩ, chuyện nợ nần của anh cũng được một Quỹ tài trợ của tiểu bang thanh toán. Hết nợ, anh mở trương mục tiết kiệm và tín dụng, thuê phòng và mua xe.
Khoảng tháng 11 năm 2009, sau khi đã theo học một khóa về vi tính, Rais thấy mình cần phải thực hiện điều mà trong cơn thập tử nhứt sinh anh đã từng hứa với Đấng Allah là: phải làm một cuộc hành hương sang Mecca. Cha anh đã từng đến đó 3 lần. Do đó, lần này Rais đưa mẹ cùng đi với mình. Họ đã ở lại đó cả tháng trời.
Trở lại Dallas, Rais thấy mình đã hoàn toàn trở thành một con người mới. Anh cho biết không còn màng đến bản thân nữa, mà chỉ còn nghĩ đến Mark Stroman, người đang ở trong hành lang tử thần từ 9 năm qua. Anh nói: “Ông ta (Mark) cũng là một con người như tôi. Ông đã phạm một sai lầm. Dĩ nhiên đó là một sai lầm khủng khiếp. Nhưng trong Kinh Coran có nói rõ ràng rằng nếu bạn lâm vào một hoàn cảnh như tôi, hoặc là bạn đòi hỏi công lý, bạn yêu cầu được đền bù về mặt tài chính hoặc là bạn tha thứ. Và một khi bạn tha thứ, thì điều đó có nghĩa là người đó được tha thứ; người đó không phải bị giam tù nữa. Một khi tôi đã tha thứ rồi thì có ích gì để mà trừng phạt anh ta nữa. Đó là giáo huấn của Hồi Giáo. Tôi đã đau khổ tột cùng rồi...Chẳng có ích gì khi giết Mark Stroman nữa. Ông ta cần phải được cứu thoát”.
Với niềm xác tín này, Rais bắt đầu mở chiến dịch “cứu sống” Mark. Anh tham dự các chương trình gây quỹ, lắng nghe các thuyết trình viên dẫn giải để thành lập một mạng lưới tranh đấu cho mạng sống của Mark cũng như bãi bỏ án tử hình tại Texas. Ngày 16 tháng 11 năm 2011, tức 18 tháng sau khi Rais mở chiến dịch cứu sống Mark, báo “The Dallas Morning News” đã cho đăng một bài phóng sự với tựa đề “Người di dân Bangladesh tìm cách xin đình hoãn việc hành quyết người đã bắn anh để trả thù cho vụ khủng bố ngày 11 tháng 9”. Sau khi bài báo được nhiều người đọc, Rais công khai xuất hiện để kêu gọi chuyển án tử hình của Mark thành chung thân. Anh giải thích trên báo “The Dallas Morning News”: “Tôi đã tha thứ cho Mark Stroman từ nhiều năm nay rồi. Tôi tin rằng ông ta là một người thiếu hiểu biết, đã không thể phân biệt phải trái. Nếu không, ông đã không hành động như thế. Tôi tin rằng khi tha mạng cho Mark Stroman, chúng ta sẽ dành cho ông một cơ hội để, nhờ thời gian giúp cho suy tư và trưởng thành, ông sẽ nhận thức được rằng hận thù sẽ chẳng mang lại bất cứ một giải pháp ôn hòa nào cho bất cứ một hoàn cảnh nào. Có lẽ, nếu có cơ hội, sự tha thứ sẽ có ảnh hưởng tích cực nơi ông để ông trở thành một người đứng ra kêu gọi chống lại những tội ác vì hận thù”.
Rất tiếc là chiến dịch cứu sống Mark của Rais đã không thành công. Mark đã bị hành quyết ngày 20 tháng 7 năm 2011. Nhưng ít ra, trước khi ra đi, Mark đã biết hối hận và cảm nhận được sự tha thứ của Rais. Trong một cuộc nói chuyện qua điện thoại, Mark Stroman đã nói với Rais: “Chào bạn, cám ơn bạn vì tất cả những gì bạn đã cố gắng làm cho tôi. Bạn mang lại sự phấn khởi. Cám ơn bạn tận đáy lòng”. Về phần mình, Rais nói: “Ông Mark, ông phải biết rằng tôi đang cầu nguyện với Thiên Chúa, Đấng Nhân Từ và Cảm Thông. Tôi tha thứ cho ông. Tôi không thù ghét ông. Tôi đã không bao giờ thù ghét ông...”
Sau khi Mark bị hành quyết, Rais vẫn tiếp tục chiến dịch tha thứ và chống án tử hình của anh. Anh đã lập ra tổ chức “World Without Hate” (Thế Giới Không Hận Thù). Mỗi cuối tuần, Rais đi đây đi đó để phổ biến sứ điệp của anh: “Cần phải giúp mọi người biết rằng họ không nên thù hận nhau chỉ vì những khác biệt của nhau. Nếu bạn thực sự muốn thù ghét, hãy thù ghét thái độ ấy”.
Hành động tha thứ và hoạt động cho một “Thế Giới Không Hận Thù” của người thanh niên Hồi Giáo Bangladesh trên đây giúp tôi hiểu thêm về Hồi Giáo. Lâu nay, nhứt là kể từ sau cuộc khủng bố 11 tháng 9 năm 2001, tôi dễ có khuynh hướng chỉ nhìn Hồi Giáo xuyên qua lăng kính của các tổ chức khủng bố như al-Qaeda, Boko Haram, al-Shabab...hoặc gần đây tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” IS. Tệ hơn, có khi hình ảnh của tiên tri Mahomet chỉ được tôi nhìn thấy xuyên qua một số bức hình biếm họa đầy xúc phạm mà một số báo trào phúng và châm biếm như “Jyllands-Posten” ở Đan Mạch hay  “Charlie Hebdo” ở Pháp nhân danh điều được gọi là tự do ngôn luận để vẽ vời.
Tôi phải thú nhận rằng tôi chẳng có chút hiểu biết nghiêm chỉnh nào về Hồi Giáo. Tôi chưa từng đọc Kinh Coran. Có chăng chỉ là một số trích đoạn rời rạc dễ khiến cho người ta bôi nhọ và xuyên tạc về tôn giáo này. Dĩ nhiên, cũng như bất cứ một phong trào tôn giáo nào, Hồi Giáo đã xuất hiện trong lịch sử và mang theo hay đúng hơn cũng đành phải hứng chịu những giới hạn của lịch sử. Nhưng trong cốt lõi của nó, cũng giống như mọi tôn giáo theo đúng nghĩa đã từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại, Hồi Giáo chỉ dạy con người ăn ngay ở lành mà thôi. Đây là điều mà người thanh niên Bangladesh cũng như tuyệt đại đa số những tín đồ Hồi Giáo thuần thành trên thế giới này đang cố gắng thực hiện. Những người này cho tôi thấy được bộ mặt đích thực của Hồi Giáo. Họ nhắc nhở tôi rằng Hồi giáo không phải là năm ba đoạn kinh Coran tiêu cực được tách ra khỏi văn mạch và bối cảnh lịch sử để hiểu một cách sai lạc về Hồi Giáo như những phần tử cực đoan và những kẻ khủng bố đã làm.
Là một tín hữu Kitô, tôi cũng luôn được cảnh cáo để không chỉ trích dẫn một vài câu Kinh Thánh ra khỏi văn mạch hoặc giải thích một cách nông cạn để rồi bác bỏ toàn bộ giáo huấn của Chúa Giêsu. Đồng hành trong lịch sử nhân loại, Kitô Giáo cũng đã trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử. Thời Cựu Ước, đã từng có những tiên tri xuất hiện đúng lúc để cảnh cáo về những lệch lạc của dân Do Thái. Suốt cuộc đời, Chúa Giêsu cũng đã không ngừng lên án những lạm dụng và những lệch lạc của tôn giáo. Qua từng thời kỳ, Giáo Hội của tôi cũng đã không ngừng đấm ngực về những hành động sai trái của mình. Ai cũng biết rằng Giáo Hội hay đúng hơn Tin Mừng của Chúa Giêsu không phải là đế quốc La Mã, không phải là những cuộc thập tự chinh, không phải là những tòa điều tra để trừng phạt những người lạc giáo, không phải là các đế quốc thực dân, không phải là những cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Công giáo và Tin lành và chắc chắn ngày nay lại càng không phải là những ông “cố đạo” phạm tội ấu dâm. Tôi không thể chỉ vì một vài cây cỏ dại mà cày xéo cả một thuở ruộng tươi tốt. Tôi không thể chỉ vì một vài cây rừng ngã đổ mà không muốn nhìn thấy cả một khu rừng xanh tươi.
Tin Mừng của Chúa Giêsu, như luôn được Kitô Giáo loan truyền là Tin Mừng của tình thương, của quảng đại, của cảm thông và nhứt là của tha thứ. Tôi xác tín về Tin Mừng ấy khi nhìn lại cuộc đời của Chúa Giêsu mà kết thúc là cái chết trên thập giá và tuyệt đỉnh chính là cử chỉ tha thứ của Ngài đối với những kẻ sát hại Ngài. Toàn bộ giáo huấn và cuộc đời của Ngài sẽ vô nghĩa nếu không được thể hiện và kết thúc bằng cử chỉ tha thứ ấy.
Tôi vẫn luôn nghiền ngẫm về câu nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma: tôn giáo nào giúp bạn thành người tốt hơn là tôn giáo tốt nhứt đối với bạn. Với tôi, Kitô Giáo là tôn giáo tốt nhứt. Nhưng tôi cũng tin rằng các tôn giáo khác cũng là những tôn giáo tốt nhứt đối với các tín đồ của các tôn giáo đó, bởi vì tôn giáo nào cũng chỉ dạy con người cố gắng sống cho ra người lương thiện và tử tế hơn mà thôi. Tử tế hơn để không có thái độ miệt thị, xúc phạm hay chê bai mỗi khi nói đến niềm tin tôn giáo của người khác. Tử tế hơn để cố gắng xây dựng một “Thế Giới Không Hận Thù”.







Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Bảy Tỷ Câu Chuyện....



Chu Thập
1.11.11



Tuần qua, Quỹ Dân Số Thế Giới của Liên hiệp quốc đã cho công bố bản phúc trình về tình trạng Dân số thế giới trong năm 2011. Ở một nơi nào đó, có thể là Phi luật tân hay Ấn độ, vào lúc không giờ sáng thứ Hai 31 tháng 10 vừa qua, người thứ bảy tỷ trên thế giới đã chào đời. Trong năm nay, thế giới sẽ có thêm 135 triệu người xuất hiện trên trái đất và 57 triệu người trở về với cát bụi. Như vậy, lấy số sinh trừ cho số tử, dân số thế giới sẽ tăng thêm 78 triệu người.
Tôi vốn không thích những con số. Lúc còn học trung học, tuy không phải là một học sinh được xếp vào hạng dở toán, nhưng tôi lại thích “con chữ” hơn là “con số”. Học lịch sử, tôi thích những câu chuyện, nhưng lại ghét những niên biểu cần phải ghi nhớ. Học địa lý, tôi thích phong cảnh, văn hóa, con người hơn là những số liệu về dân số hay sản xuất kinh tế. Ngày nay, mỗi lần đi chợ, phải nhớ giá cả các mặt hàng ở các tiệm buôn hay trung tâm bán lẻ để so sánh và cân đo trước khi mua, tôi lại thấy nhức đầu. Nói gì đến những con số phải nhớ và viết xuống khi khai thuế. Còn với những con số như sổ ngân hàng, số điện thoại...bộ nhớ của tôi có cố gắng cách mấy cũng vô ích.
Với tôi, những con số thường vô cảm và không hồn. Nạn nhân của chiến tranh, của các chế độ độc tài, của thiên tai được tính bằng những con số. Những người đi tham dự một biến cố như biểu tình, biểu dương lực lượng, biểu dương tôn giáo cũng được đếm bằng con số; số người tham gia càng đông thì biến cố càng quan trọng, buổi lễ càng hoành tráng, lòng mộ mến đối với nhân vật được đón tiếp càng lớn, tổ chức càng có uy tín, tôn giáo càng mạnh...Chính vì vô cảm và không hồn mà con số cũng gia tăng sự tàn ác của con người: trong nhà tù hay trong trại tập tập trung chẳng hạn, tù nhân bị tước đoạt tên tuổi và phẩm giá để chỉ còn là một con số!
Dân số thế giới là một con số để các chuyên gia làm các phép tính cộng trừ nhân chia. Nhìn theo kinh tế thị trường, dân số chỉ còn là một thị trường để phân tách lợi hại. Thế giới Tây phương đã chẳng từng nhìn vào Trung quốc như một thị trường béo bở đó sao? Một tỷ người, mỗi người chỉ cần một viên Aspirin thì đủ thấy cái mối lợi to lớn biết chừng nào! Nhìn về điều được gọi là “Thế kỷ Á châu”, Úc đại lợi cũng chỉ xem các nước đang có triển vọng phát triển kinh tế nhanh chóng tại Á châu như một thị trường mà thôi. Mà đã là thị trường thì dĩ nhiên, càng nhiều người tiêu thụ thì càng bán được nhiều hàng hóa. Dân số như vậy thiết yếu cũng là một thị trường.
Nhưng cái nhìn thị trường đầy lạc quan đó cũng không đánh đổ được mối lo ngại của nhiều nhà dân số học về nạn nhân mãn. Người ta lại nại đến chủ thuyết của ông thày dòng Malthus bên Anh vào thế kỷ 16 để kêu gọi hạn chế sinh sản, bởi vì dân số gia tăng theo cấp số nhân trong khi thực phẩm lại gia tăng theo cấp số cộng. Nhiều người đã ca ngợi Trung quốc, quốc gia đầu tiên trên thế giới đã có dân số lên đến một tỷ người vào năm 1980, vì đã thành công trong việc hạn chế dân số bằng chính sách mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con. Ngày nay, có lẽ dân số trên một tỷ người của quốc gia cộng sản này đã có đủ ăn, đủ mặc và ngay cả giàu có hơn nhiều nước khác,  nhưng vì chính sách mỗi gia đình một đứa con ấy, trên 30 triệu thanh niên  đành phải lâm vào tình trạng “ế vợ” cho nên phải vượt  biên giới qua Việt nam hay đi mãi sang tận các nước Phi châu nghèo để “mua vợ”.Thời buổi này, không có cái cảnh “Vợ nhặt” như nhà văn Kim Lân đã mô tả về cơn đói năm Ất dậu 1945 ở Miền Bắc Việt nam, nhưng việc người Tàu, người Đài Loan, người Đại hàn...bỏ tiền ra đi mua vợ Việt nam là chuyện đang xảy ra như cơm bữa ở cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam.
Trong chuyến về thăm quê hương vừa qua, đi đâu tôi cũng thấy có khẩu hiệu với nội dung “dù gái hay trai, chỉ hai là đủ” mà thôi. Rồi đây, với chính sách này và với tình trạng trọng nam khinh nữ, không biết con trai Việt nam sẽ đi nước nào để tìm vợ hay mua vợ.
Trong khi ở những nước đông dân, mỗi người dân là một gánh nặng cho guồng máy kinh tế và xã hội nên các chính phủ tìm cách hạn chế và kiểm soát sinh sản, thì tại những nước ít dân hay dân số già nua, người ta lại khuyến khích sinh sản, bởi vì người dân được xem như một thứ “vốn quý” cần thiết cho phát triển kinh tế và xã hội.
Nhưng dù có được xem là vốn quý cần gia tăng hay như một gánh nặng cần hạn chế, thì dân số hay đúng hơn mỗi một người trong xã hội vẫn là một con số, một thứ “vật chất” (vốn/gánh nặng) để tính toán trong bài toán kinh tế và xã hội. Trong cái nhìn nào thì con người dường như cũng chỉ là một con ốc trong một guồng máy. Guồng máy chạy đều thì con ốc còn lành lặn, guồng máy gặp trục trặc thì con ốc có thể bị nghiền nát. Người ta thường so sánh chế độ cộng sản với một “cỗ máy nghiền” là thế.
Dân số thế giới đã được bảy tỷ người. Tôi là một trong số bảy tỷ người này. Là một hữu thể có nhân vị và một phẩm giá độc nhứt vô nhị, chẳng giống bất cứ một người nào trong số bảy tỷ người này, tôi cương quyết không chấp nhận chỉ là một con số.
Tôi là con thứ 10 trong một gia đình 12 người con. Thế hệ “babyboomer” của tôi thường thuộc những gia đình đông con. Tôi vẫn không ngừng cám ơn cha mẹ vì đã không biết đến nạn nhân mãn, kế hoạch hóa gia đình, các phương tiện ngừa thai hay phá thai mà tôi mới có thể góp mặt với đời. Tôi cũng cám ơn anh chị em trong nhà mỗi người đã phải ăn bớt một chút để tôi cũng có phần. Cha mẹ tôi là những người thất học và chất phác. Nhưng tôi tin rằng cũng như mọi đứa trẻ vừa lọt lòng mẹ, tôi đã mang lại tiếng cười, niềm vui và hy vọng cho cha mẹ tôi và người xung quanh. Có lẽ tôi chưa làm được “trò trống” gì trên thế giới này. Nhưng sự xuất hiện của tôi trên cõi đời này đã mang lại thêm một lý do để hy vọng ít nhứt là cho cha mẹ, gia đình và người thân của tôi.
Tôi thích cái tựa đề của bài báo có đính kèm hình của một thơ nhi mới chào đời “Lại có thêm một trong 7 tỷ lý do để lạc quan”, trên báo The Sydney Morning Herald số ra cuối tuần qua. Đọc tựa đề bài báo, tôi thấy phấn khởi vì sự có mặt của tôi cũng như của bất cứ đứa trẻ nào trên trái đất này. Tôi không phải là một con số, nhứt là một số không. Tôi là một con người có thể mang lại niềm hy vọng cho người khác! Nghĩ như thế mà thấy vui và hãnh diện trong ngày dân số trái đất đã vượt qua ngưỡng cửa 7 tỷ người.
Năm 1995, danh ca Michael Jackson đã cho trình làng Album có tựa đề “HIStory”. Album này đã được đề cử là “Album của năm” cho giải Grammy. Tôi không phải là một “fan” của danh ca kích động nhạc này. Nhưng tựa đề của Album không thể không khiến tôi suy nghĩ. Đây chỉ là câu chuyện đời tư (his story) của một nghệ sĩ tài ba, nhưng lại có tham vọng trở thành “lịch sử” (History). Thực tế những sáng tác và tài nghệ của Michael Jackson đã không chỉ đi vào lịch sử thế giới, mà còn làm nên lịch sử thế giới. Tôi nghĩ một cách tự hào rằng không riêng những nhân vật lịch sử, mà cuộc đời của mỗi người có mặt trên thế giới này cũng đều là một phần của lịch sử thế giới.
Về điểm này, tôi thích cách quảng cáo của Đài SBS. Thỉnh thoảng, đài này cho chiếu lên câu “Six billions stories and counting...” (6 tỷ câu chuyện và còn đang tính thêm...) và kèm theo một chú thích bằng nhiều thứ tiếng, có khi bằng tiếng Việt nam như “đây là câu chuyện về gia đình tôi...” Con số của những câu chuyện nay hẳn đã vượt qua con số bảy tỷ.
Lịch sử của thế giới chúng ta được viết lên không chỉ bằng những biến cố lớn, những nhân vật danh tiếng hay những tin tức giựt gân được truyền đi trên các phương tiện truyền thông mỗi ngày, mà được cấu thành bởi 7 tỷ câu chuyện khác nhau. Mỗi người có mặt trên trái đất này đều có một lịch sử riêng và một câu chuyện riêng để kể. Có những câu chuyện được tự kể. Có những câu chuyện được người khác kể lại. Nhưng dù được kể lại hay âm thầm chôn chặt trong nội tâm sâu kín của cõi lòng, mỗi câu chuyện đều là một lịch sử độc nhứt vô nhị không bao giờ lập lại.
Bảy tỷ người có mặt trên trái đất là 7 tỷ câu chuyện khác nhau, bởi vì mỗi người là một thế giới riêng tư cần được tôn trọng, chiêm ngưỡng và nhứt là cảm thông. Thế giới có chiến tranh một phần có lẽ vì thiếu sự tôn trọng đối với cái thế giới huyền nhiệm riêng tư ấy.
Ngày dân số thế giới được bảy tỷ người, trong nhiều ý nghĩ vụn vặt, tôi thấy rằng khoan nhượng và cảm thông là thái độ quan trọng nhứt trong cuộc sống. Tôi cứ suy nghĩ về câu chuyện được ai đó sưu tầm và gởi đăng trên Việt luận số ra ngày thứ ba 25 tháng 10 vừa qua: một người đàn bà sống trong một chung cư hay bị quấy rầy vì tiếng đóng cửa mạnh của một cậu bé ở lầu trên. Nhưng cứ mỗi lần gặp người đàn bà, cậu bé đều xuýt xoa xin lỗi. Ngày nọ, tiếng dập cửa không còn nữa. Gặp lại người đàn bà, cậu bé mới giải thích rằng cậu không còn đóng sầm cánh cửa để tạo ra âm thanh nữa, vì mẹ cậu đã qua đời. Cậu nói rằng trong suốt thời gian nằm liệt giường, mẹ cậu cần nghe có tiếng đóng cửa mạnh để được an tâm là có người đang ở bên cạnh mình. Lời giải thích của cậu bé đã xóa tan mọi nghi ngờ và thành kiến nơi người đàn bà.
Kinh nghiệm bản thân thường cho tôi thấy rằng thành kiến và thái độ thiếu cảm thông dễ làm cho tôi bị co cụm và đóng kín trong bản thân để khước từ mọi giao cảm với người khác.
Trong đoản văn có tựa đề “Sư tử không ăn cỏ” được đăng trong tuyển tập “Yêu người ngóng núi” mà tôi đã mua trong chuyến đi Việt nam vừa qua, tác giả Nguyễn ngọc Tư đã kể lại một kinh nghiệm tương tự: “Đôi khi vô tình, người ta đòi hỏi ai đó (hay con gì đó) không được sống như chính họ (hay chính nó). Hồi nhỏ, mỗi lần thấy thầy giáo dắt con heo nọc đi bỏ giống là tôi thấy phiền lắm, tôi nghĩ thầy chỉ nên đọc sách, tỉa cây kiểng, nuôi chim sáo hoặc rung đùi ngồi đánh cờ chơi. Dù thầy nghèo xơ xác, dù vợ con thầy cực ăn ôm nhách, nhưng nếu cực chẳng đã phải kiếm tiền, thì thầy nên mở tiệm kẹo, xi rô đá bào hay bán sách báo...không lý nào xắn quần áo xắt chuối nấu cho heo, còn dắt nó đi lang lang khắp xóm những khi tan buổi dạy. Tôi nghĩ vậy.
Hồi đó, thầy sống như thầy có, lương thiện mưu sinh cho qua hồi cơ cực, nhưng lòng kính trọng thầy của tôi bị sứt mẻ lảng òm. Như người ta không chịu anh bác sĩ ăn mặc cù lần, xét nét ông kia tướng tá nông dân mà làm lãnh đạo, thất vọng khi trên mắt nhà thơ tình nổi tiếng lại dính...ghèn...
Nói về thành kiến thì ai cũng có một kho. Xưa tôi ghét mấy người mua bán ve chai, do đã gặp vài người tiện tay ăn cắp vặt...Những buổi trưa thấy mấy chị ve chai lầm lũi ngang qua, nắng mưa oằn cả hai cần xé, tôi bỗng nghĩ chẳng may tôi phải ra đường mưu sinh bằng cách đó, tôi cũng sẽ phạm lỗi, biết đâu chừng...Cực khổ cỡ nào tôi cũng chịu được, kể cả đói lạnh, nhưng con tôi thèm thịt đến nỗi đang sốt dầm dề mà được ăn cháo trắng với thịt nướng là tỉnh trân, thì tôi cũng sẵn sàng đánh cắp cái chảo, hay mớ sắt vụn, đoạn ống nước cũ...để đem về cho con một bữa ngon.” (Nguyễn ngọc Tư, Yêu người ngóng núi, nhà xuất bản Trẻ, tản văn tái bản lần thứ năm, 2011 trg 127-128)
Đọc tản văn trên đây của tác giả Nguyễn ngọc Tư, tôi cũng làm một cuộc “xét mình” như Đạo công giáo của tôi thường dạy làm. Tôi thấy mình rất nhiều lần muốn làm quan tòa để xét xử những người mà tôi cho là có lối sống hay hành xử không giống tôi và cũng chẳng giống ai. Tôi thấy mình muốn làm Đức Chúa Trời để đi sâu vào nội tâm sâu kín của người khác mà xét xử. Tôi quên mất rằng mỗi một con người trong số bảy tỷ người đang có mặt trên thế giới này là một “thế giới” đầy huyền nhiệm, cần được tôn trọng, chiêm ngưỡng và cảm thông hơn là “xếp loại”, tổng quát hóa và nhứt là kết án.










Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

Kenya: quê nội của Tổng thống Barack Obama



24.7.15

Theo chương trình, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama sẽ khởi sự chuyến viếng thăm Kenya, miền Đông Phi Châu,  kể từ chiều Thứ sáu hôm nay (24/7/2015) giờ địa phương. Tổng thống Obama viếng thăm quê nội của mình nhân dịp tham dự Hội nghị Thượng đỉnh về Doanh nghiệp Toàn cầu (Global Entrepreneuship Summit ) được tổ chức tại thủ đô Nairobi của Kenya. Đây là lần thứ hai ông trở về thăm quê cha đất tổ. Ông viếng thăm Kenya lần thứ nhất vào năm 2006 khi vừa đắc cử thượng nghị sĩ đại diện cho tiểu bang Illinois.
Cách đây 9 năm, khi thượng nghị sĩ Obama lần đầu tiên đặt chân đến Kenya, đất nước này thiếu hẳn một hạ tầng cơ sở vững chắc để có thể thiết lập một hệ thống Internet với tốc độ nhanh. Tỷ lệ thất nghiệp lúc đó lên đến 40 phần trăm. Nay, phần lớn dân chúng Kenya đều có thể sử dụng Internet, tỷ lệ thất nghiệp giảm bớt đáng kể. Nhờ một số yếu tố như tinh thần kinh doanh và tháo vát của người dân, việc sử dụng Anh ngữ như một ngôn ngữ chính thức và trình độ dân trí tương đối cao. Nằm giữa miền Đông Phi Châu, Kenya được xem như một nước có mức độ phát triển và nhiều tiềm năng hơn cả tại vùng Hạ Sahara, chỉ sau Nam Phi.
Nhưng với chuyến viếng thăm của Tổng thống Obama, vấn đề an ninh tại Kenya lại được đặt ra hơn bao giờ hết. Thị trưởng Nairobi, ông Evans Kidero xem chuyến viếng thăm của Tổng thống Obama như một khẳng định về tình hình an ninh khả quan tại nước ông.
Nhưng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thì lại có một cái nhìn khác khi cảnh cáo rằng tấn công khủng bố là điều có thể xảy ra tại Hội nghị Thượng đỉnh về Doanh nghiệp Toàn cầu.
Tổng thống Obama sẽ có mặt tại Thủ đô Nairobi chỉ vài ngày sau khi Trung tâm Thương mại Westgate vừa mở cửa trở lại. Cách đây gần hai năm, tổ chức khủng bố al-Shabab của những người Hồi giáo cực đoan Somalia đã xông vào trung tâm này và bắn giết 67 người. Nhiều người xem việc cho mở cửa trung tâm lại như một bằng chứng cho thấy tinh thần cương quyết của dân tộc, tình trạng an ninh được bảo đảm và theo lời Thị trưởng Kidero “tinh thần bất khuất của người Kenya”.
Nhưng một số người lại cho rằng việc cho mở cửa trung tâm lại chỉ gợi lên những kỷ niệm đau buồn về cuộc tấn công khủng bố vào trung tâm cũng như việc sát hại 147 sinh viên tại đại học Garissa dạo tháng Tư vừa qua, cũng do tổ chức al-Shabab chủ mưu.
Thành ra, bóng ma của các nạn nhân do tổ chức khủng bố al-Shabab sát hại vẫn còn ám ảnh chuyến viếng thăm của Tổng thống Obama.
Tổ chức khủng bố này hiện vẫn còn là một mối đe dọa lớn tại miền Đông Phi Châu. Vì gặp nhiều trở ngại trong các hoạt động khủng bố tại Somalia, tổ chức al-Shabab hiện đang tìm cách thay đổi chiến thuật. Tại Somalia, al-Shabab đã từng bị làm cho suy yếu bởi Lực lượng Phi Châu được Hoa Kỳ yểm trợ. Mới đây, 30 thành viên của tổ chức này, kể cả một số lãnh tụ của tổ chức, đã bị giết chết trong một vụ oanh tạc của phi cơ không người lái của Hoa Kỳ tại Gedo, miền Nam Somalia.
Vì mất quân số cũng như thành viên cho nên al-Shabab đã tìm cách di chuyển địa bàn hoạt động sang Kenya và một số nước khác trong vùng.
Việc thay đổi chiến thuật của al-Shabab khiến cho cuộc chiến chống khủng bố tại miền Đông Phi Châu trở nên phức tạp hơn. Al-Shabab đã từng đe dọa trả đũa Kenya vì nước này đã đưa quân đội  sang hành quân trong lãnh thổ Somalia. Trước đây, tổ chức này chỉ có tham vọng áp đặt luật Hồi Giáo Sharia tại Somalia. Nhưng nay nó đã trở thành một mạng lưới có mặt trong toàn vùng. Lợi thế của việc thay đổi chiến thuật này là giúp cho tổ chức al-Shabab có thể tiếp cận với nguồn tài chính dồi dào dọc theo miền duyên hải Đông Phi Châu, đồng thời chiêu mộ thêm nhiều thành viên mới một cách dễ dàng. Trước đây, do việc thế giới theo dõi gắt gao các tổ chức yểm trợ khủng bố của người Somalia hải ngoại, al- Shabab đã gặp nhiều khó khăn trong  các hoạt động. Ngoài ra, do hiện tượng các thánh chiến quân từ nước ngoài đổ xô về Syria, tổ chức al-Shabab có phần lu mờ trên chính trường thế giới. Nay với chiến thuật mới, al-Shabab tung ra các cuộc tuyên truyền bằng tiếng Swahili là ngôn ngữ được nhiều sắc dân ở miền duyên hải Đông Phi Châu đang sử dụng, khiến cho việc chiêu mộ dễ dàng hơn.
Tại Kenya, sự hiện diện và hoạt động của tổ chức al-Shabab đã tỏ ra rất hữu hiệu vì đã có nhiều thành phần giới trẻ bị chiêu dụ. Tại nước láng giềng Tanzania, sự bất mãn ngày càng gia tăng của dân chúng đối với chính phủ cũng như xu hướng cực đoan có sẵn trong nước đã trở thành một mãnh đất mầu mở cho hoạt động của al-Shabab. Bên cạnh đó, một số tổ chức tội phạm cũng bắt tay với tổ chức này để kiếm ăn cho nên al-Shabab lại càng có đất sống hơn. Ngoài ra, vì miền Đông Phi Châu nổi tiếng là một con đường buôn lậu ma túy và khí giới từ Nam Á Châu sang Yemen cho nên al-Shabab cũng khai thác triệt để tình trạng này để gia tăng hoạt động.
Tình hình an ninh tại miền Đông Phi Châu, cách riêng tại Kenya, tùy thuộc rất nhiều vào tình hình nội bộ của al-Shabab. Hiện có hai khuynh hướng nổi bật trong tổ chức. Một khuynh hướng chỉ chủ trương củng cố tổ chức và hoạt động tại Somalia. Khuynh hướng thứ hai do lãnh tụ Godane đeo đuổi muốn biến al-Shabab thành một tổ chức thánh chiến quốc tế. Lãnh tụ Godane đã bị phi cơ không người lái của Hoa Kỳ oanh tạc giết chết hồi năm ngoái. Với sự vươn lên của tổ chức “Quốc gia Hồi giáo” IS, căng thẳng nội bộ của al-Shabab cũng gia tăng. Là một chi nhánh của al-Qaeda kể từ năm 2012, al-Shabab hiện đang được “Quốc gia Hồi giáo” ve vãn. Nhiều nguồn tin tình báo cho biết rất có thể al-Shabab cũng sẽ đầu quân và chiến đấu dưới lá cờ của “Quốc gia Hồi giáo”, mặc dù lãnh tụ hiện nay của tổ chức là trùm khủng bố  Abu Ubaldah hoàn toàn bác bỏ nguồn tin này.
Al-Shabab trong tiếng Á Rập có nghĩa là “Giới trẻ”. Thoạt tiên tổ chức này xuất hiện như một phong trào giới trẻ Somalia tranh đấu dưới lá cờ của tổ chức có tên là “Liên hiệp các Tòa án Hồi giáo”. Liên Hiệp này đã từng nắm quyền kiểm soát tại thủ đô Mogadishu của Somalia hồi năm 2006, nhưng sau đó đã bị quân đội Ethiopia đẩy lui. Nhưng sau khi Liên Hiệp các Tòa án Hồi giáo cáo chung, al-Shabab vẫn tiếp tục hoạt động.
Có nhiều nguồn tin cho biết hiện các thánh chiến quân từ các nước lân bang và ngay cả từ Hoa Kỳ và Anh Quốc đang tìm cách đến Somalia để yểm trợ cho al-Shabab. Cả Hoa Kỳ lẫn Anh Quốc đều đặt al-Shabab vào danh sách những tổ chức khủng bố. Hiện tổ chức này có từ 7 đến 9 ngàn thành viên.
Việc al-Shabab có đẩy mạnh hoạt động của họ sang các nước khác hay không là tùy ở khả năng của các chính phủ nước này trong việc đối đầu với họ cũng như các thành phần trong nước tự nhận là “tiếng nói của những người bị đẩy ra bên lề”. Xét cho cùng vấn đề mà các chính phủ nước này đang phải đương đầu chính là làm thế nào để xoa dịu được sự bất mãn của người dân do các bất công xã hội tạo ra.  Đây là một trong những vấn đề lớn hiện nay tại Kenya, quốc gia được xem là có mức độ phát triển nhanh nhất tại miền Đông Phi Châu. Các mối chia rẽ giữa các sắc dân, tệ nạn tham nhũng, bè phái, một hệ thống tư pháp lỏng lẻo...đây là những yếu tố thuận tiện cho sự phát sinh các tổ chức khủng bố trong nước và hoạt động của những thánh chiến quân Hồi giáo từ Somalia.
Chính phủ Hoa Kỳ đã có lý do để lo ngại về tình trạng an ninh của Kenya trong những ngày viếng thăm sắp tới của Tổng thống Obama. Mặc dù tất cả mọi mũi dùi đều chỉ thẳng vào tổ chức khủng bố al-Shabab, nhưng tổng thống Kenya, ông Uhuru Kenyatta luôn tìm cách bác bỏ điều đó. Trong một bài nói chuyện trên đài truyền hình, ông giải thích rằng tác giả của các cuộc tấn công khủng bố là những tổ chức nội địa muốn khai thác những căng thẳng và chia rẽ giữa các phe phái chính trị và sắc tộc. Tuy không nêu đích danh các tổ chức này, nhưng ông cảnh cáo các đối thủ chính trị của ông đừng tìm cách gây chia rẽ hoặc hận thù trong nước. Theo giải thích của phóng viên Andrew Harding của Đài BBC, an ninh quốc gia là một trong những lá bài mà Tổng thống Kenyatta luôn trưng ra để tìm cách tấn công các đối thủ chính trị cũng như các nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền tại Kenya. Một người tranh đấu cho nhân quyền đã cho ký giả Harding biết rằng 8 người trong tổ chức của ông đã bị đánh đập và bắt giữ vì tổ chức một cuộc biểu tình ôn hòa. Thượng nghị sĩ Hassan Omar, thuộc Liên minh Đối lập, cũng nói với ký giả Harding rằng ông vừa nhận được một cú điện thoại cho biết rằng ông đang bị cảnh sát điều tra vì đọc một bài diễn văn có nội dung khích động hận thù. Thượng nghị sĩ Omar tố cáo Tổng thống Kenyatta đưa người từ bộ lạc Kikuyu của ông vào các lực lượng an ninh quốc gia. Ông nói đến tình trạng khủng bố do chính chính phủ tạo ra.
Tổng thống Obama hẳn phải là người biết rõ hơn ai hết về tình trạng an ninh tại Kenya cũng như chế độ tham nhũng và độc tài của Tổng thống Kenyatta. Năm 2013, trong một chuyến viếng thăm Phi Châu, Tổng thống Obama viện lý do Tổng thống Kenyatta bị tố cáo trước Tòa án Quốc Tế vì các cuộc bạo động trong cuộc bầu cử năm 2008 để từ chối không đến Kenya. Nhưng sau đó các cáo buộc đã được tháo gỡ và lần này Tổng thống Obama chấp nhận đến Kenya và gặp gỡ ông Kenyatta.
Nhân dịp này, theo ông John Dimo, một thày bói nổi tiếng tại Kenya, cho biết Tổng thống Obama sẽ đến thăm làng Kogelo, miền Tây Kenya, nơi có mộ của cha ông và nhà của bà Sarah Obama, bà nội kế của ông. Thật ra, giữa Tổng thống Obama và phía nội của ông không có những quan hệ thân tình. Mẹ ông và cha ông chỉ sống với nhau đúng 3 năm.
Kể từ khi ông Obama trở thành thượng nghị sĩ và tổng thống Hoa Kỳ, bộ mặt của làng Kogelo hoàn toàn thay đổi: làng đã có điện, đường sá được tráng nhựa, nhiều trường học và bệnh viện mang tên ông và bà nội kế của ông đã được thiết lập.  Tên của bà đã được đặt cho một tổ chức chuyên chăm sóc các góa phụ và trẻ em mồ côi là những người đã mất người phối ngẫu hay cha mẹ vì bệnh liệt kháng HIV/AIDS. Sáng viện có tên “Obama Foundation” do người em cùng cha khác mẹ của ông thành lập hiện đang cung cấp nước sạch cho toàn làng. Gia đình Obama tại đây đã hiến tặng đất đai để xây cất trường học và các ân nhân quốc tế tài trợ để trường tiếp tục mở mang.
Kogelo nằm cách Thủ đô Nairobi khoảng 300 cây số. Ngay từ hôm thứ ba 21 tháng 7 vừa qua, Chính phủ Hoa Kỳ đã đưa nhiều trực thăng đến Kenya. Vì tình trạng an ninh của Kenya, Tổng thống Obama sẽ sử dụng trực thăng để về thăm quê cha đất tổ. Dân làng Kogelo đã cho đúc tượng của ông để tưởng niệm chuyến viếng thăm. Các viên chức địa phương đã cho tu sửa lại ngôi mộ của thân phụ ông. Và các chiếc áo thun và quần Jeans có in hình của ông được bày bán khắp nơi...
Thôi thì, Việt nam ta có câu, một người làm quan cả họ được nhờ. Còn ở Kenya, một người làm tổng thống đệ nhất siêu cường thì cả làng chỉ cần được có...điện nước là vui rồi.



Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Tan sương đầu ngõ...



Chu Thập
17.7.15
Nghe một người ngoại quốc nói hay hát tiếng Việt đã thích rồi. Nghe họ “ly Kiều” lại càng cảm động hơn. Như tối 7 tháng 7 vừa qua chẳng hạn, trong bài diễn văn đọc trong buổi tiếp tân tại Bộ ngoại giao dành cho ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam,  PTổng thống Hoa Kỳ, Joe Biden, đã khiến cho nhiều người ngạc nhiên một cách thích thú khi ông bất ngờ “xổ” Kiều: “Trời còn để có hôm nay. Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời”.
Nghe đâu hồi năm 2000, khi viếng thăm Việt Nam, cựu Tổng thống Bill Clinton cũng đã được ai đó mớm cho hai câu Kiều: “Sen tàn cúc lại nở hoa. Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”. Trong cả hai trường hợp “ly Kiều” trên đây, các nhà lãnh đạo Mỹ đều có ý mượn thơ của cụ Tiên Điền Nguyễn Du để nói đến mối quan hệ ngày càng tốt đẹp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Các nhà lãnh đạo Mỹ vốn rất sành tâm lý người đối diện. Họ biết những gì người đối diện thích nghe. Còn nhớ trong chuyến viếng thăm lịch sử tại Trung Cộng hồi năm 1972, cố Tổng thống Richard Nixon đã không hề nhắc đến bất cứ lời giáo huấn nào của Đức Khổng Tử, mà luôn miệng ca ngợi những bài thơ của “thi sĩ” Mao Trạch Đông.
Tôi không phải là người “chống Mỹ cứu nước”. Nhưng tôi không phải là người “dễ tin” đối với chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Bộ ngoại giao Hoa Kỳ lúc nào cũng rêu rao rằng chính sách đối ngoại của họ đặt nền tảng trên sự tôn trọng nhân quyền. Lâu nay tôi cứ ngây thơ tưởng rằng Hoa Kỳ là nhà vô địch bảo vệ nhân quyền và nước nào vi phạm nhân quyền, Hoa Kỳ sẽ, nếu không đánh cho một vố, thì cũng nghỉ chơi với họ.
Tôi thấy bẽ bàng khi nhìn lại lịch sử. Trong những thập niên 60, 70, 80 của thế kỷ trước, hầu hết những nước bị đặt dưới sự cai trị của các chế độ độc tài quân phiệt ở Châu Mỹ La Tinh và Á Châu đều là đồng minh thân thiết của Hoa Kỳ. Ngay cả ngày nay, một số nước có thành tích nhân quyền tồi tệ nhứt thế giới cũng vẫn tiếp tục là đồng minh hầu như không thể thiếu được của Hoa Kỳ. Tôi nghĩ đến một số nước ở Trung Đông. Cứ thử đến vương quốc Á Rập Saudi và hành xử như một người Mỹ trên đất Mỹ để xem thử đồng minh của Hoa Kỳ này có vi phạm nhân quyền không.
Trong suốt dòng lịch sử của mình, các chính phủ Hoa Kỳ có nói một đàng và, vì quyền lợi của mình mà làm một no không? Tôi luôn nghi ngờ điều đó. Một người Việt tỵ nạn như tôi thấy thấm thía về điều đó lắm khi nhìn lại cái bắt tay lịch sử của cố Tổng thống Nixon với “đồ tể” Mao Trạch Đông hồi năm 1972.  Hoa Kỳ đã giải quyết chiến tranh Việt Nam hay đúng hơn “tháo chạy” khỏi đồng minh Miền Nam Việt Nam  như thế đó. Miền Nam Việt Nam đã bị bán đứng và Biển Đông của Việt Nam và một số nước Đông Nam Á có lẽ cũng đã được bán đứng với cái bắt tay ấy. Ngay từ năm 1974, Trung Cộng hẳn đã không ngang nhiên đánh cướp Trường Sa của Miền Nam Việt Nam nếu không có cái bắt tay ấy và sự thinh lặng hầu như đồng lõa của Hoa Kỳ.
Vì quyền lợi của mình, Hoa Kỳ dường như sẵn sàng đi ngược lại với các nguyên tắc chỉ đạo mà họ luôn đề cao trong chính sách đối ngoại của mình. Cái bắt tay của Tổng thống Nixon với đồ tể Mao Trạch Đông cũng chẳng khác bao nhiêu so với cái bắt tay của Tổng thống Barack Obama với ông Nguyễn Phú Trọng khi ông đón tiếp “hung thần” của các quyền tự do căn bản của con người như một quốc khách. Khi đón tiếp ông Trọng như một quốc khách, Chính phủ Hoa Kỳ lại càng tạo điều kiện để ông công khai hóa chế độ độc tài đảng trị do ông lãnh đạo và như vậy mặc nhiên muốn tuyên bố  rằng, dù cho Tổng thống Obama có lên lớp để nói xa nói gần về thành tích nhân quyền của Việt Nam đi nữa, chính Hoa Kỳ cũng đồng lõa với ông trong việc vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.
Với cái nhìn đơn giản của tôi, người anh cả Hoa Kỳ lúc nào cũng có hai mặt. Đã hai mặt thì cũng có thể “trở mặt” bất cứ lúc nào. Tôi cứ nghe người ta bảo: làm kẻ thù của Hoa Kỳ dễ hơn làm bạn với nước này.  Nhưng dù sao, “hai mặt” của Hoa Kỳ xem ra không đến ni trơ trn như cái sĩ diện hão của mấy ông cộng sản Việt Nam. Được Chính phủ Hoa Kỳ tâng bốc và “ly Kiều” cho nghe, Tổng bí thư Trọng chắc chắn đã huênh hoang tự đắc hơn bao giờ hết và dĩ nhiên các cái loa tuyên truyền ở Việt Nam tha hồ mở hết công xuất để hát lên khúc khải hoàn ca. Bộ mặt của chế độ độc tài vừa được Hoa Kỳ vuốt ve đã sáng rỡ trên chính trường thế giới. Cùng với ông Trọng, những người cộng sản Việt Nam chỉ mong có thế. Nhưng với một người Việt tỵ nạn như tôi và nhứt là với những người Việt Nam đang bị chế độc độc tài đảng trị này tước đoạt mọi quyền tự do căn bản, thì có lẽ đối lại với câu “tan sương đầu ngõ” không gì chỉnh và đúng hơn là “tối đen trong nhà”. Đối lại với bộ mặt của một Việt Nam mà phó tổng thống Joe Biden đang cho “vén mây giữa trời” trong quan hệ với Hoa Kỳ, còn gì u ám bằng bóng tối đang bao trùm lên cuộc sống của người dân trong nước hiện nay. Lẽ ra, Hoa Kỳ phải lắng nghe cụ Trần Đĩnh “vén mây giữa trời” cho mặt trời công lý chiếu soi vào bóng tối của những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam mới phải. Buồn thay, Hoa Kỳ chỉ vuốt ve cái sĩ diện hão của người Cộng Sản Việt Nam mà thôi.
Cái sĩ diện hão mà những người cộng sản Việt Nam lúc nào cũng tô vẽ không thể nào che đậy được thực chất của một nước Việt Nam đang bị chế độ độc tài đảng trị làm cho lạc hậu và nghèo nàn về mọi phương diện. Những cung điện nguy nga và khối tài sản kết xù ăn cướp được của dân mà những người cộng sản ngang nhiên phô bày không thể nào che đậy được cuộc sống lầm than khốn khổ của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam. Những mảnh bằng đủ cấp đeo đầy mình trên người của các cấp lãnh đạo lại càng làm lộ ra cái hố sâu dốt nát mà đảng cộng sản Việt Nam đã nhận chìm cả dân tộc vào. Bộ mặt văn hóa và “đạo đức”, nhứt là đạo đức của cha già dân tộc tội đồ Hồ Chí Minh, lại càng làm rõ nét cái lỗ hổng đạo đức và tình trạng vô cảm hiện nay của xã hội Việt Nam.
Cái sĩ diện hão càng kệch cỡm thì càng để lộ sự trống rỗng bên trong.
Thời tôi còn ở bậc trung học, hầu hết các thày dạy của tôi đều là những “nhà giáo” theo đúng nghĩa. Các vị không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn dạy dỗ cho học sinh nên người, nghĩa là biết sống lương thiện, chân thật, tử tế và trung thực. Tôi vẫn còn nhớ mãi những bài học như thế của vị giáo sư Việt văn trong những năm cuối bậc trung học, đặc biệt khi thày nói đến một học giả người Tàu nổi tiếng vào thế kỷ 15 và 16 là ông Vương Dương Minh. Về học giả này, tôi không thể nào quên được một giai thoại theo đó, lúc còn nhỏ, có lần ông hỏi thày mình: “Thưa thầy, ở đời có việc gì là cao hơn cả?” Là người thấm nhuần Khổng Nho, ông thầy chỉ biết khẳng định: “Thi đậu ra làm quan để thờ vua, giúp nước, làm vẻ vang cho tổ tiên là cao hơn cả”. Nghe thế, người học trò Vương Dương Minh lắc đầu đáp: “Thưa thầy, con cho vậy là chưa cao, học làm được “ông thánh” mới là cao”.
Không biết ông Vương Dương Minh có chịu ảnh hưởng của triết lý Hy Lạp không, nhưng trước ông cả chục thế kỷ, triết gia Hy Lạp Plato (thế kỷ thứ Tư trước Công Nguyên) cũng đã từng nói rằng “làm vua cũng phải đồng thời là một nhà hiền triết”. Đây chính là lý tưởng mà Hoàng đế Marcus Aurelius (121- 180 sau Công Nguyên) của Đế quốc La Mã đã thực hiện trong suốt thời gian trị vì của ông. Qua cuộc sống và nhứt là tác phẩm ông để lại, Hoàng đế Aurelius đã chứng tỏ ông là một nhà hiền triết luôn đề cao những đức tính nhân bản cao quý cần được trau dồi.
Theo thày tôi, học giả Vương Dương Minh không chỉ muốn làm được “ông thánh”, ông còn xướng ra thuyết “nội thánh ngoại vương”. Đại khái thày tôi giải thích rằng theo thuyết này, con người phải sống như thế nào để lời nói và hành động luôn đi đôi với nhau (tri hành hợp nhất), sĩ diện phải luôn phù hợp với thực chất và nội tâm.
Có lẽ đồ tể Mao Trạch Đông không hề biết đến hoặc cố tình xóa bỏ một học thuyết như thế cũng như toàn bộ Khổng giáo ra khỏi thiên đàng xã hội chủ nghĩa của ông, cho nên ngày nay nền văn minh kỹ thuật và vật chất mà Trung Cộng đã xây dựng được ngày càng làm lộ ra hố thẳm tinh thần và đạo đức của mình. Trung Cộng đang muốn trở thành nền kinh tế đứng đầu thế giới. Trung Cộng đang muốn chiếm trọn Biển Đông và làm bá chủ thế giới. Ở quốc gia cộng sản này, cái gì cũng muốn đạt kích thước vĩ đại. Nhưng những giá trị tinh thần và đạo đức và “tính người” thì  ngày càng teo lại.
Ở Việt Nam cũng thế thôi. Cái gì cũng muốn được ghi vào cuốn sách của những kỷ lục thế giới “Guinness book”: chiếc bánh chưng lớn nhứt thế giới, tô hủ tiếu lớn nhứt thế giới, bức tượng bà mẹ anh hùng lớn nhứt Đông Nam Á, đất nước có nhiều bằng tiến sĩ nhứt thế giới...đủ thứ lớn nhứt thế giới! Nhưng “tan sương đầu ngõ” mà vẫn cứ “tối đen trong nhà”. Cái “ngoại vương” hoành tráng và giả tạo ấy không đủ sức để che đậy những lỗ hổng tối tăm trong nhà, bởi vì cái “nội thánh” đã hoàn toàn bị thói dối trá của người cộng sản bóp nghẹt.
Không biết sau khi Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng được Chính phủ Mỹ long trọng đón tiếp, tình hình Biển Đông sẽ diễn biến như thế nào. Tôi chỉ biết rằng nếu cái bắt tay của Tổng thống Nixon với đồ tể Mao Trạch Đông vẫn còn ám ảnh người Việt tỵ nạn thì nay việc Chính phủ Obama  đón tiếp tổng bí thư của một đảng chính trị như một nguyên thủ quốc gia, nhứt là một đảng cộng sản đang cai trị đất nước bằng bàn tay độc tài khát máu của nó, tôi chẳng thấy có chút “hồ hởi phấn khởi” gì trong một giải pháp cho vấn đề Biển Đông. Tôi lại càng chẳng có chút hy vọng gì vào những biến đổi sâu rộng có thể xảy ra tại Việt Nam sau chuyến đi Hoa Kỳ của ông Trọng.
Mặc dù với nhiều dè dặt, khi ông Trọng vừa bước xuống khỏi máy bay, Chính phủ Hoa Kỳ chỉ cho trải một tấm thảm đỏ ngắn dành cho một nghệ sĩ hay cô dâu chú rể chứ không phải loại thảm đỏ trong nghi thức ngoại giao dành cho quốc khách và nhứt là người đón tiếp ông Trọng chỉ là một viên phụ tá ngoại trưởng đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương, nhưng báo chí công cụ ở Việt Nam vẫn cứ tỉnh bơ thổi phồng rằng ông Trọng đã được chính phủ Mỹ “trải thảm đỏ” theo đúng nghi thức ngoại giao. Vẫn là chuyện sĩ diện hão.

Việt Nam có thể mất vào tay Trung Cộng. Nhưng trước khi mất vào tay của Trung Cộng thì có lẽ Việt Nam đã mất vì thứ sĩ diện hảo ấy của người cộng sản. Lớp “sương tan  đầu ngõ” cũng chỉ là một thứ khăn tang che phủ một ngôi mộ tập thể trong nhà...Tôi nghĩ đến cái chết của tình người, của sự cảm thông, của lòng quảng đại, của tất cả những đức tính tốt đẹp trong bản tính con người...mà sự tham tàn, dối trá và thói sĩ diện hão của người cộng sản đã tạo ra cho xã hội Việt Nam.