Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Kim Jung Un: nỗi bất an của một nhà độc tài



12.6.15

Cũng như đất nước hoàn toàn bưng bít mà ông đang cai trị, nhà độc tài Kim Jong-un của Bắc Hàn là một trong những lãnh tụ bí hiểm nhất trên thế giới hiện nay.
Đối với thế giới bên ngoài, Kim Jong-un là một quái vật hay một tên hề sẵn sàng gởi những tên khủng bố đến đe dọa một người thợ cắt tóc ở Luân Đôn chỉ vì người này dám cười nhạo mái tóc không giống ai của mình. Cũng có người chỉ xem ông như một “dân chơi” thích phó mát Thụy Sĩ, xe đua và gái đẹp.
Thế nhưng bên trong “thiên đàng” cộng sản Bắc Hàn của ông, thì nhà lãnh đạo với khuôn mặt còn búng ra sữa này là một quân vương, một lãnh tụ tối cao, với hào quang chiếu sáng gần như thần thánh. Thần dân của ông vỗ tay hoan hô ông cho đến khi nào tay họ chai ra mới thôi.
Theo các phương tiện truyền thông quốc doanh, ông “trời con” này đi lại khắp nơi để “dạy dỗ” dân chúng về mọi vấn đề, bởi vì chuyện gì ông cũng thông thạo. Chẳng hạn mới đây, ông đã đến tận các trang trại nuôi ba ba để hướng dẫn về cách chăn nuôi. Bất cứ một lời nào thoát ra từ miệng ông cũng đều là “chân lý” được các chuyên viên ghi lại để nuốt lấy. Sở dĩ lãnh tụ tối cao phải đến tận nơi để ban huấn từ là bởi vì công ty nuôi ba ba này gần đây đã không đạt được năng xuất cũng như giảm sút trong việc nâng cao ý thức hệ cộng sản. Một tờ báo quốc doanh đã trích lời ông Kim Jong-un như sau: “Không thể hiểu được tại sao trang trại này đã không tổ chức được một phòng dành riêng cho việc giáo dục về lịch sử cách mạng”.
Thế giới bên ngoài xem ông như một quái vật đã đành, mà bên trong Bắc Hàn, người ta sợ ông như sợ cọp, bởi vì không ai có thể lường trước được những gì ông muốn làm và sẽ làm. Tin tức về những vụ thanh trừng và hành quyết dã man là một bằng chứng cho thấy tính khí bất thường của bạo chúa này. Bất thường hơn cả thân phụ ông là lãnh tụ kính yêu Kim Jong-il. Dưới thời ông này, những người thân cận của ông vẫn có thể sống còn, các tướng lãnh vẫn được tin dùng và ngẩng cao đầu. Điều này có nghĩa là ông Kim Jong-il vẫn được “kính yêu”.
Nhưng với ông Kim Jong-un thì khác. Cuộc hành quyết bất ngờ của ông Chang Song-thaek, vừa là dượng vừa là người đỡ đầu của ông và có lẽ của cả bộ trưởng quốc phòng là ông Hyon Yong-chol, đã khiến cho mọi người xung quanh lãnh tụ vĩ đại đều run sợ vì không biết ai sẽ là người kế tiếp bị mang ra tế thần. Nhưng trong một chế độ mà mọi người đều có thể là kẻ thù của mình thì âm mưu chống lại lãnh tụ hoặc đào thoát cũng đều là chuyện hầu như bất khả thi. Hầu như con đường nào cũng đều có thể dẫn đến cái chết. Đó có lẽ là bài học mà những người đang sống dưới trướng của lãnh tụ Kim Jong-il đã học được từ lịch sử. Các âm mưu chống lại Hitler đều thất bại và những kẻ bị bắt đều bị xử tử. Stalin cũng loại trừ được bất cứ một sự chống đối nào. Tại Nam Hàn, ngay cả sau khi ám sát được Tổng thống Park Chung-hee, giám đốc tình báo của ông cũng đã bị mang ra xét xử và treo cổ.
Dưới thời lãnh tụ Kim Jong-il, chẳng có bất cứ người nào dám hó hé để lật đổ ông. Đã có 20 năm được cha ông là ông Kim Il-sung đào luyện để lên kế vị, ông Kim Jong-il đã chứng tỏ là một người có khả năng để lãnh đạo cũng như kìm kẹp được mọi người dân. Về phần mình, Kim Jong-un đã du học ở Thụy Sĩ, lớn lên ở nước ngoài cho nên lúc đầu, người dân Bình Nhưỡng có lẽ chỉ xem ông như một người ngoại cuộc và do đó cũng sẽ không rành về đường lối cai trị của cha và ông của ông.
Nhưng có lẽ cái vốn liếng “du học” của ông chẳng được bao nhiêu, cho nên theo ông Foster-Carter, giáo sư tại đại học Leeds, Anh Quốc, có lẽ ông chẳng có chính sách ngoại giao nào hoặc chẳng ai hiểu được chính sách đó như thế nào. Có lúc ông định đi Nga, nhưng liền sau đó đình hoãn lại chuyến đi. Ông cho đóng cửa khu kỹ nghệ nằm ở biên giới với Nam Hàn mà không đưa ra lý do nào cả. Trong 3 năm đầu của ông, ngay cả những nhà chuyên môn kỳ cựu nhất về Bắc Hàn cũng chẳng lượng giá được bất cứ thành tựu nào của ông. Ông Brian Myers, giáo sư tại Đại học Dongseo, Nam Hàn, chuyên về chính sách tuyên truyền của Bắc Hàn, đã nói với Đài BBC rằng ông Kim Jong-un không có trình độ thông minh như cha ông. Ông chỉ muốn tô vẽ cho hình ảnh riêng của mình mà thôi. Theo giáo sư Myers, người dân Bắc Hàn không phải là những người ngu. Họ cũng đã nhận ra rằng Kim Jong-un còn quá trẻ và quá non dại; ông không được hướng dẫn để cai trị như cha ông. Ông không được “trọng nể” như cha và ông nội của ông. Theo giáo sư Myers, chuyện ông mời danh thủ bóng rổ Mỹ Dennis Rodman viếng thăm Bắc Hàn là một tính toán sai lầm của ông. Trước kia, trong các thước phim ghi lại sự đón tiếp mà ông nội ông là Kim Il-sung và cha ông là Kim Jong-il dành cho các quan khách nước ngoài, người ta thấy lúc nào người ngoại quốc cũng cúi đầu còn hai ông thì vẫn đứng thẳng như thể quan khách nước ngoài không phải là những người quan trọng. Nhưng trong những hình ảnh được ghi lại về chuyến viếng thăm của danh thủ Dennis Rodman, người ta lại thấy ông này vẫn tỉnh bơ ngồi bắt chéo chân, tay cầm một lon Cola Cola, đầu đội mũ bóng r và mang kính đen. Những người ngồi phía sau ông Kim Jong-un và danh thủ Dennis Rodman có lẽ chẳng hiểu gì về cách đón tiếp dành cho người khách nước ngoài này. Mặt khác, những hình ảnh như thế cũng có thể nói lên rằng Kim Jong-un, vì lớn lên ở nước ngoài, cho nên chẳng hiểu biết gì về thứ “văn hóa” chính thức đã từng được nhào nặn dưới chế độ bưng bít này. Ngoài ra, vì không có được “uy tín” và sự kính nể như cha và ông nội của mình, cho nên lãnh tụ vĩ đại này dễ rơi vào tâm trạng bất an và do đó phải tiến hành các cuộc thanh trừng và hành quyết để thể hiện uy quyền của mình.
Trước tin tức về vụ hành quyết Bộ trưởng Quốc phòng Hyon Yong-chol bằng súng phòng không, các nhà phân tích cho rằng Bắc Hàn muốn gởi đi một thông điệp rõ ràng: tại Bắc Hàn không có một người nào quan trọng hơn quốc gia và dĩ nhiên lãnh tụ Kim Jong-un.
Paul French, một tác giả chuyên viết về chế độ kiểm soát tại Bắc Hàn, đã nói với Đài BBC rằng với cuộc hành quyết ông Hyon Yong-chol, Bắc Hàn muốn cho người dân trong nước cũng như nước ngoài thấy rằng sự kiểm soát của chế độ là toàn diện; không một người nào, không một sự chống đối nào có thể qua mặt được nhà nước. Theo ông French, với việc bắn tan xác ông Hyon Yong-chul, lãnh tụ Kim Jong-il cũng muốn chứng tỏ rằng bất cứ một thành phần chống đối nào cũng đều sẽ mất xác như thế.
Bắc Hàn không phải là quốc gia duy nhất trên thế giới có lối hành quyết tàn bạo như thế. Dưới thời quân phiệt tại Á Căn Đình từ năm 1976 đến năm 1983, chính phủ đã hành quyết bằng cách ném các tử tội từ máy bay xuống đại dương.  
Một số quốc gia khác thì lại nhục mạ thi thể của các tử tội sau khi hành quyết. Chẳng hạn như tại Sudan và Á Rập Saudi,  xác các tử tội bị đóng đinh và treo lên sau khi họ đã bị treo cổ hoặc chặt đầu. Còn tại Uganda, bạo chúa Idi Amin dùng tử thi của các tử tội để nuôi cá sấu.
Nhục mạ các tử tội cũng là điều thường xảy ra tại Trung Cộng. Quốc gia cộng sản lớn nhất thế giới này đã từng đưa những người bị kết án về tội khủng bố tại Tứ Xuyên lên các chiếc xe tải để cho diễu hành qua các sân vận động và bắt họ phải cúi đầu trước đám đông.
Chính quyền cộng sản Trung Quốc đối xử như thế với các tử tội để cho thấy rằng tập thể quan trọng hơn cá nhân và kiểm soát tư tưởng quan trọng hơn là hành động.
So sánh với các phương pháp hành quyết và nhục mạ các tử tội trên đây, có lẽ sáng kiến của lãnh tụ Kim Jong-un độc đáo và dã man hơn nhiều. Nhưng càng tỏ ra tàn bạo bao nhiêu, ông càng để lộ bộ mặt bất an của mình bấy nhiêu.
Cuộc hành quyết Bộ trưởng Quốc phòng Hyon Yong-chol bằng súng cao xạ đã thể hiện đúng bộ mặt tàn bạo và bất an ấy của ông. Và thế giới bên ngoài có lẽ cũng không ngạc nhiên về vụ hành quyết này. Với một con người lúc nào cũng lo sợ và bất an như Kim Jong-il, một cuộc hành quyết dã man như thế, nhất là đối với một bộ trưởng quốc phòng, là điều có thể đoán trước được.
Chỉ trong 4 năm sau khi lên kế vị “vua cha”, vua con Kim Jong-un đã thay đổi bộ trưởng quốc phòng đến 4 lần. Nếu người nắm giữ bộ này được xem là cánh tay mặt của ông thì việc ông thay đổi người liên tục như thế cho thấy ông chẳng tin ai và có bất cứ một người nào được xem là tín cẩn. Từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2012, người giữ chức bộ trưởng quốc phòng là ông Kim Jong-gak. Chỉ sau 7 tháng ông này được thuyên chuyển về một trường võ bị. Người kế vị ông này trong chức vụ bộ trưởng quốc phòng là tướng Kim Kyok-sik nghe đâu mới qua đời. Từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014, tướng Jang Jong-nam lên thay thế, nhưng chỉ được một năm rồi biến mất. Từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015, nghĩa là gần đúng một năm, tướng Hyon Yong-chol được cất nhắc vào chức vụ để rồi bị mang ra hành quyết một cách dã man.
Ngay cả trong hàng ngũ quân đội, kể từ khi ông Kim Jong-un lên cầm quyền, cũng đã có tới 6 lần thay thế người giữ chức vụ tổng tham mưu, tức người điều hành các cuộc hành quân và nắm trong tay các lực lượng đặc biệt.
Theo các phân tích gia, sở dĩ “Tào Tháo” Kim Jong-un phải loại trừ Bộ trưởng Quốc phòng Hyon Yong-chol, là vì ông này là người “biết quá nhiều”, nhất là về tình hình quân sự của Bắc Hàn. Ông đã từng là tham mưu trưởng của các trường võ bị, đồng thời là chỉ huy trưởng của Sư đoàn 8 đóng ở sát biên giới Tây Bắc Trung Quốc. Đây là nơi có trung tâm nghiên cứu hạt nhân và cũng chính từ đây mà Bắc Hàn đã cho phóng đi hai hỏa tin. Nhà quân sự Hyon Yong-chol đáng bị lãnh tụ Kim Jong-un cho hành quyết một cách dã man chỉ vì ông là người biết quá nhiều về quân đội và các chương trình vũ trang của Bắc Hàn.
Với cuộc hành quyết ông Hyon Yong-chol, ông Kim Jong-un muốn chứng tỏ rằng ông là người duy nhất nắm giữ quyền lực ở Bắc Hàn và dĩ nhiên nắm quyền sinh sát trong tay. Nhưng mặt trái của quyền lực lúc nào cũng là sợ hãi và bất an. Càng lên đến đỉnh cao của quyền lực độc tài, con người càng sợ hãi và bất an cho nên nhìn đâu cũng thấy kẻ thù.

Đó là qui luật muôn đời về độc tài. Ở Trung Cộng cũng thế. Ở Nga cũng thế. Và dĩ nhiên ở Việt Nam cũng thế.

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Triết lý “Thằng Bờm”



Chu Thập
5.6.15

Không biết cuộc khủng hoảng tại Biển Đông sẽ kết thúc như thế nào. Chỉ có điều không thể chối cãi là đối với thế giới hiện nay, Trung Cộng quả là thứ rắn độc đáng sợ và đáng ghét nhứt trong đời. Trong cuốn sách có tựa đề “Death by China” (chết vì Trung Quốc), xuất bản năm 2011, Giáo sư Kinh tế Mỹ Peter Navarro đã gióng lên hồi chuông báo động về không biết bao nhiêu thứ nọc độc mà quốc gia cộng sản này đang gieo rắc trên khắp thế giới.
Mới đây, có lẽ cũng muốn cảnh giác người dân Úc về sự đe dọa của Trung Cộng, một người dân thường Úc ở Sydney tên là Nick Folkes đã đi từng nhà để bỏ vào các thùng thơ một tờ “truyền đơn” có tựa đề “Sự xâm lăng của Trung Quốc tại Úc Đại Lợi” (Chinese invasion in Australia). Trong tờ truyền đơn, ông Folkes cho rằng “những người Úc đã phải vất vả cực nhọc nay đang bị đẩy ra bên lề các đô thị, trong khi đó những tên ngoại quốc lạ mặt lại đang gặt hái những thành quả của những thế hệ đã phải làm việc cực nhọc”. Một cách cụ thể, ông Folkes nhấn mạnh đến hiện tượng người Trung Quốc đang đầu tư vào thị trường địa ốc Úc để đẩy giá nhà lên, khiến cho người dân Úc, nhứt là các gia đình trẻ phải khốn đốn và hoang mang trong việc mua nhà. Các số liệu cho thấy trong thời gian gần đây người Trung Quốc đầu tư vào thị trường địa ốc của Úc Đại Lợi nhiều hơn tại Luân Đôn và Nữu Ước. Nhiều người đang lo sợ về một thứ bong bóng địa ốc do Trung Quốc bơm lên và muốn cho xì lúc nào tùy ý.
Các chính trị gia, có lẽ do cái nhìn xa và nghĩ đến đại cuộc nhiều hơn chăng, cho rằng những lời cảnh cáo của ông Folkes là “ngu xuẩn”. Cá nhân tôi không biết thực sự hiện đang có một “sự xâm lăng của Trung Quốc tại Úc Đại Lợi ” không và mức độ đe dọa ấy có đáng kể không. Chỉ biết rằng rất nhiều người trẻ mà tôi có dịp nói chuyện với đều tỏ ra lo ngại về tương lai của họ. Cụ thể, mua được một căn nhà dường như không còn nằm trong tầm tay của họ nữa. Bên cạnh mối lo đó, cuộc sống ở các đô thị ngày càng trở nên khó khăn hơn khiến cho nhiều người dễ rơi vào căng thẳng và trầm cảm.
Cứ mỗi lần về Sydney, tôi lại nhận ra sự căng thẳng của người dân đô thị xuyên qua cách lái xe của họ. Không bóp còi để “chửi xéo” người khác thì cũng lấn đường một cách hung hãn. Như mới hôm Chúa nhựt vừa qua chẳng hạn, trên con đường từ chợ Flemington về Hornsby, tôi lái xe trong tình trạng căng thẳng tột cùng: nhìn phía trước để giữ một khoảng cách hợp lý, lại còn phải nhìn ra sau để đề phòng những kẻ lấn đường muốn qua mặt hay bám sát vào mình. Một tài xế mà tôi đoán không quá 30 tuổi ở phía sau tôi không ngừng làm động tác ấy. Lúc thì anh cố tình sấn vào xe tôi, lúc thì anh lượn qua lượn lại để tìm đường qua mặt. Nhìn trong kính chiếu hậu, tôi thấy thật tội nghiệp cho anh. Tôi cũng tội nghiệp cho cây thánh giá treo lng lẳng trong xe của anh. Tôi nghĩ bụng: Chúa Giêsu lại bị một tín hữu Ki tô bắt vác thập giá một lần nữa!
Tôi không muốn quơ đũa cả nắm để bảo rằng người dân đô thị nào cũng hung hãn khi lái xe. Nhưng tôi tin chắc rằng cuộc sống ở đô thị, so với thôn quê của tôi, dễ khiến cho thần kinh của con người bị căng thẳng. Mới đây, nhứt là khi đồng tiền Úc còn ngang nga với đồng Mỹ kim, người ta bảo rằng dân Úc giàu nhứt thế giới: nhà cửa đắt, cái gì cũng mắc mỏ. Ngoài ra, theo thống kê, Úc Đại Lợi cũng được xếp vào hạng nhứt thế giới về cuộc sống đô thị hóa: có đến 70 phần trăm dân Úc sống ở đô thị!
Chỗ tôi ở cũng đã được đô thị hóa. Với những tiện nghi đang có, tôi thấy cuộc sống của mình cũng chẳng khác bao nhiêu so với cuộc sống tại những thành phố lớn của Úc. Nhưng nếu nói về khung cảnh thiên nhiên, thì tôi lại cảm thấy mình được ưu đãi hơn. Và dĩ nhiên, những người “đồng hương” mới của tôi cũng ít bị căng thẳng hơn. Mới đây, một cặp vợ chồng trẻ người thân của tôi từ Sydney về nghỉ cuối tuần với chúng tôi. Sau một ngày và một đêm được hít thở không khí trong lành, tránh được sự ô nhiễm về âm thanh, quên đi những căng thẳng của cuộc sống xô bồ, thưởng thức những món ăn thanh đạm từ hoa trái, rau quả do tôi trồng trọt và trứng gà do mấy chị gà mái sau nhà sản xuất, hai anh chị nói rằng họ như được “tĩnh tâm” (retreat) và nạp lại năng lực để trở về chiến đấu với cuộc sống xô bồ ở thành thị.
Con người ta ai cũng thích cuộc sống văn minh vật chất và những tiện nghi do kỹ thuật mang lại. Nhưng dường như “đi loanh quanh cho mỏi mệt” rồi cuối cùng ai cũng muốn quay về với cuộc sống đơn giản ở chốn thôn dã. Trước kia, thế giới hăm hở với những kỹ thuật chăn nuôi và canh tác với năng xuất cao: cái gì cũng “công nghệ” và sản xuất hàng loạt. Hoa quả được đổi “gen” di truyền ê hề. Nay người ta lại đua nhau trở về với những sản phẩm được canh tác và chăn nuôi theo phương pháp cổ điển: hễ có nhãn hiệu “organic” (hữu cơ) hay “heirloom” (cây giống nguyên thủy) là được ưa chuộng. Đúng là “đi loanh quanh” cho đã để rồi cuối cùng cũng quay về “chốn cũ”, tức trở về với cuộc sống dân dã và đơn giản! Người nông dân và dân dã với cuộc sống yên hàn, bình lặng, ít căng thẳng vẫn giữ được sự minh triết mà thị dân luôn thèm khát.
Tối thứ Hai 1/6/15 vừa qua, xem chương trình vòng quanh thế giới do Phóng viên Simon Reeve của Đài BBC thực hiện, tôi nhận ra được sự minh triết ấy. Trong chặng dừng chân tại vùng đảo Caribê bên Châu Mỹ La Tinh, Phóng viên Reeves cho xem cuộc sống “thiên đàng” tại đảo Barbados. Trước đây, hòn đảo này chỉ là một nơi thuộc loại chó ăn đá gà ăn muối dành cho đám dân chài nghèo. Vậy mà nay, hầu hết cư dân và khách du lịch đều thuộc giới quý tộc giàu có trên khắp thế giới. Người nghèo bán đất lấy tiền để đi tìm một cuộc sống tốt hơn tại một nơi khác. Duy chỉ có một người dứt khoát không chịu rời bỏ thiên đàng này. Ông cho biết trước đây bà nội của ông đã mua mảnh đất nơi ông đang ở với giá 24 Mỹ kim. Căn nhà “từ đường” của ông quả là một nỗi “ô nhục” cho những ngôi biệt thự và khách sạn hoành tráng trên đảo. Đã có người sẵn sàng mua miếng đất với giá 8 triệu Mỹ kim. Nhưng người thừa kế của miếng đất và ngôi nhà lụp xụp này không cần tiền. Ông giải thích rằng bên kia thế giới 8 triệu Mỹ kim đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Người nghèo này hẳn có một sự khôn ngoan mà người giàu có không thể có được.
Tư cách của người đàn ông da đen nghèo tại đảo Barbados trên đây không thể không gợi lại cho tôi hình tượng của “Thằng Bờm” trong bài ca dao quen thuộc của người Việt Nam. “Thằng Bờm có cái quạt mo...”. Có đứa trẻ Việt Nam nào, trong những bài học vỡ lòng, mà không thuộc lòng bài ca dao này. Lúc nhỏ, đọc làu làu, tôi không mấy để ý đến cái “triết lý Thằng Bờm”. Có người cho rằng “Thằng Bờm có cái quạt mo...” là một bài ca dao nhắm đến hạng người tham cái lợi nhỏ trước mắt mà bỏ cái lợi lớn lâu dài. “Phú ông” đưa ra những tài sản kếch xù như “ba bò chín trâu” hoặc như “bè gỗ lim” để chỉ đổi lấy cái quạt mo. Vậy mà “Thằng Bờm” đã từ chối bởi vì nó không biết được giá trị của những tài sản ấy. Đi từ những tài sản kếch xù để dần dần tiến tới những thứ đơn giảm kém giá trị hơn như “xâu cá mè” hay “đôi chim mồi”, vậy mà “phú ông” cũng không thể thuyết phục được “Thằng Bờm”, bởi vì đối với nó, những thứ ấy chưa phải là thức ăn có thể ăn liền. Chỉ có “nắm xôi” mới mua được nụ cười mãn nguyện của “Thằng Bờm”. Một số học giả cho rằng đó là triết lý sống của những người chọn lấy cái có thể ăn ngay, mà bỏ qua tất cả những gì phải có thời gian chờ đợi mới có thể phát sinh lợi ích. Tóm lại, theo lối giải thích này, “Thằng Bờm” là một kẻ ngu ngốc, kém trí khôn chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, mà không quan tâm đến những chương trình dài hạn.
Tôi chẳng có chút vốn liếng nào về phê bình văn học.Tôi cũng chẳng rành về thơ phú. Nhưng cũng như Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc khi ông nhận ra giá trị của bài thơ “Con Cóc” (x. Nguyễn Hưng Quốc, Thơ Con Cóc và những vấn đề khác, NXB Văn Mới, California, Hoa Kỳ, 2006) và cho rằng bài thơ này “nói hộ giùm tôi bao nhiêu điều u uẩn, cứ day dứt trong lòng”, tôi cảm nhận được một bài học sâu sắc từ “Thằng Bờm”.  Bước vào tuổi già, tôi không còn nhận ra bộ mặt ngu ngốc và kém trí khôn của “Thằng Bờm” nữa. “Thằng Bờm” đối với tôi ngày nay là một nhà “hiền triết” đầy sự khôn ngoan mà con người thời đại của tôi dường như đã đánh mất. “Thằng Bờm” là người biết cười và vui hưởng những điều đơn giản nhứt trong cuộc sống. Nó đi thẳng vào điều thiết yếu trong cuộc sống, chớ không phải mất công “đi loanh quanh cho đời mỏi mệt”.
Tôi không biết ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) có phải là đệ tử của “Thằng Bờm” không, nhưng cứ mỗi lần đọc mấy câu thơ của ông “một mai, một cuốc một cần câu. Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người đến chốn lao xao”, tôi lại thấy đó như một thứ “thần chú” rất hiệu nghiệm. Chỉ cần vác cuốc ra vườn, vừa vận động cho gân cốt được giãn nở, vừa ngắm nhìn trời đất mênh mông thì  dù  đầu óc và người ngợm có nặng nề đến đâu, cũng cảm thấy nhẹ nhõm. Chỉ cần vác cần ra bờ hồ gần nhà, ném năm ba cái, ngồi nhìn cảnh mặt trời lặn, nghe chim hót là cũng đủ thấy đời “đẹp” như thế nào rồi. Đó là chưa nói tới chuyện kéo được một con cá đủ lớn cho một bữa ăn hay để dành biếu cho người thân.
Nói đến hình tượng “Thằng Bờm” và cuộc sống đơn giản, tôi cũng  “cảm” được cái triết lý sống mà ông bạn của tôi muốn gói ghém trong tên gọi “Thằng Bờm” mà ông đặt cho con trai. Là người có cái nhìn thật sâu sắc về cuộc đời, về con người, nhưng ông lại chọn một nếp sống đơn giản tối đa giữa chốn  phồn hoa, đô hội: không bon chen, không đua đòi, không tranh giành hơn thiệt và dĩ nhiên lúc nào cũng nở nụ cười thân thiện, thân ái và hài lòng về cuộc sống hiện tại. Tôi tin chắc rằng ông bạn tôi đã nắm bắt được đâu là điều thiết yếu trong cuộc sống: chỉ có cuộc sống đơn giản mới mang lại thanh thản, an vui và hạnh phúc đích thực cho con người. Văn thi sĩ Mỹ Henry David Thoreau (1817-1862) đã diễn tả đúng tâm trạng của người có cuộc sống đơn giản khi ông nói: “Sống đơn giản về mọi phương diện và sẵn sàng đối phó với trường hợp kẻ thù chiếm lấy thành phố là điều đáng mong ước...bởi vì ta có thể ra đi với hai bàn tay trắng và chẳng phải mang theo nỗi âu lo nào”.


Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Hổ Phụ Sinh Hổ Tử...


Chu Thập
30.8.11


Ngày của Cha năm nay, tự nhiên tôi có ý nghĩ muốn vinh danh một số “người cha gương mẫu” trong cái xóm nhỏ của tôi. Không kể các cụ lớn tuổi đang sống một mình hay với cụ bà, tôi cũng đếm được ít nhứt 3 người cha đáng được tặng cho tước hiệu “người cha của năm” (Father of the Year).
Trước hết, tôi nghĩ đến cái ông hàng xóm mà lúc mới về, vì không biết tên, tôi thường gọi là “ông cà thọt”. Hầu như không có ngày nào, hoặc lái xe hay đi bộ ngang qua trước nhà, mà tôi không được ông chào hỏi một cách rất nồng nhiệt, niềm nở và thân tình. Với ông thì không có chuyện xã giao “How are you, mate?” mà là những câu nói tỏ rõ sự quan tâm đến người khác. Thỉnh thoảng tôi cũng thấy ông sang nhà bà hàng xóm người Tàu neo đơn bên cạnh để cắt cỏ hay làm một vài công việc lặt vặt khác. Là một người láng giềng tốt, ông cà thọt mà tôi chỉ biết được tên là “James” cách đây một năm, chỉ có thể là một người cha tốt mà thôi. Bởi lẽ, không rõ vì một lý do nào đó, ở vào độ 50, ông giao chuyện kiếm cơm gạo cho bà vợ, chấp nhận ở nhà làm việc nội trợ và chăm sóc 3 đứa con đang học tiểu học. Nhà của ông ngăn nắp, vườn của ông lúc nào cũng đâu ra đó. Mấy đứa con nhỏ của ông cũng tham gia các cuộc chơi trên con đường cụt với những đứa trẻ khác trong xóm và luôn biết chào hỏi người qua lại. Thỉnh thoảng, hai đứa con trai chạy chơi trong xóm gây ồn ào hoặc cản trở lưu thông, tôi nghe ông “lớn tiếng” gọi về dạy bảo ngay.
Với tôi, trong cái xã hội văn minh và tự do này, những người cha như ông James không phải là nhiều.
Một người hàng xóm khác cũng chiếm được nhiều cảm tình của tôi là ông Stevens. Cũng như ông James “cà thọt”, người đàn ông Úc chính hiệu này là dân cổ xanh. Ngoài chuyện ông lúc nào cũng nở nụ cười thân thiện với mọi người, nơi ông có một cử chỉ khiến tôi tin rằng ông là một người cha tốt: ông thường chơi “bi da”, thẩy bóng rổ với mấy cậu con trai choai choai và nhứt là dạy chúng rửa và lau chùi mấy chiếc xe của gia đình. Những sinh họat bên trong gia đình diễn ra như thế nào, tôi không nhìn thấy được. Nhưng sự kiện mổi buổi chiều khi đi làm về ông thường xuyên có mặt bên cạnh mấy cậu con trai và mấy cô con gái nhỏ ở phía trước nhà là một hình ảnh  đẹp và hiếm trong xã hội này.
Người cha thứ ba mà tôi muốn vinh danh là người hàng xóm của tôi. Người đàn ông ngoài 30 này quả là một người cha đặc biệt. Cũng như trong gia đình ông James cà thọt, người kiếm cơm trong gia đình này là chị vợ mà, theo tôi quan sát, tuân thủ một thời khóa biểu không bao giờ thay đổi: 6 giờ 30 sáng ra khỏi nhà, 6 giờ 30 chiều có mặt ngay trước cửa garage. Không rõ người hàng xóm của tôi làm gì cho hết một ngày dài. Tôi chỉ biết: cứ sáng sớm, ông bưng nguyên một thau quần áo, khăn, vải trải giường ra phơi. Mỗi ngày, ông đưa đón đứa con trai lớn theo học trong một trường tiểu học tư. Thời giờ còn lại, tôi nghĩ ông phải chăm đứa con trai thứ hai dường như mắc chứng tự kỷ hay một thứ khuyết tật nào đó. Và dĩ nhiên, tôi tin chắc rằng bếp núc cũng là chuyện của ông. Tối đến sau khi mọi việc xong xuôi, ông mới có một chút giờ cho riêng mình: leo lên chiếc xe đạp hoặc chạy bộ tập thể dục. Hơn hai năm qua, kể từ khi dọn về cái xóm nhỏ của tôi, người đàn ông này vẫn trung thành với cái thời khóa hiểu ấy. Mùa hè, thỉnh thoảng, ông cũng kéo tàu đưa vợ con đi chơi biển.
Vợ đi làm, chồng ở nhà làm việc nội trợ và chăm sóc con cái: còn ai đáng được tán dương như một mẫu mực cho bằng ông hàng xóm của tôi.
Tôi tin rằng cái xóm nhỏ của tôi luôn an bình là bởi có những người cha tốt như thế. Ngoại trừ tiếng ồn do lũ con nít chơi đùa tạo ra, tôi chưa bao giờ nghe tiếng hò hét từ mấy ông bố này. Con không cha như nhà không nóc. Đông Tây gì cũng thế thôi. Người cha là thày giáo đầu tiên của con cái. Đó là chuyện khỏi phải bàn cãi. Cha “hư” thì con cũng dễ “hư”. “Hổ phụ sinh hổ tử” là điều được chứng nghiệm hầu như trong mọi trường hợp.
Trong thời gian gần đây, thử áp dụng câu nói trên đây cho gia đình đại tá Gaddafi, tôi thấy chẳng sai chút nào. Có lẽ chẳng có danh xưng nào mô tả đúng nhà độc tài đã cai trị Libya từ 41 năm nay cho bằng từ “con chó điên” của vùng Trung đông mà cố tổng thống Hoa kỳ Ronald Reagan đã buột miệng nói ra.
Điên loạn, ngông cuồng và hoang tưởng: có thể nói Gaddafi là một tổng hợp đầy đủ nhứt của những đặc tính mà người ta có thể tìm thấy nơi bất cứ nhà độc tài nào trong lịch sử nhân loại. Ông đã có thể nói những câu chỉ có thể thoát ra từ miệng của một người điên loạn. Chẳng hạn, ông tuyên bố rằng: “HIV là một virút hòa bình, chứ không phải là một virút độc hại”. Còn virus H1N1 gây ra bệnh cúm gà, thì ông bảo đó là “một thứ vũ khí sinh học do một quân đội nước ngoài chế tạo”. Ông còn nói với dân chúng Phi châu rằng ruồi Tsetse (gây bệnh ngủ đến chết) và muỗi gây sốt rét là “đạo binh của Đấng Allah để bảo vệ họ khỏi bọn thực dân”.
Ông được mô tả như một người “đàn ông của gia đình”, nghĩa là biết lo cho con cái được ăn học thành tài và dĩ nhiên để chia sẻ quyền lãnh đạo tối cao của ông. 7 người con của hai đời vợ của ông, nếu không trực tiếp chỉ huy các cuộc đàn áp dân chúng, thì cũng nhúng tay vào tội ác của ông. Ngay cả cô con gái Ayesha Gaddafi, 35 tuổi, một luật sư, cũng tích cực đứng ra biện hộ cho những hành động tội ác của cha mình.
Nhưng so với hai người con trai của nhà độc tài Saddam Hussein của Iraq là Uday và Qusay Hussein thì có lẽ những người con của ông Gaddafi chỉ mới là những tay “tập sự” trong sự tàn ác. Ngoài chuyện cướp bóc Kuwait trong cuộc chiến Vùng Vịnh, Uday được thế giới biết đến vì những thành tích tra tấn bất kỳ người nào chống đối ông, ngay cả những người bạn tình hay bạn bè và những lực sĩ Iraq nào không đạt được chỉ tiêu do ông đề ra.
Qusay, người con trai thứ, được nhà độc tài tin tưởng nên đặt làm chỉ huy trưởng Đạo binh cộng hòa và Cơ quan mật vụ. Qusay là người đã ra lệnh quân đội tàn sát bất cứ phe nổi dậy nào. Ngay cả mấy cô con gái của Saddam Hussein cũng đã từng nhúng tay vào tội ác của ông. Raghad Hussein, hiện đang tỵ nạn tại vương quốc Jordan. Chính phủ Iraq đã yêu cầu Jordan cho dẫn độ về nước  người đàn bà này vì hiện bà đang tài trợ và ủng hộ cuộc nổi dậy của Đảng Ba’ath, tức đảng đã từng cai trị đất nước dưới thời cha bà.
Hai người con gái khác của ông Saddam hiện đang sống lưu vong và vẫn tìm cách khôi phục quyền hành của cha họ. Đây là một hành động khó hiểu nơi những người con gái của ông Saddam. Thực vậy, năm 1995, vợ chồng bà Raghad và vợ chồng bà Rana, vì bất đồng chính kiến, đã đào tỵ sang Jordan. Nhà độc tài hứa sẽ tha thứ cho họ nếu họ trở về nước. Nhưng năm 1996, chỉ ba ngày sau khi hồi hương, hai người chồng, vốn là anh em ruột, đã bị ông Saddam ra lệnh tấn công và sát hại vì tội phản bội.
Tháng 8 năm 2003, bà Raghad và bà Rana đều được Jordan cho tỵ nạn. Tại đây, khi được phỏng vấn trên đài truyền hình CNN, bà Raghad khẳng định rằng ông Saddam là “một người cha rất tốt luôn hết lòng yêu thương con cái”.
Con hổ nào mà chẳng thương con mình. Những người con của nhà độc tài Bắc Hàn, Kim Jong Il cũng chỉ có thể nói như thế về ông.
Trong ba người con trai của nhà độc tài đang cai trị thiên đàng cộng sản này, đáng chú ý nhứt là Kim Jong Un, 25 tuổi, người con út đã được “lãnh tụ kính yêu” chính thức xức dầu tấn phong làm người kế vị. Cũng như hai người anh khác, Kim Jong Un cũng được gởi học tại Trường Quốc Tế ở Berne, Thụy sĩ.
Sở dĩ được người cha lãnh tụ kính yêu chọn để kế vị mình là vì Kim Jong Un cũng có tính “ngông cuồng và độc ác” chẳng khác gì  cha. Năm lên 6 tuổi, Kim Jong Un đã đựoc cha trao chìa khóa của một chiếc Mercedes Benz với ghế ngồi và toàn bộ hệ thống bàn đạp thích nghi với trẻ con. Cũng ở tuổi này, Kim Jong Un cũng đã từng chìa tay xin thuốc lá hiệu Fujimoto của Nhựt bản.
Được cha trao quyền tổng tư lệnh tối cao của quân đội Bắc Hàn với quân hàm của một tướng 4 sao, “đồng chí vinh quang” tuổi trẻ tài cao này đã lập được những thành tích như cho thử nghiệm các hỏa tiễn có gắn đầu đạn nguyên tử và nhứt là cho nã trọng pháo vào đảo Yeonpyeong, của Nam Hàn khiến cho hai binh sĩ bị thiệt mạng và 17 người bị thương.
Chuyện như thế mà bảo hổ phụ không sinh hổ tử sao?
Nói đâu cho xa, cứ nhìn vào cái “vương quốc” cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam do các vua quan cộng sản đang cai trị, người ta cũng chỉ thấy một hiện tượng tương tự mà thôi. Cái chủ nghĩa tự xưng là “xã hội chủ nghĩa” ấy trong thực chất chỉ là một chủ nghĩa “gia đình trị”. Nếu ở Libya hay Iraq, sát cánh bên cạnh các bạo chúa là các cậu ấm cô chiêu, thì tại Việt nam hiện nay, nằm ở chóp bu quyền lực là những ông hoàng tử đỏ như Nguyễn thanh Nghị, trong trai Nguyễn tấn Dũng, Nông đức Tuấn, con trai Nông đức Mạnh...Từ cái hạt giống “đỏ”, người ta chỉ thấy những thứ trái “đỏ” mà thôi.
Con hổ nào cũng thương con. Người cha nào cũng “thương” con. Nhưng thương thực sự là muốn cho con cái mình thành nhân, chứ không phải trở thành một bản sao hay cái bóng của mình.
Con hơn cha mới là nhà có phúc. Có biết bao nhiêu người con, nhờ nhận thức, tự do và sức phấn đấu đã thoát ra khỏi cái bóng tội ác của người cha. Trong số ra tháng 9 này, nhân Ngày của Cha, tạp chí Reader’ s Digest, đã đặc biệt vinh danh Calum Best, con trai của danh thủ túc cầu nổi tiếng George Best của câu lạc bộ Manchester United bên Anh. Huyền thoại túc cầu này đã mang tật nghiện rượu trước khi con trai mình chào đời năm 1981. Khi Calum lên 5 thì cha mẹ anh chia tay nhau và mẹ anh đã mang anh sang Los Angeles, Hoa kỳ. Năm anh lên 11 tuổi, người cha đưa anh đi xem một trận đấu của đội Manchester United, sau đó ông dẫn cậu vào một quán rượu để chứng kiến cảnh ông say lúy túy và cuối cùng bỏ anh một mình trong khách sạn. Gần hai ngày sau, ông mới trở về khách sạn. Nhưng cậu con trai không dám mở miệng hỏi ông đã đi đâu, bởi vì hỏi như thế chỉ có thể làm cho ông thêm mặc cảm và lại bỏ đi.
Calum luôn trở lại Anh thăm cha mình với hy vọng sẽ thấy ông thay đổi. Nhưng danh thủ túc cầu này vẫn chứng nào tật ấy. Năm 21 tuổi, Calum trở về Anh quốc. Lúc này, cha anh hoàn toàn suy nhược và đang chờ được thay gan. Nhưng ông vẫn không thể bỏ rượu. Trong một lần đưa Calum đến một quán rượu, trong cơn say lúy túy, ông đã thốt lên: “Mày không phải là con tao. Tao ghét mày”. Ông qua đời năm 2005. Calum mất một người cha, nhưng anh không đánh mất hy vọng được thoát khỏi cái bóng tăm tối của một người cha nghiện ngập.
Năm vừa qua, anh đã đi Việt nam để làm thiện nguyện cho Quỹ Tín Dụng Trẻ em (The Children’s Trust) và quyết định làm một cái gì đó để giúp đỡ cho con cái của những người cha nghiện ngập. Ở tuổi 30, hiện Calum đang hoạt động tích cực cho “Hội những người con của những người nghiện ngập” tại Anh quốc. Đây là một tổ chức từ thiện chuyên giúp đỡ cho khoảng 1 triệu 3 trăm ngàn trẻ em Anh quốc đã từng có cha mẹ nghiện ngập. Anh đã đi khắp nơi để chia sẻ kinh nghiệm cá nhân và gây quỹ để giúp cho những đứa bé bất hạnh như anh.
Đã từng đau khổ vì có một người cha nghiện ngập, Calum vẫn có thể nói rằng anh “muốn cho thế giới biết rằng anh vô cùng hãnh diện được làm con của cha mình”.
Ngày của Cha năm nay, tôi cũng mong được tiếp tục thốt lên: “tôi hãnh diện được làm con của cha tôi”. Cha tôi chỉ là một nông dân thất học. Cha tôi cũng không phải là một người cha gương mẫu. Nhưng dù thế nào đi nữa cha tôi vẫn là người đã trao ban cho tôi sự sống và nhứt là lúc nào cũng mong cho tôi được “nên người”. Bấy nhiêu thôi cũng đủ cho tôi hãnh diện về cha tôi.







Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Venezuela: bộ mặt thật của xã hội chủ nghĩa!



5.6.15

Vịnh Caribê của Châu Mỹ La Tinh là một trong những vùng biển đẹp nhất thế giới. Và quốc gia hãnh diện có bờ biển dài nhất trong vùng vịnh này là Venezuela. Không những có bờ biển đẹp, Venezuela còn nằm trên một kho tàng vô tận là “vàng đen” (dầu hỏa). Với một trữ lượng dầu hỏa lớn nhất nhì thế giới, lẽ ra Venezuela phải là một trong những nước giàu nhất thế giới. Vậy mà hiện nay đất nước này chỉ được thế giới biết đến như một nơi rất nguy hiểm để đến viếng thăm và ngập tràn tham nhũng. Thủ đô của nước này là một thành phố đầy những khu ổ chuột và hệ thống y tế tồi tệ đến nỗi người dân phải xếp hàng trên đường phố để chờ mua thuốc giảm đau.
Trong loạt bài phóng sự có tựa đề “Simon Reeve’s Caribbean” (phóng sự về vùng Caribê do Simon Reeve thực hiện) hiện đang được chiếu trên Đài SBS vào mỗi tối thứ Hai, phóng viên Simon Reeve của Đài BBC đã đi sâu vào thực tế bẩn thỉu của một trong những vùng đất đẹp nhất thế giới.
Venezuela được xem là quốc gia có trữ lượng dầu hỏa lớn nhất thế giới và trong 20 năm qua đã thu vào được hơn 3000 tỷ Mỹ kim từ tiền bán dầu. Cố tổng thống Hugo Chavez, người đã lãnh đạo đất nước cho đến khi qua đời năm 2013, luôn tự xưng là một người theo xã hội chủ nghĩa và lúc nào cũng thề thốt chỉ sử dụng tiền bán dầu hỏa để lo cho dân nghèo. Nhưng trong bao thập niên qua, thời gian mà phóng viên Reeve gọi là thời kỳ “quản lý kinh tế tồi tệ đến độ gây sửng sốt” (gobsmacking economic mismanagement), tình trạng của Venezuela tồi tệ đến ni cứ 3 người dân thì có một người phải sống trong nghèo đói.
Tòa nhà chọc trời có tên là “Centro Financiero Confinanzas” (Trung tâm tài chính) hay còn gọi là “Tower David” (Tháp David) ngay ở trung tâm thủ đô Caracas là một biểu hiện của sự quản lý kinh tế tồi tệ của Venezuela. Tòa nhà này đang được xây nửa chừng thì bỏ dở. Hiện nay nó được mệnh danh là tòa nhà bị chiếm dụng bất hợp pháp lớn nhất thế giới, bởi vì hiện đang có 3000 cư dân nghèo chen chúc trong đó. Tường vách bỏ trống, giây điện giăng mắc chằng chịt, điện nước lại thiếu thốn, nhưng với nhiều người dân nghèo, không nơi nào bằng tòa nhà này, mặc dù đây là hang động của các băng đảng buôn bán ma túy và bắt cóc. Người dân nghèo không có đất sống vẫn xem đây là nơi trú ẩn cuối cùng: chỗ cư ngụ cũng biến thành nơi buôn bán làm ăn!
Hồi năm ngoái, nại đến những điều kiện sinh sống tồi tệ, Chính phủ Venezuela đã ra lệnh giải tỏa và di dời dân cư của tòa nhà này đến nơi khác. Nhưng tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Đẩy dân chúng ở đây đến nơi khác, đương kim Tổng thống Nicolas Maduro lại phải đối diện với những vấn đề gai gốc hơn.
Chẳng có nơi nào tại Venezuela được xem là an toàn. Các bệnh viện tại Thủ đô Caracas được trang bị bằng hệ thống an ninh rất tối tân để đề phòng tội ác, nhưng cũng không tránh khỏi các cuộc bạo động. Một bác sĩ đã nói với phóng viên Reeve rằng đã từng xảy ra vụ một bệnh nhân bị bắn gục ngay tại phòng cấp cứu. Vì không đủ nhân viên y tế và thuốc men, các thứ dịch bệnh như sốt xuất huyết cấp tính (Dengue Fever) bùng nổ một cách dễ dàng.
Với con số 20.000 người bị sát hại mỗi năm, Venezuela là một trong những nước có tỷ lệ sát nhân cao nhất thế giới. Phóng viên Reeve giải thích: “Đây là một triệu chứng của nghèo đói, của việc hoạch định chính sách kém hữu hiệu và của một chính phủ thất bại”.
Chính phủ Venezuela luôn chủ trương hạn chế sử dụng ngoại tệ. Điều này có nghĩa là hàng nhập cảng rất hiếm hoi. Ngoài ra, việc chính phủ kiểm soát gắt gao giá cả cũng khiến cho các cửa hàng buôn bán ế ẩm.
Cách đây một năm, Tổng thống Maduro đã phải đối mặt với nhiều cuộc biểu tình bạo động chống lại các chính sách kinh tế của chính phủ cũng như tình trạng khan hiếm nhu yếu phẩm. Các cuộc biểu tình đã khiến cho trên 40 người thiệt mạng. Nhưng chẳng còn biết phải đối phó với tình trạng khan hiếm nhu yếu phẩm này như thế nào, Tổng thống Maduro vẫn cương quyết không chịu ban hành chính sách thắt lưng buộc bụng.
Trong khi người dân của “cộng hòa xã hội chủ nghĩa” Venezuela phải “xếp hàng cả ngày” để mua giấy vệ sinh, bột mì và vật liệu xây cất, thì giá xăng, được Nhà Nước rộng tay cung cấp, lại r mạt. Dù Tổng thống Maduro có đe dọa sẽ tăng giá, xăng tại Venezuela vẫn được xem là r nhất thế giới.
Theo phóng viên Reeve, chính sách “bao cấp” về xăng dầu của Chính phủ Venezuela hiện đang làm cho đất nước này phá sản. Ngân sách dành cho việc bao cấp xăng dầu nhiều hơn ngân sách giáo dục và y tế cộng lại. Nhưng chính phủ không dám thay đổi chính sách này. Năm 1989, cựu Tổng thống Carlos Andres Perez đã tìm cách bãi bỏ chính sách bao cấp về xăng dầu. Dân chúng đã nổi loạn, dẫn đến những cuộc cướp bóc, hôi của và sự đàn áp dã man của quân đội.
Theo đuổi đường lối mỵ dân, trong suốt 14 năm cầm quyền, cố Tổng thống Hugo Chavez đã không chịu tăng giá xăng. Giá xăng r đến độ chỉ với một Mỹ kim, người dân Venezuela có thể mua được một bình xăng 60 lít. Dĩ nhiên, tình trạng này dẫn đến nạn đầu cơ tích trữ và buôn bán chợ đen: người dân Venezuela thường mang dầu đến bán tại biên giới Colombia với giá cao hơn và để được  buôn bán dễ dàng, họ không thể không móc ngoặc với cảnh sát và ngay cả các viên chức chính phủ cũng như các băng đảng. Trung bình mỗi tuần, lượng xăng dầu buôn lậu từ Venezuela sang biên giới các nước khác trị giá khoảng 60 triệu Mỹ kim.
Đầu tháng 5 vừa qua, người ta đã tìm thấy 2 ngôi mộ tập thể gần biên giới Colombia. Theo báo “PanAm Post” chuyên về các vấn đề của Châu Mỹ La Tinh, hai ngôi mộ tập thể này được cho là mồ chôn các nạn nhân có dính líu đến các băng đảng buôn bán ma túy và xăng dầu tại Colombia.
Dù cho giá xăng dầu có tăng đi nữa thì cũng đã quá muộn. Nếu Venezuela không thay đổi chính sách kinh tế thì tài nguyên thiên nhiên của nước này, dù có dồi dào đến đâu, cũng không thể giúp tránh cho đất nước này khỏi sụp đổ.
Venezuela hay với tên gọi chính thức là Cộng hòa “Bolivar” Venezuela, là một quốc gia nằm ở miền Bắc Châu Mỹ La Tinh, với diện tích trên 900 ngàn cây số vuông và với dân số trên 33 triệu người.
Bị Tây Ban Nha chiếm đóng vào năm 1522, Venezuela đã trở thành một trong cựu thuộc địa Tây Ban Nha dành được độc lập vào năm 1811. Trong suốt Thế kỷ 19, quốc gia này đã trải qua nhiều xáo trộn chính trị do chế độ quân phiệt tạo ra. Kể từ năm 1958, Venezuela mới thực sự có được những chính phủ dân chủ, nhưng các cuộc khủng hoảng kinh tế kể từ thập niên 1980 đã khiến cho đất nước này rơi vào xáo trộn triền miên. Mãi cho đến năm 1998, vì bất mãn với các đảng phái chính trị hiện hữu, người dân đã dồn phiếu cho một sĩ quan đã từng can dự vào các cuộc đảo chính là Hugo Chavez. Ông này tung ra điều được gọi là cuộc “cách mạng Bolivar” (theo tên của vị tướng Simon Bolivar, người đã có công trong việc thành lập Venezuela), cho thành lập Quốc hội Lập hiến để rồi viết lại Hiến pháp và chọn con đường xã hội chủ nghĩa.
Là một trong những nước được đô thị hóa nhất tại Châu Mỹ La Tinh, Venezuela có đa số dân sống tại các đô thị ở phía Bắc, nhất là tại Thủ đô Caracas. Kể từ khi các giếng dầu được khám phá vào đầu Thế kỷ 20, Venezuela được xem là có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới và là cũng một trong những quốc gia xuất cảng dầu lớn nhất thế giới. Trước kia, quốc gia này chỉ dựa vào việc xuất cảng nông sản như cà phê và cacao. Với nguồn thu nhập từ dầu hỏa vô như nước, chính phủ Chavez theo đuổi các chính sách dân túy và rộng tay tiêu xài cho các chương trình xã hội. Kinh tế lúc đầu được đẩy mạnh và khoảng cách giàu nghèo có phần giảm bớt. Nhưng chính sách bao cấp đã dẫn đến tình trạng khan hiếm nhu yếu phẩm. Lạm phát và nghèo đói song hành với nhau. Ngoài các vấn đề kinh tế, nạn tham nhũng và tình trạng tội phạm đã đẩy một phần ba người dân “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” Venezuela vào nghèo đói.
Đây là di sản mà tháng 5 năm 2013, khi qua đời vì bệnh ung thư, cố Tổng thống Hugo Chavez đã để lại cho người kế vị của ông là Tổng thống Nicolas Maduro. Xuất thân là một tài xế xe buýt, ông Maduro đã được bầu làm chủ tịch của một nghiệp đoàn lao động, trước khi đắc cử dân biểu Quốc hội năm 2000 và được ông Chavez bổ nhiệm vào nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ. Trong một cuộc bầu cử đặc biệt  ngày 14 tháng 4 năm 2013, sau cái chết bất ngờ của ông Chavez, với tư cách là ứng viên của Đảng Xã Hội Thống Nhất, ông Maduro đã đắc cử tống thống. Với tỷ lệ sát nhân cao nhất nhì thế giới, một nền kinh tế èo uột, một tỷ lệ lạm phát 56 phần trăm và nhất là với nạn khan hiếm thực phẩm, thuốc men và nhu yếu phẩm khác, ông Maduro đã phải liên tục đương đầu với những cuộc chống đối của gần một nửa số cử tri đã không ủng hộ ông. Dĩ nhiên, cũng như bất cứ chế độ độc tài cộng sản nào, nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa này cho rằng các cơ quan truyền thông thế giới đã thổi phng bộ mặt xấu xa của đất nước ông cũng như quy trách cho các thế lực thù địch mà đứng đầu là đế quốc Mỹ. Ông ra lệnh cho các Đài truyền hình do nhà nước kiểm soát ngưng tiếp vận Đài CNN.
Những cuộc biểu tình do sinh viên tổ chức dạo tháng 2 năm vừa qua đã bị đàn áp dã man, mặc dù đây chỉ là những cuộc biểu tình ôn hòa. Bên cạnh công an, người ta còn thấy xuất hiện nhiều đám du đãng “tự phát” theo kiểu Việt Nam. Do chính phủ “bảo kê”, các băng đảng này sử dụng xe gắn máy để đi tuần tra trên các đường phố. Họ tấn công những người biểu tình và gieo rắc khủng bố khiến nhiều người không dám tham gia các cuộc biểu tình.
Thật ra mục tiêu mà Chính phủ Maduro nhắm tới chính là ông Leopoldo Lopez, lãnh tụ của Đảng Ý Dân, người đã đứng ra kêu gọi sự “ra đi” (la salida) của ông Maduro. Ông này đã bị bắt và giam giữ hơn một tháng. Một số lãnh tụ khác của Đảng này phải bỏ trốn. Chính phủ cũng khủng bố bất cứ ai có liên hệ hoặc bày tỏ cảm tình với Đảng Đối Lập.
Cai trị như một nhà độc tài, Tổng thống Maduro thu tóm trong tay cả cơ quan tư pháp. Tại Venezuela, kể từ khi ông Chavez cho viết lại Hiến Pháp, không hề có ngành tư pháp độc lập. Các thẩm phán các cấp đều được lệnh phải tránh đưa ra những bản án không có lợi cho chính phủ. Nếu không thi hành lệnh này, họ có nguy cơ bị Tối Cao Pháp Viện sa thải hoặc ngay cả bị giam giữ.
Nghèo nàn, lạc hậu, bất ổn, thiếu an ninh và thiếu tự do: đó là thực trạng của một đất nước lẽ ra phải là một trong những nước giàu có nhất trên thế giới, chỉ vì con đường “xã hội chủ nghĩa” mà các nhà lãnh đạo nước này đã chọn lựa đi theo. Không hình ảnh nào nói lên thực trạng “xã hội chủ nghĩa” ấy cho bằng cảnh người dân phải “xếp hàng cả ngày” để chỉ mua giấy vệ sinh.


Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

Đơn giản như một nụ cười




Chu Thập
29.5.15


Tối Thứ Năm tuần trước 21/5/15 vừa qua, tại Sydney, nhân Liên Hoan các Nhà Văn (Writers’ Festival), đã diễn ra một cuộc thảo luận với một chủ đề nghe hơi lạ tai “How to live?” (Phải sống làm sao?) Cuộc hội thảo đã qui tụ nhiều văn sĩ và giáo sư đại học.
Tôi cứ thắc mắc: các chuyên gia và các nhà tư tưởng cứ làm cho cuộc sống trở nên phức tạp. Sống thì ai mà chả sống và biết sống. Cần gì phải suy nghĩ cho rắc rối và nhức đầu!
Đại khái, theo chương trình “The Drum” của Đài truyền hình ABC, trong nhiều cách, thái độ của chúng ta đối với điều được gọi là “một cuộc sống tốt đẹp” được định hình bởi “khoái lạc chủ nghĩa” (hedonism) được kỹ nghệ quảng cáo cũng như các khái niệm về một cuộc sống có ý nghĩa “hà hơi tiếp sức”. Tựu trung, thành tựu dưới nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống được xem là yếu tố mang lại hạnh phúc cho con người. Đây chính là trọng tâm của những trao đổi giữa các văn sĩ và giáo sư đại học trong cuộc hội thảo nói trên.
Nhưng Giáo sư Hugh Mackay, một nhà nghiên cứu xã hội và tác giả của cuốn sách “The Art of Belonging” (Nghệ thuật sống hài hòa) khẳng định rằng chính ý thức cộng đồng, cuộc sống phục vụ và yêu thương mới mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Ý thức hay không, có lẽ Giáo sư Mackay đã phản ảnh phần nào cách suy nghĩ của một triết gia người Đức nổi tiếng ở Thế kỷ 18 là Immanuel Kant. Thực vậy, triết gia này cho rằng con người có sống một “cuộc sống tốt đẹp” hay không là tùy theo người đó có sống theo luật luân lý không, nghĩa là có thi hành bổn phận của mình không. Nói cách khác, theo Triết gia Kant, chiều theo các đam mê và dục vọng là tự thỏa mãn và như vậy không nên được đề cao về mặt luân lý.
Nhưng trong khi tác giả Mackay chỉ nhấn mạnh đến cộng đồng và tinh thần phục vụ thì Triết gia Kant lại nêu cao nghĩa vụ đối với người khác cũng như đối với bản thân. Ở đây, có lẽ người Việt Nam nào cũng đồng ý với triết gia Kant khi trích dẫn lời khuyên dạy của ông bà tổ tiên “Thương người như thể thương thân”. Không thể thật sự yêu thương người khác nếu không yêu thương chính bản thân. Cả hai bổn phận đều tương hợp với nhau. Yêu người cũng là yêu mình và ngược lại.
Góp mặt trong cuộc hội thảo “Phải sống làm sao?” Kinh Tế Gia Paul Dolan, tác giả của cuốn sách “Happiness by Design” (Hạnh phúc do được Thiết định) và hiện đang làm cố vấn cho  Chính phủ Anh về vấn đề phúc lợi, cho rằng con người không chỉ tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống khi nằm chờ chết trên giường bệnh. Ý nghĩa của cuộc sống được quyết định bởi từng phút giây trong đó con người cảm thấy thỏa mãn và hưng phấn. Theo Kinh Tế Gia Dolan, hạnh phúc được quyết định bởi những gì chúng ta quan tâm tới và tìm thấy mục đích và thỏa mãn trong đó.
Dưới cái nhìn của một chuyên gia về kinh tế, dĩ nhiên ông đề nghị cần phải không ngừng cải thiện các cơ cấu kinh tế và xã hội để tạo những điều kiện khách quan giúp cho ngày càng có nhiều người được sống hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, theo ông, hạnh phúc cũng hoàn toàn là chuyện riêng tư của từng cá nhân: chỉ có mỗi cá nhân mới quyết định sống hạnh phúc hay không mà thôi.
Các giáo sư và chuyên gia thường thích dùng những “chữ bự” để nói về những chuyện vốn rất đơn giản trong cuộc sống. Hạnh phúc là một trong những chuyện đơn giản ấy. Đơn giản đến độ chẳng có bậc thông thái nào có thể mang lại cho tôi một định nghĩa thỏa đáng và dứt khoát về hạnh phúc. Nhưng nó cũng đơn giản đến độ, sang giàu hay nghèo cùng, thông thái hay thất học, nổi tiếng hay chẳng được ai biết tới...ai cũng có thể cảm thấy thế nào là hạnh phúc và mức độ hạnh phúc lại chẳng tùy thuộc vào bất cứ yếu tố khách quan nào cả. Nhiều người suy nghĩ một cách đơn giản rằng ngoại cảnh như người thân, bạn bè, của cải, các tiện nghi vật chất mới mang lại hạnh phúc cho nên họ cố gắng tạo ra, cải thiện hoặc duy trì những điều kiện khách quan ấy. Dĩ nhiên, một cuộc sống với những điều kiện vật chất tối thiểu, những quan hệ xã hội tốt đẹp và hài hòa có thể giúp con người cảm nhận được hạnh phúc hơn là bất hạnh và khổ đau. Tuy nhiên, hạnh phúc đích thực lại tùy thuộc ở cái tâm của mỗi người hơn là hoàn cảnh khách quan. Các bậc chân tu luôn chứng minh cho chúng ta điều đó. Họ có thể hạnh phúc mà không lệ thuộc vào những điều kiện vật chất.
Tôi thường nghĩ đến hai bậc chân tu đích thực và nổi bật của thời đại là Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng và Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo La Mã. Hai vị không cần phải dài dòng để “giảng” về cuộc sống hạnh phúc. Hai vị cũng chẳng cần phải mất giờ để lòng vòng trong những giáo lý cao siêu của tôn giáo của mình. Nhưng tôi tin chắc rằng chỉ cần nhìn vào nụ cười của hai vị, ai cũng cảm nhận được rằng đây là những con người hạnh phúc, thế nào là hạnh phúc và phải sống như thế nào mới hạnh phúc. Cứ nhìn nụ cười đơn sơ, chân thực của Đức Đại Lai Lạt Ma, tôi tin rằng con người đã từng trải qua không biết bao nhiêu đau khổ này, thực sự là một con người hạnh phúc và mới có thể nói cho tôi hiểu được thế nào là hạnh phúc đích thực.
Riêng  Đức Phanxicô mới đây đã tóm tắt  chìa khóa của hạnh phúc trong những công thức lịch sự rất đơn giản của cuộc sống. Trong cuộc gặp gỡ với khách hành hương tại Roma hôm Thứ Tư tuần trước 20 tháng 5 vừa qua,  nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo đã khẳng định rằng “xin vui lòng, cám ơn và xin lỗi” là ba tiếng mà người ta nên viết ở cửa nhà của mỗi gia đình, vì đó là chìa khóa để sống đẹp và sống an hòa cả bên trong lẫn bên ngoài gia đình. Đức Phanxicô nhắn nhủ khách hành hương rằng những tiếng trên đây “chứa đựng một sức mạnh lớn lao có thể bảo vệ gia đình trước hàng ngàn khó khăn và thử thách. Trái lại, khi thiếu chúng, những vết rạn nứt sẽ mở ra và có thể dẫn đến sự sụp đổ”.
Nhà lãnh đạo của Giáo hội Công giáo giải thích về công thức lịch sự “xin vui lòng”: “Để đi vào cuộc sống của người khác, ngay cả người đó là thành phần của cuộc sống của chúng ta, chúng ta cũng cần phải có thái độ tế nhị để không làm phiền hà, mà tái tạo lòng tin và sự tôn trọng”. Theo Đức Phanxicô, tình yêu càng thân mật và thâm sau càng đòi hỏi phải tôn trọng tự do của người khác và phải chờ đợi người khác mở cửa tâm hồn của mình”. Điều này có thể gom trong câu tục ngữ: “Vợ chồng tương kính như tân”.
Đề cập đến hai tiếng “cám ơn”, ngài ghi nhận rằng thế giới ngày càng tiến đến một nền văn minh của những tư cách nghèo nàn và những lời nói khó nghe...Lịch sự và khả năng “cám ơn” bị xem như một dấu hiệu của sự yếu kém. Nhưng ngài cho rằng phẩm giá của con người và công bằng xã hội đều xuất phát từ hai tiếng ấy.
Cuối cùng, về hai tiếng “xin lỗi”, ngài nói rằng nếu không có hai tiếng này thì những “vết rạn nứt nhỏ sẽ lớn thêm để cuối cùng trở thành những rãnh sâu”. Theo Đức Phanxicô, nhìn nhận những sai lỗi của mình và cố gắng tái lập những gì đã bị đánh mất như sự tôn trọng, lòng thành thật, tình yêu thương sẽ giúp cho con người đáng được tha thứ. Ngài nói: “Nếu chúng ta không biết “xin lỗi” thì điều đó có nghĩa là chúng ta cũng chẳng biết tha thứ. Mà đã không biết tha thứ thì làm sao có được cái tâm an bình và cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc đích thực.
Nghe những lời trên đây và nhìn nụ cười nhân hậu của ngài, tôi cảm nhận được thế nào là hạnh phúc đích thực. Nói chung, các bậc chân tu trước hết là những con người hạnh phúc và họ hạnh phúc vì luôn biết cười, một dấu chỉ của hạnh phúc và cảm thông. Cười với cuộc sống và nhứt là cười với khác. Nhìn những con người như thế cười, mọi thứ khí giới trong con người tôi, dù có hiểm độc đến đâu, cũng đều được buông xuống ngay.
Dĩ nhiên, cười cũng có 36 kiểu cười. Có những nụ cười mà tôi chỉ có thể gọi là cười đểu mà thôi. Có những nụ cười bí hiểm và ngay cả nham hiểm nữa, khi chúng không thực sự là biểu hiện của an hòa, nhân ái, từ tâm. Trong điển tích xưa, người ta hay nhắc đến nụ cười của nàng Bao Tự, thời nhà Chu (vào khoảng thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên). Trong lịch sử của Đế quốc La Mã, người ta cũng nói đến nụ cười độc ác của bạo chúa Nero khi cho đốt kinh thành La Mã.
Tôi không biết hậu thế có nhắc đến nụ cười “Mona Lisa” của Chủ tịch Tập Cận Bình không. Tôi vẫn luôn nghi ngờ về nụ cười này. Liệu nụ cười ấy có phải là biểu hiện của thiện chí và an hòa không, khi nhà lãnh đạo của đế quốc cộng sản này trong nước thì chà đạp nhân quyền, coi dân như con kiến hay cỏ cây, bên ngoài thì hung hăng xâm lấn lãnh thổ, lãnh hải của những nước khác bất chấp luật lệ quốc tế và nguy cơ chiến tranh mà hậu quả không lường trước được.
Tôi luôn tin ở sức mạnh của những nụ cười chân thực. Tôi tin rằng nếu tôi cố gắng cười một cách chân thực thì không những người khác vui mà tôi cũng cảm thấy hạnh phúc.  Phần lớn đều nghĩ rằng chúng ta cười vì chúng ta cảm thấy hạnh phúc. Điều ấy đúng. Nhưng điều ngược lại cũng đúng: chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc khi chúng ta cười.
Theo báo Psychologytoday, mới đây các chuyên gia tâm lý đã làm một cuộc thí nghiệm về hiệu quả của nụ cười. Những người  tham gia cuộc thí nghiệm được cho nhìn một loạt những gương mặt có những cảm xúc khác nhau. Không cần biết những gương mặt đó vui hay buồn, hiền hòa hay hung tợn, những người tham gia cuộc thí nghiệm có thể hoặc cười hoặc nhăn mặt nhíu mày. Kết quả cuộc thí nghiệm cho thấy: khi các tham dự viên cười thì những gương mặt được cho nhìn thấy sẽ “dễ coi” hơn là khi họ nhíu mày, nghĩa là không cười. Ngoài ra, ảnh hưởng của nụ cười trong giây lát này sẽ kéo dài đến cả 4 phút sau đó.
Các chuyên gia giải thích rằng khi chúng ta cười, não bộ của chúng ta sẽ truyền đi thông điệp “Tôi phải hạnh phúc vì một điều gì đó”. Trái lại, khi chúng ta không cười thì não bộ của chúng ta lại truyền lệnh: “Tôi không cần phải hạnh phúc”. Với cuộc thí nghiệm trên đây, các chuyên gia tâm lý cũng cho rằng nụ cười luôn có sức lây lan. Cho dẫu khi không cảm thấy hạnh phúc mà chúng ta vẫn cố gắng cười thì những người xung quanh chúng ta cũng sẽ cười và điều đó nếu không làm cho chúng ta vui thì ít ra cũng giảm bớt một chút căng thẳng và buồn phiền trong chúng ta.
Khi nhìn một thơ nhi cười, chúng ta lắm khi không hiểu được thực sự cảm giác của đứa bé khi nhoẻn miệng cười. Nhưng dù cho có đang nát ruột nát gan, ai trong chúng ta cũng không thể nào không cảm thấy hạnh phúc và cười lại. Hạnh phúc lắm khi cũng “vô nghĩa” nhưng rất có giá trị như nụ cười trẻ thơ.
Hạnh phúc, quả thật đơn giản như một nụ cười.